SUY NIỆM CHÚA NHẬT 4 PHỤC SINH_NĂM B

24-04-2021 542 lượt xem

Lời Chúa: Cv 4,8-12; 1Ga 3,1-2; Ga 10,11-18

Mục Lục

TRẬT ĐƯỜNG RẦY+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

MỤC TỬ ĐẸPLm. Giuse Nguyễn Hữu An

THÍ MẠNG Trầm Thiên Thu

AI LÀ NGƯỜI CHĂN CHIÊN TỐT? - Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

CHÚA GIÊSU LÀ MỤC TỬ TUYỆT VỜI - Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

TAM BẤT và TAM TOÀN - Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

QUÀ TẶNG CỦA THIÊN CHÚA - Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

CHIÊM NGẮM ĐỨC GIÊSU MỤC TỬ NHÂN LÀNH - Lm. Anphong Vũ Đức Trung, O.P.

Video: NGƯỜI MỤC TỬ SỐNG TỐT LÀNH và BIẾT THƯƠNG XÓT ĐÀN CHIÊN - Lm. Giuse Nguyễn Minh Ước, SJ

Thơ: MỤC TỬ GIÊSU - Viễn Dzu Tử

Thơ: CHÚA CHIÊN LÀNH - (Thế Kiên Dominic)

---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

TRẬT ĐƯỜNG RẦY

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

Những thông tin gần đây về những đoàn tàu trật bánh gây tổn thất về nhân mạng làm cho nhiều người sợ hãi. Ngày 2/4/2021, tại Đài Loan, một đoàn tàu trật đường rầy, va vào vách núi, làm 48 người chết và 86 người bị thương nặng. Ngày 18/4/2021, tại Ai Cập, một đoàn xe lửa chở khách đã trật bánh, làm 11 người chết và 98 người bị thương. Nếu làm một bản thống kê chi tiết, thì số vụ việc tương tự sẽ còn rất nhiều. Tai nạn xảy ra do bất cẩn. Tai nạn cũng xảy ra do người lái tàu lệch hướng và gây ra sự cố “trật đường rầy”. Trong đời sống của chúng ta cũng thế, có những người bị “trật đường rầy” khi sống bất cần, không tôn trọng tiếng nói của lương tâm và không tuân theo những quy định chung nhằm bảo vệ gia đình, công ích và trật tự xã hội.

Phụng vụ Chúa nhật thứ bốn mùa Phục sinh giới thiệu với chúng ta một vị hướng dẫn chỉ đường, đó là Chúa Giêsu với danh xưng “Mục tử nhân lành”. Người hướng dẫn chúng ta đi trên con đường ngay nẻo chính. Người săn sóc chúng ta và luôn đem lại cho chúng ta những điều tốt lành. Trong Phúc Âm, nhiều lần Chúa hứa với chúng ta: những ai tin tưởng vào Chúa, sẽ tìm được bình an và ơn cứu rỗi. Người quả quyết: ai xin thì sẽ được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở cho. Tin vào Chúa Giêsu là tin vào sự dẫn dắt đầy quyền năng và chan chứa yêu thương của Người. Tin cũng là chấp nhận đi theo con đường của Chúa Giêsu, mặc dù phải trải qua gian nan thử thách, nhưng luôn xác tín Chúa đang đồng hành với chúng ta trên mọi nẻo đường đời.

Cuộc sống của chúng ta hôm nay rất cần đến sự dẫn dắt của Chúa, vì có nhiều người “trật đường rầy” trong quan niệm về Đức tin. Đối với họ, Đức tin chỉ là một khái niệm mờ nhạt và không là động lực chi phối suy nghĩ cũng như hành động. Tôn giáo hay Đức tin chỉ giống như một nếp thói quen tốt, cũng có giá trị đấy, nhưng không ăn sâu nơi tiềm thức và cuộc sống của họ. Chính vì vậy mà niềm tin của họ là một mớ tạp nham hỗn hợp. Hãy đến với Vị Mục tử nhân lành để xin Người soi sáng, giống như lời van xin của người cha có con bị quỷ ám: Xin Thầy giúp lòng tin yếu kém của tôi! (x. Md 9,14-29).

Cuộc sống có những khó khăn về sức khoẻ, tài chính, học vấn, vợ chồng con cái, nhiều khi chúng ta không biết phải làm thế nào để thoát khỏi vòng luẩn quẩn. Có những người đã chọn hình thức quyên sinh để kết liễu cuộc đời. Những người khác lại buông xuôi chán chường mọi sự. Nhiều người tìm đến rượu chè, cờ bạc đỏ đen hầu mong đổi phận. Những người khác lại dùng bạo lực hay ly tán mà nghĩ sẽ giải thoát khỏi những khó khăn. Là người có Đức tin, chúng ta hãy đến với vị Mục tử Nhân lành để xin Người dẫn dắt. Chúa Giêsu đã chạnh lòng thương trước nỗi đau chồng chất của con người. Nơi Người chúng ta tìm được sức mạnh. Sức mạnh ấy đến từ lòng bao dung tha thứ. Sức mạnh ấy cũng đến tự sự khiêm nhường nhận ra mình cũng có lỗi. Đến với Chúa Giêsu, chúng ta sẽ tìm được hướng đi cho đời mình, và nhờ đó tìm lại bình an và hy vọng.

Cuộc sống là sự hoà quyện những mối tương quan đa chiều. Đối nhân xử thế luôn là những bài học khó. Khôn ngoan hài hoà làm nên những tình cảm tốt đẹp bền lâu. Ích kỷ nhỏ nhoi sớm muộn cũng bị cô lập. Chúa dạy chúng ta hãy sống thân thiện bao dung. Hãy noi gương Chúa Giêsu trong bài học rửa chân các môn đệ. Hãy nhớ rằng cuộc đời này ngắn lắm và người ta chỉ sống một lần trên đời. Vì vậy, phải làm sao để trở thành một phiên bản hạnh phúc. Cũng cần cảm nhận những niềm hạnh phúc nho nhỏ mà chúng ta vẫn có trong hiện tại, nơi gia đình, bên lối xóm, nơi cơ quan, khu phố chợ. Khi cảm nhận được những niềm hạnh phúc đơn sơ ấy, lòng ta sẽ thanh thản, cuộc sống lạc quan hơn. Mỗi khi khởi đầu một ngày mới, hãy tạ ơn Chúa vì mình còn may mắn hơn rất nhiều người đang bệnh tật và có những người mắc bệnh nan y, đang tận dụng từng giờ từng phút trong cuộc sống ngắn ngủi. Xin vị Mục tử nhân lành dẫn dắt chúng ta. Lời Thánh vịnh 22 diễn tả: Chúa dẫn ta đến đồng cỏ xanh tươi, đến suối mát trong lành. Người dọn ra cho ta mâm cỗ. Tất cả những điều ấy đều nhằm diễn tả sự chăm sóc yêu thươngcủa Chúa đối với những ai tin tưởng cậy trông Người.

Cuộc sống này có khởi đầu và có kết thúc. Chẳng có ai sống mãi trên đời. Người tin Chúa xác tín rằng, sau khi họ trút hơi thở cuối cùng, họ sẽ được Chúa dẫn dắt về Quê Trời. Chúa Giêsu là Đường, là Sự thật và là Sự sống. Chính Người sẽ dẫn chúng ta về với Chúa Cha. Người Mục tử nhân lành đã hy sinh mạng sống vì đoàn chiên. Chúa đã chết và đã sống lại. Từ sự phục sinh của Người, Chúa khẳng định với chúng ta: những ai chấp nhận chết với Chúa, sẽ được phục sinh vinh quang như Người.

Cuộc sống trần gian giống như một đoàn tàu, luôn băng băng tiến về phía trước. Đích điểm của đoàn tàu, hay là sân ga cuối cùng, chính là Thiên Chúa. Xin Đức Giêsu Mục tử dẫn dắt chúng ta, để chúng ta không bị lệch hướng, nhưng luôn thẳng tiến về Quê Trời. mục lục

MỤC TỬ ĐẸP

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

“Mục Tử Đẹp” là chữ của Cha Giuse Nguyễn Công Đoan. Ngài giải thích như sau:

Người ta thường dịch là “Mục Tử nhân lành/tốt lành”. Nhưng bản văn Hy lạp dùng “ĐẸP”, gợi lại hình ảnh vua Đavit (x.1S 16,12), phù hợp với những lời hứa về Giao Ước Mới, trong đó Thiên Chúa hứa ban một Mục Tử từ nhà Đavit, một Đavit mới: “Ta sẽ làm nảy sinh cho nhà Đavit một chồi non chính trực. Vị vua lên ngôi trị vì sẽ là người khôn ngoan tài giỏi trong xứ, vua sẽ thi hành điều chính trực công minh. Thời bầy giờ, Giuđa sẽ được cứu thoát, Itraen sẽ được sống yên hàn. Danh hiệu người ta tặng cho vua ấy sẽ là: Đức Chúa, sự công chính của chúng ta” (Gr 23,5-6). “Ta sẽ cho xuất hiện một mục tử để chăn dắt chúng; nó sẽ chăn dắt chúng; chính nó sẽ là mục tử của chúng, và Đavit, tôi tớ của Ta, sẽ là ông hoàng ở giữa chúng. Chính Ta, Đức Chúa, Ta đã phán” (Ed 34, 23-24).

Chúa Giêsu là Mục Tử xuất thân từ nhà Đavit, mục tử đẹp như Đavit. Khi Chúa Giêsu cưỡi lừa con đi vào Giêrusalem, Gioan sẽ trích dẫn lời sách Dacaria: “hỡi thiếu nữ Sion đừng sợ, này Đức Vua của ngươi ngự đến, ngồi trên lưng lừa con” (Dc 9,9).

Chúa Giêsu là Mục Tử Đẹp như Đavit, là Đavit mới. Khi Đavit tình nguyện ra đương đầu với Gôliat, Đavit kể chuyện mình đi chăn chiên: “Khi sư tử hay gấu tha đi một con chiên trong bầy, thì con ra đuổi theo nó, đánh nó và giật con chiên khỏi mõm nó. Nó mà chồm lên con, thì con nắm lấy râu của nó, đánh cho nó chết luôn” (1S 17,34-35). Đavit liều mạng để cứu chiên. Chúa Giêsu là Đavit mới, sẽ hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên được sống, trái với kẻ trộm, kẻ cướp. Chúa Giêsu hy sinh mạng sống vì đoàn chiên thể theo thánh ý của Chúa Cha: “Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được” (Ga 10,18). Chúa sẽ quy tụ tất cả đoàn chiên, để “chỉ có một đoàn chiên và một mục tử” như Thiên Chúa đã hứa trong sách Êdêkien (34,11-16). (x.Tĩnh tâm với Tin mừng Gioan, Lm Giuse Nguyễn Công Đoan, SJ).

Chúa nhật IV Phục sinh, ngày cầu nguyện cho ơn thiên triệu Linh mục và ơn gọi Tu sĩ nam nữ. Giáo Hội luôn cần đến những “Mục Tử Đẹp” như Chúa Giêsu. Hãy cầu nguyện cho Giáo Hội có nhiều mục tử đạo đức, thánh thiện như lòng Chúa mong ước.

“Mục tử đẹp” luôn kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu là có một sự hiểu biết sâu xa về Ngài do đã gặp gỡ và sống với Ngài thực sự. Khi thánh Phêrô tìm người thay thế Giuđa Iscariốt, ngài đã nói với cộng đoàn: “Trong số những anh em đã cùng chúng tôi theo Chúa Giêsu suốt thời gian Người sống giữa chúng ta, kể từ khi Người được Ông Gioan làm phép rửa cho đến ngày Người lìa bỏ chúng ta và được rước lên trời, phải có người trở thành chứng nhân cùng với chúng ta làm chứng Người đã phục sinh” (Cv 1,21-22). Với những lời trên đây, thánh Phêrô, khi chọn người mục tử thay thế Giuđa, đã chỉ đưa ra một tiêu chuẩn là: người đó đã phải cùng sống với Chúa Giêsu và đã tham dự cuộc đời cứu thế của Ngài, một đời mặc lấy thân phận đoàn chiên, yêu thương đoàn chiên, cứu độ đoàn chiên và còn hơn nữa, như lời Ngài nói: “Ta còn có những chiên không thuộc đoàn này. Ta cũng phải đưa chúng về” (Ga 10,16). Ngài cũng khẳng định: “Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (10,11). Muốn được như vậy, người mục tử phải có những tâm tình của Chúa Giêsu. Nhất là sự khiêm nhường. Chúa Giêsu đã mời gọi các môn đệ hãy học với Ngài, đặc biệt là về đức tính“hiền lành và khiêm nhường” (Mt 11,29). Chính Ngài đã cứu chuộc loài người bằng sự hiền từ khiêm tốn, vâng phục thánh ý Chúa Cha. Cầu nguyện là hơi thở của linh hồn, là sự sống, là sức mạnh của đời mục tử. Cầu nguyện là lẽ sống và có một tầm quan trọng đặc biệt trong cuộc sống mục tử. Lời cầu nguyện chỉ thực sự có giá trị và sức mạnh khi phát xuất từ một đức tin có chất lượng và sống động. Mục tử cầu nguyện, hãm mình, đền tội cho giáo dân theo gương cha thánh Gioan Vianney.

Trong Sứ điệp ngày thế giới cầu nguyện cho các ơn gọi năm 2012, ĐTC Bênêđictô xác định: Lời Chúa, cầu nguyện và Thánh Thể là kho tàng quý giá giúp cho các ơn gọi hiểu vẻ đẹp của một cuộc sống hoàn toàn dâng hiến cho Nước Thiên Chúa.Ngài mời gọi mời gọi các mục tử : Khi kín múc ở nguồn mạch tình yêu Thiên Chúa trong đời sống cầu nguyện, cùng với việc năng lui tới với Lời Chúa và các Bí tích, cách riêng Bí tích Thánh Thể, mà ta có thể sống tình yêu đối với tha nhân trong đó ta học biết khám phá khuôn mặt của Chúa Kitô (x. Mt 25, 31-46).

Mục tử tốt lành là phải luôn sống kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu, luôn khát khao và cầu xin ơn Chúa Thánh Thần. Nhờ đó, vị mục tử tốt lành biết rõ đàn chiên,yêu thương đàn chiên và sẵn sàng hiến mạng vì đàn chiên. Từ đó, vị mục tử tốt lành biết nuôi dưỡng đoàn chiên bằng những lương thực có chất lượng cao đặc biệt là cử hành Thánh Thể sốt sắng và nhiệt thành trong bí tích Hòa Giải.

Ơn gọi Linh mục Tu sĩ chính yếu là để “sống với Chúa, và để Ngài sai đi”(Mc 3, 14). Sống với Chúa, là lắng nghe tiếng Ngài trong từng giây phút sống, để nên một với Chúa trong gian nan và hạnh phúc. Để Ngài sai đi, là sẵn sàng đi theo con đường Ngài đã đi, thực thi sứ mạng Ngài trao bất chấp những gì xảy ra.

Giáo dân cần Linh mục như bệnh nhân cần bác sĩ, như học sinh cần thầy cô giáo, như một người bạn sẵn sàng cảm thông chia sẻ vui buồn trong đời sống và như người bạn đồng hành giúp đỡ trong cuộc hành trình tiến về đời sau.

Hãy cầu nguyện cho các Linh mục được trở nên những mục tử như Chúa Giêsu, vị Mục Tử Tốt Lành, biết yêu thương phục vụ đoàn chiên, hiểu biết tâm tư tình cảm của từng người, quan tâm chăm sóc từng con chiên và sẵn sàng hy sinh bản thân vì lợi ích của đàn chiên. Trong bài giảng Lễ Dầu năm 2013, Đức Thánh Cha Phanxicô đã khuyên các linh mục : “Cha mời gọi các con điều này, các con hãy là những người chăn chiên có mùi của chiên. Người chăn chiên thì có mùi chiên, làm cho cái mùi ấy thành cái mùi thực, giống các người chăn chiên ở giữa đoàn chiên của các con. Mùi của chiên chỉ có được bằng cách sống các thực tại đời sống hàng ngày của họ, các bối rối khó khăn của họ, các niềm vui của họ, các gánh nặng và các hy vọng của họ”.

Hãy cầu nguyện cho các Linh mục có những đức tính tốt của những “Mục Tử Đẹp“ mà Thánh Kinh đã mô tả :

– Yêu thương, trìu mến chiên với tất cả tâm hồn: “Chúa tập trung cả đàn chiên dưới cánh tay: lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng, bầy chiên mẹ, cũng tận tình dẫn dắt” (Is 40, 11).

– Yêu quý từng con chiên, một con cũng như cả trăm con: “Ai có một trăm con chiên mà có một con đi lạc, lại không để chín mươi chín con kia trên núi mà đi tìm con chiên lạc sao ? Và nếu may mà tìm được, người ấy vui mừng vì con chiên đó, hơn là vì chín mươi chín con không bị lạc” (Mt 18, 12-13).

– Lo cho chiên, tạo những điều kiện tốt đẹp cho chiên: “Ta sẽ chăn dắt chúng trong đồng cỏ tốt tươi và chuồng của chúng sẽ ở trên các núi cao. Tại đó chúng sẽ nằm nghỉ trong chuồng êm ái, sẽ đi ăn trong những đồng cỏ mầu mỡ” (Ed 34, 14).

– Làm cho chiên được sống no ấm, hạnh phúc: “Chúa chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì” (Tv 23,1); làm chiên luôn vững dạ vì được bảo vệ: “Dầu qua lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm” (23, 4).

– Tinh thần trách nhiệm đối với đàn chiên rất cao: “Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật, Ta sẽ làm cho mạnh; con nào béo mập, con nào khoẻ mạnh, Ta sẽ canh chừng” (Ed 34,16).

– Cứu thoát, giải phóng đàn chiên: “Thiên Chúa sẽ cứu thoát dân Người, như mục tử cứu thoát đàn chiên” (Dc 9,16).

Linh mục là Mục tử, người chăm sóc phần hồn các tín hữu. Một sứ mạng rất cao quý. Linh mục noi gương Chúa Giêsu – Mục Tử Đẹp, tận tình phục vụ tha nhân qua công việc mục vụ với đức ái mục tử. Đây là linh đạo của linh mục giáo phận.

Sứ điệp Ngày Quốc tế Ơn gọi 2021 với chủ đề: Thánh Giuse – Giấc mơ ơn gọi. Đức Thánh Cha Phanxicô suy niệm: Thánh Giuse gợi ý cho chúng ta ba từ khóa cho ơn gọi của mỗi cá nhân. Đó là ước mơ, sự phục vụ và lòng trung thành.

Trong Kinh Thánh, thánh Giuse được gọi là người công chính. Thánh Giuse được Giáo Hội tôn vinh với nhiều tước hiệu cao quý. Một trong những tước hiệu đó là: “Thánh Giuse,Đấng bảo trợ Giáo Hội và những tâm hồn dâng hiến”. Giáo Hội coi Thánh Giuse là “Đấng giữ gìn các kẻ đồng trinh”. Ngài đã giữ gìn Đức Maria. Ngài cũng sẵn sàng giữ gìn những người tận hiến đời mình cho Chúa.

“Xin Thánh Cả Giuse, Đấng bảo vệ các ơn gọi, đồng hành với anh chị em bằng trái tim hiền phụ của ngài!” (Sứ điệp Ơn gọi 2021).

Lạy Thánh Cả Giuse là Đấng bảo vệ Giáo Hội và những tâm hồn dâng hiến, xin bảo vệ và phù trợ các mục tử để các ngài luôn cố gắng mỗi ngày nên “Mục Tử Đẹp” như Chúa Giêsu. Amen. mục lục

THÍ MẠNG

Trầm Thiên Thu

Mục Tử Thật Hy Sinh Mạng Sống
Người Làm Thuê Bỏ Mặc Đàn Chiên.

Quyền tự do được Thiên Chúa ban cho mọi người như nhau, và mỗi người có thể tùy ý chọn lựa những gì mình muốn, thậm chí là tự hủy hoại sinh mạng mình, nhưng đó là trọng tội vì cướp quyền của Thiên Chúa.

Có tự do nhưng vẫn có giới hạn, nghĩa là người ta không được tự tử. Tuy nhiên, người ta có thể thí mạng mình để cứu người khác. Đó là tình yêu thương vĩ đại nhất mà Chúa Giêsu đã đề cao. (Ga 15:13) Một linh mục thánh thiện đã làm điều vĩ đại đó: Thánh Maximilian Maria Kolbe (1894-1941), chết thay người bạn tù.

Về phương diện tự do bình thường, Frank Tyger định nghĩa: “Làm điều bạn thích là tự do. Thích điều bạn làm là hạnh phúc.” Henry David Thoreau nói: “Luật lệ không bao giờ khiến con người tự do, chính con người phải làm cho luật lệ tự do.”

Khi mặc xác phàm, Chúa Giêsu cũng có quyền tự do chọn lựa, nhưng Ngài quyết tâm theo ý Chúa Cha mà chấp nhận chịu chết. Ngài là Đấng Cứu Độ duy nhất, là Chúa Chiên Lành, là Cửa cho chiên ra vào, (Ga 10:7) ai qua cửa đó thì được cứu và gặp được đồng cỏ xanh rì, (Ga 10:7) và Ngài xác nhận: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.” (Ga 14:6) Ngài là Chủ Chiên, là Mục Tử Nhân Lành, nên Ngài có quyền đối với đoàn chiên, nhưng quyền của Ngài là “quyền hy sinh” và “quyền yêu thương” – đặc biệt là “yêu thương đến cùng” (Ga 13:1) là thí mạng vì những người được trao cho Ngài.

Quyền và chức liên quan với nhau. Xã hội loài người có nhiều loại quyền, cơ bản nhất là nhân quyền – quyền của con người. Mọi người đều bình đẳng, vì ai sinh ra cũng có nhân phẩm và nhân vị. Nhà có gia phong, nước có quốc pháp, nhóm có nội quy. Mỗi quốc gia có ba quyền cơ bản: Quyền lập pháp, quyền tư pháp, và quyền hành pháp. Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền là tuyên ngôn về các quyền cơ bản của con người được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 10-12-1948 tại Palais de Chaillot (Paris, Pháp). Bản Tuyên ngôn đã được dịch ra ít nhất 375 ngôn ngữ trên thế giới.

Bác học Albert Einstein (1879-1955) nhận định: “Quyền lực luôn luôn thu hút những kẻ kém đạo đức – Force always attracts men of low morality.” Một cách nhận xét nhẹ nhàng mà nhức buốt. Có mọi quyền hành trên trời và dưới đất, nhưng Chúa Giêsu không muốn dùng quyền để hành hạ người khác, Ngài chỉ muốn phục vụ, yêu thương và tha thứ. Ngài xác định: “Tôi là mục tử tốt lành, Tôi biết các chiên của Tôi, và các chiên của Tôi biết Tôi.” (Ga 10:14) Chủ chiên thật thì phải yêu thương chiên, nếu không thì chỉ là “thợ chiên,” là “kẻ chăn thuê” mà thôi. Thật vậy, những kẻ có chức quyền mà tránh né trách nhiệm, chỉ muốn dùng quyền mà hành người khác, đã bị Chúa Giêsu nguyền rủa là “đồ khốn” (Mt 23:13-30; Mc 12:40; Lc 11:39-48; Lc 20:47) và “đồ mãng xà.” (Mt 23:33-36; Lc 11:49-51) Sự thẳng thắn là điều khiến người ta tránh né vì sợ.

Biết rõ Thầy Giêsu đã phục sinh, ông Phêrô được đầy Thánh Thần nên ông nói mà không sợ hãi: “Thưa quý vị thủ lãnh trong dân và quý vị kỳ mục, hôm nay chúng tôi bị thẩm vấn về việc lành chúng tôi đã làm cho một người tàn tật, về cách thức người ấy đã được cứu chữa. Vậy xin tất cả quý vị và toàn dân Israel biết cho rằng: nhân danh chính Đức Giêsu Kitô, người Nadarét, Đấng mà quý vị đã đóng đinh vào thập giá, và Thiên Chúa đã làm cho trỗi dậy từ cõi chết, chính nhờ Đấng ấy mà người này được lành mạnh ra đứng trước mặt quý vị.” (Cv 4:8-10) Phêrô bây giờ khác hẳn lúc trước, hết chết khiếp, mạnh dạn bảo vệ sự thật và công lý. Đã có lần ĐGH Phanxicô đã mạnh mẽ nói rằng Giáo Hội phải “nói thẳng, nói thật” chứ không được che giấu lẫn nhau.

Theo ý Thánh Vịnh 118:22, ông Phêrô cho biết: “Đấng ấy là tảng đá mà quý vị là thợ xây loại bỏ, chính tảng đá ấy lại trở nên đá tảng góc tường. Ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ. Vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ.” (Cv 4:11-12)

Sinh – tử là hai đầu mối. Sinh ra để chết, và chết đi để sống lại. Chúa Giêsu đã trải qua “hành trình kỳ diệu” đó. Là tội nhân nhưng chúng ta lại được hưởng ơn tha thứ và được quyền sống – không chỉ sống đời tạm bợ này mà còn được trường sinh bất tử. Đặc quyền quá lớn, ngỡ như trong mơ, nhưng đó là sự thật minh nhiên, không mơ hồ hoặc là chiếc bánh vẽ. Vì thế, Thánh Vịnh gia tha thiết nhắn nhủ: “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.” (Tv 118:1 và 29) Chắc chắn phải như vậy!

Chắc hẳn là điều minh nhiên và thực sự khôn ngoan nếu biết tạ ơn Chúa, như Thánh Vịnh gia xác định: “Ẩn thân bên cạnh Chúa Trời thì hơn tin cậy ở người trần gian. Cậy vào thần thế vua quan, chẳng bằng ẩn náu ở bên Chúa Trời.” (Tv 118:8-9) Mỗi lần ngủ là chúng ta “chết lâm sàng,” giống như “chết giả” để có thể trải nghiệm sự chết vậy. Do đó, mỗi khi thức dậy, chúng ta lại trải nghiệm sự sống lại. Thật là kỳ diệu, vì thế hãy hân hoan dâng lời cảm tạ Thiên Chúa: “Lạy Chúa, chính Ngài là Thiên Chúa của con, xin dâng Ngài muôn câu cảm tạ; lạy Thiên Chúa con thờ, xin dâng Ngài vạn tiếng tôn vinh.” (Tv 118:28)

Thánh Gioan là người si tình nên thích nói về tình yêu và nhìn theo lăng kính tình yêu: “Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào: Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa – mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa. Sở dĩ thế gian không nhận biết chúng ta, là vì thế gian đã không biết Người.” (1 Ga 3:1) Giả sử có người bất ngờ hỏi chúng ta là ai, liệu chúng ta có thể mạnh dạn xác nhận mình là con của Thiên Chúa hay không? Có vẻ đơn giản và dễ dàng, nhưng thật ra không phải như vậy, nếu nói bằng cả con người của mình.

Có lẽ chẳng oan khi nói rằng chúng ta cũng có “máu” đa nghi như Tào Tháo hoặc “cứng cỏi” như Tôma, không nhiều thì ít. Thế đấy, nói tin mà vẫn “hình như…” vì chưa thực sự tin thật. Thánh Gioan nói thêm: “Hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa; nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Đức Kitô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy.” (1 Ga 3:2) Vô cùng kỳ diệu. Hiện nay chúng ta không thể nào tưởng tượng theo trí tuệ loài người. Sau khi Chúa Giêsu phục sinh, nhiều người được thấy Ngài mà vẫn không thể nhận ra Ngài, mặc dù Ngài vẫn là chính Ngài như khi chưa chịu chết. Rất quen mà rất lạ, rất lạ mà rất quen. Phàm ngôn không thể diễn tả đủ ý được!

Trình thuật Ga 10:11-18 rất ngắn gọn, lời chính Chúa Giêsu nói chứ không có lời dẫn, nhưng đầy đủ chi tiết cần thiết. Ngài xác nhận và phân tích: “Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, vì anh ta là kẻ làm thuê, và không thiết gì đến chiên. Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi, như Chúa Cha biết tôi, và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.”

tầm quan trọng của việc quên mình để dấn thân phục vụ được và quên mình được nhấn mạnh qua hai lần Chúa Giêsu xác nhận Ngài là Mục Tử nhân lành và hai lần đề cập việc hy sinh mạng sống. Việt Nam chúng ta có một tấm gương sáng mục tử là Lm P.X. Trương Bửu Diệp (1897-1946), qua việc thí mạng vì đàn chiên. Theo mức bình thường, quên mình để dấn thân phục vụ cũng là một dạng “thí mạng” – nhưng là dạng “nhẹ” mà thôi.

Như muốn “mở rộng” hơn về vấn đề chức quyền và trách nhiệm truyền giáo, Chúa Giêsu nói: “Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử. Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại. Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được.” (Ga 10:16-18)

Chúa Giêsu nhắc lại hai quyền của Ngài, khác hẳn cách chúng ta muốn. Ngài nói đến QUYỀN nhưng Ngài không đề cập LỢI, hoàn toàn khác hẳn với “sở thích” của phàm nhân. Nếu thực sự nghiêm túc xét mình thì thấy thật đáng xấu hổ, bởi vì chúng ta chỉ nói hay mà làm chẳng ra gì, chưa muốn làm đã chờ thưởng, đòi chức to quyền cao nhưng chẳng muốn “thí” thứ gì ráo trọi!

Lạy Thiên Chúa, xin thay dạ đổi lòng và thay máu cho chúng con, để chúng con dám nói và dám làm – làm tới cùng chứ không lẻo mép, thực sự “phục vụ chứ không hưởng thụ,” (Mt 20:28; Mc 10:45) đồng thời cũng dám tự trào – chê trách chính mình, để được biến đổi nhờ lòng thương xót của Ngài. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. mục lục

AI LÀ NGƯỜI CHĂN CHIÊN TỐT?

Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

Anh chị em thân mến,

Chúa nhật thứ tư trong mùa Phục sinh còn được gọi là Chúa nhật Chúa Chiên Lành. Đây là một hình ảnh vô cùng độc đáo mà Hội Thánh dùng để mời gọi con cái mình nhận ra lòng yêu thương, sự bao bọc và bảo vệ của Thiên Chúa như người mục tử nhân hậu sẵn sàng làm mọi sự, ngay cả hy sinh mạng sống, để bảo vệ đoàn chiên. Cũng trong ngày hôm nay, Hội Thánh cổ võ và cầu nguyện cho ơn gọi chung cho tất cả môn đệ, không phân biệt phẩm trật, không loại trừ một ai. Tất cả đều được mời gọi noi gương Đức Giê-su, Đấng Chăn Chiên nhân hậu, Mục Tử duy nhất của thế giới mọi thời.

Trước tiên, chúng ta hãy coi lại cách nhìn và sự hiểu biết của chúng ta về vai trò của người mục tử. Chúng ta thường hay gọi Đức Giáo Hoàng, các Đức Giám Mục, và đôi khi các Linh Mục là các nhà mục tử. Đây là kiểu nói quá hạn hẹp vì cho rằng chỉ có các Đấng bản quyền mới có trách nhiệm chăn dắt con chiên, bổn đạo.

Ngày xưa, người ta nói rằng việc mở mang Nước Chúa được thực hiện bởi hàng Giáo Phẩm. Công đồng Vatican II đã giúp cho chúng ta có được cái nhìn đúng đắn hơn. Trách nhiệm đó được trao ban cho tất cả mọi tín hữu, ai ai cũng có bổn phận loan báo Tin mừng cho người khác.

Chính vì thế, danh từ ‘mục tử’ được dùng để nói đến trách nhiệm của chúng ta là những kẻ được đặt để chăm sóc, quan tâm và nhất là để trao ban tình yêu cho người khác tùy theo ơn gọi mà Chúa đã mời. Thật ra, chính Chúa Giêsu mới là Đấng chăn chiên nhân hậu, còn chúng ta tuy được ban tặng cho danh hiệu đó; nhưng chúng ta vẫn là người thừa hành tác vụ từ Chúa. Căn bản, mỗi người chúng ta luôn là những con chiên trong ràn chiên của Chúa.

Hẳn anh chị em còn nhớ, các ngôn sứ của thời Cựu ước đã dùng hình ảnh ‘người chăn chiên’ để ám chỉ đến các vị lãnh đạo về phần đời cũng như trong đạo của người Do Thái. Khái niệm này đã đuợc hình thành trong hoàn cảnh của dân Do Thái khi bị lưu đầy bên Babylon. Trong bối cảnh như thế, khi mà dân Do thái đã mất tất cả như: mất đi nền văn hóa truyền thống, xa quê hương và không còn đền thờ để thờ phượng,... thì ngôn sứ Ê-dê-ki-en đã khơi lên niềm hy vọng cho dân bằng cách trình bầy Thiên Chúa là Người chăn chiên tốt lành, là Mục tử nhân hậu, là Đấng dẫn đường để dẫn dắt ràn chiên, tìm chỗ cho chiên ăn, dẫn lại về ràn các con chiên lạc đường và cứu chiên thoát khỏi các cạm bẫy, các hiểm nguy của các thợ săn và thú dữ. (Ed 34:11–16). Từ đó mỗi khi nói đến người chăn chiên thì dân Do Thái hình dung ra hình ảnh của một vị Thiên Chúa luôn yêu thương và quan tâm đến họ.

Căn cứ vào chức năng và nhiệm vụ: những người chăn chiên thường xuyên ở với ràn chiên cho nên họ không thể thường xuyên tham dự các nghi lễ theo luật của người Do thái. Nhiệm vụ của họ vô cùng vất vả. Vào mùa nắng, họ phải dẫn chiên đi đến những đồng cỏ tốt; và khi mùa đông đến ông phải tìm chỗ cho chiên trú ẩn; ông còn phải học để săn sóc cho các con chiên bị thương tích. Vì chức năng của công việc, nên người chăn chiên thường có nhiều đụng chạm với chủ của các đồng cỏ; và đôi khi còn bị lên án như là kẻ trộm hoa mầu.

Tuy nhiên, cũng vì nhiệm vụ nên mối tương quan giữa người chăn chiên và ràn chiên rất riêng tư và cá biệt. Hàng ngày họ chia sẻ sinh hoạt và cuộc sống với nhau tại các nơi hoang vắng, ít người qua lại. Họ chỉ có nhau chứ không có gì chung quanh, và chính nhờ vào yếu tố riêng biệt và lối sống chung này nên những người chăn chiên thường có một mối giây tương quan mật thiết với từng con chiên trong ràn. Do đó, ngày qua ngày, họ học để biết rõ từng con chiên, và các con chiên trong cùng một ràn cũng nhận biết tiếng nói của người chăn, và dễ dàng phân biệt tiếng của họ với tiếng của người khác.

Kính thưa quí cụ, quí ông bà và anh chị em,

Trở lại với trình thuật của Tin mừng hôm nay, chúng ta hãy cố gắng tìm ra điểm then chốt trong mối quan hệ giữa người chăn chiên và ràn chiên, nhờ đó chúng ta sẽ tìm ra những bài học bài học hữu ích trong cuộc sống.

Trước hết, chúng ta cần đồng ý với nhau rằng qua cuộc sống và sứ vụ, Đức Giê-su đã chứng thực điều Người đã phán dậy hôm nay, chính Đức Giê-su là người chăn chiên tốt lành và thiện hảo. Người biết rõ nhu cầu, sở thích, ưu điểm, khuyết điểm và các thương tích của từng con chiên. Người đã hy sinh chính mạng sống mình để bảo vệ và ban cho các con chiên trong ràn sự sống.

Đối với Đức Giê-su thì tất cả mọi người không cần phân biệt chủng tộc hay mầu da, tự do hay nô lệ, tín ngưỡng hay lối sống, nam hay nữ, giầu sang hay nghèo hèn... Tất cả đều thuộc về ràn chiên mà Chúa Cha đã trao cho Người để chăm nom. Trong Chúa không có sự tách biệt. Tất cả đều bình đẳng, không ai hơn ai kém. Mọi người đều có giá trị thật quan trọng trong con tim của Người chăn chiên tốt lành là Đức Giê-su Kitô.

“Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi. Tôi biết chúng và chúng theo Tôi” là một xác định thật quan trọng nói lên mối tương quan giữa Đức Giê-su và các con chiên. Người không lý giải hay biện minh. Người đã phán như một Đấng có uy quyền. Tôi là! Tôi là! Trong mối dây tương quan giữa Chúa Cha và mình, Đức Giê-su đã xác định một cách thật mạnh mẽ: Tôi là Người Chăn Chiên Tốt, Tôi biết chiên tôi, chúng biết và nghe tiếng

Người. Đây không là vấn đề để tranh luận hay bàn cãi. Ai tiếp nhận thì điều mà Chúa phán hôm nay nghiễm nhiên trở thành sự thật và của mình.

Nghe tiếng Chúa, hôm nay, có nghĩa là nhận ra tiếng Chúa trong mối dây thân mật dưạ trên tương quan của Tình Yêu, của gắn bó và hiệp thông. Thậm chí đến mức độ, trong mối tương quan này họ không cần nói, cũng chẳng cần nghe... mọi âm thanh dường như cần dừng lại để cho cảm xúc của Tình Yêu và Lòng Mến dâng trào và ngâp tràn trong giây phút hai người biết nhau, như “Tôi biết chúng và chúng biết tôi.”

Như vậy, chúng ta biết rằng chỉ mình Đức Giê-su là Đấng chăn chiên tốt lành. Người biết rõ nhu cầu, sở thích của từng con chiên trong ràn và cả những con chiên ngoài ràn nữa. Cả thế giới và mọi người sống trong đó là ràn chiên thuộc về tay Người. Người đã chết để bảo vệ và ban cho mọi con chiên sự sống và không ai có thể lấy mất được.

Còn chúng ta, mỗi người đều là những người chăn dắt ràn chiên, nhỏ hay lớn, mà Thiên Chúa trao phó. Chúng ta không thể nào chu toàn nhiệm vụ cao cả này nếu không sống rập theo gương mẫu của Người Chăn Chiên duy nhất là Đức Ki-tô, Đấng đã chấp nhận mọi đau khổ, và sẵn sàng hy sinh mình để diễn tả tình thương cho mọi con chiên của Người. Tuy nhiệm vụ có khó khăn và còn nhiều gian nan nhưng chúng ta sẽ làm được vì có Chúa Chiên lành, Đấng đang bồng bế và ôm ấp chúng ta trong vòng tay yêu thương của Người. Tin Tưởng vào Tình Yêu Nhân Ái của Người để chúng ta tiến bước và làm như Người đã làm, hy sinh cho nhau sống và sống đầy dư. Amen! mục lục

CHÚA GIÊSU LÀ MỤC TỬ TUYỆT VỜI

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

Bài Phúc Âm hôm nay nói về chủ chiên và người chăn chiên. Chủ chiên có bổn phận chăn dắt chiên, bảo vệ chiên, trông nom chiên, lo cho chiên mọi mặt từ vật chất đến tinh thần, không bỏ sót một mặt nào cả, thậm chí có thể hy sinh mạng sống mình vì chiên.

Từ Cựu Ước qua Tân Ước, chiên luôn luôn được nhắc đến. Ở Việt Nam, chiên cừu không phải là gia súc thông dụng, nhưng ở Trung Đông như Ai Cập, Do Thái thời xưa, một gia đình được định giá giàu sang bằng số lượng chiên cừu họ có. Từ Shepherd của tiếng Anh là người chăn chiên, mục đồng hay mục tử, chủ chăn, chủ chiên. Trong Kinh Thánh và thời xưa ở Cận Đông, “mục tử” là một danh hiệu dành cho các vua chúa, có bổn phận lo lắng mọi mặt cho thần dân của mình. Săn sóc, tụ họp và bảo toàn đoàn chiên là phần quan trọng của nền kinh tế Palestine vào thời đại kinh thánh. Trong cựu ước thì Thiên Chúa được gọi là Mục Tử của Israel, người đi trước (Tv 68:7)  hướng dẫn đoàn chiên (Tv 23:3), đem chúng đến chỗ có thức ăn, nơi đồng cỏ xanh tươi và suối nước trong mát (Tv 23:2) đồng thời bảo vệ chúng khỏi kẻ thù (Tv 23:4), mang trên vai những con chiên con (Is 40:11). Ẩn dụ này ám chỉ Thiên Chúa rất thương loài người. Người là nơi trú ẩn chắc chắn cho muôn dân.

MỤC TỬ TRONG CỰU ƯỚC VÀ TÂN ƯỚC

Ca vịnh 23 nói Chúa là một mục tử và là chủ nhà. Mục tử và chủ nhà là hai hình ảnh trái ngược với cảnh hoang vắng chết chóc nơi sa mạc, ở đó người bảo vệ chiên cũng là người bảo vệ khách di hành qua sa mạc, cung cấp nơi nghỉ chân và bảo đảm an ninh cho khách khỏi bị kẻ thù tấn công cướp bóc. Cái gậy là khí giới tự vệ chống lại thú dữ; nhân viên là dụng cụ yểm trợ. Tất cả những hình ảnh đó tượng trưng cho lòng trung tín và nỗi ưu tư của người mục tử.

Trong Tân Ước, người mục tử cũng được nhắc tới. Mục tử biết chiên của họ (Ga 10:3), đi tìm kiếm chiên bị lạc (Lc 15:4ff) và hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên (Ga 10:11-12). Mục tử chính là hình ảnh Thiên Chúa (Lc 15:4). Tân Ước không bao giờ gọi Thiên Chúa là mục tử, chỉ thấy nói tới trong ngụ ngôn chiên lac (Lc 15:4; Mt 18:12). Thiên Chúa trong ngụ ngôn giống như một mục tử hiền hậu luôn luôn vui tươi, sẵn sàng tha thứ và sửa đổi kẻ lầm đường lạc lối. Đây là hình ảnh trái ngược giữa tình yêu nồng nàn của Đức Giêsu đối với những kẻ tội lỗi và vẻ khinh miệt của những tên biệt phái đối với họ. Vậy có thể nói câu chuyện đường Emmaus trong Tin Mừng Luca (Lc 24:13-35) là một nối tiếp cuộc hành trình của Đức Giêsu, đấng luôn luôn theo đuổi các môn đệ cứng lòng được nói tới trong ngụ ngôn người mục tử. Mục tử đi tìm chiên lạc cho đến khi nào kiếm ra được chúng và đem chúng về sát nhập với đoàn chiên (Lc15:3-7).               

ĐỨC GIÊSU LÀ CHÚA CHIÊN LÀNH

Chúa nhật này còn gọi là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành. Bản văn Hy Lạp nói Chúa Chiên Lành là một mục tử sinh đẹp và quí phái, Người biết đoàn chiên của Người rất rõ ràng tỉ mỉ. Chúa Giêsu đã biết chiên của Chúa, ân cần lo lắng và yêu thương chúng. Chúa dùng ẩn dụ này để xác quyết với chúng ta là hãy tin tưởng hoàn toàn nơi Người. Xác quyết này còn có một ý nghĩa vượt lên trên cả những gì gọi là dịu dàng, cảm mến và yêu thương. Nó vừa bi ai vừa hùng tráng, vừa sáng chói vừa vĩ đại đến độ mục tử đã tự hiến mạng sống mình, chết cho đoàn chiên.

Không giống như kẻ làm thuê ăn lương, Chúa Chiên Lành đã hiến mạng sống mình cho đoàn chiên vì tình yêu. Ngược lại, chiên phải có trách nhiệm đối với mục tử. Chiên là đối tượng của tình yêu và nỗi ưu tư của Chúa. Do đó sự tận hiến của mục tử cho đoàn chiên là hoàn toàn vô vị lợi. Chúa chiên thì sẵn sàng chết vì chiên chứ không bỏ chiên mà chạy khi gặp nguy khốn. Đối với kẻ làm thuê, chiên chỉ là phương tiện, một loại hàng trao đổi, được trông coi gìn giữ vì chúng đem lại lợi nhuận, cho len và thịt.   

TÌNH YÊU MỤC TỬ  

Vẻ tươi đẹp sáng chói của Chúa Chiên Lành thể hiện qua hai chữ “Tình Yêu”. Vì yêu mà Chúa Giêsu đã hiến mạng sống mình cho từng con chiên một, cho mỗi một người chúng ta. Chúa đã thiết lập một giây liên hệ tình yêu trực tiếp giữa Chúa và cá nhân mỗi người chúng ta. Tình yêu sáng chói và dịu hiền ấy có sức quyến rũ làm cho chúng ta yêu mến Chúa. Từ đó, trong Chúa Giêsu, chúng ta khám phá ra được Thiên Chúa Cha và Thiên Chúa Con cũng là những mục tử luôn luôn săn sóc gìn giữ chúng ta. Các ngài biết chúng ta và yêu thương chúng ta cả những khi chúng ta bướng bỉnh, cứng đầu cứng cổ, cố tình câm điếc không chịu nghe lời và nghi hoặc.

Có những tín hữu coi những nhu cầu của mục tử là ưu tiên, dân chúng và tín hữu chỉ là phương tiện để làm cho người mục tử / lãnh đạo được hài lòng vui sướng. Họ đã coi mục tử là chính và chiên là phụ. Trong khi đó mục đích của những bài đọc Chúa Nhật hôm nay là chiên và sự an toàn của chiên là chính, mục tử chỉ là phương tiện để bảo đảm cho cứu cánh, tức sự an vui hạnh phúc của đoàn chiên. Chiên phải ưu tiên, mục tử là cuối cùng, đúng như Tin Mừng Gioan đã nói về hình ảnh Đức Giêsu là mục tử đã hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.

 ƠN GỌI LÀM MỤC TỬ

Chúa Nhật này cũng là ngày cầu nguyện cho ơn gọi trên toàn thế giới. Các bài đọc hôm nay là những lời cầu khẩn xin Chúa ban mùa gặt dồi dào và Giáo Hội sai thêm thợ gặt đến với đồng lúa mênh mông của Chúa. Như một nghệ thuật chỉ huy, Đức Giêsu cho chúng ta thấy Tình Yêu phải là lý do độc nhất thôi thúc chúng ta thi hành sứ mạng mục vụ, đặc biệt mục vụ của người mục tử. Người cũng khẳng định không có một ngoại lệ hay miễn trừ nào đối với các mục tử nắm chức lãnh đạo chỉ huy.

Nếu những con chiên ở ngoài đoàn chiên, dù chúng không thuộc về đoàn chiên của mình, vẫn phải ưu tư về chúng, đi tìm kiếm chúng, nuôi dưỡng và giúp đỡ chúng được an sinh đầy đủ. Đừng vô cảm. Rồi đem chúng về xum họp với đoàn chiên của mình để có một đoàn chiên và một Chúa Chiên mà thôi. Yếu tố thôi thúc bao chùm tất cả -ngoài vấn đề công lý xã hội, công bằng luân lý, sửa đổi chính trị sai lầm- vẫn là Tình Yêu. Chỉ có tình yêu mới có thể vẽ nên một vòng tròn thu gọn tất cả mọi người vào bên trong.

Mục tử thì có quyền trên chiên. Khi ngắm nhìn Đức Giêsu là Chúa Chiên Lành, người mục tử phải nghĩ đến những kẻ mà mình đang thi hành quyền lực và coi sóc. Họ là những trẻ em, ông già bà cả, những kẻ tàn tật, những cộng sự viên, các đồng nghiệp, những kẻ khốn cùng, những kẻ bị áp bức, những dân oan… đang cầu mong sự an ủi cứu giúp của mình, những kẻ đang đặt hy vong nơi mình để có những nhu cầu thiết yếu cả vật chất lẫn tinh thần. Không cần biết mình khoác trên người tước hiệu gì, cái gậy, cái mũ, áo hồng, áo đỏ, áo tím, áo đen, áo trắng, áo nâu và những thần dân ở quanh mình, tất cả những thứ đó không thể là khí cụ của áp bức, ta đây, mà phải là biểu tượng của hy sinh và hiến tặng. Những bài đọc hôm nay thôi thúc chúng ta xin Chúa tha thứ cho những sai lầm, những thiếu sót trong việc đáp ứng những đòi hỏi của người mục tử đối với đoàn chiên mà chúng ta đang săn sóc, đồng thời xin thêm hồng ân để trở nên những mục tử tốt, sửa sai cách nhìn của chúng ta cho giống Đức Giêsu là Chúa Chiên Lành biết rõ những chiên khác không thuộc về đoàn chiên này không phải là chiên lạc mà là chiên của Chúa nhưng đã xa lạc Chúa vì chúng ta.

ĐÔI LỜI KẾT

Nhà nhân chủng học cho biết người chăn chiên / mục tử phải đứng giữa hay đúng hơn đứng ở cả hai bên, phía người săn bắn và phía người lo cho mùa màng phát triển để liên kết hai bên lại với nhau. Do đó, người mục tử là biểu tượng của kết hợp mọi xung khắc thành một trong Chúa. Điều mà các dân ngoại thời sơ khai cũng như hiện nay coi như xa lạc thì người tín hữu phải thu nhặt lại vào trong vòng thực tế của Đức Giêsu là Đấng hòa giải vĩ đại. Người là Chúa Chiên Lành, đấng ở giữa mọi sung đột để tạo hiệp nhất và hòa bình an vui.

Mong rằng mọi tín hữu đều cố gắng trở thành những mục tử tốt của Giáo Hội toàn cầu. Thế giới ngày nay và Việt Nam chúng ta hiện đang có những xung khắc làm khổ tâm nhiều người, chớ gì Chúa dùng chúng ta như những khí cụ hòa giải và sửa đổi hầu thiết lập vẻ đẹp tươi sáng, hiệp nhất, hòa bình, tự do no ấm và thương yêu. mục lục

TAM BẤT và TAM TOÀN

Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

Bạn có biết TAM BẤT của Hàng Giáo Phẩm và Giáo Sĩ là gì không? Xin thưa đó là ba cái BẤT sau đây:

• BẤT XỨNG: "Không phải các con đã chọn Thầy nhưng chính Thầy đã chọn các con." Họ được gọi và được chọn không phải vì họ tài giỏi, thánh thiện hay đạo đức hơn người, nhưng chỉ vì Chúa thương và chọn họ mà thôi.

• BẤT TOÀN: Dù là Giáo Hoàng, Giám Mục hay Linh Mục, họ vẫn là những con người với tất cả những yếu đuối, tham sân si, hỉ nộ ái ố... Chúa gọi họ nhưng không cất khỏi họ những lỗi lầm, thiếu sót, những tính hư nết xấu. Bằng chứng là họ vẫn phải đi xưng tội như tất cả mọi tín hữkhác, và có khi còn phải đi xưng tội nhiều lần hơn và thường xuyên

hơn các tín hữu khác nữa. "Tất cả các vị Thượng tế được chọn giữa loài người cũng mắc phải yếu đuối tư bề. Vì thế họ phải dâng lễ đền tội thay cho dân thế nào, thì người dâng lễ đền tội cho chính mình như vậy" (Dt 5:1-2).

• BẤT LỰC: Khi gặp phải những con chiên cứng đầu cứng cổ, có uy thế, có quyền lực chính trị, có địa vị, danh vọng và có ảnh hưởng trong xã hội. Khi những con chiên đội lớp sói này ủng hộ, và công khai đi ngược lại những giáo huấn và truyền thống của Giáo Hội, chúng ủng hộ phá thai, hôn nhân đồng tính, trợ tử, tử hình, chuyển giới... thì họ bị bó tay chẳng làm gì được chúng. Thật đáng buồn phải không bạn?

Bạn thân mến, nếu bạn đồng ý với tôi rằng, Giáo Hoàng, Giám Mục và Linh Mục đều là những người BẤT XỨNG, BẤT TOÀN & BẤT LỰC, thì bạn hãy cố gắng ghi nhớ ba điều sau đây:

• THỨ NHẤT, ĐỪNG THẦN THÁNH HÓA CÁC MỤC TỬ

Cho dù bạn gặp một Giáo Hoàng, Giám Mục hay linh mục nào thánh thiện, đạo đức mấy đi chăng nữa thì xin bạn ghi nhớ, họ cũng chỉ là những con người bình thường, đầy những yếu đuối, khuyết điểm và tội lỗi y như bạn, y như mọi người, lắm khi còn tệ hơn bạn và hơn nhiều người khác nữa. Bạn mà thần thánh hóa họ thì có ngày bạn sẽ thất vọng và sẽ mất hết niềm tin vào Chúa cho mà xem.

• THỨ HAI, BÌNH TĨNH KHI THẤY GƯƠNG MÙ GƯƠNG XẤU XẢY RA TRONG GIÁO HỘI.

Những phương tiện truyền thông, báo chí, truyền thanh, truyền hình, internet, Facebook, Instagram... và những thế lực của satan luôn ngày đêm rình mò, khai thác và thổi phồng những yếu điểm và những sơ xuất của các mục tử trong Giáo Hội. Ngôn sứ Dacaria đã nói: "Chúng đánh mục tử, thì đàn chiên sẽ tan tác" (13:7) vì thế, chúng sẽ dùng tất cả mọi thủ đoạn bẩn thỉu và hạ cấp nhất để triệt hạ các vị mục tử để đoàn chiên bị chia rẽ và bị tan tác. Bạn chớ mắc mưu của chúng!

• THỨ BA, ĐỪNG BỎ ĐẠO VÌ NHỮNG GƯƠNG MÙ GƯƠNG XẤU CỦA CÁC VỊ MỤC TỬ.

Xin đừng bỏ Chúa, đừng rời Giáo Hội chỉ vì Đức Giáo Hoàng Phanxico giữ thinh lặng trước việc ông Joe Biden, một chính trị gia mang nhãn hiệu Công Giáo, đã ký những sắc lệnh cho phá thai, hôn nhân đồng tính, cho thanh thiếu niên chuyển giới... đi ngược lại với Giáo Huấn của Chúa một cách công khai. Cũng đừng bỏ lễ, bỏ nhà thờ, và ngưng chịu các phép bí tích chỉ vì thấy các Giám Mục không thống nhất với nhau về chuyện cấm những chính trị gia công khai ủng hộ phá thai lên rước lễ, hay các Giám Mục đã thiếu cứng rắn đối với những linh mục cấp tiến như James Martin, thuộc Dòng Tên, hay Bryan Massingale, hiện đang là giáo sư thần học của Đại học Fordham...

Bạn thân mến, Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, là ngày mà Giáo Hội muốn nhắc nhở cho bạn và tôi biết, chỉ có Chúa Giêsu Kitô là vị Mục Tử Nhân Lành duy nhất dám hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên (Ga 10:11). Còn tất cả các mục tử khác từ Giáo Hoàng, Giám Mục cho đến linh mục, tất cả họ chỉ là những mục tử yếu đuối, bất toàn, và tội lỗi, và lắm khi họ chỉ là kẻ làm thuê, và không thiết gì đến chiên (Ga 10:13).

Tôi tin chắc rằng, khi bạn và tôi hiểu rõ rằng Giáo Hoàng, Giám Mục và linh mục đều là những mục tử có TAM BẤT, và chỉ duy nhất một mình Chúa Giêsu Kitô là vị Mục Tử TOÀN THIỆN, TOÀN MỸ & TOÀN NĂNG, thì lúc đó, đức tin của chúng mình mới vững chắc, và chúng mình mới có thể trung thành với Chúa và với Giáo Hội.

Còn nữa, khi nhận thức được TAM BẤT của các mục tử ở trần gian và TAM TOÀN của vị Mục Tử Nhân Lành là Chúa Giê-su, thì bạn và tôi sẽ không sửng sốt và ngạc nhiên khi thấy có những mục tử hèn nhát, chỉ biết lo xén lông chiên, bỏ bê những con chiên bệnh tật, và khi gặp sói dữ thì liền bỏ của chạy lấy người.

Chúng ta hãy cầu nguyện cho hàng Giáo Phẩm và hàng Giáo Sĩ, xin Chúa ban cho họ ơn can đảm, ơn khôn ngoan khi rao giảng. Và xin cho họ trái tim nhân hậu và lòng từ bi của Chúa Giêsu, để họ tận tình chăm lo cho đoàn chiên của Chúa giao phó, cũng như dám hy sinh đứng ra bảo vệ đoàn chiên của mình khỏi sói dữ và những cạm bẫy của satan.

Xin chân thành cảm ơn bạn, và xin Chúa gìn giữ, chúc lành, ban cho bạn sức khỏe, sự bình an và nhiều niềm vui trong tuần lễ mới này. mục lục

QUÀ TẶNG CỦA THIÊN CHÚA

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Ngày lễ Chúa chiên lành, tôi suy nghĩ về quà tặng. Chúa Kitô, quà tặng vô giá mà Thiên Chúa trao tặng trần gian. Không khác. Nhưng như Chúa Kitô, thánh chức linh mục và bản thân người linh mục lại tiếp tục là quà tặng của Thiên Chúa cho thế giới loài người qua thời gian, trải dọc lịch sử.

1. Linh mục cần theo mẫu quà tặng Giêsu Kitô.

Chúa Kitô, quà tặng của Tình Trời được gởi trao cho người trần, một quà tặng tuyệt đối, quà tặng vô giá được ban tặng nhưng không: Thiên Chúa đã trao tặng chính người Con Một dấu ái của mình: “Thiên Chúa YÊU thế gian đến nỗi đã BAN Con Một, để ai tin vào Con của Ngài thì không phải chết nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16).

Dù thánh Gioan không nhắc tới cách hiển nhiên hai tiếng “quà tặng”, nhưng khi lặp lại lời của Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô: “Thiên Chúa YÊU… đến nỗi đã BAN”, thì không là nói bằng ngôn ngữ của quà tặng đó sao. 

Bởi trong hai tiếng quà tặng đã hàm chứa tình yêu và sự trao ban. Nơi Thiên Chúa, dù quà tặng chính là một ân ban thần linh diệu kỳ, lại quá sức cụ thể nơi một con người mang tên Giêsu Kitô.

Đến phiên người linh mục, một khi ý thức mình cũng là quà tặng mà Thiên Chúa dành cho trần gian theo cách thế quà tặng Giêsu Kitô, trước hết, họ phải đón nhận Chúa Giêsu Kitô nơi cuộc đời, tâm hồn và lẽ sống của mình.

Họ ấp ủ Chúa Kitô. Họ cần sống như Chúa Kitô sống trong họ. Họ "thấm" Chúa Kitô như chỉ còn là Chúa Kitô trong lối sống, lối nghĩ, lối hoạt động và từng phản ứng thường ngày của chính đời sống mà họ đang sống.

Nhất là sự nghèo khó. Để đón nhận và hiến dâng trọn vẹn quà tặng của yêu thương, đòi họ phải trút bỏ bằng một tinh thần nghèo khó, bằng một ý thức hiến mình thực sự, không thể làm khác được. 

Bởi chỉ trong sự nghèo khó, người ta mới trở nên giàu có, vì có chính Thiên Chúa làm tặng phẩm vô giá của mình. Bởi vậy, ta mới hiểu vì sao Chúa Giêsu lại nói: “Phúc cho các ngươi là những người nghèo” (Lc 6, 20).

Chỉ đón nhận sát sao quà tặng của Thiên Chúa như thế, người linh mục mới có thể trở thành quà tặng của Thiên Chúa như chính Thiên Chúa muốn.

2. Trao ban chính mình.

Đã gọi là quà, quà tặng cần phải trao ban. Quà không trao ban không phải là quà. Quà chỉ có giá trị khi nó được dâng tặng bằng cả tình yêu. 

Ai đó ví von pha chút mỉa mai: “Linh mục ban của thánh và nhận của phàm”. Không biết lời ví von ấy đúng hay không? Nhưng nếu ít nhiều có sự thật, đó không còn là lời nói cho vui, mà trở thành lời bậc thốt từ nỗi xót xa. 

Hơn nữa, nếu đúng như thế thì đời thánh hiến đã bị lệch, bị méo. Bởi thay vì chức linh mục như một quà tặng dâng cho đời, lại trở thành phương tiện để thỏa ích kỷ riêng, để vụ lợi. Nói cho cùng, đó chính là nỗi bi đát. Như vậy, đời thánh hiến chỉ còn là một phương tiện để xây pháo đài của bản thân. 

Ơn thánh hiến mà bị lạm dụng, có khác chi lời tiên tri Êgiêkiel cảnh báo từ rất xưa: “Đức Chúa là Chúa Thượng phán thế này: Khốn cho các mục tử Israel, những kẻ chỉ biết lo cho mình! Nào mục tử không phải chăn dắt đàn chiên sao? Sữa các ngươi uống, len các ngươi mặc, chiên béo tốt thì các ngươi giết, còn đàn chiên lại không lo chăn dắt. Chiên đau yếu, các ngươi không làm cho mạnh; chiên bệnh tật, các ngươi không chữa cho lành; chiên bị thương, các ngươi không băng bó; chiên đi lạc, các ngươi không đưa về; chiên bị mất, các ngươi không chịu đi tìm. Các ngươi thống trị chúng một cách tàn bạo và hà khắc” (Ed 34, 2- 4). 

Một khi bước theo Chúa Kitô trong đời sống thánh hiến, linh mục chỉ dám nói mình nên giống Chúa Kitô khi đã có thể sống đời hiến dâng như Chúa Kitô. Ngay cụm từ “Đời sống Thánh hiến”, đủ để nói lên ý nghĩa của sự hiến dâng mình trong chức linh mục.

Nói linh mục dâng mình để sống đời thánh hiến trong chức linh mục là điều không khó. Nhưng trước sau, linh mục vẫn là con người. Linh mục sống đời thánh hiến hoàn hảo như Chúa Kitô không dễ chút nào. 

Tuy nhiên, khó không có nghĩa là không thể thực hiện, càng không bao giờ được phép đầu hàng. Trong đời sống thánh hiến, đầu hàng không chỉ là thua cuộc, mà còn là đánh mất. Vì không dám và không ý thức đời hiến dâng, linh mục chỉ còn danh chứ không còn thực. 

Dù anh em linh mục chúng ta vẫn mang phận người bất tất, vẫn đầy yếu đuối, thậm chí đã từng có những lần đổ ngã thảm bại, thì hãy tự nhủ bản thân, "tôi đã mất một, nhưng sẽ quyết tâm để không mất hai".

Hãy luôn nhớ, tòa giải tội đang trông ngóng. Tình yêu dung thứ của Thiên Chúa đang tha thiết vẫy gọi. Mạch sống của Đấng là Chủ Chăn nhân hậu, Chúa Giêsu Kitô, đang khao khát để lại được khơi nguồn. Sức mạnh và lửa nóng của Ngôi Ba đang rừng rực đợi chờ... 

Hãy chạy về phía Thiên Chúa. Dẫu đổ vỡ đã là sự mất mát, nhưng không đồng nghĩa với mất tất cả. Hãy can đảm vực dậy cõi siêu nhiên, dẫu chỉ còn le lói ở phía cuối linh hồn.

Để tránh tất cả những nguy cơ đe dọa thánh chức, linh mục hãy can đảm tập tành ướm thử đời mình theo khuôn mẫu cuộc đời Chúa Kitô. Đó là trút bỏ những ham hố, tham vọng, mưu cầu tư lợi… và tự hủy mình trở nên người phụng sự Chúa, phục vụ con người như Chúa muốn.

Hãy nhớ rằng, một khi tự hủy để sống nghèo khó, Chúa Kitô trở nên quà tặng vô giá. Linh mục cũng sẽ trở nên quà tặng khi biết trút bỏ, để sống sự nghèo khó như  Chúa.

Vì thánh hiến là dâng tặng đời mình. Linh mục sống đời thánh hiến, nghĩa là linh mục tắm mình trong tình yêu Thiên Chúa để hiến dâng tình yêu đã được thánh hiến của mình trao tặng anh chị em. 

Bông hồng trao tặng là để bày tỏ lòng yêu thương. Con người biết hủy mình để dâng tặng tình yêu, lời tỏ tình ấy có giá trị gấp ngàn lần những cánh hồng tươi nở. 

Nhưng nếu hiến dâng đời mình trong ơn gọi thánh hiến, hơn tất cả mọi lời yêu thương, người linh mục trở thành một con đường tình yêu nối trời cao với trần thế, đưa con người đến với Thiên Chúa, và trao ban chính Thiên Chúa cho con người. Có còn nét đẹp nào có thể sánh bằng nét đẹp của ơn thánh hiến để dâng tặng đời mình như thế! mục lục

CHIÊM NGẮM ĐỨC GIÊSU MỤC TỬ NHÂN LÀNH

Lm. Anphong Vũ Đức Trung, O.P.

Đức Giêsu, Mục Tử nhân lành gắn bó với đòn chiên, được diễn tả qua hai hình ảnh: *Đức Giêsu đi trước đàn chiên, dẫn đàn chiên ra đồng ăn cỏ; *Đức Giêsu vác một con chiên lạc trên vai, sau khi nhọc công tìm kiếm và đưa nó trở về đàn. 

Người Mục tử đi trước đoàn chiên theo sau: 

Đi trước là dẫn dắt cả đàn chiên tới đồng cỏ xanh tươi, tới dòng suối mát trong, để bồi bổ- “Tôi đến để cho chiên được sống, và sống dồi dào” (Ga 10, 10). Nếu không được dẫn dắt, chiên sẽ không đi “thẳng hàng ngay lối”, không định hướng và lạc đường; 

Đi trước là “đứng mũi chịu sào”- lãnh lấy mọi đe dọa tấn công, mọi nguy hiểm rình rập để bảo vệ chiên khỏi sói dữ, khỏi kẻ trộm cướp. Nếu không được bảo vệ, đàn chiên hoảng sợ, chạy tán loạn trước sói dữ và kẻ trộm cướp; 

Đi trước là ở đầu, đàn chiên theo sau: Cả hai làm nên một “cộng đoàn” có tương giao thân tình, gần gũi, gắn bó “như chi thể với đầu” (x. Cl 1,18; Ep 1,22; 4,15; 5,23; 1Cr 6,15; 12,13). Người Mục Tử biết chiên của mình, gọi tên từng con một, để xác định những chiên nào không thuộc về đàn. 

Người Mục tử vác chiên thương tật trên vai: 

Vác trên vai là nâng đỡ, hỗ trợ vì chiên bị thương không thể tự mình đi được, dễ bị “bỏ lại phía sau”, tách biệt khỏi đàn. Người Mục Tử giúp chiên bị thương tật luôn an tâm trên đôi vai Người;

Vác trên vai như gánh vác trách nhiệm vì yêu thương đến cùng, nên người Mục Tử dám chịu hết trách nhiệm thay cho chiên và hy sinh bản thân mình: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu” (Ga 15, 13); 

Vác trên vai như hình ảnh phục vụ tận tình, để đàn chiên theo gương phục vụ của Người Mục Tử nhân lành, mà phục vụ tha nhân và yêu thương họ “ như Thầy đã yêu” (Ga 15, 12).

Chiêm ngắm Đức Giêsu, Mục tử nhân lành, chúng ta xác tín mình thuộc đoàn chiên Chúa, đồng thời noi gương Người: Để nâng đỡ, hỗ trợ những anh chị em đau khổ, thương tật và tội lỗi; Để đồng trách nhiệm với tội lỗi diễn ra trên thế giới này, vì “không ai là người hoàn toàn vô tội trước sự ác và sự dữ xẩy ra”; Để đem lại bình an, hạnh phúc cho con người .

Lạy Chúa Giêsu,

Chúa là Đấng chăn dắt cuộc đời chúng con; Xin Chúa ban cho chúng con ánh sáng soi đường, để chúng con luôn đi trên đường ngay nẻo chính. Xin Chúa dắt cuộc đời chúng con, để chúng con không bị lạc lối trong đêm đen mù mịt. mục lục

NGƯỜI MỤC TỬ SỐNG TỐT LÀNH và BIẾT THƯƠNG XÓT ĐÀN CHIÊN

Lm. Giuse Nguyễn Minh Ước, SJ

MỤC TỬ GIÊSU

Giê-su Con Chúa chí cao

Giáng sinh nhập thể vì yêu nhân loài

Chạnh lòng thương xót muôn người

Ba năm rong ruổi bước đời trần gian

Giê-su Mục Tử Nhân Lành

Tìm chiên xấu cải hóa thành chiên ngoan

Giê-su chấp nhận chết oan

Để chiên được sống bình an, dồi dào

Thánh Tâm tuôn chảy máu đào

Rửa con sạch trắng biết bao tội đời

Tạ ơn Con Đức Chúa Trời

Xin giúp con sống trọn đời chứng nhân. mục lục

Viễn Dzu Tử

ĐỜI CHIÊN

Chiên lạc gầy gò, ốm yếu
Lạc loài ngày tháng đi hoang
Chiên ốm cũng là chiên xấu
Ai nhìn thấy cũng coi thường.
Chiên béo vừa mập vừa đẹp
Vừa hãnh diện vừa cao sang
Luôn được cưng chiều, tâng bốc
Tung hoành khắp chốn dọc, ngang.
Chiên đen có thể hóa trắng
Nếu được tắm Máu Giê-su
Sức mạnh tình yêu chiến thắng
Tử thần cũng phải chịu thua.
Chúa chẳng muốn ai hư mất
Nhưng được sự sống đời đời
Ngài đến thế gian để cứu
Chứ không muốn loại trừ ai.
Con là chiên đen, chiên ghẻ
Lạc loài giữa chốn trần gian
Suốt đời hôi tanh, ô uế
Xin Ngài cứu chữa đời con.

Viễn Dzu Tử

CHÚA CHIÊN LÀNH

(Cảm nhận và suy niệm Ga 10,11-18)

Lời Chúa phán: Tôi chính là Mục Tử
Mạng sống Tôi dành để cứu đoàn chiên
Không như ai, sói tới bỏ chạy liền
Đàn chiên họ, hết tin và tản mát… 
Tôi còn có nhiều con chiên xa lạc
Tôi phải tìm, và đưa hết chúng về
Tiếng tôi êm dịu, chúng sẵn lòng nghe
Sẽ chỉ một đoàn chiên, một mục tử.
Cha thương xót, tôi vâng theo Thánh Ý
Tôi hy sinh để cứu độ chúng sinh
Tôi có quyền lấy lại mạng sống mình
Vì mạng sống tôi không ai cướp được.
Quyền năng Chúa, trí khôn nào suy thấu?
Lòng xót thương của Ngài thật vô cùng
Chúa cứu chiên lạc về hưởng phúc chung
Cùng các Thánh, muôn đời trong Nước Chúa… mục lục

(Thế Kiên Dominic)

ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN

(Cảm nhận từ Tông Thư của Đức Thánh Cha Phanxicô)

Đi theo Chúa Giêsu
Người tận hiến dốc lòng theo chân Chúa
Luôn tạ ơn vì ơn gọi lạ thường
Chúa Thánh Linh soi sáng bước lên đường
Luôn gắn bó với Tin Mừng Chúa dạy.
Gia đình thánh hiến 
Mỗi Tu Hội: một gia đình thánh hiến
Đã lập nên theo đặc sủng Thánh Linh
Luôn vâng theo Giáo Hội, nhận ơn lành
Để thăng tiến, như cây đầy hoa lá.
Nhân chứng Tin Mừng
Làm nhân chứng Tin Mừng: dâng đời sống
Sống tinh thần nghèo khó và khiêm nhu
Vững theo gương can đảm các tông đồ
Như lịch sử Tin Mừng luôn sáng tỏ.
Sống tận hiến
Sống tận hiến là sống đời thánh hiến
Dâng xác hồn, tín thác Chúa Tình Thương
Khấn trọn đời: thế tục chẳng vấn vương
Vui trong Chúa Thánh Linh- Đấng Bảo Trợ.

(Thế Kiên Dominic)

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan