KHÓC và NGÃ

29-06-2020 54 lượt xem

Chắc chắn rằng “khóc” và “ngã” là hai động từ không hề thú vị, không ai muốn như vậy trong cuộc sống, vì cả hai động từ đó đều có chung một xuất phát là đau khổ. Nói về đời thường rất ư bình thường thì cũng chẳng ai không khóc và không ngã, nói về đời sống tâm linh thì càng “dữ dội” hơn vì tất cả con người đều yếu đuối và lần mò về Nhà Cha qua con đường tội lỗi và thứ tha. Đó là con đường nên thánh của đại đa số phàm nhân.

Xét về tâm linh, “khóc” và “ngã” tuy là hai dạng khác nhau nhưng vẫn chung hành trình: sa ngã

Quả thật, cả hai vị được Thiên Chúa đặc cách, và họ trở nên nền tảng vững chắc chống đỡ Giáo Hội. Thánh Phêrô – thuộc Nhóm Mười Hai – được Chúa Giêsu trao “chìa khóa Nước Trời” với cương vị giáo hoàng tiên khởi của Giáo Hội, còn Thánh Phaolô – không thuộc Nhóm Mười Hai – được chọn làm Tông đồ của Dân ngoại. Họ được ví như Đồng Trụ và Thạch Bàn của Giáo Hội, đến nỗi ma quỷ cũng phải chịu thua, không phá nổi.

Chúng ta không thể lý luận theo lý lẽ của phàm nhân đối với Thánh Ý nhiệm mầu của Thiên Chúa. Một ngư phủ Simon cương trực, thẳng thắn thật thà, nhưng cũng “to gan” vì dám chối bỏ Thầy mình ngay trong lúc dầu sôi lửa bỏng, và thậm chí ông còn bị Chúa Giêsu nguyền rủa là Satan. (Mt 16:23) Thế nhưng một Phêrô-hèn-nhát đã đột biến thành một Phêrô-can-đảm và rồi chịu đóng đinh ngược vì Thầy Giêsu. Tương tự, Saolê giỏi giang nhưng hung tàn và bạo ngược, quyết giết hết những kẻ nào dám tuyên xưng Đức Kitô là Con Thiên Chúa, thậm chí ông còn chủ trì trong cuộc sát hại Phó tế Stêphanô. (Cv 7:58) Và rồi một Saolê-độc-ác đó đã trở thành một Phaolô-nhiệt-thành rao giảng về Đức Kitô chịu chết và phục sinh.

Sau khi Chúa Giêsu sống lại và lên trời, người ta vẫn cố chấp, không tin, và lại tìm cớ bách hại các Kitô hữu. Từ cổ chí kim, bất cứ ai theo Chúa Giêsu cũng phải chịu nhiều đau khổ, cách này hoặc cách khác, chứ chẳng ai được thảnh thơi an nhàn.

Sách Công Vụ cho biết thực tế đó: “Thời kỳ ấy, vua Hêrôđê ra tay ngược đãi một số người trong Hội Thánh. Nhà vua đã cho chém đầu ông Giacôbê là anh ông Gioan. Thấy việc đó làm vừa lòng người Do Thái, nhà vua lại cho bắt cả ông Phêrô nữa. Bấy giờ đang là tuần lễ Bánh Không Men. Bắt được rồi, nhà vua truyền tống ngục và giao cho bốn tốp lính canh gác, mỗi tốp gồm bốn người, định sau lễ Vượt Qua sẽ điệu ông ra cho dân chúng. Đang khi ông Phêrô bị giam giữ như thế, Hội Thánh không ngừng dâng lên Thiên Chúa lời cầu nguyện khẩn thiết cho ông.” (Cv 12:1-5)

Có một phép lạ nhãn tiền là ông Phêrô được cứu thoát: “Trong đêm trước ngày bị vua Hêrôđê đem ra xử, ông Phêrô ngủ giữa hai người lính và bị khoá vào hai cái xiềng. Trước cửa ngục lại có lính canh. Bỗng thiên sứ của Chúa đứng bên cạnh ông, ánh sáng chói rực cả phòng giam. Thiên sứ đập vào cạnh sườn ông Phêrô, đánh thức ông và bảo ông đi. Xiềng xích liền tuột khỏi tay ông. Thiên sứ bảo ông thắt lưng và xỏ dép. Ông làm như vậy. Rồi thiên sứ lại bảo ông khoác áo choàng vào và đi theo thiên sứ. Ông liền theo ra mà không biết việc thiên sứ làm đó có thật hay không, cứ tưởng là mình thấy một thị kiến.” (Cv 12:6-9) Sự kiện xảy ra rất ngoạn mục, tưởng chừng chỉ có trong tiểu thuyết hoặc phim ảnh viễn tưởng, nhưng đó sự thật minh nhiên. Chính ông Phêrô cũng không hề biết mình tỉnh hay mơ sau khi được cứu. Quá đỗi kỳ lạ!

Kinh Thánh kể lại mà cảm thấy như một cảnh trong bộ phim hành động: Qua vọng canh thứ nhất, rồi vọng canh thứ hai, thiên sứ và ông Phêrô tới trước cửa sắt thông ra phố. Cửa tự động mở ra trước mặt hai người. Ra đến ngoài, đi hết một đường phố, bỗng nhiên thiên sứ bỏ ông mà đi. Lúc ấy ông Phêrô mới hoàn hồn: “Bây giờ tôi biết thực sự là Chúa đã sai thiên sứ của Người đến, và Người đã cứu tôi thoát khỏi tay vua Hêrôđê và khỏi mọi điều dân Do Thái mong muốn tôi phải chịu.” (Cv 12:11) Thực tế thật trăm phần trăm chứ không hề là chiêm bao, ảo mộng hoặc hư cấu. Vô cùng kỳ diệu, không thể hiểu nổi. Quả thật, “đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.” (Lc 1:37)

Tục ngữ Việt Nam có câu dạy về lòng biết ơn: “Ăn cây nào rào cây nấy.” Đó là quy luật tất yếu ở đời. Biết ơn là người có giáo dưỡng. Tương tự, về phương diện tâm linh cũng không khác. Tuy nhiên, chúng ta lãnh nhận Ơn Chúa quá nhiều mà có lẽ ít khi biết tạ ơn. Thánh Vịnh gia nêu gương sáng qua lời tự nhủ: “Tôi sẽ không ngừng chúc tụng Chúa, câu hát mừng Người chẳng ngớt trên môi. Linh hồn tôi hãnh diện vì Chúa, xin các bạn nghèo nghe tôi nói mà vui lên. Hãy cùng tôi ngợi khen Đức Chúa, ta đồng thanh tán tụng danh Người. Tôi đã tìm kiếm Chúa, và Người đáp lại, giải thoát cho khỏi mọi nỗi kinh hoàng.” (Tv 34:2-5) Sách Huấn Ca dạy: “Tỏ lòng biết ơn là dâng bột tinh hảo, làm việc bố thí là dâng lễ ngợi khen.” (Hc 35:2)

Mặc dù nhân loại vô ân bạc nghĩa, nhưng Thiên Chúa vẫn đại lượng, luôn giàu lòng thương xót, đặc biệt là Ngài không làm ngơ những người thành tâm tin yêu Ngài: “Ai nhìn lên Chúa sẽ vui tươi hớn hở, không bao giờ bẽ mặt hổ ngươi. Kẻ nghèo này kêu lên và Chúa đã nhận lời, cứu cho khỏi mọi cơn nguy khốn. Sứ thần của Chúa đóng trại chung quanh để giải thoát những ai kính sợ Người.” (Tv 34:6-8) Với kinh nghiệm sống tâm linh, Thánh Vịnh gia chia sẻ và mời gọi: “Hãy nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy: hạnh phúc thay kẻ ẩn náu bên Người!” (Tv 34:9) Thảo nào người xưa đã minh định: “Vô tri bất mộ.”

Kinh nghiệm có giá trị rất cao. Nước mắt nóng hổi đủ cuốn trôi tội tày trời của Phêrô, và cú ngã ngựa đáng đời đã khiến Phaolô tỉnh giấc mông hão huyền. Kinh nghiệm độc nhất vô nhị đó, và cũng là phép lạ nhãn tiền, đã giúp Phaolô trở nên trưởng thành tâm linh, và rồi ông chân thành tâm sự: “Tôi sắp phải đổ máu ra làm lễ tế, đã đến giờ tôi phải ra đi. Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin. Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính; Chúa là vị Thẩm Phán chí công sẽ trao phần thưởng đó cho tôi trong Ngày Ấy, và không phải chỉ cho tôi, nhưng còn cho tất cả những ai hết tình mong đợi Người xuất hiện.” (2 Tm 4:6-8) Ước gì mỗi tín nhân chúng ta cũng có thể xác định như Thánh Phaolô, nhất là khi sắp rời cõi đời này. Không lưu luyến, không hối tiếc, nhưng sẵn sàng và tràn trề hy vọng.

Nói được như vậy bởi vì Thánh Phaolô luôn hoàn toàn tín thác vào Thiên Chúa: “Có Chúa đứng bên cạnh, Người đã ban sức mạnh cho tôi, để nhờ tôi mà việc rao giảng được hoàn thành, và tất cả các dân ngoại được nghe biết Tin Mừng. Và tôi đã thoát khỏi nanh vuốt sư tử. Chúa sẽ còn cho tôi thoát khỏi mọi hành vi hiểm độc, sẽ cứu và đưa tôi vào vương quốc của Người ở trên trời. Chúc tụng Người vinh hiển đến muôn thuở muôn đời. Amen.” (2 Tm 4:17-18)

Thánh Phaolô là người uyên thâm, học sâu hiểu rộng, thế nên các thư của ông là kho tàng về đời sống tâm linh, chúng ta có thể thấy mọi trường hợp mà hằng ngày chúng ta thường gặp. Ông giỏi về kiến thức đời thường và giỏi cả kiến thức tâm linh nữa, đồng thời cũng như một tâm lý gia vậy. Trước thì giỏi quậy, nay thì giỏi dạy.

Đời là bể khổ – cả đời thường và tâm linh, không khổ không là đời. Thật vậy, cuộc sống là cuộc chiến không thể đàm phán với địch quân, lúc nào cũng giới nghiêm mà không có đình chiến. Khổ thật, mà khổ nhất là chính mình – kẻ nội gián. Chính Thánh Phaolô cũng đã than phiền về tính vô định của mình: “Điều tôi muốn thì tôi lại không làm, điều tôi không muốn thì tôi lại làm.” (Rm 7:19) Đúng là chán thật, nhưng không thể buông xuôi!

Con người là thế, do đó mà phải không ngừng nỗ lực “từ bỏ chính mình” để có thể “vác thập giá” bước theo Đức Giêsu Kitô. Vấn đề là có muốn hay không, chứ vác thập giá chắc chắn “oải” lắm, hiếm khi ngon trớn, thường thì cứ phải kéo lê, thậm chí có lúc còn ngã quỵ,… Mệt mỏi vô cùng! Chúa biết lắm chứ, bởi vì Ngài “thấu suốt mọi sự.” (1 Sb 28:9b; Gđt 8:14; Et 4:17d; Et 5:1a; 2 Mcb 6:30; 2 Mcb 7:35; 2 Mcb 9:5; 2 Mcb 12:22; 2 Mcb 15:2; G 28:27; Tv 139:2; Cn 16:2; Cn 21:2; Cn 24:12; Kn 1:6; Kn 7:23; Hc 23:19; Hc 42:20; Gr 10:12; Gr 11:20; Gr 20:12; 1 Cr 2:10; 1 Cr 12:4-6; 1 Ga 3:20) Thiên Chúa toàn năng luôn quan phòng và tiền định mọi thứ, ngay cả từng sợi tóc trên đầu mỗi người chúng ta cũng đã được Ngài đếm cả rồi. (Mt 10:30) Đừng để nỗi lo sợ làm cho mình hoảng loạn!

Nhờ đau khổ mà cả hai lão tướng Phêrô và Phaolô đã đổi đời. Thật vậy, chính đau khổ mới làm cho người ta thành nhân – cả đời thường và tâm linh. Đau khổ vô giá, thế nên chính Đức Kitô đã chịu đau khổ tới tột cùng để làm gương cho chúng ta. Ngài đau khổ để chúng ta được hạnh phúc, Ngài chết để chúng ta được sống viên mãn. Để có thể chịu nỗi đau khổ, người ta phải có niềm tin lớn mạnh. Chính đức tin là “linh khí” giúp chúng ta ngoan cường chiến đấu: “Điều làm cho chúng ta thắng được thế gian là lòng tin của chúng ta.” (1 Ga 5:4) Quả thật, với ít nhiều kinh nghiệm thì chúng ta cũng khả dĩ nhận biết được như thế.

Việc tuyên tín của Thánh Phêrô được mô tả qua trình thuật Mt 16:13-19. Chính Chúa Giêsu muốn xác định đức tin của ông để tín giao đại sự cho ông, muốn ông “lập công” chứ Ngài biết hết rồi. Không chỉ như vậy, Ngài còn đòi hỏi tình yêu chân thành của ông nên đã ba lần hỏi ông có yêu mến Ngài hay không. (x. Ga 21:15-19) TIN và YÊU là hai “luật buộc” để làm “cột trụ” trong đời sống tâm linh của mỗi Kitô hữu. Có thể ví như hai ánh mắt, hoặc như nhánh ghép thành thập giá và vác bằng cả đôi vai.

Một hôm, khi đến vùng kế cận thành Xêdarê Philípphê, Chúa Giêsu hỏi các môn đệ: “Người ta nói Con Người là ai?” Ngài hỏi thì hỏi thế thôi, chứ Ngài thừa biết cả rồi. Vả lại, Ngài hỏi là để chúng ta tự xác định niềm tin của chính mình. Sau khi nghe Sư Phụ hỏi, các ông thưa: “Kẻ thì nói là ông Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Êlia, có người lại cho là ông Giêrêmia hay một trong các vị ngôn sứ.” Chín người, mười ý. Cách nhìn và cách hiểu không ai giống ai.

Chúa Giêsu lại hỏi: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Với bản tính cương trực, ông Phêrô thưa ngay: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.” Ngài nói với ông: “Này anh Simon con ông Giôna, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời.” Rồi Ngài nói với ông: “Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.” Ngay lúc nhận “chìa khóa” của Nước Trời, ông Phêrô trở thành giáo hoàng tiên khởi của Giáo Hội. Ngư phủ Phêrô diễm phúc lắm, nhưng trọng trách cũng nặng nề lắm!

Cuộc chiến nào cũng cam go, điều quan trọng là sức mạnh tinh thần. Thánh Ephraem cho biết: “Trong lúc anh em chiến đấu chống lại ma quỷ, các thiên thần và Chúa của các thiên thần đang nhìn xem anh em.” Ý thức như vậy sẽ giúp thêm tin yêu, và dù chỉ là hạt bụi nhỏ bé cũng vẫn đủ sức chiến thắng như David đánh bại gã không lồ ngày xưa. Thật vậy, Chúa đã xác định với Phaolô: “Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.” (2 Cr 12:9)

Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con biết KHÓC mỗi khi NGÃ, xin thêm sức mạnh để có thể đứng dậy ngay, quyết tâm chiến đấu bằng lưỡi gươm đức tin và ngọn lửa đức mến, xin đừng bỏ mặc chúng con giữa chiến trường gian trần này. Lạy Thánh Phêrô và Thánh Phaolô, xin nguyện giúp cầu thay và động viên chúng con trong từng giây phút. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

TRẦM THIÊN THU

TÔNG ĐỒ CỦA TÌNH YÊU VÀ LÒNG MẾN

Thánh lễ hôm nay (29/6) đưa chúng ta về với hai khuôn mặt vĩ đại của tình yêu và lòng mến là Phêrô và Phaolô.

Phaolô, vị Tông Đồ của tình yêu

Phaolô, vị thánh mệnh danh là bị tình yêu Đức Kitô thúc bách (x. 2 Cr 5,15). Trước khi gặp Chúa Giêsu Phục Sinh, vì lòng nhiệt thành với Đạo Do Thái, ông đã bắt bớ những người theo Chúa Giêsu (x.Cv 8,3-9,2), cố tình tiêu diệt Hội Thánh ngay từ lúc phôi thai, làm cho Khanania khiếp sợ (x.Cv 9,13-14). Được Chúa Giêsu Phục Sinh biến đổi, ông gắn bó với Người bằng tình yêu không thể chia lìa, ông nói: “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô?” (Rm 8,35).  Đức Kitô đã trở nên “người yêu” và “người tình” của Phaolô. Đức Kitô không ngừng ám ảnh ông, đến độ Phaolô phải thốt lên: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Ga 2, 20).

Giáo hội của Chúa là thánh, nhưng thành phần của Giáo hội là những tội nhân. Các Tông Đồ là những người có sứ mệnh tiếp tục công việc của Chúa Giêsu đều là những tội nhân, những tội nhân đã được thánh hóa, chính Chúa Giêsu là Đấng thánh hóa Giáo hội của Người.

Phêrô, vị Tông Đồ của lòng mến

Mỗi lần đọc đoạn Tin Mừng (Ga 21, 15-19) với ba lần Chúa Giêsu hỏi Phêrô: “Simon, con ông Gioan, con có yêu mến Thầy hơn những người này không?” Hai lần ông đáp: “Thưa Thầy: Có, Thầy biết con yêu mến Thầy”. Lần thứ ba ông thưa: “Thưa Thầy, Thầy biết mọi sự: Thầy biết con yêu mến Thầy”, không khỏi làm chúng tuôn trào xúc động trước tình yêu Chúa dành cho ông và lòng mến ông đáp lại Chúa, khiến Chúa Giêsu bảo ông ba lần: “Hãy chăm sóc chiên con… chiên mẹ… của Thầy” (x. Ga 21.15.16.17).

Trong cuộc thương khó, Chúa Giêsu đã ngăn cản lòng trung thành bảo vệ Phêrô nên nói: “Hãy xỏ gươm vào bao, kẻ nào dùng gươm sẽ chết vì gươm” (Ga 18,11). Không lâu sau đó Phêrô đã chối Thầy vào lúc đỉnh cao của cuộc khổ: “Tôi chẳng biết người ấy là ai!” (x. Ga 18.17.25.27). Tuy nhiên, với giọt nước mắt đầy lòng thống hối ăn năn chảy thành rãnh trên gò má, nhất là Phêrô vẫn yêu mến Thầy. Nếu Gioan người bạn của ông đã nghe được lời ông chối: “Tôi chẳng biết người ấy là ai!” Thì Gioan cũng nghe được lời tuyên xưng đầy tình yêu và lòng mến của Phêrô với Thầy đến ba lần: “Thầy biết con yêu mến Thầy”, như để sửa lại ba lần chối Thầy trong cuộc khổ nạn, mà cho đến giờ này Phêrô vẫn còn cảm thấy lòng mình cháy bỏng vết thương đã gây ra cho Thầy trong đêm ông phản bội. Tình yêu của Chúa Giêsu đã đủ cho Phêrô. Ông không được chiều theo cơn cám dỗ tò mò, ghen tị, như khi nhìn thấy Gioan đứng gần ông, ông đã hỏi Chúa Giêsu: “Lạy Chúa, còn anh này thì sao?” (Ga 21, 21). Nhưng Chúa Giêsu, trước những cám dỗ ấy đã trả lời Phêrô: “Việc gì đến con? Phần con, hãy theo Thầy!” (Ga 21, 22).

Tình yêu và Lòng mến là nền tảng của sứ vụ

Như vậy, Tình Yêu của Thiên Chúa nhập thể, khi mặc lấy xác phàm, biểu lộ quyền năng và sức mạnh vô biên của Thiên Chúa trong sự yếu đuối, mỏng giòn của con người. Chính vì sự yếu đuối nghèo hèn của Phêrô mà Chúa Giêsu trao Giáo hội của mình cho ông. Chính sự nhiệt thành đầy kiều hãnh của Phaolô, mà Chúa đặt ông làm Tông đồ dân ngoại, để cùng với Phêrô thể hiện sự tràn đầy của Chúa Giêsu Tình Yêu. Cả hai đã đón nhận tình yêu của Chúa Giêsu và để cho mình được tình yêu Chúa biến đổi.

Thiên Chúa là Thánh ở giữa chúng ta, đã thông ban tình yêu cho hết mọi chi thể trong thân thể Ngài. Giáo hội, thánh thiện và tinh tuyền, nhận lãnh Tình Yêu của Thiên Chúa, được Tình Yêu biến đổi. Mầu nhiệm của tình yêu chỉ có thể được đón nhận bằng tình yêu, Giáo hội là mẹ, hiền thê yêu dấu duy nhất của Chúa Giêsu, nhưng gồm các tội nhân. Đức Thánh Cha Phanxicô đặt câu hỏi: “Làm thế nào Giáo hội có thể là thánh thiện khi những thành viên của mình là những người tội lỗi?” Ngài khẳng định: “Chúng ta tất cả đều là những người tội lỗi. Tuy nhiên, Giáo hội là thánh! Chúng ta là những người tội lỗi, nhưng Giáo hội là thánh. Giáo hội là hiền thê của Chúa Giêsu Kitô, và Người yêu thương hiền thê của mình, Người thánh hoá Giáo hội mỗi ngày với hy tế Thánh Thể bởi vì Người yêu thương Giáo hội hết mực và chúng ta tuy là những tội nhân, nhưng chúng ta ở trong một Giáo hội thánh thiện, và chúng ta cũng được thánh hóa. Mẹ Giáo hội thánh hóa chúng ta, với lòng từ ái, với các bí tích của Phu Quân mình.” (Trích Bài giảng tại nhà nguyện Matta 09/5/2016).

Nếu hôm nay Chúa Giêsu hỏi mỗi người chúng ta cùng một câu hỏi như Chúa hỏi Phêrô: “Con có yêu mến Thầy không?” Chúng ta trả lời Chúa ra làm sao? Chúng ta yêu mến Chúa thế nào? Phêrô chỉ cách cho chúng ta: tin tưởng vào Chúa, Ðấng “biết mọi sự” nơi chúng ta, Ðấng tin nơi chúng ta không phải vì chúng ta có khả năng trung thành, nhưng vì lòng trung thành vững chắc của Chúa. Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta, vì Chúa không thể chối bỏ chính mình (x. Tm 2,13). Thiên Chúa luôn trung tín. Thánh Phaolô khuyên chúng ta hãy yêu mến Chúa và Giáo hội hết lòng và làm tất cả vì Chúa: “Dù anh em ăn, uống, hoặc làm bất cứ việc gì, hãy làm tất cả vì vinh danh Thiên Chúa” (1Cr 10,31).

Kính lạy hai Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô, chứng nhân của tình yêu và lòng mến, xin cầu cùng Chúa cho chúng con biết yêu mến Chúa trên hết mọi sự và trong mọi người. Amen.

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

BẤT QUÁ TAM

Người ta nói: “Bất quá tam”

Quá tam ba bận – ba lần chẳng sai

Người to, nhỏ – bất cứ ai

Cứ lầm lỗi, phạm tội hoài vậy thôi

Bởi vì tôi vẫn là tôi

Thân phận con người yếu đuối bụi tro

Phê-rô quyền lớn, chức to

Ba lần bị Chúa chẳng chừa, mắng ngay [1]

Lời cay đắng nhất xưa nay

Nhưng Phê-rô chỉ theo Thầy mà thôi [2]

Vậy mà đời vẫn chưa xuôi

Ba lần chối Chúa – “cái tôi” vẫn còn

Cuộc đời chồng chất đau buồn

Ăn năn rồi Chúa nhân hiền bỏ qua

Lòng thương xót mãi thiết tha

Để rồi phải biết sống cho mọi người [3]

Ba lần, ba khoảng cuộc đời

Sáng qua, Trưa đến, Chiều rồi là xong

Ba lần là chuyện bình thường

Nhưng mang nghĩa rộng chứ không ba lần

Tạ ơn Thiên Chúa từ nhân

Không hề chấp tội chúng con bao giờ

TRẦM THIÊN THU

[1] Mt 14:31 – Kém tin và hoài nghi, Mt 15:16; Mc 7:18 – Ngu tối, Mt 16:23; Mc 8:33 – Satan.

[2] Ga 6:68 – “Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.”

[3] Lc 22:32 – “Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin. Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho anh em của anh nên vững mạnh.”

CHÌA KHÓA với THANH GƯƠM

(Nhị Vị Tông Đồ Phêrô và Phaolô)

Chiếc chìa khóa đức tin

Giản dị và bé nhỏ

Nhưng có sức kỳ lạ

Mở được Cửa Nước Trời.

Chiếc chìa khóa tuyệt vời

Bắt đầu khi rửa tội

Ánh sáng phá bóng tối

Xua đuổi loài quỷ ma.

Chém nát mọi gian tà

Bằng thanh gươm đức mến

Lấp đầy hố thù hận

Bằng tình thương dạt dào.

Gươm sắc sáng tin yêu

Để bảo vệ chìa khóa

Dìu nhau về bên Chúa

Trọn nghĩa đệ tình huynh.

Vì danh Chúa uy linh

Cầu xin hai vị thánh

Đồng hành giúp sức mạnh

Cho tín nhân Việt Nam.

TRẦM THIÊN THU

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan