SUY NIỆM CHÚA NHẬT 6 PHỤC SINH, NĂM A

14-05-2020 136 lượt xem

(Cv 8,5- 8.4- 7; Pr 3,5- 18; Ga 14,15- 21)

Mục Lục

HÃY Ở LẠI TRONG THẦY+ ĐTGM Giuse Vũ Văn Thiên

YÊU MẾN THẦY, THÌ HÃY GIỮ CÁC GIỚI RĂN - Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

CHÚA GIÊ-SU THỰC HIỆN LỜI HỨA - JM. Lam Thy ĐVD

YÊU MẾN VÀ TUÂN GIỮ - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

CHÚA THÁNH THẦN LÀ HY VỌNG VÀ LÀ TRẠNG SƯ - Bs. Nguyễn Tiến Cảnh, MD

YÊU TRONG CHÂN LÝ - Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

NẾU NÓI YÊU THẦY MÀ KHÔNG GIỮ LỜI THẦY LÀ MÂU THUẪN - Giuse Vinhsơn Ngọc Biển, SSP

THẦN KHÍ CHÚA - Trầm Thiên Thu

TUÂN LỆNH - Viễn Dzu Tử

ĐẤNG PHÙ TRỢ KHÁC - (Th.K. Dominic)

--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

HÃY Ở LẠI TRONG THẦY

+ ĐTGM Giuse Vũ Văn Thiên

Chuẩn bị mừng lễ Chúa Giêsu lên trời, Phụng vụ hôm nay muốn khẳng định với chúng ta: dù Chúa Giêsu có về trời, thì Người vẫn ở với chúng ta như lời Người đã hứa với các môn đệ: “Này đây, Thày ở cùng các con mọi ngày cho đến ngày tận thế”. Người tin vào Chúa sẽ được ở trong Người và Người ở trong lòng họ. Lời mời gọi: “hãy ở trong Thày”, vừa nêu bật vinh dự lớn lao của người tín hữu, vừa đem cho họ sự an ủi đỡ nâng, giữa biết bao bận rộn lo lắng của cuộc sống trần gian. Ở trong Chúa cũng là một điều kiện thiết yếu để trở nên môn đệ đích thực của Người.

“Nếu các con yêu mến Thày, thì hãy giữ lời Thày”. Tuân giữ lời Thày là bằng chứng của tình yêu đối với Chúa. Ai tuân giữ lời Thày sẽ được Thày hiện diện trong tâm hồn người đó. Và, cùng với sự hiện diện của Chúa Giêsu, người tín hữu còn được Chúa Cha và Chúa Thánh Thần ngự trị. Như thế, ngay khi còn sống ở trần gian, họ đã được nếm hưởng hạnh phúc thiên đàng. Bởi lẽ hạnh phúc thiên đàng là gì nếu không phải là được sống trong tình yêu viên mãn của Ba Ngôi Thiên Chúa?

Những ai ở lại trong Chúa sẽ làm được những điều kỳ diệu, nhờ quyền năng và ân sủng Người thông ban. Chúa nhật thứ sáu của mùa Phục sinh nhấn mạnh tới sứ mạng truyền giáo của Giáo Hội. Thông thường, khi nói đến cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi, chúng ta hay dừng lại ở việc diễn tả một cộng đoàn liên đới, chuyên tâm cầu nguyện và siêng năng tham dự lễ bẻ Bánh. Điều này không sai. Tuy vậy, cũng phải nhấn mạnh tới khía cạnh “động” của cộng đoàn này, tức là khía cạnh truyền giáo. Tác giả sách Công vụ Tông đồ cho chúng ta thấy cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi là một cộng đoàn hăng say truyền giáo. Sau khi Chúa Giêsu về trời, các tông đồ vẫn tin rằng Người hiện diện với họ. Nhờ sự hăng say nhiệt huyết của các tông đồ, và số tín hữu tăng thêm nhanh chóng.

Bài đọc thứ nhất trong Phụng vụ hôm nay kể lại nỗ lực truyền giáo của một trong số mười hai tông đồ, đó là Philipphê. Ông rời Giêrusalem để đến miền Samaria là miền đất dân ngoại. Ông rao giảng Đức Kitô và làm được nhiều phép lạ. Sự hiện diện của Chúa thể hiện qua quyền năng Chúa ban cho các tông đồ, nhờ đó các ông có thể trừ quỷ và các chứng bệnh, y như Chúa Giêsu đã làm trước đó. Việc có nhiều người trở lại là niềm vui chung của các tông đồ, vì vậy ông Gioan và ông Phêrô được cử tới Samaria để chia sẻ niềm vui và đặt tay trên các tín hữu để ban Thánh Thần. Những kết quả truyền giáo đã đạt được chứng minh Chúa Thánh Thần cùng hoạt động trong cộng đoàn tín hữu, như lời hứa của Chúa Giêsu: “Thầy sẽ xin Cha, và Ngài sẽ ban cho các con một Đấng Phù trợ khác, để Ngài ở với các con luôn mãi”. Chính sự hiện diện của Chúa Giêsu, với quyền năng của Chúa Thánh Thần, đã làm nên những kết quả kỳ diệu của sứ vụ truyền giáo.

Ngày hôm nay, những thành quả mà Giáo Hội đạt được khi thi hành sứ vụ Chúa Giêsu trao phó, cũng là nhờ sự hiện diện của Người và nhờ tác động của Đấng Phù trợ, tức là Ngôi Ba Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần là Đấng soi sáng, hướng dẫn mọi hoạt động của Giáo Hội, làm cho những hoạt động ấy sinh hoa kết trái. Ngài là hơi thở và là linh hồn của Giáo Hội, nhờ Ngài mà Giáo Hội sinh động, tươi trẻ và vươn lên không ngừng.

Mùa Phục sinh cùng với bầu khí lễ hội tưng bừng đang dần khép lại. Lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng ta, sự hiện diện của Chúa Phục sinh và lòng nhiệt thành loan báo Lời Chúa không dừng lại khi mùa Phục sinh chấm dứt, nhưng mở ra một giai đoạn mới mà ta gọi là “kỷ nguyên của Chúa Thánh Thần”. Ngài là Ngôi Ba Thiên Chúa, là Đấng ban sự sống cho trần gian. Nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, Giáo Hội luôn mang diện mạo tươi trẻ và phù hợp với mọi môi trường xã hội, góp phần thánh hóa trần gian.

Được trang bị bằng sức mạnh của Chúa Thánh Thần, mỗi tín hữu hãy “sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của mình”. Thánh Phêrô khích lệ chúng ta, đồng thời khuyên bảo chúng ta hãy tôn trọng và đối xử hiền hòa với những người đang đi tìm Chân Lý. Sống theo lương tâm trung thực ngay thẳng, hiền hòa nhân ái với mọi người, đó là chứng từ hùng hồn nhất về Đấng Phục sinh. Chứng từ này làm cho những ai đang thành kiến với Giáo Hội cũng cảm thấy được thuyết phục.

“Hãy ở lại trong Thày!” lời mời gọi ấy vang lên mỗi giây mỗi phút trong đời sống chúng ta. Ở trong Chúa, chắc chắc chúng ta sẽ được Ngài che chở đỡ nâng, nhất là khi gặp những gian nan trắc trở trong cuộc đời. Xin Chúa cho mỗi người cảm nhận được sự ngọt ngào khi ở trong Chúa và được Người hiện diện trong tâm hồn. mục lục

TẬP SỐNG YÊU THƯƠNG NHƯ CHÚA TRUYỀN

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Khi đến “giờ Chúa Giêsu qua khỏi thế gian này để về cùng Đức Chúa Cha” (Ga 13,1), trong tâm trạng bồi hồi xúc động chia ly của tình Thầy trò đôi nơi đôi ngả, Chúa Giêsu đã dành cho các môn đệ những lời tâm huyết: “Nếu các con yêu mến Thầy, thì hãy giữ giới răn Thầy” (Ga 14,15), và dĩ nhiên sẽ được Chúa Cha yêu mến. Lời di chúc của người sắp ra đi thật không đơn giản, bởi nó trang trọng và thâm sâu! Lời ấy có ý nói: các con yêu mến Thầy thế là đủ, vì nếu yêu mến tức khắc giới răn của Thầy sẽ được tuân giữ, nghĩa là: khi yêu mến Chúa Giêsu, người ta sẽ tuân giữ các giới răn Chúa để lại. Có thế hiểu: nếu các con yêu mến Thầy, điều đó chứng tỏ rằng các con tôn trọng lệnh Thầy truyền. Chúa Giêsu nói: “Ai giữ các điều răn của Thầy, thì là người yêu mến Thầy. Ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha Thầy yêu mến và Thầy sẽ tỏ mình ra cho người ấy”. Tôn trọng các giới răn là thể hiện lòng mến nên tuân giữ. Chính Chúa Giêsu khẳng đình : “Ai nhận các luật Thầy truyền và giữ các luật đó thì người ấy là kẻ mến Thầy” (Ga 14,20).

Thực hành lời Chúa Giêsu dạy là yêu mến Chúa xem ra có vẻ dễ, nhưng giữ lời Chúa truyền là cả một vấn đề.

Trong hình ảnh có thể có: hoa và văn bản

Hỏi: Chúa truyền dạy chúng ta điều gì? Thưa: Chúa dạy chúng ta nhiều điều, Chúa dạy chúng ta yêu mến Thiên Chúa và tuân giữ các giới răn. Giới răn thì có nhiều nhưng chung qui lại là kính mến Thiên Chúa như Cha, yêu thương tha nhân như là anh em. Kính mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân là điều răn quan trọng nhất của Tin Mừng.

Vì là giới răn, là mệnh lệnh của Thầy, nên tình yêu thương huynh đệ của người môn đệ phải mang chiều kích giống Thầy: “Nếu các con yêu mến Thầy, thì hãy giữ giới răn Thầy” (Ga 14,15). Vì là giới răn, nên từ nay yêu thương sẽ là dấu ấn, là bằng chứng, là danh hiệu của người môn đệ. Tuân giữ các giới răn là thể hiện lòng mến.

Cả cuộc đời của Chúa Giêsu đã mạc khải cho chúng ta, Thiên Chúa là Tình Yêu, tình Chúa trao ban và tình yêu dâng hiến. Khi nói về tình yêu của Thiên Chúa và cũng là tình yêu của chính mình, Chúa Giêsu đã khéo so sánh: “Không ai có tình yêu lớn hơn người hy sinh mạng sống cho bạn hữu” (Ga 15,13). Mẫu mực, thước đo của tình yêu đối với Chúa Giêsu là tuân giữ các giới răn.

Là Kitô hữu, chúng ta phải biết làm thế nào để yêu thương. Như đã nói ở trên, yêu người đâu phải là chuyện dễ làm. Chúng ta phải tập luyện, phải học nghệ thuật yêu mỗi ngày mà không bỏ qua bài học tha thứ, nhất là chiêm ngắm Chúa Giêsu Tình Yêu và hay tha thứ để bắt chước.

Giáo hội là Thánh, nhưng những yếu tố cầu thành Giáo hội là những con người vô thập toàn như chúng ta, nên kiêu ngạo, ghen tị, chia rẽ là điều chắc chắn có. Ðúng ra, một cộng đoàn Kitô phải sống trong tình yêu của Chúa Kitô, nhưng có khi chúng ta để cho tội lỗi lẻn vào, để cho mình bị đánh lừa, và khi ấy, tinh thần sẽ bị suy yếu. Kinh nghiệm cho thấy, đã có bao nhiêu người rời bỏ Giáo hội, chỉ vì họ cảm thấy họ không được yêu mến. Có biết bao người đã rời xa cộng đoàn giáo xứ, bởi vì ở nơi ấy có những chuyện nói hành nói xấu, đố kỵ và ghen tương.

Chỉ dựa vào lời di chúc của Chúa Giêsu trước giờ tử nạn, chúng ta đã tìm ra được nét độc đáo và tính đặc thù của tình yêu Kitô giáo là yêu thương anh em như Chúa Giêsu đã yêu thương và yêu thương anh em để chứng tỏ rằng chúng ta yêu và tuân giữ các giới răn của Chúa.

Nét mới mẻ của tình yêu Kitô giáo là ở chỗ: mẫu mực, thước đo tình yêu đối với Chúa là tuân giữ các giới răn, còn thước đo của tình yêu đối với tha nhân không còn là “tình anh em huyết thống”, cũng không còn là “bản thân mình” nữa mà yêu ‘vì Chúa thì con yêu người như mình ta’. Đây là thứ tình yêu vị tha, một thứ tình yêu chỉ biết cho đi, lo tìm hạnh phúc cho người yêu, yêu không so đo tính toán, yêu quảng đại.

Chúa Giêsu không đòi các môn đệ cũng như chúng ta những người kitô hữu hôm nay phải thông thái như các thầy kinh sư và ký lục. Người cũng không bắt chúng ta phải sống tỉ mỉ giữ luật như các Kinh Sư và Biệt phái. Điều Chúa muốn duy nhất nơi chúng ta là yêu người khác như chính Chúa đã yêu ta. Tình yêu là dấu chỉ của người tin theo và tuân giữ Lời Chúa. Người kitô hữu chính danh là người biết yêu thương tha nhân, sống bác ái và vị tha. Để thực thi những điều trên, chúng ta rất cần đến Thánh Thần Tình Yêu Thiên Chúa, Người sẽ dạy bảo chúng ta thực hành những điều Chúa truyền dạy.

Lạy Mẹ Maria, xin giúp chúng con biết ngoan ngoãn vâng nghe Ðấng An Ủi, Thần Chân Lý là Chúa Thánh Thần mà Chúa Giêsu Con Mẹ đã hứa ban, để chúng con biết từng ngày học hỏi nghệ thuật của tình yêu, sống yêu thương nhau như Chúa Giêsu đã yêu thương chúng con. Amen. mục lục

CHÚA GIÊ-SU THỰC HIỆN LỜI HỨA

JM. Lam Thy ĐVD

Mặc dù còn hai tuần nữa mới đến lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, nhưng ngay từ tuần này Phụng vụ Lời Chúa đã bắt đầu trình bày về vai trò của Chúa Thánh Thần trong Giáo hội cũng như trong đời sống Ki-tô hữu. Lời hứa Chúa Giê-su nói với các tông đồ trước khi Người chịu cuộc Thương Khó đã được thực hiện: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi” (Ga 14, 16).  Lời hứa ấy đã được thể hiện ở bất cứ nơi nào có bước chân truyền giáo của các vị tông đồ.  Cụ thể hơn nữa, lời hứa ban Thánh Thần được thể hiện ngay trong tâm hồn Ki-tô hữu, khi Người giúp họ “ăn ở ngay thẳng trong Đức Ki-tô”. 

Bài Tin Mừng hôm nay (C.VI/PS – Ga 14,15-21) nối tiếp bài Tin Mừng CN V/PS (Ga 14,1-14). Ở bài Tin Mừng Chúa nhật trước, Đức Giê-su Ki-tô tiên báo Người sẽ trở về cùng Chúa Cha và căn dặn các môn đệ: "Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó." (Ga 14,1-3). Các môn đệ (tiêu biểu là Tô-ma và Phi-lip-phê) vẫn tỏ ra rất hoang mang, lo sợ, không hiểu Thầy về cùng Chúa Cha là như thế nào, bằng con đường nào và nhất là Thầy có còn trở lại với các môn đệ nữa hay không? Đó cũng là tâm lý thông thường của người đời. Và cũng vì thế nên Đức Ki-tô phải trấn an: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy. Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi” (Ga 14,15-16). 

Trong những Lời dạy của Đức Ki-tô, Người luôn luôn nói đến Người là Mục tử nhân lành chăn dắt và bảo vệ đoàn chiên, đồng thời Người còn là “cửa chuồng chiên” để đón nhận, nuôi dưỡng và bảo vệ những con chiên trong ràn chiên của Thiên Chúa. Đón nhận, nuôi dưỡng, chăn dắt và bảo vệ thì chính Người là Đấng Bảo Trợ (bảo vệ, trợ giúp) của đoàn chiên. Vì thế, nay Người phải trở về cùng Chúa Cha, nên Người mới hứa là “sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi”. Điều kiện để có được “Đấng Bảo Trợ khác”, ấy là: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” (Ga 14,15); và chỉ “Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy” (Ga 14,21). Nói cách cụ thể, Chúa muốn các môn đệ thể hiện đức tin của mình (yêu Chúa) bằng hành động (tuân giữ các điều răn Chúa dạy). Rõ ràng có một mối liên hệ chặt chẽ giữa lòng yêu mến Chúa và sự tuân giữ các điều răn của Người: Nếu yêu thì sẽ tuân giữ ⇒ Có tuân giữ mới thực là yêu.

Vậy thì các điều răn Chúa dạy là gì? Và giữ các điều răn ấy thế nào để chứng tỏ là mình yêu Chúa thực sự? Các điều răn Chúa dạy thì nhiều lắm, nhưng chung quy chì là một “Điều răn trọng nhất: Mến Chúa yêu người”. Có một cái thắc mắc như một vấn nạn luôn ám ảnh con người nhưng chẳng ai dám nói ra, đó là: Con yêu Chúa vì Chúa yêu con đến độ hy sinh cả mạng sống mình, nhưng con yêu người thì chẳng hiểu người có yêu con không? Và cũng chính vì thế nên thế giới này không lúc nào yên. Khổ một nỗi là các nhà lãnh đạo quốc gia lúc nào cũng mạnh miệng cổ võ hoà bình trong khi ngòi nổ chiến tranh vẫn âm ỉ ngay tại quốc gia mình. Các nhà đấu tranh chính trị cũng luôn luôn nhân danh hoà bình và công lý để đấu tranh đòi công lý hoà bình bằng bom đạn, bằng những vũ khí giết người tối tân. Rồi thì khủng bố, tàn sát xảy ra nhan nhản khắp nơi cũng nhân danh công lý hoà bình!

Biết rõ được tâm lý con người hay thắc mắc như vậy và khi nói yêu Chúa thì rất mạnh miệng, nhưng nói đến yêu người thì lại ngập ngừng, nên Đức Ki-tô mới dạy: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy”, mà điều răn của Thầy là: “anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12), cũng bởi vì “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Và cái hệ luận tất yếu phải là: Nếu yêu Chúa thì sẽ tuân giữ điều răn của Chúa ⇒ Có tuân giữ điều răn của Chúa mới thực là yêu Chúa hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực. Chỉ có như thế mới có hy vọng Đấng Bảo Trợ khác sẽ đến thanh tẩy và ban hồng ân cùng dũng khí, bởi Người chính là Ðấng Bào Chữa, Ðấng An Ủi, Thần Chân Lý – Người chính là nguồn hồng ân sự sống, sự thật, sự hiệp nhất yêu thương – Người chính là Chúa Thánh Thần vậy. Tất cả quy về một điểm chung nhất: Tình Yêu Thiên Chúa. 

Thánh sử Gio-an khẳng định: “Thiên Chúa là tình yêu, và hễ ai ở trong tình yêu thì ở trong Chúa, và Chúa ở trong người ấy. Căn cứ vào điều này mà tình yêu đã nên hoàn hảo với chúng ta: đó là chúng ta được mạnh dạn trong ngày phán xét, vì Đức Giê-su thế nào thì chúng ta cũng như vậy ở thế gian này.” (1 Ga 4,16-17). Đó chính là trọng tâm của đức tin Ki-tô Giáo: Hình ảnh con người và con đường của họ khơi nguồn từ hình ảnh Thiên Chúa Tình Yêu. Cái chết khổ nhục của Đức Giê-su Ki-tô trên thập giá là tột đỉnh của Tình Yêu Thiên Chúa, trong đó, Người trao ban chính mình để nâng con người dậy và cứu rỗi họ. Đây là tình yêu ở dạng thức cao nhất. Khi chiêm niệm cạnh sườn bị lưỡi đòng đâm thấu của Chúa Ki-tô, người Ki-tô hữu khám phá ra con đường theo đó cuộc sống và tình yêu của mình phải dõi bước theo, đó là CON ĐƯỜNG GIÊ-SU. 

Nói đến Tình Yêu là nói đến trao và nhận. Thiên Chúa Cha trao ban cho con người biết bao ân huệ là vì yêu thương, nhất là khi Người ban chính Con Một là Chúa Giê-su làm giá chuộc muôn người khỏi tội lỗi và sự chết đời đời. Giờ đây đến lượt Đức Giê-su Thiên Chúa hứa ban Chúa Thánh Thần là ân huệ mà “thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết” (Ga 14,17). Vậy thì người Ki-tô hữu đã nhận và nhận rất nhiều Tình Yêu vô lượng của Thiên Chúa, lẽ nào không biết đáp trả ân tình cao vời khôn ví đó? Mà cách đáp trả duy nhất chỉ có thể là “yêu Chúa hết lòng hết linh hồn hết trí khôn” bằng cách “tuân giữ các điều răn Chúa dạy: Mến Chúa yêu người”. 

Thông điệp “Thiên Chúa là Tình Yêu – Deus Caritas Est” (số 18) đã phân giải tỏ tường: “Tình yêu của Thiên Chúa và tình yêu tha nhân vì thế là không thể tách rời, chúng hình thành một giới răn duy nhất. Nhưng cả hai sống từ tình yêu của Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương chúng ta trước. Nó không còn là vấn đề một “lệnh truyền” áp đặt từ bên ngoài và đòi hỏi một điều bất khả thi nữa, nhưng là một kinh nghiệm yêu đương, tự do cho đi từ bên trong, một tình yêu tự bản chất cần phải được chia sẻ với những người khác. Tình yêu triển nở qua tình yêu. Tình yêu là “thần thánh” vì nó đến từ Thiên Chúa và kết hiệp chúng ta với Thiên Chúa; qua tiến trình hiệp nhất này tình yêu biến chúng ta thành một “chúng tôi”, vượt qua sự chia rẽ của chúng ta và làm cho chúng ta nên một, cho đến khi Thiên Chúa là “tất cả trong mọi sự” (1 Cr 15,28).”  

Đức Thánh Cha Phan-xi-cô cũng dạy: “Trong mọi tình huống của con người, ghi dấu bởi sự mong manh, bởi tội lỗi và cái chết, Tin Mừng không chỉ đơn giản là một ngôn từ, nhưng là một chứng từ yêu thương vô điều kiện và tín trung: đó là ra khỏi chính mình để đến gặp gỡ người khác, gần gũi với người bị cuộc sống làm thương tổn, là chia sẻ với người túng thiếu, là ở bên những ai đau yếu, già cả hay bị loại trừ… “Hãy đến và xem!”: Tình yêu thì mạnh hơn, tình yêu làm cho hy vọng nở hoa nơi sa mạc.” (Sứ điệp Phục Sinh Urbi et Orbi 2018). Rõ ràng bao trùm lên tất cả là Tình Yêu, là “tất cả trong mọi sự” đều quy hướng về Thiên Chúa Tình Yêu. 

Chính vì Tình Yêu nên Ba Ngôi đã hiệp nhất nên Một Thiên Chúa, đó là mầu nhiệm Ba Ngôi cực thánh. Một Chúa Ba Ngôi đã thể hiện rõ ràng trong Ngôi Lời nhập thể ở tất cả những hoạt động cũng như lời giảng dạy của Người. Điều đó cho thấy Chúa Thánh Thần vẫn luôn luôn hiệp cùng Chúa Cha ở trong Chúa Con vậy. Ngay từ trong Cựu Ước, Chúa Thánh Thần đã là “Lời và Hơi Thở của Thiên Chúa là nguồn gốc của sự hiện hữu và sự sống mọi thụ tạo” (Tv 33,6; 104,30; St 1, 2; 2,7; Gv 3,20-21; Xh 37,10). Sang đến Tân Ước thì Đức Ki-tô luôn dạy dỗ môn đệ về Thần Khí Sự Thật. Không những chỉ là Lời giảng dạy, mà chính Đức Giê-su cũng chịu sự tác động mãnh liệt của Thần Khi (khi Người sinh ra tại hang đá Bê-lem, khi Người chịu phép rửa trên sông Gio-đan, khi Người được Thàn Khí dẫn vào hoang địa để chịu cám dỗ, khi Người biến hình trên núi Ta-bo, khi cầu nguyện kể cả khi Người tử nạn trên thập giá tại Gôn-gô-tha). 

Đó là lý do cho thấy Giáo hội đã tuyên xưng Đấng Bảo Trợ mà Đức Giê-su Ki-tô hứa ban bằng 8 biểu tượng: Nước, Lửa, Xức Dầu, Áng Mây và Ánh Sáng, Ấn Tín, Bàn Tay, Ngón Tay, Chim Bồ Câu (Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 694-701). Tất cả 8 biểu tượng đều thể hiện rõ rệt Tình Yêu Thiên Chúa. Trong ánh sáng Phục Sinh huy hoàng, người Ki-tô hữu hãy cầu xin Đấng Phục Sinh ban ngọn Lửa Mến để sưởi ấm tâm hồn, soi tỏ đường đi, và nhất là hun đúc dũng khí để tiến bước trên đường thực thi sứ vụ "đem Tình Yêu đến cho mọi người, ở mọi nơi, trong mọi lúc". Hãy tin tưởng và cầu nguyện, vì "Dù bị tội lỗi và cái chết làm biến dạng, con người vẫn "là hình ảnh Thiên Chúa", là hình ảnh Chúa Con, nhưng "bị tước mất Vinh Quang Thiên Chúa" (Rm 3, 23), không còn "giống Thiên Chúa". Lời hứa với Áp-ra-ham khai mạc nhiệm cục cứu độ cuối nhiệm cục này, chính Chúa Con sẽ đảm nhận "hình ảnh" (Ga 1,14; Pl 2,7) và tái tạo lại nét "giống" Chúa Cha bằng cách hoàn trả cho con người Vinh Quang là Thánh Thần "ban sự sống." (Giáo lý HTCG, số 705). 

Nói tóm lại, Đấng Bảo Trợ mà Đức Giê-su hứa sẽ xin Chúa Cha ban cho các môn đệ chính là Thần Khí, là Chúa Thánh Thần – ngọn Lửa Mến luôn thắp sáng niềm tin, sưởi ấm tâm hồn, hun đúc dũng khí người Ki-tô hữu trên hành trình thi hành sứ vụ (thực hành các điều răn của Thầy Chí Thánh). Hãy cầu xin với chính Đấng Phục Sinh hằng sẵn sàng ban cho môn đệ: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ." (Ga 20,22), để được Chúa Cha ban Đấng Bảo Trợ đến thanh tẩy tâm hồn, soi sáng trí khôn, canh tân đời sống, gia tăng Lửa Mến, hiệp nhất muôn lòng.

Lạy Chúa! Xưa Chúa đã phán: “Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến.” (Ga 16,13). Cúi xin Chúa thương ban Thần Khí soi sáng cho chúng con hiểu được “sự thật toàn vẹn” về Đức Thánh Linh. Ôi! Lạy Chúa Thánh Thần! Xin thắp sáng trong lòng chúng con chứng từ yêu thương vô điều kiện và trung tín – là ngọn Lửa Mến – để chúng con vượt qua “cái tôi vị kỷ”, ra khỏi chính mình mà đến với anh em chúng con, nhất là những người nghèo khó, cô đơn, bệnh tật, già yếu, đặc biệt là những người bị xã hội bỏ rơi trong hoàn cảnh ngặt nghèo. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. Amen. mục lục

YÊU MẾN VÀ TUÂN GIỮ

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Những lời tâm huyết của Chúa Giêsu được thánh Gioan ghi chép lại trong hai chương 13 và 14, cuối cùng Chúa đúc kết trong một lời khuyên ân cần : "Ai yêu mến Thầy thì hãy giữ lời Thầy".

Có câu chuyện “Cậu Bé Thủy Thủ” giàu ý nghĩa minh họa:

Cậu bé Louis, 15 tuổi, học nghề thuỷ thủ trên một chiếc tàu buôn. Một hôm, trời mưa to gió lớn làm cho các thuỷ thủ lạnh cóng và rét run. Viên thuyền trưởng đem rượu Whisky ra cho các thuỷ thủ uống để chống lạnh. Ông cũng đem rượu cho cậu bé Louis, nhưng cậu từ chối không uống. Viên thuyền trưởng ép cậu phải uống kẻo bị lạnh, nhưng Louis vẫn một mực từ chối. Vì tự ái, viên thuyền trưởng bắt cậu ra sàn tàu đứng ôm cột buồm suốt đêm.Sáng hôm sau, khi điểm tâm xong, viên thuyền trưởng mới chợt nhớ ra cậu bé Louis. Mọi người chạy lên sàn tàu thì thấy cậu bé đã ngất xỉu dưới chân cột buồm.Sau khi sưởi ấm và làm cho cậu bé tỉnh, viên thuyền trưởng mới dịu dàng hỏi: “Tại sao cháu lại cố chấp như thế?”. Cậu bé trả lời: “Thưa ông, vì trước khi chết, mẹ cháu dạy cháu đừng bao giờ uống rượu. Và cháu đã hứa với mẹ điều ấy”. Viên thuyền trưởng ngạc nhiên hỏi: “Tại sao?”. Cậu bé ngậm ngùi kể lại: “Cha cháu say sưa tối ngày vì rượu. Mỗi lần say, ông về đánh đập mẹ cháu, lấy đồ đạc trong nhà bán để uống rựơu. Mẹ cháu buồn quá sinh bệnh rồi chết. Cháu rất thương mẹ cháu. Xin ông đừng bắt cháu làm ngược lại những gì mẹ cháu đã dạy bảo”. Viên thuyền trưởng cảm động ôm lấy cậu bé và nói : “Con xứng đáng là con của ta, ta sẽ truyền nghề cho con”.

Cậu bé Louis vì thương mẹ nên đã vâng giữ lời mẹ dạy. Cậu vâng nghe lời mẹ vì yêu mến mẹ.

Tình yêu của mỗi tín hữu dành cho Chúa sẽ được thẩm định bằng việc tuân giữ Lời của Ngài. Tình yêu ấy được minh chứng bằng cuộc sống tốt lành hàng ngày.

“Ai yêu mến Thầy sẽ giữ lời Thầy”. Lòng yêu mến của mỗi tín hữu đối với Chúa chỉ có giá trị khi đi đôi với việc làm là “vâng giữ lời Chúa”.

Khi thực thi ý Chúa, người tín hữu nhận lãnh được tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa: “Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy và chúng ta sẽ đến và ở trong người ấy”. Câu nói này của Chúa Giêsu hướng chúng ta đến mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi và nhất là ơn huệ Thánh Thần: “Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em”.Thánh Thần được ban chính là để làm chúng ta nhớ lại lời của Chúa Giêsu; như thế, chính khi chúng ta nhớ, hiểu và cảm nếm Lời Chúa trong cầu nguyện, trong thời gian tĩnh tâm, trong thánh lễ hằng ngày; khi để cho Lời Chúa trở thành lương thực, sự sống mỗi ngày của mình thì chúng ta đang chan hòa ơn Thánh Linh. Ba Ngôi Thiên Chúa ở trong chúng ta, như thế tâm hồn mỗi người xứng đáng là đền thờ của Thiên Chúa, một đền thờ thiêng liêng, thánh thiện, tốt đẹp, yêu thương, luôn thể hiện tình yêu Thiên Chúa đến với mọi người.

“Ai yêu mến Thầy thì giữ lời Thầy“. Giữ lời của Thầy là chứng tỏ lòng thương mến của mình đối với Thầy. Lời cốt lõi của Thầy là các con hãy tuân giữ và thực thi giới răn yêu thương.

Cội nguồn của dòng sông tình yêu phát xuất từ Chúa Cha qua Chúa Giêsu tuôn chảy đến nhân loại.Tình yêu là nguồn sự sống, là động lực chính yếu của cuộc đời và sau hết tình yêu cũng là cứu cánh của cuộc đời: Vạn sự đã do Tình yêu sáng tạo, vạn sự được Tình yêu nâng đỡ, vạn sự đi về Tình yêu và đi vào trong Tình yêu (R.Tagore).

Chính tình yêu Thiên Chúa đã gọi chúng ta vào trường đời để dạy chúng ta sống yêu thương. Chính tình yêu Thiên Chúa đã cứu sống chúng ta. Và chính nhờ tình yêu ấy mà chúng ta được sống viên mãn.Thiên Chúa là dòng sông ân sủng. Khi kết hiệp với Người, ân sủng tuôn đổ vào linh hồn, làm cho chúng ta được sống và sống sung mãn. Ân sủng thấm nhập nội tâm, uốn nắn tình cảm, củng cố ý chí, sinh ra những hoa trái thiêng liêng trong tư tưởng, lời nói, việc làm. Nhờ kết hiệp mật thiết với Chúa, chúng ta được sống sự sống của Người, nói lời nói của Người, hành động theo gương của Người, phán đoán theo chuẩn mực của Người, nhìn con người và sự việc bằng cặp mắt của Người, yêu thương bằng trái tim của Người. Khi sự kết hiệp đã đến mức hoàn hảo, chính Người hành động qua chúng ta và vì thế, những hoa trái sẽ vô cùng phong phú.

Những người yêu mến Chúa thì luôn biết lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành.

Trong truyện thánh Tử đạo Martinô Thọ có chép:

“Ông Thọ là người rất đạo đức. Vì được tín nhiệm, ông làm việc thu thuế trong một thời gian rồi xin nghỉ vì thấy có nhiều cheo leo khó công minh luôn mãi được. Ông khuyên các con cứ đúng luật Chúa mà làm chứ đừng phạm tội vì muốn đẹp lòng người khác…. Ông làm việc rất siêng năng và cũng rất rộng rãi với người nghèo khó: không bao giờ ông để họ ra về mà không cho của gì ăn. Nếu con cái đi vắng, ông mời người ăn xin cùng ngồi ăn cơm chung, nếu con cái ở nhà, ông bắt chúng chia cơm cho họ”. Thánh Martinô Thọ đã tuân giữ giới răn Chúa dạy là mến Chúa yêu người, sống công bằng bác ái. Ngài quả là người yêu mến Chúa thật và đã đáng được Chúa trọng thưởng hạnh phúc đời đời.

Đức Maria là mẫu gương yêu mến và tuân giữ Lời Chúa.

Một người phụ nữ nghe Chúa giảng dạy, bà nghe say mê. Với tính nhạy cảm của một người nữ, bà cảm nghiệm niềm hạnh phúc của người mẹ có một người con tuyệt vời như Chúa Giêsu. Giữa đám đông, bà bày tỏ niềm thán phục Chúa, bà tán dương Mẹ Maria là “người mẹ có phúc đã cưu mang Thầy và vú đã cho Thầy bú mớm”. Đáp lại lời tán dương ấy, Chúa nói đến hạnh phúc cho ai nghe và giữ lời Thiên Chúa: “Bà ơi, đúng hơn phải nói rằng: phúc thay kẻ biết lắng nghe và giữ lời Thiên Chúa”. Người phụ nữ kia đã tán dương Đức Mẹ là có phúc vì Mẹ có các vinh dự làm Mẹ của một người con tài ba kỳ diệu là Chúa Giêsu. Đây mới chỉ là vinh dự trần gian. Mẹ Maria còn có một hạnh phúc lớn lao hơn là “nghe và giữ lời Thiên Chúa”. Khi biết lắng nghe, đón nhận và giữ lời Thiên Chúa thì thiên đàng đã ở trong người ấy, vinh phúc đời đời ở trong người ấy, Thiên Chúa ở trong người ấy. Đó là vinh phúc của Mẹ Maria. Bởi đó, Chúa nói với người phụ nữ kia, không chỉ dừng lại nơi lời khen Mẹ Maria có phúc vì đã có vinh dự cưu mang, nuôi dưỡng một người con tuyệt vời, mà cần hướng đến ý nghĩa cao cả hơn. Phúc thay cho ai biết lắng nghe và giữ lời Thiên Chúa. Đó là hạnh phúc cao quý nhất của Đức Mẹ.

Vào ngày Thiên Thần Gabriel đến truyền tin, Đức Mẹ đã đứng trước một mầu nhiệm lạ lùng. Mẹ cưu mang con Thiên Chúa. Mẹ suy nghĩ và trao đổi. Mẹ biết đây là thánh ý của Thiên Chúa. Mẹ đáp trả lời “Xin Vâng”. Mẹ đã lắng nghe, Mẹ đã tin và chấp nhận dấn thân. Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể trong lòng Mẹ. Chính Ngài là Ngôi Lời Thiên Chúa đang đến với nhân loại và trở nên Emmanuel.

Ngày kia, Chúa đang rao giảng, có người tin cho Chúa biết: “có Mẹ và anh em Thầy đang chờ gặp Thầy”. Chúa nói ngay với họ: “Ai là Mẹ tôi, ai là anh em tôi? Ai nghe và giữ lời Thiên Chúa, người đó là anh chị em tôi, là mẹ tôi”.

Tại tiệc cưới Cana, Mẹ xin Chúa giúp đỡ gia đình tân hôn đang hết rượu. Với một lời đề nghị tế nhị: “Con ơi, họ hết rượu rồi”. Chúa đáp lại như một lời từ chối: “Thưa bà, việc đó liên can chi đến bà và tôi? Giờ của tôi chưa đến”. Mẹ tin nơi tình thương của Chúa. Chúa sẽ làm những gì tốt nhất, đẹp nhất cho con người. Vì thế, Mẹ dặn dò người giúp vịêc: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”.

Trong cuộc thương khó của Chúa, Mẹ đau đớn và luôn vâng theo thánh ý Thiên Chúa. Dưới chân thập giá, Mẹ hiệp thông trọn vẹn trong lễ tế hiến dâng với con…

Lạy Chúa, chúng con nhận ra một cách rất hữu hiệu để được Chúa yêu mến là chúng con tuân giữ giới răn yêu thương của Chúa. Xin cho chúng con xác tín rằng tình yêu của chúng con đối với Chúa phải được thể hiện ra bằng việc yêu thương tha nhân, cụ thể là yêu những người trong gia đình con, những người cùng làm việc với con trong xí nghiệp công ty, những người hàng xóm, những bạn bè con gặp gỡ hằng ngày. Xin giúp chúng con yêu họ cụ thể bằng sự quan tâm đến những niềm vui hay nỗi đau khổ của họ, đồng thời sẵn sàng hy sinh để giúp họ hạnh phúc hơn.

Lạy Chúa, trong cuộc hành hương nội tâm hay lữ hành nơi dương thế, chúng con tin có Mẹ Maria luôn cầu bầu che chở, yêu thương nâng đỡ. Chúng con nhìn lên Mẹ như vị thầy lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa. Xin cho chúng con luôn vững lòng cậy trông với niềm tin yêu như Mẹ là mẫu gương cho chúng con. Amen. mục lục

CHÚA THÁNH THẦN LÀ HY VỌNG VÀ LÀ TRẠNG SƯ

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

Sách Tông đồ Công vụ sáu chương đầu nói về lịch sử thành lập Giáo Hội tiên khởi ở Jerusalem. Qua bài đọc I (Cv 8:5-8, 14-17) và những câu trong Cv10: 44-48 & Cv 19:1-6, thánh Luca đã phân biệt bí tích Thanh Tẩy nhân danh Chúa Giêsu và sự tiếp nhận Chúa Thánh Thần. Trong mỗi trường hợp, có ơn Chúa Thánh Thần đều phải thông qua một trong 12 Tông đồ như Phêrô và Gioan hoặc người đại diện như Phaolô. Đây là cách có vẻ hay nhất mà Luca dùng để diễn tả nhiệm vụ của Giáo Hội trong việc cầu xin ơn Chúa Thánh Thần. Những chỗ khác trong sách Tông đồ Công vụ, bí tích Thanh Tẩy và Chúa Thánh Thần lại liên kết mật thiết với nhau (Cv 1:5; 11:16).

Vậy chúng ta học được gì từ cảm nghiệm này? Bản văn của Luca trong Tông đồ Công vụ nói rõ ràng tặng phẩm Chúa Thánh Thần không phải là một đặc ân cá nhân. Tuyên xưng Kinh Thánh cũng không đơn thuần là do có óc thông minh hiểu biết, mà là một tiến trình hiểu biết do cảm nghiệm về Đức Giêsu thành Nazareth, Đấng đã chết trên thập giá và phục sinh. Không một trở ngại nào - dù là bất toàn thể xác, chủng tộc hay địa lý - có thể đặt con người ra ngoài ơn gọi cứu chuộc của Tin Mừng. Thiên Chúa đã tích cực hoàn thành trọn vẹn mục đích của Người vì sứ mạng hoạt động của Giáo Hội (Lc 24:47; Cv 1:8). Chúa Giêsu đã để ý đến tất cả những ai có khả năng làm chứng nhân và Người huấn luyện họ, thêm sức mạnh cho họ rồi sai họ đi khắp các nẻo đường để rao truyền Lời Chúa. 

HÃY TÔN THỜ ĐỨC KITÔ LÀ THIÊN CHÚA NGỰ TRONG LÒNG

Bài đọc 2 thư thánh Phêrô (1 Pr 3:15-18) nhắc nhở chúng ta là nhờ Đức Kitô chịu đau khổ và chịu chết mà người công chính có thể cứu giúp kẻ bất lương (1 Pr 3:18); nhờ sự phục sinh, Người lấy lại đời sống mới trong Chúa Thánh Thần rồi thông phần cho các tín hữu qua bí tích Thanh Tẩy rửa sạch mọi tội lỗi. Như gia đình ông Noah được cứu khỏi cơn hồng thủy thì người Kitô hữu cũng được cứu rỗi qua nước của bí tích Thanh Tẩy (1 Pr 3:19-22). Từ đó họ không còn phải sợ hãi như những kẻ tội lỗi nhưng vui mừng trong đau khổ vì họ hy vọng trong Chúa Kitô. Sự vô tư hiền hòa của họ sẽ làm cho những kẻ cáo buộc họ phải thất vọng (1 Pr 3:13-16; Mt 10:28; Rm 8:35-39). 

Lời thánh Phêrô nói với Giáo Hội sơ khai hơn 2.000 năm xưa nay vẫn còn vang vọng nơi chúng ta: “Hãy tôn thờ Đức Kitô là Thiên Chúa ở trong lòng anh em. Hãy luôn luôn sẵn sàng cắt nghĩa cho bất cứ những ai hỏi anh em lý do anh em hy vọng, nhưng hãy trả lời một cách hiền hòa và tôn kính với lương tâm trong sáng. Như vậy khi anh em bị người ta phỉ báng, nói xấu vì anh em làm việc thiện trong Chúa Kitô thì chính họ sẽ bị xấu hổ” (1 Pr 3:15ff).

Lý do chúng ta hy vọng là gì? Xin phép nhắc lại một phần bài giảng của ĐGH Biển Đức XVI ở Rôma trong ngày lễ thánh Phêrô và Phaolô Tông đồ hôm 29-6-2009: 

“Rất vắn gọn, tôi muốn lưu ý anh chị em về hai xác quyết khác trong thư 1 của thánh Phêrô liên quan đến chúng ta ở thời đại ngày nay. Trước hết có một câu mà ngày nay chúng ta lại khám phá ra, mà theo căn bản đó các thần học gia thời Trung Cổ hiểu biết bổn phận thần học gia của mình: “Đức Kitô là Đấng Thánh, hãy tôn Người làm Chúa ngự trong lòng anh em. Hãy luôn luôn sẵn sàng cắt nghĩa cho bất cứ ai yêu cầu lý do mà anh em hy vọng” (3:15). Niềm Tin Kitô giáo là Hy Vọng. Nó lót đường cho chúng ta đi tới tương lai. Nó là hy vọng với đầy đủ lý lẽ của nó, một hy vọng mà chúng ta có thể và cần phải cắt nghĩa. Niềm Tin đến từ “Lý Chứng đời đời” đã đi vào thế giới chúng ta và chứng tỏ cho chúng ta là Thiên Chúa thật. Niềm Tin vượt quá khả năng của lý trí của chúng ta, cũng như tình yêu nhìn rõ tỏ mọi sự hơn là đơn thuần thông minh. Nhưng Niềm Tin nói với lý trí và trong cách biện chứng nó cũng phù hợp với lý trí. Nó không trái ngược với lý trí mà còn bổ sung lý trí và vượt quá lý trí để đưa chúng ta đến với Lý Chứng vĩ đại hơn của Thiên Chúa. 

“Là mục tử thời đại, chúng ta có bổn phận trước hết phải hiểu rõ lý do chúng ta tin. Bổn phận chúng ta không chỉ đơn thuần giữ nó như một truyền thống mà phải nhận biết nó như những giải đáp cho những câu hỏi mà người ta chất vấn chúng ta. Niềm tin đòi hỏi sự cộng tác hữu lý của chúng ta, được ăn sâu và thanh hóa trong việc chia sẻ tình yêu. Nó là một trong những bổn phận của người mục tử, là thấm nhuần niềm tin vào ý nghĩ, khả dĩ có thể biểu lộ lý lẽ chúng ta hy vọng trong những cuộc tranh cãi ở thời đại chúng ta.” 

MỘT TÂN TRẠNG SƯ ĐẶC BIỆT VÀ THƯỜNG TRỰC

Trong Tin Mừng Gioan, ý nghĩa tiếng ‘mất’ trong số các môn đệ thì đã rõ ràng khi Đức Giêsu chuẩn bị xa lìa họ. Phêrô hỏi Chúa: “Thầy sẽ đi đâu?” (Ga 13:36) và “Thưa Thầy, tại sao tôi không thể đi theo Thầy ngay bây giờ?” (Ga 13:37). Đến điểm tột cùng này Chúa đã trả lời: “Nếu anh em yêu mến thầy thì anh em sẽ giữ những giới răn của thầy. Và khi thầy xin Cha thầy thì Ngài sẽ ban cho anh em một tân trạng sư là Chúa Thánh Thần của sự thật, mà trần gian không biết, nhưng sự hiện diện của ngài ẩn hiện nơi các môn đệ (Ga 14:17). Lúc đó nền tảng của sự tin tưởng của chúng ta sẽ được Chúa Thánh Thần hướng dẫn. 

Danh từ trạng sư dịch từ tiếng Hy Lạp là “paraclete” có liên quan đến luật pháp, có nghĩa là người biện hộ. Nó cũng có nghĩa là phát ngôn viên, người trung gian, người an ủi giúp đỡ và bảo trợ, mặc dù không có tiếng nào nói lên được ý nghĩa mà Gioan muốn ám chỉ. Trong Gioan, từ “paraclete/trạng sư” nghĩa là thầy dạy, chứng nhân cho Đức Giêsu và là bảo trợ viên của trần gian, người đại diện thường trực của Đức Giêsu ở trần gian trong khi người về cùng Cha người.

Đức Giêsu chính là trạng sư đầu tiên (x. 1 Ga 2:1), có nghĩa là Đấng trung gian ở trên thiên đàng. Trạng sư đến trong cộng đồng Kitô giáo là dấu hiệu khởi đầu sứ mạng trần thế thúc đẩy những Kitô hữu của Giáo Hội sơ khai vượt quá khỏi giới hạn địa dư của mình đi ra khắp bốn phương trời. Nếu Đức Giêsu là trạng sư trong khi Người hiên diện ở trần thế, thì Chúa Thánh Thần bây giờ là Tân Trạng Sư. Đức Giêsu sẽ lại xuất hiện khi Người trở lại. Vị trạng sư này là một người xa lạ nhưng là bảo đảm cho lòng trung thành với Chúa Giêsu: “Trạng sư là Chúa Thánh Thần mà Cha thầy sẽ gửi đến nhân danh thầy, sẽ dạy dỗ anh em mọi sự và nhắc nhở anh em những điều thầy đã nói với anh em” (Ga 14:26). Người còn nói thêm là vị trạng sư này sẽ làm chứng với tư cách thầy, đồng thời cũng làm cho các môn đệ trở thành chứng nhân. Nhờ đoạn văn này, chúng ta nhớ lại sự bất ổn và sợ hãi của các môn đệ nói ở phần khởi đầu của sách Công vụ Tông đồ. Khi Chúa Thánh Thần đến, họ được soi sáng, can đảm hơn và trở thành chứng nhân một cách can trường và trong sáng.

HY VỌNG NHƯNG KHÔNG BÁM CHẶT VÀO QUÁ KHỨ

Trạng sư không chỉ là bảo đảm cho lòng trung thành và can đảm tuyên xưng mà còn là hướng dẫn đi tới tương lai: “Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em nhưng bây giờ anh em không có sức chịu nổi. Khi Thánh Thần Sự Thật đến, Người sẽ hướng dẫn anh em đến sự thật toàn vẹn. Người không tự mình nói điều gì nhưng Người sẽ nói lại cho anh em tất cả những điều Người nghe và báo cho anh em biết những điều sẽ xẩy ra” (Ga 16:12-13). Sự hiện diện và hướng dẫn của Thần Linh Chúa làm cho các Tông đồ thêm sức mạnh tiến đến tương lai, sẵn sàng đương đầu với mọi thách đố một cách đầy sáng tạo. Tông đồ đích thực thì trung thành với Đức Giêsu và sứ điệp của Người, tuy nhiên họ không bị kẹt với quá khứ. Chính Thần Linh Chúa sẽ điều chỉnh họ, giúp họ biết uyển chuyển để thích nghi với mọi hoàn cảnh nhưng luôn luôn một mực trung thành và hy vọng. 

KÝ ỨC SỐNG ĐỘNG CỦA GIÁO HỘI

Tân trạng sư không phải là đại diện được gửi đến để thay thế Chúa Giêsu vắng mặt.. Trái lại, để bảo đảm sự hiện diện của Người cũng như của Thiên Chúa Cha. Các ngài “sẽ cùng đến” để trọn lời hứa của Đức Giêsu, và sẽ ở cùng với Người. Các ngài sẽ không ở với những kẻ không yêu mến Chúa và giữ Lời Người. Trạng sư ở trong mọi người yêu Chúa và giữ các giới răn Chúa, và vì vậy sự hiện diện của Người không bị giới hạn bởi thời gian (Ga 14: 15-17). Trạng sư hiện diện nơi các môn đệ thời nay của Chúa Giêsu cũng như Người ở với các môn đệ đầu tiên. Không một ai có thể nghĩ rằng Đức Giêsu đã bỏ rơi Giáo Hội ngày nay của chúng ta. Chúa Giêsu vẫn tiếp tục gửi đến cho chúng ta Thần Linh Thiên Chúa sự thật. Chúng ta đã nghe và đọc Tin Mừng: “Đấng mà Thiên Chúa Cha gửi đến cho chúng ta sẽ dạy chúng ta tất cả mọi sự và nhắc nhở chúng ta tất cả mọi điều mà Đức Giêsu đã nói với chúng ta (c.26). Điều nhắc nhở và gợi nhớ lại được diễn tả một cách tuyệt vời bằng những danh từ mới trong sách Giáo Lý Công Giáo nói về công việc của trạng sư / Chúa Thánh Thần: “Chúa Thánh Thần là trí nhớ sống động của Giáo Hội” (c.# 1099).

Sự xuất hiện của Chúa Thánh Thần là dấu hiệu khởi đầu sứ mạng toàn cầu của người Kitô hữu sơ khai vươt biên giới của mình đi đến muôn nơi. Là Kitô hữu, con người Giêsu Kitô là “khởi điểm”của hy vọng và mục đích của chúng ta. Đức Kitô đòi hỏi Giáo Hội biến muôn dân trên khắp địa cầu thành môn đệ Chúa” (Mt 28:19). Để hướng dẫn việc làm trong sứ mạng của Giáo Hội, Chúa Kitô đã gửi Chúa Thánh Thần xuống cho chúng ta. Đức Giêsu đã xác định Chúa Thánh Thần là Tân Trạng Sư, là “Thần Linh của Sự Thật”, mà thế gian không biết vì Ngài ẩn dấu sự hiện diện của Ngài trong các môn đệ (Ga 14:17). Lúc đó nền tảng sự tin tưởng của chúng ta là có Chúa Thánh Thần hướng dẫn. Đức Giêsu đã là trạng sư trong khi Người hiện diện ở trần thế cùng với các môn đệ. Chúa Thánh Thần là Tân Trạng Sư, sự hiện diện của Ngài là hướng dẫn Giáo Hội cho đến khi Chúa Giêsu trở lại lần thứ hai. Vị trạng sư này là một người xa lạ, nhưng là bảo đảm cho lòng trung thành với Chúa Giêsu: Vị trạng sư là Thần Linh Chúa mà Thiên Chúa Cha sẽ gửi đến cho anh em nhân danh Thầy, sẽ dạy anh em mọi sự và nhắc nhở anh em tất cả những điều mà thầy đã nói với anh em (Ga 14:26). mục lục

YÊU TRONG CHÂN LÝ

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Trong bối cảnh phụng vụ cuối của mùa Phục sinh, chúng ta đang chuẩn bị mừng lễ Chúa Giêsu Thăng Thiên, rồi lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Chính vì thế, hôm nay Tin Mừng vừa có nội dung cho biết Chúa Giêsu giã từ, vừa là lời hứa Chúa Giêsu hứa ban Chúa Thánh Thần cho các môn đệ.

Chúng ta đặc biệt quan tâm lời hứa của Chúa Giêsu: "Thầy sẽ xin Cha và Người sẽ ban cho các con một Đấng Phù Trợ khác, để Người ở với các con luôn mãi. Người là Thánh Thần Chân Lý mà thế gian không thể biết".

"Thánh Thần Chân Lý". Có lần một nhà văn phỏng vấn Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Anh ta đề nghị: "Nếu phải tóm tắt toàn bộ Tin Mừng của Chúa Giêsu trong một câu, thì Đức Giáo hoàng sẽ chọn câu nào?". Đức Thánh Cha trả lời ngay: "Sự thật giải thoát các con" (Ga 8, 32).

Câu trả lời ấy làm nhiều người bất ngờ. Bởi thông thường người tín hữu hay nói đến tình yêu, nói về tình yêu. Trong đầu dường như có sẵn mặc định: nói về Thánh Kinh, nói về Thiên Chúa là nói về tình yêu. Mặc định như thế không sợ sai lầm. Vì quả thật, Thiên Chúa là tình yêu, là chính nguồn tình yêu và ban phát tình yêu.

Dó đó, nếu đem câu hỏi của người phỏng vấn Đức Giáo hoàng mà hỏi từng người trên đời, chắc anh ta sẽ nghe lặp đi lặp lại lời này: "Các con hãy yêu nhau như Thầy yêu các con" (Ga 5, 12).

Chúng ta thường rất ít, nếu không muốn nói là bỏ qua việc nói đến chân lý, nói về sự thật.

Nhưng nếu có tình yêu mà không có sự thật thì tình yêu ấy nguy hiểm vì dễ sai lầm, dễ dẫn đến nát tan, đổ vỡ.

Thử nhìn lại kinh nghiệm gia đình. Chẳng hạn, cha mẹ thương con, nhưng thương theo cảm tính, nó đòi cái gì được cái ấy, thương không muốn con buồn mà chỉ muốn con vui bất chấp niềm vui ấy có được phép không. Họ nghĩ, yêu con là cho con được thỏa mãn, được thích thú, được vừa ý, được chiều chuộng.

Tình yêu ấy dễ dẫn con mình đến lối sống sai lầm, một lối sống chỉ biết đòi hỏi, chỉ biết làm chủ mà không hy sinh, không suy nghĩ hay đong đo: người yêu và kẻ được yêu như thế có lợi gì, mất mát gì. Yêu và được yêu như thế có nền tảng giáo dục hay không, có phương hại đến tư cách, nhân cách hay không...

Nhiều bạn trẻ được nuông chiều kiểu ấy, kết cuộc là ma túy, nhà tù, bụi đời, băng hoại đạo đức, gánh nặng của xã hội. Đó là tình yêu không trong chân lý, yêu dại dột. Một lối yêu có nguy cơ quay lại sát hại người mình yêu.

Vì thế, Chúa Giêsu vừa mạc khải Chúa Thánh Thần là tình yêu, nhưng cũng vừa mạc khải Chúa Thánh Thần là Thánh Thần chân lý. 

Thiên Chúa không yêu con người theo kiểu sai lầm vừa nói. Tình yêu của Chúa đưa từng người đến sự sống, đến nguồn mạch sự sống là chính Chúa. 

Chúa không thể yêu mà không có chân lý, không ban chân lý. Chúa không thể yêu, để rồi đẩy mỗi người đến hư mất. Chúa không thể yêu để rồi nhìn thụ tạo muốn làm gì thì làm mà không có luật, không có giáo lý hướng dẫn.

Chính lời của Chúa trong Kinh Thánh, nhất là trong Tin Mừng, là luật, là định chế, là giáo lý giúp ta sống trọn tình yêu của Chúa, sống trọn sự thật mà tình yêu ấy mang lại.

Chúa Thánh Thần soi sáng để mỗi bước đi trong đời, ta mạnh dạn sống và thực thi lời Thiên Chúa. Người giúp ta không chệch ra ngoài tình yêu và chân lý của Thiên Chúa. Người làm cho ta đi đến đích của tình yêu là chính Thiên chúa. Đó cũng chính là chân lý vĩnh cửu mà với ơn và sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần, ta sẽ đạt tới.

Hãy cố gắng cộng tác với Chúa Thánh Thần, Nguồn Tình Yêu và Chân lý bằng nỗ lực từng ngày sống chính Lời của Chúa Giêsu, sống trọn lề luật và giáo lý mà Hội Thánh dựa trên lời ấy trao cho ta.

Hãy cầu nguyện luôn luôn để đón nhận ơn Chúa Thánh Thần cách bền bỉ. Hãy xin ơn Chúa Thánh Thần dẫn dắt, để ta luôn đi trong ánh sáng của Người và không bao giờ lệch xa tình yêu và chân lý tối thượng ấy. MỤC LỤC

NẾU NÓI YÊU THẦY MÀ KHÔNG GIỮ LỜI THẦY LÀ MÂU THUẪN

Giuse Vinhsơn Ngọc Biển, SSP

Khi nói đến tình yêu, ai cũng biết nó là một khái niệm trừu tượng, vô hình, không thể nhìn thấy bằng giác quan. Tuy nhiên, nó lại hiện diện trong những gì là hữu hình. vì thế, tôi không thể yêu một cái gì đó, như bông hoa, con chim... mà trước đó tôi không hề biết gì về nó hay không hề có một khái niệm nào về chúng. Còn khi nói về tình yêu giữa người với người, chúng ta không thể nói tôi yêu người này, người kia mà tôi lại chưa một lần nghe kể, giáp mặt với người đó! Yêu nhau, chẳng lẽ lại bảo tôi yêu trong tư tưởng, tôi yêu trong khái niệm...??? Khi nói về tình yêu, chúng ta không có một định nghĩa nào mang tính chuẩn mực cho mọi tình huống, nhưng chỉ có một điều cụ thể: tình yêu là tổng hợp của cả hồn lẫn xác.

Hôm nay, bài Tin Mừng cho thấy, Đức Giêsu làm một cuộc trắc nghiệm và cũng như một điều kiện để biết được tình yêu của các môn đệ và cũng là của mỗi chúng ta với Ngài đang ở trong tình trạng như thế nào?.

1. Yêu mến và giữ Lời Chúa

“Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” (Ga 14,15). Lời nhắn nhủ này mang đượm tình nghĩa Thầy trò và có giá trị thiêng liêng. Bởi vì tình cảnh chia ly sắp xảy ra với Đức Giêsu và các môn sinh trên bình diện tự nhiên để chuyển dần sang khía cạnh siêu nhiên.

Kẻ đi, người ở, biết bao là luyến tiếc, nhớ thương! Tuy nhiên, để hình ảnh của Thầy không bị lu mờ; tinh thần của Thầy không rơi vào quên lãng, thì việc làm cho lời của Thầy sống động trong cuộc đời qua hành vi của mình là điều quan trọng. Chính vì thế, Đức Giêsu nói: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” (Ga 14,15).

Yêu, giữ và thực hành lời của ai, thì cho dù người đó không còn hiện hữu trên bình diện tự nhiên, thì khí cạnh siêu nhiên, họ vẫn sống qua cuộc đời và nơi hành vi của người yêu còn sống. Cũng vậy, khi các môn đệ yêu mến và giữ lời Đức Giêsu truyền dạy, thì các môn đệ trở nên hiện thân của chính vị Thầy mà mình là những người đang tiếp bước.

2. Yêu và hành động

Yêu mến.... thì sẽ thực thi.... phải luôn gắn liền với nhau. Yêu mến Đức Giêsu thì hẳn phải thực thi lệnh truyền của Ngài, mà lệnh truyền đó đã được Đức Giêsu gói trọn trong hai giới răn: “Mến Chúa và yêu người”. Yêu mến Thiên Chúa và thương yêu anh em đồng loại là hai mặt của một tình yêu. Thánh Gioan đã nói rất rõ: “Ai nói rằng mình biết Người mà không tuân giữ các điều răn của Người, đó là kẻ nói dối” (1 Ga 2, 4).

Đức Giêsu không chấp nhận một tình yêu trên bình diện lý thuyết, từ chương, hay một thứ tình yêu “cưỡi mây về gió”; hoặc“mông lung”. Vì thế, đã có nhiều lần Đức Giêsu phản đối những kinh sư và người Phrisêu: “Dân này Kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta” (Mt 15, 8); hay khi nói về tình yêu giả tạo, hào nhoáng, hình thức, Ngài nói: “Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Phrisêu giả hình! Các người giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế” (Mt 23, 27), bởi vì họ là những người “ngôn hành bất tất”.

Như vậy, Đức Giêsu căn dặn các môn đệ là phải yêu và thực hành tình yêu đó cách chân thật, vô vị lợi, dán chấp nhận hy sinh vì người mình yêu. Tình yêu đó được chính Đức Giêsu đã hành động, đi qua và Ngài đưa ra lời mời gọi: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13, 34). Yêu như chính thầy là gì, nếu không phải là một tình yêu tự hủy, khiêm tốn, phục vụ và hiến dâng mạng sống vì người mình yêu.

Cùng một con đường, chung cách thể hiện, Đức Giêsu cũng mời gọi các môn đệ tiếp bước trên con đường mà Ngài đã đi, để tình yêu đó được nối dài, sống động và phong phú chứ không phải thứ tình yêu đóng khung, cứng nhắc.

Như vậy, chữ “nếu” không có nghĩa rộng là thích thì làm, không làm cũng chẳng sao. Nhưng chữ “nếu ” mà Đức Giêsu muốn nói ở đây phải hiểu theo nghĩa hẹp, tức là điều kiện thiết yếu, không có không được. Chữ “nếu” ở đây liên kết hai mặt của một tình yêu, nó đóng vai trò trung gian duy nhất để như một điều kiện cần phải có: “yêu Chúa” và “giữ lời Ngài” để từ đó phát sinh hệ luận là “yêu tha nhân như chính Thầy” (x. Ga 13, 34).

Như vậy, Đức Giêsu xác định thật rõ rằng: tình yêu chân chính thì phải được biểu lộ qua hành động. Không thể yêu cách vu vơ, chung chung...

3. Sống lời dạy của Đức Giêsu trong đời sống Kitô hữu

Thánh Giacôbê đã nói: “Đức tin không có hành động là đức tin chết” (Gc 2,26). Tin Chúa, đi theo Chúa và yêu mến Chúa thì phải giữ lời và thi hành những gì Ngài truyền dạy. Đây là một điều khó khăn, không dễ, nó đòi hỏi con người phải cố gắng, phải từ bỏ và phải yêu mến lời thực sự.

Thật vậy, chúng ta không thể nói yêu Chúa trên đầu môi chóp lưỡi. Yêu như thế là tình yêu giả tạo. Yêu như thế là chúng ta đang xúc phạm đến bản chất của tình yêu giữa ta với Đức Giêsu. Ca dao tục ngữ Việt Nam có câu:

“Thương thương nhớ nhớ thương thương,

Nước kia muốn chảy mà mương chẳng đào” (Ca dao).

Nói yêu, nhưng không khai thông tình yêu đó bằng hành động thì chỉ như là một thứ tình yêu đất đá mà thôi.

Tuy nhiên, trái tim chai cứng, vô cảm này lại quá nhiều trong thời đại chúng ta. Nếu có ai đặt một câu hỏi: “Ông, bà anh chị em có yêu và tin Chúa không?” Có lẽ nhiều người trả lời là “có”, nhưng cũng không ít người khinh thường người hỏi, vì cho rằng câu hỏi đó vớ vẩn! Có đạo mà lại không yêu Chúa thì phải chăng là người dở hơi! Nhưng nếu hỏi tiếp: “Vậy ông bà, anh chị em, giữ đạo hay sống đạo?” Tới đây, nhiều người bắt đầu khựng lại và có lẽ cảm thấy xấu hổ vì nhiều khi niềm tin của chúng ta ở trong chứng minh thư, trong sổ Rửa tội, còn ở trong tâm, được thể hiện qua hành động thì ít lắm!

Đến đây, xin được kể một câu chuyện có thật của một vị linh mục đã trọng tuổi, ngài sống ở Mỹ. Sau 50 năm, ngài mới trở về Việt Nam lần đầu, và nhân dịp gặp gỡ chúng tôi, ngài kể: “Cách đây 50 năm, tại đất nước Mỹ, người ta có lòng sùng đạo. Nhà thờ được xây cất rất nhiều, các cuộc rước linh đình. Nhìn chung, tình hình giữ đạo rất giống Việt Nam hiện nay.

Tuy nhiên, vào thời điểm này, sau 50 năm, nhiều nhà thờ đã không còn có người đi lễ nữa. Nhiều dòng tu cũng vắng dần các ơn gọi trẻ. Đã có những nhà thờ và dòng tu phải bán đi vì không có tiền đóng thuế. Các linh mục phải đi theo họ đến những nơi du lịch để giải tội và dâng lễ. Nhiều Chủng Viện gom lại thành một, nhưng số lượng chủng sinh vẫn chỉ đếm trên đầu ngón tay. Nếu có ai siêng đi lễ thì đôi khi nhận được những lời dè bửu và cho là bất thường. Những người được coi bình thường là cả đời người ta đến nhà thờ 3 lần: một lần Rửa Tội; lần khác là lễ cưới; và lần cuối cùng là chết. Trong ba lần đó, hai lần thụ động, tức là lúc Rửa Tội và lúc chết, còn một lần chủ động là lễ cưới”.

Sau đó, ngài đưa ra nhận xét: “Nếu Giáo Hội Việt Nam không coi đó là kinh nghiệm cho chính mình, không tập trú vào việc đào tạo lương tâm, không có những hoạt động phù hợp... nhằm giúp cho con cái mình sống đạo chứ không chỉ giữ đạo, thì tình trạng của Giáo Hội Mỹ cũng là hình ảnh, thực trạng của Giáo Hội chúng ta trong tương lai???”

Đến đây, xin để lại nơi bạn và tôi câu hỏi: “Bấy lâu nay, chúng ta đã thực sự sống đạo hay chỉ là giữ đạo vì sợ tội, sợ mất linh hồn, sợ mất danh dự, sợ bị mang tiếng...?”; “Phải chăng chúng ta đã, đang an tâm với những thành quả về số lượng, mà quên đi, hay không chú tâm đến chất lượng tâm linh?”. Tưởng cũng nên nói thêm: giữ đạo là điều tốt, nhưng sống đạo mới là người trưởng thành.

Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con một đức tin mạnh mẽ và một lòng mến dồi dào. Khi chúng con nói được rằng chúng con tin vào Chúa và thực thi giới răn của Ngài, thì chúng con biết sống những điều đó bằng một đời sống cụ thể. Ðể cuộc sống của chúng con là một chứng từ sống động cho mọi người nhận biết Chúa. Amen. mục lục

THẦN KHÍ CHÚA

Trầm Thiên Thu

Thánh Gioan xác định: “Cái bởi xác thịt sinh ra là xác thịt; cái bởi Thần Khí sinh ra là thần khí.” (Ga 3:6) Cũng như gió, người ta có thể cảm nhận nhưng không thể thấy hoặc sờ được: “Gió muốn thổi đâu thì thổi; ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu. Ai bởi Thần Khí mà sinh ra thì cũng vậy.” (Ga 3:8) Thật là kỳ diệu!

Gió thổi mát mọi người, không phân biệt ai – dù hiền nhân hay ác nhân, dù hữu thần hay vô thần. Đó là yêu thương, là đức mến, là đức ái, và cũng là lòng thương xót. Đạo Công giáo là “đạo yêu thương” vì “Thiên Chúa là tình yêu.” (1 Ga 4:8 và 16) Do đó, đức mến luôn quan trọng và cần thiết, bởi vì ở trên Nước Trời vẫn còn đức mến – dù không còn đức tin và đức cậy (x. 1 Cr 13:13)

Như dạng mặc định được “cài đặt” sẵn, không thể chỉnh sửa: “Đời là bể khổ.” Vì thế, con người luôn cần yêu thương – yêu và được yêu. Cuộc sống không có tình yêu thương thì cũng như trái đất không có ánh mặt trời. “Vô tri bất mộ” là điều tất yếu. Không biết thì không mến, thậm chí còn có thể ghét, nhưng khi đã biết thì người ta cảm thấy mến. Lẽ thường ở đời là thế. Tuy nhiên, trước khi BIẾT thì phải MUỐN BIẾT, muốn biết thì mới cố gắng TÌM HIỂU, nhưng phải tìm hiểu kỹ lưỡng, thấu đáo, không thể hời hợt hoặc gặp chăng hay chớ. Một khi đã biết rõ rồi thì sẽ nảy sinh lòng yêu mến, và có thể say đắm – gọi là si tình (một dạng “điên” nhẹ). Mà đã yêu mến tức là đã thực sự tin tưởng. Mối liên kết rất lô-gích. Các thánh cũng đã “điên” nên mới yêu mến Chúa đến nỗi bỏ mọi sự – kể cả mạng sống. Điên thật!

Không thể không điên. Vì Thánh Phaolô bảo: “Ai không yêu mến Chúa thì là đồ khốn kiếp!” (1 Cr 16:22) Nhưng mến Chúa thì phải yêu người. Đó là điều quan trọng, là hệ lụy tất yếu. Thánh Gioan phân tích: “Nếu ai nói ‘tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy.” (1 Ga 4:20) Về vấn đề này, Thánh Sibyllina Pavia “mở rộng” thêm: “Ai không yêu mến anh em thì không thể trở thành anh dũng tử đạo.” Có tình yêu thì người ta có thể làm được mọi sự, kể điều lớn lao, đúng như Thánh Augustinô xác định: “Cứ yêu thật đi rồi muốn làm gì thì làm.” Với kinh nghiệm hoang đàng, thánh nhân đã nuối tiếc: “Con yêu Chúa quá muộn màng, ôi vẻ đẹp rất xưa mà rất mới!” (Tự Thuật, số 10 & 27) Còn Mẹ Thánh Teresa Calcutta giải thích: “Bạn không thể thấy Chúa Giêsu trong người nghèo nếu bạn không thấy Ngài trong Thánh Thể.” Ôi, một chuỗi yêu thương kỳ diệu biết bao!

Kinh Thánh kể lại sự thật lạ lùng: “Ông Philípphê xuống một thành miền Samari và rao giảng Đức Kitô cho dân cư ở đó. Đám đông một lòng chú ý đến những điều ông Philípphê giảng, bởi được nghe đồn và được chứng kiến những dấu lạ ông làm.” (Cv 8:5-6) Họ không chỉ nghe đồn mà còn chứng kiến các dấu lạ do ông Philípphê đã thực hiện. Vì họ đã biết nên họ không thể làm ngơ, không thể không chú ý. Thật vậy, “các thần ô uế vừa kêu lớn tiếng vừa xuất khỏi nhiều người trong số những kẻ bị chúng ám, nhiều người tê bại và tàn tật được chữa lành. Trong thành, người ta rất vui mừng.” (Cv 8:7-8) Đó là chính Thiên Chúa hành động nơi ông Philípphê.

Ngày ấy, các tông đồ ở Giêrusalem nghe biết dân miền Samari đã đón nhận lời Thiên Chúa, các ông đã cử ông Phêrô và ông Gioan đến với họ. Khi đến nơi, hai ông cầu nguyện cho họ để họ nhận được Thánh Thần. Kinh Thánh cho biết: “Vì Thánh Thần chưa ngự xuống một ai trong nhóm họ: họ mới chỉ chịu phép rửa nhân danh Chúa Giêsu. Bấy giờ hai ông đặt tay trên họ, và họ nhận được Thánh Thần.” (Cv 8:16-17) Đó là Bí tích Thêm sức, loại bí tích cho chúng ta lãnh nhận Chúa Thánh Thần viên mãn. Nhờ Ngài mà chúng ta can đảm hành động, dám nói về sự thiện, đặc biệt là nói về Thiên Chúa.

Xưa nay chúng ta quen nói “bảy ơn Chúa Thánh Thần” – khôn ngoan, hiểu biết, lo liệu, sức mạnh, thông minh, đạo đức, và kính sợ Chúa. Đó là cách nói của Kinh Thánh, vì số 7 là con số kỳ diệu của Kinh Thánh, thực ra Chúa Thánh Thần không chỉ “đóng khung” trong 7 ơn đó, mà là tất cả các ơn. Thật hạnh phúc được nhận biết Thiên Chúa, được yêu mến Ngài, và được lãnh nhận Chúa Thánh Thần: “Bình an cho anh em.” (Lc 24:36; Ga 20:19; Ga 20:20; Ga 20:26) Chắc chắn ai cũng cần bình an, muốn bình an thì phải có Chúa Thánh Thần.

Người ta không thể trì hoãn cái sự sung sướng đó, dù chỉ một giây, chắc chắn là vậy. Thế nên Thánh Vịnh gia đã phải thốt lên: “Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa, đàn hát lên mừng Danh Thánh rạng ngời, nào dâng lời ca tụng tôn vinh!” (Tv 66:1-2) Hòa chung niềm vui đó, chúng ta cũng hãy thưa cùng Thiên Chúa: “Vĩ đại thay, sự nghiệp của Ngài! Trước thần lực uy hùng, địch thù khúm núm. Toàn trái đất phải quỳ lạy tôn thờ, và đàn ca mừng Chúa, đàn ca mừng Thánh Danh. Đến mà xem công trình của Thiên Chúa: hành động của Người đối với phàm nhân thật đáng kinh đáng sợ!” (Tv 66:3-5) Giữa cuộc đời nhiêu khê này, chúng ta luôn được Chúa Giêsu động viên: “Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi.” (Ga 14:27)

Thiên Chúa toàn năng, chính Ngài “làm cho biển khơi hoá đất liền và dân Người đi bộ qua sông, việc Người làm đó khiến ta hoan hỷ. Chúa uy dũng hiển trị muôn đời; đôi mắt Người theo dõi chư dân, quân làm phản chớ có hòng nổi dậy!” (Tv 66:6-7) Lịch sử đã và đang chứng tỏ như vậy, không một thần linh nào có thể làm được các vĩ công như Thiên Chúa của chúng ta. Đó là niềm tin xác thực, không mơ hồ hoặc ảo tưởng.

Thực sự là một hồng ân cao cả đối với chúng ta khi nhận biết Ngài, yêu mến Ngài và tôn thờ Ngài, vì Ngài đã yêu thương chúng ta trước (1 Ga 4:19) và yêu thương chúng ta đến cùng (Ga 13:1) – dù chúng ta chỉ là lũ tội nhân, là bọn bất lương. Và rồi vì thương xót kiếp khốn cùng của chúng ta, Chúa Cha đã bắt Con Một Yêu Dấu phải chết thay chúng ta, dù Người Con van xin nhưng Ngài vẫn “làm ngơ” chỉ vì muốn cứu độ chúng ta. Ơn cứu tử này quá lớn. Thật vậy, chính Ngài chọn chúng ta từ trước khi vũ trụ được tạo thành chứ không phải chúng ta chọn Ngài. (Ep 1:4) Tuy nhiên, ai từ chối Ngài là do mình tự chọn.

Thật tuyệt vời, vì Thiên Chúa của chúng ta tuyệt đối, vĩ đại, duy nhất, hết lòng bảo vệ chúng ta: “Chúa ấp ủ, Chúa lo dưỡng dục, luôn giữ gìn, chẳng khác nào con ngươi mắt Chúa.” (Đnl 32:10) Không chỉ vậy, tình thương đó còn được đóng ấn tín bằng lời “thề độc” này: “Kẻ nào động đến các ngươi là động đến con ngươi mắt Ta.” (Dcr 2:12) Ôi, lạy Chúa! Thực sự chúng ta không thể nào tưởng tượng nổi, và cũng chẳng bao giờ hiểu thấu. Vì thế, tự mình phải mau mắn và hãnh diện chia sẻ niềm vui đó với người khác: “Xin chúc tụng Thiên Chúa đã chẳng bác lời thỉnh nguyện tôi dâng, lại cũng không dứt nghĩa đoạn tình.” (Tv 66:20) Thật vậy, “muôn ngàn đời Ngài vẫn trọn tình thương.” (1 Sb 16:34 và 41; 2 Sb 5:13; 2 Sb 7:3 và 6; 2 Sb 20:21; Er 3:11; 1 Mcb 4:24; Tv 100:5; Tv 106:1; Tv 107:1; Tv 118:1-4 và 29; Tv 136:1-26)

Với thành ý nhắn nhủ, Thánh Phêrô nói: “Đức Kitô là Đấng Thánh, hãy tôn Người làm Chúa ngự trị trong lòng anh em. Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em. Nhưng phải trả lời cách hiền hoà và với sự kính trọng. Hãy giữ lương tâm ngay thẳng, khiến những kẻ phỉ báng anh em vì anh em ăn ở ngay thẳng trong Đức Kitô, chính họ phải xấu hổ vì những điều họ vu khống.” (1 Pr 3:15-16) Tại sao phải giữ “thẳng” mà không thể du di “cong” một chút? Giáo hoàng tiên khởi giải thích: “Bởi lẽ THÀ chịu khổ vì làm việc lành, nếu đó là ý của Thiên Chúa, CÒN HƠN là vì làm điều ác. Chính Đức Kitô đã chịu chết một lần vì tội lỗi – Đấng Công Chính đã chết cho kẻ bất lương – hầu dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa. Thân xác Người đã bị giết chết, nhưng nhờ Thần Khí, Người đã được phục sinh.” (1 Pr 3:17-18) Rất rõ ràng. Cũng chính lòng mến đó được Chúa Thánh Thần không ngừng tác động.

Trong Việt ngữ, danh từ “chuỗi” thật hay, nói lên sự liên kết nối tiếp liên tục. Chuỗi tình yêu thương là chuỗi yêu mến, là chuỗi lòng thương xót, như Chúa Giêsu đã nói: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy.” (Ga 14:15) Từ hệ lụy đó lại có mối liên kết khác: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em.” (Ga 14:16-17) Giữa chúng ta luôn có Chúa Thánh Thần, cũng luôn có Chúa Giêsu. (x. Mt 28:20) Và tất nhiên cũng có cả Chúa Cha nữa. Trên cả tuyệt vời!

Thật vậy, chính Chúa Giêsu đã hứa chắc: “Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng anh em.” (Ga 14:18) Nhưng rồi Ngài bảo: “Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống. Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em.” (Ga 14:18-20) Ôi chao, răng mà khó hiểu rứa tề? Nhưng không phải vậy, cứ bình tĩnh. Đó là Ngài muốn đưa chúng ta tới đức ái trọn vẹn, nhờ biết yêu mến mà chúng ta khả dĩ lãnh nhận Chúa Thánh Thần một cách viên mãn để đủ can đảm làm chứng về Thiên Chúa – Đấng Sự Thật, Ánh Sáng Thật, Sự Sống Thật, Con Đường Thật. Đó là hạnh phúc đích thực của mỗi tín nhân.

Về “chuỗi” yêu mến, Chúa Giêsu dẫn chứng rạch ròi: “Ai CÓ và GIỮ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy.” (Ga 14:21) Ngài tỏ mình cho mỗi người mỗi cách, mỗi người được nhận biết theo cách riêng, không ai giống ai, nhưng vẫn là MỘT Thiên-Chúa-Ba-Ngôi duy nhất. Nếu chưa hiểu và chưa cảm nhận, Chúa Thánh Thần sẽ soi sáng cho, với điều kiện là phải thành tâm thiện chí tìm kiếm Thiên Chúa.

Thánh Gioan định nghĩa ngắn gọn mà sâu sắc và trọn vẹn: “Thiên Chúa là tình yêu.” (1 Ga 4:8 và 16) Vì thế, ai yêu mến Ngài thì tuân giữ Luật Ngài, luật đó là Luật Yêu, yêu Chúa thì phải yêu người. Hoàn toàn lô-gích. Yêu Chúa không khó bằng yêu người, chỉ cần thực hành “chuỗi yêu” trong 1 Cr 13 thì cũng cảm thấy “toát mồ hôi” rồi, vì yêu không thể nói suông mà phải thể hiện bằng hành động, thể hiện qua từng động thái nhỏ. Vả lại, tha nhân là huynh đệ của chúng ta và là những người có Thiên Chúa trong lòng – ngay cả những người tự xưng là vô thần. Ai sống yêu mến thì mới được lãnh nhận Thần Khí Sự Thật của Thiên Chúa – đó là Thánh Linh, là Chúa Thánh Thần, là Đấng Kiến Tạo Hòa Bình, là Đấng An Ủi, là Đấng Bảo Trợ,...

Ngày xưa, khi chọn Bơxanên, con của Uri, con của Khua, thuộc chi tộc Giuđa, Thiên Chúa đã hứa với ông Môsê: “Ta sẽ ban cho nó dồi dào Thần Khí của Thiên Chúa để nó thành người khéo tay, giỏi giang và lành nghề mà làm mọi công việc, để nó nghĩ ra những tác phẩm nghệ thuật làm bằng vàng, bạc hay đồng, mài ngọc đính áo, chạm gỗ và thực hiện mọi công việc.” (Xh 31:3-5) Điều gì Thiên Chúa đã hứa thì chắc chắn không bao giờ sai. Ước gì mỗi chúng ta cũng được lãnh nhận Thần Khí Chúa để làm vinh danh Chúa bằng chính khả năng riêng mà chúng ta lãnh nhận từ nơi Ngài. Đừng quên rằng chúng ta luôn phải “hết dạ tri ân.” (Cl 3:15)

Ơn Chúa chan hòa nhưng đôi khi chúng ta giả nai hoặc làm ngơ nên quên nói lời cảm ơn đối với Thiên Chúa (và cả với tha nhân nữa). Trong cơn đại nạn corona, có câu chuyện lưu truyền trên internet, mặc dù chưa kiểm chứng được tính xác thực, nhưng nội dung của nó rất đáng để chúng ta phải suy ngẫm.

Chuyện kể rằng: Một ông lão 93 tuổi người Ý phải nhập viện vì nhiễm bệnh, rồi sức khỏe cải thiện tốt, ông được thông báo cần thanh toán chi phí sử dụng máy trợ thở. Ông lão bỗng nhiên bật khóc, bác sĩ khuyên ông đừng khóc vì tờ hóa đơn. Nhưng ông lão trả lời: “Không phải tôi khóc vì tờ hóa đơn, tôi có thể thanh toán đầy đủ. Tôi khóc vì tôi đã hít thở bầu không khí của Thượng Đế 93 năm rồi mà chưa từng phải trả một đồng nào, còn sử dụng máy trợ thở một ngày ở bệnh viện phải trả 5.000F. Anh có biết tôi đã nợ Thượng Đế bao nhiêu tiền rồi không? Trước đây tôi chưa từng cảm ơn ngài vì điều ấy.”

Còn chúng ta, phải chăng chúng ta nên suy ngẫm về trận ôn dịch này từ góc độ mà bình thường chúng ta vẫn hay xem nhẹ? Hơi thở của chúng ta là không khí, là thần khí, liên quan Chúa Thánh Thần. Chúa Giêsu xác định: “Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì.” (Ga 6:63a) Và Lời Chúa cũng chính là “thần khí và sự sống.” (Ga 6:63b)

Lạy Thiên Chúa hằng sống, xin ban Thần Khí Sự Thật cho chúng con, xin khởi Lửa Mến trong chúng con, để chúng con biết truyền cảm hứng yêu thương tới tha nhân, xin giúp chúng con sống xứng đáng và được hưởng Giá Máu cứu độ của Đức Giêsu Kitô. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Phục Sinh, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. mục lục

TUÂN LỆNH

[Niệm ý Ga 14:15-21]

Yêu mến là thực thi

Lệnh truyền của Thiên Chúa

Bởi “vô tri bất mộ”

Lẽ bình thường, tự nhiên.

Chúa đã nhắc nhiều lần

Yêu thương là mệnh lệnh

Đó là cách nên thánh

Mến Chúa phải yêu người.

Chuyện thật, chẳng đùa chơi

Tin yêu là bài học

Không chỉ là lý thuyết

Mà phải được thực hành.

Cụ thể sống nhân lành

Đức tin cần hiện thực

Không thì đức tin chết

Vì lòng như khoảng không.

Thiên Chúa hằng xót thương

Không bỏ ai đơn độc

Ngài chính là Sự Thật

Trao ban Chúa Thánh Thần. mục lục

Viễn Dzu Tử

ĐẤNG PHÙ TRỢ KHÁC 

(Cảm nhận và suy niệm từ Ga 14,15-21)

Hôm nay Chúa dạy chúng ta:

Cứu nhân hoàn tất Chúa Cha gọi về

Các con chớ ngại điều chi

Đấng Phù Trợ khác cấp thì tiếp tay.

Yêu Thầy, hãy giữ lời Thầy

Cha Thầy thương đến, lòng đầy thánh ân

Ngôi Ba chính Chúa Thánh Thần

Ngài là Sự Sống muôn dân trên đời.

Ba Ngôi cũng một Chúa Trời

Quyền uy, phép tắc, chẳng rời tình thương

Cộng đoàn dân Chúa trên đường

Theo Vua Chiến Thắng, khai trương Nước Ngài.

Vào ngày thế mạt triển khai

Đất trời mới lập, nhận người hữu công

Ngày vui cho cả cộng đồng

Giáo Hội chiến thắng hiệp thông Nước Trời. mục lục

(Th.K. Dominic)

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan