TỰ SẮC NGHI LỄ PHỤNG TỰ

06-08-2020 448 lượt xem

(Summorum Pontificum *)

của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI 07/07/2007

Từ trước đến nay các Đức giáo hoàng luôn chăm lo sao cho Giáo Hội của Chúa Kitô dâng lên Đấng Thánh Huy Hoàng việc phụng tự xứng đáng để tán tụng và tôn vinh danh Ngài và mưu ích cho toàn Giáo Hội.

Từ quá khứ xa xăm cho đến tương lai có một nguyên tắc phải được tôn trọng, theo đó mỗi Giáo Hội địa phương phải hòa hợp với Giáo Hội hoàn vũ không chỉ về tín lý và các dấu chỉ bí tích, nhưng còn trong việc ứng dụng những gì được truyền lại một cách phổ quát từ truyền thống tông truyền không gián đoạn. Những điều này được tuân giữ không chỉ sao cho có thể tránh được những sai lầm mà còn nhằm làm cho đức tin có thể được truyền lại cách nguyên vẹn, vì lề luật cầu nguyện của Giáo Hội (lex orandi) tương ứng với lề luật niềm tin của mình (lex credendi) [1].

Trong số các Đức giáo hoàng đã thể hiện sự chăm lo như thế, nổi bật là Thánh Grêgôriô Cả, đấng đã lo lắng truyền đạt cho những dân tộc mới của châu Âu cả đức tin Công Giáo cũng như những kho tàng thờ phượng và văn hóa người La Mã đã tích lũy được trong những thế kỷ trước. Ngài ban những huấn thị cho hình thức Phụng Vụ Thánh của cả Hy Tế Thánh Lễ lẫn Các Giờ Kinh Phụng Vụ được cử hành trong Thành Rôma. Ngài thực hiện những nỗ lực phi thường để nâng đỡ các tu sĩ nam nữ, những người theo Luật của Thánh Biển Đức, tại mọi nơi cùng với việc công bố Tin Mừng bằng cuộc sống của họ cũng đã nêu gương cho thấy biểu hiện tích cực nhất của Lề Luật là không để điều gì trọng hơn là công việc của Thiên Chúa (chương 43). Nhờ thế phụng vụ thánh theo phong cách Rôma nảy sinh không chỉ đức tin và lòng đạo đức bình dân mà cả văn hóa của nhiều dân tộc. Hơn thế nữa, rõ ràng là Phụng Vụ Latinh trong những hình thái đa dạng đã kích thích trong cuộc sống thiêng liêng của rất nhiều vị Thánh trong mọi thế kỷ của kỷ nguyên Kitô giáo, tăng cường nhân đức thiêng liêng của nhiều dân tộc, và làm nảy sinh lòng đạo đức bình dân của họ.

Tuy nhiên, để Phụng Vụ Thánh có thể hoàn thành hiệu quả hơn nhiệm vụ của nó, nhiều vị Giáo hoàng khác trong nhiều thế kỷ đã có quan tâm đặc biệt, trong số này nổi bật là Thánh Giáo hoàng Piô V, người với lòng nhiệt thành mục tử cao độ, đã khích lệ Công đồng Trentô canh tân việc phụng tự trong toàn thể Giáo Hội, bảo đảm việc xuất bản các sách phụng vụ, chỉnh đốn và phục hoạt theo các chuẩn định của các Nghị Phụ và đưa ra thực hiện trong Giáo Hội La Tinh. Rõ ràng là trong các sách phụng vụ của Nghi thức Rôma, Sách Lễ Rôma là nổi bật. Sách Lễ Rôma đã được phát triển trong thành Rôma và theo thời gian đã nhận lấy những hình thức rất tương tự với những gì vẫn còn hiệu lực trong những thế hệ gần đây.

Cũng cùng một mục đích như thế theo thời gian các Đức giáo hoàng đã tìm kiếm, cải tiến hay thiết lập những nghi lễ phụng vụ và những sách cho các thế hệ mới, và ở đầu thế kỷ này đã thực hiện một sự san định phong phú hơn [2]. Đó chính là cách thế mà các vị tiền nhiệm của tôi Clement VIII, Urban VIII, Thánh Piô X [3], Bênêđíctô XV, Piô XII và Chân Phước Gioan XXIII đã hành động].

Tuy nhiên, trong thời gian sau này, Công đồng Vatican II đã bày tỏ ao ước là với lòng tôn kính thích đáng, phụng vụ thánh cần được san định và cải tiến cho phù hợp với những nhu cầu của thời đại chúng ta. Được thúc đẩy bởi ao ước này, vị Tiền Nhiệm của tôi là Đức giáo hoàng Phaolô VI vào năm 1970 đã phê chuẩn những sách phụng vụ dành cho Giáo Hội La Tinh đã được san định và canh tân phần nào, và trên khắp thế giới đã được dịch sang nhiều thổ ngữ, được các giám mục, linh mục và anh chị em giáo dân chào đón. Đức Gioan Phaolô II đã tái duyệt bản thứ ba của Sách Lễ Rôma [4].

Như thế, các Đức giáo hoàng đã hành động sao cho cấu trúc phụng vụ này, có thể nói như thế, có thể trở lại huy hoàng trong thế giá và sự hài hòa của nó. Tuy nhiên, trong một số miền không ít các tín hữu đã và đang gắn bó với lòng yêu mến cao độ những hình thức phụng vụ trước đây, vốn ăn sâu trong văn hóa và tinh thần của họ đến mức Đức Gioan Phaolô II, được thúc đẩy bởi mối quan tâm mục vụ cho các tín hữu này vào năm 1984 qua thư luân lưu Quattuor abhinc annos (bốn năm trước), do bộ Phụng Tự thảo ra, đã ban năng quyền sử dụng Sách Lễ được Đức Gioan XXIII công bố năm 1962; và một lần nữa vào năm 1988, qua Tự Sắc Ecclesia Dei (Giáo Hội Chúa), Đức Gioan Phaolô II lại khích lệ các Đức giám mục sử dụng rộng rãi và quảng đại năng quyền này theo yêu cầu của anh chị em giáo dân.

Sau thời gian suy tư lâu dài trước những thỉnh cầu bức bách của các tín hữu này lên vị Tiền Nhiệm Gioan Phaolô II của tôi, sau khi lắng nghe các Nghị Phụ trong Công Nghị Hồng Y hôm 23/3/2006, sau khi đã suy tư về tất cả những điều này, đã cầu xin Thánh Thần Chúa và đặt niềm cậy trông vào ơn phù trì của Thiên Chúa, qua Tông Thư này tôi TRUYỀN rằng:

Điều 1. Lễ Quy Rôma do Đức Thánh Cha Phaolô VI công bố được xem là diễn đạt thông thường của luật cầu nguyện (lex orandi) trong Nghi Lễ Latinh của Giáo Hội Công Giáo, trong khi Lễ Quy Rôma do Thánh Giáo hoàng Piô V và sau đó được Chân Phước Gioan XXIII tái công bố được xem là diễn đạt ngoại thường của luật cầu nguyện (lex orandi) và được trọng vọng thích đáng xét vì việc sử dụng đáng kính và cổ truyền của nó. Hai hình thức diễn đạt này của luật cầu nguyện (lex orandi) không vì lẽ nào dẫn tới sự chia rẽ trong luật cầu nguyện (lex orandi) của Giáo Hội, vì chúng là hai cách dùng của cùng một Nghi Lễ Rôma.

Do đó, được kể là hợp luật khi cử hành Thánh Lễ theo bản tiêu biểu của Sách Lễ Rôma do Chân Phước Gioan XXIII công bố năm 1962 và chưa bao giờ bị hủy bỏ, như một hình thức ngoại thường trong Phụng Vụ của Giáo Hội. Những điều kiện được nêu trong thư luân lưu nêu trên và trong Tự Sắc Ecclesia Dei về việc sử dụng Lễ Quy này được thay thế bằng những điều sau:

Điều 2. Linh mục: Trong các Thánh Lễ cử hành không có giáo dân tham dự, bất cứ linh mục nào thuộc nghi lễ Latinh, dù là linh mục Triều [thuộc giáo phận] hay linh mục Dòng, đều có thể sử dụng Sách Lễ Rôma được Chân Phước Gioan XXIII ban hành vào năm 1962, hay Sách Lễ Rôma được Đức giáo hoàng Phaolô VI ban hành vào năm 1970, vào bất kỳ ngày nào trừ ra trong Tam Nhật Thánh [Thứ Năm, Thứ Sáu, Thứ Bảy Tuần Thánh]. Khi cử hành thánh lễ theo hai Sách Lễ này, linh mục không cần phải có phép, dù của Tòa Thánh hay của Đấng Bản Quyền.

Điều 3. Tu hội: Nếu các Cộng Đoàn hay các Tu Hội thuộc Đời Sống Thánh Hiến hay các Hiệp Hội Đời Sống Tông Đồ, dù là thuộc Tòa Thánh hay thuộc địa phận, ước ao muốn được cử hành Thánh Lễ theo Sách Lễ Rôma được ban hành vào năm 1962 trong nhà nguyện tu viện hay cộng đồng tu, hay trong tu hội của mình thì đều được phép. Nếu trường hợp có cộng đoàn cá biệt nào, hay là toàn thể Tu Hội hay Hội Dòng muốn có các nghi lễ cử hành nêu trên một cách thường xuyên, một đôi khi, hoặc là luôn luôn như vậy, thì sự việc này phải được Các Bề Trên Cả định đoạt theo các chuẩn mực của luật chung, theo các luật chuyên biệt và các qui chế.

Điều 4. Giáo dân: Nếu giữ theo đúng qui định luật lệ thì ngay người tín hữu của Chúa Kitô cũng có thể bộc phát xin và có thể được chấp nhận tham dự các cử hành Thánh Lễ được nêu lên tại điều 2 ở trên.

Điều 5:

§ 1. Giáo xứ: Trong những giáo xứ nơi có một nhóm tín hữu gắn bó với truyền thống phụng vụ trước đây tồn tại cách ổn định, cha sở hãy vui lòng chấp nhận những thỉnh nguyện của họ về việc cử hành Thánh Lễ Misa theo nghi thức sách Lễ Rôma được ban hành năm 1962. Cha sở nên xem xét xem lợi ích của những giáo dân này có hòa hợp thuận thảo được với việc chăm sóc mục vụ bình thường của giáo xứ, dưới quyền cai quản của Đức giám mục theo như giáo luật 392 hay không, trong khi tránh bất hòa và nuôi dưỡng sự hiệp nhất trong toàn Giáo Hội.

§ 2. Việc cử hành theo Sách Lễ của Chân Phước Gioan XXIII có thể được thực hiện vào các ngày trong tuần, đang khi vào các ngày Chúa Nhật và Lễ Trọng thì có thể cử hành một thánh lễ theo nghi thức đó mà thôi.

§ 3. Hãy để cha xứ cho phép các việc cử hành trong hình thức ngoại thường này cho người tín hữu hay cho các linh mục xin phép được cử hành như vậy, ngay cả trong những trường hợp đặc biệt như là lễ hôn phối, tang lễ hoặc những lễ cử hành tùy thời điểm chẳng hạn trong các cuộc hành hương.

§ 4. Các linh mục sử dụng Sách Lễ của Chân Phước Gioan XXIII phải là các linh mục xứng đáng và không bị ngăn trở vướng mắc nào theo luật giáo hội.

§ 5. Trong các thánh đường không phải là thánh đường của giáo xứ hay thuộc các tu viện, thì vị giám quản của ngôi thánh đường đó có quyền cho phép cử hành Thánh Lễ như đã nói ở trên.

Điều 6. Trong khi cử hành Thánh Lễ cùng với dân chúng theo Sách Lễ của Chân Phước Gioan XXIII, các Bài Đọc có thể được tuyên đọc ngay cả bằng tiếng bản xứ địa phương, miễn là dùng các bản văn đã được Tòa Thánh phê chuẩn công nhận.

Điều 7. Nơi nào có nhóm tín hữu giáo dân được nêu ra ở điều 5§1 không xin được phép của cha sở, thì cần phải thông báo cho giám mục bản quyền biết về sự kiện này. Giám mục cũng nên rộng lòng ban phép như họ mong ước. Nếu như ngài không thể cho phép hình thức cử hành này, thì sự việc này cần phải được chuyển trình về cho Ủy Ban Giáo Hoàng Ecclesia Dei.

Điều 8. Vị Giám Mục nào ước ao đáp ứng những thỉnh cầu giáo dân về điều này, nhưng vì những lý do khác nhau bị ngăn trở không thể làm thế, có thể chuyển sự việc về cho Ủy Ban Giáo Hoàng Ecclesia Dei, Ủy Ban này phải cho ngài ý kiến và trợ giúp.

Điều 9:

§ 1. Cũng vậy, cha sở sau khi đã xem xét một cách thỏa đáng tất cả mọi thứ, có thể cho phép dùng các nghi lễ cũ trong việc ban Bí Tích Thánh Tẩy, Hôn Phối, Hòa Giải và Xức Dầu Bệnh Nhân, nếu thấy cần cho lợi ích các linh hồn.

§ 2. Các Đức giám mục bản quyền được phép ban năng quyền cử hành Phép Thêm Sức sử dụng nghi thức Sách Các Phép Roma cũ, nếu thấy cần cho lợi ích các linh hồn.

§ 3. Các giáo sĩ có chức thánh được phép sử dụng quyển Sách Giờ Kinh Phụng Vụ đã được Chân phước Gioan XXIII ban hành vào năm 1962.

Điều 10. Đấng Bản Quyền địa phương được phép, nếu xét thấy thuận lợi, có thể thiết lập họ đạo tòng nhân chiếu theo khoản giáo luật số 518 cho những việc cử hành theo các hình thức của Nghi Lễ Rôma cũ hay chỉ định một vị Giám Sự hoặc Tuyên Úy, để giám sát cho đúng các quy định đòi hỏi của luật lệ.

Điều 11. Ủy Ban Giáo Hoàng Ecclesia Dei, đã được thiết lập vào năm 1988 bởi Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II [5] tiếp tục thi hành sứ vụ của mình. Ủy Ban này có trách nhiệm hình thành các bổn phận và điều luật cho việc thực hành mà Đức Giáo Tông muốn chỉ định cho Ủy Ban.

Điều 12. Thêm vào những năng quyền đã sẵn có, Ủy Ban này sẽ hành xử với quyền của Tòa Thánh trong việc tỉnh thức canh chừng trong công tác quan sát và thực hiện những qui định đã nêu trên đây.

Bất cứ điều gì đã được Tôi ra chỉ thị qua phương tiện Tự Sắc này, Tôi truyền phải thi hành cương quyết và đúng đắn và phải được thi hành bắt đầu từ ngày 14 tháng 9 năm nay, ngày lễ Suy Tôn Thánh Giá, tất cả những gì đi ngược với những gì Tôi ban bố đều không có cơ sở hiệu lực.

Ban hành tại Rôma, tại Đền Thánh Phêrô, ngày 7 tháng 7 năm 2007,

Năm Thứ III Triều Giáo hoàng của tôi.

+ BÊNÊĐÍCTÔ XVI

Giáo hoàng

Source: http://w2.vatican.va

Lm. Trần Công Nghị và Đặng Minh An chuyển ngữ

-------------------------------------------------------------

Thư tịch: 

[1] General Instruction of the Roman Missal, 3rd ed., 2002, 397. 

[2] JOHN PAUL II, Apostolic Letter Vicesimus Quintus Annus (4 December 1988), 3: AAS 81 (1989), 899.

[3] Ibid. 

[4] SAINT PIUS X, Apostolic Letter given Motu Propio Abhinc Duos Annos (23 October 1913): AAS 5 (1913), 449-450; cf. JOHN PAUL II, Apostolic Letter Vicesimus Quintus Annus (4 December 1988), 3: AAS 81 (1989), 899.

[5] Cf. JOHN PAUL II, Apostolic Letter given Motu Proprio Ecclesia Dei (2 July 1988), 6: AAS 80 (1988), 1498.

-------------------------------------------------------------------------------------------------

Nên hiểu và áp dụng tự sắc Summorum Pontificum

về việc dùng “phụng vụ La-tinh cũ” thế nào cho đúng?

Ngày 07/07/2007, Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đic-tô XVI đã công bố thư gửi các Giám Mục Công Giáo toàn thế giới để giới thiệu Tự Sắc Summorum Pontificum (*) về việc sử dụng Lễ Quy Rôma do Đức Giáo Hoàng Pi-ô V ban hành và sau được Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII tái công bố vào năm 1962 (về sau xin tạm gọi tắt là Lễ Quy 1962) trước khi có cuộc cải tổ năm 1970 (về sau xin tạm gọi tắt là Lễ Quy 1970). Nhiều năm đã trôi qua kể từ khi Tự Sắc được ban hành, những thắc mắc xoay quanh việc hiểu và áp dụng Tự Sắc này như thế nào trong sinh hoạt phụng vụ của Giáo Hội tại nhiều Giáo Hội địa phương khác nhau vẫn chưa được giải đáp thoả đáng. Dưới đây là trả lời cho một số câu hỏi thường được đặt ra:

1/ Tại sao có Tự Sắc Summorum Pontificum?

Trước hết, Tự Sắc Summorum Pontificum được ban hành nhằm thể hiện mối quan tâm mục vụ cho các tín hữu ở một số miền “đã và đang gắn bó với lòng yêu mến cao độ những hình thức phụng vụ trước đây, vốn ăn sâu trong văn hóa và tinh thần của họ” [2]. Thứ đến, tuy Huynh Đoàn Pi-ô X của Tổng Giám mục Marcel Lefevre không được nhắc đến trong Tự Sắc nhưng ai cũng hiểu rằng Tự Sắc này được xem như một trong những nỗ lực đưa Huynh Đoàn này trở về hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo Rôma. Huynh đoàn Pi-ô X do TGM Lefevre thành lập năm 1970. Huynh đoàn này mạnh mẽ bảo vệ Thánh lễ Tridentine truyền thống, khước từ Lễ Quy 1970, và có nhiều quan điểm đối lập với Giáo Hội Công Giáo, đặc biệt là một số giáo huấn của Công Đồng Vatican II. Năm 1988, TGM Lefevre tấn phong giám mục bất hợp pháp cho 4 linh mục thuộc Huynh đoàn mà không có uỷ nhiệm của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Kết quả là TGM Lefevre và 4 giám mục này đều bị Vatican vạ tuyệt thông.

2/ Tại sao cử hành Thánh Lễ theo Lễ Quy 1962 được xem là “một hình thức ngoại thường” trong phụng vụ của Giáo Hội?

Theo Điều 1 của Tự Sắc Summorum Pontificum, Lễ Quy 1970 được xem là diễn đạt thông thường của luật cầu nguyện (lex orandi) trong Nghi lễ La-tinh của Giáo Hội Công Giáo, trong khi Lễ Quy 1962 được xem là diễn đạt ngoại thường của luật cầu nguyện (lex orandi). Tự Sắc cũng khẳng định rằng hai lễ quy là hai cách dùng của cùng một Nghi lễ Rôma chứ không phải là hai “lễ nghi” khác nhau. Lễ Quy 1962 được gọi “ngoại thường” vì Lễ Quy này không phải là Lễ Quy được dùng phổ biến trong Giáo Hội Công Giáo Rôma sau khi Lễ Quy 1970 được ĐGH Phaolô VI đưa vào áp dụng cho Giáo Hội hoàn vũ. Thẩm quyền Giáo hội chưa bao giờ bãi bỏ Lễ Quy 1962. Trước khi có Tự Sắc Summorum Pontificum, ai muốn cử hành Thánh Lễ theo Lễ Quy 1962 thì phải xin phép Đấng Bản quyền.

3/ Linh mục có được “toàn quyền” cử hành Lễ Quy 1962 hay không?

Để trả lời cho câu hỏi này chúng ta cần bám sát vào nội dung của Tự Sắc. Trước hết một linh mục (dù là linh mục triều hay linh mục dòng) cử hành Thánh lễ (trừ Tam Nhật Thánh) KHÔNG CÓ GIÁO DÂN THAM DỰ thì không cần phải có phép, dù của Toà Thánh hay của Đấng Bản quyền. Thứ đến, theo điều 5 triệt 1 của Tự Sắc, nếu trong “những giáo xứ nơi có một nhóm tín hữu GẮN BÓ VỚI TRUYỀN THỐNG TRƯỚC ĐÂY TỒN TẠI CÁCH ỔN ĐỊNH,” họ cũng được cử hành Thánh lễ theo Lễ Quy 1962.

Huấn thị Ecclesiae Universae [3] (EU) của Ủy Ban Toà Thánh Ecclesia Dei (Giáo Hội của Chúa) được Phòng báo chí Tòa Thánh công bố ngày 13/5/2011, giải thích thêm về điều 5 triệt 1 của Tự Sắc rằng “nhóm tín hữu gắn bó với truyền thống trước đây tồn tại cách ổn định” gồm “các tín hữu của cùng một giáo xứ, ngay cả sau khi công bố Tự sắc, qui tụ lại vì sự kính trọng phụng vụ được cử hành theo cách sử dụng lại nghi lễ Roma, và xin cử hành thánh lễ trong nhà thờ giáo xứ, một nhà nguyện hoặc nguyện đường; nhóm này cũng có thể bao gồm những người từ nhiều giáo xứ hoặc giáo phận khác nhau, qui tụ với mục đích trên trong một nhà thờ giáo xứ nào đó, một nhà nguyện hoặc nguyện đường.” [4]

Như vậy dựa vào Tự Sắc và Huấn thị giải thích Tự Sắc, nhóm tín hữu được phép cử hành Lễ Quy 1962 bao gồm những tín hữu đã quen cử hành Thánh lễ La-tinh và cả những tín hữu có lòng “kính trọng phụng vụ” La-tinh mới làm quen với Thánh lễ La-tinh ngay cả sau khi Tự Sắc được công bố.

Tuy nhiên, cũng liên quan đến điều 5, Tự Sắc nhấn mạnh rằng: “Cha xứ nên xem xét xem lợi ích của những giáo dân này có hòa hợp thuận thảo được với việc chăm sóc mục vụ bình thường của giáo xứ, dưới quyền cai quản của Đức Giám Mục theo như giáo luật 392 hay không, trong khi tránh bất hòa và nuôi dưỡng sự hợp nhất trong toàn Giáo Hội.” Như thế, việc một nhóm tín hữu “gắn bó với truyền thống trước đây [tức Lễ Quy 1962] tồn tại cách ổn định” hay một nhóm tín hữu mới làm quen với Thánh lễ Lainh muốn cử hành Thánh Lễ La-tinh, họ cần lưu ý:

  • Thỉnh nguyện cử hành Thánh Lễ La-tinh của họ sẽ được cha xứ xem xét xem có hoà hợp với việc chăm sóc mục của bình thường của giáo xứ hay không. Nghĩa là, nếu việc cử hành Thánh lễ La-tinh của nhóm người này tạo nên những xáo trộn hay chia rẽ trong cộng đồng giáo xứ, cha xứ có quyền từ chối thỉnh nguyện của họ.

  • Những xáo trộn hay chia rẽ này có thể là: nhóm dâng Lễ La-tinh tự tách mình ra khỏi sinh hoạt mục vụ của giáo xứ, xem Lễ Quy 1962 là trổi vượt hơn Lễ Quy 1970 dẫn đến sự so sánh giữa hai Lễ Quy hay các tín hữu trong giáo xứ (vì chưa có cái nhìn đúng đắn về Thánh lễ La-tinh) xem nhóm dâng lễ La-tinh như một dạng chống đối phụng vụ chung của Giáo Hội, bảo thủ cực đoan…

  • Sự hợp nhất trong toàn Giáo Hội cần phải được xem là yếu tố cốt lõi để phân định trước khi quyết định có nên cử hành Thánh lễ theo hình thức ngoại thường hay không.

4/ Đâu là thẩm quyền của Giám mục giáo phận?

Điều 5 của Tự Sắc có nhắc đến Giáo Luật số 392:

  • 1. Vì phải bảo vệ sự hiệp nhất của Giáo Hội phổ quát, Giám Mục buộc phải cổ vũ kỷ luật chung của toàn thể Giáo Hội, và vì thế, ngài phải thúc bách việc tuân giữ tất cả mọi luật của Giáo Hội (LG 23; CD 16).

  • 2. Ngài phải liệu sao để cho kỷ luật của Giáo Hội không bị lạm dụng, nhất là trong những điều liên quan đến tác vụ Lời Chúa, đến việc cử hành các bí tích và các á bí tích, đến việc tôn thờ Thiên Chúa và việc tôn kính các thánh, cũng như đến việc quản trị tài sản.

Như thế, Tự Sắc không mặc nhiên trao cho linh mục hay nhóm tín hữu “toàn quyền” cử hành Thánh lễ La-tinh theo Lễ Quy 1962 nhưng đặt thỉnh nguyện cử hành phụng vụ ngoại thường này dưới sự hướng dẫn của Giám mục giáo phận. “Bảo vệ sự hiệp nhất của giáo hội phổ quát… kỷ luật chung của toàn thể giáo hội… liên quan đến tác vụ Lời Chúa, đến việc cử hành các bí tích và á bí thích, đến việc tôn thờ Thiên Chúa và việc tôn kính các thánh, cũng như việc quản trị tài sản” (Trích GL 392). Đây là những yếu tố quan trọng để Giám mục giáo phận xem xét và phân định liệu ngài có nên cho phép cử hành Thánh lễ La-tinh trong phạm vi giáo phận của ngài hay không.

Tự Sắc có nhắc đến việc nhóm tín hữu không xin được phép của cha xứ phải thông báo cho Giám mục bản quyền và trình Ủy Ban Giáo Hoàng Ecclesia Dei (Lưu ý: Uỷ Ban này đã được giải tán bởi ĐGH Phanxicô. Các nhiệm vụ của Uỷ ban được chuyển giao hoàn toàn cho Bộ Giáo Lý Đức Tin) khi thỉnh nguyện không được Giám mục bản quyền cho phép. Tự Sắc có nhắc đến việc Uỷ Ban  Giáo Hoàng Ecclesia Dei “phải cho ngài [Giám mục giáo phận] ý kiến và trợ giúp.” Cho “ý kiến và trợ giúp” ở đây nên được hiểu là Uỷ Ban giúp Giám mục giáo phận có thêm những soi sáng và hướng dẫn cần thiết để ngài xem xét và phân định. Quyết định cuối cùng vẫn thuộc về Giám mục giáo phận.

5/ Vài nhận định của người viết

Một số người cho rằng qua Tự Sắc này, Đức Giáo Hoàng muốn khôi phục lại Thánh lễ bằng tiếng La-tinh, vốn “đã bị quên lãng” sau Công Đồng Vatican II. Thực ra Giáo hội chưa bao giờ bãi bỏ Lễ Quy 1962 mà chỉ xem Lễ Quy này như một “hình thức ngoại thường.” Tiếng La-tinh không gắn liền với sách lễ của ĐGH Pi-ô V hay sách lễ của ĐGH Phaolô VI. Nhưng tiếng La-tinh là ngôn ngữ chính thức của phụng vụ Rôma. Vì thế, cả sách lễ của ĐGH Phaolô VI ban hành năm 1970 và 1975 và sách lễ của ĐGH Gioan Phaolô II ban hành năm 2002, đều bằng tiếng La-tinh. Tiếng La-tinh cũng không hề bị Giáo hội quên lãng vì ngôn ngữ này cho đến nay vẫn là ngôn ngữ chính thức trong các văn bản của Giáo Hội. Tiếng La-tinh cũng không phải là ngôn ngữ “độc quyền” của Lễ Quy 1962. Cha Manlio Sodi, giáo sư Phụng Vụ đại học Salesien Roma cho rằng: “Việc nhớ nhung tiếng La-tinh hay lòng mộ mến nhạc bình ca La-tinh, tự nó, không phải là lý do có giá trị để bỏ Thánh lễ hậu công đồng. Thánh lễ sau thời Công Đồng có thể và thực ra được cử hành bằng cả tiếng La-tinh và với nhạc bình ca bằng tiếng La-tinh nữa.” [5]

Công Đồng Vatican II đã quyết định “bỏ thế độc quyền của tiếng La-tinh trong phụng vụ” bằng cách cho phép cử hành Thánh Lễ bằng các ngôn ngữ địa phương. Cũng vậy, khi một nhóm cử hành Thánh lễ La-tinh, bài giảng lễ hay thậm chí cả các bài đọc Kinh Thánh cũng được sử dụng các ngôn ngữ địa phương. Tiếng La-tinh không phải là “tội đồ” sau khi các ngôn ngữ khác được phép dùng trong phụng vụ. Tiếng La-tinh cũng không phải là “ngôn ngữ thánh” cao trọng và trổi vượt hơn các ngôn ngữ khác. Trong khoa học hay triết học có thể có ngôn ngữ này “tiện dùng hơn” ngôn  ngữ kia. Tuy nhiên, Thiên Chúa không bao giờ phân loại và đánh giá con người dựa trên ngôn ngữ mà họ sử dụng. Thiên Chúa giao tiếp với con người bằng ngôn ngữ của trái tim. Cuộc canh tân của Công Đồng Vatican II không chỉ đơn giản là việc chủ tế được phép quay xuống cộng đoàn khi dâng Lễ hay việc sử dụng các ngôn ngữ địa phương. Cả hai điều này chỉ là kết quả của cả một cuộc canh tân lớn lao về Thần học, Truyền giáo học, Ki tô học, Giáo Hội học… mà giới hạn của bài viết này chưa thể bàn hết.

Như đã nói ở những phần trên, sự HỢP NHẤT và KỶ LUẬT của Giáo Hội phổ quát là điều hết sức quan trọng. Thế nên, người thích dâng Lễ La-tinh truyền thống và người thích dâng Lễ cải tổ cần tránh những chỉ trích và kết án lẫn nhau. Bởi lẽ, cả hai Lễ Quy đều có giá trị như nhau trong phụng vụ vì cả hai đều là hy tế của Chúa Ki tô dâng lên Thiên Chúa Cha. Dĩ nhiên, yếu tố KỶ LUẬT của Giáo hội cũng là điều cần lưu tâm để tránh điều mà chuyên gia phụng vụ và thần học gia Andrea Grillo từng cảnh báo: “Khi cho các linh mục được tuỳ nghi lựa chọn nghi thức, Tự sắc đã làm suy yếu tính thống nhất phụng vụ của Giáo hội và đôi khi tạo ra hai Giáo hội song song trong các giáo xứ. Đó là một sự phá vỡ truyền thống”. [6]

Giáo Hội không hoàn toàn cấm hay cản trở các tín hữu có lòng mộ mến Thánh lễ truyền thống và muốn cử hành Thánh lễ này. Tuy nhiên, mỗi giáo hội địa phương ở từng quốc gia có bối cảnh, truyền thống, và mục vụ riêng. Thế nên, nhóm tín hữu nào muốn cử hành Thánh lễ La-tinh cần gặp gỡ và trao đổi với Đấng Bản quyền giáo phận để trình bày thỉnh nguyện của mình, trong khi sẵn sàng chờ đợi với lòng kiên nhẫn, cũng như sẵn sàng chấp nhận bất cứ quyết định nào của Bản quyền với lòng khiêm tốn vâng phục như con thảo đối với vị cha chung của giáo phận.

Chỉnh Trần, SJ.

----------------------------------------------------------

[*1] Bản dịch của Lm. Trần Công Nghị và Đặng Minh An - Source: http://w2.vatican.va

[2] Trích từ Tự Sắc Summorum Pontificum

[3] Bản dịch của Nguyễn Trọng Đa đăng trên website Cựu Chủng Sinh Huế: http://www.cuucshuehn.net/Giao-Hoi-Cong-giao/Toan-van-cua-Huan-thi-Ecclesiae-Universae-622.html

[4] EU 15.

[5] Linh Tiến Khải, “Quan Điểm Của Một Chuyên Gia Phục Vụ Về Tự Sắc ‘Summorum Pontificum,’” Đài Vatican, 24/07/2007http://www.archivioradiovaticana.va/storico/2007/07/24/quan_%C4%91i%E1%BB%83m_c%E1%BB%A7a_m%E1%BB%99t_chuy%C3%AAn_gia_ph%E1%BB%A5ng_v%E1%BB%A5_v%E1%BB%81_t%E1%BB%B1_s%E1%BA%AFc_%E2%80%9Dsummorum_pontificum/vie-146374 (truy cập ngày 23/08/2020).

[6] Minh Đức, “Đức Thánh Cha Phanxicô Đang Xem Xét Lại Tự Sắc Summorum Pontificum", Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, 10/07/2017, https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/duc-thanh-cha-phanxico-dang-xem-xet-lai-tu-sac-summorum-pontificum-29814 (truy cập ngày 23/08/2020).

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan