SUY NIỆM CHÚA NHẬT XIII THƯỜNG NIÊN - A

26-06-2020 109 lượt xem

(2 V 4,8-11.14-16a; Rm 6,3-4.8-11; Mt 10,37-42)

Mục Lục

CHO ĐI, TỨC LÀ LÃNH NHẬN+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

MÔN ĐỆ YÊU CHÚA TRÊN HẾT MỌI SỰLm. Giuse Mai Văn Thịnh, CSsR

THIÊN CHÚA KHÔNG THUA LÒNG QUẢNG ĐẠI CỦA CON NGƯỜIGiuse Vinhsơn Ngọc Biển, SSP

“MỘT CHÉN NƯỚC LÔLm. Giuse Nguyễn Hữu An

HÃY QUẢNG ĐẠI LÀM VIỆC THIỆNBác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

SỐNG XỨNG VỚI THIÊN CHÚALm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

VỊ NHẠT ĐẬM ĐÀTrầm Thiên Thu

TẶNG PHẨMViễn Dzu Tử

VÌ CHÚA KITÔ (Thế Kiên Dominic)

CHO ĐI, TỨC LÀ LÃNH NHẬN

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

Một số độc giả, nhất là những độc giả ngoài Kitô giáo, có thể cảm thấy “sốc” khi đọc Bài Tin Mừng hôm nay: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thày, thì không xứng đáng với Thày…”. Có lẽ nào Đức Giêsu lại dạy những điều ngược đời, trái với luân thường đạo lý.  Để hiểu nội dung và sứ điệp của Lời Chúa, chúng ta phải xác định vị trí của đoạn Tin Mừng này trong ngữ cảnh những bài giảng của Đức Giêsu về truyền giáo. Người đưa ra những điều kiện, những yêu sách mà những ai muốn làm môn đệ của Người phải chấp thuận. Đối với những ai muốn đi theo Đức Giêsu, họ phải vượt qua mọi thứ rào cản. Những rào cản này có thể là quan niệm về một cuộc sống an phận, có thể đó là của cải tiền bạc, nhưng cũng có thể đó là những mối liên hệ rất thân thiết. Đức Giêsu đã dùng những hình ảnh cụ thể để diễn tả sự hy sinh đối với những ai muốn làm môn đệ của Người. Trong bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta có thể khám phá ra quy luật “Cho đi, tức là lãnh nhận” được thể hiện qua những cặp từ mang ý nghĩa rát sâu sắc như sau:

- Ai tìm thì sẽ mất; ai chịu mất thì sẽ tìm lại được: ngược hẳn với quan niệm thông thường. Ở đây Đức Giêsu muốn nói đến sự dấn thân của người môn đệ. Khi sẵn sàng cho đi thì sẽ tìm được chính bản thân mình. Sự ích kỷ (tức là chỉ tìm chính bản thân mình, đặt mình làm chuẩn mực cho người khác) thì sẽ làm cho con người lâm vào tình trạng vong thân, đánh mất chính mình.

- Ai đón tiếp thì chính mình sẽ được đón tiếp: khái niệm “đón tiếp “ ở đây được hiểu rộng hơn quan niệm thông thường. Đón tiếp là cộng tác, là sẻ chia, là thông cảm, là đón nhận. Đón tiếp một người nào còn là sự quảng đại đối với người đó. Đức Giêsu đã đồng hóa với những người bé mọn đến nỗi ai đón tiếp họ là đón tiếp chính Người. Người còn hiện diện nơi những môn đệ, nơi những người được sai đi, để rồi mỗi khi chúng ta đón tiếp người môn đệ là đón tiếp Chúa. Hơn thế nữa, họ được vinh hạnh đón tiếp chính Thiên Chúa Cha, Đấng đã sai Con mình đến trần gian.

- Ai giúp người khác thì bản thân mình sẽ được giúp đỡ: sự giúp đỡ được nêu trong Tin Mừng chỉ đơn giản là một bát nước lã, là điều ai cũng có thể làm được. Ấy vậy mà món quà tưởng chừng như vô giá trị ấy lại có ý nghĩa trước mặt Chúa và xứng đáng nhận phần thưởng. “Của cho không quan trọng bằng cách cho”, một bát nước lã đã trở thành quà tặng có giá trị, vì nó được trao tặng với cả tâm hồn, với tình mến yêu và lòng chân thành. Người đàn bà tại thành Sunêm đã quảng đại đón tiếp Ngôn sứ Êlisê (Bài đọc I). Chính nhờ sự đón tiếp đó mà Bà và gia đình đã được thưởng công. Bà đã sinh con vào lúc tuổi già xế bóng. Việc sinh con đã đem lại cho bà niềm vui, vì đó là điều bà mong ước.  Bà đã đón tiếp Ngôn sứ với cả tấm lòng và sự quảng đại.

Khi cho đi, mình được nhận lãnh, khi tha thứ, mình được thứ tha, khi mến yêu, mình được yêu mến. Đó là triết lý sống của Thánh Phanxicô Khó Khăn đã được thể hiện qua Kinh Hòa Bình quen thuộc. Triết lý ấy, rất đơn sơ mà sâu sắc, rất dễ dàng thực hiện mà đem lại hiệu quả thiết thực. Triết lý sống này đã thấm đượm tinh thần của Tin Mừng. Chính Đức Giêsu đã làm gương cho chúng ta điều đó: Người đã cho đi, đã yêu mến, đã thứ tha để làm gương cho chúng ta.

Chúng ta được mời gọi để sống như Đức Giêsu đã sống, yêu như Đức Giêsu đã yêu. Chân lý này được gói gọn trong lời Chúa đã nói: “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng đáng với Thầy”. “Vác thập giá”, đó chính là con đường chúng ta đang đi. Đó chính là những biến cố đang xảy đến trong cuộc sống hằng ngày. Đó cũng là niềm vui nỗi buồn hòa quyện trong cuộc sống để làm nên những lời tôn vinh Thiên Chúa, khi chúng ta đón nhận những biến cố ấy với tâm tình của Đức Giêsu, cũng như Đức Giêsu đã cùng thập giá để tôn vinh Chúa Cha. Thánh Phaolô đã gọi những hy sinh của người tín hữu là “chết đi cùng với Đức Kitô” (Bài đọc II). Đây là cốt lõi Đức tin của người công giáo: những ai cùng chết với Chúa Kitô sẽ được sống lại với Người. Mỗi ngày, chúng ta được mời gọi sống ơn gọi của Bí tích Thanh Tẩy, tức là chấp nhận để cho những nết xấu chết dần trong ta và để ơn sủng của Chúa lớn mãi trong tâm hồn.

Chúng ta đang tôn kính Thánh Tâm Chúa Giêsu trong tháng Sáu này. Thánh Tâm Chúa đã mở ra để trở nên nguồn ân sủng cho nhân loại, cách riêng cho các tín hữu. Xin Thánh Tâm Chúa trở nên trường học về lòng hy sinh và tình yêu mến cho mỗi chúng ta. về mục lục

MÔN ĐỆ YÊU CHÚA TRÊN HẾT MỌI SỰ

Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, CSsR

Anh chị em thân mến,

Trong bài Tin Mừng tuần trước, Đức Giê-su đã khuyên bảo các môn đệ đừng sợ, hãy can đảm tham gia vào sứ mạng truyền giáo, cho dù có phải hy sinh mạng sống mình thì cũng đừng lo, bởi vì anh chị em là môn đệ chân chính của Chúa và cuộc sống của anh chị em đều thuộc về Chúa.

Tin mừng hôm nay là phần kết luận bài giảng truyền giáo của Đức Giê-su. Trong đó, Người đưa ra các tiêu chuẩn mà người môn đệ của Nước Trời cần phải có. Một cách nào đó chúng ta có thể nói rằng, khi đón nhận Bí Tích Thánh Tẩy, tất cả các Ki-tô hữu đều có bổn phận tham gia vào công cuộc rao giảng mở mang Nước Chúa; nhưng không phải ai cũng là môn đệ chân chính của Đức Giê-su cả đâu! Có sự khác biệt giữa người môn đệ chân chính và người chỉ khoác trên mình bảng hiệu Ki-tô hữu.

Căn cứ vào những gì mà Đức Giê-su dậy bảo hôm nay, chúng ta nhận thấy điều kiện để trở thành môn đệ của Chúa không lệ thuộc vào các việc như: tuân giữ các giới răn, siêng năng cầu nguyện, lĩnh nhận các Bí Tích, hăng say tham gia công tác trong xứ đạo và những việc đạo đức khác nữa. Vẫn biết rằng, tất cả các điều kể trên là bổn phận của người tín hữu, và chúng ta thật có lỗi nếu không thực hiện các điều này. Nhưng các tiêu chuẩn mà Chúa dành cho các môn đệ hôm nay đòi hỏi chúng ta cần có một chọn lựa, thứ chọn lựa đòi hỏi sự hy sinh. Đây không phải là điều dễ dàng. Bởi vì, yêu sách của Đức Giê-su đưa ra hôm nay rất quyết liệt, khó thực hiện, đòi hỏi người môn đệ phải có thái độ sẵn sàng để dứt bỏ.

Chúng ta cùng nhau nghe lại điều Chúa nói: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy.” (Mt 10: 37) Nói cách khác, để trở thành môn đệ đích thực của Đức Giê-su, chúng ta cần chọn lựa ưu tiên giữa tình yêu của chúng ta dành cho Chúa và các mối tương quan thế gian.

Tình Yêu mà người môn đệ dành cho Chúa phải vượt lên trên tất cả mọi thứ tình yêu khác. Đức Giê-su đã nói thêm rằng chúng ta phải yêu Chúa hết tâm hồn, hết trí khôn và hết sức mình. Có nghĩa là tình yêu của người môn đệ dành cho Chúa phải nhiều hơn, mãnh liệt hơn, hy sinh hơn tất cả mối tình. Nói chung, yêu Chúa trên hết mọi sự.

Thật vậy, tình yêu mà người xứng đáng được gọi là môn đệ là thứ tình không dựa trên cảm xúc như chúng ta dành cho cha mẹ, cha mẹ dành cho con cái, vợ chồng dành cho nhau. Đó là một sự chọn lựa trong cuộc sống để thể hiện tình yêu của chúng ta dành cho Chúa, thậm chí sự lựa chọn này có thể đòi chúng ta dâng hiến bản thân mình để làm chứng cho mối tình của mình dành cho Người. Yêu Chúa như gương Chúa yêu. Yêu Chúa rồi làm như Chúa đã dậy trong Bữa Tiệc Ly. Người cầm bánh, dâng lời chúc tụng rồi bẻ ra và trao cho các môn đệ rồi phán “Này là Mình Thầy.” Tình yêu của Đức Giê-su là của lễ hiến dâng lên Cha, rồi trao ban cho các môn đệ. Tất cả cử chỉ của Chúa như hiến dâng, bẻ ra, trao ban đều là các tiêu chuẩn mà các môn đệ của Chúa phải áp dụng.

Chúng ta cũng nhận ra trong các mối quan hệ của con người, tuy hiếm nhưng cũng có vài trường hợp đặc biệt, họ sẵn sàng hy sinh cho nhau. Nhưng động lực để họ hy sinh vẫn là tình yêu dành cho Chúa trước, Cho nên, để yêu Chúa hơn tất cả là lúc chúng ta chọn lựa Chúa là người quan trọng nhất, không có Chúa trong cuộc đời thì mọi sự và mọi việc chúng ta làm chẳng có giá trị gì.

Thưa anh chị em,

Trong tâm tình đó, giờ đây chúng ta cũng nên dành đôi phút hồi tâm để kiểm tra xem chúng ta yêu Chúa đến độ nào, có yêu Chúa trên hết mọi sự không? Bởi vì, chỉ có can đảm để nhìn nhận, chúng ta mới biết mình có phải là môn đệ chân chính của Chúa hay là cứ mãi sống dưới nhãn hiệu của người tín hữu, và các điều cần làm để vui lòng Chúa thì lại bỏ quên.

Để xứng đáng là môn đệ của Chúa, chúng ta phải nỗ lực tham gia để biến đổi môi trường chúng ta đang sống trở thành trời mới đất mới, và tại nơi đó con người cùng hướng về mục đích là được lớn lên trong Tình Yêu Chúa. Tất cả mọi mối tương quan mà chúng ta đang xây dựng như vợ chồng, con cái, bạn bè, thân hữu, v.v… đều được đặt trên nền tảng và cùng qui hướng về Tình Yêu Chúa.

Do đó, một cách minh bạch chúng ta phải nhìn nhận rằng nếu tình yêu của chúng ta dành cho Chúa không quan trọng và chưa lớn hơn tất cả thứ tình yêu khác thì chúng ta làm sao có thể dâng hiến đời mình cho Chúa trong tất cả, đặt Người lên trên mọi sự như thời gian, công sức, tài năng và tiền của cho Người được?

Làm sao chúng ta có thể nói rằng tôi yêu Chúa hơn mọi sự, trên tất cả mọi thứ mà tôi lại không có thời gian để hàn huyên và tâm sự với Người. Trong khi đó, 24 giờ là của Chúa ban cho!

Dựa vào kinh nghiệm trong cuộc sống, khi yêu nhau là muốn ở bên nhau. Có nhiều đôi bạn trẻ đã chia sẻ rằng họ chỉ mong ở bên nhau, thậm chí chẳng biết và chẳng có chuyện gì để nói.

Giống như các kinh nghiệm mà chúng ta đã trải qua, im lặng để nhìn ngắm Chúa và lắng nghe tiếng Người là phương thế cầu nguyện tốt nhất. Anh chị và tôi là những người thật xứng đáng là môn đệ của Chúa, nhưng chúng ta đã yêu Chúa bằng cách dùng thời gian theo ý Chúa hay chưa?

Cùng một cách như thế, chúng ta hãy kiểm tra cách chúng ta xử dụng tài năng mà Chúa trao ban. Tôi đã xử dụng nó như thế nào, để xây dựng công ích, mưu cầu ích lợi chung hay là chỉ ích kỷ dùng cho riêng gia đình mình mà thôi.

Tiến xa hơn một bước nữa và cũng thật là khó khăn khi chúng ta đề cập đến việc xử dụng tiền bạc. Đây là vấn đề rất tế nhị. Bởi vì tiền của gắn liền với sinh hoạt hàng ngày của chúng ta. Trên thực tế, tôi biết rằng có nhiều anh chị em bộc lộ vẻ chán nản và thất vọng khi nghe linh mục nói đến tiền. Thậm chí, có nhiều người không muốn đến Nhà Thờ vì chẳng nghe được những lời giáo huấn từ cha xứ, thay vào đó chỉ nghe đề cập đến ngân quỹ nhà xứ thiếu chỗ này, hụt chỗ kia… tiền ơi là tiền.

Quả thật, bản thân tôi rất ngại khi đề cập đến vấn đề này. Tuy nhiên, chúng ta cần phải đối diện với thách đố là chúng ta đã yêu Chúa và đặt Chúa trên mọi nhu cầu và mãnh lực mà tiền bạc có thể chi phối cuộc sống của chúng ta hay chưa? Như chúng ta thường nghe nói “tiền bạc là ông chủ xấu nhưng lại là một đầy tớ tốt”. Vì thế, anh chị em hãy tự vấn mình đã coi tiền của như phương tiện mà Chúa ban để xây dựng công ích hay lại tôn nó lên vai trò của một ông chủ điều khiển cuộc sống mình.

Một cách cụ thể, nhiều người trong chúng ta đã đóng góp cho các việc đem lại ích lợi chung một khoản tiền ít hơn số tiền bỏ ra để mua kẹo và đồ ngọt, rồi sau đó lại chi tiền cho việc giảm cân!

Nếu chúng ta thật sự là môn đệ chân chính của Chúa thì hãy học nơi Người lòng quảng đại và tinh thần bác ái trong việc xử dụng tiền của.

Khi suy niệm và trình bầy các điểm nói trên, tôi chợt nhớ đến đời sống và gương sáng của Thánh Nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su. Hành trình đời sống của Ngài chỉ vỏn vẹn 24 năm. Ngoài thời gian thơ ấu sống trong sự bao bọc của cha mẹ, thời gian còn lại Ngài sống trong đan viện của Dòng Kín Ca-mê-lô. Cuộc sống nghèo, chẳng có nhiều tiền để cho ai. Công việc của Ngài thật âm thầm, lo việc trong nhà. Thế mà công trạng của Ngài lại được sánh ngang hàng với Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-e bôn ba khắp nơi để truyền giáo. Bởi vì Thánh Nữ đã yêu Chúa bằng cả cuộc đời. Mọi việc Ngài làm, mọi cử chỉ và mọi lời Ngài nói đều phát sinh từ tình yêu mà Ngài dâng tặng cho Chúa để cầu nguyện cho việc truyền giáo.

Giống như Chúa, noi gương Thánh nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su, chúng ta phải yêu Chúa trên hết mọi sự, chọn Chúa trước khi chọn lựa các điều khác. Trong cử chỉ, lời nói và việc làm trong cuộc sống, chúng ta đừng hỏi tôi muốn gì mà là Chúa muốn gì. Đây không phải là điều dễ làm. Chúa biết rõ nỗi khó khăn mà chúng ta sẽ gặp phải. Vì thế, sau khi đưa ra các điều kiện đòi hỏi người môn đệ cần có, Chúa đã phán tiếp: ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng đáng làm môn đệ của Thầy.

Tóm lại, trên hết mọi sự và trong tất cả, chúng ta hãy yêu Chúa trước. Tình yêu Chúa bao hàm sự hy sinh, từ bỏ và dâng hiến. Tình yêu đáp trả mà chúng ta có được cũng xuất phát từ Thiên Chúa. Thiên Chúa yêu chúng ta trước. Người yêu con người đến nỗi đã gửi người Con duy nhất, hiến mạng sống của người Con làm quà tặng ban cho chúng ta sự sống đời đời.

Một lần nữa, chúng ta tin vào sự hiện diện của Chúa Phục Sinh trong Bí Tích Thánh Thể mà chúng ta đang cử hành. Đây là quà tặng tình yêu của Thiên Chúa ban tặng cho chúng ta trong Thánh Lễ này. Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy, nhớ đến thân xác đã hy sinh làm của ăn mà Thầy ban tặng cho chúng ta.

Trước khi đón nhận Mình Chúa, chúng ta thú nhận mình bất xứng. Và sau lời thú nhận đó, chúng ta đón nhận thân xác Người và được biến đổi để xứng đáng thành người môn đệ của Chúa, và giống như Chúa chúng ta sẽ nỗ lực yêu thương và nuôi sống nhau.

Tình Yêu là thế. Chỉ có ai yêu mến Chúa hơn mọi thứ tình trên trần gian này mới xứng đáng là người môn đệ của Chúa và sẽ làm được như các việc Chúa làm. Amen! về mục lục

THIÊN CHÚA KHÔNG THUA LÒNG QUẢNG ĐẠI CỦA CON NGƯỜI

Giuse Vinhsơn Ngọc Biển, SSP

Tại một Tòa Giám Mục miền bắc Việt Nam, trong khuôn viên Tòa Giám mục, có một khẩu hiệu rất đặc biệt, đó là: “Mỗi vị khách là một Đức Giêsu”.  Ấn tượng hơn nữa là cung cách của vị Giám Mục và nhiều nhân viên trong đó đã để lại cho người đến thăm nhiều cảm xúc qua cách đón tiếp mang đậm chất Kitô.

Khi ra về, nhiều người đã không ngớt lời khen ngợi tấm lòng hiếu khách, chân tình và đơn sơ của Đức Giám Mục và những người ở nơi đây.

Tại sao nơi đó lại có cung cách đối đãi tốt như vậy? Thưa, bởi vì nơi đó đã thấm đượm bài học của chính Đức Giêsu dạy: “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy” (Mt 10, 40).

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay sẽ lần lượt làm sáng tỏ nhằm giúp chúng ta hiểu tâm tình trên.

1. Lời Chúa

Khởi đi từ bài đọc 1, tác giả sách các Vua kể về sự kiện tiên tri Êlisê được một phụ nữ người Sunam đón tiếp rất thịnh tình khi ông và tiểu đồng đi ngang qua đây.

Người phụ nữ này là người thuộc giới thượng lưu trong thành. Gia đình giàu có. Đời sống vợ chồng rất ấm êm. Tuy nhiên, có một nỗi khổ tâm quá lớn đối với vợ chồng bà, đó là ông bà đã lớn tuổi mà không có con.

Nguyện vọng của ông bà là mong sao được Chúa thương nhận lời cho mình mụn con để nối dòng.  

Được tiếp đãi tử tế và rất thân tình, tiên tri Êlisê nghĩ đến ân nghĩa, nên trước khi rời khỏi nơi ấy, ông đã ngỏ ý muốn trả ơn vì những điều mà gia đình đã làm cho ông cũng như tiểu đồng.

Tuy nhiên, bà chủ đã hoàn toàn khước từ, bởi bà luôn nghĩ rằng: “Người đến trọ nhà mình là một vị thánh”. Vì thế, khi đón tiếp Ngài là đón tiếp người của Thiên Chúa. Vì thế, không lẽ lại sòng phẳng như “hòn đất ném đi, hòn trì ném lại???” Vì thế, dù nói thế nào, bà đều từ chối không hề nhận bất cứ thứ gì mà vị tiên tri đáp lễ.

Thấy được tấm lòng chân thành ấy, Êlisê cũng áy náy! Tuy nhiên, khi được tiểu đồng mách cho biết nguyện vọng của ông bà là muốn có một người con để nối dõi tông đường cũng như tránh đi sự tủi nhục.

Thấy được sự khao khát chính đáng, Êlisê đã cầu nguyện và chúc phúc cho hai ông bà và nói tiên tri: “Vào độ này sang năm, bà sẽ có cháu trai bồng”. Sau đó tiên tri Êlisê lên đường. Đúng như điều đã nói, bằng rầy sang năm, ông bà đã có một người con trai.

Tuy nhiên, niềm vui chỉ được ít lâu, vì chỉ vài năm sau, thằng bé bị bệnh và qua đời.

Khi nghe tin ấy, tiên tri Êlisê đã không ngớt cầu xin Chúa cho con bà được sống lại, và Chúa đã nhận lời. Đứa trẻ đã sống lại để sống một cuộc sống mới trong ân sủng và tình thương của Thiên Chúa.

Qua câu chuyện trên, chúng ta nhận thấy: Thiên Chúa không thua lòng quảng đại của con người. Nếu chúng ta rộng tay làm phúc cho Chúa hay những người cần đến sự giúp đỡ của chúng ta với lòng mến, thì chắc chắn Chúa sẽ trả ơn gấp bội.

Sang bài đọc 2, Thánh Phaolô đi xa hơn để cho thấy nền tảng và nguồn gốc của sự sống mới chính là Đức Giêsu, Đấng đã sống cuộc sống như ta, đã chết và đã sống lại vì nhân loại. Ngài nói: “Nếu ta cùng chết, cùng được mai táng với Ngài, thì ta cũng có được một đời sống mới như Ngài”. 

Nếu trước kia, tâm hồn chúng ta đầy rẫy những tội lỗi, bon chen, ích kỷ, hận thù, kiêu ngạo và thiếu tinh thần bác ái, thì khi ta được lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, nghĩa là ta được dìm mình vào trong một khuôn đúc mới, để xuất hiện một hình ảnh mới, hình ảnh của Đức Giêsu Kitô. Từ đó, con người của ta được biến đổi và được mặc lấy sự sống mới trong Ngài.

Thật vậy, nếu chết đi cho tội là loại bỏ những ích kỷ, tham vọng, nhục dục, thù hận, ghét ghen, vô cảm, vô tâm, dửng dưng, thì sống một đời sống mới trong Đức Giêsu Kitô là biết lắng nghe và thực hành Lời Chúa dạy; biết yêu thương, tha thứ, nhân từ, cảm thông, liên đới, quảng đại, dấn thân vì người nghèo…, bởi vì những thứ đó thuộc về phẩm chất của Thiên Chúa và chúng ta được mời gọi loan truyền tình thương của Ngài qua những hành vi đó.

Đỉnh cao của phụng vụ Lời Chúa hôm nay là bài Tin Mừng

Như một lời hiệu triệu, Đức Giêsu đã nói về sự liên đới giữa Ngài với ta, giữa ta với Ngài và Thiên Chúa Cha trong một đường dây bác ái. Ngài nói: “Ai đón tiếp một trẻ nhỏ…là đón tiếp Thầy…ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy…”. Mối liên hệ này cho thấy sự khăng khít và giao hảo giữa ba thành phần: Thiên Chúa - Đức Kitô và nhân loại.  Nói khác đi, ta được Thiên Chúa cứu độ nhờ Đức Kitô và cùng với anh chị em.

Chính vì thế mà Đức Giêsu đã đặt trọng tâm của sự liên kết này qua người nghèo và mời gọi người môn đệ hãy làm cho mối liên hệ này được trở nên sống động hơn.

Như vậy, qua 3 bài đọc, chúng ta thấy có một chủ đề xuyên suốt, đó là: nếu ta rộng lòng quảng đại giúp đỡ những người khó khăn, bần cùng trong tâm tình mến yêu Chúa và anh chị em, ta sẽ được Thiên Chúa trọng thưởng ở ngay đời này và cả đời sau. Thiên Chúa không bao giờ thua lòng quảng đại của chúng ta. Ngược lại, Người sẽ trả công hậu hĩnh đến không ngờ.

2. Sống sứ điệp Lời Chúa

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta đi vào mối tương quan với Thiên Chúa cách sống động.

Hành trình này có thể được ví như một hành trình đức tin. Đức tin ấy được chứng minh bằng những việc thực thi đức ái, từ bỏ tội lỗi để sống cho Thiên Chúa.

Chúng ta không thể nói rằng: đức tin của tôi chỉ cần được ghi trong sổ Rửa Tội; đức tin của tôi cũng chỉ cần ở trong nhà thờ; hay đức tin của tôi chẳng cần phải tỏ lộ ra bên ngoài.

Không! Nói như thế là tự mâu thuẫn, không nền tảng và vu vơ, chẳng khác gì người xây nhà mình trên nền cát, bởi vì: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2, 26. ); hay như thánh Gioan nói: “Người anh em chúng ta nhìn thấy mà không yêu mến, thì làm sao yêu mến Thiên Chúa là Đấng ta không thấy?” (x. 1 Ga 4, 20)

Đức tin mà chúng ta được đón nhận phải đưa chúng ta vào trong sự sống mới của Đức Kitô, mà sự sống mới của Đức Kitô chính là vâng lời Chúa Cha tuyệt đối và yêu con người đến cùng.

Như vậy, nếu ta nói mình là môn đệ, là người thuộc về Đức Kitô mà ta không lắng nghe Lời Chúa, hay lắng nghe xong rồi bỏ, hoặc nghe một đàng làm một nẻo… thì chúng ta không khác gì hạt giống gieo bên vệ đường, bụi gai, sỏi đá.

Hay nếu nói là người đi theo Chúa, mà ta không mang trong mình tâm tư của Chúa, đó là từ bi, nhân hậu, bao dung, tha thứ, liên đới, nhất là thi hành bác ái đối với người nghèo, bảo vệ người cô thế cô thân, bênh vực cho công bằng, sống sự thật…thì chúng ta có khác gì những Pharisêu giả hình thời xưa đâu?

Mong sao, Lời Đức Giêsu dạy khi xưa: "Mỗi lần các ngươi làm cho một người nhỏ bé nhất của Ta đây, là các ngươi làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40), sẽ được chúng ta ý thức và mau mắn thi hành trong lòng mến, để sau này, chúng ta được Thiên Chúa trọng thưởng trên Thiên Đàng.

Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con biết yêu thương anh chị em chúng con bằng tình yêu chân thành và đầy lòng mến. Xin cũng ban cho chúng con biết sống xứng đáng là con cái Chúa khi chúng con biết đi theo đường lối của Thiên Chúa trong ánh sáng và chân lý. Amen. về mục lục

“MỘT CHÉN NƯỚC LÔ

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Trước đây, có một cậu bé nghèo bán hàng rong để kiếm tiền đi học. Một hôm cậu không có được một đồng bạc dính túi mà bụng thì đói.

Cậu quyết định sẽ đến xin ăn tại căn nhà gần đó. Tuy nhiên, khi một cô gái trong nhà ra mở cửa thì cậu ngại quá nên thay vì xin ăn, cậu xin một ly nước lã! Cô gái nhìn thấy dáng vẻ của cậu thì biết rằng cậu đang đói, nên đem cho cậu một ly sữa lớn. Cậu uống chậm rãi, rồi hỏi: “Tôi phải trả bao nhiêu tiền?”. Cô gái cười nhẹ và trả lời: “Cậu chẳng phải trả gì cả. Mẹ chúng tôi dạy rằng không bao giờ nhận tiền công khi làm một hành vi tử tế!” Cậu bé nói: “Vậy thế thì…tôi hết lòng cám ơn cô”. Khi cậu rời ngôi nhà ấy thì chẳng những cậu cảm thấy thân thể mình khỏe mạnh hơn, mà lòng tin vào Thiên Chúa và con người cũng tăng mạnh thêm lên. Cậu từng nghĩ rằng cuộc đời mình khổ cực quá nên nhiều lần có ý muốn bỏ học.

Nhiều năm sau, cô gái ấy trở thành một phụ nữ và mắc bệnh hiểm nghèo. Các bác sĩ gần như bó tay. Cuối cùng họ gửi cô đến một thành phố lớn để mong tìm những chuyên viên chữa trị căn bệnh lạ của cô. Bác sĩ Howard Kelly được mời đến để chẩn bệnh. Khi nghe nói đến tên thành phố cũ của mình, mắt ông ánh lên một cách lạ lùng. Ông đứng dậy ngay để xuống phòng khám. Trong chiếc áo trắng của bác sĩ, ông đến gặp và nhận ra cô ngay. Ông trở về phòng khám và quyết tâm chữa cứu người phụ nữ ấy cho bằng được. Kể từ ngày hôm đó, ông nghiên cứu và theo dõi kỹ tình trạng sức khoẻ của cô. Sau những ngày cam go, căn bệnh đã thua cuộc. Bác sĩ yêu cầu phòng tài chánh chuyển hoá đơn tính tiền viện phí của cô để cho ông phê trước. Ông nhìn vào tờ hóa đơn, rồi ghi vài chữ bên lề trước khi gửi đến cho cô. Cô rất sợ phải mở tờ hóa đơn ấy ra, vì cô biết rằng cô sẽ trả món nợ ấy suốt cả đời mình. Cuối cùng, cô cũng phải nhìn xuống hoá đơn và dừng lại để ý đến hàng chữ bên lề. Cô đọc thấy: “Đã thanh toán đầy đủ bằng một ly sữa!”. Ký tên: Bác sĩ Howard Kelly. Mắt cô đẫm lệ vì vui mừng và từ trái tim ngập tràn hạnh phúc vươn lên lời nguyện cầu: “Tạ ơn Chúa! Chính Tình Yêu của Chúa đã lan truyền sang quả tim và bàn tay của con người”.

Cậu bé ngày xưa được tặng một ly sữa trong cơn đói đã trở thành Tiến Sĩ y khoa Howard Kelly, ông đã từng là một bác sĩ lỗi lạc tài ba. Năm 1895 chính ông là người sáng lập Johns Hopkins Division of Gynecologic Oncology (Phân khoa Ung Thư Phụ Sản) tại Đại Học Johns Hopkins, trường Đại Học đầu tiên của Hoa Kỳ dành cho việc nghiên cứu y khoa, được thiết lập năm 1876, tại Baltimore, Maryland.(Maranatha sưu tầm và dịch).

Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu dạy: “Ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ là một chén nước lã mà thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu”. Đón tiếp một em nhỏ, cho người thấp kém trong xã hội dù chỉ một ly nước lã, cũng là một việc làm đáng được ân thưởng trên trời. Lý do giản dị là Chúa đã tự đồng hoá mình với những kẻ mọn hèn (x. Mt 25,40-45).Tiếp đón và quảng đại giúp đỡ tha nhân với lòng mến là tiếp đón Chúa. Lòng hiếu khách là một đức tính thiết yếu, một việc bổn phận “cho khách độ nhà” và mang lại cho chúng ta những phần thưởng cao quý. Đối với tín hữu, hiếu khách là người “khi con đãi khác ăn trưa hoặc ăn tối, đừng kêu bạn bè, anh em hay bà con hoặc láng giềng giầu có, kẻo họ cũng mời lại con.. Trái lại, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ. Như vậy con mới thật có phúc” (Lc 14,14). Hiếu khách là “làm phúc tay phải, đừng cho tay trái biết”.

Thánh Kinh ghi lại những cuộc tiếp đón rất đẹp, đầy lòng hiếu khách : Abraham thấy 3 người khách lạ đang đi trong sa mạc. Ông chạy ra năn nỉ họ vào nhà và ân cần chăm sóc họ. Đó là 3 sứ giả của Thiên Chúa. Đáp lại tấm lòng của Abraham, 3 sứ giả này ban ơn cho vợ chồng son sẻ của Abraham có con trai đầu lòng (St 18). Một gia đình ở Sunam chẳng những tiếp đón ngôn sứ Elisê, mà còn dọn hẳn cho ông một căn phòng để những lần sau ông tới có chỗ trọ. Đáp lại, Elisê cũng giúp họ thoát khỏi tình trạng son sẻ (bài đọc 1). Gia đình Matta, Maria và Lazarô ở Bêtania là nơi thường xuyên tiếp đón Đức Giêsu và các môn đệ. Đáp lại, Đức Giêsu đã làm cho Ladarô sống lại. (x.Sợi chỉ đỏ CN 13 A).

Trang Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu đặt việc “đón tiếp Thầy” vào một tương quan rộng lớn và trọn vẹn nhất, đó là tương quan “anh em – Thầy – và Đấng đã sai Thầy”. Lòng hiếu khách thể hiện qua việc đón tiếp các môn đệ: “Ai đón tiếp các con là đón tiếp Thầy; và ai đón tiếp Thầy, là đón tiếp Ðấng đã sai Thầy”; đón tiếp các ngôn sứ: “Ai đón tiếp một ngôn sứ với danh nghĩa là ngôn sứ, thì sẽ lãnh phần thưởng của ngôn sứ ”; đón tiếp những người công chính: “Ai đón tiếp một người công chính vì người ấy là người công chính thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho người công chính”.

Chúa Giêsu dùng từ “ngôn sứ” và “người công chính” để nói về các Tông đồ. Như vậy, các Tông đồ được coi là ngang hàng với các ngôn sứ và các người công chính thời Cựu ước.Vì thế, tiếp đón các Tông đồ được coi như là tiếp đón Chúa Giêsu, và đón tiếp Chúa Giêsu thì cũng như tiếp đón chính Thiên Chúa, Đấng đã sai Ngài. Mười hai Tông đồ là những sứ giả của Chúa Giêsu, còn Chúa Giêsu thì được Thiên Chúa sai đến thế gian. Nguồn mạch tối hậu của mọi sứ vụ là chính Thiên Chúa, Đấng đồng thời là chủ mùa gặt, và là Đấng sai phái các thợ gặt. Mặc dù, ra đi loan báo Tin Mừng, các môn đệ phải chấp nhận đời sống truyền giáo trong nếp sống nghèo khó và khiêm tốn, nhưng Chúa Giêsu đã đồng hóa mình với họ, vì qua họ, Người đến với loài người và nói với loài người. Từ nay, họ thực sự là người của Thiên Chúa. Ai đón nhận họ tức là đón nhận chính Đức Kitô. Cả phần thưởng cho việc đón tiếp cũng dựa trên sự liên kết ấy giữa các cuộc sai phái.

Chúa Giêsu còn mời gọi: “Ai cho một trong những kẻ bé mọn dù chỉ một ly nước lã, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu“. Người dùng hình ảnh chén nước lã, và một người anh em hèn mọn nhất, để đo lường và cân nhắc thái độ đón tiếp của chúng ta dành cho nhau. Cho đi “một ly sữa” hay “một chén nước lã” là cử chỉ nhỏ bé ai cũng có thể làm được, dù là một đứa trẻ. “Một chén nước lã” đối với Chúa lại là “một chén ân tình”. Điều đó cho thấy, Thiên Chúa không hề bỏ sót một nghĩa cử yêu thương nào của mỗi người. Dù chỉ là nghĩa cử bé nhỏ âm thầm, một khi đã được thực thi từ lòng mến thì nó trở nên cao cả. Tình yêu chính là trọng tâm của đời sống người tín hữu.Tình yêu làm cho thập giá trở nên nhẹ nhàng, vừa sức cho mỗi người.Tình yêu là sức mạnh giúp người tín hữu dám mất mạng sống vì Thầy.Tình yêu đã làm cho người tín hữu yêu mến Chúa hơn cha mẹ, con cái, cũng sẽ giúp họ yêu thương phục vụ mọi người cách thiết thực, chân tình.Yêu thương phải là nền tảng của mọi dâng hiến. Bởi vì “nếu tôi đem cả gia tư vốn liếng mà bố thí; và nếu như tôi nộp mình chịu thiêu đốt, nhưng lại không có lòng mến thì cũng hư không vô ích cho tôi” (1 Cor 13,3).

Lắm khi người ta dễ dàng tiếp đón các nhân vật nổi tiếng như các ngôn sứ, người công chính, vị tư tế…, và chắc chắn họ sẽ nhận được ân phúc mà Thiên Chúa ban thưởng cho những con người dấn thân cao cả đó. Thế nhưng, Chúa Giêsu còn đi xa hơn khi mời gọi người ta nới rộng sự tiếp đón đến các kẻ bé mọn, người bị bỏ rơi, người già đau yếu, thai nhi vô tội…. Những con người này cũng cần được ân cần tiếp đón như sứ giả của Đức Kitô. Và chỉ “một chén nước lã” cho họ uống thôi cũng đủ cầm chắc phần thưởng Thiên Chúa trao ban rồi.

Tiếp đón không chỉ thuần túy là mở cửa nhà, mở hầu bao, mở chum nước, nhưng đúng hơn là mở rộng con tim. Chỉ khi rộng mở tâm hồn, con người mới thật sự lớn lên trong cảm thông, tương quan, tình thân, và hiệp nhất. Một tác giả đã nhận định: “Sống là phải mở ra. Như cánh hoa mở ra với mặt trời, như dòng sông mở ra với biển khơi, như cơ thể mở ra với khí trời và ánh nắng. Mở ra như thế là đòi hỏi thiết yếu của sự sống”. Phương diện thể chất còn cần mở ra để được sống, huống chi là phương diện tâm linh!

Sứ điệp lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy rộng lòng quảng đại giúp đỡ những người khó khăn, bất hạnh trong tâm tình mến yêu Chúa và tha nhân. Thiên Chúa trọng thưởng ở ngay đời này và cả đời sau. Thiên Chúa sẽ trả công hậu hĩnh đến không ngờ.

Lạy Chúa, xin cho chúng con dám sống chết cho tình yêu Chúa, cho chúng con biết: chân thành hơn trong yêu thương, bác ái hơn trong lời nói, nhân từ hơn trong cách cư xử. Xin cho cuộc đời chúng con mãi mãi là mùa hoa nhân ái. Amen. về mục lục

HÃY QUẢNG ĐẠI LÀM VIỆC THIỆN

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

Tin Mừng tuần này nói về việc thiện. Có nhiều cách làm việc thiện: Chia sẻ tiền bac, cơm áo, nơi ăn chốn ở cho người nghèo khó là làm việc tốt cho tha nhân. Yêu Chúa, hy sinh vì Chúa, chết cho Chúa cũng là một cách làm việc thiện… Tất cả những phạm trù đó đều ẩn chứa trong Lời Chúa của Chúa Nhật này.

HIẾU KHÁCH CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ LÀNG SHUNEM

Bài đọc 1 sach Các Vua  hôm nay (2 V 4:8-12, 14-16) trình bày tính hiếu khách của người phụ nữ làng Shunem đối với tiên tri Elisha. Trong chương 4 sách Các Vua có nhiều chuyện nói về tính hiếu khách, chuyện nào cũng nhấn mạnh về quyền năng của Thiên Chúa qua tiên tri Elisha, lướt thắng mọi gian nan khốn khổ để đạt hy vọng. Một trong những chuyện kể ấy là câu chuyện hai vợ chồng ở làng Shunem đã cung cấp thức ăn và nơi ở cho tiên tri Elisha. Đáp lại, tiên tri hứa với họ là họ sẽ có con trai, vì họ lấy nhau đã lâu và tuổi thì lại già. Hai ông bà tin tưởng người khách này là người của Thiên Chúa, nên mong ông ta sẽ cầu xin Chúa cho mình. Họ bỏ công ăn việc làm hàng ngày để săn sóc cho Elisha. Bù lại họ nhận được rất nhiều điều tốt, đặc biệt là lời hứa sự sống mới dù nhiều năm buồn phiền vì cô đơn và hiếm muộn. Phần thưởng họ có được quả là quá sức họ tưởng tượng.

Hiếu khách là tử tế, niềm nở tiếp đãi và giúp đỡ khách mọi sự họ cần. Hiếu khách là

một đức tính đã được ca tụng trong Tân Ước và được kể là một trong những hành động bác ái được Thiên Chúa phán xét thuận lợi (Mt 25,35). Chúa Giêsu coi đó là một việc quan trọng. Chúa thì không có nhà, thường là khách trọ trong các cuộc hành trình. Thánh Phaolo cũng vậy, ông thường đến với người Do Thái và xin trú ngụ nếu cần. Ông chỉ ở nhà những người ngoại khi người Do Thái từ chối ông.

Sau này khi Giáo Hội phát triển rộng lớn thì lại có những tổ chức đặc biệt. Vào thế kỷ IV, Antioch đã săn sóc mỗi ngày cả 3.000 góa phụ, người bệnh và khách lạ. Giám mục và góa phụ là khách thường xuyên của Antioch. Sau này các Giáo Hội phát triển lớn hơn thì thành lập viện dưỡng lão để săn sóc người già cả ốm yếu, rồi từ từ tiếp đó là bệnh viện để chữa bệnh. Đây là những dấu chỉ tích cực của tính hiếu khách. Nhưng cũng gặp những trở ngại vì ích kỷ hoặc tự cao tự đại chỉ muốn giới hạn hoạt động vào với mình, loại bỏ những người lạ và người ngoại quốc. Lúc đó chúng ta đã làm mất ý nghĩa của tính hiếu khách. Người đàn bà Shumen đã cho chúng ta bài học đặc biệt và thực tế. Chúng ta có thể dành riêng cho khách phòng ngủ dù lớn hay nhỏ, đãi họ bữa ăn và cung cấp cho họ những nhu cầu cần thiết. Nên nhớ là Nước Trời mà Chúa Giêsu nói đến đã mang hy vọng cho thế giới người nghèo, những người không đủ cơm ăn áo mặc, những người vô gia cư, những người bị xua đuổi ra sống bên lề xã hội.

QUẢNG ĐẠI LÀ BIỂU HIỆU CỦA TÌNH YÊU

Theo bài đọc 2 thư thánh Phaolô gửi tín hữu Rôma (Rm 6,3-4, 8-11), lòng quảng đại và ân sủng của Thiên Chúa là biểu hiệu của tình yêu Thiên Chúa. Tình yêu này bảo đảm một đời sống vĩnh cửu với những ai có niềm tin. Nhờ phép rửa tội họ được chia sẻ cái chết của chúa Kito và thoát khỏi mọi tội lỗi. Qua sự phục sinh của Chúa Kitô, họ có sức mạnh để sống đời sống mới nhưng vẫn cần phải có sự cộng tác hoàn toàn với Chúa Kitô phục sinh. Hiến dâng đời sống cho Thiên Chúa bây giờ chỉ là một phần của tương lai. Do đó nếu còn nghĩ đến tương lai thì không thể nói rằng: “Cứ phạm tội đi rồi Chúa sẽ ban ẩn sủng và tha thứ”.

MUỐN CÓ VINH QUANG NƯỚC TRỜI PHẢI TỪ BỎ MỌI SỰ

Bài Tin Mừng Mátthêu hôm nay đề cập đến yếu tố quan trọng của thánh giá mà các môn đệ của Chúa Giêsu phải vác. Những ai từ bỏ Chúa Giêsu để cứu mạng sống mình sẽ bị án phạt thiêu hủy hoàn toàn, và những ai hy sinh sự sống mình vì Chúa sẽ được thưởng đời sống vĩnh cửu trên nước trời. Chúa Giêsu đã đưa ra sứ điệp phải từ bỏ hoàn toàn mọi sự nếu muốn có nước trời. Chẳng có ai hay bất cứ cái gì có thể cản trở họ hiến dâng mình cho Chúa Kitô và sứ mệnh của Người. Chúa biết rất rõ không phải tất cả mọi người đều chấp nhận Tin Mừng, ngay trong cùng một gia đình cũng có những người khác nhau. Ai muốn theo Chúa Giêsu thì phải đặt Phúc Âm lên trên hết mọi sự, kể cả mạng sống của mình. Nếu họ chọn con đường gian khổ khó khăn, thì họ sẽ phải chia sẻ cho mọi người số phận của Chúa Giêsu là bị truy nã và đau khổ. Ai từ chối vác thánh giá theo Chúa thì không xứng đáng làm môn đệ Chúa (Mt 10,38). Các tiên tri thời xưa cũng phải được chuẩn bị để chịu đau khổ vì Lời Thiên Chúa. 

Bất cứ ai tiếp đãi sứ giả của Thiên Chúa thì sẽ nhận được chính Chúa Giêsu là Đấng mà Thiên Chúa đã gửi đến cho họ và họ sẽ được ban thưởng vì sự hiếu khách tử tế của họ.

Chúa Giêsu cũng đã nói khi nào chúng ta chứng tỏ tình thương sót, tha thứ và từ tế với tha nhân là chúng ta đã làm cho chính Chúa Giêsu. Chúa đã xác định Chúa là những kẻ đói khát, ốm đau, nghèo khổ và tù tội, bị xua đuổi và sống bên lề xã hội. Ý nghĩa về triều đại Chúa Giêsu đã làm đảo lộn hoàn toàn mọi ý niệm của chúng ta về những triều đại trần thế. Vương quyền của Chúa Giêsu là những tác động tối hậu, ngay cả hy sinh mạng sống mình vì tha nhân.

Qua bài Phúc Âm Mátthêu hôm nay (Mt 10,37-42), Chúa Giêsu đòi hỏi chúng ta phải vác thánh giá mình hằng ngày mà theo Chúa nếu muốn có vinh quang trên nước trời. Lịch sử Giáo Hội hoàn vũ và nhất là Giáo Hội Việt Nam cho ta thấy có biết bao nhiêu anh hùng tử đạo bằng cách này hay cách khác đã hy sinh mạng sống mình vì danh Chúa Kitô. Một cha chính Nguyễn Văn Vinh của Tổng giáo phận Hanoi và rất nhiều linh mục, thầy giảng, những ông trùm ông trưởng, giáo dân đã âm thầm chịu mọi cực hình chết trong những trại giam ngục tù của cộng sản. Họ đã thực hành công tác tối hậu của một Kitô hữu đúng nghĩa với vương quyền Thiên Chúa. Họ vác thánh giá không chỉ cho cá nhân họ, nhưng cho mỗi người chúng ta. Trong khi đó cũng không thiếu những Giuđa đã nộp Chúa cho kẻ dữ bằng cách này cách khác vì cá nhân họ và vì vinh quang trần thế. Chớ gì những hành động và kế hoạch sống của chúng ta nằm trong ý muốn của Thiên Chúa, công việc của những người vác thánh giá mình hằng ngày, của những người sống bằng Lời Chúa Thánh Thần.

Mong rằng mỗi người chúng ta tận hiến mình cho Thiên Chúa Giesu Kito vì yêu Chúa thương người, hủy bỏ tất cả mọi ý nghĩ hận thù, ganh ghét, loại bỏ và chiếm đoạt. về mục lục

SỐNG XỨNG VỚI THIÊN CHÚA

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

Chúa Giêsu hôm nay cất tiếng mời gọi con người, cách riêng là người môn đệ, chẳng những lắng nghe, đi theo, mà còn phải hy sinh và từ bỏ nữa. “Kẻ nào yêu mến cha mẹ hơn Thầy, thì chẳng xứng đáng với Thầy, và kẻ nào yêu mến con trai, con gái hơn Thầy, thì không xứng đáng với Thầy. Kẻ nào không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng đáng với Thầy” (Mt 10, 37).

Nghe lời tuyên bố của Chúa Giêsu ở trên, mỗi người chúng ta nói gì và trả lời ra làm sao? Tiêu chuẩn để làm môn đệ Chúa Giêsu, với đòi hỏi thật gắt gao. Ai muốn theo Chúa, phải yêu Chúa hơn cha mẹ, con cái. Có người đặt câu hỏi: Phải chăng, Điều răn thảo cha kính mẹ, yêu thương người thân cận bị đảo lộn rồi hay sao? Nghĩa là để đi theo Chúa Giêsu, người ta phải dành hết tình yêu đối với Chúa, người theo phải phân định và lựa chọn giữa Thiên Chúa và loài người, Thiên Chúa phải là nhất. Yêu cha mẹ và đồng loại, nhưng yêu Thiên Chúa hơn, vì Ngài là Đấng dựng nên cả cha mẹ chúng ta, nên Chúa Giêsu yêu cầu con người dành cho Ngài một vị trí đặc biệt và cao nhất.

Tuy nhiên, dường như trở ngại lớn nhất không phải là người thân cận hoặc cha mẹ anh chị em, của cải … mà là cái tôi. Cái tôi cũng phải nhường bước cho dây liên kết với Chúa Giêsu, nên Ngài thêm: “Kẻ nào không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng đáng với Thầy. Kẻ nào cố tìm mạng sống mình thì sẽ mất, và kẻ nào đánh mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm lại được nó” (Mt 10, 38-39).

Thì ra con đường của các môn đệ là theo Chúa Giêsu, Ðấng bị đóng đinh. Con đường “chịu mất chính mình”, để tìm lại được chính mình, như Đức nguyên Giáo hoàng Benedictô XVI viết: con đường “chịu mất chính mình”, là điều cần thiết đối với con người, và nếu không có điều này, thì nó không thể tìm lại được chính mình” (Ðức Giêsu thành Nagiarét 2007, 333).

Ngày nay Chúa Giêsu cũng mời gọi chúng ta: “Vác thập giá mà theo” (Mt 10,38). Theo Chúa khi chấp nhận thập giá của mình với lòng yêu mến. Dưới con mắt thế gian, đây là một thất bại. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã viết như sau: “Một cách nhiệm mầu chính Chúa Kitô chấp nhận… chết trên một thập giá để nhổ tận gốc rễ tội kiêu căng khỏi trái tim con người, và biểu lộ một sự vâng phục toàn vẹn con thảo” (Es. ap. Gaudete in Domino 9 maggio 1975, AAS 67 (1975) 300-301). Khi tự nguyện chấp nhận cái chết, Chúa Giêsu mang lấy thập giá của tất cả mọi người và trở thành suối nguồn ơn thánh cứu độ cho toàn dân. Thánh Cirillo thành Giêrusalem giải thích rằng: “Thập giá chiến thắng đã soi sáng những ai bị mù lòa vì ngu muội, đã giải thoát người bị tội lỗi giam cầm, đã đem lại ơn cứu độ cho toàn nhận loại” (Catechisis Illuminandorum XIII,1; de Christo crucifixo et sepulto: PG 33, 772 B).

Người ta hỏi: Chúa Giêsu có thích khổ đau và thập giá không? Không, Chúa Giêsu đã không đi tìm thập giá và đau khổ, y như thể Ngài thích. Nhưng Ngài vác trên mình thập giá và sự đau khổ, đến mất mạng, khi phải đáp ứng điều này hầu giữ được lòng trung thành với Thiên Chúa. Ai muốn đi theo Chúa Giêsu, phải đặt sự trung thành với thánh ý Thiên Chúa trên tất cả mọi sự. Vác thập giá mình là từ bỏ ý mình, vâng theo ý Chúa. Ý Chúa muốn là hy sinh và từ bỏ để sống trọn vẹn cho Chúa và cho tha nhân. Cơ bản, vác thập giá mình mà theo Đức Giêsu là liều thuốc chữa chúng ta khỏi căn bệnh ghê sợ là “sự trì trệ”, ù lì, tê liệt và khép kín lòng mình.

Không phải ngẫu nhiên Chúa Giêsu nói đến “Thập Giá”. Vác thập giá bước theo Chúa Giêsu không phải là vác đi với những bước nhẹ nhàng. Vác lấy thập giá mà theo Chúa Giêsu có nghĩa là sẵn sàng chấp nhận bất cứ hy sinh nào vì tình yêu đối với Chúa. Nhưng chúng ta không vác thập giá một mình, vì có Chúa cùng đi, Ngài đi trước để chúng ta tiếp bước theo sau, Ngài đi mau để chúng ta được dắt dìu, Ngài nâng đỡ chúng ta bằng sức mạnh của tình yêu Thiên Chúa.

Quyết định theo Chúa Giêsu, là gạt bỏ tất cả, hướng về Chúa là sự giầu có đích thực của chúng ta, không gì hơn Ngài, không đặt cái gì trước Ngài, toàn bộ phải qui hướng về Ngài. Ngài cũng khẩn khoản mời gọi chúng ta dùng mọi cách để đi đến tận cùng là trở nên những môn đệ Đức Giêsu. Theo Chúa Kitô, chúng ta không mất gì hết, chúng ta được tất cả. Như Đức nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI nhấn mạnh trong bài giảng khai mào sứ vụ Giám mục Rôma: “Ai chấp nhận cho Chúa Kitô bước vào trong cuộc đời họ, thì người đó không mất đi điều gì cả, tuyệt đối không mất điều gì làm cho cuộc đời được tự do, tươi đẹp và cao cả. Không! Chỉ trong tình bạn với Chúa Kitô này mà các cửa sự sống được mở rộng ra. Chỉ trong tình bạn với Chúa này mà những khả năng to lớn của cuộc sống con người được thể hiện đích thực. Chỉ trong tình bạn với Chúa này mà chúng ta cảm nghiệm được điều gì là tươi đẹp và điều gì là tự do”. Với sức mạnh cao cả và với niềm xác tín lớn lao, dựa trên những năm dài kinh nghiệm cá nhân về cuộc sống, Đức Giáo hoàng nói với chúng con rằng: “Anh em đừng sợ Chúa Kitô. Chúa không đến lấy mất đi điều gì cả, nhưng ban cho đủ mọi sự. Ai hiến thân cho Chúa, thì được nhận gấp trăm. Phải, hãy mở ra, hãy mở rộng mọi Cửa cho Chúa Kitô, và chúng con sẽ gặp được sự sống thật” (Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, 24/4/ 2005).

Lạy Chúa, trong niềm tin, chúng con yêu mến Chúa trên hết mọi sự, xin đến giúp chúng con để chúng con thấy rằng trên đường đi, có chúa là sức mạnh để chúng con tiến bước theo Chúa cho đến trọn đời. Amen. về mục lục

VỊ NHẠT ĐẬM ĐÀ

Trầm Thiên Thu

Cuộc sống có rất nhiều điều thú vị, có vẻ nghịch mà thuận, cứ tưởng ngược mà xuôi, thấy mất mà vẫn còn, bình thường mà rất cần,... Có hai thứ rất bình thường mà lại rất cần thiết: Không Khí và Nước. Chắc chắn không có thứ gì nhạt nhẽo như hai “chất liệu” đó.

Không khí là “vật chất” nhưng không ai sờ được, không màu sắc, không mùi vị. Lạ lùng lắm. Còn nước lã cũng tương tự, nhưng sờ được. Nước tự nhiên rất bình thường, nhạt nhẽo và vô vị, do sự kết hợp của Hydrô và Ôxy (H₂O), không màu sắc, thế nhưng nước lã lại có giá trị cao và rất cần thiết trong sinh hoạt thường nhật. Thiếu nước thì người ta chết. Nơi nào có nước (và không khí) chứng tỏ có sự sống. Các hành tinh khác không có sự sống vì không có nước (và không khí).

Có lẽ vì nước lã quá đỗi bình thường nên người ta thường dùng cách nói ghép “người dưng nước lã” để nói về hai người không có mối quan hệ huyết thống. Nước lã xem chừng chẳng có giá trị gì và coi như thứ vô ích. Tuy nhiên, của cho không bằng cách cho. Chén nước lã chẳng là gì cả, nhưng vẫn có thể đậm đà yêu thương. Nước lã vô cùng bình thường nhưng lại là chất liệu đặc biệt được Thiên Chúa dùng để thánh tẩy linh hồn chúng ta. Bình thường hóa khác thường.

Ngày nay, ngay trong thế giới văn minh hiện đại của thế kỷ XXI này mà vẫn còn biết bao con người không đủ nước sạch để sinh hoạt. Thật là khổ vô cùng! Họ là tiếng kêu của Chúa Giêsu vẫn vang vọng từ trên Thập Giá trên Đồi Can-vê xưa: “Tôi khát!” (Ga 19:28) Vì thế, mỗi khi uống một ly nước (nước sạch, nước ngọt, nước sinh tố, nước sữa,…), chúng ta hãy tạ ơn Chúa, và đừng quên cầu nguyện cho những người nghèo khổ, thiếu nước và thiếu những thứ cần thiết nhất để duy trì sự sống. Dạng khát nào cũng dữ dội: Khát nước, khát vọng, khát tình,... Đói ăn còn có thể chịu đựng lâu, khát uống không thể chịu đựng lâu. Cơn khát rất đáng sợ biết bao!

Hằng ngày, dọc con đường tâm linh, chúng ta cũng gặp những người khát tình yêu thương, dạng này còn cấp bách hơn cơn khát nước bình thường. Ngày xưa, Chúa Giêsu đã ban Nước Trường Sinh cho người phụ nữ thành Samari bên Giếng Gia-cóp. (x. Ga 4:7-30) Và ngày nay, mỗi chúng ta cũng luôn khát khao loại nước đó.

Trình thuật 2 V 4:8-11, 14-16) cho biết: Một hôm, ông Êlisa đi qua Sunêm thì có một phụ nữ giàu sang giữ ông lại dùng bữa. Từ đó, mỗi lần đi qua, ông đều ghé vào dùng bữa. Bà ấy nói với chồng: “Này ông! Tôi biết người thường ghé vào nhà chúng ta là một thánh nhân của Thiên Chúa. Mình phải làm cho ông một căn phòng nhỏ trên lầu có tường có vách, rồi kê ở đó một cái giường, đặt bàn ghế và để một cái đèn cho ông dùng. Như thế, khi nào đến nhà mình, ông sẽ lui vào đó.” Phụ nữ này có con mắt “tinh đời” lắm, đặc biệt là bà này giàu sang mà tốt bụng, rộng lòng giúp đỡ người khác.

“Có qua có lại mới toại lòng nhau.” Đó là lẽ thường ở xã hội loài người. Một hôm, ông Êlisa đến nơi ấy, vào phòng trên lầu và nghỉ ngơi. Ông hỏi ý tiểu đồng: “Nên làm gì cho bà ấy?” Giêkhadi đáp: “Tội nghiệp, bà ấy không có con trai, mà chồng thì đã già.” Cả thầy và trò đều có lòng nhân ái. Ông Êlisa thấy bà chủ nhà tốt bụng nên muốn đền ơn đáp nghĩa. Ông bảo tiểu đồng đi gọi bà ấy tới. Bà tới nơi, ông Êlisa nói: “Vào thời kỳ này, vào độ này sang năm, bà sẽ được bế con trai.” Bà nói: “Không, thưa ngài, người của Thiên Chúa, xin đừng lừa dối nữ tỳ ngài!” Khát khao được làm mẹ là khát khao chính đáng và mãnh liệt của phụ nữ. Nghe nói vậy, bà thấy vui cái bụng lắm nhưng vẫn chưa dám tin thật. Tuy nhiên, mọi sự đều có thể đối với Thiên Chúa. Quả nhiên, bà ấy có thai thật, và tới năm sau, cũng vào độ mà ông Êlisa nói, bà hạ sinh một bé trai. Nỗi khát khao làm mẹ của bà đã được Thiên Chúa giải khát.

Kinh Thánh xác định rằng “tình thương của Chúa tràn đầy mặt đất.” (Tv 33:5; Tv 119:64) Ngài biết rõ ai cần gì nên Ngài ban ơn đó ngay khi họ, thậm chí cả lúc họ chưa cầu xin. Vì thế, chúng ta phải không ngừng tạ ơn Ngài: “Tình thương Chúa, đời đời con ca tụng, qua muôn ngàn thế hệ miệng con rao giảng lòng thành tín của Ngài.” (Tv 89:2) Lời ca tụng Chúa phải được lặp đi lặp lại: “Tình thương ấy được xây dựng tới thiên thu, lòng thành tín Chúa được thiết lập trên trời.” (Tv 89:3) Lời chúc tụng đó có vẻ đơn giản nhưng lại vô cùng thâm thúy và cần thiết. Thật vậy, việc chúng ta ca tụng Chúa cũng chẳng thêm gì cho Ngài nhưng lại sinh ơn ích cho phần rỗi của chính chúng ta. Loại “phản ứng ngược” này thật là kỳ lạ.

Thánh Vịnh gia xác định: “Hạnh phúc thay dân nào biết ca ngợi tung hô; nhờ Thánh Nhan soi tỏ, họ tiến lên, lạy Chúa. Nhờ được nghe danh Ngài, họ suốt ngày hớn hở; bởi vì Ngài công chính, nên họ được hiên ngang. Sức hùng cường hiển hách của dân chính là Ngài, hồng ân Ngài làm nổi bật uy thế chúng con. Đấng bảo vệ chúng con là người của Đức Chúa, vua chúng con thuộc quyền Đức Thánh của Israel.” (Tv 89:16-19) Có Chúa trong lòng thì chúng ta chẳng sợ gì, và rồi còn có thể làm được những điều phi thường, bởi vì chính Chúa Giêsu đã nói: “Ai tin vào Thầy thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha.” (Ga 14:12) Chúa nói thật chứ không dụ dỗ, không quảng cáo hoặc đánh lừa.

Mặc dù phàm nhân chúng ta chỉ là thân tro phận bụi và tội lỗi ngập đầu, nhưng độc đáo là được tái sinh trong Nước và Thánh Thần để rồi trở thành con cái đích thực của Thiên Chúa. Không chỉ có vậy, chúng ta còn được tẩy rửa trong Máu và Nước chảy ra từ chính Thánh Tâm của Chúa Giêsu, nhờ đó mà chúng ta lại được cải tử hoàn sinh. Một chuỗi kỳ diệu. Thật vậy, Thánh Phaolô nói: “Anh em không biết rằng: khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Kitô Giêsu, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người sao? Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, chúng ta cũng được sống một đời sống mới.” (Rm 6:3-4) Chính xác như vậy, chúng ta không chỉ được sống mà còn được sống dồi dào trong Đức Kitô. (Ga 10:10) Chỉ là bụi tro mà lại trở nên như thần thánh.

Phân tích chi tiết, Thánh Phaolô đặt vấn đề: “Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người: đó là niềm tin của chúng ta. Thật vậy, chúng ta biết rằng: một khi Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết thì không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người. Người đã chết, là chết đối với tội lỗi, và một lần là đủ. Nay Người sống, là sống cho Thiên Chúa. Anh em cũng vậy, hãy coi mình như đã chết đối với tội lỗi, nhưng nay lại sống cho Thiên Chúa, trong Đức Kitô Giêsu.” (Rm 6:8-11) Đó là đại phúc đối với chúng ta. Và chắc chắn chúng ta không thể nhờ vào ai ngoài Đức Giêsu Kitô, vì chính Ngài đã xác định: “Thầy là con đường, là sự thật, và là sự sống; không ai đến được với Cha mà không qua Thầy.” (Ga 14:5) Vả lại, Thiên Chúa đã minh định từ ngàn xưa: “Ngoài Ta ra, chẳng có ai cứu độ.” (Is 43:11)

Chúa Giêsu có giáo huấn ngắn gọn qua trình thuật Mt 10:37-42. Tuy ngắn gọn và súc tích nhưng giáo huấn vẫn căng đầy triết lý sống sâu sắc. Có 6 câu, chia làm hai phần – mỗi phần 3 câu:

1. Từ Bỏ Mình – Chúa Giêsu nói: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy thì không xứng với Thầy. Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy thì không xứng với Thầy. Ai giữ lấy mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm thấy được.” Một việc làm có vẻ dễ dàng mà lại không dễ – nghĩa là khó, nhưng khó không có nghĩa là không thể làm. Và mỗi chúng ta phải cố gắng làm, phải “chết” từng giây từng phút trong cuộc sống này.

2. Lòng Yêu Thương – Chúa Giêsu nói: “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy. Ai đón tiếp một ngôn sứ, vì người ấy là ngôn sứ, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc ngôn sứ; ai đón tiếp một người công chính, vì người ấy là người công chính thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc công chính. Và ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.” (Mt 10:40-42) Chén nước lã chỉ là thứ tầm thường nhưng lại có thể trở thành khác thường, được Chúa Giêsu “ghi nhớ” nếu chén nước lã đó chứa “chất yêu thương” và được chúng ta trao cho người khác vì chạnh lòng thương xót. Một việc bình thường nhưng được thể hiện một cách phi thường. Đúng là “của cho” không bằng “cách cho.”

Phần 1 với 3 chữ “không xứng,” phần 2 với 5 chữ “đón tiếp.” Vì sợ “không xứng” nên phải cố gắng “từ bỏ mình” – tức là “cái tôi” – để có thể “đón tiếp” mọi người. Thánh Thomas Villanova nhận định sâu sắc: “Hãy gác bỏ tất cả sự nóng giận để nhìn lại bản thân một chút. Hãy nhớ rằng đương sự bạn đang nói đến kia là một người anh chị em của bạn, và khi người ấy đang còn lữ hành trên con đường của ơn cứu độ, thì Thiên Chúa vẫn có thể làm cho người ấy trở nên một vị thánh, bất chấp sự yếu đuối hiện tại của họ.” Đó là “bỏ mình” để “đón tiếp” tha nhân.

Và như thế cũng là biết “khát sống” vì muốn hoàn thiện theo lời dạy của Chúa. Dạng khát nào cũng mãnh liệt, nhưng mãnh liệt và cấp bách nhất phải là KHÁT CHÚA. Ước gì mỗi chúng ta đều thực sự biết KHÁT CHÚA trong suốt cuộc đời, như Thánh Vịnh gia thân thưa: “Lạy Thiên Chúa, Ngài là Chúa con thờ, ngay từ rạng đông con tìm kiếm Chúa. Linh hồn con đã khát khao Ngài, tấm thân này mòn mỏi đợi trông, như mảnh đất hoang khô cằn, không giọt nước.” (Tv 63:2) Ngay khi thức dậy, việc “dâng ngày” là điều rất cần thiết, phó thác mọi việc “từ khởi sự cho đến hoàn thành đều nhờ bởi ơn Chúa.” Bởi vì không có Ngài thì chắc chắn chúng ta chẳng làm nên trò trống gì, dù chỉ là chuyện nhỏ nhoi mà thôi. (Ga 15:5)

Nói đến sự khát thì liên quan nước, nói đến nước liên quan đời thường. Ngày nay, khi đi trên đường, chúng ta có thể thấy một số nhà để thùng “nước đá miễn phí” cho khách vãng lai có thể sử dụng. Dĩ nhiên chỉ có những người nghèo sử dụng, những người “sang” và “giàu” chẳng ai quan tâm. Thùng nước miễn phí chỉ là một hành động nhỏ nhoi nhưng lại mang tính nhân đạo. Cần lắm một tấm lòng, nhưng có thể chỉ để “gió cuốn đi” mà thôi – theo cách nói của cố NS Trịnh Công Sơn trong ca khúc “Để Gió Cuốn Đi.” Sự đời quá phũ phàng!

Trên thế giới, rất nhiều nơi còn thiếu nước sạch để uống chứ chưa nói chi tới việc tắm rửa và giặt giũ. Thiếu nước khổ lắm! Vì thế, chúng ta phải biết tiết kiệm nước, đồng thời cũng nhắc chúng ta nhớ cầu nguyện cho những người vẫn đang khổ sở vì khát nước và... khát đủ thứ.

Lạy Thiên Chúa, xin giải khát chúng con bằng Nguồn Nước Hằng Sống, xin giúp chúng con nhận biết chính mình và có tầm nhìn yêu thương, để chúng con luôn tín thác vào Ngài và quyết tâm sống chứng nhân theo Thánh Ý Ngài. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. về mục lục

TẶNG PHẨM

[Niệm ý Mt 10:37-42]

Muốn cho thì phải có

Không có không thể cho

Mọi thứ đều như thế

Chẳng lẽ cho giấc mơ?

Cách cho mới quan trọng

Dù thứ nhỏ hay to

Có nhiều thứ quà tặng

Nhận nhiều sẽ thêm lo.

Thiên Chúa luôn đại lượng

Trao ban chẳng so đo

Ngài ban cho sự sống

Mà có đòi chi mô?

Chúa Giê-su trao tặng

Chính sự sống của Ngài

Để nhân loại được sống

Hôm nay và ngày mai.

Ngài muốn ai cũng vậy

Luôn sẵn sàng cho đi

Cho mà chẳng đòi lại

Thứ nhỏ cũng hóa to.

Chỉ là chén nước lã

Cho người ta lúc cần

Ngài vui lòng và nhớ

Mai phần thưởng còn nguyên. về mục lục

Viễn Dzu Tử

VÌ CHÚA KITÔ

(Cảm nhận và suy niệm: Mt 10,37-42)

Người tín hữu sống theo Ý Chúa

Quyết trọn đời ghi nhớ điều này:

Không yêu cha mẹ hơn Thầy

Hãy luôn trông cậy Đấng đầy tình thương.

Coi phần xác như đường nên thánh

Năng hãm mình xa lánh tội khiên

Sẵn sàng theo bước Chúa Chiên

Linh hồn tinh sạch cậy tin không sờn.

Hãy cố vượt qua cơn thử thách

Nỗi khổ đau chính mạch hồng ân

Sống đời vì Chúa Chí Nhân

Nhân từ, bác ái: lãnh phần thưởng cao.

Tin Mừng Chúa truyền rao khắp xứ

Tín hữu hằng ấp ủ muối men

Bạn gần ảnh hưởng trước tiên

Cánh đồng truyền giáo khắp miền thăng hoa. về mục lục

(Thế Kiên Dominic)

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan