SUY NIỆM CHÚA NHẬT 5 PHỤC SINH - A

08-05-2020 178 lượt xem

(Cv 6,1- 7; 1 Pr 2,4- 9; Ga 14,1- 12)

Mục Lục

ĐỪNG ĐỂ TÂM HỒN MÌNH XAO XUYẾN - ĐTC Phanxicô

TÌM MỘT LỐI ĐI - + ĐTGM Giuse Vũ Văn Thiên

CON ĐƯỜNG GIÊSU - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

HÀNH TRÌNH TIẾN VỀ ĐÍCH ĐIỂM - JM. Lam Thy ĐVD

TRONG CƠN ĐẠI HỌA, HÃY VỮNG TIN VÀO CHÚA - Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

“ĐỪNG XAO XUYẾN?” - Giuse Vinhsơn Ngọc Biển, SSP

LỜI CHÚA ƯỚC HẸN - Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

CỘNG ĐỒNG NHỮNG VIÊN ĐÁ SỐNG ĐỘNG - Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

VỮNG CHÍ - Trầm Thiên Thu

Thơ THẦY LÀ ĐƯỜNG - Thế Kiên Dominic

-----------------------------------------------------------------------------

ĐỪNG ĐỂ TÂM HỒN MÌNH XAO XUYẾN

ĐTC Phanxicô

Từ thư viện của tòa nhà Các Thánh Tông đồ, ĐTC Phanxicô đã cho những lời khuyên bằng cách nhắc lại Lời Chúa “Hãy tin vào Ta” và “Ta đi để chuẩn bị chỗ cho các ngươi” ở trên thiên đàng. Và sau khi đọc kinh Truyền Tin, ĐTC đã xuất hiện tại cửa sổ văn phòng và ban phép lành Tòa Thánh.

*****

Trước kinh Truyền Tin

Anh chị em thân mến, Chào buổi sáng khỏe mạnh.

Trong bài Tin Mừng Gioan (x. Ga 14:1-14), chúng ta đã nghe Chúa Giêsu nói lời “từ biệt” với các môn đệ sau bữa tiệc ly, vào lúc Người phải đối diện với cuộc khổ nạn. Trong khoảnh khắc buồn thảm đó, Chúa đã kêu lên: Anh em đừng để tâm hồn bị xao xuyến” (c.1). Chúa cũng nói như vậy với chúng ta trong thảm cảnh cuộc sống hàng ngày. Nhưng con người có thể làm gì để cho tâm hồn mình khỏi bị xao xuyến trong khi lòng mình lúc nào cũng lo lắng?

Chúa đã cho chúng ta hai toa thuốc: Toa thuốc thứ nhất là: “Hãy tin vào Ta” (c.1). Toa thuốc này có vẻ lý thuyết và trừu tượng. Nhưng đồng thời Chúa cũng muốn đưa ra cho chúng ta một vài ý tưởng rõ ràng và cụ thể. Người biết rằng trong cuộc sống, những lo âu và xúc động ghê gớm nhất đều phát sinh ra từ những cảm nghĩ mà mình không muốn, cảm nghĩ duy nhất và không biết nó đến từ đâu khi phải đối diện với những nghịch cảnh trước mắt. Cái khắc khoải vì bao nỗi khó khăn chồng chất, khó khăn này tiếp nối khó khăn khác mà con người tự mình không tài nào có thể lướt thắng được. Chúng ta cần phải có sự giúp đỡ của Thiên Chúa. Do đó, Chúa Giêsu đã khuyên chúng ta “Hãy Tin Vào Chúa”, nghĩa là đừng cậy vào sức riêng mình hãy cậy trông vào Chúa, bởi vì muốn thoát khỏi buồn sầu phải có lòng tin tưởng. Hãy “trao mạng” cho Chúa thì sẽ “lướt qua” hết mọi sự. Đó là cách vượt thoát khỏi ưu sầu lo lắng. Chúa Giêsu đã phục sinh và đang sống hiển nhiên bên cạnh chúng ta. Vì vậy, chúng ta có thể nói với Người: “Lạy Chúa Giêsu, con tin Chúa đã sống lại và đang ở bên cạnh con. Con tin Chúa đang lắng nghe con. Con phó thác vào Chúa những điều làm con rối loạn, xin Chúa săn sóc con. Con tin vào Chúa, con trao mạng con trong tay Chúa.”

Sau đó chúng ta sẽ dùng toa thuốc thứ hai. Toa thuốc này được diễn tả qua lời Chúa Giêsu: “Nhà của Cha Ta có nhiều phòng. […] Ta đi để sửa soạn chỗ cho các con” (c.2). Hãy để ý những điều mà Chúa Giêsu đã làm cho chúng ta: Chúa đã dành một chỗ cho chúng ta ở trên thiên đàng. Chúa đã kéo nhân loại đến với Người để sau khi chết họ sẽ có một nơi ở mới trên thiên đàng. Vì vậy Người ở đâu thì chúng ta cũng có thể ở đó. Đó là điều an ủi chắc chắn cho chúng ta, mỗi người chúng ta đều có một chỗ đã được dành trước. Tôi cũng có một chỗ. Mỗi người chúng ta đều có thể nói: tôi cũng có một chỗ. Chúng ta không thể chết mà không có một định mệnh sau đó. Chúa đang đợi chúng ta, chúng ta quí giá. Thiên Chúa yêu thương chúng ta, chúng ta là con cái Chúa. Người đang sửa soạn cho chúng ta một chỗ rất quí giá và huy hoàng, đó là Thiên Đàng. Đừng quên điều này: Nơi ở đang chờ chúng ta chính là Thiên Đàng. Đời sống hiện tại là tạm bợ; chúng ta sinh ra để được vào thiên đàng, để có đời sống vĩnh cửu, để sống muôn đời. Danh từ muôn đời là một cái gì chúng ta hiện nay không thể tưởng tượng nổi. Tuy nhiên, nó sẽ dễ hiểu nếu nghĩa đến vẻ tươi đẹp huy hoàng và hoàn toàn sung sướng, thực sự thông công với Thiên Chúa và với mọi người mà không còn nước mắt, oán hờn, chia rẽ, sầu bị và u buồn…

Nhưng làm sao để đạt được Thiên Đàng? Đường đi tới đó là gì? Đây là câu nói quyết định cho ngày hôm nay: “Ta là Đường” (c.6). Chúa Giêsu là đường đi tới thiên đàng. Đường này chính là sự liên đới với Chúa, bắt chước noi gương Người trong tình yêu thương, đi theo Người từng bước. Và, tôi là một Kitô hữu, anh cũng là một Kitô hữu, chúng ta đều là Kitô hữu, mỗi người chúng ta có thể tự hỏi: Tôi có thể đi theo đường nào?” Có những con đường không dẫn tới thiên đàng là những con đường của thế tục, của ích kỷ, của mưu toan quyền lực. Con đường của Chúa Giêsu thì khác, là đường của tình yêu khiêm tốn, của cầu nguyện, của hiền hòa, của tin tưởng và phục vụ tha nhân. Đó không phải là con đường siêu việt của tôi; nó là đường của Chúa Giêsu, vị thủ lãnh của đời tôi; nó đòi hỏi phải tiến bước mỗi ngày và nói với Chúa rằng: Lạy Chúa Giêsu, Chúa nghĩ gì về sự lựa chọn của con? Chúa có thể làm gì cho con trong tình trạng này, với những người này? Thật là hợp lý và đúng nghĩa để hỏi Chúa Giêsu ai là Đường, là người Chỉ Dẫn đến Thiên đàng. Chớ gì Đức Mẹ là Mẹ Thiên Quốc giúp chúng ta bước theo Chúa Giêsu là đấng mở cửa Thiên Đàng cho chúng ta.

Sau khi đọc kinh Truyền Tin

Anh chị em thân mến,

Lòng tôi hôm nay hướng về Âu châu và Phi châu. Về Âu châu, vì nhân kỷ niệm 50 năm tuyên ngôn Schuman ngày 9 tháng 5 năm 1950. Tuyên ngôn này đã đưa ra một tiến trình  hòa giải và giải quyết những bất công giữa các dân tộc ở Âu châu sau thế chiến II, và sau thời gian dài ổn định và hòa bình mà chúng ta có được ngày nay. Chớ gì tinh thần tuyên ngôn Schuman không bị thất bại khi khơi lại cho tất cả những người có trách nhiệm ở Liên Hiệp Âu Châu được kêu gọi trong tinh thần hòa giải và hợp tác để đối phó với những hậu quả kinh tế và xã hội gây nên bởi đại dịch.

Lòng tôi cũng hướng về Phi châu, bởi vì, 40 năm trước ngày 10 tháng 5 năm 1980 Đức Gioan Phaolô II, trong lần viếng thăm mục vụ đầu tiên tại lục địa này, đã lên tiếng về nỗi than khóc của dân chúng Sahel bị quá khổ cực vì nạn hạn hán. Hôm nay, tôi thành thật ca ngợi những người trẻ đã làm việc tận lực để bảo vệ môi trường đúng tinh thần “Laudato Si’ Tree”. Mục đích là trồng ít nhất một triệu cây ở vùng Sahel, để tạo thành một phần của bức “Tường Xanh Vĩ Đại của Phi châu”. Tôi hy vọng nhiều người sẽ theo gương đoàn kết của những người trẻ này.

Hôm nay là ngày Lễ của Mẹ (Mother’s Day) được mừng tại nhiều quốc gia, tôi xin được tưởng nhớ đến tất cả những người mẹ với lòng hiếu thảo và tri ân, xin phó thác họ cho Đức Maria che chở, Đức Mẹ Thiên Đàng của tất cả chúng ta. Tôi cũng xin gửi tâm tư ý nghĩ tôi đến tất cả những bà mẹ đã qua đời và bước vào một đời sống khác, đang đồng hành với chúng tôi từ thiên đàng. Mỗi người chúng ta hãy yên lặng một chút để nhớ đến mẹ của mình….

Tôi cầu chúc tất cả anh chị em một Chúa Nhật hạnh phúc. Cũng xin đừng quên cầu nguyện cho tôi. 

Chúc mọi người bữa ăn trưa ngon miệng và vui vẻ. Chào tạm biệt.

Vatican, May 10, 2020 16:50

Chuyển dịch: Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

Theo Zenit bản tiếng Anh của  Virginia M. Forrester

Nguồn: zenit.org/articles/regina-caeli-address-on-fifth-sunday-of-easter-jesus-says-let-not-y…

TÌM MỘT LỐI ĐI

+ ĐTGM Giuse Vũ Văn Thiên

Phụng vụ của mỗi Chúa nhật Phục sinh diễn tả một khía cạnh về sứ mạng của Chúa Giêsu: Chúa nhật thứ nhất, chúng ta cùng với Giáo Hội khẳng định: Đức Giêsu đã trỗi dậy từ cõi chết. Chúa nhật thứ hai, Chúa phục sinh đang hiện diện giữa chúng ta, mặc dù chúng ta không thấy Người. Chúa nhật thứ ba, Đấng Phục sinh đang đồng hành để khơi lên niềm hy vọng nơi những người bi quan, chán chường, cụ thể là hai môn đệ trên đường Emmaus. Chúa nhật thứ bốn, Đấng Phục sinh đang hướng dẫn chúng ta như một mục tử, để đưa chúng ta đến bến bờ của hạnh phúc. Chúa nhật hôm nay, tức là Chúa nhật thứ năm, Đức Giêsu là Đường, là Sự thật và là Sự sống.

Đường, Sự thật, Sự sống. Đó là ba yếu tố quan trọng làm nên căn bản của cuộc sống con người. Ai trong chúng ta cũng phải tìm cho mình một lối đi. Đó là định hướng cho một đời người. Ai trong chúng ta cũng phải sống theo sự thật, vì sự thật giải phóng con người và làm cho con người trở nên quang minh chính đại. Đi ngược lại với sự thật là sự dối trá mưu mô. Ai trong chúng ta cũng cần đến sự sống. Không chỉ sự sống phần xác mà còn sự sống thiêng liêng. Nhờ sự sống thiêng liêng mà chúng ta có tình yêu, hạnh phúc trong cuộc đời. Như thế, Đường, Sự thật và Sự sống làm nên vẻ đẹp của cuộc sống chúng ta và làm cho cuộc đời này có ý nghĩa.

“Thầy là Đường”. Trong lịch sử cũng như trong hiện tại, chưa có ai tuyên bố tự tin như thế. Hình ảnh con đường mang rất nhiều ý nghĩa đối với cuộc sống chúng ta.

Mỗi người, khi bắt đầu biết suy nghĩ, thì đã lo chọn cho mình một con đường, tức là một định hướng cho tương lai. Đó là định hướng về nghề nghiệp, về tình yêu, về phong cách sống, về nơi ăn chốn ở, về các mối quan hệ. Khi xác định được một con đường, họ cứ thế mà bước theo. Những chuyên viên tâm lý kết luận rằng, ở độ tuổi từ 25 đến 30 là lúc một người trẻ phải xác định được hướng đi cho tương lai cuộc đời. Nếu ở tuổi 30, tức tuổi “tam thập nhi lập” mà không trả lời được hỏi: đâu là định hướng tương lai của đời bạn? thì người đó khó mà có một tương lai tốt đẹp. Người ở tuổi 30 mà không chủ động chọn cho mình một định hướng, thì sẽ rơi vào lối mòn, bỏ mặc cho cuộc sống đưa đẩy về một tương lai vô định.

Con đường nào cũng có một đích điểm. Con đường Giêsu dẫn chúng ta đến với Chúa Cha. “Lòng anh em đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thày.... thày đi để dọn chỗ cho anh em”. Chúa Giêsu đã “đến đích” của con đường, tức là đến với Chúa Cha. Người đi trước để dọn chỗ cho chúng ta trong nhà Cha trên trời. Đích điểm của con đường này, cũng là đích điểm của cuộc đời người tín hữu, đó là hạnh phúc viên mãn nơi Ba Ngôi Thiên Chúa.

Con đường nào cũng nhiều thử thách gian nan. Người đi trên con đường có tên Giêsu phải chấp nhận qua cửa hẹp. Quả vậy, cửa rộng thênh thang thì dẫn tới hư hỏng. Chẳng có chiến thắng nào mà lại không trải qua đau khổ. Chẳng có vành nguyệt quế nào mà không qua tập luyện dày công. Con đường Giêsu cũng là con đường thập giá. Tuy vậy, thập giá không phải là chặng cuối của con đường. Chặng cuối của con đường là Phục sinh. Đi trên con đường Giêsu là chấp nhận những đề nghị của Người. với xác tín “qua thập giá tới phục sinh, qua đau khổ tới hạnh phúc”. Trong hành trình theo Chúa, có những khó khăn, hạn chế và ràng buộc. Tuy vậy, như “lửa thử vàng, gian nan thử đức”, những ràng buộc ấy giúp con người trưởng thành và tôi luyện để kiên trung vững vàng hơn.

Trong một cuộc hành trình, người bi quan chỉ nhận ra những vất vả gian nan; người lạc quan lại cảm nhận hạnh phúc dâng trào, vì mỗi bước đi là đang thu ngắn khoảng cách và gần tới đích. Hành trình theo Chúa cũng là hành trình Đức tin và hành trình cuộc đời. Chúa Phục sinh đang đồng hành với chúng ta trong cuộc hành trình này. Câu chuyện hai môn đệ trên đường Emmaus đã minh chứng cho chúng ta: vào lúc bi quan chán nản và đau thương nhất, Chúa đến để cùng đi và nâng đỡ chúng ta. Thánh Phaolô khuyên chúng ta hãy nhận ra Đức Giêsu là lý tưởng của chúng ta. Như viên đá bị thợ xây loại bỏ, Chúa Giêsu đã trở nên đá góc tường, là phiến đã chịu lực, đỡ nâng tòa nhà và bảo đảm cho sự vững chắc của tòa nhà ấy. Vì thế, hãy nhận ra vinh dự tuyệt vời mà Chúa ban cho chúng ta qua Bí tích Thanh tẩy. Bởi lẽ nhờ Bí tích này mà chúng ta được gọi là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa. Những khái niệm này thật lớn lao vĩ đại, làm cho chúng ta – những con người trần mắt thịt – trở nên như những thần linh (Bài đọc II).

Nhờ sự hiện diện của Đấng Phục sinh, số người tin Chúa không ngừng tăng trưởng. Giáo Hội từ thời sơ khai ấy cho đến hôm nay, vẫn đang cố gắng thể hiện hình ảnh của Đấng Phục sinh giữa đời (Bài đọc I). Không chỉ bảy người được trao sứ vụ phục vụ bàn (sau này được gọi là Phó tế), nhưng mỗi tín hữu đều được trao vinh dự loan báo Đức Giêsu.

“Lòng anh em đừng xao xuyến”.  Chúa nói với chúng ta như thế, trong lúc chúng ta đang hoang mang hoảng sợ vì đại dịch COVID-19. Quả thật, nếu vững tin vào Chúa thì còn có gì làm chúng ta lo sợ. Hãy vững tin vào Chúa. Hãy tìm một lối đi dẫn đưa tới bến bờ hạnh phúc. Lối đi ấy có tên là Giêsu. Người là  Đấng Cứu độ chúng ta. mục lục

CON ĐƯỜNG GIÊSU

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Trang Tin mừng hôm nay kể chuyện: hai thánh tông đồ Tôma và Philípphê đã hỏi Chúa hai câu và Chúa đã mạc khải hai chân lý đức tin: “Thầy là đường là sự thật và là sự sống, không ai đến được với Cha mà không qua Thầy”; “Ai thấy Thầy là thấy Cha; Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy”.

“Thầy là Đường, là sự Thật và là sự Sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy”. Không có một vị sáng lập tôn giáo nào đã dám công bố như Chúa Giêsu, bởi vì họ là con người và không thể làm được. Chỉ mình Chúa Giêsu, Thiên Chúa làm người, có uy lực và quyền năng để tha thứ tội lỗi và ban cho con người sự sống đời đời. Các Tông đồ có lẽ không hiểu ý nghĩa của câu tuyên bố này khi Chúa Giêsu nói, nhờ ánh sáng Phục sinh, các ông mới có thể nhận ra ý nghĩa chân lý này.

Chúa Giêsu chính là con đường, bởi vì Ngài là sự thật và là sự sống. Con đường này đưa đến Chúa Cha, và đây là con đường duy nhất bởi lẽ “không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,6). Chúa Giêsu mặc khải cho con người một "Sự Thật" quan trọng. Ngài cho con người biết ý định của Thiên Chúa: Thiên Chúa muốn cho con người không phải chết, nhưng được "Sống" muôn đời “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Đây là đích điểm của đời người, và cũng là đích điểm của Chương Trình Cứu Độ. Thiên Chúa dựng nên con người và phú bẩm trong tâm hồn con người khát vọng được sống đời đời. Làm sao con người đạt được đích điểm này? Con người không thể tự mình đạt tới nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị một Kế Hoạch Cứu Độ. Đây là "Đường" hay "Cách" mà Thiên Chúa cứu độ con người: Ngài cho Người Con Một xuống thế gian để gánh tội cho con người; Người Con này hoàn thành Kế Hoạch bằng cách chịu đau khổ, chịu chết, và sống lại để mang đến sự sống đời đời cho con người.

Là Đường dẫn người tin đi đến với Thiên Chúa nguồn mạch đích thực. Là Sự Thật nên ai đi trên con đường ấy sẽ không sai lầm. Từ đó, chúng ta tin tưởng Chúa là lẽ sống của đời mình nên những ai có lòng tin sẽ có sức sống trong hành trình đi theo Chúa. Bởi chỉ có Chúa Giêsu mới là Đấng ban sự sống và có lời ban sự sống.

Đặc tính của “con đường Giêsu” là vâng phục thực thi thánh ý Chúa Cha và yêu thương phục vụ nhân loại một cách khiêm nhường. “Con đường Giêsu” chính con người Đức Giêsu, để một khi “ở lại trong con người của Ngài,” chúng ta luôn có Ngài đồng hành và được hướng dẫn trên mọi nẻo đường đời. Ngoài Chúa Giêsu, không có đường nào khác đưa dẫn con người đến hạnh phúc đích thực. “Con đường Giêsu” có hai chiều gặp nhau trong con người của Ngài: một chiều Thiên Chúa đến gặp con người, một chiều con người hướng về và gặp gỡ Thiên Chúa. Trên “con đường Giêsu”, mọi biển cấm đều bị Ngài gỡ bỏ, mọi chướng ngại đều bị lấy đi, để trong Ngài, Thiên Chúa đến với con người, ở lại với con người và trong Ngài, con người được hưởng ân huệ của Thiên Chúa và hạnh phúc reo lên “Abba”, “Cha ơi!”, vui mừng được làm con Thiên Chúa.

Chúa Giêsu là con đường duy nhất giữa Thiên Chúa và con người.

Ngài là đường chân lý, một chân lý sống động, làm tiêu chuẩn hướng dẫn cho mọi cuộc đời. Đường chân lý ấy là toàn thể cuộc sống của Ngài, từ tư tưởng cho đến lời nói và việc làm. Tất cả đều hướng tới chân trời cứu độ.

Ngài là đường sự sống, là nguồn phát sinh mọi sự sống tự nhiên cũng như siêu nhiên. Sự sống phần xác trong công trình tạo dựng, cũng như sự sống phần hồn trong công trình cứu chuộc. Ngài đã chết để mọi người được sống và Ngài đã sống lại để mãi mãi mở ra một con đường dẫn vào cõi sống vĩnh cửu. Sự sống vật chất một ngày nào đó sẽ tan biến, nhưng sự sống mà Ngài trao ban sẽ là một sự sống trường tồn bất diệt. Sự sống vĩnh cửu là một ân ban: “ân huệ Thiên Chúa ban không, là sự sống đời đời trong Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta” (Rm 6,13).

Ngài là con đường dẫn tới nhà Cha, dẫn tới quê hương Nước Trời, bởi vì Chúa Cha và Ngài không thể tách lìa nhau. Chúa Cha ở trong Chúa Con và Chúa Con ở trong Chúa Cha. Vẫn là một tự ngàn xưa và mãi mãi là một đến muôn thuở muôn đời. Vì thế con đường mang tên Giêsu, tất nhiên sẽ dẫn tới địa chỉ Nhà Cha và ngược lại, muốn đến nhà Cha thì phải đi trên con đường Giêsu.

Đi trên Đường Giêsu là đi bằng cả tình yêu chan hòa phục vụ. Bài đọc thứ nhất là hình ảnh đẹp về một Giáo Hội trẻ đang cựa mình vươn vai tiến tới. Có những phân công khác biệt: kẻ phục vụ bàn thánh, người phục vụ bàn ăn; kẻ chuyên chăm rao giảng Lời Chúa, người chuyên lo hạnh phúc anh em. Nhưng vẫn là nhịp bước đồng hành. Có thể nói được rằng tình yêu và phục vụ là đôi chân của Giáo Hội lữ hành đặt bước chân mình trong dấu chân Chúa. Và cũng có thể hiểu được rằng cách nhìn “con người là con đường của Giáo Hội” (Gioan Phaolô II) chính là tốc độ mới của tình yêu chan hòa phục vụ trên Đường Giêsu hôm nay (x. ‘Với Cả Tâm Tình’ – ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống [+]).

Chúa Giêsu là đường dẫn đến sự sống thật. Ngài là sự thật đưa dẫn đến sự sống đời đời và sự sống thật là con đường kết hợp mật thiết với Đấng Tạo Thành. Chúa Giêsu trở thành trung tâm cốt lõi cho tất cả mọi suy tư tìm kiếm nguồn chân lý, sự thánh thiện và sự hoàn hảo tuyệt mỹ.

Cả cuộc đời của Chúa Cứu thế chính là con đường. Ngài dạy các môn đệ hãy bước vào, hãy cùng đi.Các tông đồ đi theo con đường Giêsu. Giáo Hội mọi thời đi theo con đường Giêsu.

Thánh Gioan Maria Vianey, người chỉ đường cho biết bao nhiêu con người biết đường đi về Nước Trời. Đi hành hương đến xứ Ars, ai cũng muốn tìm đến bức tượng nổi tiếng: Thánh Gioan Maria Vianney đứng hỏi đường về xứ Ars với em bé chăn chiên.

Bức tượng ghi dấu một câu chuyện bất hủ. Ngày đến nhận xứ Ars, Cha Vianney đã hỏi em bé chăn chiên một câu như một lời tiên tri linh ứng sau này: “Con hãy chỉ cho cha đường về xứ Ars, cha sẽ chỉ cho con đường về Nước Trời”. Câu này được ghi đậm nét dưới chân bức tượng như một lời nguyện ước của mọi khách hành hương. Ngày xưa, ngài đã chỉ dẫn cho giáo dân xứ Ars đã mất đức tin, bê tha rượu chè, cờ bạc, đàng điếm…được trở về với Chúa, thì ngày nay cũng xin chỉ dẫn cho chúng con biết đường ngay nẻo chính để sau này được trở về Nhà Cha trên trời. Nhìn đôi bàn tay Cha thánh, khách hành hương nghĩ về đôi bàn tay linh mục là đôi bàn tay Thiên Chúa dùng chuyển mang chúc lành bình an từ trời cao đến cho tâm hồn con người. Đôi bàn tay cùng với tâm hồn của linh mục là nhân chứng cho lòng khoan dung của Thiên Chúa giữa con người. Đôi bàn tay và môi miệng của linh mục là phương tiện Thiên Chúa dùng cho việc rao giảng văn hóa phúc âm nước Trời giữa trần gian.

Có một giai thoại rất lý thú về bức tượng này. Nhà điêu khắc Louis Castex (1866-1954) đã chọn anh Gabriel Matagrin (18 tuổi) làm mẫu tạc tượng cha xứ Ars và chọn Antoine Givre (10 tuổi) là con của mình để tạc em bé chăn chiên. Bức tượng rất có thần, ai đến chiêm ngưỡng cũng cảm thấy Cha Thánh hiển hiện sống động, một tay đặt trên vai em bé và một tay chỉ hướng về trời. Có lẽ nhờ lời bầu cử của Thánh nhân mà người đóng vai Cha Thánh, sau này đã đi tu, trở thành giám mục giáo phận Grenoble, cách Lyon 80km: Đức cha Gabriel Matagrin. Còn em bé cũng được Chúa gọi trở thành linh mục chính xứ St. Martin l’Argentière, Cha Antoine Give.

Lạy Chúa, Chúa là đường, là sự thật và là sự sống. Xin Chúa dẫn dắt chúng con theo đường chân lý của Chúa để chúng con được hưởng niềm vui sự sống muôn đời. Amen. mục lục

HÀNH TRÌNH TIẾN VỀ ĐÍCH ĐIỂM

JM. Lam Thy ĐVD

Cộng đoàn phục sinh Ki-tô hữu không chỉ là một đoàn chiên quây quần chung quanh Chúa Giê-su một cách thụ động, nhưng là cộng đoàn cùng với Người đồng hành về đích điểm. Người dẫn chúng ta đến đồng cỏ xanh và suối mát là nhà Cha, quê hương vĩnh cửu trên trời.  Đó là hành trình của một “giống nòi được tuyển chọn và hàng tư tế vương giả. Đó cũng là hành trình tiến đến mục đích rõ rệt và dưới sự dẫn dắt của vị lãnh đạo là Chúa Giê-su, Đấng đã nhắn nhủ chúng ta:  “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống”. Đặc biệt, hành trình ấy đặt nền móng trên mối tương quan giữa người tín hữu với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, như Chúa Giê-su đã khẳng định: “Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy” (Ga 14, 7).

Trong nhóm Mười Hai Tông đồ tiên khởi, ngoài một Giu-đa It-ca-ri-ốt chối Chúa phản Thầy, số còn lại tuy không đến độ quá quắt như Giu-đa, nhưng vẫn còn bán tín bán nghi (khi thì tin Thầy mình là Thiên Chúa, lúc lại ngờ là ma). Sau gần 3 năm theo Thầy, cho đến giờ phút cận kề cuộc khổ nạn của Thầy, nhưng vẫn chưa tin Thầy mình chính là Con Thiên Chúa, nên mới thắc mắc như kiểu Tô-ma và Phi-líp-phê trong bài Tin Mừng hôm nay (Ga 14, 1-12).   

Cái thắc mắc của Tô-ma ("Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường?") thì còn khả dĩ, vì Đức Giê-su dùng nghĩa bóng (nghĩa thiêng liêng) trong Lời dạy của Người, nhưng đến câu cuối thì Người lại nói: "Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi." (Ga 14, 4). Tuy nhiên, khi nghe Thầy trả lời thắc mắc của Tô-ma: "Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy. Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người."" (Ga 14, 6-7), mà Phi-lip-phê còn tiếp tục thưa với Đức Giê-su: "Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện.", thì quả thật là Phi-líp-phê đã bộc lộ rõ tâm trạng chưa tin tưởng Thầy mình là Con Thiên Chúa.    

Chính vì những thắc mắc của các Tông đồ bày tỏ tâm trạng nửa tin nửa ngờ như thế, nên Đức Ki-tô mới phải nhắc nhở (gần như quở trách): "Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Phi-líp-phê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: "Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha"? Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình". Và Người nhấn mạnh: "Anh em hãy tin Thầy: Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy; bằng không thì hãy tin vì công việc Thầy làm." (Ga 14, 9-11). Thật là chua xót khi Người Thầy phải nói với những môn đệ thân tín như vậy, và cũng chính điều này cho thấy Đức Giê-su hiểu rất rõ các môn đệ lúc nào cũng chỉ muốn được “thực mục sở thị” (trông thấy nhãn tiền) thì mới tin, thậm chí còn có cảnh được trông thấy nhãn tiền mà vẫn “không tin vào mắt mình” (chủ thuyết “hoài nghi”) nữa.   

Người Thầy ở liền bên, dạy bảo biết bao điều hay lẽ phải, và làm biết bao nhiêu việc chỉ có Thiên Chúa mới làm được, vậy mà nay phải nói với những người thân cận nhất của mình như thế đó. Đức Giê-su nói với Phi-lip-phê như vậy cũng chẳng khác nào nói: Nếu không tin vào lời nói thì hãy tin vào việc làm của Thầy, bởi chính tự bản chất việc làm đã nói lên một cách chắc chắn bản chất của người làm nên những việc ấy! Cứ thích được thực mục sở thị, thì hãy nhìn cho rõ những việc làm cụ thể (chữa trị bệnh tật, thậm chí còn cho người chết được sống lại nhãn tiền). Vậy mà chỉ một thời gian ngắn sau đó, lại vẫn còn cảnh vừa mới tuyên xưng Thầy mình là Thiên Chúa, đã vội vàng chối bỏ đến 3 lần trong một đêm. Quả thật “Đời là thế, thế thời phải thế!”, biết sao được! Chính vì vậy nên mới nói đó chính là những thử thách nghiệt ngã trên hành trình tìm kiếm một con đường – con đường dẫn tời chân lý vĩnh cửu. 

Hành trình là "Đường đi qua trong một chuyến đi dài" (từ nguyên). Đã gọi là hành trình tức là đi trên một con đường  sao lại còn nói “hành trình tìm kiếm một con đường”? Vấn đề là ở chỗ đó. Ví dụ: “Đường nào cũng tới La Mã”, tôi đang trên đường đi tìm con đường ngắn nhất để tới La Mã. Nói cách khác là đang trên một con đường đi tìm một con đường khác. Các thánh Tông đồ tiên khởi đi theo Thầy Giê-su cũng với mục đích tất yếu là đi tìm một con đường – con đường hạnh phúc theo cách hiểu riêng của mỗi người. Đáng lý thấy Thầy giảng dạy, nhất là chứng kiến tận mắt những việc Thầy làm, thì các ngài phải hiểu ra được Thầy mình là ai, vậy mà vẫn cứ bán tín bán nghi, để đến nỗi Thầy phải nói lên câu nói chua xót như vậy. Đi theo Thầy để tìm kiếm con đường hạnh phúc, mà không biết "Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống".(Ga 14, 6)! Vậy đó.

Tuy nhiên, cũng đừng vội trách người xưa, mà hãy nhìn vào con người thời nay mà xem. Không tin Lời Thầy, không tin cả việc làm của Thầy, coi thường Thầy đến độ cho rằng "Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi? "(Ga 6, 60). Đó cũng chỉ là thứ  “Gần chùa, gọi Bụt bằng anh” (tục ngữ VN) mà thôi! Cũng bởi vì Thầy sống một cách khiêm nhường quá, thân tình quá, bao dung quá. Thầy không coi học trò là tôi tớ mà là bạn hữu, Thầy không đến để được phục vụ mà là để phục vụ và thậm chí còn hiến dâng cả mạng sống mình làm giá chuộc học trò, cứu độ nhân loại. Thầy là Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa thật mà lại quỳ xuống rửa chân cho học trò, rồi còn dạy "ai tát con má trái thì hãy đưa má phải cho họ tát tiếp". Không, nếu thật sự Thầy là Thiên Chúa thì Thầy không thể quá bình thường (đến độ gần như tầm thường) như vậy được. Vì thế mới đi nghe hết thầy bói này đến thày tướng kia, để mò tìm hết đền này, miếu nọ, tìm những thần này, thần khác, rồi cứ mải miết mê muội với những mộng tưởng con đường dẫn tới hạnh phúc. Hoá cho nên cũng chẳng lạ gì khi thấy vẫn còn quá nhiều người tin rằng con đường hạnh phúc là con đường vinh hoa phú quý, giàu sang danh vọng. 

Cuối cùng, thì lại phải nhắc đến vấn đề “Đức tin” – Đức tin và cuộc sống, đức tin trong cuộc sống. “Nếu không tin vào những lời nói của Thầy thì hãy tin vì những việc làm của Thầy” và tự đặt ra câu hỏi: Thầy đã làm những công vịêc ấy vì ai và để làm gì? Cái mục đích cuối cùng nhắm tới phải chăng là đem lại hạnh phúc, đem lại sự sống cho những kẻ tin? Vậy thì phải chăng Thầy chính là con đường hạnh phúc, con đường dẫn tới sự sống đích thực, mà những kẻ tin đang tìm kiếm? Và “Như thế, ta thấy được sự khác nhau do đức tin đem lại cho ta. Ai tin đều được biến đổi bởi tình yêu mà trái tim họ đã rộng mở chào đón bằng đức tin. Nhờ sự rộng mở chào đón tặng phẩm yêu thương nguyên thủy này, đời họ được mở rộng và được mở dài. “Không còn là tôi sống nữa,   nhưng là Chúa Ki-tô sống trong tôi” (Gl 2, 20). “Ước chi Chúa Ki-tô cư ngụ trong trái tim anh em qua đức tin” (Ep 3, 17).” (Thông điệp. “Ánh sáng Đức tin – Lumen Fidei”, số 21).

Ôi! Lạy Chúa! Những sự kiện nhãn tiền xảy ra ngay trong cuộc sống của con, mà con vẫn cứ bán tín bán nghi, lại đi tin vào vào những điều mơ hồ ảo tưởng. Rõ ràng là con đang đi trên một con đường, một hành trình dẫn về chân lý vĩnh cửu, dẫn tới hạnh phúc viên mãn, bởi luôn có Người Thầy Chí Thánh đồng hành, mà con vẫn u mê không nhận thức được. Cúi xin Chúa thương ban Thần Khí soi sáng cho con hiểu ra được và vững tin rằng chỉ có một con đường duy nhất dẫn con tới sự sống vĩnh cửu, đó là CON ĐƯỜNG SỐNG GIÊ-SU KI-TÔ. Chúng con cầu xin, nhờ Đưc Ki-tô Chúa chúng con. Amen. mục lục

TRONG CƠN ĐẠI HỌA, HÃY VỮNG TIN VÀO CHÚA

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

"Lòng các con đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy" (Ga 14, 1). Lời Chúa hôm nay như một tiếng chuông vang thức tỉnh niềm tin của cả nhân loại và trấn an thế giới đang sống trong hoảng sợ kinh hoàng do sự lây lan với tốc độ chóng mặt của virus Vũ Hán.

Hỏi: ai không hoảng sợ trước sự lây lan của virus corona và sự giết chóc của nó? Trong cơn lo âu, sợ hãi dịch bệnh nguy hiểm này, nhiều người trong chúng ta đặt câu hỏi “có Thiên Chúa không?” Nếu có thì tại sao Ngài lại để cơn dịch bệnh hoành hành tàn sát nhân loại? Nếu có thì tại sao con người tin tưởng, nài van, tha thiết khẩn cầu ngày đêm trong đau đớn và thậm chí có người sợ hãi thất vọng mà Chúa không can thiệp gì? Lòng người xao xuyến, đức tin bị thử thách. Giống như các môn đệ, chúng ta thấy đức tin của mình bị lung lay vì chẳng những cá nhân mình mà cả thế giới đều lo âu, sợ hãi. Sợ đói khổ, sợ chết. Lo cho bản thân, lo gia đình, người thân, ông bà cha mẹ và con cái.

Quả thật, cơn đại dịch xảy ra. Từ Trung quốc tới Mỹ, từ Ý tới Iran, từ Pháp tới Tây Ban Nha, từ Nga tới các nước khác... Hơn 200 quốc gia vất vả, lao đao chống chọi. Nỗi sợ hãi bao trùm thế giới. Người người đều bó buộc phải ở nhà, không ra đường; các công ty, xí nghiệp, hàng quán, hiệu buôn đóng cửa, trừ những gì thiết yếu cho đời sống. Xe cộ, máy bay, tàu lửa hầu như ngừng chạy… Điều đặc biệt nhất là nhiều nhà thờ không có thánh lễ, các chùa chiền không có những buổi tụ họp thuyết pháp, tụng kinh. Cơn đại dịch đã làm đảo lộn hoàn toàn đời sống xã hội, kinh tế và cả đời sống đạo.

Trong mấy tháng qua, cả thế giới đã, đang và vẫn còn kinh hồn bạt vía, trước cảnh vỡ trận của ngành y tế tại một số nơi trên thế giới, bệnh viện không còn chỗ, y bác sĩ phải chọn người mà chữa, kẻ chết ít người chôn…do đại dịch Covid-19. Sự kinh hoàng do lây nhiễm lan nhanh cộng thêm cú sốc bởi sự khởi phát đột ngột của nó. Nguồn gốc từ đâu chưa ai biết. Nguyên nhân lây nhiễm có lúc thấy lúc không, F1, F2, F3 thì biết, nhưng F0 lại chẳng hay, dẫn đến tình trạng  hoảng loạn, sợ hãi, giận dữ, buồn bã, bối rối và tuyệt vọng.

Lời Chúa hôm nay như một liều thuốc thần tiên giúp chúng ta bớt sợ hãi, an tâm, tin tưởng, phó thác và cậy trông vào Chúa. Lời ấy đã từng vang vọng bên tai các Tông đồ khi tình thầy trò chuẩn bị đôi ngả đôi nơi. Từ giã Thầy yêu quí, tâm trạng các môn đệ không khỏi "xuyến xao", vì họ hiểu rằng con đường Thầy đi qua sẽ là cái chết ; họ lo cho sự sống của chính mình, Thầy chết thì trò chắc gì sống. Thấu hiểu lòng trò, Thầy trấn an: "Lòng các con đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy" (Ga 14,1). Khi nói thế, Chúa Giêsu không chỉ quả quyết rằng cái chết không thể cầm giữ được Người nữa, Người còn cho các môn đệ biết Người sẽ làm một cuộc xuất hành với các ông để mở lối đi cho dân mới của Thiên Chúa.

Trước sự tấn công của virus Vũ Hán hung bạo, gây ra bao lo âu và sợ hãi. Tâm trạng con người hôm nay giống y như các môn đệ xưa, lo âu sợ chết, lo cho sự sống của chính mình. Chúng ta lo nghĩ không biết rồi sẽ ra sao! Chúa Giêsu mời gọi chúng ta: "Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy " (Ga 14, 1). Chúa là Thiên Chúa của Israel, Đấng đã cứu dân Ngài vượt qua Biển Đỏ, nay hãy tin vào Người, Người cũng sẽ cứu chúng ta vượt qua dòng nước của sự chết. Chúa: "là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống" (Ga 14,6). Ai bước đi trên đường Giêsu, thì sẽ được về cùng Chúa Cha, vì Người chính là đường đi. Không có con đường nào khác để về cùng Chúa Cha, để đạt tới mục cùng đích của kiếp người, ngoài con đường Giêsu, như Chúa Giêsu tuyên bố: "Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy" (Ga 14, 6).

Chúa Giêsu là Sự Thật, là Chân Lý; Nhờ Chúa Giêsu chúng ta biết rõ Thiên Chúa đích thực là ai và con người là ai, sinh ra ở trần gian để làm gì và chết rồi sẽ đi đâu. Người mặc khải cho chúng ta biết Thiên Chúa là Tình Yêu, ai yêu thương thì sẽ giống như Thiên Chúa.

Chúa Giêsu là Sự Sống; Người đến thế gian trao ban sự sống cho con người, để con người được sống và sống dồi dào (x. Ga 10,10). Người là Đấng cứu tinh, Người đến giải thoát chúng ta khỏi mọi lỗi âu lo, khỏi sự dữ, khỏi tội lỗi, nhất là khỏi chết đời đời.

"Thầy đi để dọn chỗ cho các con" (Ga 14,2). Người đi chuẩn bị cho mỗi người một chỗ, đích thân Người sẽ trở lại đón chúng ta đi. Chúa Giêsu đến thế gian ấp ủ trong lòng sự khắc khoải là một ngày nào đó đón được chúng ta về nhà "Cha của Người và cũng là Cha chúng ta, Thiên Chúa của Người cũng là Thiên Chúa của chúng ta" (Ga 20,17) để chia sẻ sự sống thần linh với Thiên Chúa và sẽ sống với Chúa Giêsu Ktiô trong cung lòng Chúa Cha.

Lạy Chúa, xin ban thêm đức tin cho chúng con. Xin cứu chữa và giải thoát chúng con khỏi xuyến xao, lo âu, sợ hãi và cái chết trong cơn đại dịch này.

Lạy Mẹ Maria, giữa bao nghịch cảnh của cuộc đời, xin giúp chúng con vững tin vào Chúa như Mẹ. Amen. mục lục

“ĐỪNG XAO XUYẾN?”

Giuse Vinhsơn Ngọc Biển, SSP

Trong buổi tĩnh tâm các linh mục quốc tế ngày 12.10.1998 tại thành phố Monterrey, nước Mexico, qua bài nói chuyện của đức cố Hồng Y Fx. Nguyễn Văn Thuận, ngài đã chỉ ra một số điểm sai xót của Đức Giêsu, một trong những điểm sai xót đó là những lời giảng dạy, hành động xem ra mâu thuẫn.

Ví dụ như: có lần, Ngài đưa ra lời mời gọi: phúc cho kẻ nghèo, kẻ phải đói, kẻ phải khóc, kẻ bị người ta oán ghét (x. Lc 6, 20-22); hay "ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy" (Lc 9, 24); hoặc làm sao có thể ví Nước Thiên Chúa, Nước của Ðấng toàn năng, vô tận với một hạt cải (x. Lc 13, 18-19); và điều mâu thuẫn lớn nhất chính là "Con Thiên Chúa, Ðấng hằng sống"; “Đấng công chính!" lại phải chấp nhận sự chết và chết nhục nhằn trên thập giá??? (x. Lc 23, 47).

Những mâu thuẫn kiểu như thế, hôm nay lại được Đức Giêsu cất lên khi căn dặn các môn đệ: “Anh em đừng xao xuyến!” (Ga 14,1). Phải chăng lời của Đức Giêsu nói với các môn đệ giờ này xem ra có vẻ không tâm lý, mâu thuẫn với hoàn cảnh hiện tại, bởi lẽ các ông rất buồn vì Thầy trò sắp phải xa nhau. Vậy, câu hỏi được đặt ra là chính Đấng đang nói: “Anh em đừng xao xuyến!” (Ga 14,1), Ngài có xao xuyến không? Và từ đó, như một hệ luận, chúng ta tin hay không tin vào lời nói của Đức Giêsu!

1. Sự xao xuyến của Đức Giêsu

Thực ra trong cuộc đời của Đức Giêsu, Ngài cũng đã nhiều lần xao xuyến, chẳng hạn như:

Nhìn niềm tin trong viễn cảnh tương lai, Đức Giêsu đã thốt lên: “Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18,8); rồi khi về Giêrusalem, Ngài cũng thốt lên lời than thở "Giêrusalem, Giêrusalem! [...] Ðã bao lần Ta muốn tập hợp con cái ngươi lại, như gà mẹ tập hợp gà con dưới cánh, mà các người không chịu” (Lc 13,34); hay trong bữa Tiệc Ly với các môn đệ, Ngài cũng trải qua nỗi xao xuyến thực sự, bởi vì chỉ còn một ít nữa thôi, Ngài sẽ từ biệt các môn đệ, sẽ bị bắt, do chính môn đệ thân tín của mình trao nộp, rồi Ngài cũng thấy trước được những đau khổ vì mình mà các ông phải chịu. Nỗi xao xuyến ấy bao trùm lên Thầy trò, khi kẻ đi người ở... Sự xao xuyến ấy càng tăng lên khi trong vườn Cây Dầu, Đức Giêsu cảm thấy sợ hãi, và Ngài đã than thở với các môn đệ: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức!” (Mc 14,34), và Ngài mướt mồ hôi máu. Sau đó, Ngài đã cầu nguyện tiếp: “Ápba, Cha ơi! Cha có thể làm được mọi sự, xin tha cho con khỏi uống chén này. Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mc 14, 36). Cuối cùng, nỗi xao xuyến này được dâng lên đến tột đỉnh trên Thánh Giá, khi cơn đau đớn thấu con tim, báo hiệu giờ hấp hối đã gần, Ngài đã lớn tiếng kêu lên Thiên Chúa Cha: “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?" (Mc 14, 34).

Như vậy, cả cuộc đời của Đức Giêsu đã trải qua những cơn xao xuyến. Thật ra, sự xao xuyến của Đức Giêsu cho thấy, Ngài vừa là Thiên Chúa và cũng là con người, nên những nỗi xao xuyến đó của Ngài như là con đường để dẫn đưa chúng ta là những người cũng xao xuyến đến sự sống đời đời.

Tại sao chúng ta lại xác tín điều đó, thưa, vì lời căn dặn của Ngài “Anh em đừng xao xuyến!” (Ga 14,1), là khả tín, đáng tin. Bởi vì sự xao xuyến này đã ngang qua cuộc đời của chính Đức Giêsu, và Ngài đã biến nó thành niềm hy vọng khi tin tưởng và tín thác nơi Thiên Chúa Cha là Đấng khơi nguồn và cùng đích của mọi sự.

2. Sự xao xuyến của các môn đệ

Sau Đức Giêsu, sự xao xuyến cũng không buông tha các môn đệ. Các ông xao xuyến là bởi vì trước khi nói những lời ly biệt, Đức Giêsu đã tiên báo Phêrô sẽ trối Thầy (x. Ga 13, 38); Giuđa thì bán Thầy (x. Ga 14, 21); các môn đệ sẽ bỏ chốn (x. Mt 26, 56). Như thế, các ông thấy trước những viễn cảnh đó sẽ xảy ra, nên các ông lo sợ cho giờ phút kinh hoàng này sẽ đến với Thầy mình và các ông đều bị liên lụy là lẽ tất yếu.

Nỗi xao xuyến của các ông còn là nỗi sợ cô đơn. Các ông đã bỏ mọi sự, vợ con, nhà cửa, sự nghiệp để đi theo, ấy vậy mà giờ đây các ông sắp phải chia tay Thầy của mình. Sự chia tay này theo lối hiểu của các ông chẳng khác gì “rắn mất đầu”; hay “tàu không người lái”. Vậy thì các ông sẽ đi đâu và về đâu đây???

Thêm một lý do nữa khiến các môn đệ xao xuyến, đó là: khi còn sống với các ông, Đức Giêsu hướng dẫn, dạy dỗ và dẫn dắt các ông từng ly từng tý, vậy Ngài sắp ra đi thì ai là người dẫn lối chỉ đường cho các ông?

Buồn sầu và xao xuyến của các môn đệ là lẽ thường tình nơi thân phận con người trước những điều không may, nguy hiểm, chia ly, từ biệt, rồi phải đối diện với chốn trần gian đầy tục lụy, thù hằn, thử thách và ngay cả cái chết như Thầy của mình.

Tuy nhiên, những sự xao xuyến đó của các ông đã được Đức Giêsu trấn an khi nói: “Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy” (Ga 14,1). Chỉ có niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa mới có thể giúp các ông vượt qua mọi gian nan, thử thách xảy đến trong cuộc sống trần gian; còn khi các ông xao xuyến không biết về đâu thì chính Ngài đã nói: “Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy sẽ trở lại và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14,3), rồi khi các ông xao xuyến không biết định hướng cho cuộc sống tương lai thì Đức Giêsu lại nói: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14, 6). Như vậy, qua lời trấn an của Đức Giêsu “Anh em đừng xao xuyến!” (Ga 14,1), Ngài muốn mặc khải cho các ông thấy rằng: quê hương họ ở trên trời (x. Pl 3, 19), mà Đức Giêsu sẽ là người đầu tiên trở về với nguồn cội, nơi mà từ đó được phát xuất ra để dọn chỗ cho họ.

3. Sự xao xuyến của con người ngày hôm nay

Trong thực tại cuộc sống, chúng ta thường gặp những cảnh ngộ nhiều lúc không được như lòng mong muốn. Tâm trạng này của mỗi chúng ta cũng chính là tâm trạng của các môn đệ khi xưa, nào là: quan điểm và thực trạng xã hội hoàn toàn xa lạ với đường lối của Thiên Chúa, của Tin Mừng; nào là ốm đau; bệnh tật; con cái hư hỏng; buôn bán không gặp thời; thất vọng vì những gương xấu trong cuộc đời; hay chính những chuyện tốt ta muốn làm mà cũng không được... Những sự xao xuyến ấy luôn luôn ở bên cạnh chúng ta, nó theo chúng ta như hình với bóng, vì thế, triết gia Martin Heideiger khi suy tư về con người, ông đã nói về sự xao xuyến này như sau: “Con người là một hữu thể bị ném ra cuộc đời, hiện hữu giới hạn trong thời gian, nghĩa là con người sống để mà chết. Và bởi con người sống và đi đến cái chết không thể tránh khỏi, nên con người mang nỗi khắc khoải khôn nguôi. Cái chết và nỗi khắc khoải được định nghĩa là thành tố làm nên con người hiện sinh. Đời người là như vậy. Chẳng ai làm người mà vô sự”.

Tuy nhiên, đối với người Kitô hữu, chúng ta có một niềm tin mạnh mẽ, đó là: đằng sau cái chết là sự sống vĩnh hằng. Niềm tin này hôm nay được Đức Giêsu mặc khải: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha của Thầy, có nhiều chỗ ở [...] Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy sẽ trở lại và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14, 1-3); hay lúc khác Đức Giêsu nói: “... tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết" (Ga 6, 40).

Như vậy, chết không phải là hết. Cuộc sống này chỉ là một sự chuyển tiếp mà thôi. Khi tin như thế, Chúng ta có quyền hy họng vào lời căn dặn, trấn an của Đức Giêsu: “Anh em đừng xao xuyến!” (Ga 14,1).

Lạy Chúa Giêsu, xin cho mỗi người chúng con không bị rơi vào tình trạng xao xuyến trước những điều bất trắc trong cuộc sống, xã hội và con người hôm nay, bởi xác tín rằng, quê hương chúng con ở trên trời, và mọi điều trái ý đó xảy đến như là một điều kiện cần cho được cứu rỗi. Có thế, chúng con hy vọng sẽ được vào nơi mà chính Chúa đã đi trước dọn đường và chuẩn bị cho chúng con. Amen. mục lục

LỜI CHÚA ƯỚC HẸN

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

 “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó”.

Khi thốt lên những lời như thế ngay trước lúc lìa xa môn đệ, Chúa Giêsu như muốn diễn tả tất cả nỗi lòng của Người. Đó là thứ tình cảm da diết, luyến nhớ, yêu thương… Một tình cảm rất con người. 

Chúa Giêsu sắp từ giã các môn đệ để đi về cùng Cha. Các môn đệ phải ở lại. Họ phải lìa xa Chúa cách hữu hình. Họ phải gánh trách nhiệm và cơ đồ mà Chúa trao. Sự lưu luyến làm cho mọi người trong cuộc đau lòng.

Vì thế, Chúa bọc lộ ước hẹn của Chúa: sẽ có ngày gặp lại. Đó là ngày Chúa trở lại để đoàn môn đệ được mang đến nơi tốt đẹp mà Chúa dọn sẵn và chờ đợi. Ước hẹn trở lại có sức xoa dịu niềm đau bằng viễn ảnh hạnh phúc ngày gặp lại. Họ cần được hứa hẹn điều tốt đẹp ngày Thầy trò đoàn tụ. 

Ước hẹn trở lại là diễn tả nỗi lòng gắn bó, nhung nhớ, yêu thương… Chúa ước hẹn tha thiết, như gởi gắm sự hiện diện của người đi cho người ở. 

Qua ước hẹn đó, Chúa tiếp tục củng cố sức mạnh để đoàn môn đệ có thể vượt qua mọi khó khăn, mọi thác ghềnh khi không còn Thầy bên cạnh.

Ước hẹn cũng là cách Chúa an ủi đoàn môn đệ để họ không quá u buồn, chán nản mà buông xuôi những trách nhiệm cần phải thực hiện, nhất là họ cần can đảm để xông vào công cuộc truyền giáo còn dang dở.

Lời ước hẹn ngay trước khi thật sự giã từ nhau là lời làm người ta khó quên nhất. Chắc chắn sẽ ghi khắc trong tim cả người đi lẫn người ở, để đau đáu nhớ về nhau, sống cạnh lòng nhau, dù thực tế xa cách ngàn trùng. 

Đó cũng là lời động viên giúp đoàn môn đệ thêm nghị lực vượt qua tình cảm chia cắt mà bước tiếp con đường Thầy đã hướng dẫn. Đó cũng là lời giải thích lý do và ý nghĩa của việc Chúa rời xa các môn đệ. 

Chúa biết, một khi lãnh nhận sứ mạng rao giảng Tin Mừng và làm chứng cho Chúa, các tông đồ và toàn Hội Thánh, không thể tránh khỏi những khó khăn xảy đến trong cuộc sống. 

Lời ước hẹn đó cũng dành cho mỗi chúng ta là những môn đệ trong thời đại mới. Ngày nay, chúng ta bằng lòng với sự hiện diện thiêng liêng của Chúa, nhất là sự hiện diện của Chúa nơi Thánh Thể, một sự hiện diện không thể kiểm chứng bằng giác quan, nhưng bằng lòng tin.

Câu chuyện tử đạo của thánh Giám mục Pôlycapô như tấm gương cho ta vững tin, giúp vượt qua mọi khó khăn, quyết đi đến cùng trong sự trung thành với ước hẹn của Chúa: mai này sẽ đến nơi mà Chúa đã chuẩn bị.

Năm 165 (sau Chúa Giáng Sinh) là thời gian đế quốc Rôma bách hại các Kitô hữu dữ dội. Thánh Giám mục Pôlycapô là đồ đệ của các tông đồ, nhất định không lẫn trốn, nhưng ở lại Rôma để an ủi các tín hữu.

Giám mục Pôlycapô bị bắt, nhiều lần bị buộc phải thề trung thành với hoàng đế Xêsarê và nói lời xúc phạm chối Chúa Kitô để được tha. 

Đức Cha Pôlycapô khẳng khái trả lời: "Tôi đã theo phục vụ Chúa từ bao năm nay, Chúa đã không làm gì hại tôi, làm sao tôi có thể nói lời xúc phạm đến Ngài là Vua và là Chúa của tôi được". 

Hiều lần hăm dọa bằng tra tấn, không thể khuất phục thánh nhân chối bỏ Chúa, kẻ hành quyền ra lệnh thiêu sống thánh Pôlycapô. 

Không run sợ, ngài dõng dạc nói: "Lửa trần gian này có thể đốt tôi trong vòng một giờ rồi tắt, nhưng lửa thiêu đốt những lời nói xúc phạm đến Thiên Chúa thì sẽ không bao giờ tắt. Tôi không sợ và không chối bỏ Chúa". 

Thật lạ lùng. Lửa không đốt ngài mà lại cuộn thành hình vòng cung bao bọc thánh nhân. Cuối cùng một người lính cầm gươm đâm thẳng vào ngực thánh Pôlycapô. Thánh nhân chết để làm chứng cho Chúa.

Chúng ta, đoàn môn đệ của Chúa Kitô hôm nay cũng đang trong thời gian lữ hành tiến về nơi mà Chúa “đã dọn sẵn”. Như các môn đệ xưa, như thánh Pôlycapô, chúng ta đặt hết niềm tin vào Chúa để luôn sống trong hy vọng về ngày hạnh phúc được Chúa cho ở cùng. 

Dù cuộc lữ hành có khó khăn thế nào, ta vẫn không đầu hàng, nhưng luôn hướng tương lai để sống tích cực, sống thánh thiện. Chính niềm tin vào Chúa soi sáng cho ta biết phương cách vượt qua mọi nỗi cheo leo trong đời. mục lục

CỘNG ĐỒNG NHỮNG VIÊN ĐÁ SỐNG ĐỘNG

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

Mầu nhiệm hiêp nhất với Chúa Kitô là trung điểm phụng vụ của Chúa Nhật V Phục Sinh này. Bài đọc I sách Tông đồ Công vụ (cv 6:1-7) cho chúng ta thấy sự khác biệt giữa nhiệm vụ của các Tông đồ trong cộng đồng Dân Chúa tiên khởi tùy theo sinh hoạt. Những người Hellenist không nhất thiết phải là người Do Thái xa quê hương nhớ cố quốc, mà là người Do Thái gốc Palestine nói tiếng Hy Lạp. Người Hebrew là người Do Thái gốc Palestine nói tiếng Do Thái hay tiếng Aramic và có thễ cũng nói cả tiếng Hy Lạp. Cả hai loại người này đều thuộc về cộng đồng Kitô giáo Do Thái ở Jerusalem. Sự sung khắc giữa họ đã làm thay đổi diện mạo của cộng đồng hầu giúp cho nhu cầu của cộng đồng được thực hiện một cách linh hoạt hơn. 

PHỤC VỤ LỜI CHÚA 

Nhiệm vụ chính của 12 Tông đồ (C.2-4) là “phục vụ Lời Chúa” gồm rao truyền Tin Mừng và giảng giải giáo huấn Chúa Giêsu. Đọc câu 2 lời các Tông đồ nói: “Chúng tôi bỏ việc rao giảng Lời Chúa mà lo đi giúp bàn thì không phải lẽ.” Một số nhà chú giải Kinh Thánh nghĩ rằng tiếng ‘giúp bàn’ ở đây không phải là phục vụ bàn ăn mà là giữ sổ sách phân phát thức ăn cho các thành viên của cộng đoàn. Theo yêu cầu của các Tông đồ, các đệ tử chọn Stephen là người có nhiều niềm tin và đầy ơn Chúa Thánh Thần cùng với các ông Philíp, Prochorus, Nicanor, Timon, Parmenas và Nicolaus” cả thảy là 7 người. Các môn đệ cầu nguyện rồi đặt tay lên họ” (c.5-6). Mục đích chính của đoạn này là để giới thiêu Stephen, một khuôn mặt nổi bật trong cộng đoàn, người đã giảng một bài dài và rồi chịu tử vì đạo đã được ghi lại ở đoạn 7 sách Công vụ Tông đồ. Sau khi Stephen và 6 người kia được tuyển chọn thì không thấy giới thiệu họ thi hành công tác như đã chỉ định (c.2-3). Đúng ra là có hai người là Stephen và Philip được giới thiệu là thầy giảng về sứ điệp Chúa Kitô. Stephen đứng đầu làm đại diện cho 7 đệ tử. Theo truyền thống thì đây là nguồn gốc công tác mục vụ của chức “phó tế”, dù sự phân biệt đặc biệt này không thấy ghi trong Công vụ Tông đồ.

Ngoài công tác bác ái, Stephen còn thi hành nhiệm vụ rao truyền Tin Mừng nơi dân của ông là dân Hellenists. Luca nhấn mạnh Stephen là người “đầy ân sủng và quyền năng”(c.8), đã nhân danh Chúa Giêsu cắt nghĩa luật Maisen và luật Thiên Chúa. Stephen đọc lại Cựu Ước dưới ánh sáng Đức Giêsu chịu chết và phục sinh. 

Một trong những bài học đầy uy dũng mà chúng ta học được ở Stephen là công tác bác ái không bao giờ được tách khỏi việc tuyên xưng niềm tin. Rõ ràng Stephen là một trong bảy vị được trao phó thi hành công tác bác ái. Vì bác ái không thể tách khỏi niềm tin, nên cùng với bác ái, Stephen đã tuyên xưng đức Kito chịu đóng đinh trong khi ông chịu tử vì đạo. Bác ái và tuyên xưng niềm tin luôn luôn là một. 

CHÚA KITÔ LÀ ĐÁ TẢNG GÓC TƯỜNG 

Bài đọc 2 thư 1 thánh Phêrô (1 Pr 2:4-9) đã trình bày một hình ảnh độc đáo về Đức Kitô. Người là đá tảng góc tường, là nền móng của lâu đài thiêng liêng của cộng đồng Kitô giáo (c.5). Đối với những ai không tin thì Đức Kitô là một trở ngại, là đá tảng làm người ta vấp ngã (c.8). Đức Kitô là “viên đá sống động” của “ngôi nhà thiêng liêng” cũng sẽ biến đổi chúng ta thành những “viên đá sống động” (c.5). Mỗi khi chúng ta tụ họp nhau lại trong Giáo Hội thì chúng ta -như là cộng đồng đức tin, những “viên đá sống động” của tòa nhà Thiên Chúa- sẽ được gọi là “tòa nhà thiêng liêng” thực sự mà Chúa Giêsu Kitô là “đá tảng góc tường”, trong đó “những của lễ thiêng liêng của Người dâng lên đã được Thiên Chúa chấp nhận” (c.6). 

CỘNG ĐỒNG NHỮNG VIÊN ĐÁ SỐNG ĐỘNG 

Trong một cuộc hành hương Đất Thánh, tôi được dịp thăm quang cảnh Capernaum nằm ở phía Tây Bắc biển Galilee, với sự hướng dẫn của một linh mục chuyên viên Kinh Thánh. Ngài giảng một bài tuyệt vời về “Bánh Hằng Sống” giữa những đổ nát hoang tàn của hội đường ở thế kỷ 3 tại trung tâm thành phố. Sau đó ngài dẫn chúng tôi qua những khu phố nhỏ hẹp nơi nhà của Đức Giêsu ở Galilee, chỉ cho chúng tôi cách người ta xây nhà ở trong thành phố bằng những viên đá nhỏ màu hơi đen. Họ không dùng vữa hồ để gắn những viên đá lại với nhau. Ngài nói người ta gọi những viên đá đó là “viên đá sống động”. Người ta sắp xếp, ghép, du di, cọ sát những viên đá đó với nhau làm sao cho thật khít khao một cách hoàn hảo. Đọc bài đọc này chúng tôi mường tượng y chang quang cảnh thực tế đó. Hình ảnh Giáo Hội ngày nay -cộng đồng những viên đá sống động- nhờ sự cọ sát với nhau, trở nên hơp nhất, hữu dụng và tạo thành toàn thể ngôi lầu đài. Chỉ khi chúng ta cọ sát liên hợp với nhau như vậy chúng ta mới học được đức bác ái thực sự và là cộng đồng đích thực. Chỉ khi chúng ta có khả năng lớn lên, phát triển, thay đổi và thích hợp, chúng ta mới thực sự sống  hài hòa với nhau một cách lâu dài bền vững. 

ĐỨC GIÊSU LÀ THẦY KẾ HOẠCH XÂY DỰNG 

Trong bài đọc 2, thánh Phêrô gợi ý “anh em là những viên đá sống động, hãy để cho Chúa dùng làm ngôi nhà thiêng liêng là những tư tế.” Chúng ta hiến dâng mình cho Thiên Chúa như những viên đá sống động, vậy ngôi nhà thiêng liêng đang được xây dựng là gì? Qua bài Tin Mừng hôm nay (Ga 14:1-12), thánh Gioan trình bày không phải cái nhà mà là lâu đài có nhiều phòng. Có nên nghĩ đó là “Nhà Cha” như thiên đàng và các phòng là nơi chờ đón chúng ta khi lìa trần để về đó ở không? Có lẽ đó cũng là một cách diễn nghĩa hay và sống động. Chúng ta nên để nó thấm nhập tâm hồn chúng ta, nhất là những lúc cảm thấy cô đơn và giao động như khi mất người mình yêu. Nhưng không nên giới hạn ý nghĩa này vào chuyện mất mát. 

Đức Giêsu không chỉ quan tâm về đời sau mà còn cả hiện tại. Trong bữa tiệc ly, Người đã nói với các môn đệ về “những chỗ ở” này. Người cũng nói về thời điểm ngay lúc bấy giờ. Các môn đệ và Giáo Hội sơ khai cần biết rõ họ có khả năng thi hành sứ mệnh và mục vụ của mình sau khi Đức Giêsu về với Cha người. Người nói “Đừng để tâm hồn mình bi giao động…vì trong nhà Cha ta có nhiều phòng ở”. Không phải một phòng mà rất nhiều! Chúa ra đi trước để chuẩn bị nhiều phòng cho chúng ta, cho cả những người “ngoài” cộng đồng Giáo Hội. Vào ngày của Người, Chúa Giêsu sẽ xuất hiện theo cách thức của Người để chuẩn bị một phòng cho tất cả mọi người, đặc biệt những ai không chuẩn bị phòng trước. Kế hoạch xây dựng lâu đài của Đức Giêsu là thiết lập một tòa nhà vĩ đại có nhiều phòng cho nhiều loại dân Chúa khác nhau. Các phòng này được xây dựng bằng những viên đá sống động. 

TIÊN TRI NGÀY CHÚA RA ĐI 

Trong mùa Phục Sinh, rất nhiều lần chúng ta được nghe lại lời Chúa Giêsu nói về sự ra đi của Người: Lên trời về cùng Chúa Cha. Trước tiên nơi bàn tiệc ly: “Khi Đức Giêsu biết giờ của người đã đến để rời thế gian về cùng Cha…Người biết rằng Cha người đã đặt tất cả mọi sự trong tay Người, và Người đến từ Thiên Chúa sẽ trở về với Thiên Chúa…” (Ga 13:1-3). Đức Giêsu biết cái chết của Người đã gần kề, nhưng Người còn nhìn xa hơn nữa và nói Người lên trời cùng Chúa Cha: “Bây giờ tthầy về với đấng đã sai thầy” (Ga 16:5); “Thầy về với Cha thầy, các con sẽ không nhìn thấy thầy nữa” (Ga 16:10). Lúc bấy giờ các môn đệ hoàn toàn không hiểu Chúa có ý nói gì mà quá huyền bí như vậy: “Thầy ra đi và thầy sẽ trở lại với các con”, rồi người lại thêm: “Nếu các con yêu mến thầy thì các con sẽ vui mừng vì thầy về cùng cha thầy, vì Cha thầy cao trọng hơn thầy” (Ga 14:28). Sau khi Chúa phục sinh, các môn đệ mới vỡ lẽ hiểu ra là Chúa nói tiên tri về việc Chúa Lên Trời. 

Câu Tôma hỏi Đức Giêsu: “Thưa thầy, chúng con không biết thầy đi đâu thì làm sao mà chuẩn bị đường đi?” diễn tả nỗi ưu tư của mỗi người chúng ta khi ý thức được trách nhiệm của mình về đời sống mà Thiên Chúa đã ban cho, sống làm sao cho phải đạo đẹp lòng Chúa. Khi Đức Giêsu xác định “Ta là Đường” tức là Người xác định phương hướng của Kitô giáo đồng thời của mỗi người chúng ta (Cv 9:2; 19:9,23; 22:4; 24:14,22). Trong Giáo Hội sơ khai, người Kitô hữu được gọi là “Người theo Đường”. 

NHỮNG THÁCH ĐỐ CỦA VIỆC LOAN TRUYỀN NIỀM TIN 

Dưới ánh sáng những bài đọc hôm nay, chúng ta thử coi lại tài liệu chuẩn bị (Lineamenta) cho Thượng Hội đồng các Giám mục họp vào tháng 10 năm 2012 ở Vatican về “Tân Phúc Âm Hóa trong viêc loan truyền Niềm Tin Kitô Giáo”, phần nói về “Những hoa trái của việc loan truyền Niềm Tin (#17)” 

“Mục đích của toàn thể tiến trình loan truyền niềm tin là biến Giáo Hội thành một cộng đồng chứng nhân của Phúc Âm. Đức Phaolô VI nói: “Giáo Hội là một cộng đồng các tín hữu, cộng đồng hy vọng sống và hiệp thông, công đồng tình yêu huynh đệ; Giáo Hội cần liên tục lắng nghe những điều mà Giáo Hội tin, những lý do để hy vọng, giới răn mới về tình yêu. Giáo Hội là dân Chúa đang ngụp lặn trong thế gian, thường bị lôi cuốn bới những thần tượng. Giáo Hội cần phải luôn luôn lắng nghe lời rao truyền những “công việc đầy quyền năng của Thiên Chúa” đã biến đổi Giáo Hội thành Chúa; Giáo Hội cần phải luôn luôn được Chúa kêu gọi đến với nhau và hiệp nhất. Tóm lại, việc đó có nghĩa là Giáo Hội cần được liên tục phúc âm hóa nếu Giáo Hội muốn giử được sư tươi mát, hăng say và sức mạnh để tuyên xưng Phúc Âm.” 

“Hoa trái của kế hoạch phúc âm hóa đang tiến hành được phổ quát hóa trong Giáo Hội như là dấu chỉ quyền năng ban sự sống của Phúc Âm, tạo một hình thức cụ thể để đáp ứng với những thách đố của thời đại chúng ta. Gia đình cần phải trở thành những dấu chỉ thực sự của tình yêu và chia sẻ, với khả năng để hy vọng theo như sự cởi mở của nó trong cuộc sống. Sức mạnh thì cần thiết để xây dựng cộng đồng có tinh thần toàn cầu thực sự và khả năng đối thoại với những tôn giáo khác. Can đảm cũng cần thiết để giữ vững sáng kiến về công bằng xã hội và tình đoàn kết đặt người nghèo khó vào trung tâm điểm của những ưu tư của Giáo Hội. Niềm vui cũng cần được hiển hiện hơn trong việc dâng hiến đời mình cho ơn gọi làm linh mục hay cuộc đời tận hiến. Giáo Hội chuyển đổi Niềm Tin của mình thành một Giáo Hội của “Tân Phúc Âm hóa” sẽ có khả năng trong mọi tình trạng chứng tỏ rằng Chúa Thánh Thần hướng dẫn Giáo Hội và biến đổi lịch sử của Giáo Hội, của cá nhân người Kito hữu và của toàn thể dân Chúa và nền văn hóa của họ.” 

ĐÔI LỜI KẾT: SUY NIỆM TRONG TUẦN 

Bác ái và tuyên xưng niềm tin luôn luôn đi đôi với nhau. Làm sao những cố gắng và hoạt động bác ái cũng như những chương trình công lý xã hội có thể giúp chúng ta cơ hội thực sự để tuyên xưng Đức Giêsu Kitô và sứ điệp của Người cho những người mà chúng ta giúp đỡ? 

Làm sao cộng đồng Kitô hữu lại là những “viên đá sống động”, những chỗ ở trong Giáo Hội có thể cung cấp những con người với một cảm nghiệm thiêng liêng được? Tới mức độ nào thì chương trình niềm tin của chúng ta có được một đối tượng khách quan không chỉ là liên kết thiêng liêng với sự thật Chúa Kitô mà còn kiến tạo một cảm nghiệm gặp gỡ cá nhân, hiệp thông và “sống” mầu nhiệm Chúa Kitô? 

Làm sao những toán bàn luận và lắng nghe Lời Chúa lại có thể trở thành khí cụ chung cho đời sống Kitô hữu trong cộng đồng chúng ta? Làm sao cộng đồng chúng ta có thể biểu hiện được trung tâm điểm của Bí Tích Thánh Thể (tôn kính và thờ lạy), rồi dựa vào đó sắp đặt cuộc sống và sinh hoạt cho cộng đồng? 

Những kết quả/hoa trái chính nào đạt được trong Giáo Hội chúng ta nhờ truyền bá niềm tin? Cá nhân trong cộng đồng Kitô giáo đã được chuẩn bị thế nào để nhận biết những hoa trái đó hầu bảo tồn và nuôi dưỡng chúng? Thiếu sót lớn nào mà chúng ta không thu lượm được?

Những trở ngại, gian nan và gương xấu nào cản trở việc loan truyền này? Cộng đồng đã học được gì trong những hoàn cảnh như vậy hầu rút ra những bài học thích hợp cho việc canh tân đời sống tinh thần và sứ mệnh của mình? mục lục

VỮNG CHÍ

Trầm Thiên Thu

Kiên định là một đức tính cần thiết tập luyện và duy trì trong cuộc sống, cả đời thường và tâm linh. Để xây dựng đức tính này, điểm cốt lõi là cần đặt ra mục đích và quyết tâm hoàn tất, bắt đầu bằng việc xác định ước muốn sống kiên định như thế nào và hướng tới mục đích đó. Dần dần, khi đã thực sự kiên định, hãy cố gắng duy trì động lực và tự có trách nhiệm với chính mình. Trong quá trình tập luyện tính kiên định, cũng rất có thể phải thay đổi suy nghĩ để luôn sống lạc quan và làm việc một cách hiệu quả.

Con đường nào cũng có những loại “chông gai” đặc trưng, không là thảm lụa. Vì thế, rõ ràng rất cần kiên định, nói chung là luôn phải tự khó với chính mình. Chúa Giêsu đã từng động viên: “Đừng xao xuyến!” (Ga 14:1; Ga 14:27) và Thánh Phêrô cũng khuyến khích như vậy. (1 Pr 3:14) Điều đó cũng có nghĩa là không hèn hoặc không sợ hãi. Muốn vậy thì phải can đảm, muốn can đảm thì phải mạnh mẽ, muốn mạnh mẽ thì phải cầu xin Thiên Chúa Ngôi Ba, Đấng ban sức mạnh – một trong các ơn của Chúa Thánh Thần.

Chúa Thánh Thần là Thần Khí, sống là nhờ thần khí: “Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì.” (Ga 6:63a) Lời Chúa Giêsu cũng là thần khí và là sự sống. (Ga 6:63b) Nhưng đôi khi người ta có thể ảo tưởng mà lầm lẫn, cái gì cũng bảo là “Ý Chúa.” Vì thế, Thánh Gioan Tông Đồ đã khuyên chúng ta PHẢI cảnh giác và đưa ra cách nhận biết: “Anh em ĐỪNG cứ thần khí nào cũng tin, nhưng hãy CÂN NHẮC các thần khí xem có phải bởi Thiên Chúa hay không, vì đã có NHIỀU NGÔN SỨ GIẢ lan tràn khắp thế gian. Căn cứ vào điều này, anh em nhận ra thần khí của Thiên Chúa: thần khí nào TUYÊN XƯNG Đức Giêsu Kitô là Đấng đã đến và trở nên người phàm thì thần khí ấy bởi Thiên Chúa; còn thần khí nào KHÔNG TUYÊN XƯNG Đức Giêsu thì không bởi Thiên Chúa, đó là thần khí của tên phản Kitô. Anh em đã nghe nói là nó đang tới, và HIỆN NAY nó ở trong thế gian rồi.” (1 Ga 4:1-3) Đơn giản mà nhiêu khê, dễ mà khó.

Quả thật, lời cảnh báo của Thánh Gioan rất đáng sợ. Chúng ta cũng đã và đang thấy nhiều thứ giả, trong đó cũng có đủ loại “người giả” – còn đáng sợ hơn các loại giả khác. Những điều tương tự cũng đã được Đức Mẹ nhiều lần tiên báo. Do đó, sự cảnh giác càng cần thiết và cấp bách hơn bao giờ hết, đặc biệt trong thế kỷ XXI đầy những khó khăn này, càng văn minh càng nhiêu khê. Thời nay mệnh danh là thời @ – mà đúng là cái chữ @ nó “vòng vo” rắc rối lắm, đôi khi giống như cứ loanh quanh trong mê cung, không biết lối ra. Và hơn bao giờ hết, người ta càng cần kiên định hơn.

Dù đời và đạo, cuộc sống luôn có nhiều thứ khiến chúng ta dao động, chia trí. Thật vậy, ma quỷ có thiên hình vạn trạng, nó len lỏi vào bất cứ nơi nào, thậm chí ma quỷ có thể cám dỗ người ta cảm thấy mình đạo đức và thánh thiện. Đó là dạng cám dỗ rất nguy hiểm, vì là dạng GIẢ DANH GIẢ NGHĨA. Thà rằng nó cám dỗ chúng ta khô khan, phạm tội, hoặc “quay lưng” lại với Chúa thì chúng ta dễ nhận biết mà tránh, đằng này nó lại làm cho chúng ta cảm thấy rất gần Chúa, thế mới đáng sợ, và chúng ta phải rất tỉnh thức. Đừng ảo tưởng, vì rất khó phân biệt, như Thánh Phaolô nói: “Lạ gì đâu! Vì chính Satan cũng đội lốt thiên thần sáng láng!” (2 Cr 11:14)

Có một người quen ở Mỹ cho biết rằng em gái của họ lấy chồng là Phật tử, người chồng này làm cho cô ta bỏ đạo Công giáo và nói xấu Công giáo đủ thứ. Một thanh niên tại Saigon bỏ đạo Công giáo rồi cạo đầu và quy y, anh ta bảo rằng theo Công giáo phải giữ nghiêm luật nên “căng” quá, theo Phật giáo “khỏe” hơn nhiều. Còn tại Đồng Nai, một nữ tu bỏ đạo Công giáo rồi đi lập chùa riêng và làm ni cô trụ trì. Những người này không chỉ yếu đức tin Công giáo, mà còn thiếu tính kiên định.

Đừng vội hoang mang khi thấy có những trường hợp như vậy. Đó chỉ là những trường hợp hiếm hoi. Thật ra họ chỉ bất mãn một vấn đề nào đó vì họ không được thỏa mãn ý riêng, đồng thời họ là những người “yếu bóng vía” và chẳng hiểu rõ Công giáo, chỉ là dạng “lý sự cùn,” đầu óc thiển cận hoặc như “ếch ngồi đáy giếng” mà thôi. Những “ông tổ” của các đạo khác liên quan Kitô giáo cũng vậy, họ chỉ muốn theo ý riêng mà ly khai khỏi Công giáo. Rồi cũng chẳng đâu vào đâu, nhưng họ vẫn cố chấp.

Những người thiển cận hoặc nông cạn mới như vậy, còn những người sâu sắc không như vậy, bởi vì người ta càng giỏi thì càng nhận biết Thiên Chúa và tin yêu Ngài. Đa số các bác học đều là những người tin vào Thiên Chúa. Khoảng hơn 40 năm trước, chính Đức cố TGM Phaolô Nguyễn Văn Bình (1910-1995) đã rửa tội cho một Thượng tọa Phật giáo cao niên vào chính đêm Chúa giáng sinh. (Liên quan chuyện “theo đạo” nên liên tưởng, nhưng tiếc rằng lâu quá rồi nên không còn nhớ tên ông cựu họ Thích này). Hơn 20 năm trước, có một ni cô chán “ăn chay trường” rồi gia nhập Công giáo, sau đó cô này lấy chồng là người Công giáo. Vợ chồng họ người Đồng Nai, nay họ vẫn sống hạnh phúc tại Bình Dương. Và còn rất nhiều những trường hợp tương tự, từ khắp nơi trên thế giới, không thể kể hết.

Có điều vô cùng đặc biệt: Không một người nào mà dám nói “tôi là Thiên Chúa” khi lập đạo, chỉ có Chúa Giêsu mới xác định như vậy. Cũng chẳng có ai làm được những phép lạ như Ngài đã làm. Và cũng chỉ có Ngài dám nói: “Tôi là con đường, là sự thật và là sự sống.” (Ga 14:6) Đặc biệt nhất là chẳng có ai bị giết chết mà sống lại như Ngài. Chỉ vài điều như vậy thôi cũng đủ để chúng ta biết đâu là “chân lý thật” và đâu là “chân lý giả.” Càng ngày khoa học và khoa khảo cổ càng phát hiện những điều chính xác như Kinh Thánh đã đề cập. Đó là chứng cớ minh nhiên, những kẻ phủ nhận chỉ là cố chấp. Và còn các phép lạ Thánh Thể và những lần Đức Mẹ hiện ra nữa…

Bằng chứng cụ thể trong sách Công Vụ: Khi nghe ông Phêrô rao giảng việc ăn năn sám hối, chịu phép rửa nhân danh Đức Giêsu Kitô để được ơn tha tội, và nhận được ân huệ là Thánh Thần, ngay lúc đó đã có KHOẢNG BA NGÀN người theo đạo. (Cv 2:38-41) Đâu có thể đơn giản mà có số người đông như vậy cùng gia nhập đạo một lúc, cũng đâu phải họ theo đạo cho vui hoặc có lợi về vật chất, đặc biệt là không ai dụ dỗ họ theo đạo để được giàu sang, danh vọng,... Và rồi ngày nay, hằng tháng tại nhiều nhà thờ Công giáo vẫn có những người trưởng thành (chứ không nói trẻ em) vui mừng lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy. Đó là những bằng chứng hùng hồn, là phép lạ thực sự mà Chúa Thánh Thần đang tác động không ngừng trong Giáo Hội, Nhiệm Thể Đức Giêsu Kitô.

Có những người gia nhập Công giáo không chỉ là người đã thực sự trưởng thành (tâm sinh lý), mà còn có những người lớn tuổi, họ sống đạo rất tốt với một đức tin trưởng thành và vững mạnh. Đặc biệt là có những người theo đạo Công giáo rồi đi tu trở thành tu sĩ hoặc linh mục – một người nổi bật là Lm Thiên Phong Bửu Dưỡng. [1] Họ đã trưởng thành, chắc chắn không ai có thể “dụ dỗ” được họ nếu họ không thực sự tin vào Đức-Giêsu-nhập-thể-làm-người-chịu-chết-và-phục-sinh. Ai cảm thấy còn “đắn đo,” hãy cố gắng giữ vững lòng tin, hãnh diện về Đức Tin Công giáo, và đừng dao động vì những chuyện không đâu. [2]

Những người càng giỏi càng tìm hiểu và nhận ra Thiên Chúa. Giáo Hội Công giáo đặt tiêu chuẩn cao về luân lý, rất cảm thông với người bất đồng ý kiến, nhưng KHÔNG NHƯỢNG BỘ bất kỳ áp lực nào. Tất cả chúng ta đều là tội nhân, Chúa Giêsu đã thiết lập bí tích Hòa Giải để tha thứ tội lỗi, để thương xót và ban ân sủng cho chúng ta, giúp chúng ta sống đời sống luân lý tốt hơn. Công giáo mệnh danh là Đạo Yêu Thương, vì Thiên Chúa là tình yêu. (1 Ga 4:8 và 16)

Vô tri bất mộ. Con mắt liên quan lý trí, liên quan đức tin. Kinh Thánh xác định và lý giải: “Hết những ai không chịu nhìn nhận Thiên Chúa, tự bản chất là những kẻ ngu si. Từ những vật hữu hình tốt đẹp, chúng không đủ khả năng nhận ra Đấng hiện hữu, và khi chiêm ngắm bao công trình, chúng cũng không nhận biết Đấng Hoá Công. Thế mà, lửa với gió, hay làn khí thoảng qua, hay tinh tú bầu trời, hay nước chảy cuồn cuộn, hay đèn trời thắp sáng, chúng lại coi là thần, là những bậc quản cai hoàn vũ.” (Kn 13:1-2) Rất rõ ràng, rất rạch ròi!

Ngay trong thời Giáo Hội sơ khai, khi Chúa Giêsu đã phục sinh và số môn đệ thêm đông, các tín hữu Do Thái theo văn hoá Hy Lạp kêu trách những tín hữu Do Thái bản xứ, vì trong việc phân phát lương thực hằng ngày, các bà goá trong nhóm họ bị bỏ quên. Bởi thế, Nhóm Mười Hai triệu tập toàn thể các môn đệ và nói: “Chúng tôi mà bỏ việc rao giảng Lời Thiên Chúa để lo việc ăn uống là điều không phải. Vậy, thưa anh em, anh em hãy tìm trong cộng đoàn bảy người được tiếng tốt, đầy Thần Khí và khôn ngoan, rồi chúng tôi sẽ cắt đặt họ làm công việc đó. Còn chúng tôi, chúng tôi sẽ chuyên lo CẦU NGUYỆN và PHỤC VỤ Lời Thiên Chúa.” (Cv 6:2-4)

Trình thuật Cv 6:5-7 cho biết: “Đề nghị đó được mọi người tán thành. Họ chọn ông Têphanô, một người đầy lòng tin và đầy Thánh Thần, cùng với các ông Philípphê, Pơrôkhôrô, Nicano, Timôn, Pácmêna và ông Nicôla, một người ngoại quê Antiôkhia đã theo đạo Do Thái. Họ đưa các ông ra trước mặt các Tông Đồ. Sau khi cầu nguyện, các Tông Đồ đặt tay trên các ông. Lời Thiên Chúa vẫn lan tràn, và tại Giêrusalem, số các môn đệ tăng thêm rất nhiều, lại cũng có một đám rất đông các tư tế đón nhận đức tin.” Đó chính là Nhóm Bảy Người, tức là các Phó tế đầu tiên của Giáo Hội, trong đó có Phó tế Têphanô về sau chịu tử đạo. Không chỉ có Phó tế Têphannô mà còn biết bao vị tử đạo khác đã xả thần vì danh Đức Giêsu Kitô, ở mọi nơi và mọi thời.

Niềm hãnh diện của Kitô hữu “không giống ai” chút nào, đôi khi người ta còn coi đó là dại dột hoặc ngu xuẩn, nhưng không phải vậy. Hãnh diện gì? Thánh Phaolô cho biết: “Vinh quang của tôi là Thập Giá của Đức Giêsu Kitô – Mea Gloria Est Crux Christi.” (Gl 6:14) Chắc chắn không ai và không tôn giáo nào có dạng vinh quang “ngược đời” như Kitô giáo. Người ta sợ đau khổ, nhưng khi đã cảm nhận được đau khổ, người ta lại bị đau khổ thu hút. Chắc chắn rằng những người không có niềm tin Kitô giáo sẽ chẳng bao giờ hiểu được điều đó, thế nên người vô thần bảo tôn giáo là thuốc phiện đã “ru ngủ” các Kitô hữu. Văn sĩ trào phúng Mark Twain (1835-1910, Mỹ) nhận định rất thú vị: “Chẳng thà mình không nói để người ta tưởng mình ngu, còn hơn mở miệng ra để người ta không còn nghi ngờ gì nữa.”

Thực sự cảm nghiệm sâu sắc về Thiên Chúa, Thánh Vịnh gia hân hoan mời gọi: “Người công chính, hãy reo hò mừng Chúa, kẻ ngay lành, nào cất tiếng ngợi khen. Tạ ơn Chúa, gieo vạn tiếng đàn cầm, kính mừng Người, gảy muôn cung đàn sắt.” (Tv 33:1-2) Và rồi không thể lặng im, Thánh Vịnh gia còn giải thích: “Vì lời Chúa phán quả là ngay thẳng, mọi việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu thích điều công minh chính trực, tình thương Chúa chan hoà mặt đất.” (Tv 33:4-5)

Là tình yêu, Thiên Chúa thương xót chúng ta ngay khi chúng ta còn là tội nhân, (Rm 5:8) còn thù nghịch với Ngài, (Rm 5:10) thậm chí Ngài còn chết để cứu độ chúng ta. Tình yêu thương đó quá lớn lao. Thật vậy, Ngài luôn quan tâm chúng ta: “Chúa để mắt trông nom người kính sợ Chúa, kẻ trông cậy vào lòng Chúa yêu thương, hầu cứu họ khỏi tay thần chết và nuôi sống trong buổi cơ hàn.” (Tv 33:18-19) Và còn hơn vậy, Ngài biết rõ từng người: “Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi.” (Ga 10:14)

Thế nhưng có điều đáng quan ngại về chính chúng ta, rất cần xem lại chính mình, như Thánh Giacôbê đã phân tích: “Ai cho mình đạo đức mà không kiềm chế miệng lưỡi là tự dối lòng mình, vì đó chỉ là thứ ĐẠO ĐỨC HÃO.” (Gc 1:26) Sở dĩ như vậy vì chúng ta vốn dĩ là “kẻ xấu.” (Lc 11:13)

Vừa khuyên nhủ vừa động viên, Thánh Phêrô nói: “Anh em hãy tiến lại gần Đức Kitô, viên đá sống động bị người ta loại bỏ, nhưng đã được Thiên Chúa chọn lựa và coi là quý giá. Hãy để Thiên Chúa dùng anh em như những viên đá sống động mà xây nên ngôi Đền Thờ thiêng liêng, và hãy để Thiên Chúa đặt anh em làm hàng tư tế thánh, dâng những lễ tế thiêng liêng đẹp lòng Người, nhờ Đức Giêsu Kitô. Quả thật, có lời Kinh Thánh chép: Này đây Ta đặt tại Sion một viên đá quý được lựa chọn, làm đá tảng góc tường: kẻ tin vào đó sẽ không phải thất vọng.” (1 Pr 2:4-6) Lòng thương xót của Thiên Chúa quá đỗi kỳ diệu, chúng ta không thể nào hiểu nổi. Suốt đời xin tín thác và tạ ơn Ngài!

Về hạnh phúc của những người được tái sinh bởi Nước và Thánh Thần – các Kitô hữu, Thánh Phêrô cho biết thêm: “Vậy vinh dự cho anh em là những người tin, còn đối với những kẻ không tin thì viên đá thợ xây loại bỏ đã trở nên đá tảng góc tường, và cũng là viên đá làm cho vấp, tảng đá làm cho ngã. Họ đã vấp ngã vì không tin vào Lời Chúa. Số phận của họ là như vậy. Còn anh em, anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người, Đấng đã gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền.” (1 Pr 2:7-9) Có nhiều dạng ơn thiên triệu, nói theo bình dân là “ơn gọi,” và ơn gọi nào cũng cao cả: Ơn gọi tu trì, ơn gọi kết hôn, ơn gọi độc thân,... Ơn gọi nào cũng là để hoàn tất sứ mạng theo kế hoạch của Thiên Chúa. Ngài cũng nói với mỗi Kitô hữu như đã nói với Gia-cóp xưa: “Đừng sợ, vì Ta đã chuộc ngươi về, đã gọi ngươi bằng chính tên ngươi: ngươi là của riêng Ta!” (Is 43:1)

Thật tuyệt vời, nhưng Thiên Chúa cần chúng ta vững chí tích cực cộng tác, như Chúa Giêsu đã động viên: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy.” (Ga 14:1) Cuộc sống đã và đang chứng tỏ cho chúng ta thấy như vậy, đúng là chỉ có Thiên Chúa là cứu cách và cùng đích, thiếu Đức Kitô thì chúng ta không thể làm được gì, dù là điều nhỏ nhoi. (x. Ga 15:5) Chúng ta có hoang mang hoặc lo sợ thì cũng chẳng “chuyển hóa” được gì, đúng như có lần Chúa Giêsu đã cảnh báo: “Đừng chỉ lên đầu mà thề, vì anh không thể làm cho một sợi tóc hoá trắng hay đen được.” (Mt 5:36)

Vì thế, tín nhân phải vững chí sống theo lời khuyên của Chúa Giêsu: “Đừng xao xuyến!” Nói theo kiểu nói ngày nay: “Cứ vô tư mà sống!” Tại sao? Bởi vì lo bạc râu, sầu bạc tóc. Mà có lo cũng chẳng được gì, rồi cái gì đến sẽ đến, lo nhiều chỉ khổ thêm mà thôi. Chúa Giêsu khuyên “đừng xao xuyến” nghĩa là Ngài bảo chúng ta phải vững chí tin vào sự TIỀN ĐỊNH và QUAN PHÒNG của Ngài. Thiết tưởng có điều nên lưu ý: “Không xao xuyến” nghĩa là đừng chạy theo những cái mà người ta cho đó là “sự lạ,” dạng này thường xuyên được người ta “chú ý,” nếu vậy thì chưa thực sự tin vào Thiên Chúa, chưa thực sự tín thác vào Lòng Chúa Thương Xót.

Chúa Giêsu căn dặn: “Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.” (Ga 14:2-3) Người đời cũng biết nhận định: “Sinh ký, tử quy” (sống gởi, thác về). Thế gian chỉ là chuyến lữ hành về Thiên Đàng, như Thánh nữ Catarina đã khuyên: “Cuộc đời như chiếc cầu, hãy ĐI QUA chứ ĐỪNG DỪNG LẠI trên đó.” Chắc chắn chết không là “dấu chấm hết” mà là cuộc biến đổi, là “ngưỡng” bước vào sự sống vĩnh hằng. Thật hạnh phúc cho chúng ta vì đã được chính Chúa Giêsu hứa: “Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.” Đúng là hạnh phúc của mọi hạnh phúc, hơn cả mức tuyệt vời.

Ngày xưa, khi Chúa Giêsu bảo: “Thầy đi đâu thì anh em biết đường rồi.” Ông Tôma đã ngạc nhiên và hỏi ngay: “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường?” Ngài cười hiền: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.” (Ga 14:6) Đây là câu “nổi tiếng” trong Kitô giáo, được trích dẫn rất nhiều, và cũng là niềm hy vọng chắc chắn của những người thực sự tin vào Con Thiên Chúa, Đấng nhập thể làm người, chịu chết và Phúc Âm. Rồi Ngài nói thêm: “Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người.” (Ga 14:7)

Sau đó, ông Philípphê xin Thầy Giêsu tỏ cho thấy Chúa Cha để được mãn nguyện. Nhưng Ngài trách ông đã ở với Ngài bao lâu rồi mà còn “hỏi ngớ ngẩn” như vậy. Rồi Ngài xác định: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha.” (Ga 14:9) Chắc chắn đó là cách hiểu vượt quá tầm hiểu của phàm nhân, nếu chúng ta ở bên Chúa Giêsu hồi đó thì chúng ta cũng vẫn “ngớ ngẩn” như Tông đồ Philípphê mà thôi, nhưng có lẽ ngày nay chúng ta cũng chưa hơn người xưa. Buồn thật!

Chính Chúa Giêsu cũng đang nói với mỗi chúng ta qua lời giải thích với ông Philípphê và các tông đồ khác: “Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình Anh em hãy tin Thầy: Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy; bằng không thì hãy tin vì công việc Thầy làm. Thật, Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha.” (Ga 14:10-12) Có vẻ dài mà không dài, mà là mức độ cần thiết.

Về tầm quan trọng của Đức Tin, Chúa Giêsu lại nhấn mạnh một lần nữa. Thật vậy, khi có đủ niềm tín thác vào Thiên Chúa – Đấng giàu lòng thương xót luôn quan phòng và tiền định cho mỗi người theo ơn gọi riêng (ơn thiên triệu), người ta sẽ thanh thản và vững chí sống lời khuyên của Thầy Giêsu trong mọi hoàn cảnh. Thánh Vịnh gia minh định: “Chúa là gia nghiệp đời con.” (Tv 16:5-6) Ước gì mỗi Kitô hữu chúng ta cũng khả dĩ xác định như vậy!

Lạy Thiên Chúa, xin ban thêm đức tin và lòng can đảm để chúng con không bị dao động trước mọi nghịch cảnh, ngay cả khi đối diện với kẻ thù, mặc dù chúng con chỉ là bụi tro dám làm bận mắt Ngài. Xin làm cho chúng con nên thánh theo kế hoạch mầu nhiệm của Ngài, xin ban Thánh Thần để chúng con vững chí bước đi trên hành trình đức tin. Chúng con cầu xin nhân danh Đức Giêsu Kitô Phục Sinh, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

---------------------------------------------------

[1] Lm. Bửu Dưỡng (OP, 1907-1987). Cậu ấm Bửu Dưỡng thuộc dòng dõi hoàng gia triều Nguyễn, là cháu trực hệ đời thứ năm của vua Minh Mạng. Thân phụ là cụ Ưng Trình, đại thần Cơ Mật Viện và đại thần Tôn Nhơn Phủ (1936) và Thượng Thư. Thân mẫu là cụ bà Trần Thị Như Uyển, cũng dòng dõi quan lại cấp Thượng Thư.

Cậu Bửu Dưỡng là con trai thứ năm. Thiếu thời, cậu học trường Quốc Học Huế, rồi trường Cao Đẳng Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp, cậu trở về Huế làm thông phán sở Bưu Chính. Sinh trưởng trong gia đình hoàng tộc và tôn sùng đạo Phật, Bửu Dưỡng cũng rất ác cảm với Công giáo, nhưng “duyên Trời” ấn định khác.

Thượng tuần tháng 5-1928, cậu Bửu Dưỡng lên đường ra Quảng Trị, tìm lên vùng núi Phước Sơn, xin học giáo lý để nhận bí tích Rửa tội và gia nhập dòng Xitô (Cistercians). Lm Bề Trên Henri Denis (Cố Thuận, người Pháp) trực tiếp dạy giáo lý. Lễ rửa tội được cử hành ngày lễ Đức Mẹ lên trời, 15-8-1928. Tân tòng Bửu Dưỡng nhận thánh hiệu Bôniphaxiô (Bonifacius), nghĩa là “bộ mặt đẹp.” Bề Trên Dòng chủ lễ, bên cạnh là Phó tế Tađêô Lê Hữu Từ (sau đó làm giám mục).

Sau một năm ở tập viện Xitô Phước Sơn, tu sinh Bửu Dưỡng vì sức khỏe yếu, đau bao tử, bị chứng tê thấp, lại bị mụt nhọt ở chân, được Bề Trên cho về nhà nghỉ dưỡng bệnh tại gia đình ở Huế. Trong thời gian này, thầy Bửu Dưỡng có nhiều quan hệ với Dòng Chúa Cứu Thế, với ý muốn nhập dòng này nhưng không thành…

Trong khi dịch giùm cho các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế một số bài giảng, thầy được đọc sách của Thánh TS Tôma Aquinô, thầy say mê triết lý và thần học của vị tiến sĩ nổi tiếng thuộc Dòng Đa Minh và có ý muốn theo chân ngài trong một dòng tu chuyên nghiên cứu và thuyết giảng đạo lý Kitô giáo.

Linh mục Bề Trên Dòng Chúa Cứu Thế giới thiệu thầy với Dòng Đa Minh mới đến Hà Nội lập dòng và thầy được chấp nhận để thử một thời gian. Mọi sự đều êm xuôi. Thầy Bửu Dưỡng cảm thấy mình đi đúng hướng và được gởi đi du học tại Pháp ở Dòng Đa Minh chi nhánh Lyon.

Sau một năm tập viện, ngày 26-11-1936, tu sinh Bửu Dưỡng là người Việt Nam đầu tiên của tỉnh Dòng Đa Minh Lyon được tuyên khấn dòng. Mặc dù mụt nhọt ở chân trở nên trầm trọng, thầy Bửu Dưỡng phải chịu giải phẫu cưa một chân, gắn chân giả. Bề Trên Dòng vẫn nhận phong chức linh mục cho thầy vì khả năng trí tuệ đặc biệt của thầy.

Lễ phong chức được cử hành ngày 2-2-1940. Từ đó, linh mục con dòng cháu giống của vua chúa triều Nguyễn không còn gì trăn trở băn khoăn mà thẳng đường trực chỉ dấn thân rao giảng Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Giêsu cho đến trọn đời. Trong “Cuộc Hành Trình Của Đời Tôi,” Lm Bửu Dưỡng viết:

Trước kia tôi rất ghét Kitô giáo và không muốn có một liên hệ nào dù xa dù gần với các linh mục hay người có đạo. Tôi không bao giờ đọc một cuốn sách báo nào dính dáng đến đạo Công giáo. Cái ấn tượng ghét đạo đã khiến tôi trở thành cực đoan một cách vô lý, đến độ mỗi khi nhìn thấy chữ “Thiên Chúa,” tôi cảm thấy khó chịu và nếu có thể, tôi sửa thành chữ “Trời.” Khi dạy học cho các trẻ em, tôi chống lại việc dùng chữ Thiên Chúa. Lòng ác cảm đã khiến tôi trở thành điên rồ.

Có những thời gian tôi cảm thấy bất an trong đời sống, dường như tôi đang trải qua những cơn khủng hoảng của đời sống, cái tâm trạng này kéo dài trong suốt ba năm liền… Những lần tôi không giải trí với các bạn trong giờ giải trí, những đêm dài mất ngủ, những buổi chiều trống rỗng, sau khi nghe vài bản nhạc buồn… Tất cả những tâm trạng ấy đưa tôi đến việc tự hỏi: “Có phải Kitô giáo là một tôn giáo thật và tôi phải theo hay không?” Tôi phải theo? Thật là một điều ngoài trí tưởng tượng. Không bao giờ! Dù nó đúng, nó trật, nó hay… nhưng ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.”

Thế nhưng Ý Chúa nhiệm mầu, một Bửu Dưỡng thù ghét Công giáo đã trở thành một Bửu Dưỡng yêu mến Công giáo, và trở thành Linh mục Công giáo. Tôi được gặp ngài một lần, đã được đọc cuốn “Ý Nghĩa Sự Đau Khổ” của ngài và “Công Đồng Vatican III” do ngài viễn tưởng. Trí óc của ngài đúng là một học giả hiếm có. Lm Bửu Dưỡng còn là người mở Học viện Minh Đức (Thủ Đức) nổi tiếng một thời trước “sự cố” 1975. mục lục

[2] Xin xem thêm để củng cố Đức Tin Công Giáo:

a. http://www.thanhlinh.net/node/55782

b. http://www.tinmung.net/DocGia/ThienChua/2012/Tai-sao-toi-tin-Chua.htm

c. http://www.ubmvgiadinh.org/article/vì-sao-tôi-theo-đạo-công-giáo

THẦY LÀ ĐƯỜNG…

(suy niệm từ Ga 14,1-12)

Thời Cựu Ước: trên đường về Đất Hứa

Luôn tuân theo giới luật Thiên Chúa ban

Và ngày nay Tin Mừng Chúa truyền lan

Với cuộc đời: con đường Vua Cứu Thế. 

Là sự thật: Đấng Thiên Sai nhập thể

Luôn nhắc ta: muôn vật, có con người

Bản tính hằng chân thật như chính Ngài

Ai giữ trọn sẽ được về Nước Chúa.

Nước Thiên Chúa: có sự sống muôn thuở 

Sống tình yêu, không giả dối, phân ly

Chúa Giê Su rao giảng chỉ đường về

Hãy theo Chúa, vì chính Ngài là sự sống…

Con xin Chúa ban ơn: trí mở rộng

Biết đọc, suy, và quyết tâm thực hành

Biết cậy tin sức mạnh Chúa cực linh

Lập công phúc: dâng mình theo Ý Chúa… mục lục

(Thế Kiên Dominic) 

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan