SUY NIỆM CHÚA NHẬT 25 THƯỜNG NIÊN - A

19-09-2020 275 lượt xem

(Is 55,6- 9; Pl 1,20c.24- 27; Mt 20,1- 16a)

Mục Lục

CÔNG BẰNG VÀ TÌNH THƯƠNG+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

TẤT CẢ ĐỀU LÃNH MỖI NGƯỜI MỘT ĐỒNGLm. Antôn Nguyễn Văn Độ

PHẢI CHĂNG THIÊN CHÚA QUÁ BẤT CÔNG???Giuse Vinhsơn Ngọc Biển, SSP

LÒNG TỐTLm. Giuse Nguyễn Hữu An

CÔNG BẰNGTrầm Thiên Thu

BẠN GHEN VÌ LÒNG TỐT CỦA CHÚA SAO?Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

CHỚ GANH TỴ - Đinh Công Huỳnh

CHÚA YÊU CHỈ VÌ CHÚA MUỐNLm. JB. Nguyễn Minh Hùng

TÌNH YÊU CHÚA BAO LA, LÒNG QUẢNG ĐẠI CHÚA VÔ BIÊNBác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

ĐỜI NHO - Viễn Dzu Tử

CÔNG BÌNH VÀ NHÂN HẬU - (Thế Kiên Dominic)

CÔNG BẰNG VÀ TÌNH THƯƠNG

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

Trong cuộc sống đời thường, người ta hay nói đến công bằng như một lý tưởng phấn đấu và là một điều kiện căn bản để xây dựng một xã hội phồn vinh hạnh phúc. Tuy vậy, ở đời này không bao giờ có công bằng tuyệt đối. Bởi lẽ ngay khái niệm công bằng cũng được hiểu rất khác nhau, tuỳ theo quan điểm chính trị, văn hoá và xã hội của con người.

Thiên Chúa là Đấng công bằng. Giáo huấn của Kinh Thánh khẳng định với chúng ta như thế. Tác giả Thánh vịnh đã viết: “Quả thật Chúa là Đấng công bằng, ưa thích điều chính trực; những kẻ sống ngay lành được chiêm ngưỡng Thánh Nhan” (Tv 10,7). Không chỉ công bằng, nơi Chúa còn có tình thương và lòng nhân hậu. Ở đời này, hiếm thấy công bằng và tình thương đi đôi với nhau. Dân gian ta thường nói: “Thương em anh để trong lòng, việc quan anh cứ phép công anh làm”. Điều đó cho thấy đã công bằng thì không (hoặc rất khó) mà có tình thương và không có sự nể nang tình nghĩa. Đây cũng là điều cần thiết bởi nếu không xã hội sẽ rối loạn như giao thông không có đèn hiệu.

Dụ ngôn ông chủ vườn nho hôm nay chứng minh cho thấy: Thiên Chúa vừa công bằng và tràn đầy tình thương. Thiên Chúa không hành động nhỏ nhen như con người. Chúng ta thường có thói quen "suy bụng ra bụng của Thiên Chúa", có nghĩa là chúng ta thường gán cho Thiên Chúa những cách xử sự nơi thế giới nhân loại, cũng hận thù và tiểu nhân. Từ đó, chúng ta phàn nàn kêu trách Chúa khi đau khổ thiếu thốn. Tệ hơn, nhiều lúc chúng ta phê phán Chúa vì Ngài tốt bụng với người khác. Qua ngôn sứ Isaia, Thiên Chúa đã khẳng định: “Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải đường lối của Ta… Trời cao hơn đất chừng nào, thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng của các ngươi chừng ấy” (Bài đọc I).  Những lời này dạy chúng ta phải có cái nhìn rộng lượng hơn trong cách đối xử với tha nhân, như Thiên Chúa là Đấng bao dung và quảng đại.

Chúa Giêsu đến trần gian để mạc khải cho con người tình thương bao la của Chúa Cha. Ngài thương hết mọi người và từng người, nhất là những tội nhân và những kẻ bé mọn. Trong khi đó, nhiều người Do Thái, nhất là người Biệt phái và các luật sĩ lại ghen tỵ vì Chúa Giêsu. Họ phê phán Chúa vì Người gần gũi những người tội lỗi và những kẻ bần cùng. Dụ ngôn "thợ làm vườn nho" nhằm diễn tả lòng bao dung của Thiên Chúa và sự ích kỷ của con người. Nếu Thiên Chúa là Đấng rộng rãi bao dung, thì con người lại quá nhỏ nhen ích kỷ. Những người thợ đã làm từ đầu ngày ghen tương trước lòng tốt của ông chủ, trong khi đó, ông chủ vẫn làm đúng điều ông đã cam kết. Ông không hề làm cho họ bị thiệt hại. Họ ghen tương và phàn nàn bất mãn chỉ vì ông chủ tốt với người khác. Thái độ của những người này làm chúng ta liên tưởng đến người con cả trong dụ ngôn "Người cha nhân hậu" được Chúa nói trong Tin Mừng Thánh Luca (x. Lc 15,25-32). Anh ghen tương và phẫn nộ vì cha mình xử tốt với đứa em khi nó đi hoang trở về. Đó cũng là thái độ của chúng ta, khi muốn Chúa phải xử theo ý muốn hẹp hòi của mình.

Đối lại với lời phàn nàn trách móc, ông chủ đã đặt ra hai câu hỏi: "Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tùy ý định đoạt về những gì là của tôi sao? Hay vì thấy tôi tốt bụng mà bạn đâm ra ghen tức?" Qua hai câu hỏi này, ông chủ muốn phê phán những người thợ tự cho mình là đáng giá hơn người khác, để dựa vào đó mà phản đối lòng tốt của ông chủ. Người chủ vườn là hình ảnh của Thiên Chúa, Đấng bao dung nhân hậu. Ngài sai Con Một là Đức Giêsu đến trần gian để sống gần với họ. Điều này làm những người tự coi là "công chính" không hài lòng. Bởi lẽ, theo suy nghĩ của họ, chỉ có họ là được Chúa yêu thương. Việc Chúa Giêsu gần gũi những người thu thuế và những người tội lỗi được họ coi như một thiệt thòi đối với họ, vì thế mà họ nổi loạn và trách móc phàn nàn. Họ giống như một số người có thái độ “ghen ngược” trong xã hội hôm nay, kêu ca phàn nàn trách móc trong khi mình không có quyền gì để làm những điều đó. Thiên Chúa yêu thương và cứu vớt những người bị đẩy ra bên lề cuộc đời. Họ là những người không ai thuê, mặc dù vào giờ thứ mười một, tức là đã xế chiều. "Không ai mướn chúng tôi!". Lời này đã diễn tả tình trạng bi đát và khốn cùng của họ. Không ai mướn, tức là ngày đó không có lương, và như thế, cả vợ con và gia đình họ cũng không có gì sống. Ông chủ vườn nho là người thấu hiểu điều đó. Vì vậy, ông trả lương cho họ giống như những người đã làm từ sáng. Đó là đồng lương của lòng nhân hậu.

Ngày hôm nay, Thiên Chúa vẫn luôn tỏ lòng nhân hậu đối với con người, không phân biệt sang giàu hay đẳng cấp xã hội. Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta tự vấn lương tâm: "Đâu là thái độ của tôi đối với anh chị em đồng loại?". Vì Thiên Chúa nhân hậu bao dung, nên Ngài mời gọi chúng ta hãy sám hối và bỏ đường tà, đoạn tuyệt với quá khứ, thay đổi con tim và canh tân cuộc sống: "Hãy trở về với Chúa - và Ngài sẽ xót thương, về với Thiên Chúa chúng ta vì Ngài rộng lòng tha thứ" (Bài đọc I).

Những lo toan bận tâm thường ngày không thể cản trở chúng ta tìm kiếm Nước Trời. “Chỉ có một điều là anh em phải ăn ở làm sao cho xứng với Tin Mừng của Đức Kitô” – Thánh Phaolô khuyên chúng ta như vậy. Đối với thánh nhân, sự sống hay sự chết chẳng là một điều bận tâm, vì đối với những ai yêu mến Chúa thực sự thì họ chắc chắn được lãnh nhận phần thưởng Nước Trời. Lòng mến Chúa yêu người sẽ thôi thúc chúng ta thực hiện những gì Chúa muốn: “Kẻ gan ác, hãy bỏ đường lối mình đang theo. Người bất lương, hãy bỏ tư tưởng mình đang có mà trở về với Đức Chúa – và Người sẽ xót thương” (Bài đọc I).

Chúa là chủ vườn nho bao dung nhân hậu. Tuy vậy, chúng ta không dựa vào lòng nhân hậu của Chúa mà trễ nải khi được mời gọi vào vườn nho của Ngài. Những người thợ được nêu trong Tin Mừng, khi được mời, đều sẵn sàng nhận lời. Vì vậy mà họ đáng được thưởng công. Vườn nho của Chúa là Giáo Hội, nơi mỗi người tìm thấy bầu khí gia đình thân thương. Vườn nho của Chúa chính là cuộc đời, nơi chúng ta được sai đến để làm chứng cho lòng nhân hậu của Thiên Chúa. Ý thức được điều này, chúng ta sẽ nhận ra giá trị của cuộc sống, nhất là niềm vinh hạnh vì được làm con cái Chúa. mục lục

TẤT CẢ ĐỀU LÃNH MỖI NGƯỜI MỘT ĐỒNG

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Hôm nay chúng ta bắt đầu chu kỳ ba dụ ngôn về vườn nho của Chúa Giêsu. Chúa nhật 25, những người thợ sẽ vào làm vườn nho. Chúa nhật 26, hai người con trai được cha sai đi làm vườn nho, và Chúa nhật 27, những người tá điền muốn giết con ông chủ vườn nho.

Bước vào trong sự thân tình của Chúa

Cây nho trong Kinh Thánh có một ý nghĩa sâu sắc. Nó là biểu tượng của giao ước giữa Thiên Chúa với dân Ngài (Is 5, 1-7 ; Gr 2, 21 ; Ez 15, 4). Câu "hãy đi làm vườn nho ta" (Mt 20, 4) được Chúa Giêsu lặp đi lặp lại trong ba dụ ngôn, theo truyền thống câu này muốn nói: "Hãy đi vào trong Giao ước…Hãy đến chia sẻ Giao ước với ta". 

Chúa Giêsu tự khẳng định mình là cây nho: "Thầy là cây nho thật" (Ga 15, 1-5). Chúng ta được mời gọi vào làm vườn nho của Chúa, được sẻ chia công việc với Chúa, có ý nói, chúng ta dù sớm hay muộn cũng bước vào trong thân tình với Chúa, sống với Chúa. "Hãy đi làm vườn nho ta" còn có nghĩa là "Hãy vào hưởng niềm vui của chủ ngươi" (Mt 25, 21). Từ đây chúng ta mới hiểu được một đồng mà ông chủ trả cho người đến trước cũng như người đến sau là đồng nào.

Đồng lương yêu thương

Dụ ngôn những người làm thuê được mướn làm việc trong vườn nho qua những giờ khác nhau, tất cả lãnh lương giống như nhau là một đồng bạc, đã gây nên một khó khăn cho những người đọc Tin Mừng. Chúa nói với những người làm công: "Các ngươi cũng hãy đi làm vườn nho ta, ta sẽ trả công cho các ngươi xứng đáng" (Mt 20, 4). Có người hỏi: Xứng đáng ở đây là xứng với cái gì? Khi có hai cái bằng nhau, hoặc cái này xứng với cái kia được coi là xứng đáng. Vậy đâu là tiêu chuẩn để Chúa Giêsu trả công xứng đáng? Nhiều người không khỏi ngạc nhiên, nhất là những người đến làm việc trước hết vì tiêu chuẩn trả công của ông chủ. Cách hành xử của ông chủ có chấp nhận được không? Không xúc phạm đến nguyên tắc đền bù xứng đáng sao? 

Khó khăn phát xuất từ một sự sai lầm. Vấn đề đền bù được qui chiếu về sự đời đời, Thiên Chúa "sẽ thưởng phạt mỗi người tùy theo việc họ làm" (Rm 2, 6). Thiên Chúa nhân lành, Ngài có cách tính không giống chúng ta: "Tư tưởng Ta không phải là tư tưởng các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta" (Is 55, 8). Thiên Chúa ban cho con người cái mà Ngài cho là tốt nhất. Tiêu chuẩn của Ngài là tấm lòng, tiêu chuẩn của chúng ta thường là lý trí, và dĩ nhiên không luôn luôn đúng.

Trong dụ ngôn, mức lương được trả là một đồng. Đây là đồng đracmơ; hay đồng đờ-nhê, là thuế mà mỗi Người Do Thái phải nộp vào Đền Thờ Giêrusalem mỗi năm cho việc bảo trì, hoặc đồng "xtate" tiền cổ Hy-lạp là đồng được thánh Phêrô dùng để nộp thuế Đền thờ, phần của ngài và của Chúa Giêsu. Mỗi người nhận được một đồng, có ý nói đến mức lương của một ngày làm việc, một cái gì đó để sống trong ngày như bánh mì chẳng hạn.

Để nhận ra "điểm chính" trong dụ ngôn, chúng ta phải để ý đến qui chiếu của Chúa Giêsu ở đây về một tình huống cụ thể. Đồng bạc duy nhất được trả cho tất cả là nước Chúa, Chúa Giêsu đã mang xuống thế vì yêu thương thế gian. Dụ ngôn bắt đầu: "Nước Trời giống như chủ nhà kia sáng sớm ra thuê người làm vườn nho mình" (Mt 20, 1). Như vậy, Nước Trời là chủ đề chính và là bối cảnh của dụ ngôn.

Đồng lương ơn cứu độ phổ quát

Một lần nữa, vấn đề về ơn cứu độ của người Do thái và dân ngoại, hay của kẻ lành và những người tội lỗi được đặt ra, trước ơn cứu rỗi do Chúa Giêsu mang đến. Mặc dầu chỉ vì nghe huấn giáo của Chúa Giêsu mà người dân ngoại (những kẻ tội lỗi, những người thu thuế, những người đĩ điếm, v.v.) quyết định theo Chúa, trong khi trước lúc đó họ còn đứng đàng xa (nhàn rỗi). Vì ý định theo Chúa mà họ sẽ không có chỗ bậc hai trong vương quốc. Họ cũng sẽ ngồi cùng một bàn như những người khác và hưởng đầy đủ những của cải thời cứu thế.

Chúa Giêsu không cung cấp chúng ta một bài học về đạo đức xã hội, nhưng là bài học về tình yêu của Thiên Chúa với hết mọi người: "Từ sáng sớm, cho đến giờ thứ ba, giờ thứ sáu và thứ chín".

Không có ai là quá muộn để vào Nước Trời. Tất cả những ai chưa khám phá ra tình yêu của Thiên Chúa vẫn được Ngài mời gọi mọi người nam nữ trong mọi giờ và ở mọi lứa tuổi đi làm vườn nho của Chúa! Đây là lời kêu gọi phổ quát. Đó là vấn đề kêu gọi hơn là vấn đề thưởng. Chúng ta đừng bao giờ thất vọng về ơn cứu độ đời đời của chúng ta.

Có nhiều người cần cù, chịu khó, luôn sẵn sàng làm việc nhưng "không ai thuê"; họ nhàn rỗi vì thiếu việc làm và không có người mướn, lòng nhiệt thành đang có sẵn, có tiếng gọi thuê, họ lên đường mà không có sự mặc cả giá tiền như những người trước. Ông chủ đánh giá công việc của họ cách khôn ngoan và trả công cho họ bằng những người khác. Ý muốn nói, dù hoán cải vào "buổi sáng, giờ thứ ba … và thứ mười một giờ " đi chăng nữa, thì hết thảy mọi người đều được đón nhận … anh trộm lành được lên Thiên đàng "vào giờ thứ mười một" anh thực sự là người được mời gọi vào giờ sau hết và trở thành người đầu tiền vào Nước Trời: "Thật hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng với ta" (Lc 23, 43). Chúa không kết án kẻ trộm, Chúa bày tỏ lòng nhân lành của mình; họ đi làm, nhưng "không ai thuê" (Mt 20, 7), nếu người ta không thuê anh, anh "hãy đi làm vườn nho ta" (Mt 20, 4).

Điều mà chúng ta gán cho Thiên Chúa là không xứng đáng với Thiên Chúa, và điều Thiên Chúa ban cho chúng ta vượt quá công trạng của chúng ta: "từ người đến sau hết tới người đến trước hết đều lãnh mỗi người một đồng". Chúng ta không thể trách lòng tốt của ông chủ, vì không thấy gì sai trái trong cách ông hành xử. Ông trả cho mỗi người theo như thỏa thuận và thể hiện lòng thương xót như ông muốn: "Nào tôi chẳng được phép làm như ý tôi muốn sao? "

Một huấn giáo khác có thể rút ra từ dụ ngôn. Ông chủ biết rằng những người làm thuê giờ cuối cũng có những nhu cầu như bao người khác, họ cũng có con cái phải nuôi ăn, như những nguời làm thuê giờ thứ nhất. Khi trả cho mọi người đồng lương y nhau, ông chủ chứng tỏ rằng ông không xét theo công trạng cho bằng theo nhu cầu. Ông chứng tỏ rằng ông không những công bằng, mà còn "tốt lành," quảng đại và nhân đạo. mục lục

PHẢI CHĂNG THIÊN CHÚA QUÁ BẤT CÔNG???

Giuse Vinhsơn Ngọc Biển, SSP

Tại Việt Nam chúng ta không có những cách đồng nho như bên Do thái. Có chăng thì ở khu vực Cam Ranh - Nha Trang, nhưng cũng không nhiều. Còn đại đa số là những cánh đồng lúa; hoặc những khu rừng cao su, tiêu, cà phê hay điều... Vì thế, hình ảnh vườn nho có vẻ hơi xa lạ trong tâm thức đối với đại đa số người dân Việt.

Nhưng dù biết hay không thì cách thức chi trả lương cho những người làm thuê cũng có nhiều điểm tương đồng với những người làm công trong vườn nho của người Do thái.

Tuy nhiên, bài Tin Mừng hôm nay lại đưa ra một nghịch lý khi Đức Giêsu kể dụ ngôn ông chủ vườn nho trả lương cho những người làm công: ông chủ này không tính đến chuyện thợ làm thuê có chuyên môn hay nghiệp dư, cũng không kể đến chuyện giờ giấc của người làm. Vì thế, dù chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, kinh nghiệm hay mới vào nghề, và tham gia làm vườn giờ nào...! Nhưng chiều đến, khi lĩnh lương, tất cả họ đều giống nhau. Tại sao vậy? Ông chủ có bất công không?

Để hiểu được vấn đề này, chúng ta cùng nhau tìm hiểu nguyên nhân tại sao? Và Đức Giêsu có lý gì khi kể dụ ngôn này?

1. Tại sao Đức Giêsu lại dùng dụ ngôn thợ làm vườn nho?

Trước tiên, chúng ta cần hiểu ý nghĩa của vườn nho mà Đức Giêsu muốn nói tới ở đây.

Vườn nho được Đức Giêsu kể trong dụ ngôn chính là hình ảnh của Giáo Hội. Vườn nho ấy đến mùa thu hoạch, chính là sứ mạng truyền giáo đang cấp bách, điều này được bổ túc thêm khi Đức Giêsu nói: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặp lại ít”.

Thứ đến, người mời gọi là chính Thiên Chúa. Người gọi hết mọi người, không phân biệt tốt xấu, giỏi hay dốt, thành phần nào, già hay trẻ... Nhưng Người gọi bất cứ ai Người muốn! Cách thức này Đức Giêsu muốn thay đổi quan niệm nơi người Dothái, họ chỉ coi là mình họ được cứu độ, còn những dân tộc khác thì không, họ tỏ ra khinh bỉ hay ghen tức với cách hành xử của Đức Giêsu với những người không thuộc Dothái, vì thế, Đức Giêsu mới nói: "Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tùy ý định đoạt về những gì là của tôi sao?"; “Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức?”. Thật vậy, Thiên Chúa không chỉ dành ơn cứu độ cho dân Dothái, nhưng là cho muôn dân muôn nước không trừ ai. Hơn nữa, Người còn tỏ lòng thương xót đặc biệt hơn đối với những ai bị coi là hèn kém.

Tiếp theo, cách thức trả lương. Người không trả lương theo kết quả công việc. Cũng không trả lương theo kiểu làm bao nhiêu ăn bấy nhiêu. Mà Người trả lương cách đồng đều theo sự thỏa thuận lúc ban đầu. Tức là một đồng cho tất cả mọi người. Người đến sớm cũng như kẻ đến muộn, người giỏi cũng như dốt, người già cũng như trẻ... Cách thức này cho thấy lòng nhân từ, thương xót và bao dung của Thiên Chúa dành cho hết mọi người chứ không phải chỉ dành cho một số người đặc tuyển. Mặt khác, cũng làm toát lên việc: “Thiên Chúa để ý đến tinh thần của người tham gia vào công việc của vườn nho”.

2. Hiểu và thực hành sứ điệp Lời Chúa

Qua Lời Chúa hôm nay, Đức Giêsu không muốn ai phải thất vọng, mọi người đều có chỗ đứng trong Giáo Hội và đều có trách nhiệm tham gia vào sứ mạng truyền giáo. Thật vậy, tính phổ quát của ơn cứu độ không chỉ dành riêng cho chúng ta là người Công Giáo, nhưng là cho muôn dân muôn nước, không trừ ai. Đồng thời, Đức Giêsu cũng mặc khải về lòng bao dung, quảng đại và thương xót của Thiên Chúa.

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy can đảm, trung thành, yêu mến và dấn thân vào làm vườn nho của Chúa, bằng cách sống tốt và chu toàn bổn phận của mình theo thánh ý Chúa dựa trên tình yêu. Vì thế:

Trước tiên, cần loại bỏ thái độ tự tôn, kiêu hãnh và coi thường người khác. Đừng bao giờ nghĩ rằng mình thuộc thành phần đương nhiên được cứu độ, còn người khác, họ chỉ là đám dân thường, tội lỗi, dốt nát, nên không cần quan tâm. Cũng cần có sự cảm thông, cộng tác để cùng nhau làm việc thiện thay vì ganh đua, ghen tỵ khi thấy người khác tốt lành hơn mình, hoặc người ta làm được nhiều điều hữu ích hơn chúng ta.

Tốt hơn là hãy ý thức mình chỉ là đầy tớ bất tài, vô dụng, nhưng lại được Chúa thương chọn và gọi để đi làm vườn nho cho Người. Vì thế, hãy dâng lời tạ ơn Chúa và cố gắng với khả năng của mình, làm sinh lợi nén bạc Chúa trao trong sự yêu mến với lòng nhiệt huyết tông đồ.

Thứ đến, hãy kiên trung, tin tưởng vào lòng thương xót của Thiên Chúa, đừng thất vọng vì thấy mình không giỏi giang hay tội lỗi. Hãy nhớ rằng: Thiên Chúa luôn để ý đến những người “đứng chót”. Phần còn lại là của chúng ta, nếu chúng ta biết cộng tác với ơn Chúa trong sự khiêm tốn, ắt Chúa sẽ trả công hậu hĩnh và Người sẽ làm những điều kỳ diệu khi: “Những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót”.

Hiểu được tình thương của Thiên Chúa như thế, hẳn chúng ta thấy Thiên Chúa rất công bằng do lòng nhân từ của Người chứ không phải bất công như những người Dothái và ngay cả chúng ta đã lầm tưởng!

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết khiêm tốn và yêu mến Chúa tha thiết. Biết gắn bó với sứ mạng truyền giáo trong Giáo Hội. Luôn tin tưởng vào tình thương của Thiên Chúa và trung thành với bổn phận của mình. Amen. mục lục

LÒNG TỐT

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Người ta thường nói rằng: “Lòng tốt là thứ mà người điếc có thể nghe và người mù có thể thấy”. Bởi vậy hãy bắt đầu làm điều tốt lành cho ai đó xung quanh mình, bạn sẽ thấy điều đó ở khắp nơi. Hương thơm của lòng tốt lan tỏa rất xa. Hương vị của lòng tốt chan hòa trong một cuộc sống an lành. Không cần “khắc cốt” những gì mình đã trao đi, nhưng cần “ghi tâm” những gì mình được nhận từ những người khác, đó là điều thật đáng quý.

Tin mừng hôm nay kể về Dụ ngôn “thợ làm vườn nho”. Ông chủ vườn nho 5 lần trong ngày đi kiếm người làm vườn vào những thời điểm khác nhau, cuối ngày ông trả tiền công cho mỗi người 1 đồng. Ý nghĩa dụ ngôn diễn tả lòng tốt của Thiên Chúa. Lòng tốt vượt trên lẽ công bình. Thiên Chúa kêu gọi mọi người vào hưởng hạnh phúc là do lòng nhân hậu của Ngài.

“Quả thế, về Nước Trời thì cũng như một gia chủ kia, ngay vừa tảng sáng, đã ra thuê thợ cho vườn nho của ông …”. Giữa một “chợ người” ít việc nhiều người, các ông chủ ra thuê thợ làm việc và trả công nhật. Chúa Giêsu quan sát và lấy hình ảnh cụ thể này ở Do thái để mạc khải mầu nhiệm Nước Trời. Người kể dụ ngôn ông chủ vườn nho với các thợ làm việc các giờ khác nhau trong ngày.Tiền công nhật là 1 đồng, giá thỏa thuận đôi bên.Gia chủ thuê thợ làm vườn nho vào các giờ giấc khác nhau.

Những người được vào làm vườn nho trước nhất: “Sau khi đã thỏa thuận với họ là mỗi ngày một đồng, ông sai họ vào vườn nho làm việc”. Đây là sự công bằng.

Những người được vào làm vườn nho sau hết. Họ muốn có việc làm, họ đứng đợi từ sáng sớm. Khi nghe ông chủ nói: “Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho”, họ rất đỗi vui mừng, vội vàng đi làm việc mà không có thỏa thuận. Đây là tình thương do lòng tốt của ông chủ.

Theo lệ thường, công nhật sẽ chấm dứt lúc 12 giờ tức là 6 giờ chiều. Vậy mà lúc 5 giờ chiều ông chủ còn ra thuê nhân công. Những người làm từ giờ 11, họ chỉ làm việc 1 giờ là nghĩ. Trong khi đó người làm từ sáng, lao động cả ngày. Vậy mà cuối ngày khi trả lương, ông chủ lại trả bắt đầu từ người sau hết là 1 đồng. Những người làm trước tưởng là được nhiều hơn, nhưng cũng chỉ 1 đồng mà thôi. Họ phản đối, họ trách móc vì họ bị hai thiệt thòi: kẻ khác làm 1 giờ mà họ 12 giờ, kẻ khác làm lúc trời mát mẻ, họ làm cả ngày dưới trời nắng nóng. Họ càm ràm với chủ. Nếu ông chủ trả lương cho người làm sau ít hơn, chắc họ chẳng hề tỏ vẻ khó chịu. Nếu họ không hay biết số tiền mà ông chủ trả cho người làm sau chắc là họ vui vẻ và biết ơn khi trở về nhà. Nhưng vì biết được nên họ giận dữ và ghen tị. Rõ ràng người ghen tị không vui được với người vui, bởi lẽ họ không biết yêu thương.

Ông chủ trả lương như vậy có bất công không? Chắc chắn là không vì ông trả đủ số tiền đã thỏa thuận là 1 đồng. Vì người ghen tị lầm bầm than phiền nên ông trả lời: “Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn, bạn chẳng thỏa thuận với tôi là 1 đồng hay sao? Cầm lấy phần bạn mà về đi, còn tôi, tôi muốn cho ai là tùy tôi, chẳng lẽ tôi không có quyền tùy ý định đoạt là những gì của tôi sao? Hay vì tôi tốt bụng mà bạn ghen tức?”. Hành động của ông chủ không phải là do ông bất thường, bất công, nhưng do ông chủ tốt lành.Tốt ở chỗ là không muốn ai phải thua thiệt sút kém. Ông muốn ai cũng may mắn, ai cũng có tiền về nuôi gia đình. 1 đồng ông phát cho người làm giờ 11 không phải là do công bình. Đồng bạc ấy là do lòng tốt của ông ban tặng.

Gia chủ là Thiên Chúa. Các tay thợ là loài người nhận ra Thiên Chúa qua nhiều thời kỳ khác nhau. Thợ làm giờ thứ 11 là người tội lỗi. Làm vườn nho là vào Nước Trời và thực thi luật pháp Nước Trời. Các thợ cằn nhằn là nhóm Pharisiêu, Luật sĩ. Họ ghen tương vì Chúa Giêsu đối xử khoan dung với người tội lỗi, yêu thương dân ngoại. Các thợ làm ít lãnh nhiều là các người ngày hôm qua sống trong tội lỗi, ngày hôm nay là công dân Nước Trời.

1 đồng là vé vào Nước Trời. Kẻ làm trước người làm sau, tất cả đều được Thiên Chúa ban cho Nước Trời. Thiên Chúa ban cho ai là do lòng tốt của Ngài. Yếu tố chính Chúa Giêsu nhấn mạnh là Thiên Chúa quảng đại vô cùng. Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót đối xử rất nhân từ với mọi người. Đặc biệt đối với dân ngoại là những người được gọi vào Giáo hội qua những giờ sau hết. Đối với những người này, Thiên Chúa cũng ban cho mọi quyền lợi và đặc ân như người Do thái là những kẻ được gọi từ đầu. Thiên Chúa nhìn nhận sự việc theo lòng lân tuất của Ngài. Con người nhìn theo quyền lợi, tính toán hơn thiệt. Thiên Chúa ân thưởng, trả công cho ai tùy theo lòng tốt của Ngài. Thiên Chúa trả công, không làm thiệt hại ai, Ngài luôn công bằng. Qua dụ ngôn, Chúa Giêsu muốn minh chứng rằng: trong cách thức hành động của mình, Thiên Chúa không đi theo những qui tắc lề luật của sự công bình hạn hẹp, cứng nhắc. Ngài chỉ thực thi theo sự tốt lành, theo thúc đẩy bởi tình yêu của mình. Ngài hào phóng thi thố lòng thương xót và hoàn toàn tự do trong các việc thiện hảo.

Thiên Chúa yêu thương hết mọi người và mong muốn mọi người được ơn cứu độ. Nhiều lần trong ngày ông chủ ra chợ tìm thuê thợ làm việc vườn nho là hình ảnh của Chúa yêu thương. Không phải con người tìm Chúa, nhưng chính Chúa đi tìm con người. Không phải tìm một lần mà tìm suốt ngày, từ giờ này sang giờ khác. Nếu những người được thuê vào buổi sáng sớm tượng trưng cho những người có số phận may mắn, có khả năng hơn người khác, thì những người được thuê vào cuối ngày tượng trưng cho những người kém may mắn, kém khả năng, bị thiệt thòi trong xã hội. Ông chủ thuê hết mọi người từ sáng sớm cho đến chiều tà, từ người sang đến kẻ hèn, từ người tài giỏi đến những người kém cỏi, từ người khỏe mạnh đến người yếu kém, là hình ảnh diễn tả tấm lòng nhân hậu của Thiên Chúa. Ngài muốn mời gọi hết mọi người, mong muốn hết mọi người được ơn cứu độ, được hưởng hạnh phúc trong Nước Chúa.

Một xã hội công bằng bác ái, ai ai cũng ước mơ và hướng tới. Công bằng luôn phải đi đôi với bác ái.Thiên Chúa là Đấng công bình và yêu thương, Ngài ân thưởng, trả công cho mỗi người đúng theo việc họ làm. Chúa Giêsu cũng đã từng dạy : làm thợ thì đáng được trả công. Tuy nhiên, tình yêu Thiên Chúa bao la, con người không thể hiểu thấu. Bài đọc 1, ngôn sứ Isaia nói: lòng nhân từ của Thiên Chúa vô biên, vượt trên mọi toan tính của con người, vượt qua mọi chuẩn mực, vượt trên tất cả những lý sự và mong ước của con người. Con đường Ngài đi là con đường tình yêu, vượt lên trên mọi luật lệ, phép tắc của con người. Tình yêu của Ngài cũng vượt lên trên cả đức công bình, vượt xa mọi ranh giới và mọi nghĩ suy của con người. Thiên Chúa không chỉ là một ông chủ mà còn là một người cha. Thiên Chúa công bình yêu thương, tốt lành. Hồng ân Ngài ban chan chứa. Con người đón nhận với lòng biết ơn.

Hồng ân thì khác với công lao. Hồng ân là một ơn ban dựa vào lòng tốt của người ban ơn. Hồng ân làm cho người lãnh nhận tràn đầy lòng biết ơn. Công lao là tính toán dựa trên công sức người làm việc. Công lao thì cần phải đòi lại điều gì tương xứng bằng tiền lương, bằng đền bù, bằng trả lại theo lẽ công bằng.

Có một sự khác biệt giữa lối sống đạo dựa trên hồng ân và lối giữ đạo nhằm vào công trạng. Người ta có thể chấp nhận “giữ đạo” để được “lên thiên đàng”. Nhưng người ta cũng có thể “sống đạo” chỉ vì muốn đền đáp hồng ân bao la của Thiên Chúa. Lối giữ đạo theo công trạng sẽ làm cho người Kitô hữu trở thành “kẻ làm công”. Chẳng hạn, việc quét nhà thờ hàng tuần, nhiều người so bì cò kè tính toán, với cái nhìn ích kỷ ghen tị với người khác. Tại sao mình không nghĩ đến bao nhiêu ơn lành Chúa đã thương ban cho mình và gia đình, mỗi tháng chỉ dành 1-2 giờ quét nhà thờ làm sạch sẽ đẹp khuôn viên, công việc ấy như một tâm tình đáp lại hồng ân Chúa thương ban?

Sống đạo kiểu người làm công nên người ta hay càm ràm phản đối ông chủ: “Chúng tôi lao lực suốt cả ngày mà ông trả công cho chúng tôi bằng những người đến sau hết!”. Ông chủ trả lời: “Tôi có bất công với mấy anh đâu! Mấy anh đã thỏa thuận với tôi là một đồng một ngày, thì tôi đã trả đủ cho mấy anh rồi. Tôi muốn trả cho những người đến sau bằng các anh thì có can gì đến các anh? Hay là các anh ganh tị vì tôi rộng rãi?”. Các anh thật hẹp hòi. Đáng lý ra, các anh phải mừng cho những người đến sau, vì họ may mắn gặp được một ông chủ có lòng tốt. Tại sao các anh lại nhăn nhó vì tình thương của ông chủ đối với những người đến sau?

Lối sống đạo như một hồng ân làm cho người Kitô hữu trở thành con cái hiếu thảo với Thiên Chúa là Cha yêu thương. Nhờ đó Kitô hữu sẽ nhận ra hồng ân của Chúa nơi mọi sự, khắp mọi nơi, trong mọi lúc, tràn ngập cuộc đời, để biết hân hoan ca tụng Chúa, biết vui mừng vì hồng ân Chúa nơi anh chị em của mình. Sống yêu thương quan tâm đến những người kém cỏi, bé nhỏ, nghèo hèn.

Một xã hội tốt đẹp là mọi người ân cần giúp đỡ những người bé nhỏ. Một xã hội văn minh khi mỗi người biết quan tâm tới những người kém may mắn. Nếu chỉ nghĩ đến bản thân mình, ta sẽ thấy cuộc đời chỉ toàn bất công. Nếu biết nghĩ đến người khác, ta sẽ thấy cuộc đời thật tươi đẹp và chan chứa tình người.Cuộc đời ai cũng cảm thấy ấm áp khi được quan tâm, bởi vậy lòng tốt là một nguồn năng lượng tích cực giúp cho con người xích lại gần nhau hơn.Lòng tốt giúp con người có thêm niềm tin. Tin rằng mình luôn làm điều tốt thì mình đang đi trên con đường yêu thương. Lòng tốt mang đến cho ta niềm vui, niềm hy vọng. mục lục

CÔNG BẰNG

Trầm Thiên Thu

Đại nhân Mahatma Gandhi xác định: “Luật lệ không công bằng thì tự nó đã là một dạng bạo lực.” Công bằng liên quan con người, Brian Tracy phân tích: “Bạn sẽ HỐI TIẾC rất nhiều điều trong đời, nhưng bạn sẽ KHÔNG BAO GIỜ HỐI TIẾC vì đã quá tốt hoặc quá công bằng.”

Tay làm, hàm nhai; tay quai, miệng trễ. Đó là tất yếu. Thật vậy, Thánh Phaolô nói: “Ai không chịu làm thì cũng đừng ăn!”(2 Tx 3:10) Đó là công bằng. Lao động chân chính là dùng sức mình để làm việc có mục đích (tốt) và có ý thức. Lao động không chỉ là cách mưu sinh mà còn là cách trau dồi sức khỏe, đặc biệt là tránh dịp tội: “Nhàn cư vi bất thiện.”Lao động chân tay hoặc lao động trí óc đều cần thiết, có giá trị nhất định, không ai hơn ai. Mỗi người một việc để bổ túc lẫn nhau. Chỉ có lòng người xấu và hèn hạ, không có nghề xấu, nghề hèn.

Làm việc gì cũng phải chịu khó, chứ đừng khó chịu. Người chịu khó lao động là người biết tự trọng, không ỷ lại vào người khác, tức là không ích kỷ, là một dạng phục vụ, và cũng là cách giúp đỡ người khác. Những người lười biếng là một dạng bóc lột sức lao động của người khác, cướp công sức của người khác.

Ngày 15-05-1891, ĐGH Lêô XIII (1810-1903) đã năm ban hành Thông điệp Rerum Novarum (Tân Sự) liên quan giới lao động, thông điệp này vẫn còn giá trị ngày nay. Ngày 14-09-1981, dịp kỷ niệm 90 năm ban hành Thông điệp Rerum Novarum, ĐGH Gioan Phaolô II (1920-2005) đã ban hành Thông điệp Laborem Exercens (Lao Động của Con Người), đề cập vấn đề Tin Mừng trong sự lao động và trong công việc. Điều đó cho thấy sự lao động là hoạt động quan trọng, cả thể lý và tâm linh, vì Chúa Giêsu cho biết: “Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc.” (Ga 5:17) Thiên Chúa đã dạy chúng ta qua cách hoạt động của Ngài: Lao động 6 ngày, chỉ nghỉ 1 ngày cuối tuần. (x. St 1:1-31 – 2:1-3)

Công việc có liên quan luật lệ, đặc biệt là luật của Chúa. Có câu chuyện kể rằng…

Có hai người tên Tốt và Lành nói chuyện với nhau về công việc đời thường và tinh thần. Anh Tốt chê anh Lành về việc giữ ngày Chúa Nhật – cầu nguyện, đọc kinh, dự lễ,... Anh Lành cười và đặt vấn đề:

– Này nhé, nếu tôi có 7 đồng, tôi ra đường và gặp một người ăn mày, tôi cho anh ta 6 đồng, anh nghĩ sao?
– Ôi, anh thật là đại lượng, đáng khen, còn người ăn mày kia chắc phải cảm ơn anh lắm.
– Đúng vậy. Thế nhưng người ăn mày kia lại đè tôi xuống để lấy nốt một đồng nữa. Vậy anh nghĩ sao?
– Cái thằng khốn nạn thật. Nó đáng chết!
– Đó là chuyện giữ ngày Chúa Nhật đấy. Anh cứ nghĩ coi: Chúa cho anh 6 ngày để làm việc, Ngài chỉ giữ lại cho Ngài một ngày là Chúa Nhật. Thế mà anh không biết ơn Chúa, không tôn trọng ý Ngài, lại còn dám cướp cả ngày Chúa Nhật. Động thái của anh có khác thằng vô ơn, độc ác và khốn nạn kia không?

Có thể câu chuyện này cũng là vấn nạn của chúng ta, bởi vì chúng ta thường có nhiều lý do để thoái thác và biện hộ cho chính mình, và theo ý mình.

Làm việc gì cũng mệt, không thể thoải mái. Chơi nhiều còn mệt kia mà. Nhưng khi lao động, chúng ta tự hoàn thiện mình qua việc tìm kiếm Chân-Thiện-Mỹ, tức là đi tìm chính Thiên Chúa, vì chỉ có Ngài là Đấng chí thiện. (x. Mc 10:18) Thật vậy, ngôn sứ Êdêkien đã từng nhắn nhủ: “Hãy tìm Đức Chúa khi Người còn cho gặp, kêu cầu Người lúc Người ở kề bên.” (Is 55:6) Ở dưới bầu trời này, cái gì cũng chỉ có một thời mà thôi. (x. Gv 3:1-8) Giờ Thương Xót sẽ đến lúc kết thúc. Vì thế, đừng lần lữa kẻo không kịp: “Kẻ gian ác, hãy bỏ đường lối mình đang theo, người bất lương, hãy bỏ tư tưởng mình đang có mà trở về với Đức Chúa, và Người sẽ xót thương, về với Thiên Chúa chúng ta, vì Người sẽ rộng lòng tha thứ.” (Is 55:7) Đợi nước đến chân mới nhảy thì sẽ không kịp, thời gian cứ lặng trôi và đang dần thu ngắn lại. Chắc chắn có tận thế, và cái chết của mỗi người rất bất ngờ.

Hãy quyết tâm, đừng lần lữa, đừng chần chừ, đừng ngần ngại, và đừng sợ hãi, vì Thiên Chúa đã hứa: “Khi kêu đến Ta, Ta liền đáp lại, lúc ngặt nghèo, có Ta ở kề bên. Ta giải cứu và ban nhiều vinh dự, cho sống lâu, tuổi thọ dư đầy và hưởng ơn cứu độ Ta ban.” (Tv 91:15-16) Ngài không chỉ lắng nghe và đáp lại, mà Ngài còn ban cho chúng ta hơn cả những gì chúng ta ước muốn. Thật là trên cả tuyệt vời, chắc chắn chẳng có thần linh nào ngoài Thiên Chúa chúng ta tôn thờ, vì Ngài là Thiên Chúa duy nhất. (Xh 20:3; Xh 34:14; Đnl 4:35; Đnl 4:39; Đnl 5:7; Đnl 6:4; Đnl 32:39; Kn 12:13; Is 43:10-13; Is 44:8; Is 45:5-6; Is 46:9; Đn 14:41; Hs 13:4; Mc 12:29; Ga 5:44; Ga 17:3; 1 Cr 8:4; 1 Tm 2:5; Gl 3:20)

Là thụ tạo, là phàm nhân, chúng ta không thể nào hiểu hết lòng thương xót của Thiên Chúa, ngay cả tình mẫu tử của người mẹ trần gian mà chúng ta còn chưa hiểu hết huống chi tình yêu Thiên Chúa. Chính Ngài xác định: “Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta. Trời cao hơn đất chừng nào thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy.” (Is 55:8-9) Hạt bụi phàm nhân quá bé nhỏ, li ti như loài vi trùng vậy.

Ngày xưa, người ta so sánh điều không tưởng với chuyện lên cung trăng, tức là không thể xảy ra. Nhưng ngày nay, người ta đã có thể lên cung trăng, có thể bay lượng trên bầu trời, nhưng đó chỉ là một góc nhỏ của trời mà thôi. Khoa học tiến bộ, người ta tìm mọi cách để khám phá bầu trời, nhưng càng khám phá thì người ta càng thấy thăm thẳm, còn nhiều nơi người ta không biết là gì nên gọi là “lỗ đen” – chỉ thấy tối thui. Đành chịu thua!

Thiên Chúa toàn năng, siêu việt, chúng ta chỉ còn biết xưng tụng Ngài: “Ngày lại ngày, con xin chúc tụng Chúa và ca ngợi Thánh Danh muôn thuở muôn đời. Chúa thật cao cả, xứng muôn lời ca tụng. Người cao cả khôn dò khôn thấu.” (Tv 145:2-3) Càng tìm hiểu vũ trụ, người ta càng nhận biết Thiên Chúa. Càng tìm hiểu Thiên Chúa, chúng ta càng kính thờ và tạ ơn Ngài. Đó chính là hành trình đức tin, là quá trình lao động tâm linh.

Tuy cao vời khôn ví, nhưng Ngài lại giàu lòng xót thương đối với mọi người, ai càng yếu thì Ngài càng thương: “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương. Chúa nhân ái đối với mọi người, tỏ lòng nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên.” (Tv 145:8-9) Đúng như Thánh Phaolô đã xác định: “Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội.” (Rm 5:20) Nếu vấp ngã, hãy vững lòng tin và đứng dậy ngay!

Thiên Chúa vô tiền khoáng hậu, vô thủy vô chung, và yêu thương vô bờ bến, nhưng Ngài cũng rất thẳng thắn: “Chúa công minh trong mọi đường lối Chúa, đầy yêu thương trong mọi việc Người làm. Chúa gần gũi tất cả những ai cầu khẩn Chúa, mọi kẻ thành tâm cầu khẩn Người.”(Tv 145:17-18) Vấn đề không phải là tội nhiều hay tội ít, vì ai cũng là tội nhân, chẳng ai hơn ai, nhưng vấn đề cần thiết là chân thành sám hối: “Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Vì Ta không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi.” (Mt 9:13) Ngài thực sự chỉ muốn tình yêu chứ không muốn hy lễ. (x. Hs 6:6) Ước gì không ai trong chúng ta phải nghe lời “nói nặng” của Chúa: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta.” (Mt 15:8; Mc 7:6)

Câu châm ngôn của dân Pháp rất độc đáo: “Đừng vì yêu mến Chúa mà chống đối người khác.” Vào thời Thánh Phaolô, có những kẻ rao giảng về Đức Kitô chỉ vì lòng ganh tị và tranh chấp, nhưng cũng có những người làm điều đó vì ý ngay lành, làm vì bác ái và bênh vực Tin Mừng. Lại có những người loan báo Đức Kitô vì tính ưa tranh giành, không có lòng ngay. Nhưng Thánh Phaolô vẫn bảo là “không sao,” chỉ cần Đức Kitô được rao giảng. Thánh Phaolô mừng vì điều ấy sẽ giúp ngài đạt được ơn cứu độ nhờ Thần Khí của Đức Giêsu Kitô phù trợ.

Cuối cùng, Thánh Phaolô nói: “Đó là điều tôi đợi chờ và hy vọng. Sẽ không có gì làm cho tôi phải hổ thẹn, trái lại tôi hoàn toàn vững tin. Bây giờ cũng như mọi lúc, Đức Kitô sẽ tỏ bày quyền uy cao cả của Người nơi thân xác tôi, dù tôi sống hay tôi chết: vì đối với tôi, sống là Đức Kitô, và chết là một mối lợi.” (Pl 1:20-21) Thánh nhân lý giải: “Nếu sống ở đời này mà công việc của tôi được sinh hoa kết quả thì tôi không biết phải chọn đàng nào. Vì tôi bị giằng co giữa hai đàng: ao ước của tôi là ra đi để được ở với Đức Kitô, điều này tốt hơn bội phần: nhưng ở lại đời này thì cần thiết hơn, vì anh em.” (Pl 1:22-24) Vấn đề là miễn sao có lợi cho Thiên Chúa, tức là để “tuân phục Thánh Ý và vinh danh Chúa” mà thôi. Cũng vì thế mà Thánh Augustinô ước nguyện: “Lạy Chúa, xin cho con biết Chúa, xin cho con biết con.”Biết Chúa là chân nhận chỉ một mình Ngài nhân lành và giàu lòng thương xót để mà tôn thờ Ngài hết linh hồn, hết sức lực; biết mình là tự ý thức yếu đuối và tội lỗi để mà khiêm hạ, quên mình.

Đại nhân Mahatma Gandhi rất thích Tám Mối Phúc của Chúa Giêsu, ông gọi đó là Bản Tuyên Ngôn Độc Lập đầu tiên của nhân loại. Ông có công giành độc lập cho Ấn Độ bằng con đường bất bạo động theo tinh thần của Đức Kitô. Ông đã từng xác nhận thẳng thắn: “Tôi yêu mến Đức Kitô nhưng tôi không phục các Kitô hữu.” Tại sao? Có lần ông vào một nhà thờ Công giáo và thấy bảng ghi: “Cấm người da đen vào nhà thờ.” Ông liền quay ra và không bao giờ đến nhà thờ nữa. Là Kitô hữu, là môn đệ Chúa Giêsu và là con cái Thiên Chúa, chúng ta vô cùng xấu hổ, bởi vì chúng ta bảo người ta yêu thương mà chính mình lại kỳ thị người khác, chỉ lẻo mép nói suông mà không thực hiện. Nước Chúa chưa rộng mở là lỗi của chúng ta: “Lỗi tại tôi mọi đàng!”

Đối với cộng đoàn Philíp, Thánh Phaolô nhắn nhủ: “Chỉ có một điều là anh em phải ăn ở làm sao cho xứng với Tin Mừng của Đức Kitô. Như thế, dù tôi có đến thăm anh em hay vắng mặt đi nữa, tôi vẫn muốn được nghe người ta nói về anh em là anh em luôn đứng vững, cùng chung MỘT tinh thần, MỘT lòng MỘT dạ cùng nhau chiến đấu vì đức tin mà Tin Mừng mang lại cho anh em.” (Pl 1:27) Và đó cũng là lời khuyên dành cho chúng ta hôm nay.

Ai cũng là người lao động vì mỗi chúng ta đều là “người thợ làm vườn nho” cho Chúa. Tuy nhiên, điều cần lưu ý là đừng so đo, ganh tị, liếc xéo, mỉa mai, bè phái,... Sự công bằng vừa đáng mừng vừa đáng sợ: đáng mừng vì Chúa không chấp tội, đáng sợ vì chúng ta cố chấp. Sự sống và sự chết lúc đó mang tính đời đời. Phúc và họa không thể thay đổi. Vấn đề đó được đề cập trong dụ ngôn “ông nhà giàu và Ladarô nghèo khó.” (Lc 16,19-31)

Sau khi nói về phần thưởng dành cho ai biết buông bỏ mọi sự để nhẹ bước theo Ngài, Đức Giêsu kết luận: “Nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót, và nhiều kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu.”(Mt 19:30) Sự hoán vị trái ngược, rất đáng quan ngại. Rồi Ngài kể câu chuyện này: Nước Trời giống như chuyện gia chủ kia, vừa tảng sáng đã ra mướn thợ vào làm việc trong vườn nho của mình. Sau khi đã thoả thuận với thợ là mỗi ngày một quan tiền, ông sai họ vào vườn nho làm việc. Khoảng giờ thứ ba, giờ thứ sáu, giờ thứ chín, rồi giờ mười một, ông trở ra và thấy có những người khác ở không, đang đứng ngoài chợ. Với ai ông cũng bảo: “Hãy đi vào vườn nho, tôi sẽ trả cho các anh hợp lẽ công bằng.” (Mt 20:4)

Nắng nhạt, chiều buông, ông chủ bảo người quản lý gọi thợ lại mà trả công cho họ, bắt đầu từ những người vào làm sau chót tới những người vào làm trước nhất. Những người mới vào làm lúc giờ mười một tiến lại và lãnh được mỗi người một quan tiền. Khi đến lượt những người vào làm trước nhất, họ tưởng sẽ được lãnh nhiều hơn, thế nhưng cũng chỉ lãnh được mỗi người một quan tiền. Họ vừa lãnh vừa cằn nhằn ông chủ bất công, họ so kè việc họ đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, nắng nôi thiêu đốt, thế mà chẳng hơn gì người vào làm muộn.

Rạch ròi và thẳng thắn, ông chủ trả lời cho một người trong đám thợ: “Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thoả thuận với tôi là một quan tiền sao? Cầm lấy phần của bạn mà đi đi. Còn tôi, tôi muốn cho người vào làm sau chót này cũng được bằng bạn đó. Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tuỳ ý định đoạt về những gì là của tôi sao? Hay vì thấy tôi tốt bụng mà bạn đâm ra ghen tức?” (Mt 20:13-15) Trong cuộc sống, ngay cả trong vấn đề tâm linh và bác ái, cái tôi luôn nổi dậy, thế nên chúng ta vẫn thường so đo đủ thứ, “ngụ ý” rằng mình nổi trội hơn người khác. Giả sử Chúa Giêsu cũng đặt vấn đề như vậy với chúng ta như vậy thì chắc hẳn chúng ta chỉ có “câm như hến” mà thôi. Người ta gọi người đó là “Pathological Narcissist” – Người Tự Ái Bệnh Lý, nghĩa là tự yêu mình thái quá hóa thành bệnh lý. Bệnh gì cũng phải điều trị ngay.

Khi há miệng thì mắc quai nón. Vướng víu lắm. Càng nói càng dở, càng nói nhiều càng liều lĩnh, càng lý luận càng đuối lý. Nói nhiều thì sai nhiều. Chúa Giêsu thấy họ im re nên Ngài lặp lại và nhấn mạnh: “Thế là những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót. Vì kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít.” (Mt 20:16) Cứ chảnh như vậy thì công sức lao động trở thành công cốc. Phí đời!

Chính Chúa Giêsu không ngừng mời gọi mọi người tin vào Ngài là Đấng Cứu Độ duy nhất để được trường sinh bất tử, nhưng chỉ ít người được chọn. Động từ “chọn” ở đây không là “thích ai thì chọn,” mà là tùy quyết định riêng của người được gọi với đầy đủ quyền tự do. Sự tự do này do Thiên Chúa ban, có thể hữu ích hoặc bất lợi cho chúng ta, tùy thuộc ý muốn của mỗi người, Thiên Chúa hoàn toàn tôn trọng quyền tự do này. Đó là sự công bằng, vì thế chúng ta không thể biện hộ bất cứ lý do gì.

Có phải là nhiều người không được vào Nước Trời? Rất có thể, vì người ta bướng bỉnh và cố chấp. Đó là lỗi của chúng ta chứ Thiên Chúa thực sự muốn mọi người được hưởng phúc trường sinh với Ngài, không muốn bất cứ ai phải hư mất, bị trừng phạt. Mối nguy là chúng ta ỷ lại, tự cho mình là tốt lành hơn người khác, mạo nhận là đạo đức, thánh thiện và công chính, để rồi “liếc xéo” tha nhân, cho rằng họ là người tội lỗi, xấu xa, thế nhưng chính họ lại có Visa Nước Trời trước chúng ta. (x. Mt 21:31-32) Thế thì thật khốn thay!

Thánh Thomas Aquino cho biết: “Chúng ta không có quyền đòi hỏi, nhưng phải nài xin Thiên Chúa ban cho ơn bền đỗ. Nhận ra những ai là người mà chúng ta phải tránh là phương thế quan trọng để cứu lấy linh hồn mình.”

Lạy Thiên Chúa chí công, xin tăng lực để chúng con kiên trì miệt mài làm việc, xin giúp chúng con biết quên mình, khiêm nhường dấn thân, hết lòng phục vụ vì yêu mến. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. mục lục

BẠN GHEN VÌ LÒNG TỐT CỦA CHÚA SAO?

Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

Anh chị em thân mến,

Dụ ngôn mà chúng ta vừa nghe minh họa hình ảnh về Nước Thiên Chúa. Có nghĩa là qua câu chuyện, chúng ta nhận ra lòng tốt của Thiên Chúa thật bao la và từ đó con người học biết cách hành xử với nhau như những người môn đệ của Chúa. Dĩ nhiên lối cư xử của chúng ta phải được phát sinh từ lòng đại lượng của Thiên Chúa chứ không phải là thái độ phân bì và ghen tỵ khi nhìn thấy người khác được hơn mình.

Trước tiên, theo thống kê chúng ta được biết tỷ lệ con số những người không có công ăn việc làm rất cao vào thời Đức Giê-su. Tình trạng này kéo dài đến khi Tin Mừng được biên soạn. Họ thường tụ họp tại các trung tâm thương mại hay các ngã tư đường để chờ được thuê mướn. Đúng như cách thức mà dụ ngôn mô tả, công việc của họ thường bắt đầu từ 6 giờ sáng đến 6 giờ chiều. Và tiền công của họ nhận được trong một ngày là một quan tiền. Số tiền này đủ trang trải chi phí cho một gia đình.

Về phía ông chủ, ông có cần phải chia ra nhiều thời điểm trong ngày để mướn thợ như trong dụ ngôn đã mô tả hay không? Bởi vì, theo lẽ thường tình thì một ông chủ khôn ngoan trong việc kinh doanh là một con người biết tính toán số thợ cần làm trong ngày chứ không chia nhiều giai đoạn để thuê nhân công như thế. Vậy, việc thuê mướn thợ theo từng giai đoạn như trong dụ ngôn này mang ý nghĩa đặc biệt gì? Có lẽ chúng ta nên chờ đến lúc ông chủ trả lương sẽ thấy rõ ý định của ông hơn.

Việc trả lương theo thứ tự của ông chủ cũng buộc người nghe có phản ứng khác. Giả như ông gọi nhóm đầu tiên đến và trả cho họ theo đúng hợp đồng, rồi họ ra về thì chẳng có vấn đề gì cả. Nhưng ông lại trêu chọc người nghe bằng cách trả một quan tiền cho những người được thuê sau cùng, thì những người thuộc nhóm được mướn trước phải có ý nghĩ là họ sẽ được đối xử một cách công bằng và thỏa đáng so với công sức mà họ đã vất vả đổ ra từ lúc 3g chiều, 12 giờ trưa, 9 giờ và 6 giờ sáng. Họ căn cứ vào cách đối xử của ông chủ với nhóm sau cùng và suy luận rằng họ làm nhiều thì sẽ được tiền công nhiều hơn. Sau cùng, họ giận vì ước muốn và ý nghĩ của họ không được đáp trả.

Thứ tự trả lương và việc thuê nhân công của ông chủ khiến chúng ta phải suy nghĩ rằng không có một ông chủ nào lại làm như thế cả. Nhưng như thường lệ, các tình tiết trong câu chuyện mà Đức Giê-su kể thường có yếu tố khác lạ để kích thích phản ứng của người nghe. Như thế, những tín hữu mà Thánh Mát-thêu nhắm đến, cả chúng ta nữa khi nghe dụ ngôn này thì sẽ nhận ra sứ điệp của dụ ngôn: Thiên Chúa rất công bằng, tuy nhiên sự công bằng của Thiên Chúa không bị bó buộc theo lối tính toán của con người và cũng không làm giảm bớt sự rộng lượng của Thiên Chúa. Người muốn ban cho ai tùy theo ý muốn của Ngài. Và không có luật nào buộc Thiên Chúa phải tuân thủ theo ý muốn của con người.

Thật vậy, ngay từ ngày đầu tiên được đón nhận Tin Mừng, cộng đoàn của Thánh Mát-thêu bao gồm các tín hữu gốc Do Thái và dân ngoại. Họ đã phải đối diện với các vấn đề như được trình bầy trong bài Tin Mừng hôm nay. Những người tín hữu đạo gốc, cậy mình có tổ phụ là A-bra-ham, I-sa-ac và có một truyền thống lâu dài được xây dựng, bồi dưỡng bởi các ngôn sứ thì đương nhiên họ phải được phần thưởng cao hơn và nhiều hơn nếu so với đám dân ngoại mới nhập đạo chứ. Thế mà những người mới gia nhập lại được hứa hẹn là sẽ có phần thưởng như những người đã vất vả từ lúc tảng sáng đến giờ thì làm gì có công bằng! Ai mà chịu được lối cư xử như thế!

Ngày nay, lối suy nghĩ dựa trên tiêu chuẩn so sánh rồi phân bì và ghen tỵ này vẫn còn. Mình là đạo gốc, được sinh ra và thuộc dòng giống của các Thánh Tử Đạo, thế mà giờ đây lại bị xếp ngang hàng với những người mới nhập đạo, thậm chí còn có cả những người mang tiếng là “đạo vợ” hay “đạo gạo” như câu mà chúng ta nghe dạo nào “theo đạo có gạo mà ăn!” thì ai chịu nổi! Nhưng thật là trớ trêu, kết quả cho thấy những người tân tòng lại có niềm tin sâu sắc và bền vững hơn dân đạo gốc chúng mình!

Anh chị em thân mến,

Câu chuyện trong dụ ngôn hôm nay còn nhắc cho chúng ta nhớ rằng sự thèm muốn và ghen tị gắn liền với cuộc sống của con người nữa. Chúng ta thèm muốn những gì Chúa ban cho người khác hơn mình. Vì thế, khi suy tư trình thuật hôm nay, tôi nhìn ra chính mình trong câu chuyện, và đem dụ ngôn áp dụng vào cuộc sống để nhận ra rằng tính phân bì, lòng ước muốn và ghen tỵ vẫn làm chủ cách cư xử và lối sống của tôi.

Như câu chuyện trong dụ ngôn, tôi phải nhìn nhận rằng tôi có xu hướng thèm muốn và bực bội với những gì mà người khác nhận được từ Chúa. Không biết anh chị em đã phân bì, đố kỵ và ghen tị với người khác bao giờ chưa? Câu trả lời của tôi hôm nay không phải chỉ là CÓ mà là BA CÓ: CÓ đố kỵ, CÓ ghen tương và CÓ phân bì.

Tôi chủ trương viết hoa chữ CÓ để nhắc nhở mình phải dè chừng, đừng để cuộc sống bị tính phân bì và đố kỵ làm chủ. Môt cách cụ thể, tôi xin phép thú nhận rằng: tôi, đã nhiều lần, chứng kiến sự thành công và thăng cấp của người khác, ngoài miệng nói lời chúc mừng mà trong lòng vẫn không được vui chút nào, thậm chí lại nghĩ rằng tôi mới là người xứng đáng để đứng vào vị trí đó! Không chỉ có thế, còn mong cho người đó thất bại để thỏa tính ghen tị và không muốn ai hơn mình của tôi.

Tuy nhiên, Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay không lên tiếng khiển trách hay phản đối cách suy nghĩ của những người cằn nhằn lối cư xử của Người. Đức Giê-su nhẹ nhàng và tế nhị nhắc cho họ biết là ông chủ chưa hề đối xử bất công với họ. Ông có quyền và tự do trong cách quản lý và phân chia tài sản.

Thật vậy, Chúa chưa hề đối xử bất công với ai trong chúng ta. Chúa thật quảng đại khi rộng ban cho chúng ta hơn những điều chúng ta dám ước mong hay cầu xin. Khi chủ vườn nho hỏi những người đã làm việc lâu nhất và chăm chỉ nhất cho mình, “Tôi không được phép làm những gì tôi chọn với những gì thuộc về tôi? Hay bạn ghen tị vì tôi rộng lượng? ” muốn làm nổi bật điểm mấu chốt của dụ ngôn, đó là ân huệ, lòng thương xót và sự tha thứ của Thiên Chúa là sở hữu của Ngài và Ngài muốn sử dụng như thế nào thì tùy ý Ngài, chúng ta lấy quyên gì mà so sánh, phân bì, đố kỵ và ghen tương!

Chúng ta hãy nhớ rằng được kêu gọi là thành viên trong gia đình của Thiên Chúa là một vinh dự, là một hồng ân, là một ân huệ được trao ban từ Thiên Chúa. Người không trả công cho chúng ta để làm việc cho Người. Trái lại, những gì mà chúng ta có được hoàn toàn là quà tặng của Người trao ban cho chúng ta. Thái độ làm công của người anh cả trong dụ ngôn Lòng Thương Xót khi anh ta xin ‘hãy đối xử với anh như người làm công của Cha’ đã được Đức Giê-su sửa thành ‘con không biết mọi sự của Cha là của con hay sao’. Tương quan đích thật mà Thiên Chúa muốn chúng ta thiết lập và xây dựng là mối liên hệ Cha – con.

Như vậy, dựa trên mối tương quan đó chúng ta biết rằng Thiên Chúa không trả công cho chúng ta khi làm việc để mở mang Nước Chúa. Trái lại, trong tình yêu và phát sinh từ lòng rộng rãi của Thiên Chúa, Người muốn ban cho chúng ta những gì mà Chúa muốn chúng ta đón nhận. Và chúng ta gọi đó là quà tặng.

Thưa anh chị em,

Nếu anh hay chị muốn tặng một thứ gì đó cho người khác với kỳ vọng hoặc hy vọng rằng họ sẽ làm điều gì đó cho anh chị để đổi lại thì đó không phải là một món quà mà đó là một khoản đầu tư; thậm chí và tệ nhất có thể coi là hối lộ.

Quà tặng được trao ban nhưng không, hoàn toàn miễn phí. Nếu anh hay chị nghĩ rằng mình xứng đáng nhận được thứ gì đó và sau đó nhận được nó thì đó không phải là một món quà mà là một khoản thanh toán mà mình được hưởng hay có thể coi như hoàn trả lại một thứ mà chúng ta đã khẳng định trong lòng từ trước.

Quà tặng không mang tính chất giao dịch. Chúng ta không thể kiếm được quà tặng, chúng ta chỉ có thể nhận được chúng.

Như vậy, chúng ta có quyền gì mà ghen tị khi Thiên Chúa thể hiện lòng tốt lành và rộng lượng trong việc trao ban tặng vật cho con người hay sao?

Tốt nhất và lý tưởng là chúng ta không nên so sánh, phân bì rồi ghen tương. Hãy chăm chú nhớ đến tấm lòng quảng đại, nhân từ, yêu thương và luôn tha thứ của Thiên Chúa. Hãy nhìn lại cách cư xử của ông chủ trong dụ ngôn. Ông đã không làm thiệt hại đến ai và cũng không ăn bớt của ai. Trái lại, ông đã quan tâm đến từng người, bằng cách cung cấp cho họ và gia đình những gì họ cần để sống. Chỉ có như thế, chúng ta mới chấp nhận, không ghen tương và không phân bì với nhau.

Vì vậy, với tâm tình tạ ơn, chúng ta tán dương và ca tụng lòng rộng ban của Thiên Chúa, Đấng đã ban phát cho chúng ta, không chỉ đủ dùng, còn dư dật để làm quà cho người khác nữa. Từ đó chúng ta không chỉ chia sẻ sự vui mừng mà còn là nguồn vui cho nhau. Tạ ơn Cha vì sự rộng ban của Người, Đấng luôn yêu thương và ban phát muôn ngàn hồng ân trước khi chúng ta cầu xin với Người. Amen! mục lục

CHỚ GANH TỴ

CHÚA YÊU CHỈ VÌ CHÚA MUỐN

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Dạo trung tuần tháng 1.2015, tại buổi tiếp kiến dân Philippines trong chuyến tông du đến nước này, một em bé hỏi Đức Thánh Cha Đức Phanxicô: Tại sao Chúa lại để xảy ra sự dữ? Tại sao ít  có người giúp đỡ người tốt? 

Điều đáng nói ở đây là lời hỏi được cất lên trong nước mắt của một con người, lẽ ra chỉ biết hồn nhiên, thơ ngây, an bình trong lứa tuổi ấu thơ của mình. 

Câu hỏi, vì thế trở nên đắng lòng, trở nên chất vấn hay nặng hơn, mạnh mẽ tố cáo thế giới người lớn và những ai nắm giữ hay đang xây dựng cho mình quyền lực thống trị người khác (trong vai trò lãnh đạo hay chức vụ nào đó).

Tại sao có quá nhiều người khổ đau do bất công gây nên ở kỷ nguyên đầy thuận lợi và tiện ích cho con người? 

Bất công xuất phát từ chính lòng tham lam, ích kỷ, yêu bản thân cách vô lối và vô cảm mặc kệ sự sống của người khác ra sao thì ra.

Bất công còn do chủ nghĩa hưởng thụ, óc thực dụng và lối sống vô đạo đức, bất chấp tư cách của mình mà kẻ nắm quyền hành trong tay thể hiện. 

Cứ như thế, xã hội bị những kiểu sống ấy khuynh đảo, làm xói mòn những giá trị nhân văn trong mối tương quan giữa người với người. 

Từ tất cả những kiểu sống ấy, hình thành thói vô cảm ngày càng nặng, càng lan rộng, khiến trái tim con người chai cứng, thời gian phục vụ thành thời gian thủ lợi, tranh thủ vơ vét, để làm giàu, để củng cố quyền lực cách bất chính.

Bằng dụ ngôn những người được mướn làm vườn nho, Chúa phơi bày tội ác của một nhóm người. Đó là kẻ tìm thu vén và trục lợi cho bản thân.

Được chủ mướn làm vườn nho, thay vì xem đây là cơ hội phục vụ, họ cho mình có đặc quyền hưởng lương bổng theo ý, chứ không theo thoả thuận. 

Thoả thuận ban đầu chỉ là điều kiện để hình thành nhóm. Một khi nhóm vững chãi, họ thao túng, đề cao mình, nhân danh mình. 

Không chấp nhận chủ trả lương cho người đến sau bằng mình, họ đang giành giật cho lợi ích của nhóm, của bản thân. Thái độ ganh ghét, muốn phì da, vinh thân cướp mất cơ hội để họ quan tâm và chia sẻ lợi ích cho tha nhân. 

Kẻ chỉ nghĩ đến mình, ham hố mọi thứ cho mình sẽ tự giết khả năng tương giao với tha nhân, trái tim chỉ là băng giá, suy nghĩ chỉ là hạt sạn. Họ trở nên nguy cơ tai hại vô cùng cho tha nhân, cho cuộc sống chung của đồng loại...

Giữa tất cả những bất công, những nhiễu nhương đang càng lúc càng tàn phá mạnh đạo đức xã hội loài người, người Kitô hữu lại được Chúa mời gọi cộng tác cùng Người trao tặng tình yêu, con tim, khối óc nhằm thăng tiến xã hội, phát triển tư cách và đạo đức bản thân, xây dựng sự hiệp nhất, tình bác ái, lòng vị tha và ra sức chinh phục vũ trụ theo sự phát triển và lợi ích của đồng loại... 

Chúa không cần chúng ta ngồi nhìn trời để ca ngợi Chúa. Chúa cần chúng ta ca ngợi Chúa bằng ra sức hiến dâng nhiệt huyết, tình yêu của bản thân để ngày càng giống Chúa hơn, xứng đáng hơn trong địa vị làm con Chúa.

Nếu vườn nho là hình ảnh Hội Thánh, nghĩa là Chúa vẫn tiếp tục mời gọi ta ở lại trong Hội Thánh không phải vì Chúa mà chỉ vì yêu thương chúng ta. Chính trong Hội Thánh, ta là cánh tay của Chúa để xây dựng Hội Thánh, xây dựng trần thế, biết làm việc nghĩa, nâng cao đời sống mình và đời sống tha nhân.

Dù được tuyển chọn vào Hội Thánh, ta không có quyền đòi Chúa phải cho mình nhiều hơn những người khác. Ngược lại, ta hãy phục vụ hết mình, hãy sống vì danh Chúa đến cùng, và làm cho cuộc đời tràn ngập yêu thương. 

Hãy nhớ, Chúa nhân từ nhưng cũng rất công bằng. Trả công là quyền của Chúa. Chúa không làm ai thiệt thòi, không làm ai thất vọng. Chúa sẽ ban phần thưởng xứng đáng cho mọi tôi tớ trung thành. 

Ông chủ trong dụ ngôn làm đúng thoả thuận. Giá mà người làm công từ sớm cứ vui nhận phần mình, chắc chắn họ sẽ được chủ thương. Ông ghi nhận lòng tốt của họ. Ông nể phục người biết yêu thương người khác.

Đâu phải cứ sòng phẳng mới là tình yêu. Đâu phải người kia nhận đúng mức của họ thì tôi phải nhận đúng theo công sức của tôi mới là công bằng.

Sự tồn tại trong lòng ông chủ hình bóng của người được ông hết mực yêu thương, hết mực nể phục, hết mực lưu tâm mới là điều quý giá...

Biết bao nhiêu lần, tôi tặng quà cho A bằng B. Nhưng trong lòng tôi, giá trị của A lớn hơn nhiều, đáng quý hơn nhiều. A nhận quà bằng B. Nhưng chắc gì B nhận tình cảm của tôi bằng tình cảm tôi dành cho A.

Chúa yêu tôi vì tôi luôn yêu Chúa, cố gắng trung thành với Chúa, chứ đâu phải nhờ bổn phận mà tôi thể hiện...!!

Bổn phận ấy, dù hoàn hảo đến đâu, đáng gì mà đòi hỏi tình yêu của Chúa!!

Chúa yêu tôi chỉ vì Chúa muốn. Thế thôi. mục lục

TÌNH YÊU CHÚA BAO LA, LÒNG QUẢNG ĐẠI CHÚA VÔ BIÊN

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

Đọc câu chuyện Phúc Âm hôm nay (Mt 20:1-16), với con mắt người thường, chúng ta cảm thấy khó chịu, có cái gì như bất nhẫn vì tư cách của ông chủ vườn nho đối với thợ. Nhưng với con mắt đức tin của người Kitô hữu và sự khôn ngoan của Chúa, chúng ta phải nghĩ thế nào?

Ý NIỆM MỚI VỀ TƯỚC VỊ VÀ SỰ TƯỞNG THƯỞNG

Qua câu chuyện ngụ ngôn, Chúa Giêsu đã cho chúng ta thấy sự thật thâm kín bên trong được diễn tả bằng những hình ảnh đơn giản nhưng lại kích động mạnh tâm trí chúng ta. Trong cựu ước, dùng ngụ ngôn để diễn tả những câu chuyện xẩy ra thường nhật là một phương pháp giáo huấn phổ quát về luân lý đạo đức cần được áp dụng trong đời sống. Đa số khán thính giả khi nghe những câu chuyện như vậy thì tự mình rút ra kết luận cho mình. Trái lại vào thời các thánh tông đồ, các thánh sử đã diễn nghĩa những câu chuyện của Chúa Giêsu thường là theo cách gián tiếp, nghĩa bóng; nhưng người nghe lại hiểu theo nghĩa đen nên đôi khi không bắt được ý khôn ngoan mà Chúa muốn nói.

Qua câu chuyện ông chủ vườn nho trả tiền công thợ (Mt 20:1-16), Chúa Giêsu đã nêu ra một tư tưởng mới để sửa đổi ý niệm sai lầm cũ về tước vị và sự tưởng thưởng. Câu chuyện phản ảnh bối cảnh kinh tế xã hội ở Palestine vào thời Chúa Giêsu. Câu chuyện có vẻ bất nhẫn và xem ra thiếu công bằng đối với chúng ta.

Để bắt nắm được ý nghĩa thực của câu chuyện ngụ ngôn, chúng ta cần theo dõi sự liên tục của các biến cố xẩy ra từ đầu đến cuối câu chuyện. Ông chủ vườn nho mướn một số thợ lúc 6:00 giờ sáng với giá 1 đồng là tiền công cả ngày. Như vậy chúng ta đã biết là tiền công một ngày là 1 đồng, và những thợ được mướn ở những giờ khác sau đó cũng được trả 1 đồng là do lòng quảng đại của ông chủ. Phải chăng ông chủ đã động lòng thương, băn khoăn nỗi niềm trắc ẩn đối với những người thất nghiệp và gia đình họ, không phải vì nhu cầu cần thợ của ông? Suy nghĩ kỹ, chúng ta sẽ có câu kết luận chính xác.

Những người thợ được mướn đầu tiên lúc 6:00giờ sáng đã được trả công hợp lý và đúng lẽ công bằng theo như giao kèo mà cả hai bên đã chấp nhận. Sự than phiền về việc ông chủ trả lương cho những người thợ được mướn sau cùng vào buổi chiều bằng những người được mướn từ sáng sớm xem ra không cần thiết, bởi vì ông chủ có toàn quyền cho những người được mướn sau cùng thêm tiền vì ông quảng đại, hay có thể vì ông tội nghiệp họ phải đứng chờ đợi suốt ngày nóng bức để mong có người thuê đi làm. Có người biện hộ cho ông chủ bằng cách cho rằng việc làm ở những giờ cuối ngày cũng cực nhọc bằng cả ngày như những người thợ khác. Có người lại hoàn toàn dựa vào lý, cắt nghĩa là mướn thế nào thì trả như vậy, giao kèo là giao kèo. Do đó những người thợ được thuê từ sáng sớm không có lý do gì để than phiền về tiền lương của mình. Nhưng về phương diện cả lý lẫn tình thì phần nào sự than phiền của họ nghe cũng xuôi tai. Tuy nhiên, câu chuyện phúc âm này không có ý nhắm vào vấn đề quản trị lao động, tính đạo đức và công bằng, mà muốn nói về bản tính nguyên thủy của Thiên Chúa là sự quảng đại, lòng thương yêu trắc ẩn bao la và sự quyết định của Thiên Chúa về Nước Trời.

KỂ Ở CUỐI ĐƯỢC ĐƯA LÊN TRÊN, KẺ Ở TRÊN BỊ ĐƯA XUỐNG CHÓT

Câu chuyện cũng được diễn tả trong Phúc âm Mátthêu 19: 30 “nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót, và nhiều kẻ đứng chót sẽ được đưa lên hàng đầu”. Tương tự như ở đoạn 20:8-9, những người thợ được mướn sau cùng không phải bị trả lương ít hơn mà lại được trả bằng những người được thuê từ sáng sớm vì sự cố gắng chờ mong của họ. Câu chuyện đã đưa chúng ta tới đỉnh chót của vấn đề ở câu 15 với câu hỏi “Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tự định đoạt về những gì là của tôi hay sao? Hay vì thấy tôi tốt bụng mà bạn sinh lòng ghen tức hay sao? Vì vậy ông chủ vườn nho có quyển trả lương cho thợ không phải chỉ dựa vào công trình của thợ mà còn dựa vào lòng trắc ẩn thương yêu của ông chủ đối với thợ nữa.

TÌNH YÊU THIÊN CHÚA BAO LA, LÒNG CHÚA QUẢNG ĐẠI VÔ BIÊN .

Tại sao ông chủ tốt bụng, có lòng quảng đại lại bị kết án là bất công? Bởi vì lòng quảng đại của Chúa vô biên, tình yêu của Chúa phi thường. Đây là tư tưởng đã được nói đến trong Cựu Ước về Thiên Chúa là Đấng sáng tạo, tốt lành và quảng đại với tất cả những ai biết trở về với Người. Đó là Thiên Chúa mà chúa Giêsu tin yêu và cùng sống. Nhưng trong con người Chúa Giêsu, niềm thương yêu trắc ẩn, lòng nhân hậu và sự tốt lành có tính Thiên Chúa ấy đã vượt quá sự công bằng của loài người. Do đó những ai theo Chúa Giêsu để làm môn đệ, làm bạn với Người thì phải noi gương bắt chước lòng trắc ẩn phi thường và quảng đại vô biên ấy của Thiên Chúa không nên thắc mắc, đặt vấn đề, từ chối hay tị hiềm gì cả.

Thiên Chúa là Cha của Đức Giêsu Kitô đã biểu lộ đặc tính của Người cho chúng ta trong bài đọc 1 hôm nay qua tiên tri Isaia: “Vì ý nghĩ của ta không phải là ý nghĩ của ngươi –Thiên Chúa phán- cũng như cách thức của ta không phải là cách thức của các ngươi. Vì trời thì cao hơn đất, cho nên cách thức ta làm cao hơn cách của các ngươi cũng như tư tưởng của ta cao hơn tư tưởng của các ngươi” (Isaia 55:8-9)

TỪ “CHỨC VỊ” KHÔNG CÓ TRONG NGÔN NGỮ NƯỚC TRỜI

Có lẽ nhiều người trong chúng ta đã có nhận xét sai lầm như những người thợ được thuê từ sáng sớm (c.12). Đã có lần chúng ta thấy những ông chủ kỳ quái, lại quá quảng đại, cứ thưởng công cho những người thợ lười biếng, có vấn đề hơn là để ý đến những người thợ trung thành, đáng tin cẩn làm việc cực nhọc suốt ngày đêm. Chúng ta trách móc ông chủ bất công? Chúng ta có tự hỏi Chúa đã bất công thế nào? Chúa đã để ý đến những người thợ trung thành nhất của Chúa thế nào? Trong câu chuyện ngụ ngôn này hẳn phải có rất nhiều vấn đề mà chúng ta có thể thắc mắc với Chúa. Vào thời tôn giáo sơ khai, người ta tin rằng loài người có thể thắc mắc  với cả thần thánh để đòi hỏi những điều mà người ta mong ước.

Đã bao nhiêu lần chúng ta làm như vậy với Giáo Hội chúng ta? Một số người có lẽ đã lẩm bẩm than rằng họ làm việc rất bền bỉ, không biết mệt với những công việc đáng tin cậy thì phải xứng đáng được trả công lớn, chức vị cao ngay lập tức, đồng thời phải có đặc quyền đặc lợi và nêu danh uy tín. Trong những lúc như vậy, đáng lẽ chúng ta nên khiêm nhường nhận biết rằng chúng ta cũng như những người thợ làm việc giờ thứ 11. Không một ai trong chúng ta xứng đáng với ân phúc mà Thiên Chúa đã sửa soạn cho chúng ta. Lẩm bẩm và nhìn sang bên cạnh so bì với những người khác thì thường đưa đến những xúc phạm nghiêm trọng khó có thể bỏ qua được dễ dàng. Tất cả những việc lành ta làm không cần phải khai báo với Chúa, ngay cả khi chúng ta chu toàn tất cả mọi việc mà chúng ta buộc phải làm. Chúng ta cũng chẳng có quyền  gì để đòi hỏi Thiên Chúa tôn vinh khen thưởng một cách đặc biệt như chúng ta là những nhân vật cần  được khen thưởng vì nhu cầu sự nghiệp của Chúa. Nên nhớ danh từ “chức vị” không có trong ngôn ngữ của Nước Trời.

Phương thuốc duy nhất để chữa trị những suy nghĩ tình cảm như vậy là ngước mắt nhìn lên Chúa Giêsu đầy lòng khoan dung nhân hậu để nhận ra sự quảng đại vô bờ bến của Ngài. Lý luận của con người thì có hạn nhưng lòng khoan dung và ân sủng của Chúa thì vô biên. Thiên Chúa hành động không theo những tiêu chuẩn loài người của chúng ta. Điều đó có nghĩa là chúng ta phải nhận ra Chúa và chấp nhận Người ở chính nơi những người ở chung quanh ta, những người anh em huynh đệ của chúng ta như Chúa mong muốn. Khi Chúa chọn một người nào để ban ân sủng cho, chúc phúc cho, tặng cho phẩm vật gì thì Chúa cũng không từ chối bất cứ ai khác mà không ban ơn phúc, ân sủng cho họ. Ơn phúc và ân sủng của Chúa thì vô biên, mỗi người chúng ta đều được can dự và chia phần trong đó. Chúa chọn một người nào hay một dân tộc nào thì đó không phải là cái cớ để hãnh diện vì được chọn hay buồn phiền than trách vì bị từ chối không được chọn. Chỉ khi nào cả hai phía đều tỏ ra khiêm tốn, đơn sơ và cùng nhau nhận biết ra Chúa là tình yêu và khoan dung nơi việc làm trong đời sống của mình, thì lúc đó họ mới bắt đầu “ngộ” ra được ý nghĩa đích thực của tình yêu và công bằng, và sau cùng mới đi tới hòa giải và hiểu biết nhau một cách chân thật và sâu đậm.

ĐÔI ĐIỀU SUY TƯ 

Trong Tân Ước, chúa Giêsu dạy chúng ta đừng ghen tương hận thù, vì ghen tương sẽ dẫn chúng ta đến những bất tất như trong câu chuyện ngụ ngôn bài Phúc Âm hôm nay. Những người lẩm bẩm than trách ông chủ thì được ông chủ trả lời: “Bạn ơi, Tôi đâu có ăn gian bớt xén tiền lương của bạn đâu…Phải chăng bạn ganh tị vì tôi quảng đại hay sao?” (Mt20:13-15). 

Hãy để ý đến hai câu Giáo lý Công Giáo sau đây: #2552 - 2553

* 2552: Điều răn thứ 10 cấm tham lam thái quá, sinh ra ham mê của cải và danh vọng quá độ. 

* 2553: Ghen tị là cảm thấy buồn phiền vì phúc lộc của tha nhân và ước ao một cách vô độ để chiếm lấy cho mình. Ghen tị là một tính xấu chủ chốt.

Ghen tị chính là tật xấu khiến con người không thể nhận ra được vẻ đẹp và tính đặc thù của tha nhân, đồng thời còn chối bỏ niềm vinh hạnh của mình. Để tới gần Chúa là đấng hoàn toàn nhất mực nhân từ, đầy vẻ đẹp và lòng quảng đại, thái độ xấu này cần phải được giệt trừ tận căn gốc ngay từ trong thâm tâm sâu thẳm. Ghen tị khiến con người không còn khả năng nhìn ra sự việc, mắt bị mây mù che phủ lấp kín. Ghen tị và tham lam là hai tội phạm vào giới răn thứ 10 của Chúa. Vậy thì chúng ta có thể làm gì để vượt thoát khỏi sự mù lòa và lòng trai đá đó? Hãy suy nghĩ để tự tìm ra câu trả lời.

BÁC ÁI TRONG SỰ THẬT

Nhờ ánh sáng chiếu soi của đoạn phúc âm hôm nay, chúng ta thử coi lại Tông thư Bác Ái trong Sự Thật của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, đoạn # 63 nói về Phát Triển con người toàn diện trong Bác Ái và Sự Thật:

63- Nếu để ý đến những bất ổn liên quan đến phát triển thì không thể không thấy có sự liên hệ rõ nét và trực tiếp giữa nghèo đói và nạn thất nghiệp. Trong nhiều trường hợp, nạn nghèo đói là do ở sự vi phạm nhân phẩm trong việc làm, hoặc bởi vì cơ hội kiếm công ăn việc làm bị giới hạn (vì nạn thất nghiệp hoặc việc làm thiếu) hoặc “bởi vì tiền công thấp so với việc làm và những quyền lợi từ công việc làm, đặc biệt là quyền có lương bổng một cách công bằng cũng như quyền lợi về an toàn của công nhân và gia đình họ”. Vì lý do này mà ngày 1 tháng 5 năm 2000 dịp lễ đại xá công nhân, vị tiền nhiệm của tôi là Đức Gioan Phaolo II đã đưa ra lời kêu gọi “liên kết toàn thể thế giới để có ‘việc làm thích hợp’”, hỗ trợ cho kế hoạch của Tổ Chức Lao Động Quốc Tế. Theo thể thức này, ngài đã đưa ra một đòi hỏi luân lý rất mạnh mẽ cho chủ đích này, như một khát vọng của tất cả mọi gia đình ở mỗi quốc gia trên khắp thế giới. 

Thế nào là công ăn việc làm “thích hợp”?  Nghĩa là việc làm phải nói lên được cái nhân phẩm căn bản của con người, nam cũng như nữ, trong khung cảnh xã hôi đặc biệt của họ: Việc làm phải được tự do chọn lựa, phối hợp một cách hiệu quả các công nhân, nam cũng như nữ, với sự phát triển cộng đồng của họ; việc làm  phải khả dĩ giúp cho công nhân được tôn trọng và không bị kỳ thị vì bất cứ lý do gì; việc làm phải là khả dĩ cho cả gia đình hầu đạt được nhu cầu của họ, giúp con em họ đến trường học mà không buộc chúng phải lao động; việc làm phải cho phép công nhân được tự do tổ chức nghiệp đoàn và tiếng nói của họ phải được lắng nghe; việc làm phải để chừa chỗ cho công nhân tìm thấy lại nguồn gốc của mình ở tầng mức cá nhân, gia đình và tinh thiêng liêng; việc làm là phải bảo đảm cho những người về hưu có được mức sống căn bản thích hợpmục lục

ĐỜI NHO

[Niệm ý Mt 20,1-16]

Vườn nho – trái nhỏ, trái to
Trái xanh, trái đỏ, theo mùa luân phiên
Con người có tuổi, có tên
Vườn nho Chúa rộng khắp miền gần xa
Người nào việc nấy phải lo
Bón phân, tưới nước, sớm khuya chuyên cần
Trái nho có lép, có tròn
Nhưng người làm vẫn có phần như nhau
Dù làm trước hoặc làm sau
Thời gian làm việc như nhau một ngày
Đời người dù ngắn hay dài
Cũng xong phần việc một ngày mà thôi
So đo, ghen ghét với người
Tưởng mình đạo hạnh, buông lời thị phi
Đó là bẫy của quỷ ma
Nếu không tỉnh thức, bị lừa ngay thôi [*]
Một đời mà chẳng sinh lời
Hàng đầu ngạo nghễ thua người phía sau
Trăm năm một chuyến như nhau
Trái xanh, trái đỏ, trái nào ngon hơn? 
mục lục

[*] “Ma quỷ thường hại linh hồn của con người bằng cách lấy đức hạnh và việc thiện tu đức của con người bày ra trước mắt để dẫn con người tới kiêu ngạo.” (Thánh Gioan Climacus)

♥✝♥

MỘT ĐỒNG SỰ SỐNG

Lạy Thiên Chúa của muôn loài
Một đồng sự sống, xin Ngài ban cho
Dù con chẳng đáng công gì
Nhưng xin Ngài xót thương vì từ nhân
Nay luôn cố sống mến tin
Mai xin nhận một đồng phần vĩnh sinh. 
mục lục

Viễn Dzu Tử

CÔNG BÌNH VÀ NHÂN HẬU 

(Phỏng theo Mt 20,1-16a)

Chủ mướn thợ trồng nho từ sáng sớm, 

Với tiền công thoả thuận chẵn một quan. 

Ba bọn sau chủ nói cứ vào làm, 

Lương công nhật trả cho vừa xứng đáng. 

Giờ nghỉ việc, người vào làm từ buổi sáng 

Cũng như người vào làm lúc giữa trưa 

Mỗi công nhân lãnh một quan không thừa.

Người gia chủ nghĩ rằng vui vẻ đủ…

Thợ buổi sáng lên tiếng than với chủ: 

Bọn chúng tôi lam lũ cả ngày luôn, 

Mà lương ông trả cũng chẳng chút hơn, 

Đâu có phải chúng tôi thua kém họ?

Chủ lên tiếng: tôi nói nghe cho rõ: 

Tôi công bằng trả lương cho anh em 

Và anh em vui lòng nghĩ lại xem:

Tôi có được tỏ ra lòng nhân hậu ??? mục lục

(Thế Kiên Dominic)

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan