ĐỨC TIN CỦA THÁNH GIOAKIM và THÁNH ANNA

07-07-2020 285 lượt xem

Bà Anna sinh trưởng tại Belem. Khi đến thời điểm kết hôn với Gioakim, một người Do Thái ngoan đạo từ Nadarét. Hai người ổn định cuộc hôn nhân hạnh phúc, tận tụy thực hành đức tin, khắc sâu vị trí đáng kính trong cộng đồng.

Nhiều năm trôi qua như thế, rồi tin đồn bắt đầu. Trước tiên, những tiếng thì thầm bàn tán của những người phụ nữ khi Anna đi đến giếng nước. Tháng này qua tháng khác, bà vẫn thon thả như liễu, không có dấu hiệu về đứa trẻ. Rồi những lời thì thầm chuyển sang xì xầm. Hằng năm hai vợ chồng đến Đền Thờ, Gioakim đi với những người đàn ông, Anna đi với những người phụ nữ, và không có đứa trẻ nào đi với họ.

Tất nhiên hai vợ chồng đã nghe thiên hạ nói chuyện, nhưng họ vẫn giữ niềm tin vào Chúa và ngẩng cao đầu, giữ cho đôi mắt không phản bội những vết thương trong lòng. Câu chuyện của mọi người qua đi. Lời Chúa tồn tại mãi mãi. Và rồi một ngày, cuộc nói chuyện không còn chịu đựng được nữa.

Gioakim đến Đền Thờ, tâm trí ông không rời khỏi cái lỗ hình đứa trẻ trong lòng mình. Ông nhận ra một người bạn cũ và giơ tay chào. Có người con trai của ông bạn đi cùng, Gioakim cảm thấy đau thắt ngực, rát cổ họng. Ánh mắt ông nhìn cậu bé, nhìn mà không thấy, đứa trẻ khiến ông khao khát có đứa con. Ông cần có một con trai bằng tuổi cậu bé này, và những đứa sau nữa!

Như mọi khi, Gioakim xem xét lòng mình. Vô sinh là lời trách móc từ Thiên Chúa, mọi người đều biết. Nhưng cố gắng hết sức, Gioakim không thể xác định được nguyên nhân của hình phạt đó. Hai vợ chồng đã dành cả đời, trút hết tâm sự, tuôn nhiều nước mắt, cố gắng nhận ra nguyên nhân khiến Thiên Chúa giận dữ. Họ đã tìm ra và sửa chữa tất cả những tật xấu mà họ có thể biết, nhưng nhiều thập niên trôi qua mà họ vẫn không có con.

Gioakim nghĩ rằng mình hầu như đành chịu số phận. Ông tự nhủ rằng sự hy sinh của mình mang đến Đền Thờ hoàn toàn được thực hiện vì lòng tin kính Thiên Chúa, không phải là cuộc trò chuyện, chuộc lại tội lỗi không biết. Nhưng khi nhìn đứa con trai của người bạn, Gioakim lại cảm thấy nỗi đau nhói quen thuộc tự đáy lòng. Cảm thấy thô thiển và mệt mỏi vô cùng, Gioakim đến với một tư tế trong đền thờ với lễ vật là một chiếc bình đầy bột mà bà Anna đã cẩn thận xay sáng hôm đó.

Mới đầu, Gioakim đã không hiểu điều tư tế nói. Người đàn ông đó khoanh tay và lắc đầu, từ chối nhận lễ vật. Gioakim lại đẩy bột về phía tư tế lần nữa, hình dung bà Anna nghiền bột, vừa cười buồn vừa nói rằng chỉ có hai người họ, thật đơn giản để làm bột hằng ngày, và một phần cho Chúa nữa. Tư tế lắc đầu mà không nhìn Gioakim hoặc lễ vật.

Vẫn quay đầu ra chỗ khác, tư tế nói: “Ông không thể dâng thứ này, ông chưa trồng một hạt giống ở Israel.” Nói xong, tư tế bỏ đi, để mặc Gioakim với cánh tay vươn tới, đôi tay vẫn dâng bột được xay bằng đôi tay cằn cỗi.

Chính xác thì bà Anna không lo lắng. Lúc đầu bà bối rối, rồi tức giận, sau đó cam chịu sự giận dữ và chấp nhận. Chồng bà đã biến mất trước đó. Một người đàn ông yêu quý sự sáng tạo của Thiên Chúa, đó không là điều quá bất thường khi ông đi kiểm tra đàn chiên vài ngày, giao tiếp với Chúa giữa đàn gia súc ở vùng hoang dã. Gioakim là người hiếm khi thấy nghỉ ngơi trong khu định cư của một ngôi làng. Nhưng đây là sự kéo dài khác. Nó kéo dài hơn vì một điều. Tuần này qua tuần khác qua đi.

Lúc đó, câu chuyện đã đến tai bà Anna, về người chồng bị sỉ nhục trong Đền thờ, ông muốn xem điều tra dân số, khăng khăng rằng ông không phải là người công chính duy nhất không có con ở Israel, đã biết kết quả và trốn lên núi. Nhưng một ngày trước, một người anh em họ đã đến gặp bà, báo tin về một đoàn lữ hành đã gặp một người đàn ông trên đồi, người đó tuyên bố rằng mình đang nói lên sự than phiền với Chúa mà chưa xong, và không ăn uống cho đến khi nào lời cầu nguyện của ông được đáp lại. Bà Anna bắt đầu lo lắng khi biết tin đó.

Bà đủ lo lắng để chộp lấy người hầu gái của mình, buộc tội người phụ nữ cố gắng nguyền rủa bà. Người hầu gái nhìn bà Anna bằng ánh mắt giận dữ và nói: “Tại sao tôi lại nguyền rủa bà? Chúa đã quan tâm điều đó.” Được gợi ý từ chồng, bà Anna xông vào nhà rồi tìm sự khuây khỏa ở ngoài trời.

Thở hổn hển và chớp mắt trong ánh chạng vạng hoàng hôn, bà Anna dừng lại dưới một cây nguyệt quế. Bà thở ra từ từ và nhìn xung quanh. Trời dần tối. Bà nên quay về. Ngay cả những con chim cũng đang đậu để ngủ đêm, bà chú ý khi thấy một con chim sẻ đang ở trên tổ của nó.

Bà Anna thấy một cái tổ, đó là những chim con mập ú, gần đủ lớn để bay đi. Điều gì đó về cảnh tượng đó, một gia đình chim sẻ ổ định trong đêm làm cho bà Anna tỉnh mộng. Nó tháo gỡ một nút thắt lớn vướng trong bà và đưa bà ra khỏi mớ bòng bong rối rắm.

Đau buồn tràn ngập, bà rên rỉ: “Lạy Chúa, con có gì tốt cho Ngài? Con không đáng là một con chim sẻ, vì chim sẻ sinh ích lợi cho Ngài. Con không đáng là con lợn hoặc con gấu, vì chúng vì nó sinh ích lợi cho Ngài. Thậm chí con cũng không đáng là hạt bụi dưới chân con vì từ cát bụi đó xuất hiện trái và hạt. Con vô ích, vô dụng.”

Mặc dù khách đến trong nháy mắt hay dần dần mờ bóng, bà Anna vẫn không biết. Mặt vùi vào hai bàn tay, vò nát trong cát bụi dưới gốc cây nguyệt quế, bà Anna khóc một mình. Và sau đó, bà có cảm giác quyết định không cô đơn. Bất chợt bà ngước nhìn lên, cảnh giác về con thú săn mồi từ nơi hoang dã. Trước mặt bà, có một thứ được tạo ra từ ánh sáng.

Có tiếng nói: “Này Anna, Chúa đã nghe lời cầu nguyện của bà, bà sẽ thụ thai và sinh con. Hạt giống của bà sẽ được nhắc đến trên khắp thế giới.” Với cả tấm lòng, bà Anna đáp lại: “Lạy Chúa, Thiên Chúa hằng sống của con, nếu con sinh dù trai hay gái, con sẽ dâng nó cho Chúa, Thiên Chúa của con; và nó sẽ phục vụ Ngài trong những điều thánh thiêng suốt đời nó.”

Ánh sáng quá chói nên đáng lẽ phải bị mù, nhưng đôi mắt bà Anna không bao giờ căng thẳng. Hai thiên thần đồng thanh nói: “Kìa, Gioakim, chồng bà đang đến với đàn gia súc.” Một thiên thần của Chúa ngự xuống trên ông và nói: “Này Gioakim, Chúa đã nghe lời cầu nguyện của ông. Đi xuống đó; vì kìa, vợ ông là bà Anna sẽ thụ thai.”

Bà Anna đứng trên đôi chân của mình ngay cả trước khi các sinh vật nói xong. Bà chạy nhanh hết mức xuống những con đường đá, đến cổng làng, căng thẳng để nhìn vào bóng tối: “Ông ấy đâu rồi? Ông ấy đâu rồi?”

Và rồi bà nhìn thấy người chồng yêu dấu của mình trở về từ nơi lưu vong tự nguyện. Bà Anna chạy đến và ôm ông thật chặt. Nhìn vào khuôn mặt của người chồng, bà Anna biết những vị khách đã nói thật. Ông Gioakim cũng đã nhìn thấy họ, đã nghe tin vui. Họ sắp có một đứa con!

Tên là Maria, bà Anna nghĩ thầm khi cùng ông Gioakim trở về nhà. Nếu đứa trẻ là con gái, tên của bé sẽ là Maria.

Cari Donaldson

Trầm Thiên Thu chuyển ngữ

Source: https://catholicexchange.com/the-joyful-trust-of-sts-joachim-anne

SONG THÂN VÔ SONG

Ngày 12 tháng 7 là lễ hai thánh Louis Martin và Marie-Azélie Martin, song thân của Thánh nữ Teresa Hài Đồng Giêsu. Hai vị được ĐGH Phanxicô tuyên thánh năm 2015. Ngày 12 tháng 7 được chọn là ngày lễ vì ngày này năm 1858, hai người đã cử hành Bí tích Hôn Phối tại Nhà thờ Đức Bà ở Alençon, Pháp. Họ đã cam kết sống chung thủy với nhau suốt đời.

Các bí tích là dấu chỉ và là phương tiện giao tiếp thân mật với Thiên Chúa: bí tích đem Ngài đến ở giữa chúng ta và chúng ta ở trong Ngài; và vì sự sống của Thiên Chúa là vĩnh hằng, các bí tích hướng tới Nước Trời. Bí tích Hôn Phối được hướng tới việc thánh hóa lẫn nhau, sinh sản và giáo dục con cái nên thánh.

Chúng ta thấy rất rõ trong đời sống của gia đình Martin. Cả hai đều đã tìm kiếm sự thánh thiện trước khi kết hôn: Louis đã có một thời gian ở một tu viện Augustinô nhưng không học nổi Latin, còn Zélie cũng đã muốn làm nữ tu dòng Bác Ái, nhưng bị chứng khó thở và đau nửa đầu nên không được chấp nhận. Thiên Chúa đã có ơn gọi riêng cho cả hai.

Zélie cầu nguyện xin Chúa ban cho nhiều đứa con được thánh hiến cho Chúa. Ngài đã an cho họ 9 người con, trong đó có 4 người con chết ngay sau khi được rửa tội, còn năm người con kia nhận ra những ơn gọi để sống đời thánh hiến và trở thành nữ tu.

Người nổi tiếng nhất là Chị Thánh Têrêsa Hài đồng Giêsu, Chị nói nhiều về diễm phúc có “cha mẹ vô song” và cách Chúa đã ban cho “một người mẹ và một người cha xứng đáng với Thiên Đàng hơn thế gian này.”

Khi họ được tuyên chân phước ở Lisieux năm 2008, ĐHY Jose Saraiva Martins bộ trưởng Bộ Phong Thánh nhấn mạnh trong bài giảng rằng ông Louis và bà Zélie đã biết mình có thể thánh hóa mình qua hôn nhân và nhờ hôn nhân. Họ biết rằng đám cưới của họ được coi là khởi điểm cùng nhau vươn lên.

ĐHY Jose đề nghị ông bà Martin trở thành gương mẫu cho các cặp đính hôn trong sự thuần khiết của tâm hồn; cho các cặp kết hôn trong sự yêu thương và tôn trọng lẫn nhau; cho các cha mẹ là thừa tác viên của tình yêu và sự sống; cho các nhà giáo dục trong việc hướng nghiệp cho người trẻ; cho những người góa bụa trong lúc sắp mất niềm tin; cho những người chết trong sự bình an theo Thánh Ý Chúa, và cho mọi người Công giáo sống với tinh thần truyền giáo.

ĐHY Jose nói rằng việc ông bà Martin được đưa lên bàn thờ là dịp để mọi người nghĩ về cha mẹ của mình và tạ ơn Chúa về cha mẹ mình, không chỉ vì họ hợp tác với Chúa trong việc mang lại sự sống mà còn vì họ hợp tác với Chúa trong việc dẫn dắt con cái đến với Ngài và Giáo Hội của Ngài.

Giống như ông bà Louis và Zélie Martin, các đôi vợ chồng cũng được Thiên Chúa mời gọi trở thành những người xây dựng Giáo Hội. Hồng ân để hiểu biết hôn nhân trong các thế kỷ đầu của Kitô giáo là trở nên “Giáo Hội tại gia,” vì nhiều nơi thờ phượng của các Kitô hữu lúc đó là nhà của các Kitô hữu, như nhà của chị Pơ-rít-ca và anh A-qui-la. (Rm 16:5) Thánh Gioan Chrysostom (+407), bổn mạng các nhà giảng thuyết Kitô giáo, đã viết: “Giáo Hội là một gia đình nhỏ, và… thực sự một ngôi nhà là một Giáo Hội nhỏ.”

Các giáo hoàng và các tài liệu của Giáo Hội thường nhấn mạnh cách gia đình xây dựng trên Bí tích Hôn Phối là “Giáo Hội nhỏ” – nơi Thiên Chúa hiện diện, được chào đón, được tôn thờ, được yêu mến, được chia sẻ tâm sự.

Công Đồng Vatican II dạy: “Trong gia đình như một Giáo Hội nhỏ, ước gì cha mẹ là những người đầu tiên dùng gương lành và lời nói mà truyền dạy đức tin cho con cái, cũng như phải lo chăm sóc đến ơn gọi riêng của từng đứa con, và phải đặc biệt chăm sóc đến ơn kêu gọi làm linh mục.” (Hiến chế Lumen Gentium, số 11). Thánh Gioan Phaolô II cho biết về cách gia đình là một “Giáo Hội tại gia (ecclesia domestica) là hình ảnh sống động và biểu hiện lịch sử của mầu nhiệm Giáo Hội.” (Tông huấn Familiaris Consortio, số 49)

Trong tài liệu giáo lý năm 2007, ĐGH Benedict XVI nói: “Mỗi gia đình được gọi là ‘Giáo Hội tại gia’ và là nơi đời sống gia đình hoàn toàn tập trung vào uy quyền của Đức Kitô và tình yêu phu thê phản ánh mầu nhiệm tình yêu của Đức Kitô dành cho Giáo Hội, Hiền Thê của Ngài.” ĐGH Phanxicô nhấn mạnh về đời sống gia đình: “Giáo Hội là gia đình của các gia đình, không ngừng được phong phú hóa nhờ cuộc sống của mọi Giáo Hội tại gia này.” (Tông huấn Amoris Laetitia, số 87) Giáo lý nhấn mạnh: “Ngôi nhà gia đình được gọi đúng là ‘Giáo Hội tại gia,’ một cộng đoàn của ân sủng và cầu nguyện, một trường học đạo đức con người và đức ái Kitô giáo.” (GLCG, số 1666)

Ngày lễ của hai vợ chồng đầu tiên cùng được tuyên thánh là dịp để chúng ta nhận biết quyền năng của Thiên Chúa tác động trong Bí tích Hôn Phối qua việc thánh hóa hôn nhân và gia đình, tạo nên Giáo Hội tại gia thực sự, nhờ đó cũng xây dựng Giáo Hội tại thế và hiệp thông với các thánh trên trời.

LM. ROGER LANDRY

TRẦM THIÊN THU chuyển ngữ

Source:https://www.ncregister.com/blog/fatherlandry/incomparable-parents-and-church-builders

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan