NGUỒN GỐC KINH THÁNH

04-07-2020 1,023 lượt xem

Kitô giáo mà không có Kinh Thánh là khó có thể tưởng tượng. Nhưng trong thực tế, đối với 300 năm đầu của Kitô giáo không có Kinh Thánh. Nghĩa là, nếu chúng ta hiểu Kinh Thánh như chúng ta làm ngày nay: như tài liệu duy nhất chứa tất cả các văn bản mà Kitô giáo coi là thánh thiêng.

Việc sáng tạo và biên soạn Kinh Thánh là một quá trình dài. Các nhà lãnh đạo của Giáo Hội sơ khai đã sàng lọc nhiều bản thảo và phân biệt, sử dụng một số tiêu chí lịch sử, giáo lý và thần học khác nhau, những cuốn sách được lưu trữ và bao gồm theo tiêu chuẩn, và những cuốn sách được để riêng ra. Quá trình thiết lập tiêu chuẩn Kinh Thánh khác nhau đối với Cựu Ước và Tân Ước.

HÌNH THÀNH CỰU ƯỚC

Những gì các Kitô hữu đề cập như Cựu Ước của Hồi giáo về cơ bản là tài liệu cổ của Kinh Thánh Do Thái – Tanakh, Kinh Thánh tiếng Do Thái. Bản văn thánh này (Torah, sách các tiên tri và các “Bài Viết”) đã phát triển theo thời gian và lần đầu tiên được truyền khẩu từ thế hệ này sang thế hệ khác, cuối cùng chúng được viết ra và bảo tồn.

Khoảng 200 năm trước khi Chúa Giêsu ra đời, đã có một bản dịch tiếng Hy Lạp từ các văn bản tiếng Do Thái được chấp nhận rộng rãi như một bản dịch hợp pháp (và thậm chí được gợi hứng). Truyền thống liên quan cách vua Ptolemy II của Ai Cập ra lệnh dịch và mời các trưởng lão Do Thái từ Giêrusalem để chuẩn bị văn bản Hy Lạp. Bảy mươi hai trưởng lão, sáu người từ mỗi bộ lạc trong số 12 bộ lạc, đã đến Ai Cập để làm theo yêu cầu. Một truyền thống khác cho biết cách các dịch giả ở trong các phòng riêng biệt và được yêu cầu tạo văn bản riêng của họ. Khi công việc hoàn tất, các dịch giả đã so sánh và phát hiện bản dịch của mỗi người đều giống bản dịch của người khác một cách kỳ diệu.

Kết quả được gọi là Septuagint (Hy ngữ nghĩa là bảy mươi) và đặc biệt phổ biến đối với người Do Thái nói tiếng Hy Lạp. Điều này làm cho Bản Bảy Mươi trở thành nguồn chính cho các tác giả viết Tin Mừng và nhiều Kitô hữu thời kỳ đầu, họ viết các tác phẩm của họ bằng tiếng Hy Lạp.

Khi xây dựng tài liệu chính thức của Kinh Thánh, Giáo Hội đã nhìn vào Bản Bảy Mươi để phân biệt những cuốn nào cần giữ lại. Nhưng tài liệu Công giáo của Cựu Ước cũng bao gồm một số văn bản và bổ sung cho các sách (ví dụ, sách Giuđitha và Tobia, Khôn Ngoan và Huấn Ca) ban đầu được viết bằng tiếng Hy Lạp, không bằng tiếng Do Thái, do đó không được coi là một phần của Kinh Thánh Do Thái, mặc dù vẫn được người Do Thái tôn trọng và đọc vào thời đó.

HÌNH THÀNH TÂN ƯỚC

Nhiều người đã viết ra trong những năm sau khi Chúa Giêsu chịu chết, có nhiều câu chuyện lưu hành về Đấng Thiên Sai. Các tác giả này, hoặc là tông đồ hoặc là bạn của các tông đồ, những người biết Chúa Giêsu rất rõ. Họ đã chứng kiến các sự kiện hoặc phỏng vấn những người đã chứng kiến, và tìm cách duy trì cuộc đời và giáo huấn của Chúa Giêsu Kitô theo dạng văn bản.

Thời gian trôi qua, các bản sao của các tác phẩm này đã được lan truyền và nhiều cộng đồng Kitô giáo đã gom chúng lại để đọc trong thánh lễ Chúa Nhật. Bản sao các thư của Thánh Phaolô cũng được phổ biến và được coi là do Chúa Thánh Thần linh hứng.

Tài liệu Công đồng Vatican II, Dei Verbum, xác nhận quá trình này về cách mà Tân Ước được hình thành, đặc biệt là các Phúc Âm:

Các tác giả đã viết bốn Tin Mừng, chọn một số điều từ nhiều sách được truyền khẩu hoặc bằng văn bản, gom một số thành bản tổng hợp, giải thích một số điều về tình hình của các nhà thờ của họ và giữ nguyên hình thức tuyên bố nhưng luôn theo cách mà họ nói sự thật trung thực với chúng ta về Chúa Giêsu. Vì ý định của họ trong văn bản là từ ký ức và hồi tưởng của họ, hoặc từ sự chứng kiến của những người mà chính họ ngay từ đầu là nhân chứng và là thừa tác viên Lời Chúa, chúng ta có thể biết “sự thật” về các vấn đề mà chúng ta đã được biết.

Ngay từ thời Thánh Irênê (182-188 sau công nguyên), có đề cập Phúc Âm “tứ dạng,” liên quan bốn Tin Mừng của Thánh Mátthêu, Thánh Máccô, Thánh Luca và Thánh Gioan.

Trong thế kỷ thứ tư, nhu cầu nảy sinh để chính thức mã hóa Kinh Thánh, điều mà đến lúc này bắt đầu kết hợp với nhau. Một số sử gia tin rằng một phần động lực tạo ra tài liệu chính thức đến từ Hoàng đế Constantine, người đã ủy thác 50 bản thánh thư cho Giám mục thành Constantinople. Việc chấp thuận các sách bắt đầu bằng Công Đồng Laodixê năm 363, được tiếp tục khi ĐGH Damaso I ủy nhiệm cho Thánh Giêrônimô dịch Kinh Thánh sang La ngữ năm 382, và được quyết định trong Công Nghị Hippo năm 393 và Carthage năm 397.

Mục đích là loại bỏ các tác phẩm sai lầm đang lưu hành vào thời đó và hướng dẫn các Giáo Hội địa phương về những cuốn sách có thể được đọc trong Thánh Lễ.

Giáo Hội luôn tin rằng quá trình lâu dài này được Chúa Thánh Thần hướng dẫn. Giáo lý Giáo Hội Công giáo giải thích: “Dựa vào đức tin của thời các tông đồ, Mẹ Giáo Hội chấp nhận là những sách Cựu Ước và Tân Ước là thánh thiêng và tuân thủ quy tắc Giáo Hội, nguyên vẹn và toàn bộ, với tất cả các phần của các sách đó, được viết theo linh hứng của Chúa Thánh Thần, các sách đó có Thiên Chúa là tác giả của họ, và đã được truyền lại cho chính Giáo Hội.”

TRẦM THIÊN THU chuyển ngữ

Source: https://aleteia.org/2017/07/16/where-did-the-bible-come-from/

MEN-KI-XÊ-ĐÊ và THÁNH LỄ

Người Công giáo chúng ta tin rằng Bí tích Thánh Thể thực sự là hy lễ. Khi chúng ta cử hành Thánh Lễ, Thiên Chúa làm cho sự hy sinh của Chúa Giêsu trên Thập Giá tái hiện cho chúng ta một lần nữa, cho phép chúng ta tham dự vào hy lễ và dâng lên trong sự kết hợp với Chúa Giêsu.

Ngược lại, người Tin Lành tin rằng bánh và rượu (hoặc nước) chỉ là sự tưởng niệm sự hy sinh của Chúa Giêsu, chứ chúng ta không thực sự tham dự vào hy lễ đó. Để giúp giải quyết cuộc tranh luận này, chúng ta chuyển sang câu chuyện về Men-ki-xê-đê và xem cách hy lễ đó liên kết với Bữa Tiệc Ly và Bí tích Thánh Thể như thế nào.

CÂU CHUYỆN VỀ MEN-KI-XÊ-ĐÊ

Trở lại với sách Sáng Thế, chúng ta đã đọc rằng Áp-ram (sau được đổi tên thành Áp-ra-ham) đã cứu cháu trai khỏi bị giam cầm, và ngay sau đó, Men-ki-xê-đê xuất hiện dường như không có nơi xuất phát: Ông Men-ki-xê-đê, vua thành Sa-lem, mang bánh và rượu ra; ông là tư tế của Thiên Chúa Tối Cao. Ông chúc phúc cho ông Áp-ram và nói: “Xin Thiên Chúa Tối Cao, Đấng dựng nên trời đất, chúc phúc cho Áp-ram! Chúc tụng Thiên Chúa Tối Cao, Đấng đã trao vào tay ông những thù địch của ông!” Rồi ông Áp-ram biếu ông Men-ki-xê-đê một phần mười tất cả chiến lợi phẩm. (St 14:18-20)

Đoạn văn này đặt ra rất nhiều câu hỏi nhưng, vì mục đích của chúng ta ở đây, tôi muốn tập trung vào chỉ một điều: tại sao Men-ki-xê-đê mang ra bánh và rượu? Bản văn không nói rõ cho chúng ta biết, nhưng cho chúng ta một gợi ý. Ngay sau khi đề cập bánh và rượu, bản văn nói rằng ông là tư tế, và điều đó rất đáng nói. Điều đó cho thấy rằng bánh và rượu bằng đó có liên quan chức tư tế của ông, vì vậy ông đã không mang chúng ra ngoài vì nghĩ rằng Áp-ram có thể đói. Vả lại, ông mang chúng ra vì ông là tư tế, vì theo định nghĩa, tư tế là người hiến tế, nên ông đã dâng bánh và rượu cho Chúa làm hy tế.

TƯ TẾ MEN-KI-XÊ-ĐÊ

Từ câu chuyện đó, chúng ta đã có thể bắt đầu hình thành một cuộc tranh luận về bản chất hy sinh của Bí tích Thánh Thể, nhưng nếu chúng ta muốn làm cho nó mạnh nhất, chúng ta có thể dừng lại ở đó. Thay vào đó, bây giờ chúng ta chuyển sang đoạn khác trong Cựu Ước có đề cập Men-ki-xê-đê, một câu quan trọng trong Thánh Vịnh: “Muôn thuở, Con là Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê.” (Tv 110:4)

Trong bối cảnh ban đầu, Thánh Vịnh này đề cập hậu duệ hoàng gia của Vua Đa-vít, người cai trị dân Israel, nhưng Tân Ước áp dụng cho Chúa Giêsu, (Dt 7:17) vua Đa-vít mới của chúng ta. (Mt 1: 1, 9:27) Lúc đầu, có vẻ kỳ lạ khi nói rằng Chúa Giêsu là linh mục “theo phẩm trật Men-ki-xê-đê.” Thời cổ đại, không có phẩm trật tôn giáo như chúng ta có ngày nay trong Giáo hội Công giáo. Vậy điều đó nghĩa là gì? Nó có nghĩa vài điều, nhưng với mục đích ở đây, chúng ta hãy tập trung vào một điều duy nhất: Men-ki-xê-đê là một dạng (hoặc điềm báo) quan trọng trong Kinh Thánh về Chúa Giêsu.

BỮA TIỆC LY

Trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã trao bánh và rượu cho các môn đệ của Ngài, một hành động gợi nhớ bánh và rượu của Men-ki-xê-đê. Thật vậy, khi Chúa Giêsu làm điều này, Ngài đã sử dụng ngôn ngữ để mô tả bánh và rượu, làm cho mối liên hệ với Menkixêđê không thể bỏ qua. Ngài nói rằng Mình Ngài được “hiến tế vì anh em,” (Lc 22:19) Theo Hy ngữ, điều đó có nghĩa đen là “được trao nhân danh anh em,” ngụ ý rằng Chúa Giêsu hiến dâng thân mình làm hy lễ cho các môn đệ của Ngài. Tương tự, Ngài nói rằng Máu Ngài “đổ ra cho muôn người được tha tội.” (Mt 26:28) Và trong Cựu Ước, các tư tế sẽ “đổ ra” máu của tế vật. (Xh 29:12; Lv 4:18)

Nếu Men-ki-xê-đê báo trước Chúa Giêsu, và Chúa Giêsu dâng bánh và rượu khi dùng ngôn ngữ hiến tế, thì mối liên hệ giữa hai nhân vật này gần như buộc chúng ta phải thực hiện bước kế tiếp. Giống như Men-ki-xê-đê đã dâng bánh và rượu làm hy lễ, Chúa Giêsu cũng dâng bánh và rượu làm hy lễ. Đó không phải là phép ẩn dụ; Ngài không thiết lập một nghi thức tượng trưng. Khi thiết lập Bí tích Thánh Thể, Ngài muốn nói đó là hy lễ thực sự.

THÁNH LỄ LÀ HY LỄ

Men-ki-xê-đê có thể không là nhân vật chính trong Kinh Thánh, nhưng ông là nhân vật quan trọng, người tiên báo chính của Chúa Giêsu. Câu chuyện của ông trong sách Sáng Thế giúp chúng ta hiểu được Chúa Giêsu sẽ làm gì khi Ngài thiết lập Bí tích Thánh Thể trong Bữa Tiệc Ly. Vì Men-ki-xê-đê dâng bánh và rượu làm hy lễ, bánh và rượu mà Chúa Giêsu trao cho các môn đệ cũng là hy lễ thực sự. Đó là “cách giới thiệu trước” về sự hy sinh của Ngài trên Thập Giá vào ngày hôm sau.

Vì thế, mỗi khi chúng ta đi lễ và cử hành Bí tích Thánh Thể, chúng ta cũng đang tham gia vào sự hy sinh đó – một cách “giới thiệu lại” hoặc tái diễn – kết hợp chính mình và cùng với Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha.

Jp Nunez

Trầm Thiên Thu chuyển ngữ

Nguồn: https://catholicexchange.com/melchizedek-and-the-mass

HUYẾT ƯỚC

Đó là Giao Ước Máu đã được Chúa Giêsu thiết lập trong Bữa Tiệc Ly: “Chén này là giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em.” (Lc 22:20) Giao ước này là giao ước mới chứ không cũ, và được ký kết bằng máu chứ không bằng thứ gì khác, chính Máu của Con Thiên Chúa chứ không phải là máu chiên, máu bò, máu dê,...

Trong hình ảnh có thể có: văn bản

Giao ước (hiệp ước, thỏa ước, khế ước, minh ước) khác với hợp đồng. Hợp đồng là sự thỏa thuận của đôi bên và có thời hạn. Còn giao ước vô thời hạn, vĩnh viễn, và là thành phần của cuộc sống. Hợp đồng và giao ước đều có những bổn phận và trách nhiệm mà đôi bên phải thực hiện nghiêm túc.

Theo nghĩa Kinh Thánh, giao ước được thiết lập và đóng ấn bằng một lễ nghi công khai và long trọng. Theo phong tục của dân ở Đất Thánh xưa, người ta đóng ấn giao ước bằng nghi thức sát tế một con vật, rồi phân thây con vật ấy thành hai phần và đặt dưới đất. Sau đó, đại diện hai bên lần lượt đi ngang qua giữa hai phần con vật đó, ngụ ý quyết tâm thi hành giao ước và sẵn sàng chịu cùng một số phận như con vật bị giết nếu vi phạm giao ước. (x. St 15:7-20; Gr 31:31; Gr 34:18-22)

Trong lịch sử cứu độ, Thiên Chúa đã nhiều lần thiết lập giao ước với loài người. (x. St 8:20-21; St 9:8-17; St 12:1-3) Có hai giao ước được nhắc tới trong Kinh Thánh là Giao Ước Cũ và Giao Ước Mới – Cựu Ước và Tân Ước. Cựu Ước là giao ước được thiết lập giữa Thiên Chúa và dân Israel, được đóng ấn bằng máu con vật sát tế. Tân Ước là giao ước được thiết lập trực tiếp giữa Thiên Chúa và toàn thể nhân loại, và được đóng ấn bằng chính Bửu Huyết của Đức Kitô, Con Một Yêu Dấu của Thiên Chúa.

Không gì có thể so sánh với giá máu, vì giá máu là vô giá. Tục ngữ Việt Nam so sánh: “Một giọt máu đào hơn ao nước lã.” Quý lắm! Như chúng ta biết, máu là một tổ chức di động, được tạo thành từ thành phần hữu hình là các tế bào và huyết tương. Theo thể tích, hồng cầu chiếm khoảng 45%, bạch cầu chiếm khoảng 0,7%, và huyết tương chiếm khoảng 54,3%. Chức năng chính của máu là cung cấp các chất nuôi dưỡng và cấu tạo các tổ chức, đồng thời loại bỏ các chất thải trong quá trình chuyển hóa của cơ thể – như khí carbonic và acid lactic. Máu cũng là phương tiện vận chuyển của các tế bào (cả tế bào bảo vệ cơ thể và tế bào bệnh lý) và các chất khác nhau (các amino acid, lipid, hormone) trong các cơ phận quan trọng. Các rối loạn về thành phần cấu tạo máu hoặc sự tuần hoàn bình thường của máu đều có thể dẫn đến rối loạn chức năng của nhiều cơ quan khác. Máu chiếm 7% trọng lượng cơ thể. Người trưởng thành trung bình có khoảng 5 lít máu. Tỷ trọng máu ở vào khoảng 1060 kg/m3.

Như vậy, rõ ràng máu thực sự giữ vai trò rất quan trọng trong sự sống của con người – và động vật. Cái gì liên quan máu đều đáng giá, vì liên quan sự sinh tồn. Thực vật có loại “máu lạnh” và không có màu đỏ, chúng ta gọi nó là “nhựa” (mủ).

Cuộc sống có nhiều thứ liên quan máu, có thể tốt hoặc xấu, nhưng luôn “nghiêm trọng”. Máu xấu có trong những người xấu xa, chẳng hạn một cô bé vô tội 16 tuổi ở Guatemala bị đám người xấu đánh đập dã man, rồi họ thiêu sống em. Và hàng ngày, ở đâu đó trên thế giới này – kể cả Việt Nam, còn biết bao vụ án liên quan “máu xấu” vẫn không ngừng xảy ra. Các vụ ấu dâm đã và đang liên tục xảy ra trên cả nước Việt Nam, các thủ phạm là những người “máu xấu.” Chính họ đang làm hư Giá Máu của Đức Giêsu Kitô, cũng có nghĩa là họ muốn “triệt tiêu” Thiên Chúa.

Có lần chính Chúa Giêsu đã nói thẳng với Saolê – tức là Saun, về sau trở thành Phaolô – thế này: “Đá lại mũi nhọn thì khốn cho ngươi!” (Cv 26:14) Những người có “máu xấu” cố ý làm ngơ chứ chắc chắn không phải là họ không biết. Còn máu, còn sống; mất máu, đông máu hoặc “khô máu”, chết chắc! Đó là quy luật tự nhiên – tức là Luật Chúa, là Thánh Luật. Ông Sao-lê đã tỉnh ngộ vì cú ngã ngựa chí mạng, và rồi nhìn vào thực tế của cuộc đời nhiễu nhương này, ông đã phải thốt lên: “Mầu nhiệm của sự gian ác đang hoành hành.” (2 Tx 2:7) Người ta đã và đang muốn loại bỏ Thiên Chúa bằng nhiều cách, bằng chứng là xưa nay luôn xuất hiện các tà thuyết và các dạng bách hại rất tinh vi. Nhiều điều nhãn tiền mà người ta vẫn không hề biết sợ, vì quá cố chấp. Thật là khủng khiếp quá!

Thuở xưa, ông Mô-sê xuống núi thuật lại cho dân mọi lời và mọi điều luật của Đức Chúa. Toàn dân vui mừng đồng thanh đáp: “Mọi lời Đức Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành.” (Xh 24:3) Rất ngoan ngoãn. Một lời hứa như thế rất đẹp. Ước gì họ luôn ngoan ngoãn như vậy, và giá mà chúng ta cũng luôn ngoan ngoãn như thế. Nhưng nào có được như vậy!

Ông Môsê đã cố gắng ghi chép lại mọi lệnh truyền của Đức Chúa. Sáng hôm sau, ông dậy sớm, lập một bàn thờ dưới chân núi và dựng mười hai trụ đá cho mười hai chi tộc Israel. Rồi ông sai các thanh niên trong dân Israel dâng những lễ toàn thiêu, và ngả bò làm hy lễ kỳ an tế Đức Chúa. Ông Môsê lấy một nửa phần máu đổ vào những cái chậu, còn nửa kia thì rảy lên bàn thờ. Ông lấy cuốn sách giao ước đọc cho dân nghe. Họ vẫn tán thành và thưa: “Tất cả những gì Đức Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành và tuân theo.” (Xh 24:7) Bấy giờ, ông Môsê lấy máu rảy lên dân và nói: “Đây là máu giao ước Đức Chúa đã lập với anh em, dựa trên những lời này.” (Xh 24:8)

Giao ước cũ cũng có “dính líu” tới máu. Máu biểu hiện sự sống. Vì thế, máu rất quan trọng, vì sự sống là thứ bất khả xâm phạm. Màu máu cũng có gì đó rất khác lạ, sắc đỏ khác với mọi màu đỏ khác. Với những con người bình thường, lời thề cũng thường liên quan máu. Ngày xưa, người ta thường “uống máu ăn thề” – họ cùng cắt máu ngón tay, cho chảy chung vào một cái chén rồi chia nhau uống, thề sống chết có nhau. Các Thánh Vịnh cũng lặp đi lặp lại từ “giao ước” ít nhất 18 lần – trong 13 Thánh Vịnh.

Phàm nhân chẳng gì, con người chẳng là gì cả, nhưng Thiên Chúa vẫn hết mực yêu thương và tha tội chết, cho quyền sống, đặc biệt là còn ký kết Giao Ước Vĩnh Viễn. Cảm nghiệm được lòng thương xót bao la của Thiên Chúa, tác giả Thánh Vịnh đã tự nhủ: “Biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ vì mọi ơn lành Người đã ban cho? Tôi xin nâng chén mừng ơn cứu độ và kêu cầu thánh danh Chúa.” (Tv 116:12-13)

Thiên Chúa là Chúa của người sống, Ngài yêu thương họ tới cùng (Ga 13:1) và Ngài muốn mọi người được sống dồi dào. (Ga 10:10) Thánh Vịnh gia tự hứa với Thiên Chúa: “Đối với Chúa thật là đắt giá, cái chết của những ai trung hiếu với Người. Vâng lạy Chúa, thân này là tôi tớ, tôi tớ Ngài, con của nữ tỳ Ngài, xiềng xích trói buộc con, Ngài đã tháo cởi.” (Tv 116:15-16) Và quyết tâm hành động: “Con sẽ dâng lễ tế tạ ơn, và kêu cầu thánh danh Chúa. Lời khấn nguyền với Chúa, tôi xin giữ trọn, trước toàn thể dân Người.” (Tv 116:17-18)

Thánh Phaolô cho biết: “Đức Kitô đã đến làm Thượng Tế đem phúc lộc của thế giới tương lai. Để vào cung thánh, Người đã đi qua một cái lều lớn hơn và hoàn hảo hơn, không do bàn tay con người làm nên, nghĩa là không thuộc về thế giới thọ tạo này. Người đã vào cung thánh không phải với máu các con dê, con bò, nhưng với chính máu của mình, Người vào chỉ một lần thôi, và đã lãnh được ơn cứu chuộc vĩnh viễn cho chúng ta.” (Dt 9:11-12) Như đã nói, cái gì liên quan máu đều là vấn đề nghiêm trọng. Máu động vật đã vậy, máu người còn nghiêm trọng hơn. Và còn hơn thế nữa, Máu Chúa Giêsu vô cùng quý giá, tột đỉnh quý giá, không gì có thể so sánh, vì không chỉ là Máu Thánh mà còn là Máu Cực Thánh.

Thánh Phaolô so sánh và giải thích: “Nếu máu các con dê, con bò, nếu nước tro của xác bò cái, đem rảy lên mình những kẻ nhiễm uế còn thánh hoá được họ, nghĩa là cho thân xác họ trở nên trong sạch, thì máu của Đức Kitô càng hiệu lực hơn biết mấy. Nhờ Thánh Thần hằng hữu thúc đẩy, Đức Kitô đã tự hiến tế như lễ vật vẹn toàn dâng lên Thiên Chúa. Máu của Người thanh tẩy lương tâm chúng ta khỏi những việc đưa tới sự chết, để chúng ta xứng đáng phụng thờ Thiên Chúa hằng sống.” (Dt 9:13-14) Máu động vật và máu người có thể làm chúng ta bị dơ bẩn, nhưng Máu Thánh Chúa Giêsu lại khác, không làm chúng ta dơ bẩn mà lại tẩy sạch chúng ta khỏi mọi thứ ô uế.

Thật là vô cùng kỳ diệu đối với mối liên kết giữa Cựu Ước và Tân Ước, giữa sự sống thể lý và sự sống tâm linh. Thánh Phaolô cho biết: “Người [Chúa Giêsu] là trung gian của một Giao Ước Mới, lấy cái chết của mình mà chuộc tội lỗi người ta đã phạm trong thời giao ước cũ, và đem lại cho những ai được Thiên Chúa kêu gọi quyền lãnh nhận gia nghiệp vĩnh cửu Thiên Chúa đã hứa.” (Dt 9:15)

Trong bài Thánh Ca “Lauda Sion” (Hỡi Sion, Hãy Ngợi Khen) có những lời cầu nguyện thâm thúy như sau: “Này đây bánh của các thiên thần, biến thành lương thực của khách hành hương; thật là bánh của những người con, không nên ném cho loài khuyển. Bánh này đã được báo trước bằng hình ảnh, khi người ta sát tế Isaac, chiên của lễ vượt qua đã được kể ra, khi cha ông chúng ta được tặng manna. Lạy Chúa Giêsu là mục tử tốt lành, là Bánh thật, xin Người thương xót, chăn nuôi và bảo vệ chúng con; xin Người ban cho chúng con nhìn thấy những điều thiện hảo trong cõi nhân sinh. Chúa là Ðấng thông biết và có thể làm nên mọi sự, Chúa nuôi dưỡng chúng con trong đời sống tạm gửi này, trên cõi cao xanh, xin cho chúng con được trở nên thực khách đồng bàn của Chúa, đồng thừa kế và đồng danh phận với những công dân thánh của nước trời. Amen.”

Ngày xưa, ca tiếp liên này được sử dụng trong Lễ Kính Mình Máu Thánh Chúa Giêsu (Corpus Christi, thường gọi là lễ Săng-ti), ngày nay không được sử dụng nữa. Thật đáng tiếc!

Thánh Mát-thêu cho biết: Ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men, ngày sát tế chiên Vượt Qua, các môn đệ hỏi Đức Giêsu để biết ý Thầy muốn họ dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu. Ngài sai hai môn đệ đi và dặn họ đi vào thành, gặp một người mang vò nước thì đi theo người đó. Người đó vào nhà nào thì họ hỏi chủ nhà về căn phòng dành cho Thầy ăn lễ Vượt Qua với các môn đệ, người ấy sẽ chỉ cho một phòng rộng rãi trên lầu đã được chuẩn bị sẵn sàng, và họ sẽ dọn tiệc ở đó. Hai môn đệ ra, vào thành và thấy mọi sự y như Ngài đã nói. Thật kỳ lạ, chỉ có Thiên Chúa mới khả dĩ biết trước như vậy, vì Ngài thấu suốt mọi sự!

Tại Bữa Tiệc Ly, khi đang ăn cùng các môn đệ, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho các ông và nói: “Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy.” (Mc 14:22) Rồi Ngài cầm chén rượu, dâng lời tạ ơn, rồi trao cho các ông, và tất cả đều uống chén này. Người bảo các ông: “Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người. Thầy bảo thật anh em: chẳng bao giờ Thầy còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến ngày Thầy uống thứ rượu mới trong Nước Thiên Chúa.” (Mc 14:24-25) Nghe Thầy nói và nhìn phong cách Thầy lúc đó, chắc hẳn họ vô cùng ngạc nhiên – dù Kinh Thánh không ghi lại chi tiết. Không lạ sao được, vì bánh mà bảo là “thịt,” rượu mà bảo là “máu.” Vâng, trí tuệ phàm nhân không thể hiểu thấu: “Ta hãy lấy đức tin bù lại, nếu giác quan không cảm thấy gì.” (Đây Nhiệm Tích)

Năm 700 (sau công nguyên), tại Nhà thờ Thánh Domitian ở Lanciano (Ý), Lm Thomases (tu sĩ Dòng Basilian) đã nghi ngờ sự hiện hữu thật của Chúa Giêsu trong Thánh Thể. Thời đó có nhiều tà thuyết nổi lên đã làm lung lay đức tin của ông. Một buổi sáng nọ, cha Thomases dâng Thánh lễ mà vẫn nghi ngờ. Đến phần truyền phép, có điều lạ xảy ra trên đôi tay khiến toàn thân cha Thomases rung động: Bánh biến thành Thịt thật, Rượu biến thành Máu thật.

Cha Thomases lặng người một lúc rồi từ từ đưa lên cho mọi người thấy và nói: “Ôi chứng cớ hữu hình của Chúa để xóa bỏ sự nghi ngờ của tôi, Ngài muốn mặc khải chính Ngài trong bí tích Thánh Thể hoặc để chúng ta nhìn thấy tỏ tường. Anh chị em hãy đến chiêm ngưỡng phép lạ của Chúa. Đây là Mình Máu Thánh Đức Kitô.” Đây là phép lạ Thánh Thể đầu tiên được Giáo Hội Công giáo công nhận.

Trong Thông điệp “Ecclesia de Eucharistia” (Giáo Hội Sống Nhờ Thánh Thể, số 62), Đức Gioan-Phaolô II đã gọi Thánh linh mục tiến sĩ Tôma Aquinô là “thần học gia vĩ đại nhất và là thi sĩ mãnh liệt nhất của Chúa Kitô về Bí tích Thánh Thể” (summus theologus simulque Christi Eucharistici fervidus cantor). Trong bộ “Tổng Luận Thần Học” (Summa Theologica, III, Q. 76, Art. 8), Thánh Tôma Aquinô cho biết:

• KHÁCH THỂ 1: Có vẻ như Thánh Thể Chúa Kitô không thực sự ở đó khi thịt hoặc một em bé hiện ra trong bí tích này. Vì thân thể Ngài ngừng ẩn trong bí tích này khi dạng bí tích ngừng hiện hữu (the sacramental species cease to be present). Nhưng khi thịt hoặc một em bé hiện ra, dạng bí tích ngừng hiện hữu. Do đó thân thể Chúa Kitô không thực sự ở đó.

• KHÁCH THỂ 2: Hơn nữa, dù thân thể Chúa Kitô ở đâu, dưới chính dạng đó hoặc dạng bí tích. Nhưng khi có sự hiện ra, rõ ràng là Chúa Kitô không hiện hữu trong chính dạng của Ngài, vì toàn bộ Chúa Kitô được chứa trong bí tích này, và Ngài vẫn là tổng thể dưới dạng mà Ngài lên trời: nhưng điều xuất hiện mầu nhiệm trong bí tích này đôi khi được thấy là một miếng thịt nhỏ, hoặc đôi khi là một em bé. Rõ ràng là Ngài không ở đó dưới dạng bí tích là bánh hoặc rượu. Do đó, có vẻ như thân thể Chúa Kitô không ở đó bằng bất kỳ cách nào.

• KHÁCH THỂ 3: Hơn nữa, thân thể Chúa Kitô bắt đầu ở trong bí tích này bằng việc thánh hiến và biến chuyển (consecration and conversion). Nhưng thịt và máu xuất hiện mầu nhiệm bằng phép lạ không được thánh hiến (not consecrated), cũng không được biến chuyển thành Mình Máu thật của Chúa Kitô. Vì thế, Mình Máu Chúa Kitô không ẩn dưới dạng đó.

Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng Chúa Giêsu muốn chúng ta được sống dồi dào (x. Ga 10:10), muốn như vậy thì chúng ta phải lãnh nhận Thánh Thể. Thánh linh mục Eymard, vị sáng lập Dòng Thánh Thể (SSS – Societas Sanctissimi Sacramenti), đã nói: “Chúng ta chỉ chuốc lấy thất bại nếu chúng ta xa rời Thánh Thể.” Một câu nhắc nhở vô cùng quan trọng, chúng ta cần ghi nhớ luôn.

Còn hơn thế nữa, chính Chúa Giêsu đã xác nhận rạch ròi: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.” (Ga 6:51) Như vậy, không có gì mơ hồ hoặc nghi ngờ nữa – nghĩa là hoàn toàn chắc chắn!

Huyết Ước là Giao Ước Thương Xót. Thương xót thì phải yêu. Chữ Yêu bắt đầu bằng mẫu tự Y có hình “ngã ba,” nghĩa là có 3 hướng: hướng lên Thiên Chúa, hướng tới tha nhân, và hướng về chính mình. Yêu Chúa hết linh hồn và hết trí khôn, yêu người như chính mình, yêu mình ít thôi – không được yêu mình thái quá (tự ái là yêu mình thái quá, là ích kỷ). Yêu có những hệ lụy quan yếu. Yêu là điều luôn có mối liên kết quan trọng: Cần thiết thiết tha tha thứ. Đó là quy-trình-yêu-thương, là vòng-tròn-thương-xót. Và một hệ lụy khác lại phát sinh: YÊU thì phải KÍNH, KÍNH thì phải NỂ, NỂ thì phải TRỌNG, TRỌNG thì phải VỌNG (mong), MONG thì thấy NHỚ, NHỚ nghĩa là YÊU. Đó là vòng-tròn-yêu bắt đầu và kết thúc bằng động từ YÊU. Chúa nhớ chúng ta và chúng ta cũng phải nhớ Chúa, mà NHỚ NGÀI thì PHẢI THI HÀNH THÁNH Ý NGÀI. Hoàn toàn hợp lý!

Lạy Thiên Chúa giàu lòng thương xót, xin sắp đặt cuộc đời con theo đúng ý Ngài và xin ở với con luôn để con được sự sống viên mãn của Con Một Ngài. Xin giúp con biết cầm lấy tấm-bánh-cuộc-đời của con, rồi tạ ơn, bẻ ra, và trao tặng tha nhân với cả tấm lòng. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan