SUY NIỆM CHÚA NHẬT 26 THƯỜNG NIÊN - A

24-09-2020 180 lượt xem

(Ed 18,25- 28; Pl 2,1- 11; Mt 21,28- 32) 

Mục Lục

TÌNH YÊU ĐƯỢC CHỨNG MINH BẰNG VIỆC LÀM+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

NÓI VÀ LÀMLm. Giuse Nguyễn Hữu An

HAI PHONG CÁCHTrầm Thiên Thu

ÂN SỦNG THAY ĐỔI CON NGƯỜILm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

HÀNH ĐỘNG TỐT THẮNG CÂU NÓI HAYGiuse Vinhsơn Ngọc Biển, SSP

NHỮNG CÔ GÁI ĐIẾM SẼ VÀO NƯỚC THIÊN CHÚA TRƯỚCLm. Antôn Nguyễn Văn Độ

THỢ VƯỜN NHO TRUNG THÀNHBác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

NGUY CƠ TỰ MÃNLm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Thơ: Ý XUÔI Ý NGƯỢCViễn Dzu Tử

Thơ: ĐỨC VÂNG LỜI  - (Thế Kiên Dominic)

TÌNH YÊU ĐƯỢC CHỨNG MINH BẰNG VIỆC LÀM

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

Trong cuộc sống cá nhân của mỗi chúng ta, lời nói và việc làm thường có những khoảng cách xa vời, thậm chí có lúc hoàn toàn trái ngược nhau. Những bài diễn thuyết hùng hồn với những mỹ tự bóng bảy nhiều khi chỉ là đồ trang trí cho những tư tưởng rỗng tuếch, nhất là với thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay. Với công nghệ quảng cáo tiếp thị, cái gì cũng nhất thế giới, đồ gì cũng là chất lượng hàng đầu…suy cho cùng, chỉ là sự dối trá. Để chứng minh lời nói của một người có thật hay không, người ta phải kiểm chứng việc làm của người đó. Thiếu việc làm, tình yêu chỉ là chót lưỡi đầu môi và giả tạo.

Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay nói đến một người cha và hai người con. Người cha sai hai con đi làm vườn nho. Hình ảnh vườn nho một lần nữa lại được Đức Giêsu dùng để so sánh với cuộc đời. Chúng ta dễ nhận ra, nơi hình ảnh người cha này là chính Thiên Chúa. Người cha này có hai người con. Một người, khi được cha trao việc thì chối từ, nhưng sau hối hận; người thứ hai mau mắn nhận lời, rồi lại không làm. Kết luận Chúa Giêsu đưa ra là: việc làm và đời sống của một người là tiêu chuẩn lượng giá về nhân cách của người ấy chứ không phải lời nói. Người con thứ nhất tuy từ chối lời đề nghị của cha mình, những đã sớm hối hận và đã đi làm vườn nho cho cha. Người con này được kể là người con hiếu thảo và được cha yêu mến. Trái lại, người con thứ hai khi được trao việc thì nhanh nhảu nhận lời, nhưng rốt cuộc lại không làm gì. Đây là người con chỉ vâng lời và hiếu thảo bằng môi mép, còn trong thực tế thì lười biếng và dối trá.

Hai người con tượng trưng cho hai lối sống, hai trào lưu, hai quan niệm và cũng là hai cách thực hành đời sống Đức Tin của chúng ta. Có thể hai nhân vật ấy đồng thời hiện hữu trong chính con người của mỗi chúng ta, khi chúng ta bị cám dỗ sống giả hình hoặc bất tuân. Thiên Chúa là Cha vẫn luôn mời gọi chúng ta làm điều thiện. Trước lời mời gọi ấy, có những người “miệng nói hay, mà tay không làm”. Trái lại, có những người khước từ rồi sau đó nhận ra lẽ phải và gắng công thực hiện ý Chúa.

Trong bối cảnh xã hội hôm nay, cách thức thực hành Đạo bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Tại nhiều nơi và đối với nhiều người, đời sống Đức tin chỉ dừng lại ở những nghi lễ bề ngoài mà ít để ý đến chiều sâu và đời sống nội tâm. Theo lẽ thường tình, một khi hình thức tăng thì nội dung giảm. Khi người ta quá chú trọng đến bề ngoài thì dễ quên bề trong. Tại nhiều nơi, lời kêu gọi học hỏi giáo lý để giúp sống Đạo bị bỏ ngoài tai, thậm chí giáo dân còn “tìm cách bỏ trốn” mỗi khi đến giờ học giáo lý. Hậu quả của việc không học giáo lý là một Đức tin mờ nhạt, một lối giữ đạo nửa vời. Nhiều bạn trẻ đã mất Đức tin khi tiếp cận với nền văn minh và lối sống đô thị.

Lời Chúa hôm nay cũng dạy chúng ta cần thận trọng khi nhận định về tư cách của một người. Chắc hẳn những người có mặt lúc Chúa Giêsu tuyên bố những lời này cảm thấy “sốc”: “Tôi bảo thật các ông, những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông”. Lời tuyên bố của Chúa đảo ngược bậc thang giá trị mà người Do Thái thường dựa vào để nhận định một con người. Thì ra, những người mũ cao áo dài chưa chắc đã là những người thánh thiện. Những người biệt phái và luật sĩ dù khôn ngoan chưa hẳn đã là những người ngay chính. Để nhận định tư cách của họ, còn phải xem đời sống hằng ngày của họ ra sao, họ có thực hành đức công bình mà họ vẫn rao giảng hay không, đó mới là điều quan trọng. Một người có quá khứ tội lỗi, nhưng thành tâm thiện chí ăn năn hối cải, thì họ được Chúa tha thứ. Trong cuộc sống, vì có một quá khứ nghiện ngập, tù đầy khi muốn hoàn lương vẫn gặp phải những thành kiến của những người xung quanh, để rồi những người muốn làm một con người bình thường mà cũng không được. Ngôn sứ Edêkien đã truyền lại lời của Chúa: “Nếu kẻ gian ác từ bỏ điều dữ nó đã làm, mà thi hành điều chính trực công minh, thì nó sẽ cứu thoát mạng sống mình!”. Vâng, trong cuộc đời, chúng ta còn khắt khe hơn Thiên Chúa trong việc xét đoán anh chị em mình. Những người thu thuế và những cô gái điếm được vào Nước Trời, vì họ đã để cho Lời Chúa thấm nhập và thay đổi cuộc đời tội lỗi của họ. Họ đã can đảm đoạn tuyệt với quá khứ xấu xa, để mặc lấy Đức Giêsu phục sinh, trở nên con người mới, thánh thiện tinh tuyền. Như thế, đối với Chúa, không thể vin vào một quá khứ xa xưa – dù tốt lành – để biện minh cho những lỗi lầm mình đang phạm. Thiên Chúa công minh vô cùng trong xét xử. Ngài vừa công bằng vừa giàu lòng thương xót.

“Hãy có cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn, cùng một ý hướng như nhau. Đừng làm chỉ vì ganh tỵ hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình”. Đó là lời khuyên của Thánh Phaolô gửi tới cộng đoàn tín hữu Philiphê. Khi nhấn mạnh đến đức khiêm nhường, vị Tông đồ dân ngoại trình bày Đức Giêsu như mẫu mực và lý tưởng của mọi Kitô hữu: Người là Thiên Chúa đã tự huỷ, mặc lấy thân nô lệ, sống như người trần thế vì yêu thương chúng ta (Bài đọc II). Những ai tiến bước theo Chúa Giêsu sẽ đẹp lòng Thiên Chúa Cha

Hãy bớt những lời nói và hãy gia tăng việc làm. Hãy nói ít và nghe nhiều. Hãy học sống thinh lặng để cảm nhận sự hiện diện của Chúa và những điều kỳ diệu Chúa làm quanh ta. Những điều kỳ diệu ấy, ta chỉ có thể cảm nhận bằng Đức tin và tình mến Chúa yêu người. mục lục.

NÓI VÀ LÀM

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Chàng thanh niên bước vào siêu thị tìm mua mấy thứ cần dùng, vài phút sau anh nhận ra một phụ nữ lớn tuổi đang chăm chú nhìn mình. Không để tâm nhiều đến ánh mắt ấy, vì anh còn nhiều việc phải làm. Khi đến quầy tính tiền, thấy người đàn bà lúc nãy đang đứng đợi, anh lịch sự nhường cho bà xếp hàng trước. Người phụ nữ cười buồn:

- Xin cảm ơn. Tôi thành thật xin lỗi vì đã làm cho cậu khó chịu. Thú thực, trông cậu rất giống con trai tôi, nó mới qua đời cách đây vài tháng.

Động lòng trắc ẩn trước người phụ nữ đáng thương, chàng trai đáp:

- Cho con chia buồn, con có thể làm gì để giúp má?

Người đàn bà vui hẳn lên:

- Khi còn sống, con trai thường đi sắm đồ chung với má, nếu phải chia tay, bao giờ nó cũng nói: “tạm biệt má.” Con có thể nói như thế để ta vơi nỗi buồn không?

Không cần suy nghĩ, chàng thanh niên trả lời:

- Ồ! Con sẵn sàng làm tất cả để má vui.

Chàng trai giúp người phụ nữ bỏ các món hàng vào túi, trước khi bà bước ra cửa, anh đưa tay chào:

- Tạm biệt má!

Người phụ nữ quay lại cười thật tươi và gật đầu. Khi nhận hóa đơn, anh vô cùng ngạc nhiên vì thấy số tiền phải trả là 1.500.000đ, nên hỏi:

- Xin lỗi, cô có tính nhầm không? Những món hàng tôi mua chỉ đáng giá khoảng 400.000đ.

Nhân viên thâu ngân trả lời:

- Người phụ nữ hồi nãy nói anh là con và sẽ trả tiền cho bà.

Câu chuyện nghe thật buồn! Người đàn bà bịa ra chuyện thương tâm và dùng lời ngon ngọt để lừa dối chàng trai tốt bụng. Những chuyện tương tự như thế vẫn xảy ra hàng ngày trong mọi ngõ ngách cuộc sống hôm nay.

Giữa đời thường, có hai hạng người: nói nhiều hơn làm, hứa hẹn đủ điều, nhưng rồi không làm gì cả; làm nhiều hơn nói, không hứa hẹn, không ba hoa khoác lác, nhưng làm những việc đạo đức, nhân hậu, tốt lành, có khi làm một cách kín đáo. Ai cũng thích hạng người thứ hai vì họ chân thành, lấy việc làm chứng minh lời nói.

***

Trang Tin Mừng hôm nay kể dụ ngôn hai người con nhận cùng một lời mời gọi của cha và đáp trả với hai thái độ khác nhau.

- Người con thứ nhất: Lúc đầu từ chối, không vâng lời cha. Nhưng sau đó nghĩ lại, nó đi làm vườn nho cho cha. Đứa con này tượng trưng cho các người thu thuế và người tội lỗi.Tuy đã phạm tội, nhưng sau đó đã hồi tâm và tin theo Chúa Giêsu mà quay về với Thiên Chúa.

- Người con thứ hai: Lúc đầu ngoan ngoãn vâng lời cha, nhưng sau đó nó lại không đi làm vườn theo ý cha. Đứa con này có vẻ công chính, tượng trưng cho các Thượng tế Kinh sư và Pharisiêu. Tuy giữ luật Môsê trong từng chi tiết, nhưng họ lại từ chối Gioan Tẩy Giả, người đã đến chỉ đường công chính. “Thưa cha, con đây”: câu trả lời lễ phép của một đứa con ngoan ngoãn hiếu thảo, sẵn sàng vâng nghe lời cha dạy bảo; “Nhưng rồi lại không đi”: đứa con này mới chỉ vâng lời cha bằng môi miệng bề ngoài. Sau đó nó không đi làm vườn nho theo lời cha dạy. Nó có thái độ "ngôn hành bất nhất", "nói mà không làm", “nói một đàng mà làm một nẻo”. Một lối sống vụ hình thức bề ngoài. Một thái độ đạo đức giả. Người con thứ hai ám chỉ những Thượng tế, Kinh sư và Pharisiêu. Thời ấy, họ là những bậc vị vọng, họ tự xưng mình là đạo đức, công chính, trong sạch. Thực tế họ rất giả hình. Nói rất hay nhưng không thực thi điều mình nói. Họ nói mà không làm.

Giữa lời nói và việc làm thường có một khoảng cách rất lớn. Nói thì dễ nhưng làm thì khó. Con người dễ rơi vào thói nói nhiều làm ít, hoặc chỉ nói suông mà không làm, hoặc còn tệ hơn nữa khi việc làm mâu thuẫn với lời nói.

1. Nói và làm, một tiêu chuẩn để xét định đời sống.

Kể dụ ngôn, Chúa Giêsu hỏi: “Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha?”. Họ trả lời: “Người thứ nhất”. Đó là người nói không, nhưng đã hối hận và đi làm việc. Ở đây rõ ràng có hai loại người: nói ít làm nhiều và nói nhiều làm ít.

- Nói ít làm nhiều.

Nói ít không phải là “ít nói” vốn thường hiểu theo nghĩa tiêu cực bộc lộ một lòng trí tối tăm hay lòng dạ mưu mô. Nói ít cũng chẳng phải là không có gì để nói hay không biết nói gì. Trái lại người nói ít là người biết mình nói gì và cũng là người có khả năng nói nhiều với chính mình bằng ngôn ngữ tư tưởng, với người bằng ngôn ngữ hành động. Chính vì thế họ dễ trở thành những người “làm nhiều”. Những người nói ít làm nhiều thường là những người tốt bụng, nhiệt thành với công việc, chu toàn nhiệm vụ và biết trách nhiệm. Họ không làm phiền người bên cạnh. Họ thích làm tốt cho người khác. Họ không bận tâm đến tiếng chê, chẳng nặng nợ với lời khen. Họ chăm chỉ làm việc và quan tâm tới từng việc làm. Với họ, làm là cách nói tốt nhất.

- Nói nhiều làm ít.

Có những người nói nhiều mà làm chẳng được bao nhiêu. Họ là những người hay nói. Hay nói chưa chắc nói hay nhưng chắc chắn một điều: hay nói là một cánh cửa luôn rộng mở cho những người thích nói hay nói tốt về mình, để làm điều kiện thuận lợi cho việc dèm pha phê bình người khác. Đây là một nguy cơ của việc nói nhiều. Có biết đâu phê bình người khác lại là một cách bộc lộ lòng dạ mình ra. Mang kính đen thì phê bình sao người khác đen quá, giống như lưỡi đắng có bao giờ thấy canh ngọt [x. Làm nụ hoa trắng, tr.90-91, ĐGM Vũ Duy Thống (+)].

2. Nói và làm, hai thái độ sống

Sau câu hỏi, Chúa Giêsu tuyên bố một câu nghe thật nhức nhối: “Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm sẽ vào nước trời trước các ông”. Các Thượng tế, Kinh sư và Pharisiêu không chịu nghe Lời Chúa, không ăn năn sám hối. Những người thu thuế và gái điếm, khi được mời gọi đã thành tâm sám hối ăn năn.

Có hạng người nói mà không làm và hạng người làm mà không nói.

- Người nói mà không làm. Họ tự cho là mình đạo đức, nhưng khi Chúa Giêsu rao giảng, họ không những không tin mà còn phê phán chỉ trích những người tin Chúa, chỉ trích chính Chúa đã đón tiếp người tội lỗi.

- Người không nói nhưng lại làm. Đó là những người thu thuế và những cô gái điếm. Tuy sống tội lỗi, nhưng khi nghe Chúa rao giảng, họ đã ăn năn sám hối và tin vào Chúa.

3. Những bài học

Qua dụ ngôn, Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta hai bài học quan trọng.

- Việc làm quan trọng hơn lời nói.

Chính việc làm minh chứng lời nói. Chính việc làm mới có sức thuyết phục. Lý thuyết dù có hay có đẹp đến đâu nếu không thực hiện được thì cũng vô ích. Trong đời sống, chúng ta gặp không ít những người nói hay, nói nhiều, nhưng làm chẳng bao nhiêu. Nhưng trái lại, có những người nói không hay, có khi không nói gì cả, nhưng lại làm rất nhiều. Nhất thời chúng ta có thể thích những người nói hay. Nhưng sống càng lâu, chúng ta càng mến những người nói ít làm nhiều. Con đường đi từ trái tim đến đôi tay là một con đường dài và gian khổ. Rung động trước nổi khổ của người khác là điều tốt, giúp cho họ bớt khổ là điều tốt hơn. Thánh Gioan khuyên rằng: “Hỡi anh em, đừng yêu mến bằng lời nói suông, nhưng bằng việc làm thực sự” (1 Ga 3,18).

Trong đời sống thiêng liêng cũng vậy. Chúa yêu chuộng những người làm việc hơn là những người chỉ biết nói suông. Những Luật sĩ Biệt phái Kinh sư bị lên án dữ dội vì họ giả hình. Họ nói mà không làm. Họ đặt gánh nặng lên vai người khác nhưng bản thân lại tránh né. Ngày nay cũng vậy, có những bậc cha mẹ dạy con cái phải giữ đạo, phải cầu nguyện, dự lễ, nhưng chính mình lại biếng nhác, không làm gương sáng cho con cái. Chúa đòi hỏi phải thực hành: “Không phải những ai nói rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa mà được vào Nước Trời, nhưng là những kẻ làm theo ý Cha Ta trên trời” (Mt 7,21). Đức tin phải biểu lộ bằng việc làm mới là đức tin sống động. Thánh Giacôbê dạy: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2,17). Tình yêu cũng phải có việc làm. Việc làm minh chứng tình yêu đích thực. Tin yêu Chúa phải được biểu lộ bằng việc làm.

- Hãy làm một cách khiêm tốn.

Những người Pharisiêu làm gì cũng muốn phô trương. Muốn tỏ ra mình đạo đức, họ đeo lề luật trên trán, trên tay. Ðeo rồi, sợ người khác không nhìn thấy, họ phải "đeo những hộp kinh thật lớn, may những tua áo thật dài" để cho mọi người biết họ yêu mến lề luật, giữ đạo cặn kẽ. Thói phô trương dễ biến thành tự phụ tự mãn, hợm hỉnh. Nên những người Pharisiêu "ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là thầy".

Khi phê phán người Pharisiêu, Chúa Giêsu muốn cho môn đệ hãy sống đạo trong kín đáo: "Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy... Vậy khi bố thí, đừng có khua chiêng đánh trống, như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá, cốt để người ta khen. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh, khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc anh bố thí được kín đáo. . . Và khi cầu nguyện, anh em đừng làm như bọn đạo đức giả: chúng thích đứng cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ngoài các ngã ba ngã tư, cho người ta thấy... Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Ðấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Ðấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh" (Mt 6,1-6). Kín đáo làm việc đạo đức là dấu chỉ lòng mến Chúa chân thực. Lòng mến Chúa chân thực sẽ dẫn đến thái độ khiêm tốn, luôn biết kính trọng người khác và luôn biết phục vụ anh em.

Xin Chúa giúp chúng con biết sống “ngôn hành như nhất” để lời nói và việc làm của chúng con luôn đẹp lòng Chúa và mưu ích cho tha nhân. Amen. mục lục.

HAI PHONG CÁCH

Trầm Thiên Thu

Có rất nhiều loại cặp đối, gọi là “đối” thì phải có ít nhất hai vế – có thể là cụ thể hoặc trừu tượng. Có cái này để biết cái kia, có kẻ dữ để nhận biết người lành – như lúa và cỏ lùng; có màu này để phân biệt màu khác; có người nói nhiều để nhận ra người điềm tĩnh. Người thế này, người thế khác, ngay cả chiếc lá cũng có hai mặt. Mỗi người mỗi vẻ, chúng ta gọi đó là phong cách.

Có những điều tưởng là trái ngược nhau mà lại không đối lập, gọi là “nghịch lý thuận.” Có những trường hợp có vẻ xuôi thuận mà lại đối nghịch, gọi là “thuận lý nghịch.” Cuộc đời phức tạp và có nhiều loại triết lý, biết được điều này lại thấy mình ngu dốt cái khác, thảo nào người ta cứ phải học mãi mà chẳng biết hết.

Nhờ cha mẹ cho đi học mà chúng ta biết trong toán học có tỷ lệ thuận và nghịch. Nếu biết cặp giá trị tương ứng của hai đại lượng tỷ lệ thuận và một giá trị khác của đại lượng này thì có thể tìm được giá trị tương ứng của đại lượng kia. Toán học cũng có quy tắc tam xuất đơn – thuận và nghịch. Quy tắc tam xuất đơn thuận: Nếu A tăng N lần, B tăng N lần (nhân với N). Quy tắc tam xuất đơn nghịch: Nếu A tăng N lần, B giảm N lần (chia cho N).

Chúa Giêsu cũng đề cập tình trạng thuận – nghịch: “Ai không đi với tôi là chống lại tôi, và ai không cùng tôi thu góp là phân tán.” (Mt 12:30; Lc 11:23) Dạng đối nghịch tuyệt đối là “tội phạm tới Chúa Thánh Thần,” không được tha cả đời này và đời sau.

Phong cách liên quan tính cách, kể cả phong tục tập quán của vùng miền hoặc dân tộc, thế nên có sự thuận và nghịch giữa những con người với nhau. Ở đây không có ý nói “theo phe” hoặc “chống lại” nhau, mà chỉ có ý đơn giản và bình thường. Tuy không là thù địch, nhưng vẫn có người này “hợp” với người kia hoặc “không hợp” với người nọ, ngay cả anh chị em trong gia đình cũng vậy. Hai người hợp nhau thì dễ nói chuyện, dễ thông cảm, dù không cần nói gì; ngược lại, hai người không hợp nhau thì rất khó nói chuyện và khó thông cảm, khoảng im lặng nặng nề. Nếu đối nghịch nhau thì rất dễ xung đột.

Ngày xưa, dân chúng to gan lớn mật, ăn ngang nói ngược với cả Đấng tạo dựng nên mình: “Đường lối của Chúa Thượng không ngay thẳng.” (Ed 18:25) Liều lĩnh thật, chẳng kém gì Ông Bà Nguyên Tổ. Đúng là di truyền gen kiêu ngạo. Nói theo ngôn ngữ ngày nay, đó là điếc không sợ súng, dốt mà kiêu, ngu mà chảnh. Hết nước nói!

Vì thế, Thiên Chúa thẳng thắn đặt vấn đề với họ: “Vậy hỡi nhà Ít-ra-en, hãy nghe đây: Phải chăng đường lối của Ta không ngay thẳng hay đường lối của các ngươi mới không ngay thẳng? Khi người công chính từ bỏ lẽ công chính của mình và làm điều bất chính mà chết, thì chính vì điều bất chính nó đã làm mà nó phải chết. Còn nếu kẻ gian ác từ bỏ điều dữ nó đã làm, mà thi hành điều chính trực công minh, thì nó sẽ cứu được mạng sống mình. Nó đã thấy và từ bỏ mọi tội phản nghịch nó phạm, thì chắc chắn nó sẽ sống, nó không phải chết.” (Ed 18:26-28) Chắc hẳn Ngài cũng đang chất vấn chúng ta như vậy, và dĩ nhiên chúng ta cũng chẳng biện minh được gì. Đối với nhân loại, cái chết là thất bại lớn nhất, chính tội lỗi khiến con người phải chết, (Rm 5:12; Rm 5:21) chứ Thiên Chúa không bắt chúng ta chết – vì Ngài cực tốt cực lành.

Phàm nhân chẳng đáng chi, bởi vì chỉ là bụi đất, (St 3:19) vậy mà vẫn thách thức Thiên Chúa, thậm chí còn dám nổi loạn, phản động, chống lại Ngài – cụ thể là phạm tội như cơm bữa. Tuy nhiên, Ngài không chấp lũ “đầu đất” như chúng ta, do đó Ngài vẫn luôn nhớ đến và quan tâm, (Tv 8:5) đồng thời còn kiên trì chờ đợi chúng ta hối lỗi: “Đối với các dân tộc khác, Chúa Tể nhẫn nại chờ đợi cho đến khi tội lỗi chúng ngập đầu mới trừng phạt; còn đối với chúng ta, Người không xử như thế.” (2 Mcb 6:14) Quả là Lòng Chúa Thương Xót quá lớn lao, ngoài sức tưởng tượng của chúng ta. Nhưng nếu chúng ta cố chấp thì cùng đường: “Nếu các ngươi không chịu nghe Ta, thì Ta sẽ còn sửa phạt các ngươi gấp bảy lần vì tội lỗi của các ngươi.” (Lv 26:18) Thật đáng sợ, vì như vậy là hết lối thoát.

Ước gì chúng ta biết khôn ngoan như Thánh Vịnh gia: “Lạy Chúa, đường nẻo Ngài, xin dạy cho con biết, lối đi của Ngài, xin chỉ bảo con. Xin dẫn con đi theo đường chân lý của Ngài và bảo ban dạy dỗ, vì chính Ngài là Thiên Chúa cứu độ con. Sớm hôm con những cậy trông Ngài, bởi vì Ngài nhân ái.” (Tv 25:4-5) Cầu xin và muốn được Thiên Chúa nhậm lời thì phải biết chân thành sám hối. Đó là điều kiện hoàn toàn có lợi cho chúng ta. Thật vậy, Thiên Chúa lúc nào cũng chờ đợi và luôn sẵn sàng nghe chúng ta thú nhận tội lỗi và van xin chân thành: “Lạy Chúa, xin nhớ lại nghĩa nặng với ân sâu Ngài đã từng biểu lộ từ muôn thuở muôn đời. Tuổi xuân trót dại bao lầm lỗi, xin Ngài đừng nhớ đến, nhưng xin lấy tình thương mà nhớ đến con cùng. Chúa là Đấng nhân từ chính trực, chỉ lối cho tội nhân, dẫn kẻ nghèo hèn đi theo đường công chính, dạy cho biết đường lối của Người.” (Tv 25:9)

Lời hứa là lời đẹp, nhưng phải thật lòng, phải cố gắng chấn chỉnh cách sống, chứ không chỉ hứa suông. Thiên Chúa biết rõ chúng ta có họ hàng với chú Cuội nên dễ hứa lèo. Thế nhưng Ngài không chấp, mà Ngài xem chúng ta có rán sức hết mình hay không. Quả thật, “nếu Chúa chấp tội nào ai rỗi được.” (Tv 130:3) Tuy nhiên, đừng thấy Ngài nhân từ mà làm tới, “được đằng chân lân đằng đầu,” kẻo mà lợi dụng lòng thương xót của Ngài.

Biết mình để khiêm tốn, biết Chúa để yêu mến. Biết sám hối là biết kết nối với Ngài, như cành nho dính vào thân nho. Thánh Phaolô khuyên: “Nếu quả thật sự liên kết với Đức Kitô đem lại cho chúng ta một niềm an ủi, nếu tình bác ái khích lệ chúng ta, nếu chúng ta được hiệp thông trong Thần Khí, nếu chúng ta sống thân tình và biết cảm thương nhau, xin anh em hãy làm cho niềm vui của tôi được trọn vẹn, là hãy có cùng MỘT cảm nghĩ, cùng MỘT lòng mến, cùng MỘT tâm hồn, cùng MỘT ý hướng như nhau.” (Pl 2:1-2) Sống được như vậy là “nên một” theo ý muốn của Đức Kitô. (x. Ga 17:21-23) Và đó là điều tất cả chúng ta phải phấn đấu không ngừng.

Một thế giới đại đồng không có trong xã hội ngày nay, vì thế mà chúng ta phải nỗ lực nhiều hơn. Một lần nọ, ban chấp hành của một hội đoàn Công giáo (TGP Saigon) rủ tôi ăn uống chung, chỉ là để “cho vui” thôi. Tuy nhiên, chỉ sau khoảng 10 phút, tôi thấy người thì “vạch lá tìm sâu,” người thì “bới bèo ra bọ,” họ “căng thẳng” với nhau, tôi thấy bất lợi nên xin ra về. Thật đáng buồn! Bản chất con người luôn đề cao “cái tôi,” vì thế mà rất nguy hiểm, cần phải luôn cố gắng “đè nén” nó. Ngay cả khi chúng ta làm việc gì gọi là “vì Chúa,” thực ra chúng ta vẫn “vì mình” nhiều lắm, chẳng biết Chúa có vinh danh chút nào hay không. Thánh Phaolô đã từng cảnh báo: “Đừng làm chi vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình. Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác. Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô Giêsu.” (Pl 2:3-5) Khó lắm, vì thế luôn phải cố diệt “cái tôi” đáng ghét.

Cố gắng dứt khoát thì làm được. Thánh Phaolô dẫn chứng: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu.” (Pl 2:6-9) Điều này được nghe đi nghe lại nhiều lần rồi, nhưng có mấy lần chúng ta “giật mình,” hay chỉ nghe tai này rồi qua tai kia? Quả thật, chúng ta tội lỗi lắm, tội với Chúa và cả với tha nhân nữa.

Đức Giêsu Kitô có tất cả mọi sự, vì Ngài là Ngôi Hai Thiên Chúa, nhưng Ngài đã tự hạ đến tột cùng, vì thế Ngài xứng đáng được Thiên Chúa Cha siêu tôn: “Khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: Đức Giêsu Kitô là Chúa.” (Pl 2:10-11) Cứ xét theo lẽ thường của loài người thì cũng thấy hoàn toàn hợp lý.

Qua trình thuậtMt 21:28-32 , Chúa Giêsu đề cập hai con người với hai phong cách trái ngược nhau qua dụ ngôn Hai Người Con. Đây cũng chính là “hai con người” hoặc “hai bộ mặt” trong mỗi chúng ta. Hôm đó, các thượng tế và kỳ mục hỏi vặn Chúa Giêsu về quyền hành. Ngài thản nhiên nói: Một người cha nọ có hai con trai, ông sai người con thứ nhất đi làm vườn nho, nhưng nó nói thẳng là “không đi.” Có thể nó không rảnh hoặc không vâng lời, cãi ngay. Nhưng rồi nó hối hận và đi làm. Ông cũng sai người con thứ hai đi làm, nó chấp nhận ngay, nhưng rồi nó lại không đi. Bằng mặt mà không bằng lòng, bên ngoài tỏ vẻ ngoan hiền nhưng bên trong lại phản động.

Chúa Giêsu hỏi họ rằng đứa nào đã thi hành ý muốn của người cha. Họ trả lời ngay là đứa thứ nhất. Giả sử Ngài trực tiếp hỏi chúng ta thì hẳn là ai cũng có thể trả lời được, không gì khó. Chúa Giêsu nói với họ: “Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông.” Ôi chao, nghe “sốc” quá chừng! Thế nhưng đó là thực tế, là sự thật. Ngài biết họ “ngứa óc” nên Ngài nói thẳng: “Vì ông Gioan đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin. Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy.” Trúng tim đen rồi!

Có lần Chúa Giêsu xác định: “Ai yêu mến Thầy thì sẽ GIỮ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Ai không yêu mến Thầy thì KHÔNG GIỮ lời Thầy.” (Ga 14:23-24) Rất rõ ràng và mạch lạc, không khó hiểu, thế nên không ai có thể biện minh vì bất cứ lý do gì. Chữ YÊU ngắn gọn mà hàm súc. Có khi chúng ta là đứa con thứ nhất, có khi chúng ta lại là đứa con thứ hai. Mưa nắng thất thường. Chính “cái tôi” to lớn và dữ dằn lắm, cần phải luôn cảnh giác với nó. Thánh Phaolô cũng đã từng lo sợ: “Tôi bắt thân thể phải chịu cực và phục tùng, kẻo sau khi rao giảng cho người khác, chính tôi lại bị loại.” (1 Cr 9:27) Nói hay mà làm dở thì thật là khốn!

Ước gì chúng ta luôn biết đè bẹp “cái tôi” và tâm niệm như Thánh Gioan Tẩy Giả: “Chúa phải LỚN lên, còn tôi phải NHỎ đi.” (Ga 3:30) Đó là phong cách tuyệt vời của mỗi tín nhân. Có vậy thì Thiên Chúa mới thực sự vinh danh, và chỉ có Ngài xứng đáng như thế. Tất cả vì danh Ngài, thụ tạo chúng ta không đáng là gì cả, giả sử có làm được gì cho Ngài thì cũng là trách nhiệm và bổn phận mà thôi.

Lạy Thiên Chúa giàu lòng thương xót, xin ban cho con được hưởng ân xá của Ngài. “Con đã phạm bao nhiêu tội lỗi? Bao nhiêu lần con đã phản nghịch, đã đắc tội với Ngài, xin cho con được biết.” (G 23:13) Xin giúp con ý thức để biết mình, biết Ngài và biết tha nhân. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. mục lục.

ÂN SỦNG THAY ĐỔI CON NGƯỜI

Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

Anh chị em thân mến,

Trong dụ ngôn hôm nay, Ðức Giêsu cho chúng ta thấy hai lối sống đối nghịch của hai người con. Cả hai người con, chẳng cậu nào làm vui lòng cha mình hết. Cậu thứ nhất, trước tiên không vâng lời huấn lịnh của Cha, nhưng sau đó cậu thay đổi. Đó là điều then chốt mà con người cần thực hiện, đó là sự thay đổi. Chúng ta có thể nhiều lần nói không, nhưng sau cùng điều mà Thiên Chúa mong đợi vẫn là lời ‘xin vâng’ quả cảm và trung thành với chữ CÓ cho đến hết cuộc sống. Sự hoán cải và thay đổi này phải được xuất phát từ tâm hồn. Sự thay đổi đó bao giờ cũng phản chiếu một lượng ân sủng dồi dào của Thiên Chúa mà họ đã nhận được. Nói cách khác, chính kinh nghiệm được yêu thương đã khiến họ hoán cải để tuy nhiều lần đã trả lời không mà nay biến thành hành động vâng phục cho đến trọn đời.

Còn hình ảnh cậu thứ hai ám chỉ đến lớp người miệng thì dạ dạ, vâng vâng nhưng cuộc sống thì có những cử chỉ ngược lại. Họ là những người, ngay từ đầu chưa bao giờ cảm nghiệm tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa trao ban, cho nên tâm hồn và cử chỉ của họ hoàn toàn xa với ý định của Thiên Chúa.

Nhìn lại trong cuộc sống, đã bao nhiêu lần chúng ta miệng thưa có mà việc làm thì không, giả như có làm thì cũng làm vì thói quen hay a dua hay vì lời khen của kẻ khác hay thậm chí làm để mưu cầu lợi ích cho cá nhân mình. Nói khác đi, chúng ta sống như những con rối để cho người khác thao túng và lôi đi. Còn việc chúng ta nói không với Chúa thì nhiều lắm. Chúa vẫn kiên nhẫn chờ đợi sự thay đổi để những lời nói không của chúng ta được biến thành những cử chỉ và hành động tuân phục của chúng ta với Ngài.

Nói chung cả hai hình ảnh đối nghịch đó cũng hiện diện trong cuộc sống của chúng ta. Tuy nhiên, Thiên Chúa mong muốn dù nói có hay không thì quyết định của chúng ta luôn xuất phát từ trong cõi lòng của mọi người. Thiên Chúa luôn kiên tâm chờ đợi và quả quyết rằng tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa sẽ giúp con người thay đổi, biến ‘không’ thành ‘có.’

Và theo Thánh Matthew, thì sự đối nghịch đó đang hiện diện như hai người con trong một gia đình của Thiên Chúa qua các sinh hoạt trong cộng đoàn của Ngài: Một bên là quí vị có chức tước được xếp vào ngũ của những người lãnh đạo, còn bên kia là những người nghèo khổ bị bỏ rơi và bị những người lãnh đạo xếp vào hạng những ngươi tội lỗi.

Mở đầu bài Tin Mừng, Chúa Giêsu phán cùng các thượng tế và các kỳ lão trong dân rằng: “Các ông nghĩ sao?” Như vậy, truyện kể hôm nay truớc tiên nhắm đến những người lãnh đạo. Họ hãnh diện về lối sống mẫu mực của họ. Họ chủ trương rằng những gì mà họ đang có như tiền tài, danh vọng, vị trí trong cộng đoàn là phần thuởng và dấu chỉ mà Thiên Chúa trao ban để tưởng thưởng cho các việc lành phúc đức và lối sống chu tòan lề luật của họ. Và, với lối sống tuân phục mọi điều khoản trong lề luật dậy bảo thì họ đã trở thành gương sáng cho nguời khác; đâu cần phải thay đổi.

Theo quan niệm và mẫu mực sống đạo của họ thì người cần đuợc thay đổi là chính Đức Giê-su. Người tự xưng mình là Đấng Cứu Thế, là Con Thiên Chúa mà chẳng hề tuân theo luật lệ và các tập tục của cha ông dậy bảo thì nói ai tin; do đó theo quan niệm của họ thì Đức Giê-su cần noi guơng họ!

Nhưng Đức Giê-su đã phản đối lối sống vụ luật, dựa vào hình thức của họ và xác định rằng: Trong vương quốc của Người, những người thu thuế, hạng tội lỗi mà họ đã khai trừ ra khỏi cộng đoàn lại là những người chọn lựa đúng. Đám dân đen ít học này đã mở lòng ra để đón nhận lời rao giảng của Thánh Gioan tẩy giả và của Chúa, hối cải và trở về đường ngay nẻo chính. Còn họ thì không, cố giữ và ôm chặt lấy truyền thống để bảo đảm cho ngai vàng và nguồn lợi của họ.

Anh chị em thân mến,

Thay đổi cách sống không phải là việc dễ dàng! Nếu có cơ hội, anh hay chị hãy nghiệm lại trong cách sống, chúng ta đã thay đổi đuợc gì! Giả như, nếu có thì cũng chỉ là các thay đổi đem lại lợi ích cho bản thân và gia đình mình. Mới đây, tôi gặp lại gia đình người bạn, sau bao năm xa cách, đời sống của anh chị khá giả và sung túc hơn xưa. Tuy nhiên, cuộc sống mà họ đang thụ huởng cũng phải trả một giá rất đắt và thật chua xót. Anh chị biết điều đó và thản nhiên chia sẻ rằng: Xin cha thông cảm cho cuộc sống của gia đình tôi. Sống đạo trong hoàn cảnh của chúng tôi là điều một điều thật khó khăn; vì nếu phải thay đổi lối sống sao cho phù hợp với niềm tin thì cuộc sống của chúng tôi sẽ khó khăn hơn, sẽ nghèo lắm. (Hoàn cảnh và lời chia sẻ của gia đình này giống với hoàn cảnh của nhiều nguời trong chúng ta)

Theo tôi, điều đáng quí, đáng trân trọng là sự thành thật khi họ chia sẻ. Anh chị biết điều cần làm. Anh chị còn biết nỗi yếu đuối của bản thân. Hy vọng, một ngày nào đó, với ơn Chúa, anh chị can đảm thực hiện điều mà anh chị xác tín. Ước nguyện của tôi chỉ có thế!

Thái độ của hai người con trong câu chuyện hôm nay nhắc nhở thêm cho tôi một hiện tượng đang xẩy ra cho các gia đình công giáo. Quí vi phụ huynh thường hay than phiền về việc các cháu bê trễ trong việc tham dự các nghi lễ phụng tự. Các cháu ít hay hầu như không đọc kinh sáng tối! Các cháu cũng ít tham dự các Thánh Lễ Chúa nhật; nếu có tham dự thì may ra một năm được l hay 2 lần. Nói đến ‘lễ buộc’ thì các cháu phản ứng khá gay gắt như ‘xã hội hôm nay, làm gì còn việc ép buộc. Tự nguyện mới có giá trị, tham dự chỉ vì bị bắt buộc thì còn có ích lợi gì!’

Tôi thông cảm cho các nỗi lo âu của quí phụ huynh. Tôi cũng không bàn bạc về những suy nghĩ của các cháu là đúng hay sai? Vẫn biết lo lắng cho tương lai của con cái là bổn phận và ước mơ của cha mẹ. Nhưng, điều chúng ta lo có thay đổi gì trong cuộc sống của các cháu! Nhiều khi, chúng ta lo quá, lo đến mức làm mất đi niềm tin nơi các cháu. Điều đó có ích lợi cho các cháu hay không?

Tôi lại đuợc nghe quí phụ huynh kể lại việc các cháu tham gia các đoàn bác ái, các nhóm y tế … đi đến các nuớc nghèo thăm hỏi, cứu trợ và làm các việc thiện nguyện hầu giúp đỡ và xoa dịu các vết thuơng của những nguời thiếu may mắn hơn con cái của quí vị. Một điều đáng quí và đáng ngưỡng mộ là tiền vé máy bay và những khoản chi tiêu cần thiết cho chuyến đi thiện nguyện cũng do bàn tay của các cháu làm và để dành.

Việc làm tông đồ của các cháu thật đang khích lệ và tán thuởng. Phải chăng các cháu là những người con đã trả lời không với kiểu sống nhàm chán của lề luật, những nghi thức máy móc của các nghi lễ và lối sống đạo hoành tráng và phô truơng thanh thế của chúng ta. Việc làm của các cháu thực tế và phù hợp với tấm lòng của các cháu: lo và quan tâm cho kẻ khác. Các cháu có thể là hạng người, tuy miệng nói KHÔNG, cuối cùng lại làm CÓ; từ bỏ để bước ra ‘ngoài đồng’ làm các việc tông đồ giúp đỡ những kẻ khốn cùng.

Lắng nghe, đón nhận Tin Mừng rồi hối cải ra ngoài đồng thực hiện ý Chúa là tiến trình cần theo. Còn nếu chỉ biết dựa vào công nghiệp, hệ thống lề luật mà đòi thuởng công thì quả giống như người con chỉ biết nói vâng vâng dạ dạ, còn lòng đã bị đóng kín. Lòng đã đầy ‘CÁI TÔI’ thì còn chỗ nào trống để mở ra cho tha nhân và làm thế nào đón nhận đuợc Tin Mừng. Trong khi đó, bọn dân đen ít học, có thể là nạn nhân của hệ thống giáo điều mà hàng ngũ lãnh đạo đặt ra, tuy nghèo nàn và thiếu thốn tất cả; nhưng lại dễ mở lòng ra để đón nhận Chúa và Tin Vui cứu độ của Thiên Chúa.

Ðức Giêsu không có cái nhìn như chúng ta. Người yêu thương những người tội lỗi biết sám hối trở về. Người thường nói: "Ta không đến để kêu gọi những người công chính mà là người tội lỗi. Và không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “Lạy Chúa! lạy Chúa!” là cầm chắc vé vào Nước Trời cả đâu! Chỉ có ai thực hiện ý muốn của Thiên Chúa mới được vào Nước Trời mà thôi. Người kiên tâm chờ đợi và hy vọng chúng ta hối cải. Dù đã nói KHÔNG nhiều lần, nhưng chỉ cần một lần thưa CÓ và cố gắng thể hiện trong cuộc sống thì cũng thật xứng đáng để được cứu độ.

Như vậy, việc sống đạo và chu toàn Thánh ý của Thiên Chúa không chỉ dựa vào lời nói; nhưng bằng hành động. Một trong những việc làm quan trọng mà chúng ta cần thực hiện là nhận biết chính mình, sửa đổi để lệ thuộc vào quyền năng của Thiên Chúa. Đây chính là hồng ân. Chỉ có hồng ân và tin vui của Chúa mới giúp con người thay đổi. Amen! mục lục.

HÀNH ĐỘNG TỐT THẮNG CÂU NÓI HAY

Giuse Vinhsơn Ngọc Biển, SSP

Ngày nay người ta đề cao vai trò của “thế giới kỹ thuật số”. Vì thế, họ vận dụng ngành kỹ thuật này như một phương tiện tối ưu cho vấn đề quảng bá trong lĩnh vực kinh doanh. Tuy nhiên, khi ngành này phát triển, họ đã không ngừng “kỹ xảo hóa” để làm bắt mắt người tiêu dùng và khai thác sự tò mò của người dân. Từ đó, tính gian trá trong lãnh vực này cũng leo thang. Nhiều người đã bị những viên: “Thuốc đắng bọc đường” đánh lừa. 

Còn trong lãnh vực cuộc sống nhân sinh, con người ngày nay cũng đang phải đối diện với thực trạng tốt - xấu lẫn lộn. Khó có thể biện phân được đâu là người chân tình; đâu là người dối trá; đâu là người xây dựng, đâu là người phá hủy! Lý do là vì họ được bao bọc bởi cái mã bên ngoài rất tinh vi, quỷ quyệt!

Bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu đã đưa ra hai hạng người tốt - xấu; thật - giả thông qua hình ảnh trong dụ ngôn: “Hai người con”, để nhằm giúp cho mọi người hiểu rằng: giá trị đích thực không phải ở chỗ nói nhiều, nhưng là thi hành đúng. Không phải ở chỗ nịnh hót, mà là toàn bộ đời sống của người đó có “ngôn hành đồng nhất” hay không.

1. Ý Nghĩa dụ ngôn

Khởi đi từ sách tiên tri Isaia giới thiệu về cách hành xử của Thiên Chúa như sau: “Trời cao hơn đất chừng nào thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy” (Is 55, 9), bởi vì: “... tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta” (Is 55,8).

Thật vậy, đường lối của Thiên Chúa thì khác xa với đường lối và tư tưởng của con người. Với chúng ta thì dễ nhìn về quá khứ và đóng khung trong đó như một định luật bất di bất dịch, hầu kết án hay khoan hồng. Nhưng với Thiên Chúa thì Người nhìn và hướng về tương lai để mong sao cuộc đời của mỗi người được tốt đẹp hơn và có cơ hội trở lại. Tuy nhiên, tiêu chuẩn để đạt được điều hoàn thiện lại không phải phụ thuộc vào lời nói, mà là nơi hành động.

Để làm sáng tỏ vấn đề trên, Đức Giêsu đã đưa ra hai hình ảnh của hai người con được cha sai đi làm vườn nho. Người thứ nhất không đi, nhưng sau lại đi. Người con thứ nhận đi, sau lại không đi.

Hình ảnh đứa thứ nhất được Đức Giêsu ám chỉ là những người tội lỗi, thấp cổ bé họng, bị xã hội ruồng bỏ. Họ cũng là những người dân ngoại, thu thuế và gái điếm, bị người Dothái khinh miệt. Vì thế, họ không dám tham gia vào công việc làm vườn của người cha, nhưng sau khi hiểu được lòng tốt của cha, họ đã sám hối, an tâm, can đảm và vui vẻ thi hành cách trung thực.

Còn đứa thứ hai là hình ảnh đại diện cho những Thượng tế, Kỳ lão, Luật sĩ và Biệt phái Dothái. Những người này luôn luôn tự hào mình là con cái Tổ Phụ Abraham, dòng dõi các Tiên tri và là những người trung thành với luật Maisen. Vì thế, cái vé vào Nước Trời là chắc chắn. Họ coi các dân tộc khác là những hạng người bị ruồng bỏ, là đứa con hoang, những hạng người như thu thuế, gái điếm thì khái niệm Nước Trời cũng không thể hiện hữu trong tâm tưởng phương chi nói gì đến việc đụng chạm đến ơn cứu độ!

Vì sẵn có tính tự kiêu, tự coi mình là con cưng, được ưu tuyển. Nên ban đầu, họ cũng nhận cho hài lòng người cha, nhưng vì kiêu ngạo, tự mãn, họ lại không làm. Điều này cho thấy, họ thuộc hạng người nịnh hót, nói một đàng, làm một nẻo.

Kết cục, Đức Giêsu phán: “Kẻ sau hết sẽ nên trước hết, và kẻ trước hết sẽ nên sau hết” (Mt 20, 16a); bởi vì: “Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông” (Mt 21, 31).

Đó là câu chuyện Tin Mừng thời Đức Giêsu, nhưng ngày nay, điều đó có còn không?

2. Thật giả vẫn luôn tồn tại

Chỉ cần ngồi lại để suy nghĩ một chút, chúng ta thấy hiện lên trong đầu rất nhiều tình huống thật giả, tốt xấu lẫn lộn đan xen quá nhiều. Nhất là trong lãnh vực quảng cáo. Họ tuyên truyền, thổi phồng tin tức, sự kiện để làm hấp dẫn điều muốn nói. Hay trong lãnh vực Marketing, người ta quảng bá những sản phẩm chất lượng tối ưu, bán chạy như tôm tươi, nhưng thực chất chỉ là thứ hàng giỏm, hàng giả.

Đôi khi điều đó là hành vi của những người xung quanh. Nhưng cũng không chừng, đó lại là của chính chúng ta!                           

“Căn bệnh giả dối” là đầu mối sinh ra những xói mòn về đạo đức, niềm tin của con người, từ đó phát sinh ra những suy thoái về giá trị tinh thần, nhất là làm lu mờ lương tâm.

Điều đáng nói là sự giả dối nó lan tràn và gần như là chuyện bình thường trong xã hội, nếu không muốn nói là nó đã trở nên ông chủ tồi chỉ đạo cuộc sống! Vì thế, nhiều khi muốn sống lương thiện cũng khó, làm người tử tế trong bối cảnh hiện nay không dễ!

Tại sao vậy? Thưa! Bởi vì bậc thang giá trị không còn phụ thuộc vào sự thật nữa, cán cân công lý được điều chỉnh bằng tiền, quyền. Gian dối là bình thường, thật thà lại là bất thường, là ngu dốt, là kém cỏi... Vì thế, người ta thường có câu nói mỉa mai như sau: “Chân lý, chân giò cùng một giá”; “Lương thực, lương tháng và Lương Tâm bằng nhau”.

Thật vậy, nếu ai đóng kịch giỏi và giống thì sẽ được tôn vinh, kính trọng. Trong khi đó, người sống liêm chính thì phải chịu thân phận của 8 chữ “t”: “Thật thà thẳng thắn thì thường thua thiệt”. Còn kẻ vô tài, thất đức, lẻo mồm, tâng bốc, nịnh hót thì lên như diều, để rồi “làm láo, báo cáo hay”.

Vì thế, không thiếu gì cảnh: “Bề ngoài thơn thớt nói cười, mà trong nham hiểm giết người không dao” (Truyện Kiều). Những người này thường dùng chiêu thức: “Tốt đẹp khoe ra, xấu xa che lại”, vì thế, họ ưa sống hào nhoáng bên ngoài nhưng thực chất bên trong trống rỗng. Họ thuộc hạng người: “Khác nào quạ mượn lông công. Ngoài hình xinh đẹp trong lòng xấu xa” (Ca dao), nên không sớm thì muộn, họ bị đặt nghi vấn: “Trông anh như thể sao mai, biết rằng trong có như ngoài hay không?” (Ca dao).

Đứng trước thực trạng như thế, chúng ta nhiều khi thông cảm với cảm thức của người Việt là thích ứng và tùy nghi. Tuy nhiên, là người Kitô hữu, chúng ta không thể sống kiểu: “Gió chiều nào che chiều đó”. Sống như thế là trái với đạo lý của Tin Mừng, nghịch với Lương Tâm ngay thẳng. Khi sống như thế, ta chẳng khác gì một cây tầm gửi, hay ký sinh trùng ăn nhờ ở đợ người khác, nên khi họ bị thất thế, ngã gục thì cũng chết theo.

Thật vậy, chúng ta có thể "lừa dối vài người mãi mãi, có thể lừa dối mọi người một lúc nào đó, nhưng ta không thể lừa dối mọi người mãi mãi được". Là người Kitô hữu, chúng ta phải nằm lòng câu nói sau: “Mất tiền là mất ít, mất người là mất nhiều, nhưng mất niềm tin là mất tất cả!”. 

3. Hiểu và sống sứ điệp Lời Chúa

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy trở về đường ngay nẻo chính để được hạnh phúc, bằng không sẽ phải chết trong sự thất vọng.

Lời Chúa hôm nay còn mời gọi chúng ta cần loại bỏ tư tưởng đạo đức giả và cho mình thuộc hàng công chính, rồi sống trong sự tự mãn, kiêu căng. Đừng mang danh là Kitô hữu nhưng thực tế không có “chất Kitô”. Luôn có tinh thần sám hối, quay trở về với Chúa. Ngược lại, cũng không được có thái độ tự ti để rồi tự nhận mình thuộc hàng “thu thuế và đĩ điếm” để buông xuôi trong sự thất vọng.

Mong sao tất cả chúng ta, mỗi người luôn ý thức rằng mình đều là những người đang lữ hành, nên chưa phải là hoàn hảo. Vì thế: “Không hề có tình trạng đã thành một Kitô hữu mà chỉ có trong tình trạng đang trở thành một Kitô hữu” (Soren Kierkegaard).

Nếu: “Có thì nói có, không thì nói không, thêm thắt là do ma quỷ mà ra”.  Thực hành lập trường “ngôn hành đồng nhất”, nếu không sẽ dễ dẫn đến tình trạng “mâu thuẫn nội tại”. Và chúng ta bị rơi vào tình trạng nói thì rất hăng nhưng khi làm thì chẳng thấy đâu, họ giống như người: “Nói thì đâm năm chém mười, đến khi tối trời chẳng dám ra sân” (Tục ngữ).

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con được thuộc về sự thật và trở nên chứng nhân cho sự thật, bởi vì chỉ có sự thật mới giải thoát được chúng con mà thôi. Amen. mục lục.

NHỮNG CÔ GÁI ĐIẾM SẼ VÀO NƯỚC THIÊN CHÚA TRƯỚC

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Chủ đề nổi bật hơn cả của Chúa nhật XXVI thường niên A là sự thống hối ăn năn của con người tội lỗi gặp được lòng nhân lành của Thiên Chúa tình thương. Quả thật, lịch sử cứu độ của Thiên Chúa đối với con người là một chuỗi dài lịch sử tình thương, tội thì Chúa phạt, hoán cải thì Chúa cứu. Đó là lý do tại sao Thiên Chúa phán: "Ta muốn lòng nhân từ chứ không cần hy lễ " (Hs 6,6; Mt 9,13). "Ta không muốn kẻ vô đạo chết, mà (muốn) kẻ vô đạo bỏ đường nó theo mà trở lại và được sống" (Ed 33,11). Cánh cửa trái tim nhân từ của Thiên Chúa luôn luôn rộng mở cho hết những ai chân thành hướng về Thiên Chúa với cả tấm lòng thành, và Ngài sẽ đón nhận họ với niềm vui khôn tả là cả thiên đàng sẽ vui mừng (x. Lc 15,10).

Chỉ có Thiên Chúa không qui kết tội lỗi mà còn thứ tha. Ngài là "Cha đầy tình thương xót" (2 Cr 1,3), là Thiên Chúa nhân lành, đầy lòng từ bi, và là Thiên Chúa mọi nguồn an ủi, luôn kiên nhẫn chờ đợi kẻ có tội thống hối ăn năn, luôn muốn điều tốt cho con cái. Hoán cải thực sự là dứt khoát từ bỏ tội lỗi, thống hối vì những tội đã qua và xin Chúa thứ tha. Thiên Chúa thương xót sẵn sàng tha thứ và tuôn đổ Thánh Thần tẩy xóa mọi tội lỗi quá khứ của hối nhân.

Trách nhiệm của con người

Thiên Chúa muốn chúng ta phải chịu trách nhiệm về những việc chúng ta làm, trả lời về những kết quả hành động của chúng ta. Nên chúng ta không được hành động nửa vời: vì nếu nửa vời chúng ta sẽ chết. Tiên tri Ezekiel cảnh báo: " Nếu kẻ gian ác bỏ đàng gian ác nó đã đi, và thực thi công bình chính trực, nó sẽ được sống. Nếu nó suy nghĩ và từ bỏ mọi tội ác nó đã phạm, nó sẽ sống chớ không phải chết " (Ed 18,28).

Chúa Giêsu cảnh báo chúng ta rằng, nói "vâng", "tôi biết", "tôi thực hành giáo lý" mà thôi, chưa đủ, phải hành động, phải lên đường. Chính người con trai đã nói "không" với cha mình, nhưng nó hối cải và đi làm vườn nho, anh ta đã làm theo ý người cha, như thế, anh bước vào giao ước tình thương của cha anh, anh đã yêu mến cha trong hành động và chân lý.

Chúa Giêsu lên án các thượng tế và kỳ lão là những người biết rõ Kinh Torah, Lời Thiên Chúa, nhưng chỉ biết thôi không làm cho họ nên công chính. Chúa long trọng tuyên bố: "Tôi bảo thật các ông, những người thu thuế và gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ông" (Mt 21,31). Các thượng tế và kỳ lão hiểu rất rõ sứ điệp trên, nên họ sẽ không dung tha cho Chúa Giêsu: ít ngày sau, chính họ là những kẻ sẽ lên án tử cho Người. Đúng, sự đồi bại của kẻ công chính sẽ dẫn đến cái chết, thậm chí dẫn đến cái chết của những người vô tội, như Hêrôđê dẫn đến cái chết của các thánh Anh Hài!

Những cô gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước

Lời tuyên bố trên của Chúa Giêsu như một ánh hào quang của Tin Mừng được xây dựng chung quanh hạng nguời đĩ điếm, lý tưởng hoá họ và đối nghịch họ với những kẻ được gọi là công chính là các thượng tế và các kỳ lão, đã gây sốc cho nhiều người. Không có lời nói nào của Chúa Giêsu bị lạm dụng cho bằng lời nói: "Những cô gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước" (Mt 21,31)..  Khi lý tưởng hoá hạng đĩ điếm, người ta cũng lý tưởng hóa luôn cả hạng người thu thuế, luôn đi kèm hạng đi điếm, là những kẻ cho vay nặng lãi, một loại luôn đồng hành loại gái điếm trong Tin Mừng đã gây lên một sự hiểu lầm đáng sợ, khi người ta không nhận thức đủ.

Những người thu thuế, là những nhân viên các cơ quan thâu thuế Roma, tham dự trong những hành xử bất công của những cơ quan này. Nếu Chúa Giêsu liên kết những gái điếm và những người thu thuế với nhau, Người làm vậy không phải là không có lý do; vì cả hai đều coi tiền bạc là sự quan trọng nhất trong cuộc sống.

Nếu Chúa Giêsu tôn trọng các cô gái điếm và người thu thuế hay kẻ tội lỗi, không phải do kiểu sống của họ, nhưng vì khả năng thay đổi và phục thiện... như Maria Madalêna, kẻ đã trở lại và đã theo Chúa Giêsu trên tất cả con đường thánh giá, là một gương mẫu cho sự này (đặt giả thiết bà là một cô gái điếm), Giakêu (x. Lc 9,1-10), người phụ nữ Samaria (Ga 4,1-42), người phụ nữ ngoại tình (x. Ga 8,1-11) và người con trai hoang đàng (x. Lc 15,11 và 32).

Chúa Giêsu nói rõ lý do sẽ vào nước Thiên Chúa trước: "Vì Gioan đã đến với các ông trong đường công chính, và các ông không tin ngài; nhưng những người thu thuế và gái điếm đã tin ngài. Còn các ông, sau khi xem thấy điều đó, các ông cũng không hối hận mà tin ngài" (Mt 21, 32).

Hoán cải không bao giờ là muộn

Chúng ta được yêu cầu từ bỏ thái độ để ý đến mình hơn là tha nhân, thậm trí hơn cả Thiên Chúa nữa. Vì Không phải mọi kẻ nói với Ta: "Lạy Chúa, lạy Chúa", là sẽ vào được Nước Trời, nhưng là kẻ thi hành ý Cha Ta, Ðấng ngự trên trời" (Mt 7,21).

Những lời tuyên bố trên của Chúa Giêsu giúp chúng ta hiểu rõ hơn về dụ ngôn hai người con trai được cha sai đi làm vườn nho (x.Mt 21,32). Qua đó, Chúa mở mắt những người Do Thái để họ hiểu rằng khi khép kín lòng mình trong sự bất chính và sai lầm của chính họ là một sự từ chối Nước Trời.

Họ nói "vâng" với Thiên Chúa. Nhưng trong thực tế, họ lại ngoan cố khước từ lời Thiên Chúa, gạt bỏ Nước Trời. Rõ ràng là nói "vâng" nhưng lại không thi hành. Và như một mẫu gưỡng về sự hoán cải, Chúa Giêsu đặt ra những tình huống trái nghịch : những người thu thuế và gái điếm. Ban đầu, họ nói "không" với Nước Trời và Giao Ước vì họ chưa nhận ra các yêu cầu phải thi hành để được vào Nước Trời, nhưng họ có đủ khả năng để thích ứng với dấu hiệu Nước Thiên Chúa. Sau đó, trên hành trình tìm kiếm Nước Trời. Dần dần, họ học cách nói "có", nên Chúa Giêsu tuyên bố  : "Bởi đó, tôi nói cho các ông hay: Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi" (Mt 21,43).

Phần chúng ta, chúng ta cũng phải học cách nói "có" ... "Con không đi'. Nhưng sau hối hận và đi làm" (Mt 21,29). mục lục.

THỢ VƯỜN NHO TRUNG THÀNH

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

Trước khi kể câu chuyện như trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã trở lại đền thờ (Mt 21:23a) và tuyên bố đền thờ là đất thánh dùng để cầu nguyện và làm mục vụ chữa lành (Mt 21:14). Lời Chúa Giêsu như thách thức những kẻ đối kháng với Ngài, là các thượng tế và kỳ mục trong dân. Họ luôn luôn tạo áp lực để bắt bí Người:“ Ông lấy quyền gì mà làm những điều đó, và ai ban cho ông quyền ấy?”(Mt 21:23b). Chính Thiên Chúa là nguồn mạch quyền uy của Chúa Giêsu, nhưng nếu nói ra thì chẳng ích lợi gì mà còn là cớ cho họ xúc phạm Người. Thay vì trả lời thẳng câu hỏi, Chúa Giêsu hỏi ngược lại họ về phép rửa của ông Gioan Tiền Hô. Vì không tin Chúa qua hành động mục vụ của Gioan nên họ không trả lời Chúa. Niềm tin vào Thiên Chúa và Chúa Giêsu của những kẻ đối kháng Chúa đã thể hiện qua phản ứng của họ về ông Gioan Tiền Hô.

Ý NGHĨA BÀI PHÚC ÂM HÔM NAY 

Về câu chuyện người cha sai hai người con đi làm vườn nho trong bài Tin Mừng hôm nay (Mt 21:28-32), đối với những người Do Thái hiểu biết chuyện Kinh Thánh của họ thì câu chuyện này đã có giải đáp rồi. Chuyện nói về những người anh em trong Kinh Thánh / Cựu ước thường là những chuyện gây cấn, xung đột, bán mua, hiểu lầm, ganh đua như chuyện hai anh em Jacob và Esau, Isaac và Ishmael hay Joseph và các anh em ông. Qua câu chuyện Chúa Giêsu kể, chúng ta buộc phải suy nghĩ về tư cách của hai người con.

Khi ra lệnh, người cha kỳ vọng vào các con, không phải chỉ tiếng “vâng”, mà là một cam kết hành động. Người con đầu trả lời “không” nhưng nghĩ lại, đã hối hận rồi đổi ý và đi làm. Người con thứ hai nói “vâng” cho xong chuyện nhưng không giữ lời. 

NGƯỜI THU THUẾ VÀ GÁI LÀNG CHƠI LẠI ĐƯỢC VÀO NƯỚC TRỜI 

Hai người con tượng trưng cho các vị lãnh đạo tôn giáo và những người đã nghe ông Gioan Tiền Hô kêu gọi thống hối. Qua cách họ trả lời Chúa Giêsu (Mt 21:31), họ đã tự kết án mình. Là những người lãnh đạo tôn giáo, họ tuyên bố trung thành và vâng lời Thiên Chúa, nhưng lại mù quáng, không hiểu rằng vâng lời thực sự là phải tin những điều mới lạ mà Thiên Chúa đang làm. Cuối cùng, những kẻ tội lỗi như những người thu thuế, gái làng chơi là những kẻ chẳng biết những đòi hỏi của đạo giáo lại được nhận vào Nước Trời, còn những kẻ chống đối Chúa Giêsu lại bị loại. Ngoài ra, những kẻ chỉ tìm kiếm ơn cứu chuộc ở đâu đó vì không chấp nhận những hình thức bề ngoài của tôn giáo lại là những kẻ rất nhậy cảm với hồng ân Thiên Chúa, do đó họ đã ăn năn thống hối và phục vụ Thiên Chúa một cách rất chân tình. Cũng bất ngờ như vậy, ta thấy cách thức của Thiên Chúa và của người dân hoàn toàn trái ngược nhau như nói trong bài đọc 1 (Ed 18:25-28). 

ĐỪNG ĐẠO ĐỨC GIẢ 

Bài dụ ngôn hôm nay mới chỉ là khái niệm về đặc tính của vương quốc Thiên Chúa. Dù chỉ đưa ra một phán xét về những người lãnh đạo tôn giáo Do Thái, nhưng sứ điệp này cũng áp dụng cho cả chúng ta. Hẳn đã có lúc chúng ta cũng mù quáng, không muốn nhận biết những việc Chúa làm ở chung quanh ta. Bài dụ ngôn này phải chăng nói về những kẻ đạo đức giả, bề ngoài xem có vẻ khiêm nhường và khúm núm biểu lộ vâng phục, nhưng thực tế họ chẳng nghĩ tới Chúa, chẳng thèm nhận biết lòng Chúa thương sót họ bao la thế nào! Đây là hình ảnh những kẻ xưng mình là người Công giáo, nhưng không sống với niềm tin không thờ phượng Chúa, không đi nhà thờ đọc kinh xem lễ, ngược lại với những người trở lại với Chúa họ chẳng bao giờ nói mình là người công chính. 

Thực ra nói mình là gì không quan trọng; mà là cách mình nghĩ và sống có phù hợp với lòng mình không. Nói lạy Chúa tôi! Lạy Chúa tôi ơi! Ở đầu môi chóp lưỡi để ngoại giao, làm đẹp lòng người đối diện hoặc tỏ ra mình đạo đức mà lòng trí trống rỗng, không nhận biết và thực hành sứ điệp Chúa, không tỏ lòng ăn năn thống hối thì chẳng có giá trị gì. Điều Chúa muốn chính là cuộc sống của chúng ta. Thiên Chúa nhẫn nại vô cùng, chắc chắn sẽ tha thứ cho tiếng “Không” lúc ban đầu, nhưng trên bước đường dài, kết thúc phải là tiếng “Vâng” bằng hành động.

PHÚC ÂM HÓA VÀ HĂNG SAY ĐỔI MỚI 

“Cố gắng để đạt kết quả tốt” dù chỉ chút xíu cũng còn hơn là chỉ giữ cái tên xứ đạo này, cộng đồng nọ, hội đoàn kia cho có vẻ hoặc chỉ lo rước sách um sùm bề ngoài nhưng lại không dùng ân sủng Chúa ban để đổi mới và rao truyền Tin Mừng, tuyên xưng niềm tin trong đời sống xã hội. Hứa sẽ làm việc trong vườn nho, nhưng không làm cỏ, hái nho mà đi chọi đá dọc đường, chẳng thèm để ý đến những thành quả dồi dào Chúa ban ở quanh ta mà vui mừng tung hô Thiên Chúa. 

CÁI NHÌN CỦA CHÚA GIÊSU KITÔ 

Thư thánh Phaolô gửi tín hữu Philípphê trong bài đọc 2 (Pl 2:1-11) là một trong những bài thánh ca tuyệt vời trong Tân Ước. Bài được chia làm 2 phần: Ở các câu 6-8 Chúa Giêsu là chủ thể của mỗi động từ; các câu 9-11 Chúa Giêsu là túc từ. Nhìn tổng quát cho thấy Đức Kitô hạ mình để rồi mọi người tôn vinh. 

Dù Phaolo đang bị giam trong tù, không được thăm viếng và giảng phúc cho cộng động Philípphê yêu quí của ngài, nhưng không vì vậy mà cộng đồng không thể hiệp thông và giúp đỡ ngài. Từ trong tù, Phaolô xin họ cầu nguyện cho niềm vui của ngài được trọn vẹn bằng cách có “cùng một cảm nghĩ”, “cùng một tinh yêu mến” (2:2). Đừng để bị lôi kéo, tâng bốc lên tận mây xanh theo trào lưu thế tục, chúng ta hãy làm theo khuynh hướng “đi xuống” của Chúa Giêsu Kitô tự làm cho mình trở nên hèn mọn với tâm hồn khiêm cung để rồi có được tràn đầy hống ân Thiên Chúa.  

LIÊN HỆ GIỮA CHÚA KITÔ VÀ LỀ LUẬT 

Giáo Lý đã nêu lên những liên hệ giữa Đức Kitô và lề luật qua những câu sau đây: 

 # 580 - Chu toàn lề luật không phải là ai khác ngoài Đấng làm ra luật là Thiên Chúa, Đấng sinh ra vì luật trong con người của Chúa Con. Nơi Chúa Giêsu, luật không còn ghi trên bảng đá nhưng tận “đáy lòng” của người đầy tớ đã trở thành “giao ước của dân”, bởi vì Người “trung thành theo luật pháp /công lý”. Chúa Giêsu chu toàn lề luật đến độ đã lãnh lấy cho mình “sự chúc dữ của lề luật” mà những kẻ không thi hành giới răn luật phải gánh chịu. Cái chết của Chúa Giêsu là để cứu chuộc họ vì đã “vi phạm giao ước thứ nhất”. 

# 581 - Dưới mắt dân Do Thái, Chúa Giêsu là một rabbi. Người thường tranh luận về cách giải thích luật của các rabbi, nhưng Người không thể chấp nhận nên đã phải đụng chạm đến các tiến sĩ/thầy dạy luật, bởi vì Người không chỉ đề ra những cách giải thích như họ, mà “Người còn giảng dạy như một người có uy quyền, chứ không như các luật sĩ của họ”. Nơi Chúa Giêsu, cũng vẫn Lời Thiên Chúa xưa đã từng vang dội trên núi Sinai để viết ra thành luật Môsê, nay lại được nghe lại tại núi Tám Mối Phúc Thật. Chúa Giêsu không dẹp bỏ lề luật, nhưng kiện toàn bằng cách đưa ra những giải thích tối hậu theo đường hướng của Thiên Chúa: “Các ngươi đã nghe có lời dạy người xưa rằng…., còn ta, ta bảo các ngươi rằng…”(Mt 5:33-34). Với uy quyền Thiên Chúa như thế, Người không chấp nhận một số truyền thống loài người của những người biệt phái vì chúng “phá bỏ Lời Thiên Chúa”. 

SUY NIỆM TRONG TUẦN

1-  Thế giới quanh ta đang khao khát Tin Mừng thực sự từ những người thợ làm việc trong vườn nho của Chúa là những người rao truyền Tin Mừng không mệt mỏi, không buồn nản, nhưng là những thừa tác viên / mục tử của Phúc Âm mà cuộc sống sáng ngời đầy nhiệt khí, là những người đã nhận niềm vui Chúa Thánh Thần trước tiên, và sẵn sàng hy sinh mạng sống mình để cho Nước Trời được tuyên xưng, Giáo Hội được thiết lập giữa lòng thế giới. Chúng ta phải rao truyền Phúc âm như thế nào? Chúng ta có vui mừng tiếp nhận việc Tân Phúc Âm hóa không?

2-  Cái gì ngăn cản chúng ta trở thành những cộng đồng thực sự, tình nghĩa huynh đệ thực sự và  một hội đoàn sống động hơn là một cơ chế tổ chức máy móc, nặng phần trình diễn?

3-  Nhờ một số biến cố xẩy ra trên thế giới và trong Giáo Hội, chúng ta gạn lọc và xét lại lời tuyên xưng của chúng ta thế nào? Chúa Thánh Thần đã nói gì với Giáo Hội qua những biến cố ấy? Những hình thức mới nào vể việc phúc âm hóa mà Chúa Thánh Thần dạy bảo và đòi hỏi chúng ta phải theo?

4-  Chúng ta có phải là những người thợ làm việc trong vườn nho của Chúa, đầy niềm tin, quảng đai, nhiệt tình và tràn trề hy vọng không? Tại sao? mục lục.

NGUY CƠ TỰ MÃN

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

“Các ông nghĩ sao?”. Ngay đầu câu chuyện, Chúa đưa ra lời hỏi đột ngột như một lời thẩm vấn buộc người nghe động não, phải tự đặt vấn đề cho mình. Lời hỏi như muốn gây giật mình, cùng lúc lôi cuốn chú ý của người nghe vào trong câu chuyện, giúp người nghe tra xét bản thân. 

“Các ông nghĩ sao? Người kia có hai con trai”. Cả hai con trai đều được ông sai đi làm vườn nho. Nhưng các con của ông sao mà tính khí bất định, để rồi tiếng vâng mà thực là không, tiếng không lại là vâng. 

Dù tính cách và những câu trả lời của các con bất định, nhưng theo mạch văn Tin Mừng, đối với Chúa Giêsu, cái làm cho chúng trở nên đúng hay sai, tốt hay xấu, không thuộc về tính cách, càng không phải là lời nói, nhưng là rốt cuộc chúng LÀM hay KHÔNG LÀM theo ý cha mình.

“Các ông ngĩ sao?”. Nếu xưa Chúa hỏi người đương thời, thì hôm nay lời ấy cũng là lời tra vấn chúng ta. Nói cách khác, Chúa cũng sẽ hỏi bạn và tôi: “Các con là loại người nào trong hai người con trai kia?”. 

Dù trong ta, có thể có cả hai thái độ của hai người con, nhưng hôm nay, chúng ta nói đến người con thứ, qua đó xét lại thái độ sống đức tin của mình.

Chắc chắn không ai không ủng hộ việc giữ đạo từ nhỏ đến lớn, ủng hộ việc thường xuyên lãnh bí tích, thường xuyên dự lễ, đọc kinh… Nếu ai sống đạo được như thế, thực sự họ đã là những người ngoan đạo. 

Nhưng điều được coi là ngoan đạo ấy, nếu không để ý, có khi đẩy ta rơi vào thái cực khác khá nguy hiểm: giữ đạo theo thói quen. 

Việc giữ đạo lâu ngày trở thành một cái khuôn, chỉ cần rập khuôn theo là đủ, hoặc sự sáo mòn từ ngày nay qua ngày khác làm ta cảm thấy mình không sai luật, không lỗi bổn phận. Cuối cùng, không thấy cần phải ăn năn, vì không biết mình có phạm tội gì để ăn năn hay không? Từ đó sinh ra thái độ khác tệ hại hơn: tự mãn, tự kiêu, tự đắc thắng. 

Đó cũng chính là thái độ tự phong mình làm “thánh”, dù không nói ra thành lời. Nếu điều này có thật thì thật nguy hiểm: Làm gì có ai hoàn hảo. Chỉ vì không thể nhận ra mình bất toàn,  nên không thể hoán cải.

Đấy chính là thái độ của người con thứ hai. Anh ta thưa với cha: “Vâng, thưa cha con sẽ đi làm vườn nho”, nhưng lại không đi. 

Mỗi chúng ta đều sống trong lòng Hội Thánh, đều có thể thưa với Chúa: con yêu mến Chúa, con tin Chúa, con muốn theo Chúa. Nhưng trong thực tế, đời sống đạo của mình cứ ì ạch, không có gì khá hơn, không đổi mới gì và cũng không thấy mình cần phải ăn năn hối cải.

Nếu đúng là ta có cung cách, thái độ sống đạo tự mãn, chỉ biết rập khuôn theo luật, mà không đủ tâm tình, hay ý thức nào để cải thiện đời sống, điều đó có nghĩa là ta đang tự lừa dối chính bản thân. 

Nếu có lúc nào bạn và tôi thật khiêm tốn, tự kiểm điểm thật thành tâm, tôi nghĩ, chắc là lúc ấy chúng ta không còn dám tự mãn nữa. 

Chắc bạn nhớ lời khen của Chúa Giêsu đối với thái độ của người thu thuế khi cầu nguyện. Anh ta đứng xa xa ở cuối nhà thờ, không dám ngước mắt lên, đấm ngực mà cầu nguyện: “Lạy Chúa, tôi là kẻ có tội”. Sau lời cầu nguyện ấy, anh ra về và tội của anh được tha. 

Cùng lúc, cũng có người biệt phái cầu nguyện trong nhà thờ ấy. Rất tiếc và rất đáng thương cho anh ta. Anh ta quá tự mãn, chỉ thấy nơi mình toàn điều tốt. Thái độ tự mãn ấy đã biến lời cầu nguyện thành lời khoe khoang. 

Làm sao một người không từng thấy mình yếu đuối, thấy mình tội lỗi lại có thể được thứ tha! Bạn và tôi cần lắm thái độ của người thu thuế nơi chính bản thân mình. 

Và cũng cần lắm thái độ của người con thứ nhất trong Tin Mừng hôm nay: trả lời “không”. Nhưng tiếng “không” thành tiếng “có” ngay sau đó. 

Tiếng “không” như thế vẫn đẹp rực rỡ, đẹp hơn nhiều so với tiếng “có” của người con thứ hai, rốt cuộc chỉ là một tiếng “không” vô tận. Bởi lời đáp trả dẫu có quan trọng, nhưng hành động đi liền với lời đáp trả ấy quan trọng hơn nhiều. Biết tránh thái độ tự mãn, biết nhận ra bản thân để thánh y Cha được thể hiện mới là điều quí giávô cùng.

“Các ông nghĩ sao?”. Ngày xưa Chúa hỏi những người biệt phái, thượng tế, kỳ lão. Ngày hôm nay Chúa cũng hỏi từng người một: “Các con nghĩ sao? Nghĩ sao về cách sống đạo của mình? Nghĩ sao về cách thể hiện đức tin? Nghĩ sao về lòng yêu Chúa mà mình phải có? Nghĩ sao về thánh ý Chúa mà mình phải thực hiện?” . 

“Các ông nghĩ sao?”, lời đó xin gởi lại cho bạn và cho những ai thành tâm thiện ý để cùng suy gẫm và xét lại cách sống đạo của mình. Trên hết mọi sự, bạn và tôi hãy để Lời Chúa tra vấn mình: “Các con nghĩ sao?”. mục lục.

Ý XUÔI Ý NGƯỢC

[Niệm ý Mt 21:28-32]

Ý xuôi lại làm ngược

Nghe nói rất ngoan hiền

Lòng gian tà, thâm độc

Hành động thấy rõ liền.

Bề ngoài là lừa bịp

Bản chất vốn gian tà

Chớ nghe lời nói khéo

Kẻo oan ức bị lừa.

Những người tính bộc trực

Nói thẳng, chẳng đầu đuôi

Nghe có vẻ trái ngược

Thế nhưng lại rất xuôi.

Những người luôn nghiêm túc

Chẳng cười nói lao xao

Có tâm địa chân thật

Không rào trước, đón sau.

Làm lớn mà làm láo

Là những kẻ tào lao

Mạo nhận mình gia giáo

Là những kẻ tự kiêu.

Biết đau vì đã ngã

Chưa ngã, chắc gì hay?

Kinh nghiệm luôn vô giá

Cố tự mình đổi thay. mục lục.

Viễn Dzu Tử

ĐỨC VÂNG LỜI 

(Suy niệm từ Mt 21,28-32)

Con Cha tôn trọng lời Cha

Chiên theo Ý Chủ mới là chiên ngoan.

Lắng nghe Chúa dạy dụ ngôn

Hai người con Bố dại khôn hai đàng

Một hôm Bố bảo đi làm 

Vườn nho cần việc chớ ham việc gì.

Người anh nói: con không đi

Nhưng sau nghĩ lại, chẳng nề lao công

Người em nghe Bố nói xong

Miệng thưa vâng chịu… quyết lòng chẳng đi.

Lời Chúa dạy: con người nơi dương thế

Chúa dựng nên để tự hiến lập công

Vâng theo Thánh Ý Chúa quan phòng

Nếu vấp ngã, vùng dậy xin ơn tha thứ.

Chớ kiêu ngạo như những Thầy Đạo Cũ

Chẳng tin vào phép Rửa của Gio-an

Không hồi tâm theo dõi nẻo bình an

Khi Thiên Chúa thực thi ơn Cứu Độ. mục lục.

(Thế Kiên Dominic)

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan