SUY NIỆM CHÚA NHẬT THĂNG THIÊN (VII PHỤC SINH _A)

21-05-2020 196 lượt xem

(Cv 1,12-14 ; 1 Pr 4,13-16 ; Ga 17,1-11)

Mục Lục

CHỨNG NHÂN CỦA NIỀM VUI+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

CHÚA LÊN TRỜI,TA HÃY MẾN YÊU NHỮNG SỰ TRÊN TRỜILm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

CÙNG VỚI ĐỨC GIÊSU ĐỂ TÔN VINH THIÊN CHÚA CHAGiuse Vinhsơn Ngọc Biển, SSP

TỪ “LIKE” CHUYỂN THÀNH “AMEN”Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

VỀ QUÊTrầm Thiên Thu

ĐIỀU KIỆN ĐỂ THÔNG TRUYỀN LỜI CHÚALm. JB. Nguyễn Minh Hùng

CHÚA GIÊSU VỀ TRỜI - LỄ THĂNG THIÊN - Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

ĐƯỢC SAI ĐI THI HÀNH SỨ MỆNH JM. Lam Thy ĐVD

Thơ: VĨNH HẰNG - Viễn Dzu Tử

Thơ: LỆNH TRUYỀN GIÁO(Thế Kiên Dominic)

CHỨNG NHÂN CỦA NIỀM VUI

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

Trong Mùa Phục sinh, lời cầu nguyện của Giáo Hội trong Phụng vụ luôn diễn tả niềm vui. Đó là niềm vui tái sinh, làm cho người tín hữu trở nên con người mới trong Chúa Giêsu Phục sinh. Đó cũng là niềm vui vì có Chúa Phục sinh đang hiện diện, là nguồn mạch sức sống, ân sủng và bình an. Niềm vui của cộng đoàn Giáo Hội và của mỗi người tín hữu không dừng lại khi Mùa Phục sinh kết thúc, nhưng còn được tiếp tục và dàn trải trong suốt cuộc đời. Trước khi về trời, Đức Giêsu mời gọi các môn đệ hãy trở nên những nhân chứng của niềm vui thiêng liêng thánh thiện ấy.

Trình thuật về việc Chúa Giêsu lên trời trong sách Công vụ Tông đồ được đề nghị cho cả ba năm A,B,C. Bởi lẽ đây là biến cố để lại nơi các môn đệ dấu ấn quan trọng. Đó là lần cuối cùng các ông được gặp gỡ Chúa ở trần gian. Cuộc tiễn đưa này, vừa lưu luyến bịn rịn, vừa vui mừng và hy vọng. Các ông đã được chuẩn bị trước cho cuộc chia tay này bằng các lời giáo huấn của Chúa. Các ông cũng được Chúa hứa sẽ ban Thần Chân lý, Đấng bảo trợ để soi sáng và hướng dẫn các ông. Về phần các ông, Chúa trao phó sứ mạng quan trọng và rõ ràng: “Anh em hãy là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, Samari và cho đến tận cùng trái đất”. Khởi đi từ Giêrusalem, là thành thánh và là thủ đô của Do Thái giáo, lời chứng về Đấng Phục sinh đi đến với Samari là một dân tộc có nhiều thù nghịch với người Do Thái, rồi từ đó đến với mọi mọi nơi trên thế giới. Hai mươi thế kỷ đã qua, khởi đi từ nhóm mười một người dân chài người Galilêa, ánh sáng Tin Mừng đã được tỏa lan đến mọi nền văn hóa trên khắp địa cầu, đến với mọi quốc gia, mặc dù còn những thù nghịch, nghi kỵ hay mặc cảm thành kiến.

Tác giả sách Công vụ Tông đồ còn kể lại, sau khi dặn dò các môn đệ, Chúa Giêsu “được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người”. “Đám mây” mà tác giả nói tới ở đây là biểu tượng vinh quang của Thiên Chúa. Đây cũng là hình ảnh nói lên sức mạnh và quyền năng của Đấng Tối cao. Đức Giêsu lên trời là tiến vào vinh quang vĩnh cửu của Chúa Cha. Người kết thúc cuộc đời trần thế khi hoàn thành sứ mạng cứu thế. Chúa Giêsu về trời mang theo nhân tính của Người, và cùng với nhân tính ấy, cả nhân loại hy vọng cũng sẽ được về trời với Người. Nói cách khác, qua biến cố Đức Giêsu về trời, chúng ta là những con người cũng hy vọng sẽ được về trời vinh quang với Chúa, vì Chúa mang trong mình bản tính nhân loại giống như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi.

Bài Tin Mừng Thánh Mátthêu tiếp tục diễn tả lệnh truyền của Chúa cho các môn đệ: “Anh Em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”. Đây cũng là một cách diễn tả khác của lệnh truyền hãy trở nên chứng nhân của Chúa giữa trần gian. Việc phát triển cộng đoàn tín hữu khởi đi từ những chứng nhân khả tín của mỗi cá nhân, nhờ đó nhiều người nhận ra giáo huấn của Chúa và gia nhập Giáo Hội của Người.

“Hỡi các người Galilê, sao còn đứng đó nhìn trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời”. Chúng ta không cử hành lễ Thăng Thiên như sự ly biệt buồn bã u sầu. Trái lại, chúng ta mừng lễ này với niềm vui vì tin rằng Đấng Phục sinh đang tiếp tục hiện diện thiêng liêng và vô hình giữa cuộc sống của chúng ta. Giáo Hội diễn tả niềm vui ấy qua Kinh Tiền tụng lễ Thăng Thiên: “Người lên trời, không phải để lìa xa thân phận yếu hèn của chúng con, nhưng để chúng con là chi thể của Người, tin tưởng được theo Người đến nơi mà chính Người là Ðầu và là Thủ Lãnh của chúng con đã đến trước”.

Như các Tông đồ đã xuống núi sau khi chứng kiến Chúa Giêsu lên trời, mỗi tín hữu chúng ta cũng đi vào lòng cuộc đời để làm chứng cho Chúa Giêsu. Nếu Chúa Giêsu không còn hiện diện thể lý như trước đây, thì nay Người hiện diện nơi cuộc sống thấm đượm niềm vui của người tín hữu. Vì thế, họ được mang danh Kitô hữu. Nhờ được trang bị bằng sức mạnh của Chúa Thánh Thần, người Kitô hữu có can đảm và nghị lực để trở thành những chứng nhân cho Đấng đã chết và sống lại vì yêu thương con người và để cứu chuộc trần gian. Thánh Phaolô mời gọi chúng ta hãy xác tín điều đó. Vị Tông đồ dân ngoại đã cầu xin cho chúng ta thấy rõ đâu là niềm hy vọng chúng ta đã nhận được, đâu là gia nghiệp vinh quang phong phú chúng ta được chia sẻ và đâu là quyền lực vô biên Chúa đã tỏ cho chúng ta thấy (Bài đọc II). Khi xác tín những điều trên, cuộc sống của chúng ta sẽ tràn đầy niềm vui mừng hân hoan.

Lễ Chúa Giêsu lên trời không phải là kết thúc, nhưng là khởi đầu một chặng đường mới, chặng đường của chứng nhân. Mỗi chúng ta hãy lên đường, nhờ ơn Chúa Thánh Thần, mạnh mẽ can đảm làm chứng cho Chúa, như Người đang mời gọi chúng ta. mục lục

CHÚA LÊN TRỜI,TA HÃY MẾN YÊU NHỮNG SỰ TRÊN TRỜI

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

Hôm nay, Chúa lên Trời, chúng ta hướng tâm hồn lên với Chúa, và trông đợi Người lại đến như lời đã hứa trước khi về Trời, để Người ở đâu chúng ta cũng ở đó. Vì thế, chúng ta hãy nuôi dưỡng lòng ái mộ những sự trên Trời, để cũng được cả xác lẫn hồn về trời với Chúa. Đây là niềm vui lớn lao và tràn đầy hy vọng khi chúng ta hướng về tương lai trên hành trình dương thế. Toàn bộ ý nghĩa Chúa về Trời được các bài đọc Thánh Kinh diễn tả. Nội dung chứa đựng trong những lời sau: "Chúa Giêsu đã bắt đầu làm và giảng dạy, Người căn dặn các Tông đồ xong... ". Và sau đó "Người lên Trời" (Cv 1,1- 11).

"Đã đến giờ Chúa Giêsu rời bỏ thế gian mà về cùng Đức Chúa Cha". Lời này được lặp đi lặp lại mỗi đoạn Tin Mừng trước lễ Chúa về Trời. Chúa giã từ Đức Maria Mẹ Người và nhất là tâm sự với các môn đệ nhiều điều. Hôm nay Người bảo các ông: "Các con sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần ngự xuống trên các con, và các con sẽ nên chứng nhân cho Thầy tại Giêrusalem, trong tất cả xứ Giuđêa và Samaria, và cho đến tận cùng trái đất" (Cv 1,8 ). Nhiệm vụ của các Tông đồ từ đây được ủy thác, đến lượt mình các ông phải thi hành. 

Để khỏi lạc lõng bơ vơ không người hướng dẫn, Chúa Giêsu đã xin Chúa Cha ban xuống Chúa Thánh Thần xuống trên các Tông đồ để hướng dẫn Giáo hội đi trên đường chân lý. Tin Mừng phải được rao truyền bởi quyền năng của Thiên Chúa chứ không phải do sức mạnh, khôn ngoan của người đời. Trước khi về Trời, Chúa Giêsu "đã ra lệnh cho các ông chớ rời khỏi Giêrusalem, nhưng hãy chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa" (Cv 1,4). Người nói với các ông: "các con hãy đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần, giảng dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho các con" (Mt 28,19). Căn cứ vào lời của Chúa Giêsu, các Tông đồ có trách nhiệm phải loan báo Tin Mừng cho thế giới, làm phép cho muôn dân, nói cho thế gian biết về Nước Thiên Chúa và ơn cứu độ, nhất là phải làm chứng về Chúa Kitô "cho đến tận cùng trái đất" (Cv 1,8). Giáo Hội sơ khai thấu hiểu huấn lệnh Chúa truyền, nên đã khai mở thời kỳ truyền giáo dù biết rằng thời kỳ này chỉ kết thúc vào ngày Chúa Giêsu lên trời, và trở lại.

Những lời Chúa Giêsu để lại cho Giáo hội là kho tàng vô giá. Giáo hội không những phải gìn giữ, loan báo, suy niệm mà còn sống nữa. Chúa Thánh Thần sẽ làm bén rễ sâu trong lòng Giáo hội ơn đặc sủng được sai đi. Chúa Giêsu đã và sẽ luôn sống trong Giáo hội như lời Người đã hứa: "Và đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28,20). Vì thế, Giáo hội nhận ra sự cần thiết phải trung thành với kho tàng đức tin và lời dạy của Chúa, đồng thời thông truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác. Lời Chúa và chỉ có Lời Chúa là nền tảng cho mọi sứ vụ, cũng như tất cả các hoạt động mục vụ của Giáo hội. Thẩm quyền của Lời Chúa là nền tảng mà Công đồng Vatican II và Thánh Gioan XXIII đã nhấn mạnh trong bài phát biểu khai mạc: "Mối quan tâm chính của Công đồng Đại kết, là kho tàng thiêng liêng Kitô giáo phải luôn được giữ gìn và giảng dạy" (Bài phát biểu của ngày 11 tháng 10/1962 ).

Suy tư thứ hai về ý nghĩa Chúa Giêsu lên trời dựa trên cụm từ: "Chúa Giêsu lên Trời ngự bên hữu... ". Theo lời thánh Lêô Cả, khi Vị Thủ Lãnh của chúng ta bước vào thiên đàng và ở trên đó, "vinh quang của Đầu" đã trở thành "niềm hy vọng cho thân xác" (x. Sermo Ascensione Domini). Chúa Giêsu đã vĩnh viễn bước vào thiên đàng, "Người là Đầu và là Trưởng Tử giữa đàn em đông đúc" (Rm 8,29). Vì bản tính của chúng ta là ở trong Thiên Chúa và ở trong Đức Giêsu Kitô. Nên vì loài người chúng ta (thân xác), Chúa Giêsu là (Đầu) hằng sống đến muôn thưở muôn đời hằng cầu thay nguyện giúp cho chúng ta trước mặt Chúa Cha (x. Dt 7,25). Từ tao cao vinh hiển, Người gửi cho Giáo hội một sứ điệp hy vọng và mời gọi hướng đến sự thánh thiện trên Trời nơi Người đang ngự bên hữu Thiên Chúa.

Nhờ công nghiệp và lời cầu bầu của Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha cho chúng ta, chúng ta có hy vọng đạt tới sự công chính và sống thánh thiện nơi Người. Giáo hội có thể gặp phải những khó khăn, việc loan báo Tin Mừng có thể bị thất bại, nhưng vì Chúa Giêsu ngự bên hữu Chúa Cha, Giáo hội sẽ không bao giờ bị đánh bại. Sức mạnh của Chúa Kitô vinh hiển, Con yêu dấu của Chúa Cha hằng gìn giữ chúng ta, giúp chúng ta tận tụy và trung thành với Nước Thiên Chúa một cách quảng đại. Sự kiện lên Trời của Chúa Kitô ảnh hưởng cụ thể đến đời sống hàng ngày của chúng ta. Vì mầu nhiệm này, toàn thể Giáo hội có ơn gọi đợi chờ trong niềm hân hoan hy vọng ngày Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ chúng ta ngự đến.

Chúa Giêsu vị Thủ Lãnh của chúng ta đã chiến thắng tội lỗi và sự chết, hiển vinh về Trời, đó là niềm hy vọng của chúng ta. Người sẽ trở lại đón chúng ta đi với Người. Để được về Trời với Chúa, chúng ta hãy gia tăng lòng mộ mến những sự trên trời và tích cực làm việc vì Nước Trời. 

Lạy Nữ Vương Thiên Ðàng, xin gìn giữ chúng ta là con cái Mẹ, biết sống và thực hành lời Chúa dạy, để một ngày kia chúng con cũng được về Trời với Chúa Giêsu, Đức Mẹ và các thánh vui hưởng tôn nhan Chúa Ba Ngôi đến muôn thủa muôn đời. Amen. mục lục

CÙNG VỚI ĐỨC GIÊSU ĐỂ TÔN VINH THIÊN CHÚA CHA

Giuse Vinhsơn Ngọc Biển, SSP

Sau khi Đức Giêsu được đưa về trời để ngự bên hữu Thiên Chúa Cha và làm chủ tể mọi loài, thì Giáo Hội mà Ngài thiết lập bắt đầu chính thức hoạt động dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần qua các Tông đồ.

Khi chính thức hoạt động, các Tông đồ luôn luôn xác tín rằng: đời sống cầu nguyện trong sự hiệp nhất là điều căn cốt để xây dựng và phát triển Giáo Hội. Mặt khác, sự ghét ghen, chống đối, sỉ nhục, đánh đập và ngay cả giết chết... sẽ làm cho người môn đệ trở nên đồng hình đồng dạng với Thầy Giêsu hơn.

Như vậy, nếu Đức Giêsu đã tôn vinh Thiên Chúa Cha bằng chính đời sống chứng tá, nhất là cái chết trong đau thương trên thập giá, thì người môn đệ của Đức Giêsu cũng không thể có con đường nào tốt đẹp và làm vừa ý Thiên Chúa Cha khi chúng ta tôn vinh Người cùng một cách thức như Đức Giêsu.

Đây chính là những nét quan trọng trong sinh hoạt Giáo Hội thời sơ khai mà phụng vụ Lời Chúa hôm nay qua các bài đọc đã lần lượt mặc khải cho chúng ta.

1. Cầu nguyện là nền tảng căn cốt để xây dựng Giáo Hội

Nhìn lại lịch sử Giáo Hội, chúng ta thấy hình ảnh và đời sống của các Kitô hữu thời ban sơ thật là lý tưởng, chân tình và chất phát. Họ đồng tâm nhất trí với nhau trong mọi sự, nhất là đời sống cầu nguyện. Cùng một tâm hồn và một tấm lòng là điều mà các Kitô hữu tiên khởi đã sống.

Quả thật, các Tông đồ đã thấy được tầm quan trọng của việc cầu nguyện, nên các ngài đã không ngừng làm gương và thúc đẩy các Kitô hữu gia tăng cầu nguyện, để củng cố đức tin, lòng mến và nhất là tìm ra thánh ý Chúa để thi hành.

Không cầu nguyện, sẽ không có niềm xác tín mạnh mẽ. Không cầu nguyện sẽ kiêu ngạo. Không cầu nguyện sẽ làm cho tâm hồn trai lỳ, u mê chẳng còn nhạy bén với thánh ý Thiên Chúa. Không cầu nguyện sẽ không biết yêu thương và phá vỡ sự hiệp nhất...

Xác tín được tầm quan trọng của cầu nguyện, nên các Tông đồ đã trung thành với lời cầu nguyện qua mọi hoạt động tập thể, chẳng hạn như: trong các cuộc quy tụ cộng đoàn để tham dự nghi thức bẻ bánh (x. Cv 2, 42-46), chọn ông Mátthia (x. Cv 1, 24), xin Chúa ban Thánh Thần xuống (x. Cv 8,15), khi bị bách hại (x. Cv 4, 24-31; 12,5-12), cầu cho các vị truyền giáo (x. Cv 13,3; 14,23).  Việc cầu nguyện riêng cũng thường gặp ở nhiều trường hợp, như ông Stêphanô cầu nguyện khi bị ném đá (x. Cv 7,59-60), ông Saolô khi trở lại (x. Cv 9, 11), ông Phêrô tại nhà ông Conêliô (x. Cv 10, 9; 11,5).

Như vậy, cầu nguyện trong sự hiệp nhất là yếu tố rất cần thiết trong tiến trình xây dựng Giáo Hội. Không hiệp nhất, Giáo Hội sẽ có nguy cơ tan rã. Thấy được tầm quan trọng này, nên Đức Giêsu đã không ngớt cầu nguyện để xin Chúa Cha cho các môn đệ của mình được hiệp nhất theo khuôn mẫu của chính Thiên Chúa Ba Ngôi, ngõ hầu các ông đứng vững trước những thử thách đau thương khi thi hành sứ vụ.

2. Giáo Hội được lớn lên nhờ thử thách

Nếu đời sống và hoạt động của Đức Giêsu luôn luôn bị chống đối gắt gao, đến nỗi Ngài đã phải chấp nhận cái chết để tôn vinh Thiên Chúa Cha, thì vẫn cùng một hệ quả như vậy, các môn đệ sẽ gặp những chống đối, bắt bớ, đánh đập và ngay cả bị giết chết... Nói cách khác, đời sống của người môn đệ được gắn liền với thập giá và cái chết. Đây chính là mẫu số chung cho tất cả những ai bước theo Đức Giêsu trên con đường sứ vụ.

Điều này đã được chứng minh nơi Giáo Hội sơ khai. Cộng đoàn tiên khởi đã chịu sự bách hại, bắt bớ tàn khốc kéo dài suốt 300 năm trường. Sự bách hại ấy đã không ngừng buông tha con cái của Chúa trên khắp năm châu ở mọi thời.

Trước biết bao nhiêu khó khăn thử thách như vậy, người môn đệ Đức Kitô đôi khi vì yếu đuối do sợ hãi nên bị những cám dỗ bỏ cuộc, buông xuôi. Thấu hiểu điều đó, nên thánh Phêrô, trong tư cách là người đứng đầu Giáo Hội, đại diện Chúa Kitô ở trần gian, ngài đã lên tiếng an ủi: “Được chia sẻ những đau khổ của Đức Kitô bao nhiêu, anh em hãy vui mừng bấy nhiêu, để khi vinh quang Người tỏ hiện, anh em cùng được vui mừng hoan hỷ” (1 Pr 4,13).

Chính vì điều này đã làm cho tinh thần của người môn đệ được củng cố, bởi vì nhờ nó mà được thông phần với Đức Kitô chịu đóng đinh để mai ngày được phục sinh vinh hiển với Ngài.

Tuy nhiên, vì sức con người có giới hạn, nên Chúa Thánh Thần sẽ là thầy dạy luôn bên cạnh để giúp cho người môn đệ thêm sức mạnh, biết nói gì, làm gì để đáp trả trước những khó khăn do con người gây nên (x. Mc 13,11).

Như vậy, dù trong hoàn cảnh nào, người môn đệ vẫn luôn tự hào và hãnh diện trong sự khiêm tốn để tôn vinh Thiên Chúa trong Thần Khí và sự thật.

3. Thiên Chúa Cha được tôn vinh

Khi nói về việc tôn vinh Thiên Chúa Cha, chúng ta thấy Đức Giêsu chính là mẫu mực để mỗi người noi theo. Thật vậy, trong suốt cuộc đời tại thế của Ngài, từ lời giảng dạy đến hành động, tất cả đều hướng con người về việc tôn vinh Thiên Chúa Cha. Việc tôn vinh mà Đức Giêsu đã thi hành và dạy cho các môn đệ cũng như mọi người thực hiện, đó là giúp cho họ “biết danh Cha, thuộc về Cha và tuân giữ lời Cha”.

Biết danh Cha qua chính Đức Giêsu, vì Ngài đã phán: ai biết Ta là biết Đấng đã sai Ta. Khi biết Chúa Cha, chúng ta được ở lại trong tình yêu của Thiên Chúa Cha nếu chúng ta ở lại trong Đức Giêsu và vâng nghe lời Ngài chỉ dạy.

Nhưng lựa chọn để thuộc về Chúa Cha khi đã biết Người không phải lúc nào cũng êm xuôi, mà ngược lại, luôn luôn gặp phải những cạm bẫy chông gai, chống đối, thử thách và ngay cả cái chết.

Khi đã hoàn tất sứ vụ tôn vinh Thiên Chúa Cha trên trần thế, Đức Giêsu đã trao phó sứ mạng tôn vinh Chúa Cha cho Giáo Hội, để Giáo Hội tôn vinh Thiên Chúa trong chân lý và tình yêu.

Kể từ khi nhận lãnh trách nhiệm, từ thời các Tông đồ cho đến ngày nay, Giáo Hội không ngừng tôn vinh Thiên Chúa Cha trong Đức Giêsu và nhờ Chúa Thánh Thần.

4. Sống sứ điệp Lời Chúa

Cùng một sứ vụ và trách nhiệm trong lòng mến, người tín hữu Kitô luôn được mời gọi hãy ở lại trong tình yêu của Thiên Chúa Cha qua Đức Giêsu để tôn vinh Người.

Một trong những điều mà chính Đức Giêsu đã tôn vinh Thiên Chúa Cha và đã được Người rất ưng ý, đó là làm chứng cho sự thật và thể hiện tình yêu thương của Thiên Chúa cho mọi người.

Trong xã hội hôm nay, sự thật luôn luôn bị coi thường nếu không muốn nói là bị đe dọa. Ngược lại, sự gian dối lại lộng hành và lên ngôi đến chóng mặt.

Trước thực trạng ấy, người môn đệ là người thuộc về Đức Giêsu, mà Đức Giêsu đến để làm chứng cho sự thật, đồng thời Ngài cũng mời gọi ai đứng về phía sự thật thì thuộc về thần dân trong Nước của Ngài.

Như vậy, người tín hữu Kitô phải là người làm cho sự thật được sáng tỏ trong những lời nói, lựa chọn, quan điểm và hành vi của mình. Chúng ta không thể chấp nhận một người tín hữu với những khái niệm và lựa chọn mù mờ giữa sự thật và gian dối.

Mặt khác, vì Thiên Chúa là tình yêu, nên chúng ta thuộc về Thiên Chúa, thì chắc chắn chúng ta phải thi hành luật yêu thương trong cuộc sống của mình. Nếu không yêu thương, nhất là không yêu thương những người kém may mắn và bị loại ra bên lề, thì bấy lâu chúng ta đang phản lại bản chất của Thiên Chúa và mâu thuẫn với chính chúng ta.

Thiết nghĩ, sống và chu toàn những điều trên, ấy là chúng ta đang tham gia vào công việc tôn vinh Thiên Chúa Cha cách thiết thực nhất, bởi vì Thiên Chúa sẽ được tôn vinh khi chúng ta làm cho hình ảnh của Người được tỏa sáng qua hành vi, lời nói và việc làm của chúng ta.

Lạy Chúa Giêsu, xin ban Chúa Thánh Thần xuống trên chúng con để chúng con biết nhận ra, ở lại và tôn thờ Thiên Chúa Cha cách trung thành và yêu mến. Xin cho chúng con biết hãnh diện để tôn thờ Thiên Chúa Cha trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời, ngoc hầu mai ngày chúng con được trực diện trước tôn nhan Chúa để tôn thờ Người mãi mãi không ngừng. Amen. mục lục

TỪ “LIKE” CHUYỂN THÀNH “AMEN”

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Lễ Thăng Thiên kính nhớ việc Chúa Giêsu “lên trời”, được cử hành vào ngày thứ 40 sau Lễ Phục Sinh (x. Mc 16,19-20; Cv 1,1-11).

Sự kiện Chúa Giêsu thăng thiên đánh dấu việc Người trở về “nơi” mà Người đã hiện hữu trước khi nhập thể (x. Ga 3,13). Lễ này nói lên việc nhân tính của Người tiến vào trong vinh quang của Thiên Chúa một cách vĩnh viễn (x. Ga 16,28; 17,5). Nó đánh dấu sự kết thúc sứ mệnh hữu hình của Chúa Giêsu ở trần gian và khởi đầu sứ mệnh của Giáo Hội. Vào chính ngày Phục Sinh, Chúa Giêsu đã được tôn vinh, được siêu thăng và “ngự bên hữu Chúa Cha” trong thân xác vinh quang của Người rồi. Tuy nhiên, theo trình thuật của Thánh Luca, sau khi phục sinh, Chúa Giêsu còn hiện ra nhiều lần với các môn đệ trong khoảng thời gian 40 ngày. Đây là thời gian Chúa Giêsu dùng để khẳng định sự Phục Sinh của Người, củng cố niềm tin của các môn đệ, hoàn tất việc giảng dạy và sai các ông đi rao giảng Phúc Âm.Với biến cố thăng thiên, Chúa Giêsu không còn hiện diện trong thân xác hữu hình như trước kia, nhưng Người vẫn hiện diện với Giáo Hội cho đến ngày tận thế (x. Mt 28,20) theo phương cách mới - theo quyền năng của Chúa Thánh Thần, với tư cách là Chúa của vũ trụ (x. Pl 2,10-11 - Tiểu ban Từ vựng – UBGLĐT/HĐGMVN).

Chúa lên trời, ngự bên hữu Chúa Cha. Theo Thánh Kinh, ngự bên hữu nghĩa là đồng hàng trong danh dự, phẩm vị và quyền năng. Chúa Giêsu lên trời sau khi hoàn tất công cuộc cứu độ. Người lấy lại vinh quang, uy quyền và danh dự của một Thiên Chúa đồng hàng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Người lấy lại những sự ấy là vì đã tự nguyện trút bỏ nó khi vào trần gian để thực thi chương trình cứu độ. “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế” (Pl 2,6-7).

Chúa lên trời vì Người đã từ trời xuống: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống” (Ga 3,13). Mầu nhiệm Chúa lên trời minh chứng cho nguồn gốc thần linh của Đức Kitô. Người không phải là phàm nhân được tôn lên hàng thần thánh. Người chính là Thiên Chúa có từ đời đời và mọi sự, mọi loài nhờ Người mà được hiện hữu. “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa...Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người thì chẳng có gì được tạo thành” (Ga 1,1-3).

Chúa lên trời với cung cách hiện diện mới, trao sứ vụ cho các Tông đồ và Giáo hội tiếp nối sứ mạng loan báo Tin mừng yêu thương.

1. Hiện diện mới

Chúa Giêsu đã tiên báo với các môn đệ : “Thầy đến cùng Chúa Cha”. Lời này được lập lại 7 lần trong khung cảnh tiệc ly (x. Ga 14, 12.28; 16, 5.10.28; 17,11.13), đến nỗi trong số các môn đệ tự hỏi lời nói đó có ý nghĩa gì (Ga 16,17). Đối với Chúa Giêsu, Người không đi đến một nơi nào khác, nhưng Người đến với một người, đó chính là Chúa Cha. Chúa Giêsu coi cuộc sống ở trần gian và những hoạt động của mình như một hành trình đi đến với Chúa Cha, như một cuộc về trời với Chúa Cha. Khi hiện ra với Maria Mađalena, Chúa Phục Sinh nói: “Đừng giữ Thầy lại, vì Thầy chưa lên cùng Chúa Cha. Nhưng hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ: Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em" (Ga 20,17). Như thế, Gioan không kể về việc “lên cùng Chúa Cha” như một “nơi chốn”, Người không đến một nơi chốn (trời), nhưng đến với một người, đó chính là “Cha của Người và cũng là Chúa của anh em”.

Chúa về trời, một cuộc tạm biệt chứ không ly biệt.Chia tay để rồi sẽ gặp lại nhau trong một tương quan mới. Các lời nguyện và Kinh Tiền Tụng của lễ Thăng Thiên cũng chứa đựng ý nghĩa này: “Người lên trời không phải để lìa xa chúng con là những kẻ yếu đuối, nhưng vì là đầu và là Thủ Lãnh, nên Người đã đi trước, để chúng con là những chi thể của Người vững một niềm tin tưởng cũng sẽ được lên theo”.

Chúa về trời gợi lên trong tâm hồn chúng ta một khát vọng quy hướng về Người để rồi đối với chúng ta không còn hạnh phúc nào lớn hơn là được ở trong Người, đón nhận sự sống sung mãn Người ban tặng. Nhận thức được niềm hạnh phúc ấy, đời sống cầu nguyện của chúng ta sẽ có một sự thú vị ngọt ngào. Nơi thiên cung, mọi đau khổ, bệnh tật, chiến tranh, khủng bố không còn nữa. Ở đó chỉ có thanh bình, công bằng, và hạnh phúc viên mãn, nhân phẩm và nhân vị con người hoàn toàn được phục hồi trong ánh sáng phục sinh của Chúa Kitô.

Từ nay trở đi, Chúa Kitô Phục Sinh sẽ hiện diện trong lòng con người, trong tâm hồn tất cả những ai tin vào Người. Khi hai người yêu nhau thì luôn muốn sống bên nhau, nhưng tới một giây phút nào đó họ cảm thấy sống bên nhau vẫn chưa đủ. Những người yêu nhau muốn sống trong nhau, nhưng điều đó không thể xảy ra giữa loài người được vì dẫu sao thân xác của mỗi người vẫn tạo ra một ngăn cách. Điều con người không thể làm được thì Thiên Chúa đã làm. Chúa Giêsu một khi ngự bên hữu Chúa Cha đã hoàn toàn mặc lấy quyền năng Chúa Thánh Thần, Người đến ngự trong tâm hồn của mỗi chúng ta. Chính Người đã nói “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy và Cha Thầy sẽ yêu mến nó và chúng ta sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga 14,23). Để chúng ta hiểu hơn về sự hiện diện này Chúa đã dùng dụ ngôn cây nho và cành nho “Thầy là cây nho các con là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy thì người ấy sinh nhiều hoa trái vì không có Thầy anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5). Thiền sư Suzuki rất tâm đắc với huyền nhiệm này khi viết: Thiên Chúa ở trong con người và con người ở trong Thiên Chúa.Chúa là người và người là Chúa mà Chúa vẫn là Chúa và người vẫn là người.Quả thật,đó là điều kỳ bí nhất của Tôn Giáo, một nghịch lý thâm u nhất của triết học.

2. Trao Sứ Vụ

Chúa về trời mở ra sứ vụ mới cho các Tông đồ. Đó là khai trương công cuộc truyền giáo toàn cầu với lệnh truyền của Chúa: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin mừng cho mọi loài thọ tạo”. Nội dung của việc truyền giáo được chỉ định rõ ràng: “Làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Thầy. Làm phép rửa cho họ. Dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy truyền cho anh em”. Bảo chứng cho sứ vụ truyền giáo là: “Có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng”. Nhờ việc sai đi và uỷ quyền cho các Tông đồ, qua các Tông đồ rồi đến các môn đệ, Chúa Giêsu trở thành người sống đương thời với chúng ta “và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”.

Chúa đã dùng Giáo Hội như đôi tay để tiếp tục công cuộc cứu rỗi của Người. Sứ mệnh của Chúa là sứ mệnh thiêng liêng. Nhưng sứ mệnh đó phải được thể hiện bằng lời nói, bằng hành động bên ngoài. Giáo Hội thực thi sứ mệnh đó trong khung cảnh hữu hình, nhờ những phương tiện cụ thể. Nhờ những sinh hoạt hữu hình và đôi tay cụ thể của Giáo Hội mà Chúa Giêsu tiếp tục loan truyền chân lý, trao ban sự sống,dẫn đưa nhân loại về hạnh phúc vĩnh cửu.

3. Từ “Like” Chuyển Thành “Amen”

Giáo Hội Thánh chọn lễ Thăng Thiên làm Ngày Thế giới Truyền thông. Ngày lễ Thăng Thiên gắn liền với mệnh lệnh: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28,19). Các Tông Đồ lên đường truyền giáo, cộng đoàn Giáo Hội được thiết lập và những bước chân không mệt mỏi của người loan báo Tin Mừng đã làm nên lịch sử Giáo Hội.

Có truyền giáo là có truyền thông, và bởi vì có truyền rao sứ điệp cứu rỗi của Tin Mừng nên mới có những người lắng nghe, đón nhận đức tin và được sống trong ơn cứu rỗi. Truyền giáo là nghĩa vụ “thông truyền điều đã thấy và đã nghe” (1 Ga 1,3) để mọi người được hiệp thông với Thiên Chúa. Đây là điểm khác biệt giữa truyền thông xã hội và truyền thông công giáo.Trong khi truyền thông xã hội khai thác thông tin theo quy luật cung cầu của thị trường, thì truyền thông công giáo lại xác định hướng đi của mình là mùa màng trong đời sống đức tin.

Trong thế giới kỹ thuật số, Giáo Hội khuyến khích con cái mình vận dụng những phương tiện truyền thông hiện đại nhất để thi hành sứ vụ loan báo Tin mừng. Đức Thánh Cha Phanxicô nói rằng: “Ngay từ khi internet lần đầu tiên xuất hiện, Giáo hội luôn tìm cách thúc đẩy việc sử dụng nó để phục vụ cho sự gặp gỡ giữa mọi người và cho sự đoàn kết giữa tất cả mọi người” (Sứ điệp Truyền thông 2019).

Trong Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông 53, Đức Thánh Cha Phanxicô ghi nhận tầm quan trọng và sự lan rộng của internet và các mạng xã hội trong đời sống con người ngày nay. Đó là nguồn kiến thức và những tương quan giữa con người với nhau. Tuy nhiên, cũng không thiếu những khía cạnh tiêu cực do các mạng xã hội. Đó là nơi dễ bị những tin tức giả mạo và xuyên tạc xâm nhập và lan tràn; các dữ kiện cá nhân nhiều khi bị lèo lái để mưu những lợi lộc về chính trị hoặc kinh tế, không tôn trọng nhân vị và các quyền của họ. Sứ điệp cũng cảnh giác chống lại sự tự cô lập qua các mạng xã hội, có hiện tượng những người trẻ trở thành “những ẩn sĩ xã hội”, trở nên hoàn toàn xa lạ với xã hội chung quanh (x. vaticannews.va/vi).

Đức Thánh Cha dùng hình ảnh thân mình và các chi thể mà Thánh Phaolô đã dùng để nói về những quan hệ hỗ tương giữa con người: “Anh chị em hãy bài trừ dối trá và mỗi người hãy nói sự thật với tha nhân, vì chúng ta là chi thể của nhau” (Ep 4,25). Từ đó ngài kêu gọi dùng các mạng xã hội để kiến tạo tình hiệp thông, với ý thức chúng ta cùng họp thành một thân thể và là chi thể của nhau, và thay vì dùng các phương diện này để chia rẽ, gây oán ghét và thù hận, dựa trên sự dối trá.

“Chính Giáo hội là một mạng lưới được đan dệt bằng sự hiệp thông Thánh thể, trong đó sự hiệp nhất không được đặt trên những nút ‘like’ (thích), nhưng trên sự thật, trên lời ‘Amen’, qua đó mỗi người đều bám víu vào Thân thể của Đức Kitô, và chào đón người khác” (Sứ điệpTruyền thông 53).

Nếu Chúa Giêsu sinh ra trong thời đại này, Người sẽ dùng internet để rao giảng Tin Mừng. Chúa Giêsu Kitô là nhà truyền thông đầu tiên, vĩ đại, đại tài vì sứ điệp của Người là Tin Mừng, là tin vui cho mọi người. Chúa Giêsu có mạng lưới gồm các Tông đồ thông truyền Tin Mừng cho nhân loại. Qua các môn đệ, Tin Mừng được loan truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác.Chúa Giêsu không có các phương tiện hiện đại, Người có các Tông đồ, các môn đệ, các thế hệ nối tiếp nhau như mạng lưới phổ biến Tin Mừng khắp nơi trên thế giới.

Truyền thông chính là chia sẻ niềm vui Tin mừng cứu độ. Truyền thông có đặc điểm là khiêm tốn, nhẹ nhàng, nên mọi sự cho mọi người và xây dựng một nền văn hóa gặp gỡ yêu thương. Từ đó giúp con người nhận ra tình yêu của Chúa. Đây là sứ vụ Chúa trao phó cho mỗi người tín hữu trong thời đại hôm nay.

Cảm tạ Thiên Chúa đã ban những phương tiện truyền thông hiện đại. “Truyền thông, dù ở đâu và bằng cách nào, cũng mở ra những chân trời rộng lớn hơn cho nhiều người. Đây là quà tặng của Thiên Chúa kèm theo một trách nhiệm lớn lao”; “Internet có thể được sử dụng một cách khôn ngoan để xây dựng một xã hội lành mạnh và mở ra để sẻ chia” (Sứ điệpTruyền thông 50).

Ước mong mỗi người tín hữu biết sử dụng các phương tiện truyền thông với đức tin, trong sự tuân phục sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, góp phần cổ võ nền văn hóa gặp gỡ và tích cực loan báo tin vui bình an yêu thương. mục lục

VỀ QUÊ

Trầm Thiên Thu

Chúa Về Thiên Quốc Sáng Ngời Vinh Hiển

Con Ở Thế Trần Kiên Vững Chứng Nhân.

Thật thú vị với Việt ngữ, đúng như người ta ví von: “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam.” Thật vậy, người ta chỉ nói LÊN trời, TỚI trời, hoặc VÀO trời, vì người ta không xuất phát từ trời. Nhưng Chúa Giêsu nói VỀ trời, vì Ngài xuất phát từ Trời, từ Chúa Cha: “Nếu anh em yêu mến Thầy thì hẳn anh em đã vui mừng vì Thầy đi về cùng Chúa Cha, bởi vì Chúa Cha cao trọng hơn Thầy.” (Ga 14:28)

Và theo lẽ thường, người ta chỉ có thể VỀ nơi thân thương thuộc về mình – về nhà, về quê. Những nơi khác không dùng động từ VỀ, mà chỉ TỚI hoặc ĐẾN (rồi ĐI chứ không ở lại). Thế mà chúng ta cũng được Thiên Chúa cho phép VỀ trời với Ngài, dù chúng ta không xuất phát từ trời, và chỉ là phận bụi thân tro. Quả thật, đó là điều kỳ diệu và ngoài sức tưởng tượng của chúng ta – không chỉ là phàm nhân mà là tội nhân.

Sự kiện trọng đại Chúa Giêsu lên trời là dịp tốt để tín nhân tái khẳng định tín điều mà mình không ngừng tuyên xưng: “Ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại, LÊN TRỜI ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng.” Nếu Đức Kitô không sống lại, niềm tin của chúng ta vô ích, hão huyền, nghĩa là chúng ta chỉ là những kẻ hoang tưởng, thế nhưng Chúa Giêsu đã thực sự sống lại và lên trời. Chúng ta không mơ hồ, mà rất chắc chắn, chắc chắn tới mức tuyệt đối.

Thật vậy, Chúa Giêsu lên trời là để minh chứng và xác định lời hứa Ngài đã nói trước: “Thầy đi DỌN CHỖ cho anh em thì Thầy LẠI ĐẾN và ĐEM anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.” (Ga 14:3) Đối với phàm nhân chúng ta, chắc chắn không còn niềm hạnh phúc nào lớn lao hơn nữa. Đó là động lực để chúng ta có thể khước từ mọi thứ phù vân ở đời tạm này.

Ôi, kỳ diệu vô cùng! Thiên Chúa mà hóa thành Con Người, Con Người mà là Thiên Chúa, vừa hữu hình vừa vô hình. Chắc chắn chẳng hề có bất cứ thần linh nào như vậy. Chỉ có Thiên Chúa của chúng ta như vậy mà thôi, độc nhất vô nhị. Thánh Phaolô đã phải thốt lên: “Phải công nhận rằng: mầu nhiệm của đạo thánh thật là cao cả, đó là: Đức Kitô xuất hiện trong thân phận người phàm, được Chúa Thánh Thần chứng thực là công chính; Người được các thiên thần chiêm ngưỡng, và được loan truyền giữa muôn dân; Người được cả hoàn cầu tin kính, được siêu thăng cõi trời vinh hiển.” (1 Tm 3:16) Tạ ơn Chúa đã cho chúng ta nhận biết và vững tin vào Thánh Danh Đức Giêsu Kitô.

Trong sách Công Vụ, Thánh Luca viết như một cách giải thích: “Thưa ngài Thêôphilô, trong quyển thứ nhất, tôi đã tường thuật tất cả những việc Đức Giêsu làm và những điều Người dạy, kể từ đầu cho tới ngày Người được rước lên trời. Trước ngày ấy, Người đã dạy bảo các Tông Đồ mà Người đã tuyển chọn nhờ Thánh Thần. Người lại còn dùng nhiều cách để chứng tỏ cho các ông thấy là Người vẫn sống sau khi đã chịu khổ hình: trong bốn mươi ngày, Người đã hiện ra nói chuyện với các ông về Nước Thiên Chúa. Một hôm, đang khi dùng bữa với các Tông Đồ, Đức Giêsu truyền cho các ông không được rời khỏi Giêrusalem, nhưng phải ở lại mà chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa, điều mà anh em đã nghe Thầy nói tới, đó là: ông Gioan thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em thì trong ít ngày nữa sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần.” (Cv 1:1-5) Chúa Giêsu về trời, nhưng rồi Ngài lại gởi Chúa Thánh Thần đến với chúng ta, đồng hành và hoạt động với chúng ta mọi nơi, mọi lúc. Bởi vì Ngài không để chúng ta mồ côi hoặc cô độc giữa cuộc sống trần gian nhiêu khê này.

Chắc chắn tư tưởng loài người không cao hơn mặt đất, có hơn cũng chỉ bằng ngọn cỏ lè tè. Thật vậy, tầm nhìn phàm nhân không vượt qua cái bóng của mình, thế nên khi nghe Đức Giêsu nói vậy, những người đang tụ họp ở đó tưởng rằng Ngài sắp sửa khôi phục vương quốc Israel. Nhưng lầm to! Ngài xác định: “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất.” (Cv 1:7-8)

Nói xong, Ngài được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Ngài, khiến các ông không còn thấy Ngài nữa. Họ ngơ ngẩn nhìn nhau rồi nhìn theo hút Ngài, chẳng hiểu thế là thế nào. Nhưng rất tuyệt vời!

Trong khi các ông còn đăm đăm nhìn lên trời, phía Ngài đi, bỗng có hai người đàn ông mặc áo trắng đứng bên cạnh và nói: “Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn lên trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời.” (Cv 1:11) Lời giải thích này cho chúng ta biết chắc rằng Chúa Giêsu sẽ đến thế gian lần thứ hai vào một lúc nào đó, bất kỳ thời điểm nào mà chúng ta không thể biết được, có thể là ngày mai hoặc hôm nay, thậm chí là ngay bây giờ. Vì thế, dù là ai cũng phải sẵn sàng và tỉnh thức. Không chỉ vậy, với mỗi người còn là cái chết, vì tử thần có thể đến bất cứ lúc nào, không ai có thể ngờ được. Tử thần lúc nào cũng cầm lưỡi hái đứng ngay bên chúng ta!

Trần gian là một hành trình, cuộc đời con người – cả hữu thần và vô thần – là một cuộc lữ hành trần gian, cuộc vượt khổ hải, nhưng cũng là hành trình đức tin – hành trình tiến về Quê Trời. Đức Kitô đã về trời trước, đó là bảo chứng cho chúng ta. Thánh Vịnh gia mời gọi: “Vỗ tay đi nào, muôn dân hỡi! Mừng Thiên Chúa, hãy cất tiếng hò reo! Vì Đức Chúa là Đấng Tối Cao, Đấng khả uý, là Vua Cả thống trị khắp địa cầu.” (Tv 47:2-3) Niềm vui khôn tả, và quá đỗi lớn lao!

Phàm nhân chúng ta hữu hạn, chỉ biết thể hiện bằng tất cả khả năng phàm phu tục tử theo gợi ý của Thánh Vịnh gia: “Thiên Chúa ngự lên, rộn rã tiếng hò reo, Chúa ngự lên, vang dội tiếng tù và. Hãy đàn ca, đàn ca lên mừng Thiên Chúa, đàn ca lên nào, đàn ca nữa kính Vua ta! Thiên Chúa là Vua toàn cõi địa cầu, hãy dâng Người khúc đàn ca tuyệt mỹ. Thiên Chúa là Vua thống trị chư dân, Thiên Chúa ngự trên toà uy linh cao cả.” (Tv 47:6-9) Thiên Chúa không đòi hỏi quá sức chúng ta, Ngài chỉ muốn chúng ta thể hiện bằng khả năng riêng mình mà thôi, nghĩa là thành tâm thiện chí.

Nhận biết Thiên Chúa là niềm hạnh phúc lớn lao, nhận biết Ý Ngài và vui mừng làm theo là niềm hạnh phúc lớn lao hơn. Quả thật, chấp nhận và làm theo Ý Chúa là điều không dễ chút nào, vì chúng ta thường chỉ muốn “được như ý” mà thôi. Thánh Phaolô cho biết: “Tôi cầu xin Chúa Cha vinh hiển là Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, ban cho anh em thần khí khôn ngoan để mặc khải cho anh em nhận biết Người. Xin Người soi lòng mở trí cho anh em thấy rõ, đâu là niềm hy vọng anh em đã nhận được, nhờ ơn Người kêu gọi, đâu là gia nghiệp vinh quang phong phú anh em được chia sẻ cùng dân thánh, đâu là quyền lực vô cùng lớn lao Người đã thi thố cho chúng ta là những tín hữu.” (Ep 1:17-19a) Tất cả là hồng ân, còn chúng ta chỉ tay trắng, bất tài và vô dụng.

Và rồi Thánh Phaolô giải thích thêm: “Đó chính là sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực, mà Người đã biểu dương nơi Đức Kitô, khi làm cho Đức Kitô trỗi dậy từ cõi chết, và đặt ngự bên hữu Người trên trời. Như vậy, Người đã tôn Đức Kitô lên trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được, không những trong thế giới hiện tại, mà cả trong thế giới tương lai. Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Kitô và đặt Người làm đầu toàn thể Hội Thánh; mà Hội Thánh là thân thể Đức Kitô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được viên mãn.” (Ep 1:19b-23)

Đức Giêsu Kitô được Chúa Cha trao ban mọi thứ, nhưng Ngài không giữ riêng cho mình, mà Ngài lại muốn chia sẻ với chúng ta, làm cho chúng ta được viên mãn với Ngài, dù chúng ta không chỉ là phàm nhân mà còn là những tội nhân hoàn toàn bất xứng. Hồng ân nối tiếp hồng ân, chúng ta chẳng có gì mà dám vênh vang tự đắc.

Thật tuyệt vời khi niềm hạnh phúc như điệp khúc cứ lặp đi lặp lại trong cuộc đời mỗi tín nhân chúng ta, miệt mài ngày tháng trên suốt hành trình về trời. Không hạnh phúc sao được, bởi vì chúng ta được Thiên Chúa ưu đãi quá nhiều, minh nhiên nhất là chúng ta được xóa án tử và được khôi phục cương vị làm con, nhất là cũng sẽ được về trời, chung hưởng niềm hạnh phúc vĩnh viễn.

Trình thuật Mt 28:16-20 (≈ Mc 16:14-18; Lc 24:36-49; Ga 20:19-23) cho biết: Hôm đó, cả mười một môn đệ đi tới miền Galilê, đến ngọn núi Đức Giêsu đã truyền cho các ông đến. Khi thấy Ngài, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. Bản tính nhân loại là thế, tận mắt thấy bao phép lạ mà vẫn chưa đủ tin. Vả lại, họ cứ tưởng Đức Giêsu là chính khách, Ngài sẽ giành quyền cai trị Israel từ bọn thực dân Rôma. Khi đó, Đức Giêsu đến gần họ và nói: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất.” (Mt 28:18) Có lẽ nghe Ngài nói vậy thì họ càng có lý mà cho rằng Chúa Giêsu đang làm chính trị thật, như vậy thì điều họ nghĩ không hề sai. Thế nhưng lại không phải vậy, Ngài không bao giờ làm chính trị, và Phúc Âm cũng không là bản cương lĩnh chính trị.

Rồi Ngài nói với các môn đệ: “Anh em hãy ĐI và LÀM cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, DẠY bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em.” (Mt 28:19-20a) Ngài biết sắp đến giờ về cùng Chúa Cha, nên Ngài căn dặn cặn kẽ, tỉ mỉ. Ngài về trời nên Ngài truyền cho chúng ta phải vào đời để làm chứng sống động về Ngài. Điều đó vừa là một tặng phẩm, vừa là một mệnh lệnh, vừa là một đặc ân, và cũng vừa là một trọng trách. Không thể không thi hành. Chắc chắn như vậy!

Lời cuối cùng của Chúa Giêsu trên thế gian là một lời hứa đầy niềm an ủi: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28:20b) Lời hứa đó đã được chứng tỏ rõ ràng qua Bí tích Thánh Thể, một phép lạ vĩ đại vẫn xảy ra hằng ngày ở khắp nơi trên thế giới. Biết rõ chúng ta phàm hèn yếu đuối nên Chúa Giêsu rất “tội nghiệp” chúng ta, như có lần Ngài đã hứa: “Thầy sẽ không để anh em mồ côi.” (Ga 14:8) Và lời hứa đó lại được thực hiện ngay lập tức: Ngài về trời rồi gởi Đấng Bảo Trợ đến ở với chúng ta (x. Ga 14:16). Thánh Thể và Thánh Thần luôn đồng hành với chúng ta trên suốt Hành Trình Về Trời. [Những mẫu tự T luôn kỳ diệu: Thánh Thể, Thánh Thần]

Mở và Kết là hai “đầu mối” quan trọng đối với mọi vấn đề, cả cụ thể và trừu tượng. Chính Thiên Chúa là Alpha và Omega. Tương tự, Hành Trình Về Trời được khởi đầu từ điểm SINH và kết thúc ở điểm TỬ. Hành trình đó có thể là “con đường” dài hoặc ngắn, không ai biết; “con đường” đó có thể rộng hoặc hẹp, ai chọn đường hẹp thì tốt hơn đường rộng, càng thênh thang càng dễ chết, thậm chí có thể chết yểu, chết trước kỳ hạn, và “chết” ngay khi còn thở, còn sống. Chết như vậy thì vô cùng nguy hiểm!

Vì thế, chính Chúa Giêsu đã khuyên những ai thực sự muốn được trường sinh bất tử: “Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy.” (Mt 7:13-14) Không chỉ đơn giản như vậy, người ta còn phải “chiến đấu để qua được cửa hẹp.” (Lc 13:24) Rất “ngược đời,” nhưng phải dám “lội ngược dòng” hoặc “sống ngược” như vậy thì mới mong “xuôi” về vĩnh cửu.

Sống là thở, rất đơn giản. Nhưng vẫn luôn phức tạp mặc dù đó là sự sống về thể lý. Sự sống tâm linh còn nhiêu khê gấp bội. Thánh nữ Faustina Kowalska so sánh: “Như bệnh tật được đo bằng nhiệt kế, sốt cao cho chúng ta biết là bệnh nặng, đời sống tâm linh cũng vậy, đau khổ là nhiệt kế đo tình yêu Chúa trong linh hồn.” (Nhật Ký, số 774) Chắc hẳn đó là điều rất khó đối với bản chất phàm nhân, thế nhưng người ta vẫn có thể chấp nhận nếu cố gắng hiểu theo triết lý sống của Thiên Chúa và nhìn theo cách nhìn của Ngài.

Lạy Chúa Cha hằng hữu, chúng con vui mừng khi nhận biết dấu chứngbảo đảm sự sống vĩnh hằng mà chúng con cố gắng chiến đấu để đạt được: Chúa Giêsu phục sinh và về trời. Con Chúa ra đi vì ích lợi cho chúng con, xin ban Ngôi Ba để chúng con được biến đổi, can đảm làm chứng về Thiên Chúa Ba Ngôi. Xin giúp chúng con đủ sức vượt qua chính mình để xứng đáng với Giá Máu Cứu Độ của Con Chúa. Xin Chúa cũng thanh lọc không khí, phá tan mọi thứ dịch bệnh – thể lý và tinh thần, để thế giới được sống bình an trong sự quan phòng của Ngài. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. mục lục

ĐIỀU KIỆN ĐỂ THÔNG TRUYỀN LỜI CHÚA

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Lời thiên thần: “Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn trời?”. 

Đó là cái nhìn vừa ngỡ ngàng, vừa yêu thương, luyến tiếc, nhưng hình như pha chút hoảng hốt. Thầy đang ở trước mắt, tự dưng lại được cất lên tức khắc.

Lời thiên thần thúc giục đủ quyền lực cắt đứt tất cả mộng mị, đưa các môn đệ của Chúa Giêsu về lại thực tế.

Độc đáo của lễ Thăng thiên là đây. Mừng Chúa về trời không chỉ ngước mắt nhìn trời. Ngược lại, phải nhìn xuống, phải quay về thực tế của cuộc đời. 

Quay về để từ hôm nay, biết làm cho những lối đường trần thế thành đường dẫn đến trời cao. 

Nghĩa là luôn giữ mình thanh sạch, sống trong ơn nghĩa Chúa qua từng hành động, suy tư, tương quan... từ những bổn phận, công tác, việc làm đến giờ phút nguyện cầu, và mọi việc đạo đức khác.

Đời sống trong sự tốt lành cũng là cách để thực hiện lời trăn trối của Chúa: "Hãy đi giảng dạy muôn dân làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần, giảng dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho các con".

Đời sống tốt là bước đầu của truyền giáo. Không thể trở thành nhà truyền giáo mà đời sống bê bối, mang đầy tiếng tăm.

Ngày lễ Chúa về trời hằng năm cũng là ngày Quốc tế Truyền thông (x. HÃY TRUYỀN THÔNG LỜI CHÚA). Giữa một thế giới mà truyền thông như cánh rừng, đủ mọi thứ thượng vàng hạ cám, thì ngày Quốc tế Truyền thông của Hội Thánh càng là dịp để Kitô hữu khẳng định chỗ đứng không chỉ thanh sạch mà còn thánh thiện của mình.

Để khi tham gia truyền thông, dù là người đưa hay nhận thông tin, ta luôn ý thức mình là Kitô hữu, phụng sự Lời Chúa, phụng sự uy danh Chúa, để theo khả năng mà trao cho thế giới một Thiên Chúa cứu độ trong yêu thương.

Hơn nữa, đời sống tốt là nội lực, là sức đề kháng giúp ta ngăn ngừa mọi nhơ nhớp, mọi thứ tội lỗi do những kiểu truyền thông phục vụ ma quỷ gieo rắc.

Đức Thánh Cha Phanxicô, trong nhiều bài giảng, nhắc đến tội nói hành, nói xấu, vu khống. 

Cũng vậy, qua kinh nghiệm mục vụ, các linh mục hoàn toàn đồng ý với Đức Thánh Cha. Các ngài đều nhận thấy tội nói hành, nói xấu, vu khống là tội người ta phạm nhiều. Đó là thứ tội phổ biến trong đời sống cá nhân và thế giới ngày nay. 

Không chỉ nói xấu, vu khống trên môi miệng, người ta tiến xa hơn khi không ngần ngại sử dụng phương tiện truyền thông để lăng mạ, chửi bới nhau.

Những lời lẽ trên truyền thông đôi lúc tục tĩu, thô bỉ, sống sượng, tàn ác...  Thậm chí nó còn cho thấy con người mất hết nhân tính. Có khi nó hàm chứa cả những mưu toan quyền lực, vụ lợi đầy tha hóa, đầy sự dữ...

Ngày xưa, khi nói xấu, vu khống, cùng lắm, chỉ trong một không gian thật nhỏ. Bây giờ, người ta đưa lên mạng internet, có sức lôi cuốn cả thế giới vào cuộc chứ không phải vài cá nhân.

Từ đó, ta mới thấy truyền thông hiện đại có sức mạnh đến mức độ nào. Nếu nó nâng ai, người đó sẽ cao ngất, nhưng nếu ai trở thành nạn nhân của nó, cuộc sống người đó trở thành thương tật, tàn phế... 

Người ta đã và vẫn chứng kiến, quá nhiều lần, truyền thông thay vì nối kết, đã bị biến thành nguồn cội chia rẽ, bất hòa, hận thù, chinh chiến. Vì thế, không lạ gì khi nghe Đức Giáo hoàng nói mạnh: “Ở đâu có vu khống, ở đó có ma quỷ”. 

Trước một cánh rừng truyền thông dày đặc như thế, đời sống và lương tâm tốt lành của Kitô hữu là điều kiện phải đặt trên hàng đầu. 

Vâng lệnh Chúa ra đi truyền giáo, chúng ta dùng mọi phương tiện, mọi khả năng để vinh Chúa giữa thế giới, nhưng phải luôn luôn tỉnh thức để mình không bị lôi vào thứ truyền thôngphục vụ ma quỷ, mang đầy chết chóc.

Hơn nữa, khi một thế giới bị thống trị quá nhiều bởi sự dữ, thì mỗi Kitô hữu càng phải đẩy mạnh việc truyền thông Lời Chúa, để góp phần làm lành mạnh hóa môi trường của đời sống hôm nay.

Xin Chúa huấn luyện chúng ta thành tông đồ mới cho thế giới mới để luôn luôn là những nhà thông truyền Lời Chúa, vinh danh Chúa cách hết sức nhiệt thành, hiểu quả và đúng đắn. mục lục

CHÚA GIÊSU VỀ TRỜI - LỄ THĂNG THIÊN

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh,MD 

Thánh Mátthêu tả cảnh Chúa Giêsu về trời ở Galilê rất huy hoàng và hoàn hảo (Mt 28:16-20). Thánh nhân diễn tả uy quyền mới của Chúa ở trên trời không phải bằng viễn kiến hay hình ảnh, cũng không phải tượng hình như cách bẻ bánh hoặc đụng vào thân xác Chúa, nhưng một cách rõ ràng, đơn giản mà thâm trầm biểu hiện cho Lời Chúa, Thầy Chí Thánh và là Đại sư phụ duy nhất của chúng ta (Mt 23:8-10). Mátthêu đã dùng đoạn Tin Mừng này để kết thúc bản Phúc Âm của ngài. Đây là bản tổng hợp các sứ điệp căn bản mà Chúa muốn nhắc lại cho các tông đồ. Nó cũng là tiến trình truyền giáo rất căm go mà Chúa đã gửi gấm cho các ông trước khi về trời.

Đoạn Tin Mừng này chia làm hai phần:

* Sự xuất hiện ở Galilê của Chúa Kitô phục sinh với các Tông đồ (Mt 28:16-18a) như đã hứa (28:7).

* Lời khuyên của Chúa Giêsu kết thúc Tin Mừng Mátthêu (28:18b-20). Các Tông đồ đã đi lên núi như Chúa dặn. Các ông đã nghĩ tới ba ngọn núi: Một ngọn (Mt 5:1-2) trên đó chúa đã cho bài giảng Tám Mối Phúc (c.5-7); một ngọn cao (17:1), ở đó Chúa đã biến hình (17:2) và báo trước cuộc khổ nạn của Người (Mt 16:21); sau cùng là núi Cây Dầu (Mt 24:3), địa điểm Chúa nói về ngày cánh chung (chương 24-25). 

CON SỐ MƯỜI MỘT MÔN ĐỆ  

Hãy để ý đến nhóm 11 Tông đồ và môn đệ mà Chúa hẹn gặp tại một ngọn núi ở Galilê. Đây là một nhóm người rất bình thường, có thể nói không ai bình thường, vô dụng, chẳng có thể cậy nhờ và hy vọng gì hơn? Họ đã tỏ ra bạc nhược đến độ nguy hiểm…qua những phản bội, hèn nhát, không dám nhận mình, nhưng lại có chút ít ưu điểm trở thành những “cột trụ” của Giáo Hội! Chỉ có kẻ gọi là “Đá” khi nhận ra được đầy đủ hành động chối Chúa của mình mới có thể gánh vác nổi công tác mục vụ đứng đầu và hiệp nhất Giáo Hội. Hai ông Gioan và Giacôbê thì tỏ ra đầy tham vọng một cách trắng trợn cùng với bà mẹ muốn cho con mình có một vinh quang thế tục (Mt 20:20-21). Những vị khác thì đưa ra những câu hỏi chứng tỏ chẳng hiểu gì về sứ điệp và lẽ sống của Thầy mình. Tuy nhiên Mátthêu bỏ qua tất cả những cái đó và nói cho chúng ta là “mười một môn đệ” đã lên đường đi tới ngọn núi mà Chúa đã chỉ (28:16). Không còn số 12 nữa (mười hai), chỉ còn 11. Con số này sẽ tiếp tục con đường dài của lịch sử Do Thái Giáo. Con số 11 cho thấy có một kẻ phản bội và đào ngũ là Juda Iscariốt. Tuy nhiên dù bản tính yếu đuối và ươn hèn ghê gớm như vậy, mười một vị vẫn được Chúa Phục Sinh ủy nhiệm một sứ mệnh rất to lớn là sứ mệnh toàn cầu. 

SỨ MỆNH TOÀN CẦU

Ở câu 18, Chúa Giêsu tuyên bố sức mạnh toàn cầu gồm trên trời dưới đất thuộc về Thiên Chúa Phục Sinh. Sức mạnh này được Người ban cho 11 vị Tông đồ này. Họ phải làm cho muôn dân ở mọi quốc gia trên khắp thế giới trở thành môn đệ. Tiếng “mọi quốc gia” được các học giả kinh viện hiểu là dân ngoại, nhưng nó cũng bao gồm cả dân Do Thái. Ý nghĩa của bí tich Thanh Tẩy là gia nhập cộng đồng Giáo Hội Chúa Sống Lại. Phần kết của Tin Mừng Mátthêu cũng biểu lộ rất rõ ràng niềm tin vào Chúa Ba Ngôi của Tân Ước. Có thể có một hình thức Thanh Tẩy của Giáo hội Mátthêu, nhưng tiên khởi nó cũng nói lên hiệu quả của bí tich Thanh Tẩy là liên kết những người chịu phép rửa nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. 

Ở câu 20, Chúa Giêsu nói: “hãy tuân giữ tất cả những điều mà thầy đã truyền dạy cho các con” chắc chắn người ám chỉ bài giảng trên núi mà chúng ta thấy trong Mathieu (Mt chương 5-7). Những giới răn của Chúa Giêsu là những nhân đức căn bản của Kitô giáo, không phải là luật Môsê, dù có một vài giới luật của Môsê lẫn trong đó.  

Những chữ “Và đây, thầy ở lại với các con cho đến tận thế” (c.20) có một ý nghĩa liên kết đặc biệt với ý trên. Nó đưa chúng ta trở lại lúc khởi đầu của câu chuyện Mátthêu khi Đức Giêsu được đặt tên là “Emmanuel”. Với cái tên này, chúng ta đã thấy câu trả lời là qua mọi thời đại, nhân loại luôn luôn hằng mong ước Thiên Chúa. Emmanuel có nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng tôi, vừa là lời kinh vừa là lời chúng ta tụng hô, vừa là lời hứa vừa là lời Thiên Chúa tuyên bố. Khi chúng ta tuyên xung một lời, chúng ta thực sự khấn vái và cầu xin: “Lạy Chúa, xin hãy ở lại với chúng con”. Khi Thiên Chúa nói thì với tư cách là Đấng tạo hóa, đầy quyền năng và vĩnh cửu thì Chúa nói: “Ta ở với các con”. Kết thúc Tin Mừng, tên Emmanuel ám chỉ Chúa Phục Sinh quả quyết với các môn đệ là Người vẫn tiếp tục hiện diện: “Thầy sẽ luôn luôn ở với anh em cho đến tận thế” (c.20). Thiên Chúa đã giữ lời hứa đó nơi Chúa Giêsu. 

Bí tích Thánh Thể chính là quả quyết và bảo đảm cho lời hứa đó. Đức Kitô nói với các môn đệ: “Hãy đi và giảng dạy cho muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.” Từ Chúa Kitô, con đường mở đầu Kitô giáo đã trực tiếp dẫn đến bí tích Thánh Thể: “Thầy ở với các con”, “Thầy ở với mỗi một các con”. “Thầy trở thành một phần của Máu Thịt các con.” “Thầy chia sẻ với chính sự hiện hữu của các con”. 

LIÊN HỆ VỚI THIÊN CHÚA PHỤC SINH 

Trong sách “Giêsu thành Nazareth-Tuần Thánh: Từ lúc đi vào Jerusalem đến lúc Phục Sinh” (Ignatius Press, San Francisco, USA 2011), ĐGH Biển Đức XVI viết về Mầu Nhiệm Chúa Về Trời (tr.286) như sau:

“….Cách thức gặp gở và tình đồng chí cũ nay đã qua đi tồi. Từ giờ trở đi chúng ta có thể liên hệ với Đức Giêsu chỉ với “Thiên Chúa Cha” mà thôi. Bây giờ chúng ta có thể liên hệ với Người bằng cách nâng lòng lên. Từ viễn cảnh Chúa Cha, trong sự hiệp thông với Chúa Cha, chúng ta có thể tiếp cận và ở gần Người theo một thể thức mới. Sự tiếp cận mới này –về phần chúng ta cũng phải có một sự mới mẻ. Qua bí tích Thanh Tẩy, cuộc đời chúng ta đã được tiềm tàng trong Thiên Chúa cùng với Chúa Kitô; chúng ta cũng được nâng lên trong cuộc sống hiện tại của chúng ta cùng với Người ở bên hữu Chúa Cha (Cl 3:1-3). 

Nếu chúng ta đi vào bản thể cuộc sống của Đức Giêsu một cách trọn vẹn, thì lúc đó chúng ta thực sự liên hệ với Chúa Phục Sinh, lúc đó chúng ta mới thực sự trở thành chúng ta. Liên hệ với Đức Kitô và cùng đi lên. Đừng quên rằng, đối với Gioan địa vị “tôn vinh” của Đức Kitô là thập giá, và sự “hướng lòng mình lên”, “lên thật cao” để liên hệ với Người, buộc phải di hành cùng với Đức Giêsu bị đóng đinh trên thập giá. Đức Kitô ở bên hữu Chúa Cha thì không xa chúng ta lắm đâu. Nhưng phần lớn thì chúng ta lại xa cách Người, mặc dù con đường liên kết chúng ta với Người thì luôn luôn mở rộng. Con đường này không phải là vấn đề không gian di hành có tính cách địa dư. Nó là “không gian di hành” của lòng mình, từ chiều kích tự cô lập mình đến một chiều kích mới của thế giới mở rộng ôm lấy tình yêu Thiên Chúa.” 

ĐỨC KITÔ ĐANG ĐẾN RẤT GẦN CHÚNG TA 

Chỉ khi thể xác Đức Giêsu xa cách khỏi khung cảnh lịch sử thì sự hiệp nhất tinh thần của Người với toàn thể thế giới mới được trọn vẹn. Đức Giêsu rời bỏ thế giới một ngày để sẵn sàng hiện diện cho tất cả mọi dân tộc qua mọi thời đại. Người phải hóa giải mọi liên kết của Người với bạn bè để sẵn sàng cho tất cả mọi người. Chúng ta di chuyển về thiên đàng đến độ càng ngày chúng ta càng tới cận kề với Chúa Giêsu. Những lời giảng của thánh John H. Newman đã linh hứng cho chúng ta trong ngày lễ trọng này (PPS, vol.6, No. 10): 

“Đức Kitô đi về với chúa Cha thì ngay lập tức là cả một nguồn sầu buồn, bởi vì Người vắng mặt, vắng cả niềm vui, bởi vì nó liên quan đến sự hiện diện của Người. Trong chuyện giáo lý Phục Sinh và Lên Trời của người lại nảy sinh ra những trái ngược về Kitô giáo thường được nói đến trong Kinh Thánh. Chúng ta buồn rầu, nhưng thực ra lại luôn luôn vui mừng; như chẳng có gì cả nhưng thực ra lại có tất cả mọi sự. (2 Cr 6:10).

Thực vậy, đây là tình trạng hiện tại của chúng ta. Chúng ta mất Chúa Kitô rồi chúng ta lại tìm thấy Người. Chúng ta không nhìn thấy Người nhưng chúng ta lại cảm thấy có Người. Chúng ta ôm chân Người và nghe Người nói: “Đừng dụng vào ta.” Vậy là thế nào? Đó là: Chúng ta đã mất một nhận định có ý thức và cảm quan về Người. Chúng ta không thể nhìn về Người, nghe Người, đàm thoại với người, bước theo người từ chỗ này đến chỗ kia. Nhưng chúng ta thưởng thức một thị giác thực sự thiêng liêng, nội tâm, không phải là vật chất, một sở hữu chủ thực sự về Người. Một sở hữu chủ thực sự hơn, hiện tại hơn là điều mà các Tông đồ đã có được bằng sương bằng thịt thực sự, dù là  linh thiêng và vô hình.” 

ĐỨC KITÔ LÀ LÝ DO ĐỂ CHÚNG TA VUI MỪNG 

Sau cùng, ĐGH Biển Đức XVI đã cho chúng ta lời khuyên là Chúa Phục Sinh không bao giờ bỏ chúng ta. Hãy coi lại tập sách “Jesus of  Nazareth –Tuần Thánh: Từ lúc đi vào Jerusalem đến lúc Phục Sinh” trang 284-285. 

“Vì Chúa Giêsu ở với Chúa Cha, Người không đi xa nhưng ở cận kề chúng ta. Bây giờ Người không còn ở một chỗ đặc biệt nào trên thế giới như trước khi “Chúa về trời”. Bây giờ, qua quyền lực của Người trên không gian, Người hiện diện và sẵn sàng cho tất cả mọi người mọi sự -xuyên suốt lịch sử và trong mọi nơi mọi chốn. Một câu chuyện rất lý thú trong Phúc Âm Mc 6:45-52 và những đoạn tương đồng diễn tả sự cận kề của Đức Giêsu khi Người còn sống ở dương thế. 

Sau khi đã biến bánh thành nhiều, Chúa truyền cho các Tông đồ xuống thuyền và đi về Bethsaida trước ở phía bên kia bờ, còn người thì giải tán đám đông. Sau đó Người “đi lên núi” để cầu nguyện. Trên thuyền chỉ có các môn đệ. Lúc đó gió bão nổi lên, sóng nước cuồn cuộn làm các ông hoảng sợ vô cùng. Chúa lúc đó ở xa trên núi đang cầu nguyện. Nhưng vì Người ở với Chúa Cha nên Người nhìn thấy các ông. Vì nhìn thấy các ông nên Người đi trên mặt nước đến với các ông. Người vào thuyền với các ông và làm cho tất cả mọi sự trở thành yên tình để các ông tiếp tục công việc.

Đây là hình ảnh một thời của Giáo Hội –cũng như của mỗi người chúng ta. Chúa ở “trên núi” của Chúa Cha, do đó Chúa nhìn thấy chúng ta, Chúa vào con thuyền cuộc sống của chúng ta bất cứ lúc nào. Do đó chúng ta có thể luôn luôn kêu cầu Người. Chúng ta có thể luôn luôn chắc chắn là Người nhìn thấy chúng ta và lắng nghe chúng ta. Vào một ngày nào đó của chúng ta, con thuyền Giáo Hội phải chèo chống ngược giòng gió bão lịch sử trên biển cả sóng to gió lớn, con thuyền gần như sắp chìm. Nhưng Chúa hiện diện đâu đó, Người xuất hiện đúng lúc “Ta đi xa, ta sẽ trở lại với các con”. Đó là đặc tính của Niềm Tin Kitô giáo, lý do để chúng ta vui mừng.” mục lục

ĐƯỢC SAI ĐI THI HÀNH SỨ MỆNH

JM. Lam Thy ĐVD

Trong mùa sinh viên ra trường, chúng ta chứng kiến những hình ảnh nhộn nhịp đượm chút lo lắng. Tốt nghiệp sau những năm tháng vất vả học hành, các tân khoa cũng có phần lo âu làm sao kiếm được việc làm tốt. Tâm trạng ấy giúp chúng ta hiểu được hoàn cảnh của các môn đệ Chúa trong ngày Người lên trời về cùng Chúa Cha. Sau ba năm trời được đào tạo dạy dỗ dưới mái trường Giê-su Ki-tô để tiếp tục sứ mệnh rao giảng Tin Mừng của Người, giờ đây các tân khoa là các tông đồ và môn đệ Chúa được Người chính thức sai đi vào cánh đồng truyền giáo. Quả thực Phụng vụ Lời Chúa đã mô tả ngày lễ Chúa lên trời không chỉ là kết thúc cuộc đời trần thế của Chúa, mà cũng là khởi đầu mới cho sứ mệnh của các môn đệ và Giáo hội.

Bài đọc 1 hôm nay (Cv 1, 1-11) trình thuật mầu nhiệm thăng thiên: Đức Giê-su Ki-tô dặn bảo các Tông đồ xong, thì Người được cất lên trời, ngự bên hữu Chúa Cha. Tâm trạng các môn đệ tất nhiên là hoang mang lo sợ, bởi Người Thầy – mà cho đến giờ phút này các ông vẫn còn bán tín bán nghi ("Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi" – Mt 28, 17) – lại một lần nữa nói một cách khó hiểu. Vừa mới nói “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế", thì ngay lập tức "Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa". Hiện tượng này khiến các Tông đồ cứ mải miết “đăm đăm nhìn lên trời phía Người đi”. 

Tâm lý thông thường của con người là sống bằng và sống với giác quan : Phải nhìn thấy tỏ tường (thị giác), nghe thấy rõ ràng (thính giác), sờ mó cầm nắm được (xúc giác), biết được mặn nhạt (vị giác), ngửi được mùi hương (khứu giác). Do đó, Thầy vừa nói Thầy sẽ ở với mình luôn mãi, thì ngay sau đó Thầy lại đi mất hút, bảo sao khỏi ngỡ ngàng, hụt hẫng, nếu không muốn nói là lo sợ, đau đớn, buồn rầu. Chính vì thế nên các Tông đồ chỉ lo nhìn lên theo bóng Thầy, với tâm trạng vừa hoài nghi, vừa chán nản, chẳng còn tin tưởng vào đâu đựoc nữa. Niềm tin lại một lần nữa bị thử thách, khiến các môn đệ quên mất những điều Thầy vừa truyền dạy. Cũng vì biết rõ con người là thế, nên Thiên Chúa đã phải sai thiên sứ đến cảnh tỉnh: "Hỡi những người Ga-li-lê, sao còn đứng nhìn lên trời? Đức Giê-su, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời." (Cv 1, 11). 

Sự mâu thuẫn giữa Lời dạy của Đức Giê-su và hiện tượng thăng thiên không chỉ làm các môn đệ thêm bán tín bán nghi (nửa tin nửa ngờ), mà cho đến ngày nay cũng không ít người hoài nghi. Và nếu có tin vào biến cố thăng thiên, thì cũng chỉ coi Lời dạy “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” là lời an ủi suông. Ấy cũng chỉ vì họ đã quên mất một điều là khi suy niệm Lời Chúa trong Thánh Kinh, cần chú ý đến cả hai phương diện: “nghĩa chiểu tự” (nghĩa đen) và “nghĩa thiêng liêng” (nghĩa bóng). Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo (Điều 116-117) đã giải thích rõ: “Nghĩa chiểu tự” còn gọi là “nghĩa văn tự”, đó là nghĩa mà lời Thánh Kinh nêu lên. Tất cả các nghĩa trong Thánh Kinh đều dựa vào nghĩa văn tự… Nhờ sự thống nhất trong ý định của Thiên Chúa, không những bản văn Thánh Kinh, mà cả các thực tại và biến cố được bản văn đề cập đến đều có thể là những tiên trưng (“nghĩa thiêng liêng”).”

Trong “nghĩa thiêng liêng” lại cần chú ý đến “nghĩa ẩn dụ”, “nghĩa luân lý” và “nghĩa thần bí”: “Cần phải nhớ rằng thời các giáo phụ và thời trung cổ, mọi hình thức chú giải, kể cả hình thức chiểu tự, cũng đều được tiến hành trên căn bản đức tin, mà không nhất thiết phải phân biệt giữa nghĩa chiểu tự và nghĩa thiêng liêng. Về phương diện này, người ta có thể nhắc tới 2 câu thơ trung cổ diễn tả mối tương quan giữa các nghĩa khác nhau của Sách Thánh: "Littera gesta docet, quid credas allegoria, Moralis quid agas, quo tendas anagogia." (Chữ đen tức “nghĩa văn tự” dạy về biến cố; “nghĩa ẩn dụ” dạy điều phải tin; “nghĩa luân lý” dạy điều phải làm; “nghĩa thần bí” hay “nghĩa thiêng liêng” dạy điều phải vươn tới.” – Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, điều 118). 

Hãy nhìn lên và cố gắng hiểu việc làm của Thầy (nghĩa chiểu tự: biến cố “thăng thiên”), để từ đó tin vào mầu nhiệm cứu chuộc (“nghĩa ẩn dụ”) qua Lời Chúa: "Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó. Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi." (Ga 14, 1-4). Đồng thời, hãy nhìn xuống bản thân mình cùng với anh em mình để mà thực thi sứ vụ do chính Người Thầy Chí Thánh truyền dạy trước khi về trời (“nghĩa luân lý”). Chỉ có như thế mới mong vươn tới cứu cánh Nước Trời (“nghĩa thần bí”) là mục đích cuối cùng của hành trình thực thi sứ vụ một Ki-tô hữu.

Tuy nhiên, cũng rất cần phải ghi nhớ lời dạy “Cần phải vượt quá “chữ viết” của ĐGH Bê-nê-đic-tô XVI trong Tông huấn Lời Chúa (số 28): “Như thế, muốn tái khám phá hành động qua lại giữa các nghĩa khác nhau của Sách Thánh, điều chủ yếu là phải nắm chắc việc bước từ chữ viết qua tinh thần. Đây không phải là một bước tự động, tự phát; đúng hơn, cần phải vượt quá (transcended) chữ viết: “Lời Chúa không bao giờ đơn thuần là một với chữ viết trong bản văn. Muốn nắm được Lời của Người, phải có một sự vượt quá (chữ viết) và một diễn trình tìm hiểu, được hướng dẫn bởi chuyển động bên trong của toàn bộ tác phẩm, và do đó, phải trở thành một diễn trình sống.”  

Nói cách cụ thể, “được hướng dẫn bởi chuyển động bên trong” thì cũng có nghĩa phải cậy nhờ vào Thần Khí Chúa soi sáng, như Người đã từng linh hứng cho các tác giả Kinh Thánh. Như vậy, có thể nói mầu nhiệm thăng thiên nhắc nhở mọi Ki-tô hữu 2 điều: 

1- Chúa Giê-su về trời: Chúa về trời vì Ngườii đã từ trời xuống, đó là một cuộc “trở về”. Hơn thế nữa, Người chính là Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa thật, là Đấng Tạo Dựng, là Chủ Tể mọi loài thụ tạo, nên việc “trở về trời” của Người là trở về với địa vị Thiên Chúa của Người. Việc về trời của Chúa là một mầu nhiệm, nếu không được mạc khải thì khó lòng làm cho con người bất toàn có thể tin. Vì thế mới có hiện tượng thăng thiên để các môn đệ được thực mục sở thi (trông thấy nhãn tiền). Thực chất thì trời không có địa chỉ rõ ràng, nên Chúa về trời mà vẫn “ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. Nói cách khác, khi Đức Giê-su Thiên Chúa về trời thì cũng có nghĩa là Người lại trở về với bản tính Thiên Chúa, không còn bị giới hạn bởi thân xác, không gian, thời gian nữa, mà là cùng lúc Người vẫn kết hợp mật thiết với Ngôi Cha và Ngôi Ba, đồng thời Người tiếp tục hiện diện cách thiêng liêng ở khắp mọi nơi, trong mọi thời đại, nhất là ở ngay trong tâm hồn các tín hữu của Hội Thánh Chúa.

2- Phải làm sao để được về trời với Chúa:  “Chúa về trời”, đó cũng chính là ước mơ, là hoài bão của con người muốn được tồn tại trên nơi vĩnh hằng, xa khỏi thế giới vật chất đầy cạm bẫy chông gai. Con đường về trời của mỗi người cũng chính là con đường “làm chứng nhân” mà chính Chúa đã thực hiện và mời gọi mỗi người ”Phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem cho đến tận cùng trái đất. Và chính anh em là chứng nhân về những điều nầy.” (Lc 24, 47-48). Chỉ đến khi người Ki-tô hữu thi hành sứ vụ chứng nhân đến độ thực sự “trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô” (Pl 3, 10), thì “phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao” (Mt 5, 12).

Tóm lại, khi nhìn theo bóng Người Thầy được cất lên trời, các môn đệ tiên khởi mang một tâm trạng hoang mang lo lắng, nhưng được thiên sứ nhắc nhở, thì các ngài đã hiểu ra mọi sự. Nhờ thế, các ngài đã mau mắn thực hành Lời Chúa dạy: "Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế." (Mt 28, 18-20). Và kết quả thật mỹ mãn: Giáo hội với 12 vị Tông Đồ tiên khởi (đã chọn Mat-thi-a thay cho Giu-đa It-ca-ri-ốt) đã thành lập được nhiều Giáo đoàn (với “khoảng ba ngàn người theo đạo” – Cv 2, 41) trong một thời gian ngắn và cho đến ngày nay thì đã hiện diện trên khắp thế giới. 

Người Ki-tô hữu hôm nay hãy hân hoan “đứng thẳng và ngẩng đầu lên” (Lc 21, 28) để nhớ lại việc Đức Giê-su Ki-tô thăng thiên và chiêm ngưỡng Người trong vinh quang Thiên Chúa. Đồng thời làm theo lời Thánh Phao-lô Tông đồ trong thư gửi tín hữu Ê-phê-sô: “Tôi cầu xin Chúa Cha vinh hiển là Thiên Chúa của Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, ban cho anh em thần khí khôn ngoan để mạc khải cho anh em nhận biết Người. Xin Người soi lòng mở trí cho anh em thấy rõ, đâu là niềm hy vọng anh em đã nhận được, nhờ ơn Người kêu gọi, đâu là gia nghiệp vinh quang phong phú anh em được chia sẻ cùng dân thánh, đâu là quyền lực vô cùng lớn lao Người đã thi thố cho chúng ta là những tín hữu. Đó chính là sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực, mà Người đã biểu dương nơi Đức Ki-tô, khi làm cho Đức Ki-tô trỗi dậy từ cõi chết, và đặt ngự bên hữu Người trên trời.” (Ep 1, 17-20).

Xin hãy nhìn lên và cầu nguyện để hiểu được mầu nhiệm thăng thiên, và hãy nhìn xuống để sống Lời Chúa cách cụ thể với mục đích tối hậu là chiếm hữu và giúp anh em cùng chiếm hữu Nước Trời. Ôi ! “Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin cho cộng đoàn chúng con biết hoan hỷ vui mừng mà dâng lời cảm tạ, vì hôm nay, Con Một Chúa đã lên trời vinh hiển. Là Thủ Lãnh, Người đã đi trước mở đường dẫn chúng con vào Nước Chúa khiến chúng con là những chi thể của Người nắm chắc phần hy vọng sẽ cùng Người hưởng phúc vinh quang. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ lễ Thăng Thiên).  mục lục

VÀO ĐỜI RA KHƠI

Hôm nay Con Chúa về Trời

Nghĩa là con phải vào đời từ đây

Vào đời một cách hăng say

Chứ không thụ động như ngày tháng qua

Sống yêu thương, sống thật thà

Sống như chính Chúa Giê-su đã truyền

Là luôn khiêm hạ, dịu hiền

Yêu thương, tha thứ, dấn thân suốt đời

Hôm nay Con Chúa về Trời

Nghĩa là con phải ra khơi lưới chài

Dù cho vất vả đêm ngày

Dù cho giông tố thuyền lay, sóng nhồi

Vững tin Chúa ở cạnh rồi

Con chèo chống vượt sóng đời sớm hôm

Xin thương cứu các linh hồn

Ban Chúa Thánh Thần, lạy Chúa Giê-su! mục lục

Viễn Dzu Tử

LỆNH TRUYỀN GIÁO 

(Suy niệm từ Mt 28,16-20 )

Mười một Tông Đồ tới núi cao 

Đợi chờ Chúa đến;(đúng giờ sao!)

Mừng vui, Chúa tỏ tình thương mến

Chúa bảo: Thầy khao khát biết bao…         

Trên trời, dưới đất, Thầy cai quản

Cứu độ nhân gian cả xác hồn

Hãy rảo chân rao truyền Chính Đạo

Muôn dân sẽ nhận phúc trường tồn…       

Thực thi Phép Rửa nhóm tân tòng

Nhận Chúa Ba Ngôi, sống cộng đồng

Thầy ở hằng ngày qua tận thế

Cùng anh em thể hiện truyền thông.

Hôm nay mừng lễ Chúa về Trời

Giáo Hội nhắc ta, hết mọi người:

Giữ vững niềm tin mà cộng tác

Tin Mừng rao giảng khắp muôn nơi. mục lục

(Thế Kiên Dominic)

PHÚC VỀ TRỜI

(Suy niệm mầu nhiệm thứ 2 mùa Mừng)

Đoàn tín hữu tin mình: Con Thiên Chúa

Sống đời này, mục đích để lập công:

Yêu tha nhân vì mến Chúa hết lòng

Luôn ngưỡng vọng được lên Trời hưởng phúc.

*Cha Chí Thánh thưởng công người nhân đức

Kẻ tội nhân sám hối, chịu sửa mình

Biết cậy trông quyền phép Chúa Chí Linh

Năng cầu nguyện: dâng mình làm của lễ.

*Hãy tận hiến: hy sinh đời dương thế

Mong sớm về Nhà Chúa ở trên Trời

Chốn trường sinh, vĩnh cửu, sống an vui

Hằng ca tụng Tình Yêu Vua Cứu Thế… mục lục

(Thế Kiên Dominic) 

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan