LỄ ĐỨC MẸ MÂN CÔI (CN 27 TN_C)

01-10-2022 246 lượt xem

Mục Lục

KINH MÂN CÔI, LỜI KINH GẦN GŨI - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

KINH KÍNH MỪNG TRONG THÁNG MÂN CÔI - Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

CHÚNG TA KHÔNG BAO GIỜ BỊ BỎ RƠI - Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

ĐỨC TIN KIÊN TRUNG - + ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

XIN CHÚA BAN THÊM LÒNG TIN - Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

CHÚA CÓ CHO TÔI BẤT CỨ ĐIỀU GÌ TÔI XIN KHÔNG? - Phêrô Phạm Văn Trung

HÃY THÊM LÒNG TIN CHO CON - Lm. Giuse. Mai Văn Thịnh, DCCT

TIN THÌ CÁI GÌ LÀM CŨNG ĐƯỢC - Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

THÁI ĐỘ TÔNG ĐỒ - Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

NẾU CÓ NGÀY MAI ANH TRỞ GÓT - Mai Tá

ĐỨC TIN và KHIÊM NHU - Trầm Thiên Thu

VỮNG TIN & KHIÊM NHƯỜNG - (Thế Kiên Dominic)

KINH MÂN CÔI, LỜI KINH GẦN GŨI

Một người đàn ông chạy xe ôm, đang khi ngồi chờ khách, anh cầm tràng chuỗi trên tay để lần hạt. Người đi đường chụp tấm hình đưa lên mạng xã hội. Thi sĩ nhìn hình, cảm hứng làm thơ. Nhạc sĩ cảm hứng từ thơ nên viết nhạc, ca sĩ hát và đưa lên youtube (youtube.com/watch?v=B-sGXe52-d0&feature=youtu.be).

Nghe ca khúc “Sao anh siêng lần chuỗi” với giai điệu tăng-gô vui tươi, gợi lên nhưng suy niệm về Chuỗi Mân Côi.

1. Lần hạt bất cứ khi nào và ở đâu

Không buộc phải đọc 50 Kinh Mân Côi một lần mà có thể đọc bao nhiêu tuỳ vào thời gian mình có. Có thể vừa làm việc vừa đọc Kinh Mân Côi, không nhất thiết phải có tràng hạt trên tay. Có thể thì thầm bất cứ lúc nào: khi chờ xe bên đường, lúc đi học, khi giải trí, khi đau bệnh…thay vì đưa mắt nhìn chung quanh, thay vì nghe những chuyện không đâu, mình cũng có thể lần hạt. Dù bận bịu đến đâu mình cũng có thể lần hạt. Đó là cách cầu nguyện mà triết gia Jacques Maritain gọi là “chiêm niệm bên vệ đường”. Kinh Mân Côi chính là người bạn chân tình, dễ tính, trung thành luôn sẵn sàng hiện diện mọi lúc, mọi nơi.

Kinh Mân Côi chính là hành trang gọn nhẹ giúp thánh hóa bản thân gia đình và xã hội. Theo nghĩa này, Kinh Mân Côi không khác gì điện thoại di động hòa đời mình vào mạng sự sống thiêng liêng.

2. Lời kinh kết nối

Ai cũng có điện thoại, xài wifi, 4G. Đi đâu cùng có kết nối. Thời đại hôm nay, mạng internet được gọi là xa lộ thông tin cung cấp rất nhiều thông tin về mọi lãnh vực, cho con người mối quan hệ rộng lớn và nhiều cơ hội diễn đạt cảm xúc và suy nghĩ của mình. Hòa vào mạng internet, con người trên khắp thế giới được kết nối với nhau. Kinh Mân Côi là lời kinh kết nối.

a. Kết nối với Đức Maria

Khi lần chuỗi đọc kinh Kính Mừng, chúng ta được nối kết với Đức Maria. Chiêm ngắm Mẹ chỉ là “Nữ tỳ hèn mọn”, nhưng “Chúa đã đoái thương nhìn tới”. Vì thế, “Từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc”. Một thiếu nữ nhỏ bé sống ở làng quê nghèo Nadaret đã trở thành Mẹ Thiên Chúa. Sứ thần Gabriel đến Nadaret chào thôn nữ Maria: “Mừng vui lên hỡi Đấng đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng Bà”. Ba tiếng “Đầy-ân-sủng” gộp lại trở thành như là tên gọi riêng của Đức Maria. Mẹ được tràn đầy ân sủng. Mẹ luôn luôn có Thiên Chúa ở cùng. Không có giây phút nào mà Mẹ không có Thiên Chúa với mình. Không có giây phút nào mà Mẹ không trọn vẹn thuộc về Chúa. Không có bất cứ dấu vết tội lỗi chen vào giữa Mẹ và Thiên Chúa. Là một tâm hồn luôn luôn nghiền ngẫm Kinh thánh, chắc hẳn Đức Maria nhớ lại Lời Chúa đã dùng Ngôn sứ Nathan mà thề hứa với vua Đavit xưa. Nhưng điều mà Mẹ không bao giờ nghĩ tới là mình có thể đóng vai trò gì trong việc thực hiện lời tiên tri ấy. Chuyện “không thể” được đầu tiên là làm sao mình sinh con được vì đã quyết “không biết đến chuyện vợ chồng” để sống trọn vẹn cho một mình Thiên Chúa mà thôi. Sau khi được Sứ thần giải thích rằng “đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”, Maria khiêm nhường thưa lại: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38). Và thế là Ngôi Hai Thiên Chúa đã nhập thể làm người trong lòng Đức Trinh Nữ. Và thế là Đức Maria khiêm nhường đã trở thành Thánh Mẫu của Thiên Chúa.

Đức Maria là người diễm phúc vì Mẹ đã tin như bà Êlisabet đã thốt lên: “Phúc cho em vì đã tin những lời Chúa phán”.

Đọc Kinh Mân Côi là kết nối hai chiều đi đi về về giữa Đức Maria xuống với con người và giữa con người lên với Đức Maria, cách tự nhiên như tình mẫu tử.

Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thổ lộ tâm tình: “Từ thuở niên thiếu, lời kinh Kinh Mân Côi đã có một chỗ đứng quan trọng trong đời sống thiêng liêng của tôi… Kinh Mân Côi đã đồng hành với tôi trong những lúc vui sướng và trong những giai đoạn khó khăn. Tôi đã giao phó cho lời kinh ấy biết bao lo âu; nơi lời kinh ấy tôi đã luôn tìm được sự nâng đỡ…. Kinh Mân Côi là lời kinh tôi ưa thích. Một lời kinh kỳ diệu! Kỳ diệu qua vẻ đơn sơ và chiều sâu của nó.”

b. Kết nối với Chúa Giêsu

Điều huyền diệu làm cho chuỗi Mân Côi hữu hiệu là khi đọc chúng ta vừa cầu nguyện vừa suy niệm. Kinh Lạy Cha dâng lên Chúa Cha, Kinh Kính Mừng dâng lên Đức Maria và Kinh Sáng Danh dâng lên Thiên Chúa Ba Ngôi. Những tâm tình suy niệm hướng về Chúa Giêsu Kitô.

Chuỗi Mân Côi là một bản tóm tắt gọn gàng, dễ nhớ về những biến cố quan trọng trong cuộc đời Chúa Cứu Thế. Mân Côi là những bông hồng đẹp được tượng trưng bằng các kinh Kính Mừng để tôn vinh Người. Đức Mẹ đã có mặt trong cuộc đời Chúa Cứu Thế từ những giây phút đầu cho đến những giây phút cuối.

Đọc Kinh Mân Côi là suy niệm các mầu nhiệm của Phúc Âm. Vì thế, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nói “Kinh Mân Côi không thay thế việc đọc Kinh thánh, lectio divina; trái lại, Kinh Mân Côi giả định trước và cổ võ việc đọc Kinh thánh. Trong Kinh Mân Côi, chúng ta cầu xin Mẹ giúp chúng ta trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu mỗi ngày một hơn. Khi suy ngẫm về Kinh Mân Côi, chúng ta bước vào trường học của Đức Maria để Mẹ dạy chúng ta về Chúa Giêsu vì Mẹ đã nuôi dưỡng Chúa Giêsu, đồng hành với Chúa Giêsu và cùng chịu khổ với Chúa Giêsu dưới cây thánh giá”.

Các mầu nhiệm Vui, Sáng, Thương, Mừng, hòa quyện trong cuộc đời dương thế của Chúa Giêsu. Chuỗi Mân Côi lần lượt diễn tả:

– Mầu nhiệm Vui: đồng hành với mầu nhiệm Nhập thể và đời sống âm thầm của Chúa Giêsu.

– Mầu nhiệm Sáng: đồng hành với những mốc thời gian hoạt động đặc biệt có ý nghĩa trong cuộc đời công khai của Chúa Giêsu.

– Mầu nhiệm Thương: đồng hành với những đau khổ của cuộc khổ nạn Chúa Giêsu.

– Mầu nhiệm Mừng: đồng hành với vinh quang phục sinh của Đức Kitô.

Chuỗi Mân Côi là quà tặng quí báu, Thiên Chúa và Đức Mẹ trao cho chúng ta. Người ta gọi chuỗi Mân Côi là kinh nguyện của người bình dân. Các mầu nhiệm Mân Côi còn được gọi là cuốn sách Phúc Âm rút gọn của người bình dân. Cứ 10 Kinh Kính mừng lại suy gẫm về một mầu nhiệm mùa Vui, Sáng, Thương, Mừng.

c. Kết nối với mọi người với nhau

Đọc kinh Mân Côi mỗi người được kết nối với Đức Maria và với Đức Kitô, từ đó được hiệp thông với mọi tín hữu.

Kinh Mân Côi là lời kinh phổ cập, đó là kinh của mọi tín hữu. Ai cũng đọc được, từ người trẻ cho đến người già, người thông thái cũng như người ít học, người giàu hay người nghèo, người khỏe mạnh cũng như người đau yếu, khi vui cũng như lúc buồn, khi làm việc cũng như lúc nghỉ ngơi. Kinh Mân Côi có thể đọc được ở bất cứ đâu hay trong hoàn cảnh nào, ở nhà thờ, ở nhà mình, ở ngoài đường, trong nơi yên lặng hay giữa chốn ồn ào náo động và nhất là đọc chung với nhau trong gia đình hay những khi có đông người công giáo họp nhau lại. Đọc Kinh Mân Côi với ý thức là mình đang làm một công việc có chất Tin Mừng, được Giáo Hội công nhận và nhiệt tình khuyến khích, một công việc thu tóm lại tất cả cuộc đời Chúa Cứu Thế.

Cầu nguyện với Đức Mẹ bằng lời kinh Mân Côi, chúng ta được kết nối với Chúa Giêsu là nguồn mạch ban sự sống. Bóng đèn muốn được toả sáng thì phải được nối kết với nguồn điện. Cành nho muốn được trổ sinh hoa trái thì phải được tháp nhập vào thân nho. Bàn tay muốn sống còn và hoạt động thì phải liên kết với cơ thể. Con người muốn được sống dồi dào và vĩnh cửu thì phải nối kết với cội nguồn là Chúa Giêsu.

Chuỗi Mân Côi mang đến vô vàn huyền diệu cho con người. Ai yếu đuối, Kinh Mân Côi đem cho sức mạnh; ai tội lỗi, Kinh Mân Côi dắt về ơn thánh; ai bất hạnh, Kinh Mân Côi giúp bình tĩnh tìm ra hướng lối vươn lên; ai khô khan, Kinh Mân Côi giúp khám phá ra những ánh lửa vẫn còn ẩn giấu trong những đám tro tưởng như nguội lạnh.

Kinh Mân Côi là lời kinh kết nối mỗi người với Chúa Giêsu, với Mẹ Maria và với nhau. Đó là kinh nguyện phổ biến, vừa dễ đọc vừa dễ cầu nguyện mà lại mang lại nhiều ích lợi cho linh hồn.

3. Hãy siêng năng lần hạt

Chuỗi Mân Côi nuôi dưỡng đời sống nội tâm phong phú. Chuỗi Mân Côi làm lòng người lắng dịu, thanh thản bình an để chiêm ngắm cuộc đời Chúa Giêsu và ca ngợi Mẹ Maria. Cầm Chuỗi Mân Côi trên tay, chúng ta sẽ thấy mình được tăng thêm nghị lực, sống vươn lên với niềm Tin, Cậy, Mến.

Theo lời mời gọi của Đức Thánh Cha Phanxicô, chúng ta quyết tâm sống theo lời Mẹ trong dịp hiện ra lần cuối tại Fatima là “hãy siêng năng lần hạt”. “Ai mến Mẹ thì yêu thích chuỗi Mân Côi. Bởi vì chỉ có người yêu mới lặp lại một chuyện, một lời mà không biết nhàm chán” (Đường Hy vọng số 947).

Lạy Mẹ Maria, xin dạy chúng con biết yêu mến tràng Chuỗi Mân Côi, siêng năng lần hạt trong mỗi ngày sống, nhờ đó chúng con được hiệp thông nối kết với nhau và cầu nguyện cho nhau. Xin Mẹ khẩn cầu cho chúng con bên tòa Chúa. Amen. mục lục

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

KINH KÍNH MỪNG TRONG THÁNG MÂN CÔI

Bước vào Tháng Mười, Tháng Mân Côi, chúng ta thấy một hình ảnh truyền thống tuyệt đẹp về Ðức Bà Mân Côi, một tay bồng Chúa Giêsu Hài Ðồng, còn tay kia thì trao Tràng Chuỗi Mân Côi cho thánh Ðaminh, chứng tỏ rằng kinh Mân Côi là một phương thế được Ðức Mẹ ban cho nhân loại qua thánh Đaminh, để con cái Chúa nhờ chiêm ngắm và suy niệm về cuộc đời của Chúa, mà yêu mến Chúa và theo Chúa mỗi ngày một hơn.

Maria đầy ơn phúc

“Kính mừng Maria đầy ơn phúc” là câu đầu tiên trong Kinh Kính Mừng chúng ta vẫn thường đọc. Nguồn gốc của lời Kinh này phát xuất từ miệng sứ thần Gabriel chào Đức Maria lúc truyền tin : “Kính mừng Maria đầy ơn phúc (Lc 1,28), và lời xác nhận của bà Êlisabet : “Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ và Giêsu con lòng Bà gồm phúc lạ”.

Những lời của sứ thần Gabriel và của bà Êlisabét trên đây đã được Giáo hội dùng để chúc tụng ngợi khen Đức Mẹ. Đồng thời, Giáo hội thêm vào lời cầu khẩn xin Mẹ thương nâng đỡ phù trì “Thánh Maria ĐứcMẹ Chúa Trời cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử”.

Quả Phúc Giêsu

Hằng ngày, khi đọc lại lời chào của thiên thần và lời chào của bà Êlisabét chúng ta khám phá ra Quả Phúc nơi cung lòng Đức Mẹ là Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa nhập thể làm người. Đây chính là hoa trái mà tiên tri Isaia đã báo trước: “Ngày đó, chồi non Đức Chúa cho mọc lên sẽ là vinh quang và danh dự, và hoa màu từ ruộng đất trổ sinh sẽ là niềm hãnh diện và tự hào” (Is 4,2). Người Con ấy thuộc miêu duệ Abraham, đã xuất thân từ dòng dõi vua Đavid, được đầy tràn Thần Khí Chúa. Thiên Chúa đã đặt nơi Người muôn phúc lành và muôn dân nhờ Người mà được chúc phúc, như có lời chép: “Như đất đai làm đâm chồi nẩy lộc, như vườn tược cho nở hạt sinh mầm, Đức Chúa là Chúa Thượng cũng sẽ làm trổ hoa công chính, làm trổi vang lời ca ngợi trước mặt muôn dân” (Is 61,11).

Kinh Kính Mừng trong Tháng Mân Côi

“Kính mừng Maria đầy ơn phúc”. Mẹ đầy ơn phúc” (Lc 1, 28), vì từ đời đời Thiên Chúa đã chọn Mẹ làm Mẹ Đấng Cứu Thế và gìn giữ Mẹ khỏi mọi vết nhơ tội lỗi, nên nơi Mẹ không có chỗ cho tội lỗi. Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể trong lòng Đức Trinh Nữ Maria (x. Ga 1,14). Chúng ta cũng được kêu gọi lắng nghe Chúa nói và đón nhận ý Chúa vào trong cuộc đời Mẹ để trở nên người có phúc như Mẹ.

Đức Chúa Trời ở cùng Bà

Chúng ta ca tụng Đức Maria là Đấng đầy ơn phúc như lời sứ thần chào. Phúc của Mẹ thật cao vời khôn sánh, lời bà Êlisabet xác nhận: “Em thật có phúc” (Lc 1,42). Mẹ có phúc trước hết là vì Mẹ có Thiên Chúa ở cùng. Ai có Thiên Chúa ở cùng, người ấy đầy ơn phúc.

Trong Cựu Ước, có bao người được Thiên Chúa ở cùng, để rồi được Ngài sai đi phục vụ Dân Chúa. Nhưng Thiên Chúa ở cùng Đức Mẹ một cách độc nhất vô nhị. Khi được đầy tràn Thánh Thần và cưu mang Ngôi Lời, Mẹ trở nên như Hòm Bia, như Ðền Thánh, nơi vinh quang Thiên Chúa hiện diện giữa loài người.

Điều đã xảy ra nơi Đức Mẹ Đồng Trinh khi có Thiên Chúa ở cùng, thì cũng xảy ra nơi chúng ta trong mức độ tâm linh. Chúng ta đón nhận Lời Chúa bằng con tim vui vẻ, chân thành và biết đem ra thực hành. Chúa Giêsu đã cư ngụ nơi lòng Mẹ, Người cũng đến và ở trong những ai yêu mến và tuân giữ lời Người, đón rước Người khi chịu lễ.  Thế nên Giáo Hội không ngớt lời lặp đi lặp lại danh xưng hạnh phúc này: “Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà” để tôn vinh Mẹ.

Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ

Phúc nơi Mẹ trổi vượt hơn hết mọi người nữ vì Mẹ đã đầu tư vốn liếng cả cuộc đời cho thánh ý Thiên Chúa. Nếu yêu và được yêu là những điều hạnh phúc nhất trong đời, thì Đức Maria là người hạnh phúc hơn hết vì được Thiên Chúa yêu thương tuyển chọn và chính Mẹ cũng biết dành trọn vẹn tình yêu thương của mình cho Thiên Chúa.

Phúc của Mẹ thật khôn ví, vì tâm hồn Mẹ trong sạch và luôn kết hiệp với Chúa. Mẹ có phúc vì Mẹ đã tin như lời bà Êlisabét nói: “Em thật có phúc, vì đã tin rằng: Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1, 45).

Và Chúa Giêsu Con lòng Bà gồm phúc lạ

Ở mức độ tự nhiên, Mẹ đón nhận sức mạnh của Chúa Thánh Thần rồi dâng hiến máu thịt mình cho Con Thiên Chúa để Người được hình thành nơi Mẹ. Xét về mặt thiêng liêng, Mẹ đón nhận ân sủng và đáp lại điều đó bằng đức tin của mình”. Về điều này thánh Augustinô giải thích rằng: Đức Trinh Nữ “trước hết đã thụ thai trong tâm hồn và sau là trong cung lòng Mẹ. Mẹ đã thụ thai trước là đức tin và sau là Thiên Chúa”.

Bằng việc đón nhận hài nhi Giêsu để cưu mang, sinh hạ, nuôi dưỡng và làm Mẹ Thánh Tử, Đấng là Hồng Phúc ngay trong lòng mình nữa. Mẹ trở nên người gồm phúc lạ. Mẹ có phúc vì được làm Mẹ Đức Giêsu. Mẹ của chính Ngôi Lời Thiên Chúa làm người (x. Ga 1,14; Mt 1,23). Mẹ hạnh phúc hơn vì đã trở thành môn đệ Chúa, như lời Chúa Giêsu Con Mẹ đã đáp lại lời một phụ nữ khen ngợi người mẹ đã có công sinh thành nuôi dưỡng Người: “Đúng hơn phải nói rằng: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa” (Lc 11,27-28).

Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời

Thánh Maria, Ðức Mẹ Chúa Trời. Chỉ Thiên Chúa là Ðấng Thánh và là nguồn mọi sự thánh thiện. Mẹ được chia sẻ sự thánh thiện ấy cách tuyệt vời, vì Mẹ được chọn làm Mẹ Ðức Giêsu, Mẹ Thiên Chúa, và vì chẳng ai thực thi ý Chúa trọn vẹn như Mẹ. Chúng ta chẳng được diễm phúc sinh ra Ðức Giêsu, nhưng chính Chúa Giêsu lại mời gọi ta làm mẹ của Người: “Mẹ tôi và anh em tôi là những ai nghe Lời Thiên Chúa và đem ra thực hành” (Lc 8,21).

Cầu cho chúng con là kẻ có tội khi này và trong giờ lâm tử

Hành trình tiến về quê Trời của Đức Maria đã bắt đầu “từ tiếng thưa “vâng” ở Nazareth, khi đáp lại lời của Sứ thần Gabriel, người đã loan báo cho Mẹ biết ý muốn của Thiên Chúa. Và thực sự là như thế, mỗi khi chúng ta thưa “xin vâng” theo ý Thiên Chúa là chúng ta tiến một bước về quê Trời, tiến về cuộc sống vĩnh cửu”. Chúng ta hãy phó thác cho Đức Maria cuộc sống hiện tại và tương lai. Chẳng có gì Ðức Maria được hưởng mà chúng ta lại không được dự phần. Amen. mục lục

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

CHÚNG TA KHÔNG BAO GIỜ BỊ BỎ RƠI

Sách Công vụ Tông đồ từng ghi nhận hình ảnh Đức Maria, sau ngày Chúa Giêsu về trời đã hợp cùng các tông đồ chuyên cần cầu nguyện:

"Bấy giờ, các ông từ núi gọi là núi Ôliu trở về Giêrusalem. Núi này ở gần Giêrusalem, cách đoạn đường được phép đi trong ngày sabát. Trở về nhà, các ông lên lầu trên, là nơi các ông trú ngụ. Đó là các ông: Phêrô, Gioan, Giacôbê, Anrê, Philípphê, Tôma, Bartôlômêô, Mátthêu, Giacôbê con ông Anphê, Simôn thuộc nhóm Quá Khích và Giu-đa con ông Giacôbê. Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện cùng với mấy người phụ nữ, VỚI BÀ MARIA THÂN MẪU ĐỨC GIÊSU và với anh em của Đức Giêsu (Cv 1, 12-14).      

Đức Mẹ là Mẹ hiền của Hội Thánh. Vì thế, chúng ta vững tin, nếu ngày xưa Đức Mẹ không ngại đồng hành cùng Hội Thánh tiên khởi, thì ngày nay Đức Mẹ cũng đang hiện diện với chúng ta trong từng lời kinh, từng giờ nguyện của chúng ta. 

Tháng 10.2002, nhân dịp về thăm quê hương Balan, trước khối lượng khổng lồ những người đồng hương, thánh Gioan Phaolô II đã cầu nguyện cùng Đức Mẹ: “Lạy Mẹ rất thánh, con tin cậy Mẹ và con tuyên bố với Mẹ: Tất cả con là của Mẹ! Tất cả con là của Mẹ! Amen”.        

Mỗi khi lần chuỗi, chúng ta cũng hãy đặt hết tình con thảo của mình, cuộc đời mình, sự sống và mạng sống mình vào tay Đức Mẹ để có thể thốt lên trong niềm xác tín kết hợp với chính sự xác tín của vị thánh nổi tiếng yêu mến Đức Mẹ, rằng: Tất cả con là của Mẹ! Tất cả con là của Mẹ!

Chuỗi Mân Côi giúp chúng ta chiêm ngắm và học tập các nhân đức của Đức Mẹ như: khiêm nhường, yêu thương, suy tư, vâng phục, sống nội tâm, bác ái, chấp nhận nghịch cảnh, tin tưởng, phó thác… 

Đó là những nhân đức mà Đức Mẹ thể hiện qua từng giai đoạn của cuộc đời Chúa Cứu Thế mà các mầu nhiệm: Vui, Sáng, Thương, Mừng gợi lên trong ta khi suy niệm. 

Chuỗi Mân Côi còn là con đường dẫn ta đến cái nhìn nội tâm chiêm ngưỡng Chúa Giêsu nhờ kết hợp cùng Đức Maria. Cùng Mẹ, ta chiêm ngắm Chúa Giêsu trong suốt cuộc đời trần thế của Chúa. Bởi đã không ai chiêm ngưỡng Chúa cách say sưa như Đức Mẹ. Đức Mẹ là gương mẫu lớn lao về việc trung thành chiêm ngưỡng dung nhan Chúa Giêsu. 

Đức Mẹ hướng về Chúa ngay từ lúc truyền tin, khi cưu mang Chúa nhờ Chúa Thánh Thần, hạ sinh Chúa tại Bêlem, hoang mang khi tìm Chúa thất lạc suốt ba ngày liền. 

Đức Mẹ như xuyên thấu tâm tư của Chúa Giêsu khi cầu nguyện tại tiệc cưới Cana. Trong đau khổ đến quay quắt và quặn thắt nỗi lòng, Đức Mẹ chứng kiến cuộc khổ nạn và cái chết tang thương của Chúa trên thánh giá. Đức Mẹ cũng đã tỏ rạng niềm vui phục sinh khi Chúa từ cõi chết sống lại. 

Sự chiêm ngưỡng ấy càng trở nên rực cháy vì được tràn đầy Thánh Thần trong ngày lễ Hiện Xuống. Đức Mẹ vẫn tiếp tục đồng hành cùng Hội Thánh để làm cho Chúa lớn lên trong lòng thế giới. Học lấy cái nhìn chiêm ngắm của Đức Mẹ nơi các mầu nhiệm Mân Côi, ta sẽ thêm lòng yêu mến Chúa Giêsu và yêu Chúa như  Đức Mẹ.

Vì được diễm phúc sống cùng Chúa Con, sinh dưỡng, bồng bế, dõi theo Chúa Con suốt cả đời, chỉ có Đức Mẹ mới là người hiểu Chúa hơn ai hết. 

Tháng Mân Côi nhắc nhở chúng ta kiên trì lần chuỗi. Qua việc kiên trì lần chuỗi, ta đến với Đức Mẹ, nhờ Đức Mẹ đưa ta đến cùng Người Con yêu quý ấy là điều quý giá và khôn ngoan. Chắc chắn đó cũng là cách làm đẹp lòng Chúa, vì Chúa rất mực yêu quý Đức Mẹ. 

Hơn thế, Chúa ban tặng Mẹ của Ngài cho ta, đặt Đức Mẹ trên địa vị cao trọng là vì ta, nhằm mang lại lợi ích cho ta. Ta hãy gởi gắm mọi nỗi sướng vui, buồn phiền, cả vận mạng đời đời của mình cho Đức Mẹ qua việc sống kinh Mân Côi chuyên cần. 

Giữa một thế giới còn loạn lạc, bệnh tật, khổ đau. Đây đó còn khủng bố, chiến tranh, chém giết, dịch tễ lan tràn, triệu triệu người chết oan ức…, người tín hữu càng được mời gọi dấn thân hơn nữa trong đời sống cầu nguyện. 

Và kinh Mân Côi vẫn là lời kinh thích hợp để người tín hữu kêu cầu Mẹ nhân từ của mình, Đức Nữ Vương ban sự bình an, tuôn đổ hòa bình cho thế giới, giúp nhân loại sống trong trật tự mới của lòng yêu thương và xóa bỏ hận thù. 

Xin Đức Mẹ nâng đỡ trong hoàn cảnh đầy thương tâm của những ngày tháng bệnh tật và chết chóc lan tràn. Xin Đức Mẹ ra tay cứu chữa để nhân loại an vui hạnh phúc, người người thụ hưởng nền bình an của đời sống dương thế và bình an trong cõi phúc đời đời bên Thiên Chúa.

Từ kinh Mân Côi, chúng ta xin Đức Mẹ ban hòa bình trong lòng mỗi cá nhân, giúp mỗi người thoát khỏi đe dọa của nỗi sợ hãi vì nhiều nơi, nhiều tâm hồn con người còn vắng bóng tình yêu. 

Chính lòng yêu thương vắng bóng mà tình trạng bóc lột, tham lam, ham hố danh vọng, đè đầu cưỡi cổ người khác, mạnh được yếu thua, thói giả tâm, thói tìm hưởng thụ cho bản thân... nhan nhản khắp nơi.

Và từ chính sự vắng bóng yêu thương mà đói rách, bất công, khoảng cách giữa người nghèo và người giàu ngày càng lớn, nhiều hình thức nô lệ mới, sự bất ổn trong cuộc sống, chia rẻ và ly tán trong gia đình, ngoài xã hội không ngừng diễn ra...

Vì thế, mỗi Kitô hữu hãy nhờ đến kinh Mân Côi mà trút bớt gánh nặng và bao nhiêu nỗi khốn khó của riêng mình, cũng như của nhân loại. 

Hãy tìm về ơn bình an nơi chuỗi Mân Côi, vì lời kinh ấy chất chứa niềm an ủi vô biên, sâu lắng cả một tình yêu vời vợi mà chỉ có Thiên Chúa mới có thể trao ban.

Hãy nhớ, Dù được thưởng trên trời cao, Đức Mẹ không nhận lấy hạnh phúc cũng như không sống cho riêng mình, nhưng lưu chuyển nguồn bình an từ Thiên Chúa đến trên đoàn con trần thế của mình!

Vậy một lần nữa, tháng 10 - Tháng mân Côi lại về, chúng ta cầm lấy tràn chuỗi, sốt sắng cầu nguyện và thưa cùng Đức Mẹ rằng: Tất cả con là của Mẹ! Tất cả con là của Mẹ! 

Chúng ta vững tin, mãi mãi Đức Mẹ là Hiền Mẫu muôn đời không thể thay thế của Hội Thánh. Đức Mẹ luôn bên cạnh Hội Thánh tiên khởi, thấu hiểu tâm tư các môn đệ ngày xưa của Chúa thế nào, thì Đức Mẹ cũng mang chúng ta trong tình yêu sâu thẳm và tràn đầy an ủi, tràn đầy dịu ngọt như vậy. Bởi Đức Mẹ không sống cho riêng mình, nhưng trở thành nguồn cậy trông, thành trì dựa dẫm của mỗi chúng ta đến muôn đời.

Hãy thâm tín vững chắc tâm niệm này: VỚI ĐỨC MẸ, CHÚNG TA KHÔNG BAO GIỜ BỊ BỎ RƠI! mục lục

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

SUY NIÊM CHÚA NHẬT XXVII THƯỜNG NIÊN_C

Hb 1:2-3; 2:2-4; Tm 1:6-8, 13-14; Lc 17:5-10

ĐỨC TIN KIÊN TRUNG

Hành trình Đức tin là một hành trình liên lỉ, suốt đời. Tin vào Chúa là chọn Ngài làm lý tưởng tối thượng của cuộc đời. Đức tin không giống như ghi danh vào một tổ chức xã hội, khi thích thì tuân thủ, khi không hài lòng thì bất mãn tiêu cực. Gia nhập Giáo Hội không giống như xin việc ở một công ty, chỉ nhất thời tạm bợ và đòi hỏi quyền lợi. Tin vào Chúa cũng là sự chọn lựa ưu tiên cho cả cuộc đời. Chính vì vậy mà cần phải có lòng kiên trung, trong mọi biến cố hoàn cảnh.

Thánh Phaolô khuyên nhủ người môn sinh của ngài là Timôthê, hãy “khơi dậy đặc sủng của Thiên Chúa” Đặc sủng này, ông Timôthê đã đón nhận qua nghi thức đặt tay (tức là Bí tích Truyền chức thánh). Đặc sủng, tức là ơn đặc biệt do Chúa ban. Ơn này vẫn hiện hữu trong con người được lĩnh nhận các Bí tích, nhưng cần phải được khơi lại, vì nhiều khi đặc sủng này bị lớp bụi thời gian bao phủ. “Khơi dậy đặc sủng”, tức là tái nhận ra quyền năng của Thiên Chúa hiện hữu nơi chúng ta, giúp chúng ta ý thức bổn phận của mình trong cộng đoàn Giáo Hội. Thánh Phaolô lúc đó đang bị cầm tù. Ông khuyên nhủ dặn dò người môn đệ của mình hãy vững tâm và hãy trung thành với sứ mạng loan báo Tin Mừng, đồng thời sống mẫu mực, để những lời giảng dạy có sức thuyết phục đối với người nghe. Vị Tông đồ minh chứng về lòng trung thành của mình đối với Chúa, ngay cả trong tù ngục xiềng xích.

Trong bài Tin Mừng, một ngày nọ, các môn đệ xin Chúa ban thêm Đức tin, nhưng câu trả lời của Chúa Giêsu xem ra không ăn nhập với câu hỏi của các ông. Theo giáo huấn của Chúa, điều quan trọng không hệ tại ở việc chúng ta có nhiều Đức tin hay ít, nhưng là ở ý thức về Đức tin nơi chúng ta. Đối với người tín hữu, Đức tin luôn hiện hữu từ ngày được thanh tẩy. Qua Bí tích Thanh tẩy, Chúa ban cho chúng ta Đức tin, như một món quà vô giá. Món quà ấy, luôn hiện diện trong tâm hồn chúng ta và để lại dấu ấn không thể xoá nhoà. Có những người để cho lớp thời gian che phủ, đến nỗi Đức tin bị bóp nghẹt. Như thế, theo Chúa Giêsu, mỗi người tín hữu phải khơi lên ngọn lửa Đức tin nơi cuộc đời mình, để ngọn lửa ấy soi sáng mọi hành động, sưởi ấm con tim và tăng cường sức mạnh nơi họ.

Đức tin Chúa ban là món quà quý giá đem lại niềm vui, đồng thời cũng là nguồn sức mạnh để chúng ta vươn lên giữa dòng đời. Xã hội thời Đức Giêsu là chế độ nô lệ. Vì thế, trong giáo huấn của Người, chúng ta vẫn thấy những hình ảnh ông chủ và người nô lệ hoặc người đầy tớ. Chúa đã dùng những hình ảnh và quan niệm thời bấy giờ, để diễn tả nội dung giáo huấn của Người. Những người đầy tớ, đương nhiên phải làm bổn phận của người đầy tớ. Người đầy tớ không có quyền đòi hỏi nơi ông chủ. Ông Chủ tối cao chính là Thiên Chúa. Ngài dựng nên con người và cho họ hiện hữu trên trái đất này. Của cải vật chất mà mỗi người đang sở hữu, thực ra cũng chỉ là tài sản Chúa trao cho quản lý và sinh lợi. Có những người quản lý trung tín, nhưng cũng có những người quản lý bất trung. Trong Tin Mừng thánh Luca, nhiều lần Chúa Giêsu đã mạnh mẽ lên án những người giàu có mà cậy tiền cậy của để khinh thường người khác, nhất là ích kỷ độc đoán và dửng dưng với người nghèo khổ. Người quản lý trung tín vừa biết chăm lo để tài sản được sinh lợi, vừa biết phân phát để giúp đỡ người khác. Con Thiên Chúa làm người đã trở nên đầy tớ (tức là người phục vụ) của mọi người. Nhờ mầu nhiệm Nhập thể và Cứu cuộc, con người, vốn thấp hèn và tội lỗi, lại trở nên thánh thiện cao sang.

“Khi anh em đã làm tất cả những gì theo lệnh phải làm, thì hãy nói: chúng tôi chỉ là những đầy tớ vô dụng. Chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi”. Lời dạy của Chúa có thể gây sốc đối với chúng ta! Nhưng Chúa Giêsu muốn khẳng định, ở đời này, mỗi khi làm được việc gì, suy cho cùng, đó cũng làm những việc bổn phận mình mà thôi. Người dạy ta khiêm tốn khi thành công, kiên trì khi thất bại, và nhất là đừng cậy mình ỷ thế, vênh vang tự đắc khi làm được những việc lớn lao.

Như trên đã nói, hành trình Đức tin là hành trình liên lỷ suốt đời. Hành trình Đức tin cũng nhiều nỗi gian truân. Ngôn sứ Kha-ba-khúc hoạt động dưới thời Giơ-hô-gia-kim. Đây là giai đoạn đen tối của lịch sử Do Thái: luân lý suy đồi, tôn giáo pha tạp, vua quan lầm lạc và đi ngược lại với giáo huấn của Chúa. Sách mang tên Kha-ba-cúc được viết khoảng từ năm 612 đến 597 trước Công nguyên. Tác giả than vãn với Chúa, vì dân tộc suy đồi. Ông phàn nàn vì cầu nguyện mãi mà Chúa không đáp lời. Chính trong bối cảnh đó, Chúa đã trả lời ông. Ngài hứa với ông, người công chính sẽ được Chúa bù đắp, kẻ gian ác sẽ phải diệt vong.  Ngài phán: “Này đây, ai không có tâm hồn ngay thẳng sẽ ngã gục, còn người công chính thì sẽ được sống, nhờ lòng thành tín của mình.” Lời hứa này đã tiếp sức cho vị ngôn sứ, để ông can đảm thực thi sứ vụ của mình, vì ông biết ông luôn có Chúa ở cùng.

Trong bối cảnh hiện tại, người tín hữu đôi khi bị cám dỗ chán nản, vì những người tin vào Chúa là một thiểu số quá ít. Hơn nữa, những khuynh hướng và quan điểm tục hoá đang làm cho Đức tin phai nhạt. Rồi bạo lực tràn lan trong xã hội. Khi chứng kiến những bất công, hoặc khi phải đối diện với những khó khăn thử thách, nhiều khi chúng ta cũng thốt lên như ngôn sứ Kha-ba-cúc: “Cho đến bao giờ, lạy Đức Chúa, con kêu cứu mà Ngài chẳng đoái nghe, con la lên: “Bạo tàn!” mà Ngài không cứu vớt?”. Từ nơi sâu thẳm của tâm hồn, Chúa vẫn đang ngỏ lời với chúng ta. Ngài khuyên chúng ta hãy kiên trung trước mọi thử thách. Những ai sống công chính sẽ không bao giờ bị bỏ rơi. Lịch sử cứu độ và lịch sử cá nhân mỗi người đã chứng minh điều đó.

Khi gia nhập Giáo Hội qua Bí tích Thanh tẩy, mỗi chúng ta, dù còn nhỏ, đã tuyên xưng Đức tin và hứa từ bỏ ma quỷ, từ bỏ những hành vi ám muội xấu xa để sống xứng đáng là con cái ánh sáng. Nhiều người tín hữu không ý thức lời hứa ấy, thậm chí họ không biết là cha mẹ và người đỡ đầu đã thay họ để tuyên xưng những điều này. Chính vì thiếu hiểu biết, nên đời sống Đức tin của họ mờ nhạt. Lời thề hứa từ bỏ ma quỷ, từ bỏ tội lỗi vì thế mà không được tôn trọng giữ gìn.

Cũng có người quan niệm lệch lạc, cho rằng tuyên xưng Đức tin trong kinh Tin Kính là đủ. Đức tin kiên trung thể hiện qua việc tuyên xưng Đức tin trong Phụng vụ và việc sống Đức tin trong cuộc đời. Phụng vụ giúp ta tăng trưởng Đức tin. Đời sống cụ thể là nơi chúng ta làm chứng cho Đức tin. Đức tin tuyên xưng, phải đi đôi với Đức tin thực hành. Tinh thần Đức tin phải thấm nhập cuộc sống gia đình cũng như mọi lĩnh vực của đời sống. Một cách cụ thể, người tin Chúa phải tránh nói dối, tránh xúc phạm đến danh dự, tài sản và thân thể người khác. Người tin Chúa phải luôn xác định rằng, mọi hành vi và tư tưởng của tôi, Chúa đều thấu hiểu. Ngài biết rõ và Ngài sẽ xét xử tôi về những hành vi đó. Nếu luôn tâm niệm như thế, người Kitô hữu sẽ cảm nhận được giá trị của cuộc sống và trân trọng từng phút giây cuộc đời. Bởi lẽ mỗi phút giây ấy là cơ hội để chúng ta gặp Chúa và thực thi giáo huấn của Người.

“Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa. Người phán: các ngươi chớ cứng lòng”. Lời Thánh vịnh nhắc nhở chúng ta về giây phút hiện tại của cuộc sống trần gian. Hãy nghe tiếng Chúa. Không bao giờ là muộn, vì Chúa bao dung và rộng lượng thứ tha. Hãy xác tín nơi Ngài, dù tội lỗi đến đâu chăng nữa. Tin vào Ngài sẽ không bao giờ thất vọng, vì Chúa là Đấng tín trung. mục lục

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

XIN CHÚA BAN THÊM LÒNG TIN

Trong bài Tin Mừng của Chúa Nhật hôm nay, các môn đệ xin với Chúa: “Thưa Thầy, xin thêm long tin cho chúng con.” (Mt 19:27) Bạn có biết tại sao các ông không xin những thứ khác mà lại xin THÊM LÒNG TIN không? Tôi nghĩ có lẽ là bởi vì lòng tin của các ông đang bị thiếu hụt nên các ông mới xin THÊM LÒNG TIN!

Thật vậy, đọc qua những trang Tin Mừng, tôi thấy lúc mới đi theo Chúa Giê-su, lòng tin của các ông rất mạnh mẽ vì các ông đã tận mắt thấy Chúa Giê-su làm phép lạ cho người què đi được, người mù thấy được, người phong hủi được sạch và kẻ chết sống lại. Thế nhưng lòng tin của họ dần dần bị hao mòn, họ nhận ra rằng đi theo Chúa cả mấy năm trời mà họ chả được gì cả, chức tước thì không, địa vị cũng chẳng thấy, chỉ thấy thiếu thốn và khổ cực, cho nên có lần ông Phê-rô đã đại diện họ lên tiếng hỏi Chúa: “Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy. Vậy chúng con sẽ được gì?” (Mt 19:27). Chưa hết, lòng tin của các ông cứ bị hao mòn dần khi họ nghe những lời giảng dạy và giáo huấn của Chúa Giê-su. Ví dụ:

• Khi Gia-cô-bê và Gio-an mở miệng xin với Chúa Giê-su, và khi trong đầu các môn đệ khác cũng mong ước là sẽ được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Chúa Giê-su, khi Ngài được vinh quang, thì Chúa lại bảo họ rằng: “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người” (Mc 10:43-44).

• Họ tưởng khi đi theo Chúa thì sẽ được giàu sang phú quý, sẽ được chăn êm nệm ấm, có kẻ hầu người hạ…nhưng Chúa lại phán: “Khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có” (Lc 6:24); và cho họ biết một sự thật rất phũ phàng: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, Con Người không có chỗ tựa đầu” (Lc 9:58).

• Họ hy vọng Chúa Giê-su sẽ lãnh đạo họ để đánh đuổi Đế Quốc Rôma ra khỏi lãnh thổ, đem lại sự tự do cho dân tộc, nhưng Ngài lại chủ trương là phải sống hiền lành, biết nhẫn nhục và phải tha thứ: “Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em”(Lc 6:27-28).

Bạn thân mến, giống như các môn đệ khi xưa, ngày hôm nay, niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô của chúng mình rất có thể đang bị hao mòn và đang bị suy yếu vì nhiều lý do khác nhau, ví dụ như:

• Tôi cầu nguyện xin Chúa ban cho tôi được may mắn, có công ăn việc làm ổn định, kiếm được người vợ hiền, chồng giỏi…nhưng tôi cứ phải bài “Đời Tôi Cô Đơn” và “Liên Khúc Nghèo!” hết năm này qua năm nọ!

• Trước kia, tôi xin gì Chúa cũng ban cho, nhưng sau khi được Rửa Tội, khi trở thành con Chúa, tôi xin hoài, cầu mãi mà chẳng thấy Chúa trả lời trả vốn gì cả!

• Tôi ăn chay, cầu nguyện, tham dự thánh lễ, dự các giờ Chầu Thánh Thể, làm việc bác ái, bố thí…để cầu nguyện cho thế giới được hòa bình, nhưng chỉ thấy khủng bố, chiến tranh và hận thù ghen ghét! …

Còn nhiều lắm, tôi không có đủ kiên nhẫn để viết ra. Nhưng nếu hôm nay bạn nhận ra rằng niềm tin vào Thiên Chúa của bạn đang bị hao mòn, đang bị suy yếu, thì bạn hãy cầu xin với Chúa: “Lạy Chúa, xin ban thêm cho con lòng tin.” Đừng xin tiền bạc, của cải vật chất, cũng không nên xin sắc đẹp hay được tài giỏi…nhưng hãy xin Chúa ban thêm lòng tin bởi vì khi đức tin của tôi và của bạn được dồi dào, sung mãn và vững mạnh:

- Thì chúng ta sẽ thấy mọi sự trên thế gian này chỉ là phù vân, tất cả sẽ qua đi, danh vọng, chức quyền, tiền tài, nhan sắc…chỉ như một đóa hoa sớm nở chiều tàn, chỉ có sự sống vĩnh cửu ở đời sau là quan trọng!

- Thì chúng mình mới có đủ sức và can đảm để chấp nhận tất cả những thử thách, những gian nan và kể cả những bất hạnh do cuộc đời này đem lại.

- Thì bạn và tôi mới có thể trung thành với Chúa, và hoàn tất cuộc hành trình đi về Thiên Quốc với Ngài.

"Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở ra cho! (Mt 7:7-8). Chúa Giêsu đã hứa như vậy rồi. Ráng chịu khó kiên nhẫn và xin Chúa ban thêm niềm tin và củng cố niềm tin của chúng mình mỗi ngày bạn nhé!

Chúc bạn một tuần lễ mới vui khỏe, bình an, và ước mong rằng đức tin của bạn, và đức tin của những người thân của bạn mỗi ngày được mạnh mẽ và vững vàng hơn. mục lục

Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

CHÚA CÓ CHO TÔI BẤT CỨ ĐIỀU GÌ TÔI XIN KHÔNG?

Kinh thánh nói: “Ai xin thì nhận được” (Mt 7:8). Vậy tại sao Thiên Chúa lại không ban cho chúng ta bất cứ những gì chúng ta muốn từ nơi Ngài, miễn là chúng ta xin Ngài?

Các sách Tin mừng chứa đựng một số phát biểu đáng chú ý về sự cầu nguyện. Các phát biểu ấy đặc biệt được tìm thấy trong Tin mừng Mátthêu, mặc dù có những điểm tương đồng trong Máccô và Luca.

Những câu nói này nghe có vẻ rất tích cực — như thể bạn có thể cầu xin Chúa bất cứ điều gì bạn muốn, và Ngài sẽ ban cho bạn chừng nào bạn còn tin.

Khi mọi người đọc những đoạn này một cách riêng rẽ — ngoài những điều khác mà Tân Ước nói — họ có thể phát triển một thứ thần học sai lầm về sự cầu nguyện.

Trong giới Tin lành, có một phong trào được gọi là thần học thịnh vượng (còn được gọi là Tin mừng thịnh vượng hoặc Tin mừng sức khỏe và sự giàu có), theo đó Thiên Chúa muốn tất cả dân tộc của mình được khỏe mạnh, giàu có và thành công vượt bậc. Nếu một kitô hữu không có những phúc lành này, thì hoặc là người ấy đã không xin chúng hoặc người ấy đã không xin chúng trong đức tin. Dù thế nào thì người ấy cũng có lỗi.

Nhưng đọc kỹ Tân ước cho thấy quan điểm này bị bóp méo.

Một bản văn cầu nguyện khích lệ được tìm thấy trong Bài giảng trên núi:

“Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở ra cho” (Mt 7: 7-8).

Chúa Giêsu không đề cập đến giới hạn về những gì bạn có thể xin, và bạn có thể cho rằng bạn hoàn toàn có thể xin bất cứ điều gì và nhận được điều đó.

Nhưng Chúa Giêsu cũng không đưa ra ví dụ. Chúa Giêsu không nói, “Hãy xin giàu có, sức khỏe và thành công tuyệt vời, và những điều đó sẽ là của bạn.”

Vì vậy, trong tâm trí của Chúa Giêsu có thể có một điều gì đó khiêm tốn hơn, và khi nói như vậy có thể Ngài có ý nói là trước hết hãy xin những phúc lành về tinh thần hơn là vật chất.

Trong cả Mátthêu và Luca, Chúa Giêsu ngay lập tức đưa ra một phép loại suy dựa trên việc người cha cho con cái ăn. Trong Mátthêu, Chúa Giêsu kết luận rằng Thiên Chúa sẽ ban “những của tốt lành” cho con cái ngài (7:11), và trong Luca, Ngài nói rằng Thiên Chúa sẽ ban cho họ “Thánh Thần” (11:13) — gợi ra rằng đoạn văn này có thể chủ yếu nói về “những điều tốt đẹp” thuộc tâm linh.

Khi xem phần còn lại của Bài giảng trên núi, chúng ta không thấy Chúa Giêsu khuyến khích những ước mơ về một lối sống xa hoa.

Trong Kinh Lạy Cha, Ngài dạy chúng ta cầu nguyện: “Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày” (Mt 6:11), gợi lên sự cậy trông hằng ngày vào Thiên Chúa — chứ không phải sự giàu có xa hoa.

Chúa Giêsu tiếp tục tuyên bố một cách rõ ràng:

“Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm hư nát, và kẻ trộm khoét vách lấy đi. Nhưng hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, và kẻ trộm không khoét vách lấy đi. Vì kho tàng của anh ở đâu, thì lòng anh ở đó” (6: 19-21).

Do đó, Ngài chỉ ra rằng những của cải trên trần thế có thể đưa tới một sự quên lãng thiêng liêng khỏi Thiên Chúa, và chúng ta không nên đặt cõi lòng mình vào những của cải như thế. Chúa Giêsu cũng nói:

“Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được” (6:24).

Ngài cũng nói với chúng ta:

“Vì thế, anh em đừng lo lắng tự hỏi: ta sẽ ăn gì, uống gì, hay mặc gì đây? Tất cả những thứ đó, dân ngoại vẫn tìm kiếm. Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó. Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Ngài, còn tất cả những thứ kia, Ngài sẽ thêm cho” (6: 31-33).

Do đó, Chúa Giêsu muốn chúng ta tập trung “trước hết” vào các giá trị tinh thần và coi nhu cầu vật chất là thứ yếu. Thay vì khuyến khích mọi người “mơ ước lớn” về những gì Chúa có thể ban cho họ, Ngài khuyến khích sự tin cậy khiêm tốn, liên tục — xin Chúa những gì chúng ta cần chứ không phải những gì chúng ta mơ ước. 

Chúa Giêsu chắc chắn không khuyến khích chúng ta tưởng tượng về một cuộc sống đầy thành công và không gặp rắc rối khi nói rằng, “Vậy, anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy” (6:34). Một lần nữa, mục tiêu là sống một cuộc sống tâm linh, tin cậy — chứ không phải là một cuộc sống thành công dễ dàng.

Một đoạn văn cầu nguyện khích lệ khác xảy ra khi các môn đệ hỏi tại sao họ không đuổi được quỷ ra khỏi một cậu bé, Chúa Giêsu nói đó là:

“Tại anh em kém tin! Thầy bảo thật anh em: nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi này: "rời khỏi đây, qua bên kia! " nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được” (17:20).

Điều này có vẻ nghịch lý. Chúa Giêsu nói rằng các môn đệ có “đức tin nhỏ bé” nhưng sau đó lại nói rằng nếu họ có “đức tin như hạt cải”, họ sẽ có thể làm được những phép lạ đáng kinh ngạc. Nếu vậy, niềm tin nhỏ bé của họ chẳng phải đã đủ rồi hay sao?

Giải pháp được tìm ra bằng cách xem xét ai thực sự là người làm phép lạ — chính Thiên Chúa — và nhớ rằng quyền năng của Thiên Chúa là vô hạn. Do đó, rốt cuộc niềm tin của bạn lớn đến đâu không quan trọng, bởi vì Thiên Chúa mới là Đấng thực hiện phép lạ.

Lý do khiến các môn đồ thất bại là họ có đức tin không đầy đủ và không tin cậy đúng mức vào Thiên Chúa. Có lẽ họ nghĩ rằng họ đã được trời phú cho những khả năng pháp thuật trừ tà ma và không còn nhìn thấy Chúa khi sử dụng những khả năng đó.

Một văn bản khác trong chương tiếp theo cho thấy rõ ràng dễ xảy ra sự lạm dụng:

“Một lần nữa Thầy bảo thật anh em: nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho” (18:19).

Nghe có vẻ tốt lành, phải không? Hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, xin Chúa ban điều đó, và điều đó sẽ được thực hiện.

Nhưng không nhanh như vậy đâu. Câu nói này được giới thiệu bằng từ “một lần nữa”, cho chúng ta biết rằng chúng ta cần xem xét bối cảnh, bởi vì Chúa Giêsu đang trình bày lại một suy nghĩ mà Ngài đã khám phá.

Khi xem xét bối cảnh, chúng ta thấy rằng đó không phải là chuyện tích lũy tài sản cho bản thân, mà là kỷ cương của Giáo hội. Chúa Giêsu đang nói với các môn đệ cách đối xử với một người đồng đạo phạm tội. Ngài nói rằng nếu người vi phạm không nghe lời người khác, hãy đưa người ấy đến cộng đoàn giáo hội, và nếu anh ta không nghe lời cộng đoàn giáo hội, hãy trục xuất người ấy. Sau đó Ngài nói:

“Thầy bảo thật anh em: dưới đất, anh em cầm buộc những điều gì, trên trời cũng cầm buộc như vậy; dưới đất, anh em tháo cởi những điều gì, trên trời cũng tháo cởi như vậy” (18:18).

Lời tuyên bố về việc hợp ý “trên trái đất” là nằm trong bối cảnh thực hiện năng quyền cầm buộc và tháo cởi, liên quan đến các vấn đề về kỷ cương tinh thần – chứ không phải là sự thịnh vượng vật chất.

Khi Chúa Giêsu đảm bảo với các môn đệ “một lần nữa” về những gì sẽ xảy ra khi họ hợp ý, thì Ngài đảm bảo với họ về năng quyền cầm buộc và tháo cởi.

Đoạn cuối cùng mà chúng ta nên xem xét xảy ra khi các môn đệ hỏi làm thế nào mà cây vả lại héo nhanh như vậy. Chúa Giêsu trả lời,

“Thầy bảo thật anh em, nếu anh em tin và không chút nghi nan, thì chẳng những anh em làm được điều Thầy vừa làm cho cây vả, mà hơn nữa, anh em có bảo núi này: "Dời chỗ đi, nhào xuống biển! ", thì sự việc sẽ xảy ra như thế. Tất cả những gì anh em lấy lòng tin mà xin khi cầu nguyện, thì anh em sẽ được.” (Mt 21: 21-21; xem Mc 11: 22-24, Lc 17: 6).

Về cơ bản, đây chính là điểm mà chúng ta đã thấy với cuộc trừ quỷ thất bại: kích cỡ lớn nhỏ của những gì bạn đang xin không quan trọng, bởi vì Thiên Chúa có quyền năng làm bất cứ điều gì. Và Chúa Giêsu đặt vấn đề một cách tích cực khi nói rằng “bất cứ điều gì bạn xin” thì sẽ được.

Nhưng có một giả thiết không được nói ra ở đây mà Chúa Giêsu mong chúng ta hiểu — rằng những gì chúng ta xin phải phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa.

Người Do Thái vào thế kỷ thứ nhất biết rằng không phải mọi lời xin khi cầu nguyện đều là ý Chúa muốn, và ý Chúa muốn mới là yếu tố quyết định.

Chính Chúa Giêsu đã làm chứng cho điều này trong vườn Cây dầu khi Ngài cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (26:39).

Nếu chính Con Thiên Chúa thừa nhận rằng ý Chúa muốn không phải là ban cho mọi thứ người ta cầu xin, thì chúng ta cũng nên thừa nhận điều đó!

Chúa Giêsu muốn khuyến khích chúng ta cầu nguyện, và không phải lúc nào Ngài cũng có thể đề cập đến ngoại lệ này, nhưng Ngài mong chúng ta thừa nhận điều đó.

Điều đó chắc chắn được tìm thấy ở những nơi khác trong Tân Ước. Thánh Giacôbê cảnh báo rằng những ai khoe khoang kế hoạch kinh doanh của mình cần phải tính đến ý Chúa muốn: “Thay vì nói: "Nếu Chúa muốn, chúng ta sẽ sống và làm điều nọ điều kia", thì các người lại tự phụ vì những chuyện khoác lác của mình. Mọi thứ tự phụ như thế đều xấu” (4: 15).

Ngài cũng xác định một trong những nguyên nhân cầu nguyện mà không được đáp lại: “Anh em xin mà không được, là vì anh em xin với tà ý, để lãng phí trong việc hưởng lạc” (4: 3).

Xin giàu có và thành công bất tận đúng là kiểu cầu nguyện sẽ không được đáp ứng.

Và điều đó lại có thể là một điều tốt lành, vì Chúa Giêsu cũng nói, “Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa” (Mt 19:24). mục lục

Chuyển ngữ: Phêrô Phạm Văn Trung

HÃY THÊM LÒNG TIN CHO CON

Với bài Tin Mừng hôm nay, Thánh Lu-ca đã đưa chúng ta trở lại cuộc hành trình lên Giê-ru-sa-lem với Đức Giê-su. Người biết ngày hoàn tất sứ vụ đang đến gần, nên từ giờ phút này trở đi, Người dành nhiều thời gian để hướng dẫn các môn đệ.

Đức Giê-su nhìn nhận rằng việc gặp thử thách, bị vấp ngã rồi phạm lỗi là các điều thường xẩy ra trong cuộc sống của người môn đệ. Tuy nhiên, không vì thế mà chúng ta có thể nại vào sức yếu đuối rồi làm gương mù, gương xấu khiến cho các thành viên khác trong cộng đoàn bị vấp ngã. Đức Giê-su xem ra có vẻ nghiêm khắc khi lên án những ai làm cớ vấp phạm cho kẻ bé mọn, Người nói rằng chẳng thà người đó bị đá cột và xô xuống biển thì hơn. Lời Đức Giê-su vừa phán có vẻ khá gay gắt, nhưng Người không có ý khuyến khích chúng ta có những hành vi bạo động đối với những ai làm gương xấu cho kẻ khác. Thật ra, Đức Giê-su muốn nhắc nhở chúng ta nên nhớ đến bổn phận của mình. Đó là: hãy cẩn thận trong lời nói và hành động. Đừng làm cho người khác bị lầm đường lạc lối, bị vấp ngã hay lòng tin bị lung lay.

Đức Giê-su không dừng lại ở lời cảnh báo nghiêm khắc đó. Người tiếp tục khuyên các môn đệ phải giúp nhau nhận ra lỗi lầm mà sửa đổi, không chỉ bẩy lần mà là bẩy mươi lần bẩy. Con số bẩy mươi lần bẩy không ám chỉ đến số lần phải tha, nhưng muốn nhấn mạnh đến việc tha thứ vô hạn định, tha liên tục, tha không điều kiện và điều quan trọng hơn cả là chúng ta tha cho nhau vì chúng ta yêu nhau.

Hẳn chúng ta còn nhớ rằng, mọi hình thức đổ vỡ thường xẩy ra ở nơi khi con người không biết tha thứ, khi con người sống vô tâm, sống ích kỷ và không để ý đến nhu cầu trong cuộc sống của nhau. Trong khi đó, chúng ta được mời gọi sống bên nhau như một gia đình. Chúng ta là phần tử của một thân thể, nối kết và được nuôi dưỡng bởi Đức Ki-tô. Chúng ta được mời gọi sống và chia sẻ cho nhau, chăm sóc lẫn nhau và xây dựng nhau trong gia đình đức tin.

Đó là tâm trạng và cảm nhận của các môn đệ khi họ nghe Chúa ban các chỉ dẫn về việc làm gương sáng và tha thứ cho nhau. Đây quả thật là một lịnh truyền vô cùng trọng đại và vượt quá sức của họ. Tự mình họ rất khó thực hiện. Vì thế, các tông đồ, thay mặt cho các môn đệ, xin Chúa: “Hãy thêm lòng tin cho chúng con.”

Các môn đệ đang cầu xin Chúa Giêsu thêm lòng tin cho họ, nghĩa là làm cho họ biết sống phó thác hơn, biết lệ thuộc và nương tựa vào Chúa nhiều hơn nữa, biết cố gắng sống trung tín với ơn gọi của người môn đệ. Họ biết rằng nếu họ tuân theo mệnh lệnh của Người để tha thứ như Chúa thì họ cần Chúa giúp đỡ. Hành vi tha thứ này không tự nhiên đến với bất cứ ai, phải được phát sinh từ Chúa. Họ thấy mình yếu đuối, trong khi đó giới lịnh của Chúa thì cao cả. Họ chỉ có thể hoàn thành với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Vì thế, họ đã xin thêm lòng tin.

Đó cũng là lời van xin của chúng ta. Đã có nhiều lúc chúng ta đối diện với các khó khăn, những trở ngại vượt quá sức mình. Tôi muốn thay đổi nhưng dường như cảm thấy bất lực trong việc sửa chữa vì vậy tôi, không chỉ một lần mà rất nhiều lần, đã cầu xin: Chúa ơi, con cần Ngài, xin hãy thêm sức mạnh và lòng tin cho chúng con.

Ngay lúc đó, Lời Chúa phán hôm nay vang vọng trong tai tôi: “Nếu các con có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh chị em có bảo cây dâu này: “Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc”, nó cũng sẽ vâng lời anh chị em.” Lòng tin ở đây là sự phó thác và vâng lời mệnh lệnh mà Chúa muốn. Nó ẩn chứa tấm lòng cậy trông và tín thác vào Chúa là mình sẽ thực hiện các việc làm gương sáng, mình sẽ quan tâm, chấp nhận lỗi lầm và sẵn sàng tha thứ cho họ nữa. Lòng tin như thế không chỉ chứng tỏ mình đã trưởng thành, mà còn trở thành gương sáng cho người khác nữa.

Thưa anh chị em,

Như thế, cuộc sống của người môn đệ trước tiên phải được đặt trên căn bản của lòng tin, sự phó thác và lòng yêu mến vào Đấng mà chúng ta tin tưởng sẽ bảo vệ và săn sóc cho chúng ta. Ý nghĩ này được mô tả qua câu chuyện sau đây. Truyện kể như sau:

Mỗi khi có dịp đi xem xiếc, chúng ta thấy có màn đu bay nhào lộn rất hồi hộp. Một lần kia cha Henri Nouwen, một thần học gia chuyên về tu đức, đi xem xiếc. Đến màn biểu diễn đu bay. Ngài chăm chú theo dõi và đặc biệt ghi lại những động tác của các diễn viên khi thực hiện màn xiếc này. Nhiệm vụ của người bay là bung người ra khỏi xà ngang, đôi tay duỗi thẳng. Ông ta bay về hướng người đu, rồi để người đu lo phần chộp bắt. Người bay đặt trọn niềm tin và phó thác nơi bạn diễn của mình. Ông ta không hề có ý định nắm chụp tay của người đu; bởi vì, nếu ông ta phạm phải lỗi lầm đó thì sẽ gây ra tai nạn cho cả hai.

Sau buổi trình diễn, cha Nouwen đến hỏi người bay ra khỏi xà ngang rằng: “Vai trò của ông có phải chỉ cần bung người mình ra mà thôi và không cần làm bất cứ một động tác nào khác chứ?” Đúng vậy, tôi không được phép làm bất cứ chuyện gì khác, ngoài việc bung người ra và duỗi thẳng đôi tay để cho bạn tôi là người đu chộp lấy”. Cha cũng như mọi khán giả đều nghĩ tôi là một diễn viên xuất sắc. Thật ra thì không phải như thế, chính người đu và chộp vào đôi tay của tôi mới là diễn viên chính, anh bạn diễn của tôi cần bay ra, chụp vào cườm tay của tôi và đưa tôi về lại xà ngang đúng lúc. Tất cả mọi động tác anh làm cần đúng thời điểm và chuẩn xác bằng không thì tai nạn sẽ xẩy ra cho chúng tôi.

Anh chị em thân mến,

Cuộc sống của chúng ta cũng thế, giống hệt như nhiệm vụ của người bay trong màn đu bay của đoàn xiếc. Chúng ta được sinh ra và sống trong thế gian này với tất cả mọi thứ tự do bay lượn và thực hiện những ước mơ, nhưng chúng ta cần bay lượn trong sự phó thác, bay trong niềm xác tín vào Đấng sẽ chụp bắt và đưa chúng ta vào trong vũ trụ của Ngài.

Như người bay trong đoàn xiếc chúng ta hãy bung ra khỏi xà ngang và đặt trọn vẹn niềm tin vào Đấng đang đu và luôn trông chờ để chộp bắt chúng ta. Hãy để cho người chộp lo toan mọi sự cho chúng ta.

Hãy từ bỏ mọi ước vọng, mọi toan tính, mọi ước muốn có thể thay thế vai trò và nhiệm vụ của người đu bắt.

Trên hết mọi sự hãy sống vui tươi, sống phó thác, sống tin tưởng và đặt mình vào bàn tay yêu thương của Đấng nắm giữ vận mạng cuộc đời của ta.

Cuối cùng, hãy thân thưa cùng Chúa rằng: “Trong tay Ngài, Lậy Chúa, con xin phó thác thần trí, hơi thở, sức sống và mọi sinh hoạt trong đời sống của con.” Amen! mục lục

Lm. Giuse. Mai Văn Thịnh, DCCT

TIN THÌ CÁI GÌ LÀM CŨNG ĐƯỢC

Sống phải có niềm tin và hy vọng. Niềm tin cần phải thực hành! Không thực hành, luyện tập liên tục, niềm tin sẽ bị phôi pha, không phát triển rồi chết, và chẳng giúp ích gì được cho mình và cho người. Một lực sĩ mà không luyện tập sẽ bị yếu và trở thành vô dụng. Những bài đọc và Tin Mừng hôm nay đã cho chúng ta có một ý niệm về niềm tin. Đồng thời noi gương sáng thánh Mary MacKillop đã được Giáo Hội tuyên thánh ngày ngày 17-10-2010. 

XIN THÌ SẼ ĐƯỢC

Bài đọc 1 hôm nay (Hb1:2-3; 2:2-4) là lời tiên tri Habakkuk than với Chúa về quỉ nội thù ở Judah. Ông dùng ngôn từ của Amos, Isaiah và Jeremiah để kết án những lạm dụng trong xã hội thời đó. Chúa đã trả lời ông là Chúa dùng đế quốc Chaldean để trừng phạt dân người vì chúng phạm quá nhiều tội lỗi (Hb1:5-7). Tuy nhiên tiếng kêu của Habakkuk cũng không vô ich. Chúa nói: Hãy viết lại những cái con thấy, hãy khắc vào một tấm bảng để mọi người đọc. Vì có một biến cố đã định là thời sau cùng -dù nó chưa tới- nhưng chắc chắn nó sẽ tới, không trì hoãn (2:2-3). Đó là điều Habakkuk muốn và chúng ta sẽ được: “Hãy kiên nhẫn chờ đợi ngày đó”. Vì vậy niềm tin của chúng ta phải luôn tỉnh thức, sống động và phát triển lớn mạnh.

TIN THÌ CÁI GÌ LÀM CŨNG ĐƯỢC 

Lời Chúa Giêsu trong Tin Mừng Luca hôm nay (Lc 17:5-10) là một kích thích tố giúp các môn đệ tăng niềm tin (17:5-6) nhưng phải tự mình làm. Để hoàn thành đòi hỏi, họ phải chu toàn đầy đủ bổn phận. Chúa đã nói 4 điều (cc1-2,3-4,5-6,7-10) và Luca đã sắp đặt thành câu chuyện với 2 chủ đề. Đừng làm gương xấu (c.1-2) và hãy tha thứ (c.3-4). Giảng huấn có vẻ khó nuốt nên các môn đệ xin Chúa ban thêm niềm tin. Chúa trả lời và xác quyết: Tin thì làm gì cũng được (c.5-6).

Cả hai giảng huấn này cần phải được thực hiện cùng một lúc. Trong cộng đồng Kitô giáo, mức độ hiểu biết và niềm tin của các thành viên không luôn luôn giống nhau. Thứ nhất là trẻ em và người mới chịu phép thanh tẩy, tâm hồn còn non nớt, lời nói việc làm bậy bạ của người lớn / bổn đạo cũ sẽ là gương xấu làm họ dễ sa ngã. Đó là kích thích phạm tội (c1), lý do gây ra tội (c2). Song song với kiểu nói của Luca ta cũng thấy trong Mátthêu (18:6-7) và Máccô (9:43). Khó khăn thứ hai là anh em xúc phạm nhau (c3-4). Chuyện này rất thực tế, trong cộng đồng làm sao tránh khỏi bất đồng và làm mất lòng nhau. Khi nghe Chúa nói vậy (c1-4) các môn đệ xin Chúa thêm niềm tin (c5). Dùng từ ‘môn đệ’ và ‘Chúa’ là Luca muốn nói không phải chỉ có Chúa Giêsu và những người trực tiếp theo Chúa ở thời điểm đó, mà còn nói về Chúa sống lại qua lịch sử và các môn đệ, những lãnh đạo của Giáo Hội cùng thời. 

Giảng huấn 4 và cuối cùng (c.7-10) được diễn tả dưới hình thức dụ ngôn thì không thấy trong Mátthêu và Máccô. Trong Luca thì thường là dụ ngôn: “Ai trong anh em? (11:5-7; 14:23,31; 15:4,8). Câu trả lời là “không” hay “không có ai”. Dụ ngôn này viết về liên hệ chủ tớ, rất thường thấy trong Tân Ước.

KHÔNG PHẢI KHIỂN TRÁCH MÀ LÀ XÁC QUYẾT

Câu 5 cho thấy các môn đệ cảm thấy lãnh đạo là một gánh nặng và rất khó khăn nên Chúa Giêsu đã yêu cầu họ phải xem xét cẩn thận những trách nhiệm và thách đố của họ: “Nếu các anh có niềm tin….” Trong ngôn ngữ có 2 loại nếu, một loại diễn tả điều trái ngược với thực tế và một loại diễn tả điều hợp với thực tế. Chữ nếu ở câu 6 thuộc loại 2: Nếu anh có niềm tin, anh sẽ làm được. Bấy giờ câu trả lời của Chúa không phải là khiển trách vì họ thiếu niềm tin mà xác quyết là họ có niềm tin nhưng họ phải thực hành. Dù chỉ là nhỏ xíu - mà người đời cho là “không có thể làm được”- nó cũng tạo được những điều vĩ đại. 

CHỈ LÀ ĐẦY TỚ THÔI

Tôi không dám chắc các môn đệ đã giữ lời Chúa Giêsu khi đi rao giảng Tin Mừng. Nhưng họ đi từ tình này qua tỉnh nọ, miền này qua miền kia, xả thân phụng sự Nước Trời và luôn giữ trong tâm khảm lời Chúa dạy: “Khi đã hoàn tất những gì phải làm theo lệnh thì hãy nói: ‘Tôi chỉ là những đầy tớ vô dụng, vì chúng tôi chỉ làm bổn phận của chúng tôi thôi’” (Lc 17:10).

Những câu Chúa hỏi không thể bỏ qua được: Anh có thực sự thi hành bổn phận của anh không? Anh phải làm gì bây giờ? Bổn phận nào đang ở trước mắt anh? Anh có nguồn lực nào, sức mạnh nào trong tay? Những câu hỏi này khá phức tạp nên trả lời phải cẩn thận.

Chúa Giêsu đã nói Chúa đến với chúng ta là để phục vụ thì các môn đệ cũng phải làm như vậy, phải là kẻ tiên phong làm đầy tớ, không phải là chủ. Không có lúc nào và ở đâu người môn đệ có thể nói: “Tôi đã hoàn thành bổn phận rồi, bây giờ tôi phải được người ta phục vụ”. Câu này có lẽ đặc biệt nên áp dụng cho những ai được trao phó nhiệm vụ lãnh đạo dân Chúa. Xin tăng niềm tin (c 5) không phải tăng chức. Môn đệ và lãnh đạo phải tuân giữ mọi giáo huấn dành cho các môn đệ. Ta là ai không quan trọng, đầy tớ là đầy tớ.

VỊ THÁNH ĐẦU TIÊN CỦA ÚC CHÂU: MARY MACKILLOP

Cùng với cha Julian Tenison Woods, thánh MacKillop thiết lập một nhà dòng Những Chị Em Thánh Giuse Trái Tim Cực Thánh chuyên phục vụ người nghèo ở Úc Châu. Suốt đời chị rất hăng say nói với chúng ta về ý nghĩa những bài đọc Tin Mừng hôm nay. Khi chị bị rút phép thông công, các thành viên của tu hội bị cấm không được tiếp xúc với chị, và phải di chuyển đi xa khỏi nhà dòng. Mary phải ở nhờ nhà bạn bè, cuối cùng nhờ một thương gia Do Thái giúp nơi ở. Các linh mục Dòng Tên nhận thấy bất công và vô lý nên vẫn ban bí tích cho chị. Năm tháng sau khi rút phép thông công chị, giám mục nhận ra mình đã sai, và trên giường bệnh lúc gần chết đã sai một linh mục hủy bỏ việc phép rút thông công chị.

Trong thời gian bị rút phép thông công, chị không một giận hờn hay chửi bới giám mục, trái lại đã liên tục cầu nguyên cho giám mục. Chị không bao giờ tỏ vẻ cay đắng với những vị lãnh đạo Giáo Hội đã chống đối chi hăng say như vậy. Dịp đại hội giới trẻ thế giới năm 2008 tại Sydney, Úc, Đức GH Benedict XVI đã nói về mẹ Mary MacKillop như sau: “Cha biết rằng sự kiên trì của chị trước những nghịch cảnh, sự đòi hỏi công lý của chỉ vì bị đối sử bất công, gương mẫu thánh đức thực tế của chị đã là nguồn linh hứng cho toàn thể dân Úc....” Chúng ta hãy cám ơn Chúa vì gương sáng ngời của Thánh Mary MacKillop. mục lục

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

THÁI ĐỘ TÔNG ĐỒ

Một ông kia tưởng phải lên được thiên đàng do cái thang từ thiện mình xây dựng, nên suốt đời tận tụy cứu giúp người cùng khổ, bênh vực kẻ yếu hèn. Ông tin rằng mỗi khi làm một việc thiện thì thang kia thêm được một nấc, cứ như vậy mãi thì khi chết, ông sẽ có một cái thang rất cao đưa ông lên tận thiên đàng. Rồi một đêm kia, ông chiêm bao thấy mình qua đời và trước mặt mình có một cái thang bắc lên trời thật. Vui mừng quá, ông bèn leo lên, nhưng leo đã đến đầu thang mà thiên đàng vẫn còn xa lắm. Đang khi tuyệt vọng, ông nghe một tiếng than van thảm thiết rằng: “Tất cả chúng con đã trở nên như người nhiễm uế, mọi việc lành của chúng con khác nào chiếc áo dơ. Tất cả chúng con héo tàn như lá úa, và tội ác chúng con đã phạm, tựa cơn gió, cuốn chúng con đi” (Is 64, 5)

Tin Tưởng Mạnh Mẽ

Thái độ của kẻ “tự bắc thang lên trời” trên đây chính là thái độ bị Đức Giê-su nhắc nhở phải tránh trong phần hai của bài đọc. Bài này hôm nay dạy cho chúng ta biết hai thái độ đích thực khác của một tông đồ, một môn đệ: tin tưởng mạnh mẽ vào Thiên Chúa và khiêm tốn thực hiện công việc của chính mình.

Bản văn nằm trong phần “tiến lên Giê-ru-sa-lem” của Đức Giê-su. Sau khi đã nói với phái Pha-ri-sêu (Lc 16,1-31) rồi với các môn đệ (Lc 17,1-4), nay Đức Giê-su ngỏ với các “Tông Đồ”. Tước hiệu này (“apostoloi” trong tiếng Hy-lạp, có nghĩa là “sứ giả”, “sứ đồ”, “kẻ được sai đi”) chỉ được ban cho Nhóm Mười Hai một lần duy nhất trong mỗi Tin Mừng khác. Nhưng Lu-ca lại sử dụng nó tới 6 lần trong Tin Mừng của ông và 28 lần trong sách Công Vụ. Dưới ngòi bút của vị thánh sử, duy Nhóm Mười Hai có quyền mang ước hiệu đó, vì họ là các chứng nhân chính thức của Tin Mừng Phục sinh cho đến tận cùng trái đất. Họ “thưa với Chúa: Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con”. Xin thêm lòng tin, vì nên Tông Đồ không phải là một quyết định thuần túy nhân loại! Làm chứng nhân cho Đấng Phục sinh, điều đó không do chỗ lý trí đã thấy một điều hiển nhiên và buộc phải công nhận một sự kiện lịch sử, nhưng là do một mình đức tin. Chính đức tin mới mở lòng đón nhận các thực tại thần linh, những thực tại có tính chất siêu việt, vượt quá mọi hợp lý tính khoa học. Mà đức tin lại là một “hồng ân của Thiên Chúa”. Vì ai, ngoài chính Thiên Chúa, đã có thể biến đổi các Tông Đồ sau những lúc bỏ chạy thảm thương và chối Thầy bai bải? Ai ngoài Thiên Chúa đã khiến họ trở nên những “chứng nhân” can trường đến độ tử đạo? Không, đức tin chẳng phải là một điều hiển nhiên, một cuộc chinh phục, một cố gắng của lý trí... mà là việc khiêm tốn đón nhận một ân sủng. Điều đó không có nghĩa con người chẳng cần làm gì để cộng tác: “đón nhận” là một hành vi nhân linh tích cực vô cùng... Bạn không phải là ánh sáng. Nhưng nếu bạn đóng kín cửa sổ, thì dẫu có muốn ngập tràn nhà bạn, mặt trời cũng sẽ chẳng vào được bao giờ. Đức tin là một mặt trời. Một “hồng ân” luôn luôn được ban cho tất cả. Nhưng phải mở lòng ra.

“Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hại cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: 'Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc, nó cũng sẽ vâng lời anh em’.” Hình ảnh khó quên, đặc trưng của người Do-thái, nằm trong kiểu nói ngược đời của Đức Giê-su! “Hạt cải” là “hạt nhỏ nhất trong mọi hạt” (Mc 4,31). “Cây dâu”, theo châm ngôn của các rab-bi, là cây khó nhổ rễ nhất. Dĩ nhiên Đức Giê-su ở đây không khuyên chúng ta cầu xin những phép lạ giật gân ngoạn mục. Người chẳng bao giờ bứng một cây dâu đem trồng dưới biển cũng như đã lắm phen từ chối hiện thực những “dấu chỉ” kỳ diệu thiên hạ yêu cầu. Qua hình ảnh này, Người mạnh mẽ nói với ta rằng đức tin giúp ta làm điều bất khả, đưa ta tới cùng Thiên Chúa. Một mẩu đức tin nhỏ xíu nhất cũng mạnh hơn mọi công cuộc của con người, vì nó không gì khác là sự tham dự vào sức mạnh sáng tạo của chính Thiên Chúa. Trong thực tế, hiệu lực của đức tin các Tông Đồ sau ngày Phục sinh, chẳng cân xứng chút nào với các khả năng nhân loại nghèo nàn của họ. Là những con người không thế lực, không tài chánh, không tổ chức, không báo chí, không truyền hình, không mạng ỉnternet, không gì hết... nhưng trong thực tế, họ đã đổi dòng lịch sử.

“Xem kìa: một trinh nữ sinh con, một con người sinh bởi Thiên Chúa, trời ở giữa chúng ta, nhân loại chẳng còn cô độc... Chỉ cần một chút đức tin là bạn sẽ thấy cây cối xuống biển, nghĩa là những kẻ hành khất làm vua, những người quyền thế bị lật đổ, các kho tàng được chia nhau... Xem kìa: nước hóa thành rượu, rượu trở thành máu, bánh hóa ra nhiều, dân không còn đói nữa... Chỉ cần một chút đức tin là bạn sẽ thấy cây cối xuống biển, nghĩa là những kẻ nản chí lại hy vọng, các tội nhân lại chỗi dậy, các ngõ cụt có lối thoát, các cuộc chiến lụi tàn, tình yêu được tái sinh... “. Một nhà thơ đã viết như thế. Thế giới khủng hoảng ư? Giáo Hội khủng hoảng ư? Cái chết chiến thắng ư?... Xem kìa: nấm mồ của Đức Giê-su đã vỡ tung, trống rỗng. Người đã sống lại. Thần Khí của Người đã thổi khắp thế giới từ hơn hai mươi thế kỷ nay!

Phục Vụ Khiêm Tốn

Thái độ thứ hai của người tông đồ là phục vụ khiêm tốn. Đấy là điều Đức Giê-su muốn nói qua dụ ngôn mà mới đọc, ta đã thấy chói tai, công phẫn. Hoàn cảnh nô lệ tại Palestina thời Đức Giê-su, trong đế quốc Rô-ma thời thánh Lu-ca, ở một vài chỗ trên thế giới thời bây giờ, vẫn là một hoàn cảnh lệ thuộc bi thảm. Nô lệ là “vật sở hữu” của chủ, ông ta không trả lương cho y cũng chẳng cần biết ơn y. Nhưng xin nhớ: chúng ta không có quyền dựa trên những lời này của Đức Giê-su để biện minh cho các thái độ phản xã hội của mình. Khá nhiều đoạn Tin Mừng bênh vực tình yêu, sự chia sẻ, tôn trọng kẻ khác. Thật ra, Đức Giê-su có ý dạy cho chúng ta một chân lý rất quan trọng, đến nỗi đã nói với chúng ta qua những hình ảnh ngược đời ấy, gần như không thể chịu đựng theo các tiêu chuẩn nhân loại hiện thời của chúng ta. “Đối với anh em cũng vậy: khi đã làm tất cả những gì được lệnh (hiểu ngầm: Thiên Chúa buộc) phải làm...”. Đây là điểm Người muốn đi tới. Không phải là bài học về các tương quan xã hội, nhưng là bài học về các tương quan của chúng ta với Thiên Chúa. Chúng ta gặp lại chỗ này ngữ điệu Do-thái: một động từ ở thể thụ động nhưng không có túc từ tác nhân (complément d'agent), vì muốn hiểu ngầm đó là Thiên Chúa (x. Lc 14,11).

Đức Giê-su là con người triệt để hướng về Thiên Chúa. Người phá hủy các tham vọng lố bịch của chúng ta. Người đặt thụ tạo lại vị trí đích thực của thụ tạo. Thiên Chúa là tất cả. Tôi chẳng là chi trước mặt Người. Ngày nay hơn bao giờ hết, chúng ta phải nghe chân lý hiển nhiên đó: Thiên Chúa là “Chủ tể”! Hình ảnh khắc khổ nhưng chân thật, mà chớ nên đem đối chọi với bao hình ảnh khác về Người mà Đức Giê-su đã dùng: một “người cha”, một “người chồng”, thậm chí “một tôi tớ” (x. Lc 12,37). Nghĩa là phải quân bình hai mạc khải: khiêm tốn của tạo vật, dẫn tới lòng kính sợ - và thoải mái của con cái, dẫn tới tình yêu thương. Vâng, lạy Chúa, con chấp nhận đặt mình trước mặt Chúa như một tôi tớ hết sức nhỏ bé, chăm chỉ trung tín thực thi mọi chuyện Chúa truyền, như Đức Ma-ri-a, như bao vị thánh nam nữ: “Chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm bổn phận của mình thôi”. Phải thưa vậy vì Thiên Chúa bao giờ cũng muốn hơn nữa. Nếu khi xong việc phải làm, chúng ta xin Người chuẩn nhận, thì hãy nhớ ngay lúc rất bằng lòng về ta, Người vẫn đòi hỏi quyết liệt. Chính vì tình yêu mà Người muốn chúng ta luôn làm hơn và hơn nữa.

Phái Pha-ri-sêu rốt cuộc đã tin chắc họ đáng hưởng thiên đường nhờ các việc lành của họ y như câu chuyện mở màn: có đi có lại! Họ đứng trong tương quan người với người, ngay cả đối với Thiên Chúa. Họ đã chỉ xem Người như một siêu chủ (super-patron) thôi. Thế nhưng Thiên Chúa là Đấng Toàn Tha (hoàn toàn khác hẳn), Đấng chẳng mắc nợ chúng ta chút nào, Đấng chẳng ai có thể đặt tay khống chế. Muốn có một quyền lực, ma thuật hay không, trên Thiên Chúa là coi Người như một “ngẫu tượng”. Bỏ mình trọn vẹn là thái độ duy nhất đích thực trước Người. Làm tôi tớ theo cách Đức Giê-su chẳng có gì nhục nhã, vì phục vụ Thiên Chúa chính là thống trị! mục lục

Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

 

Quay về lãng đãng bến sông xa.”
(dẫn từ thơ Hoàng Cầm)

Trình thuật thánh Luca nay cũng ghi đôi điều về niềm tin yêu rất đáng kính. Bàn về niềm tin nơi Chúa, nên cân nhắc xem việc nào tạo khác biệt, việc nào không. Có cân nhắc, mới đặt hết tâm tình để tin vào Ngài. Trong cuộc sống, nhiều lúc có người những muốn tạo khác biệt với người khác, đã quay về phía người mình không ưa/không thích mà nặng lời: hãy đi cho khuất mắt tôi, rồi muốn làm gì thì làm.

Ngày nay, muốn tỏ cho thấy mình có khác biệt, con người không còn giận dữ/cãi cọ như trước nữa, nhưng im lặng, mềm dẻo hơn. Trong đời mình, Hội thánh nay cũng đã đổi thay rất nhiều. Có những điều khi xưa gò bó người đi Đạo biết bao nhiêu, thì nay không còn gay gắt như trước nữa. Có những việc khi xưa bị cấm đoán, nay được phép thực hiện rất thả dàn. Có những điều tưởng chừng như không thể thiếu trong đời, nay trở thành thứ yếu, bớt nhiêu khê và cũng chẳng còn huý kỵ nữa. Nhiều người, nay vẫn chú tâm vào những chuyện độc đáo, khác biệt hoặc mới mẻ. Họ quan niệm: không đổi mới, thì đời người rồi ra cũng đáng chán.

Vậy thì, đâu là sự việc căn bản, ở đời người?

Nếu kể ra đây, sẽ thấy rất nhiều, như: ý-niệm Chúa hiện hữu, nay đã nhẹ nhõm, tích cực hơn với con người. Tích cực, là vì: ta nhận biết Chúa hoà mình với ta, và Ngài còn ban chính mình Ngài cho ta, dù ta chỉ là người con nhỏ bé, rất hèn mọn.

Thêm nữa, ta trải nghiệm rõ rệt hơn, việc Chúa sống lại và ở giữa ta qua cuộc sống hiện tại, khắp mọi chốn. Rõ ràng là: xưa kia ta cứ tưởng tội lỗi của ta thực sự sờ-chạm vào Chúa, đụng đến Chúa rất khốn khổ. Nhưng, sự thực không phải thế. Vì, lỗi tội nào đến được Chúa, Đấng vô tì vết và chẳng nề hà.

Ngày nay, ta quan tâm nhiều hơn đến những người sống quanh ta, có nhu cầu nhiều hơn ta. Và nay, cũng có nhiều tiêu-chuẩn để ta sống thực, sống xứng đáng đặt ra với ta nhiều hơn trước. Và, ta cần biết tự tha thứ chính mình, hơn cứ mải lo việc Chúa thứ tha ta, khiến ta bối rối. Và ngày nay, ta đặt nặng trọng-tâm sự việc ở đời vào những chuyện tích-cực của cuộc sống hiện tại, hơn khi trước.

Điều cần thiết, cấp bách, là: ta có thể và cũng cần tin tưởng vào những chuyện như thế. Tin tưởng, là đảm bảo những gì căn bản trong đời người. Chuyện còn lại, là: chỉ nên mở rộng lòng với những chuyện liên quan đến đời sống tâm-linh, thần thánh và thứ rào cản cần lướt thắng, đó là: mất niềm tin và quyết đạt uy quyền, cho bằng được.

Mất niềm tin, là động thái nay ăn sâu vào chủ-nghĩa cá-thể bộc phát ở khắp nơi. Là, chủ nghĩa vị kỷ, chỉ biết mỗi mình mình, còn: mọi người chỉ là cỏ rác. Cá-thể chủ nghĩa, còn là: chỉ bận tâm lo sinh sống cho riêng mình, chẳng cần để tâm giùm giúp bất kỳ một ai, ngoài chính mình. Là, nhìn người khác bằng cặp mắt nghi-ngờ rằng họ sẽ làm khó, chống đối mình. Là, coi người khác lúc nào cũng bất mãn, càm ràm, kình chống đủ mọi chuyện, chỉ tin những người ưa thích mình, sống giống mình, mà thôi. Tóm lại, là: coi “mình” khác “nó”, chống lại “nó”.

Nguyên do dẫn đến động-thái mất tin tưởng, là do mình chọn cuộc sống khép kín, chỉ tin tưởng mỗi chính mình, thôi. Đó, là nguồn cội của mọi ý-thức-hệ rất khác biệt. Là, hành xử đố kỵ, cục-bộ. Nói cho cùng, thì: những người sống khép kín/vị kỷ, không còn tin tưởng một ai và chẳng ưa thích người nào, cả người khác chính-kiến, sắc tộc và lý lịch nữa. Không ưa ai, là bởi người khác hạy chất vấn họ. Và, cứ muốn đặt quyền-uy lên người họ.

Đó, cũng là thái-độ lạ kỳ, xuất từ động-thái sống riêng-tư khép kín bên trong vỏ sò. Nó ngăn chặn sự tin tưởng người khác, không nghĩ rằng người khác cũng đã làm vì lợi ích chung. Động-thái đố-kỵ này, còn thấy rõ ở môi-trường kinh-tế, thông-tin, giáo dục và cả đạo giáo nữa.

Môi trường kinh tế chỉ hoạt-động, nếu người người biết tin vào hệ-thống tiền-tệ và ngân hàng. Hệ thống tiền/hàng từng suy sụp vào những năm 2008/2009, đến độ cần có chính phủ nhúng tay vào, mới sống sót. Khi kinh-tế thế-giới được hồi-phục rồi, nó vẫn cần đến niềm-tin chân-chất, của mọi người. Bởi có tin-tưởng như thế, thì định-chế mới đảm bảo được “trò chơi” thị-trường tự-do có đầu-tư khởi sắc, rất tiếp-thị. Nếu không, tất cả chỉ là tranh-giành quyền-lực để có quyền (mà) hành người khác, thôi. Muốn thành công, mọi người phải tin vào luật chơi thật chân-phương, lương thiện mới được.

Vì mất tin tưởng, nên con người lại đi vào một cuộc chiến tôn-giáo dai dẳng, chẳng bao giờ kết thúc. Cuộc chiến này, đang có ngay trong lòng của đạo-giáo mà phần lớn đang phát-triển. Đây là vấn đề rất phức-tạp. Là, ưu tư của những người chỉ muốn kiểm-soát những gì lẽ đáng ra phải được tự-do về mặt tin tưởng nữa.

Thế nên, nhiều người quyết chống lại hình thức của chủ nghĩa tóm chặt như thời đầu, khiến họ chưa sẵn sàng có động-thái tự-do phát-triển về mặt tôn-giáo, vì lợi ích của nhiều người. Nhiều nhóm/bè đạo-giáo, lại đã du-nhập chủ-nghĩa tân–giáo sĩ, qua đó có vị còn muốn có đủ mọi quyền-bính trong tay, nên đã chối-bỏ quyền đòi-hỏi tối-thiểu của giáo-dân. Cuối cùng, vấn đề thời đại hôm nay, là: đâu đâu cũng thấy mất đi đối-thoại thực-tình, cả trong đạo lẫn ngoài đời.

Vấn đề của thời hôm nay, không chỉ là: làm sao chuyển-đạt thông-tin tới mọi người, mà là vận-động để mọi người có thể kiểm-soát được truyền-thông, báo chí. Bởi truyền-thông, nay vẫn khoanh vùng những điều mà người thời nay gọi là “không-gian chung đụng”. Đó cũng là đấu-trường, trong đó sự tin-tưởng trở thành niềm khuynh-loát; và khuynh-loát trở-thành độc-tố mang đến cho lương-tâm con người các giá-trị khó kiểm-chứng.

Kết cuộc, lại dẫn đến độc-tài trong cảm nhận và dẫn đến chiến-thắng của chủ-trương đại-trà, hoành tráng, như hí-trường danh-lợi cho công chúng. Và tương lai, chúng-dân lại sẽ tùy thuộc sự-kiện: ta tin-tưởng được bao nhiêu? Làm sao để ta vượt qua thái-độ sống ích-kỷ và ý chí muốn đạt quyền-lực. Bởi, tin-tưởng là lớp xi-măng làm nền, cho cuộc sống mỗi ngày.

Cuộc sống hàng ngày tự nó sẽ khó khăn. Nền-tảng lịch-sử cũng thế. Lịch-sử các thế-kỷ vừa qua, đã làm cho sự sống con người ra khỏi cảnh rẽ chia, khác biệt. Khác biệt về kinh-tế giữa người giàu/kẻ nghèo. Khác biệt, về văn-hóa/giáo-dục, người thì được học, kẻ vẫn mù chữ. Khác biệt, về an toàn/lành mạnh trong xã-hội. Khác biệt, cả trong sinh-hoạt của Hội thánh, tức: khác biệt giữa người chuyên chăm nhà thờ và người không đi. Và khác biệt cả về cấu-trúc, có lập-trường sống tập-trung trong gia-đình hoặc bị đẩy lùi khỏi xã-hội.

Nói cho cùng, khác biệt nào cũng dẫn con người về với cuộc sống nội-tâm hay chỉ sống bề ngoài, thôi. Sống sâu sắc hay chỉ hời-hợt, trống-rỗng. Sống, giùm giúp, đỡ đần hết mọi người hoặc chỉ biết mỗi chính mình, thôi. Thêm vào đó, cũng nên nhìn vào chính mình và tự hỏi xem mình có đặt nặng cuộc sống vào với niềm tin linh-đạo không? Có tạo khác biệt trên/dưới giữa giáo-sĩ và giáo-dân không? Có chê bai, kỳ thị nam/nữ, già/trẻ, ngôn ngữ và/hoặc màu da không?

Tóm lại, sống ở đời, thời này, là sống biết tự kiểm-điểm xem mình có đi quá đà, trong động-thái tỏ-bày sự khác biệt giữa mình và người cả về đạo lẫn đời, không? Và, sống cuộc sống đạo-hạnh hôm nay, là: sống và tự hỏi lòng mình xem có đặt bức tường ngăn-cách trong cuộc sống giữa mình và mọi người? Để rồi, có tương-quan êm-đẹp trong nhóm hội/đoàn-thể; trong xã-hội và giáo-hội mình đang sống? Có sống như thế, mới tìm ra được sự bình-an trong tâm hồn, vào mọi lúc, mà không cần bức bách, ưu-tư quá nhiều điều cho mình và cho mọi người, ở đời. mục lục

Lm. Kevin O’Sheas biên soạn – Mai Tá lược dịch

ĐỨC TIN và KHIÊM NHU

[Niệm ý Lc 17,5-10]

Tông đồ thưa Chúa Giê-su:
“Xin thêm đức tin hơn nữa”
Chúa rằng: “Đức tin nếu có
Chỉ cần bằng hạt cải thôi
Như vậy là cũng tốt rồi
Nếu bảo cây dâu bật rễ
Xuống biển kia mà mọc nhé
Tức thì nó sẽ nghe ngay!”

Có người đầy tớ đi cày
Chăn chiên hoặc làm gì đó
Nó về ai lại bảo nó:
Mau mau vào dùng bữa đi!
Mà bảo nó dọn bữa ra
Thắt lưng hầu bàn xong đã
Ăn sau, có chi vội vã!
Với anh em chẳng khác đâu.
Lệnh truyền mình đã làm theo
Hãy nói: “Chúng tôi vô dụng
Đầy tớ tuân lệnh vẫn vụng
Chỉ làm đúng bổn phận thôi!”
Xin giúp chúng con trọn đời
Đức tin luôn luôn vững mạnh
Khiêm nhu, đừng bao giờ “chảnh”
Là khí cụ Chúa dùng thôi! 
mục lục

Trầm Thiên Thu

VỮNG TIN & KHIÊM NHƯỜNG

(Cảm nhận từ Lc 17,5-10)

Tin Mừng Chúa dạy hôm nay:
Người môn đệ Chúa phải đầy lòng tin
Ba thù quấy quất liên miên
Trào lưu tục hoá ép liền bên ta.
Hãy xin ơn thánh chan hoà
Tin quyền phép Chúa trải qua muôn đời
Nhân sinh: cuộc sống nhất thời
Được làm tôi Chúa: Ngôi Lời Cứu Tinh.
Quyết tâm phục vụ hết tình
Chu toàn nghĩa vụ, chứng minh trung thành
Thành công do Chúa tác thành
Nào ai dám nhận công mình làm ra.
Khiêm nhường Chúa thưởng cho ta
Nhận vào Nước Chúa an hoà, trường sinh. mục lục

(Thế Kiên Dominic)

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.