SUY NIỆM TUẦN THÁNH

16-04-2019 112 lượt xem

NỤ HÔN KHÔNG TÌNH YÊU

Nụ hôn diễn tả tình yêu.

Nụ hôn gửi gắm muôn điều thân thương.

Hôn là một hành động nhằm biểu đạt tình yêu. Nụ hôn luôn được coi là “biểu tượng đẹp” trong tình cảm của con người. Chữ hôn được ghép với nhiều chữ khác như hôn nhân, hôn ước, hôn phối, hôn lễ, thành hôn, kết hôn, tái hôn. Chữ hôn đứng vai chủ động diễn tả hành động yêu thương, cử chỉ trìu mến, tác thành như tân hôn, kết hôn, thành hôn, tái hôn. Chữ hôn dùng trong trường hợp cử hành các nghi thức mừng vui như hôn lễ, hôn phối, hôn ước. Và chữ hôn còn dùng diễn tả sự kiện đau buồn, cô đơn như tiêu hôn.

Tân Ước có mô tả về hai nụ hôn khá tương phản. Một của Giuđa, một của người phụ nữ tội lỗi trong Lc 7,37. 

Trong mái nhà Nadarét, Mẹ Maria và thánh Giuse chắc chắn đã hôn Chúa Giêsu nhiều lần khi Ngài còn bé thơ, những lúc ẵm bồng âu yếm con trẻ trên tay, nhưng phúc âm đã không nhắc gì đến điều này. Phúc âm chỉ kể lại có hai lần thôi Đức Giêsu được hôn trong cuộc đời rao giảng công khai.

Cả ba Tin Mừng Nhất Lãm đều nói đến cái hôn của Giuđa (Mt 26,48-49; Mc 14,44-45; Lc 22,47-48). Nét tinh tế của các tác giả Tin Mừng là ở chỗ này: Các ngài kể rằng Giuđa đã cho đám người đi bắt Đức Giêsu một dấu hiệu: “Tôi hôn ai thì chính là người đó” (Mt 26,48//Mc Mc 14,44//Lc 22,47); chữ “hôn” ở đây là phileô. “Ngay lúc đó, Giuđa tiến lại gần Đức Giêsu và nói: ‘Rabbi, xin chào Thầy!’, rồi hôn Người” (Mt 26,49//Mc 14,45); chữ “hôn” ở đây lại là kataphileô, “hôn thắm thiết, nồng nàn”. Giuđa đã dùng một cử chỉ để diễn tả “tình yêu thương tha thiết, trọn vẹn”, “cái hôn thắm thiết”, để phản bội Đức Giêsu là Tình Yêu Thiên Chúa nhập thể! Một trái tim phản bội che giấu hành vi bất lương dưới một cái hôn nồng nàn…

Cái hôn của người phụ nữ vô danh. Đây là một “người phụ nữ tội lỗi trong thành”, nghĩa là “tội lỗi công khai” (Lc 7,36-50). Chị đã “đứng đàng sau, sát chân Đức Giêsu mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người. Chị lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên” (Lc 7,38). Chữ “hôn” ở đây là kataphileô, “hôn thắm thiết”. Một tâm hồn tội lỗi đến gặp Đức Giêsu để thú nhận tình trạng bất chính của mình cùng với lòng kính trọng và tâm tình biết ơn sâu xa bằng những nụ hôn thắm thiết đặt lên chân Người…(Lm. Fx. Vũ Phan Long, ofm; kinhthanh.org).

Giuđa hôn má của Thầy, ông đang đứng ở một khoảng cách rất gần trong tương quan với Chúa Giêsu. Người phụ nữ tội lỗi hôn chân Thầy để biểu lộ lòng sám hối, cô ấy tự đặt mình ở một khoảng cách rất xa trong tâm hồn.

Nụ hôn của môn đệ nộp Thầy và nụ hôn của người đàn bà thống hối biểu tỏ lòng ăn năn. Cùng một nụ hôn nhưng khác nhau về nội dung. Hai nụ hôn này không chỉ khác về vị trí mà ánh mắt cũng rất khác lạ. Kinh Thánh không mô tả thần thái của hai gương mặt này trong khi hôn. Chỉ có Chúa mới đo được tình yêu của hai nụ hôn này và Ngài hiểu thấu tâm can của mọi hành vi, ngay cả khi hai người ấy chưa hành động.

Giuđa nói với đám người đông đảo mang gươm giáo gậy gộc: “Tôi hôn ai thì đó chính là Người, các anh bắt lấy” (Mt 26,48). Cái bi đát của tình yêu là dùng chính cử chỉ âu yếm nhất để phản bội tình yêu. Nụ hôn của Giuđa đau hơn ngàn cái tát, nhục nhằn hơn dòng nước mắt, quặn thắt hơn vết thương sâu. Chúa Giêsu ngỡ ngàng trước thái độ của Giuđa nên hỏi: “Giuđa ơi! Anh dùng cái hôn mà nộp Con Người sao? (Lc 22,48). Chúa Giêsu không tưởng tượng được một môn đệ sau ba năm chung sống, bây giờ dùng nụ hôn chỉ điểm cho đám người đến bắt Ngài. Nếu Giuđa dùng cái tát tai hoặc cú đấm để làm dấu chỉ thì Chúa đỡ đau lòng hơn. Cái bi đát ở đây là Giuđa dùng chính cái hôn để phản bội tình yêu, dùng chính cái hôn để chà đạp sỉ nhục tình yêu. Có nhiều cách phản bội, nhưng Giuđa đã chọn cách phản bội đau lòng nhất.

Giuđa đã dùng nụ hôn vốn là “ngôn ngữ yêu thương” để “chỉ điểm” và bán Thầy với giá “ba mươi đồng” (Mt 26,15; Mt 27,3.9). “Ba mươi đồng” chỉ là số tiền nhỏ so với “ba trăm quan tiền” giá chiếc bình bạch ngọc đựng dầu cam tùng hảo hạng (Mc 14,5; Ga 12,5) mà người phụ nữ tội lỗi đã đập bể và lấy dầu xức chân Chúa Giêsu tại nhà ông Simon (Mt 26,6-13; Mc 14,3-9; Ga 12,1-8). Bán Thầy giá “ba mươi đồng” so với bình dầu “ba trăm quan tiền”, nên Giuđa tiếc nuối cho rằng cô kia làm như vậy là hoang phí (Mt 26,8; Mc 14,4). Giuđa không ngay thẳng khi mượn danh người nghèo để trách lòng quảng đại của người phụ nữ: “Phí phạm dầu để làm gì? Sao không bán để giúp cho người nghèo?”. Thánh Gioan nhận định: “Hắn nói thế không phải vì thương người nghèo đâu, nhưng vì hắn giữ tiền chung, hay bớt xén tiền của anh em”. Khi lòng người đã không ngay thẳng, không thật thà, thì những hành động hoặc lời nói bên ngoài cũng sẽ không trung thực. 

Hai nụ hôn bởi hai con người khác nhau, mang hai tâm tình khác nhau. Hai nụ hôn bắt nguồn từ hai trái tim: một trái tim chất ngất yêu thương, còn một trái tim lừa lọc, bội phản. Từ đó, hai trái tim đưa về hai nẻo lối khác nhau: một lối đi về mênh mông thiên đường, còn lối kia dẫn về ngục tù hun hút.

Chúa xét đến tâm tư thầm kín của từng người. Giuđa đến hôn lên má Thầy, làm dấu hiệu cho người khác đến bắt Thầy. Còn người phụ nữ tội lỗi đến hôn chân Chúa để tỏ lòng thống hối bên trong, xin ơn làm lại cuộc đời. Bàn chân nằm ở vị trí thấp nhất. Chọn chân để hôn nhằm chứng minh tình yêu, lòng khiêm cung, người hôn muốn nói lên sự bất tương xứng trong tình yêu của mình. 

Cái hôn của Giuđa chỉ tốt ở bên ngoài, hợp với phong tục tập quán. Người môn đệ hôn thầy mình đúng luật xã giao và hợp tình nghĩa, nhưng ý hướng bên trong thì thật xấu xa. Còn nụ hôn của cô ấy bên ngoài không được thích hợp, nhưng bên trong chất chứa những ý hướng tốt đẹp.

Cuộc sống với giá trị bên trong mới đáng kể: nếu thấy một người có những hành động và thái độ xem ra không thích hợp với thói quen xã hội và tôn giáo, chúng ta đừng vội nghi ngờ và lên án. Họ có thể không được xã hội đồng ý, không được đám đông chấp nhận, nhưng biết đâu trước mặt Chúa họ không có gì phải hổ thẹn và thua kém ai. Điều mà mỗi người cần lo sợ đề phòng hơn hết là thái độ như Giuđa, dùng cái hôn, dùng việc đạo đức tốt lành bên ngoài để nộp Chúa, bán Chúa. Đó là trường hợp người ta lợi dụng việc từ thiện việc đạo đức để kiếm tiền, dùng thế giá tôn giáo để xây dựng uy tín riêng mình, viện cớ tôn giáo để bắt nạt kẻ khác. Nêu ra lý do đạo đức để khoe khoang bôi nhọ, nói xấu người khác.... Thiếu gì những người nhân danh Chúa để loại trừ Chúa và làm hại anh chị em xung quanh.

Nụ hôn Giuđa đã khiến cho cái chết của Chúa Giêsu vốn đã đau đớn lại thêm tê tái hơn. Nụ hôn của Giuđa để lại một kỷ niệm buồn. Hơn hai nghìn năm lịch sử vẫn không phai mờ, bởi Giuđa đã hôn Thầy bằng một nụ hôn không chút tình yêu. Nếu mỗi nụ hôn trao nhau là một đóa hoa hồng, thì nụ hôn không chút tình yêu của Giuđa trở nên vòng gai nhọn trao cho Chúa Giêsu.

Suy ngẫm về nụ hôn không chút tình yêu Giuđa là dịp cho ta nhìn lại chính mình: Giuđa đã phản bội Chúa bằng môt nụ hôn khéo léo lọc lừa, còn chúng ta thì sao? Trong lời nói, suy nghĩ và hành động, có khi nào ta phản bội Chúa không? Trong tương quan với tha nhân nhiều lần ta thiếu vắng tình yêu chăng?.

Ngày thành hôn, đôi bạn trẻ thề non hẹn biển, nhưng không chừng ngày nào đó lời thề hứa ấy lại bay theo tiếng gọi của gió ngàn. Yêu đòi phải hy sinh cho nhau. Hy sinh là bảo chứng của tình yêu. Khi chấp nhận đau đớn vì nhau thì tình yêu mới trọn vẹn, nụ hôn trao nhau mới thực sự là bằng chứng của tình yêu.

Linh mục tu sĩ cũng đã có những cái ôm hôn trong ngày khấn dòng hay trong ngày lễ phong chức. Nghi thức trao hôn bình an của giám mục, của bề trên hay của người anh em cũng bào hàm một lời mời gọi yêu thương và trung thành với những điều đã khấn hứa, đã tuyên thệ. Thế nhưng lời thế ấy vẫn dang dở đôi lần vì bất trung, tình yêu ấy đã có lúc mai một.

Ba năm theo Chúa, Giuđa luôn đi trong ánh sáng của sự bình an, tình yêu và hy vọng. Nhưng cuối cuộc đời lại trở nên kẻ tối tăm, phản bội. Cuộc sống của chúng ta luôn có những người thân, những người bạn, những người đồng nghiệp…có ai ngờ được một lúc nào đó cũng là những kẻ phản bội chúng ta. Thực tế cuộc sống trong xã hội hôm nay đã cho thấy cảnh gia đình tan nát khi vợ chồng phản bội nhau, con cái phản bội cha mẹ, bạn bè, đồng nghiệp vì một mối tình, cạnh tranh làm ăn… mất tình bạn, tình yêu, đưa đến những cái chết đau thương. Chúa Giêsu đã biết rõ tận tâm can của con người: “kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con” (Ga 14,18). Hãy nhớ lời Thánh Phaolô khuyên nhủ: “Ai tưởng mình đang đứng vững thì hãy coi chứng kẻo ngã” (1Cr 10, 12). Và lời Thánh Phêrô căn dặn: “ma quỷ, thì địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1 Pr 5, 8).

Đừng trách Giuđa phản thầy của mình, nếu có trách thì trách ông đã để cho ma quỉ bước vào cuộc đời và dẫn lối đời mình (x. Lc 22,3). Mà nếu trách như vậy thì thử hỏi ai trong chúng ta không đáng trách! Ai trong đời cũng có đôi lần để ma quỉ dẫn lối đi về miến u tối của bất trung.

Lạy Chúa, xin dạy con sống trung thành với Chúa và chân thành với mọi người, biết sống yêu thương với hết mọi người. Xin dạy con sống quảng đại và luôn là khí cụ bình an của Chúa. Amen!

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An  

KỶ VẬT VÔ GIÁ

Tam Nhật Vượt Qua (Paschal Triduum), cũng gọi là Tam Nhật Thánh (Holy Triduum) hoặc Tam Nhật Phục Sinh (Easter Triduum). Từ La-tinh “Triduum” có nghĩa là một thời kỳ ba ngày ngụ ý Đức Giê-su chịu chết (Tử Nạn) và đến ngày thứ ba thì sống lại (Phục Sinh); đó là trung tâm điểm của đức tin Ki-tô giáo. Cử hành Cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Đức Ki-tô là mục đích của Tam Nhật Vượt Qua. 

Mở đầu Tam nhật Vượt Qua là Thứ Năm Tuần Thánh. Phụng vụ chiều Thứ Năm Tuần Thánh, Giáo hội cử hành Bí tích Thánh Thể do Chúa Giê-su thiết lập vào sau bữa tối cuối cùng với các Tông Đồ trong nhà Tiệc Ly, để muôn đời tưởng nhớ tới sự hiện diện thực sự của Người. Đây là Thánh lễ sau hết được cử hành trước Đêm Vọng Phục Sinh (Thứ Bẩy Tuần Thánh). Vì là Lễ sau hết nên lúc hát Kinh Vinh Danh, các chuông nhà thờ reo lên, và sẽ chỉ reo lại vào đúng lúc hát Kinh Vinh Danh trong Đêm Vọng Phục Sinh. Sau Thánh lễ chiều nay, các khăn bàn thờ, các chân nến và thánh giá được cất đi. Bàn thờ không còn trưng hoa nữa để loan báo ngày đại tang của Giáo hội, đồng thời Giáo hội cũng không cử hành lễ nào nữa cho đến ngày Chúa Ki-tô sống lại.

Nghi thức rửa chân trong Thánh lễ Tiệc Ly tái hiện Tình Yêu Thiên Chúa dành cho những kẻ tin và nói chung là toàn thể nhân loại, như Thông điệp Thiên Chúa là Tinh Yêu “Deus Caritas Est” (số 19) đã khẳng định: “Quả thế, Chúa Thánh Thần là nguồn sức mạnh bên trong hoà nhập trái tim của họ (các tín hữu) với trái tim của Đức Giê-su và thúc đẩy họ yêu thương anh em mình như Đức Giê-su đã yêu thương họ, khi Người cúi xuống rửa chân cho các môn đệ (Ga 13, 1; 15, 13) và nhất là, khi Người trao ban mạng sống Người cho chúng ta (Ga 13, 1; 15, 13).” Vâng, ngay từ “Trước lễ Vượt Qua, Đức Giê-su biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng.” (Ga 13, 1). Và vì thế nên trong bữa Tiệc Ly, Người đã thể hiện Tình Yêu vô bờ bến đó bằng hành động cụ thể:

1- RỬA CHÂN CHO CÁC MÔN ĐỆ:

Việc rửa chân cho người khác xưa nay chỉ xảy ra ở những kẻ dưới (nô lệ, tôi tớ) đối với bề trên (chủ nhân, trưởng thượng). Đức Giê-su đã làm ngược lại, nhằm mục đích dạy các môn đệ tinh thần yêu thương phục vụ (“Anh em gọi Thầy là "Thầy", là "Chúa", điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em. Thật, Thầy bảo thật anh em: tôi tớ không lớn hơn chủ nhà, kẻ được sai đi không lớn hơn người sai đi. Anh em đã biết những điều đó, nếu anh em thực hành, thì thật phúc cho anh em!” – Ga 13, 13-17).

Có một chi tiết rất đáng lưu ý là khi Tông đồ Phê-rô đòi “Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân, mà cả tay và đầu con nữa”, thì Đức Giê-su trả lời: "Ai đã tắm rồi, thì không cần phải rửa nữa; toàn thân người ấy đã sạch. Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!” (Ga 13, 9-10). Nếu ai đã tắm rồi, toàn thân người ấy đã sạch rồi, không cần phải rửa nữa, thì hà cớ gì Đức Giê-su lại mất công rửa chân cho các môn đệ? Vấn đề đặt ra chính ở điểm này: Ý muốn của Người là cho thấy các môn đệ đã được tắm trong Phép Rửa, toàn thân đã sạch, nhưng bàn chân đi đây đi đó dính đầy bụi bặm (những thách thức va chạm vào thực tế đời sống và bị sự dữ, tội lỗi bám vào) rất cần được tẩy rửa trong Thánh Thần và Lửa để nên sạch sẽ tinh tuyền. Từ đó, Người nhấn mạnh: “Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!” là muốn ám chỉ đến Giu-đa It-ca-ri-ốt phản Thầy, bán Chúa.  

2- LẬP BÍ TÍCH THÁNH THỂ:

Đức Giê-su đã thiết lập Bí tích Thánh Thể làm lương thực trường tồn cho tín hữu (Mt 26, 26-29; Mc 14, 22-25; Lc 22, 19-20) trước khi chính thức bước vào cuộc khổ nạn, để thực hiện lời dạy: “Đây là điều răn của Thầy: anh  em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” (Ga 15, 12-13). Chúa muốn biến thân xác Người thành của ăn trường sinh, của ăn không bao giờ hư nát. Đây là việc làm đầy yêu thương Chúa trao cho nhân loại. Chính vì thế, đang khi ăn, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho môn đệ và nói: "Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy." Rồi Người cầm lấy chén, dâng lời tạ ơn, trao cho môn đệ và nói: "Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội.” (Mt 26, 26-29).

Chung quy, những Lời dạy và việc làm của Đức Giê-su trong bữa Tiệc Ly đã nói lên đầy đủ ý nghĩa cốt tủy của Ki-tô giáo: Đó là tinh thần “Phục Vụ Trong Yêu Thương”. Thiên Chúa đã yêu thương nhân loại đến nỗi ban chính Con Một xuống thế làm người để phục vụ cho hạnh phúc của loài người. Vâng, “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người.” (Mt 20, 28). Qủa thật “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (ga 15, 13). Từ những việc làm thực tế, những vật thể hữu hình (nước rửa chân, khăn lau, tấm bánh, ly rượu), Đức Giê-su đã dạy các tín hữu hãy noi gương Người mà phục vụ lẫn nhau trong Tình Yêu Thiên Chúa.

Để có thể kết hợp với Đức Ki-tô, ngõ hầu trở nên đồng hình đồng dạng với Người (Pl 3, 9-10), người Ki-tô hữu cần phải biết “Ơn riêng Thiên Chúa đã ban, mỗi người trong anh em phải dùng mà phục vụ kẻ khác” (1Pr 4, 10); “đừng lợi dụng tự do để sống theo tính xác thịt, nhưng hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau” (Gl 5, 13). Một cách cụ thể là hãy đem Lời Chân Lý (Bánh Hằng Sống) đến cho mọi người, đồng thời cũng đừng quên đem cơm bánh vật chất đến cho những kẻ khó nghèo. Vâng, “Làm phúc bố thí để chúng ta đặt tính ngông cuồng lại đàng sau chúng ta, mà với sự ngông cuồng ấy, chúng ta sẽ chỉ sống cho mình, tích lũy tất cả cho mình trong sự ảo tưởng rằng, mình sẽ có được một tương lai bảo đảm, trong khi tương lai đó không thuộc về chúng ta. Như thế, chúng ta sẽ tái thấy được niềm vui trong kế hoạch mà Thiên Chúa đã khắc ghi vào trong thế giới thụ tạo cũng như trong con tim chúng ta: yêu mến Ngài cũng như yêu thương những người anh chị em và toàn thế giới, và thấy được niềm hạnh phúc đích thực trong Tình Yêu ấy.” (Sđ Mùa Chay 2019).

Mong rằng tất cả đàn chiên trong ràn chiên Giáo Hội, hãy theo chân ĐTC Phan-xi-cô – vị “Giáo-Hoàng-của-người-nghèo” – mà đến với những người nghèo khó vật chất (thiếu cơm ăn, áo mặc) kể cả những kẻ đói ăn tinh thần (thiếu vắng hoặc chưa biết đến Lời Chúa), để thực hiện những chứng tá bác ái “trong việc phục vụ và làm các việc lành”. Ôi! “Lạy Chúa, trong bữa tiệc ly trọng đại, trước ngày tự hiến thân chịu khổ hình, Ðức Giê-su đã trối cho Hội Thánh một hy lễ mới muôn đời tồn tại làm bằng chứng tình thương của Người. Chiều nay, chúng con đến tham dự yến tiệc cực thánh, như lời Người truyền dạy, xin Chúa cho tất cả chúng con được tràn đầy tình yêu và sức sống viên mãn của Người. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. Amen.” (Lời nguyện nhập lế Thánh lễ Tiệc Ly).

JM. Lam Thy ĐVD

THÁNH GIÁ - NỖI ĐAU VÀ AN ỦI

Thánh giá vừa là nỗi đau, nhưng cũng vừa là niềm an ủi.

1. Là nỗi đau bởi Chúa Kitô đã chết đớn đau trên thánh giá. Mọi con người đều cảm nhận bất hạnh, lo âu, khổ sở khi thánh giá là những đau khổ ngang qua đời mình.

Có những thánh giá là một căn bệnh hiểm nghèo, là cái chết ngay tức khắc, là một cánh cửa nhà tù đang mở ra, là một quyết định phác lưu biệt xứ, là một cuộc tẩy chay, loại trừ ra khỏi cộng đoàn hiệp thông, là một cuộc thanh trừng sát hại không để lộ tông tích, là một sự đàn áp dã man không còn nhân tính, là những bức bách thể xác tinh thần đến độ mất ăn mất ngủ sinh kiệt sức đến lâm chung, là cách cai trị theo kiểu cai trị đám dân nô lệ vài ngàn năm khi nhân loại còn trong bóng đêm lạc hậu...

Vâng, có quá nhiều thánh giá cho các tín hữu thời nay. Thánh giá làm ta sợ hãi. Thánh giá gây nên những hoang mang, bất ổn trong cuộc đời. Ta muốn chạy trốn thánh giá. Ta muốn chối từ thánh giá, bởi thánh giá đã quá nhiều lần làm ta tê tái, rát buốt.

2. Nhưng thánh giá cũng là niềm an ủi. Bởi dù cho cuộc đời có vùi dập ta đến đâu, nhưng với một chút niềm tin, nhìn lên thánh giá Chúa Giêsu, ta sẽ được đỡ nâng hơn, được thêm sức mạnh, thêm can trường hơn.

Cha ông của chúng ta, các thánh Tử Đạo Việt Nam là những bằng chứng cụ thể về việc các ngài được an ủi lớn lao từ thánh giá Chúa Kitô. Các ngài đã anh hùng vác thánh giá suốt cuộc đời mình qua những cuộc bách hại.

Các ngài đã ôm cây thánh giá vào lòng trước mặt quan quyền. Các ngài đã quì gối hôn kính thánh giá để chấp nhận bao cực hình cho đến chết, dứt khoát không bước qua thánh giá.

Dấu thánh giá xưa trở thành niềm kiêu hãnh lớn lao cho các thánh Tử Đạo. Ngày nay thánh giá vẫn đang an ủi bao nhiêu con người tưởng chừng bị đè bẹp tận đáy của đời sống. Như cha ông mình, họ nhìn lên thánh giá Chúa mà chấp nhận cuộc tử đạo hàng ngày qua mọi thương đau mà họ phải gánh lấy.

- Lạy Chúa Giêsu, thánh giá là niềm đau. Thánh giá cũng là niềm an ủi:

Vác thánh giá qua mọi thử thách, mọi hoàn cảnh và trách nhiệm của đời sống, nhiều lúc chúng con như muốn ngã quỵ.

Nhưng chúng con lại cảm nhận sâu sắc một hạnh phúc lớn lao, bởi trên vạn nẻo đời, chúng con có Chúa.

Chúa không là người đứng bên cạnh, mà đã ghé vai cùng chúng con vác cây thánh giá ấy.

Thánh giá của Chúa là nguồn động lực, là tình yêu, là niềm an ủi, là sức mạnh để chúng con tiếp tục sống, tiếp tục chiến đấu vượt mọi trở ngại của đời này, và luôn tiến đến bến bờ hạnh phúc trong Chúa.

- Lạy Chúa Giêsu, chúng con cử hành tuần Thánh để tưởng niệm thánh giá Chúa. Xin cho chúng con can đảm vác thánh giá hằng ngày theo Chúa. Nhờ đó, chúng con biết thánh hóa chính cây thánh giá cuộc  đời chúng con. Amen.

Lm. JB NGUYỄN MINH HÙNG

TRAO TRỌN TÌNH THƯƠNG

Mẹ Thánh Teresa Calcutta đã đưa ra một chuỗi liên kết chí lý: “Không cầu nguyện thì không có đức tin, không có đức tin thì không có tình mến, không có tình mến thì không có phục vụ, không có phục vụ thì không có niềm vui, không có bình an”.

Thứ Năm Tuần Thánh là ngày đặc biệt, không chỉ về Bí Tích Thánh Thể – Bí Tích Tình Yêu, mà còn nhắc chúng ta phải luôn ghi nhớ luật yêu thương và phục vụ – tuy hai mà một, vì liên quan lẫn nhau. Luật Chúa là Thánh Luật, là mệnh lệnh của Chúa. Yêu thương là thế nào, CHO hay NHẬN? Chẳng ai có thể cân-đo-đong-đếm được tình yêu nên không thể biết ai yêu ít hay nhiều, nhưng vẫn có thể cảm nhận.

Xưa nay chưa ai có thể đưa ra một định nghĩa về tình yêu trọn vẹn nhất khiến người ta cảm thấy mãn nguyện. Chữ Yêu rất đơn giản mà cũng rất nhiêu khê. Thường là thế, như một tế bào nhỏ bé với những chuỗi AND đơn giản, vậy mà lại hóa vô cùng phức tạp. Chỉ có một tình yêu đích thực nhưng được nhìn với nhiều lăng kính, mỗi người yêu mỗi cách và mức độ cũng rất khác nhau. Nói chung, yêu là CHO nhiều hơn NHẬN, yêu đến quên mình, đó mới là tình yêu chân chính, thế nên người ta mới nói “yêu là chết trong lòng” – một ít thôi mà hóa nhiều, vì có những người không thể chịu nổi khi bị phụ tình. Rõ ràng yêu là khổ, không khổ không là yêu, khổ đến “chết” mới là yêu. Không chỉ “chết trong lòng” mà chết thật, vì có những người đã dám liều chết vì quá si tình hoặc lụy tình. Khổ thật đấy!

Quốc gia nào cũng có những chuyện tình đặc biệt. Tại Việt Nam có chuyện tình Đồi Thông Hai Mộ hoặc chuyện tình Lan và Điệp, còn Tây phương có chuyện tình Romeo và Juliet. Những chuyện tình thật lãng mạn và rất đẹp nhưng cũng vì vậy mà đầy chất bi thương. Đúng là khổ não trần ai đắng cay đủ thứ.

Người ta ví von: “Yêu là khổ, không yêu thì lỗ, thà chịu khổ hơn chịu lỗ”. Những người như thế thì “ngon” thật và can đảm thật. Thật vậy, người ta còn gọi đó là dạng “thú đau thương”. Đau thương mà lại “thú vị”, yêu như điên, đó mới là yêu thật lòng – vị tha chứ không vị kỷ. Chính Chúa Giêsu cũng đã xác định: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15:13). Sau những ngày tháng ăn chơi xả láng, chàng Augustinô đã hối tiếc: “Con yêu Chúa quá muộn màng”. Và rồi thánh nhân xác định: “Mức độ yêu Chúa là yêu vô hạn”. Một mức độ kỳ lạ: giới hạn của yêu thương là yêu-không-giới-hạn. Chí lý lắm!

1. TUÂN PHỤC VÌ YÊU THƯƠNG

Lễ Vượt Qua là lễ lớn nhất của người Do Thái, dạ tiệc Vượt Qua có nhiều món như thịt chiên, rau đắng, bánh, rượu, hoa trái, trứng, nước chanh, giấm,... Trình thuật Xh 12:1-8, 11-14 cho biết chi tiết: Đức Chúa phán với ông Môsê và ông Aharon trên đất Ai Cập: “Tháng này, các ngươi phải kể là tháng đứng đầu các tháng, tháng thứ nhất trong năm. Hãy nói với toàn thể cộng đồng Ít-ra-en: Mồng mười tháng này, ai nấy phải bắt một con chiên cho gia đình mình, mỗi nhà một con. Nếu nhà ít người, không ăn hết một con, thì chung với người hàng xóm gần nhà mình nhất, tuỳ theo số người. Các ngươi sẽ tuỳ theo sức mỗi người ăn được bao nhiêu mà chọn con chiên. Con chiên đó phải toàn vẹn, phải là con đực, không quá một tuổi. Các ngươi bắt chiên hay dê cũng được. Phải nhốt nó cho tới ngày mười bốn tháng này, rồi toàn thể đại hội cộng đồng Ít-ra-en đem sát tế vào lúc xế chiều, lấy máu bôi lên khung cửa những nhà có ăn thịt chiên. Còn thịt, sẽ ăn ngay đêm ấy, nướng lên, ăn với bánh không men và rau đắng”. Luật cũ chú trọng cách sống tự nhiên của con người, và cách hành lễ cũng “thực tế” hơn ngày nay, nhưng đó là thể hiện đức tuân phục – vâng lời Chúa nghĩa là yêu mến Chúa. Vả lại, Ngài muốn chúng ta vâng lời chứ Ngài không cần lễ vật (1 Sm 15:22; Tv 50:8-9; Tv 51:18).

Cuộc sống có vẻ đơn giản mà phức tạp, trong đó có nhiều thứ phải học: Học ăn, học nói, học gói, học mở. Đầu tiên là phải học ăn, không chỉ là bỏ vô miệng rồi nhai và nuốt. Cách ăn cũng có nghệ thuật riêng, đặc biệt là có luật ăn: lưng thắt gọn, chân đi dép, tay cầm gậy. Cách ăn “lạ” nhất là “phải ăn vội vã”, vì đó là lễ Vượt Qua mừng Đức Chúa. Kinh Thánh cho biết rằng đêm ấy Thiên Chúa rảo khắp đất Ai Cập, sát hại các con đầu lòng trong đất Ai Cập, từ loài người cho đến loài thú vật, và sẽ trị tội chư thần Ai Cập. Nghe vậy chúng ta cảm thấy Chúa có vẻ “dữ tợn” quá. Nhưng không phải vậy, luật cũ là luật tự nhiên, những gì là “đầu tiên” đều được dành quyền ưu tiên cho Thiên Chúa – gọi là “của lễ đầu mùa”, kể cả những đứa con đầu lòng. Ngày nay, một số dân tộc vẫn có cách mừng thu hoạch như lễ mừng lúa mới, lễ mừng thu hoạch,…

Các vết máu được người ta bôi trên nhà là dấu hiệu “giữ luật”, là “dấu hiệu tình yêu”, và người trong nhà đó sẽ không bị tai ương tiêu diệt khi Thiên Chúa giáng họa trên đất Ai Cập. Ngày đó được chọn làm ngày tưởng niệm, ngày đại lễ mừng Đức Chúa. Đó là luật quy định cho đến muôn đời, và là hồng ân Chúa ban. Ngài ban đủ thứ ân sủng để con người đủ sức “vượt qua” biển đời. Thiên Chúa YÊU nhiều nên CHO nhiều, còn chúng ta NHẬN quá nhiều mà yêu chẳng bao nhiêu. Thánh Vịnh gia đã đặt vấn đề:

Lấy chi đáp đền Chúa đây

Vì bao ân huệ chính Ngài đã ban? (Tv 116:12)

Mặc dù thành tâm và rất muốn đền đáp ơn Chúa nhưng chẳng có gì để dâng, nếu có thì cũng chẳng có gì xứng đáng. Tài sản mà ai cũng có nhiều, rất giàu, đó là phần tội lỗi. Thật diễm phúc vì Thiên Chúa vẫn làm ngơ. Thế nên thân tro kiếp bụi mọn hèn mới có thể thân thưa với Đấng Hằng Hữu Chí Thánh:

Con nâng chén hồng ân cứu độ

Mà xưng tụng danh Chúa mãi thôi (Tv 116:13)

Trong thời quân chủ, thần dân không được phép ngước nhìn Long Nhan, ai nhìn sẽ bị tội khi quân và phải chết. Thần dân muốn tâu trình điều gì phải quay hướng khác và không được tâu trực tiếp mà chỉ được tâu với cái “bệ rồng” vua ngồi: “Muôn tâu bệ hạ”. Thế nhưng, đối với Thiên Chúa là Vua các vua và Chúa các chúa, thân sâu bọ chúng ta lại được diện kiến Tôn Nhan thì quả là vô cùng diễm phúc: “Trước Thánh Nhan thật là quý giá, cái chết của những ai hiếu nghĩa với Ngài” (Tv 116:15). Chúng ta chỉ là tôi tớ Ngài, con của nữ tỳ Ngài, thế mà lại được diễm phúc như vậy thì phải ghi lòng tạc dạ thâm ân này: “Con sẽ dâng hiến lễ tạ ơn mà xưng tụng danh Chúa” (Tv 116:17). Ngoài ra, chúng ta còn phải chân thành nguyện thề, đoan hứa: “Lời khấn nguyền với Chúa, con xin giữ trọn, trước toàn thể Dân Ngài” (Tv 116:18). Mức độ càng tuân giữ trọn vẹn thì càng có phúc.

2. PHỤC VỤ VÌ YÊU THƯƠNG

Theo chuỗi liên kết của Mẹ Thánh Teresa Calcutta, yêu thương sinh ra phục vụ. Như vậy, phục vụ là hệ lụy tất yếu của lòng yêu thương. Thánh Phaolô cho biết: “Điều tôi đã lãnh nhận từ nơi Chúa, tôi xin truyền lại cho anh em” (1 Cr 11:23). Thánh nhân kể lại việc Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy”, và cuối bữa thì Chúa Giêsu nói: “Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy” (1 Cr 11:24-25). Thánh nhân giải thích: “Từ nay cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết” (1 Cr 11:26), do đó mà chúng ta hằng ngày vẫn tuyên tín trong mỗi Thánh Lễ: “Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa chịu chết, và tuyên xưng Chúa sống lại, cho tới khi Chúa đến”, hoặc “Lạy Chúa, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, chúng con loan truyền Chúa chịu chết cho tới khi Chúa đến”.

Ngay trước Lễ Vượt Qua, Đức Giêsu biết “giờ của Ngài” đã đến, đó là giờ Ngài phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Ngài yêu thương mọi người đến giọt Nước và giọt Máu cuối cùng. Tình thương ấy quá lớn lao và trọn vẹn khôn dò.

Chính Đức Giêsu đã biết rõ Giuđa nghĩ gì, tính toán ra sao, và sắp sửa làm gì. Thánh Ý Chúa Cha rất nhiệm mầu. Thế nhưng, có người lập luận rằng “quỷ sứ không được cứu độ”. Giuđa bị gọi là quỷ sứ, Phêrô bị gọi là satan, mà quỷ sứ và satan không hề khác nhau. Tại sao satan được cứu độ mà quỷ sứ lại không được? Có gì khác nhau? Đó là lòng sám hối chân thành. Tuy nhiên, chẳng ai dám phán xét, cũng chằng ai xứng đáng mà có quyền kết án ai. Đừng chỉ “săm soi” một vài khía cạnh nào đó rồi xét người và phỏng đoán theo ý mình. Cứ tự ném đá mình thì hơn. Tại sao Tội Nguyên Tổ được Giáo hội gọi là Tội Hồng Phúc? Lòng Chúa Thương Xót lớn hơn mọi tội lỗi của cả nhân loại kia mà? Chỉ có Thiên Chúa mới đủ tư cách và có quyền định đoạt.

Đức Giêsu Kitô ngự đến nhân danh Thiên Chúa, bởi Thiên Chúa mà đến, và Ngài sắp đến lúc trở về cùng Thiên Chúa, về nơi Ngài đã xuất phát. Do đó, trong Dạ Tiệc Vượt Qua, Ngài đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Ngài đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau. Chắc hẳn môn đệ nào cũng ngạc nhiên vô cùng khi thấy Sư Phụ hành động “kỳ lạ nhất thế gian”, chẳng ai lại “ngược đời” như vậy.

Vì thế, khi Ngài đến chỗ ông Simôn Phêrô, ông liền thưa: “Thưa Thầy! Thầy mà lại rửa chân cho con sao?” (Ga 13:6). Không hề có bề trên nào dám làm chuyện “trái khoáy” và “động trời” như vậy. Nghe Phêrô nói, Đức Giêsu ôn tồn nói: “Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu” (Ga 13:7). Ông Phêrô không thể hiểu thấu nên lại thưa: “Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu!” (Ga 13:8a). Đức Giêsu đáp: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy” (Ga 13:8b). Nghe Thầy nói “không được chung phần” thì ông Phêrô hoảng hồn, vội vàng thưa ngay: “Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân, mà cả tay và đầu con nữa” (Ga 13:9). Nhưng Đức Giêsu bảo ông: “Ai đã tắm rồi thì không cần phải rửa nữa; toàn thân người ấy đã sạch. Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!” (Ga 13:10). Ông Phêrô cụt hứng, lạ ghê đi! Rõ ràng Ý CHÚA HOÀN TOÀN KHÁC HẲN Ý LOÀI NGƯỜI, không thấy lạ mới là... chuyện lạ. Ngài rất thâm ý nên mới nói: “Không phải tất cả anh em đều sạch”. Chỉ một tính từ “sạch” nhưng mang hai ý nghĩa khác nhau.

Sau khi rửa chân cho các môn đệ xong, Ngài mặc áo vào, về chỗ và nói: “Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không?” (Ga 13:11). Hỏi vậy thôi, chứ Ngài biết tỏng là chẳng ai hiểu, vì ông nào cũng “mắt chữ O và miệng chữ A”, ai cũng cứ như trời trồng vậy. Thấy thế, Chúa Giêsu nói luôn: “Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13:13-15). Một lời khuyên, một lời nhắc nhớ, cũng là một quy luật, một mệnh lệnh.

Vô cùng lạ lùng. Là Thầy mà Đức Giêsu không ngại rửa chân cho đệ tử, thế thì chắc chắn đệ tử không thể không rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho đệ tử để đệ tử cũng làm như Thầy đã làm cho đệ tử. Lời nói có thể chuyển lay, gương bày đủ sức mạnh lôi kéo. Hành động cụ thể đó là Luật Yêu của Chúa. Luật nhẹ nhàng mà khó thực hiện, lời giản dị mà thâm thúy. Đó cũng là điều chúng ta phải suy nghĩ và chấn chỉnh, nhất là vì Chúa đã làm gương, làm vì ý muốn và khiêm nhường chứ không thể miễn cưỡng.

Phàm ngôn mà vẫn kỳ diệu, cách riêng về chữ Y trong Việt ngữ. Chữ Yêu bắt đầu bằng mẫu tự Y có hình “ngã ba”, nghĩa là có 3 hướng: Hướng lên tới Chúa, hướng đến với tha nhân, và hướng về chính mình. Yêu Chúa hết linh hồn và hết trí khôn, yêu người như chính mình, và chỉ yêu mình ít thôi – không được yêu mình thái quá (tự ái là yêu mình thái quá, ích kỷ, vị kỷ). Yêu có những hệ lụy quan yếu. Yêu là điều luôn có mối liên kết quan trọng: Cần thiết → thiết tha → tha thứ. Đó là chu-trình-yêu. Và một hệ lụy khác lại phát sinh: YÊU thì phải KÍNH, KÍNH thì phải NỂ, NỂ thì phải TRỌNG, TRỌNG thì phải VỌNG (mong), MONG thì thấy NHỚ, NHỚ nghĩa là YÊU. Đó là vòng-tròn-yêu bắt đầu và kết thúc bằng động từ YÊU. Chúa nhớ chúng ta và chúng ta cũng phải nhớ Chúa, mà NHỚ NGÀI thì PHẢI THỰC THI THÁNH Ý NGÀI. Thật tuyệt vời biết bao!

Tương tự, khi nói về tình nghĩa gia đình, chúng ta áp dụng danh từ kép “hiếu đễ”. HIẾU thì phải ĐỄ (nhường), NHƯỜNG thì phải NHỊN. Nhờ đó mà “trong ấm, ngoài êm”, tạo nên “tổ ấm”, tạo nên hạnh phúc gia đình. Xã hội cũng vậy. Cộng đoàn cũng thế. Nói chung, tất cả tóm gọn trong một chữ YÊU. Biết thương yêu cũng chính là biết thương xót. Và đó là điều Chúa Giêsu mong muốn nơi những người mang danh Kitô hữu.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, Đấng giàu Lòng Thương Xót, xin đổi mới trái tim của chúng con càng ngày càng tăng lượng “máu yêu” để có thể nên giống Ngài hơn. Xin giúp chúng con biết yêu mến Ngài qua việc yêu thương đồng loại, bất kỳ ai, đồng thời cũng dám sống và hành động “ngược đời” như Ngài trong mọi hoàn cảnh. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị cùng với Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần, đến muôn đời. Amen.

TRẦM THIÊN THU

ĐỈNH CAO CỦA MẦU NHIỆM CỨU ĐỘ LÀ TÌNH YÊU

Trong cuộc sống, nơi các gia đình, nhất là văn phong của Việt Nam, chúng ta rất coi trọng bữa ăn. Nơi bữa ăn, niềm vui, nỗi buồn, thành công hay thất bại, thường hay được giải quyết. Có những bữa ăn để chia tay; có những bữa ăn để lên đường. Chia tay hoặc lên đường thường hay để lại nhiều kỷ niệm nơi người đi và kẻ ở.

Hôm nay, Đức Giêsu quy tụ các Tông đồ là những người thân tín với Ngài trong suốt chặng đường rong ruổi loan báo Tin Mừng. Ngài quy tụ họ, để trao lại cho họ một tặng phẩm thần linh là Bí tích Thánh Thể và truyền cho các ông hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Ngài. Qua đó, như một sự hiện hữu sau khi chết, để khi còn sống, Đức Giêsu ở cùng với các ông thế nào, thì ít ngày nữa thôi, Ngài cũng hiện diện và ở lại với các ông cách vô hình nhưng trọn vẹn nơi Bí tích cao trọng là chính Thánh Thể Ngài. Mặt khác, qua bữa tiệc này, phần cuối cùng của bữa tiệc, Đức Giêsu hành động và  trăng trối những lời tâm huyết để xây dựng cộng đoàn Giáo Hội đó là: “luật yêu thương”.

Một tặng phẩm cao quý được trao tặng

Nếu trong cuộc sống, hai người yêu nhau, họ thường có những lời lẽ chân tình, ấm áp để thể hiện tình yêu của mình cho người mình yêu. Khi đi xa, người ta hay trao tặng cho nhau những kỷ vật trân quý, để dù xa mặt chứ lòng thì không. Qua món quà đó, với người đón nhận thì tặng vật đó không chỉ đơn thuần là một kỷ niệm, nhưng nó còn là sự hiện hữu của chính người tặng quà.

Cũng vậy, khi Đức Giêsu biết “giờ” của mình sắp trở về với Thiên Chúa Cha, nên Ngài đã yêu thương họ đến cùng khi trao ban chính thân mình làm của nuôi sống môn sinh.

Chiều hôm nay, chúng ta kỷ niệm việc Đức Giêsu lập Bí tích Thánh Thể. Đây là Bí tích cao trọng nhất trong 7 Bí tích. Cao trọng bởi vì qua Bí tích này, Đức Giêsu hiến dâng thân mình làm của  ăn của uống để nuôi sống nhân loại và ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Ngài yêu thương và yêu hết mình. Yêu đến nỗi bằng lòng chịu chết để miễn sao người mình yêu được hạnh phúc.

Thật vậy, Ngài đã trao ban chính Thân Mình làm bảo vật, để mỗi khi các Tông đồ cũng như những người tin, cử hành và tưởng nhớ, thì Ngài hiện diện cách bản thể hữu hình nơi mầu nhiệm cử hành. Khi đó, Đức Giêsu trở nên đồng hình đồng dạng với người đón nhận, để từ đây, trong ta có Chúa và trong Chúa có ta. Ôi, còn gì cao quý và hạnh phúc cho bằng ta được thông phần vào bản tính Thiên Chúa với Đấng là Thiên Chúa nhưng lại chia sẻ thân phận con người với chúng ta!

Lời cầu nguyện của Đức Giêsu với Chúa Cha làm toát lên đặc tính kỳ diệu này:“ ... như, lạy Cha, Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con” (Ga 17,21). Giáo Hội tiếp diễn ý nghĩa hiệp thông với mọi thành phần khi đã liên kết với Đức Giêsu, qua Kinh Tiền Tụng Thánh Thể: “Chúng con nài xin Chúa cho chúng con khi thông phần Mình và Máu Đức Kitô, được quy tụ nên một nhờ Chúa Thánh Thần”. 

Qua Bí tích này, mỗi người được hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa thông qua bản thể Đức Giêsu trong Bí tích Thánh Thể, đồng thời cũng được liên kết chặt chẽ với nhau trong cùng một thân thể.

Một dấu tích sống động được tiếp diễn

Sau khi Chúa Giêsu thiết lập Bí tích Thánh Thể, ngài đã thiết lập Bí tích Truyền Chức liền sau đó như một sự liên hệ, liền mạch và mật thiết với nhau. Đúng thế, không thể có Thánh Thể nếu không có người cử hành Thánh Thể. Vì thế, Đức Giêsu đã trao ban thừa tác vụ đặc biệt cho các Tông đồ, để sau này, các ông sẽ đảm trách những việc làm như Đức Giêsu vừa làm cho đến ngày tận thế.

Thoạt mới nghe, chúng ta dễ tưởng lầm là Bí tích này chỉ có liên hệ hay dành riêng cho các linh mục? Nhưng không! Bí tích này liên hệ chặt chẽ với cộng đoàn, bởi vì Bí tích này thuộc về nhóm Bí tích xây dựng cộng đoàn.

Thật thế, chức vụ linh mục không phải cho bản thân mình, vì các ngài không thể tha tội cho mình, các ngài cũng không thể ban phát các Bí tích cho mình. Vì thế, linh mục là của mọi người, cho mọi người và vì mọi người.

Nếu Đức Giêsu trước kia đã đến để cho con chiên được sống dồi dào, thì ngày nay các linh mục cũng được trao ban  trách vụ như thế. Ôi huyền nhiệm và cao quý vô lường! Qua Bí tích Truyền Chức, Đức Giêsu hiện diện cách trực tiếp khi các linh mục cử hành phụng vụ trong vai trò đại diện cho Đức Giêsu là Đầu của thân thể. Và, như thế, mỗi người chúng ta luôn được các ngài chăm sóc, nên không bị rơi vào tình cảnh bơ vơ, mồ côi vì không người chăn dắt. Các ngài sẽ thay mặt Chúa, thi hành việc của Chúa trong vai trò lãnh đạo, phục vụ và thánh hóa vì tình yêu.

Một lời trăng trối tâm huyết muôn đời nhớ mãi

Cũng chiều hôm nay, mỗi chúng ta quây quần nơi đây, để nghe đọc lại di ngôn và lệnh truyền của Đức Giêsu về tình yêu. Lệnh truyền này mang tính khẩn trọng, người môn đệ phải có thái độ mau mắn thi hành. Vì thế, đòi hỏi người môn đệ một sự bất khả từ, bởi lẽ đây là điểm sáng, là cốt lõi, là bản chất thiết yếu của người mang danh Đức Kitô trong mình.

Thật vậy, Đức Giêsu không chỉ trao ban chính Thân Mình để nuôi sống nhân loại, mà Ngài còn dạy cho các Tông đồ bài học về tình yêu, để đưa các ông vào qũy đạo của chính Ngài là “yêu và yêu đến cùng”.

Ngài nói: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13, 34). Yêu như Thầy là yêu như thế nào? Thưa yêu như Thầy chính là trở thành người tôi tớ phục vụ, là chấp nhận chết cho người khác được sống. Không những dạy các ông bằng lời, mà Ngài còn làm gương cho các ông noi theo. Vì thế, ngay lập tức, Ngài đứng lên, cởi áo choàng, thắt lưng, lấy nước rửa chân cho từng Tông đồ trước sự hết sức ngỡ ngàng của các ông. Ngỡ ngàng là phải, vì hành vi rửa chân là việc làm của người nô lệ dành cho ông chủ. Nhưng hôm nay, Đức Giêsu đã làm đảo lộn vai trò và vị trí khi tự làm những việc dành cho người hầu hạ, và các Tông đồ trở nên những ông chủ.

Sau khi đã rửa chân cho các ông, Đức Giêsu nói tiếp: “Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13, 14-15). Qua hành động rửa chân cho các Tông đồ, Đức Giêsu để lại cho các ông bài học về đức khiêm nhường và phục vụ. Tuy nhiên, để thực hiện được hai nhân đức này thì cần phải có tình yêu làm động lực.

Tình yêu thương được hiện lên như một ngọn hải đăng giữa biển khơi tăm tối, giúp cho mọi người nhận ra đường để đi và đi đến nơi an toàn. Vì thế Đức Giêsu đã dạy cho các ông biết trước viễn cảnh trong tương lai khi nói: “... mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau" (Ga 13, 35).

Sống linh đạo Thánh Thể và thực hiện lời trăng trối của Đức Giêsu

Thánh Phaolô nói: “Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết”  (1 Cr 11,26).

Là người kitô hữu, chúng ta tin Chúa, yêu Chúa và đều mong muốn được ơn cứu độ, thì không có lẽ gì chúng ta không sống linh đạo Bí tích này.

Nếu muôn ngàn hạt lúa kết thành tấm bánh, bao trái nho ép thành chén rượu, tượng trưng cho sự hiệp nhất của con cái Chúa, thì mỗi người chúng ta cũng phải hiệp nhất với nhau như vậy.

Muốn được như thế, tinh thần sống mầu nhiệm tự hủy của hạt lúa, trái nho luôn được mời gọi và thôi thúc thi hành.

Trong đời sống gia đình, người chồng phải là người chồng mẫu mực, sẵn sàng hy sinh gánh vác vì tình yêu với vợ và các con. Người vợ hãy hết lòng lo cho con cái, chăm lo cho chồng và con tử tế. Con cái biết ngoan ngoãn nghe lời cha mẹ... Làm được như thế, ấy là chúng ta đang thực hiện di ngôn của Đức Giêsu trong tinh thần hy sinh và phục vụ.

Nếu không yêu thương nhau, thì chẳng khác chi hạt lúa mì trơ trọi một mình, không sinh hoa trái. Nhưng yêu thương những người lân cận với mình thôi thì chưa đủ, mà phải yêu thương hết mọi người như Đức Giêsu đã yêu. Ngài đã không loại trừ Giuđa là kẻ rồi đây sẽ bán mình; không bỏ lại Phêrô là người sẽ thề sống thề chết không biết mình; không lên án và trách móc những người hại mình, mà: “Lạy Chúa, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34)

Mong sao sứ điệp Lời Chúa hôm nay luôn ở bên tai, qua hành động và trong trái tim của chúng ta, để chúng ta yêu và yêu không giới hạn như Đức Giêsu.  

Lạy Chúa Giêsu, chúng con xin tạ ơn Chúa đã để lại cho chúng con Bí tích kỳ diệu là chính Thánh Thể Chúa làm của ăn của uống cho mỗi chúng con. Xin cho chúng con biết yêu mến, tin tưởng và mau mắn loan truyền cho tới khi Chúa đến trong vinh quang. Xin cũng cho mọi suy nghĩ và hành động của chúng con được tình yêu làm căn cốt và thúc đẩy, để như Chúa, chúng con sẽ yêu rồi mới làm. Amen.

Tu sĩ: Giuse – Vinh Sơn Ngọc Biển, S.S.P.

GIÁ TRỊ CỦA MỘT CÁI CHẾT

Nói đến thánh giá, chúng ta hay nghĩ rằng, thánh giá chính là cây gỗ đã từng treo Chúa trên đồi Calvariô. Hiểu như thế là đúng, nhưng chưa đủ. Tuân phục thánh ý Chúa Cha, Chúa Kitô chấp nhận cây thập giá đau thương bằng cả một hành trình của chính sự sống mình. Bởi vậy, ta có thể nói, Chúa Kitô vác thập giá suốt cả cuộc đời dương thế của Người. Chặng đường đau khổ để đi vào tử nạn chỉ là đỉnh điểm của cây thập giá cuộc đời của Người mà thôi.

Nhìn vào thập giá Chúa Kitô, người ta tự hỏi: Điều gì đã làm cho cái chết của Chúa Kitô có sức tẩy xóa tội lỗi loài người?

Khi phạm tội, dù là bất cứ tội nào, dưới bất cứ hình thức nào, tội của loài người luôn luôn quy về một thứ tội kinh khủng nhất: chống đối chính Thiên Chúa. Chống lại Chúa của mình, loài người cũng chính là kẻ kiêu ngạo. Hành vi tội ác ấy là hành vi Thiên Chúa cấm. Nhưng Ađam ngày xưa đã khai màu cho tội bằng hành vi chống đối và kiêu ngạo ấy. Từ đó, dòng dõi Ađam, một khi phạm tội, đều rập khuôn tội Ađam.

Một điều rất đỗi lạ lùng là, trái ngược hoàn toàn tội ác của loài người, lại được diễn ra nơi cái chết của Chúa Kitô, đó là Thiên Chúa không hề oán hận loài người, lại một lòng yêu thương rất mực.

Chúa Kitô chết để minh chứng đến cực độ tình yêu mến hiến thân của Người (trái ngược hẳn lòng kiêu căng của Ađam) và sự tuân phục hoàn toàn theo thánh ý Thiên Chúa (điều mà Ađam không có được). Như vậy nhân đức của Chúa Kitô đã tẩy xóa tội ác. Lòng yêu mến và tuân phục của Ađam mới đến bù sự kiêu ngạo và bất tuân của Ađam cũ.

Đặc biệt, thánh Gioan và thánh Phaolô đã có câu trả lời hòng thỏa mãn câu hỏi: Điều gì đã làm cho cái chết của Chúa Kitô có sức tẩy xóa tội lỗi loài người? Đó chính là tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người. Lòng yêu thương đó lớn đến nỗi, Thiên Chúa chấp nhận hy sinh Người Con Một của mình: “Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà ta được sống” (1Ga 4, 9).

Bên cạnh tình yêu của Thiên Chúa Cha, còn là chính tình yêu của Chúa Kitô dành cho trần gian: “Như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta, và vì chúng ta, đã tự nộp mình làm hiến lễ, làm hy lễ dâng lên Thiên Chúa tựa hương thơm ngào ngạt” (Eph 5, 2).

Lòng vâng phục trong sự tự hủy chính mình đền tội thay cho trần gian của Chúa Kitô cũng được Tân Ước xem như giá trị cứu độ. Thánh Phaolô khẳng định rằng, sự bất tuân của Ađam đã làm cho chúng ta trở thành những người tội lỗi, đã được thay thế bằng sự tuân phục của Chúa Kitô, Ađam mới, khiến chúng ta nên công chính: “Vì một người duy nhất không vâng phục Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân, thì nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ thành người công chính” (Rm 5, 19).

Trong sự vâng phục từ bỏ chính mình, Chúa Kitô cũng cho ta thấy lòng khiêm hạ thẳm sâu của Người: “Người còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Phil 2, 8).

Thánh Gioan cũng cho ta thấy sức mạnh cứu độ, và chiến thắng satan của lòng vâng phục và yêu thương của Chúa Kitô: “Thủ lãnh thế gian đang đến. Đã hẳn, nó không làm gì được Thầy! Nhưng chuyện đó xảy ra là để cho thế gian biết rằng Thầy yêu mến Chúa Cha và làm đúng như Chúa Cha đã truyền cho Thầy” (Ga 14, 30-31).

Như vậy, với cái nhìn cứu độ, cái chết của Chúa Kitô không là sự thất bại. Ngược lại, bởi tình yêu, bởi lòng vâng phục, cái chết của Người là sự chiến thắng lớn. Người đã chiến thắng tội lỗi, chiến thắng lòng kiêu ngạo, chiến thắng sự bất tuân của loài người. Người chiến thắng chính kẻ là đầu mối của tội lỗi, của sự chết: ma quỷ.

Lm. JB. NGUYỄN MINH HÙNG

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan