SUY NIỆM CHÚA NHẬT 27 THƯỜNG NIÊN - A

02-10-2020 132 lượt xem

Is 5:1-7; Pl 4:6-9; Mt 21:33-43

Mục Lục

VƯỜN NHO CỦA CHÚA - Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

CHÚA KHÔNG BỎ RƠI VƯỜN NHO CỦA CHÚA - Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

THIÊN CHÚA VẪN MỘT LÒNG TRUNG TÍN - Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

GHEN TỨC - Trầm Thiên Thu

MAY MẮN MÀ KHÔNG BIẾT - Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

VƯỜN NHO NƯỚC TRỜI - (Thế Kiên Dominic)

LỜI KINH KẾT NỐI - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

LỜI "XIN VÂNG" ẢNH HƯỞNG NHƯ THẾ NÀOLm. JB. Nguyễn Minh Hùng

KINH KÍNH MỪNG, LỜI KINH MẸ DẠY CẦU TRONG CƠN NGUY KHỐNLm. Antôn Nguyễn Văn Độ

MÙA MẦU NHIỆM - Viễn Dzu Tử

BỐN MÙA MÂN CÔI - Viễn Dzu Tử

MẸ RẤT THÁNH MÂN CÔI - (Thế Kiên Dominic)

MẸ MÂN CÔI - Anna Trần Thị Chúc

-----------------------------------------------------------------

VƯỜN NHO CỦA CHÚA.

Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

Theo thói đời, người ta thường có khuynh hướng tránh gặp những người có xung đột hay đối đầu với mình. Nhưng Đức Giê-su đã không làm như thế.

Trong các bản văn của Tin Mừng, đặc biệt Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu, chúng ta được nhìn thấy mức độ căng thẳng trong mối quan hệ giữa Đức Giê-su và hàng ngũ lãnh đạo tôn giáo thời của Người. Họ quyết tâm tìm mọi cơ hội để gài bẫy và buộc tội hầu có thể tiêu diệt Đức Giê-su; nhưng không vì thế mà Người chịu lùi bước.

Tuần trước, Đức Giê-su đã dùng câu chuyện “hai người con” để mời gọi hàng ngũ lãnh đạo Do Thái giáo trở về cõi lòng mà nói lời “xin vâng” rồi hành động theo ý Thiên Chúa. Nhưng hình như sứ điệp của Người không phá tan được rào cản của quyền lực, nhất là ‘cái tôi” của họ, khiến họ không chịu hối hận mà trở về nẻo chính đường ngay. Trong bài nói chuyện tuần này, Người tiếp tục dùng thêm một dụ ngôn nữa để ám chỉ đến tấm lòng chai đá, đôi khi biến thành các hành vi tàn ác của họ.

Truyện kể về việc kinh doanh vườn nho. Có một ông chủ kia trồng được vườn nho. Ông rào giậu chung quanh. Trong vườn ông khoét bồn đạp nho và một tháp canh. Các chi tiết này ám chỉ cho chúng ta biết vườn nho thuộc về ông. Nhưng ông không tự mình trồng nho mà lại cho các tá điền thuê để canh tác. Sau đó, ông trẩy đi phương xa cho đến mùa thu hoạch mới sai sứ giả của ông đến để thu hoa lợi. Đến lúc này thì công việc kinh doanh vẫn hoạt động như bình thường, cho đến khi sự cố xẩy ra.

Trước khi tìm hiểu xem điều gì đã xẩy ra, xin mời anh chị em thử tưởng tượng xem có người làm thuê nào dám hành hạ và đánh đập những sứ giả mà ông chủ phái tới để thu hoa lợi hay không? Giả như những người đại diện của chủ bị hành hạ thì ông chủ sẽ có thái độ như thế nào? Hơn thế nữa, với tình hình của một quốc gia đang bị đô hộ thì người dân có quyền thế gì. Mọi thứ quyền lực thường nằm trong tay đế quốc, qua trung gian của mấy ông chủ, những người có mối quan hệ với đế quốc đang thống trị họ. Trong tình hình đó, ông chủ vườn nho (như mấy ông chủ đồn điền) sẽ sai quân binh đến để dẹp bọn tá điền phản loạn, làm gì có việc sai thêm nhóm khác và sau cùng lại gửi con ông đến để chịu chết như dụ ngôn kể lại. Và, thật nực cười khi chúng ta nghe lý do mà họ giết cậu con trai, đó là để đoạt gia tài mà cậu được thừa kế. Dù cậu có bị giết thì gia tài vẫn thuộc quyền ông chủ, cho đến khi nào mới về tay những kẻ làm thuê.

Đến lúc này, Đức Giê-su mới bộc lộ ý của Người qua câu hỏi: Khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn đã giết các sứ giả và người con thừa tự của ông? Câu trả lời của họ thật rõ ràng: Ông sẽ tru diệt bọn ác nhân và trao cho nhóm tá điền khác canh tác, để cứ đúng mùa, họ sẽ nộp hoa lợi cho ông.

Sau câu trả lời thật hiển nhiên đó, họ thấy chính họ trong câu chuyện. Họ hiểu ý mà Đức Giê-su kể trong câu chuyện hôm nay. Người có ý mời gọi các vị lãnh đạo, các chức sắc hãy nhận ra sứ điệp của Người mà thay đổi cách sống. Nhưng họ không động lòng để hối cải. Than ôi, họ ngoan cố tiếp tục tìm cách bắt Đức Giê-su!

Thưa anh chị em,

Đối với các thành viên trong cộng đoàn của Mát-Thêu thì bài Tin Mừng này có thể được giải thích đó là việc dân Do Thái đã lạm dụng vai trò canh tác vườn nho của Thiên Chúa. Họ được mô tả như những người làm thuê, nhưng lại không chấp nhận thân phận của mình, trái lại họ đã cư xử như một ông chủ; không có lòng nhân từ và kiên nhẫn. Với cách hành xử rất thô bạo, bằng bạo lực họ đã cuớp quyền sở hữu, giết các sứ giả do chủ sai đến. Họ, từ vị trí của những người làm công, đã thiết lập các qui tắc, rồi cuớp đoạt và tự hành xử như một ông chủ. Họ tìm cách loại bỏ Người. Vì quyền lợi riêng tư nên họ đã từ chối đón nhận Đức Giêsu và nguồn ơn cứu độ của Người.

Tuy nhiên, câu chuyện không kết thúc ở hành động khuớc từ của họ. Thiên Chúa, Đấng làm chủ vườn nho tiếp tục mời gọi và sai các nhóm tá điền khác đến để canh tác. Nói cách khác thì vườn nho không bao giờ bị bỏ hoang! Một ngôi nhà mới sẽ được cất lên, một triều đại mới sẽ được khai sinh trên hòn đá tảng là chính Đức Kitô. Đây chính là công việc của Thiên Chúa, Đấng làm chủ vườn nho của Người.

Thật tuyệt vời cho chúng ta khi nhìn thấy hay nhận ra bao công trình mà Chúa đã xây dựng trong vườn nho của Người, trong cuộc đời của mỗi chúng ta nữa. Quả thật, chúng ta hãy nhận ra rằng việc được làm việc trong vườn nho của Chúa là một hồng ân, hồng ân đó hoàn toàn không lệ thuộc vào tài năng hay phẩm chất của con nguời. Đó là một món quà nhưng không của Thiên Chúa ban, không chỉ cho riêng mình, nhưng qua công sức, chúng ta làm cho món quà đó mỗi ngày mỗi lớn hơn để chia sẻ cho tha nhân. Có như thế, chúng ta mới xứng đáng là người thợ luôn tìm cách sinh hoa lợi cho ông chủ trong mùa thu hoạch. Và trong khi chờ đợi mùa thu hoạch, Thiên Chúa vẫn kiên tâm chờ đợi, không thu động nhưng rất tích cực, bằng cách tiếp tục sai hết lớp thợ này đến lớp thợ khác đến để canh tác trong vườn nho của Người.

Sau cùng Người sai người con thừa tự, hy vọng rằng họ sẽ nể Người mà cộng tác với người con đó. Nhưng than ôi! Họ đã nhẫn tâm giết luôn người con. Tuy nhiên, việc con người nhẫn tâm và tàn ác cũng không thắng nổi sức mạnh và công trình của Thiên Chúa. Thật vậy, Đức Giê-su đã nói: “…Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta.” Tảng đá mà Đức Giêsu nói ở đây là chính bản thân Người, là thân thể của Đức Ki-tô.

Theo thiển ý của tôi, khi nhắc lại công trình của Thiên Chúa, Thánh sử muốn đề cao quyền làm chủ của Người và nhắc chúng ta nhớ rằng Thiên Chúa có dự án của Người. Cho dù con người có bất trung hay hành xử bất kính và bạo lực cũng không phá hủy được chương trình của Người.

Họ nghĩ là họ đã thành công trong ý đồ xấu xa của họ là loại bỏ Tảng đá. Nhưng, với bàn tay của Thiên Chúa, do công trình của Người, tảng đá đó trở nên tảng đá góc tường.

Họ nghĩ rằng họ đã giết được Con Thiên Chúa. Nhưng, Đức Giê-su qua sự chết, Người đã chiến thắng thần chết. Qua việc chết đi cho ý riêng, Người đã biểu lộ lòng vâng phục ý của Thiên Chúa. Sau cùng, Thiên Chúa đã siêu tôn Người Con và tiếp tục làm chủ công trình của Người.

Còn chúng ta, việc canh tác làm cho vũ trụ, vườn nho Hội Thánh, vườn nho gia đình, cộng đoàn hay xã hội được đổi mới và phát triển là trách nhiệm và phần vụ của mọi người. Phần vụ này không thuộc về riêng ai: Do Thái hay dân ngoại, ai ai cũng được mời gọi. Phần chúng ta, hãy luôn hỏi mình rằng chúng ta đã sống như thế nào để xứng đáng với vai trò mà Chúa đã trao phó trong công việc canh tác vườn nho của Người? Và, trong việc canh tác mà Chúa đã trao phó cho chúng ta đã thực hiện thế nào? Không tự xét mình, chúng ta có thể giống như hàng ngũ lãnh đạo mà Đức Giêsu đã nhắm đến trong bài Tin Mừng hôm nay!

Vẫn biết, cuối cùng thì Nước Thiên Chúa sẽ toàn thắng. Chúng ta không đuợc phép thất vọng. Tuy nhiên, việc sinh hoa lợi là phần phúc mà Chúa đang chờ đợi bàn tay con người. Hãy làm tất cả để vườn nho của Thiên Chúa, thân thể của Đức Ki-tô được sinh hoa kết trái dồi dào và phong phú hơn!

Hãy nhớ rằng vườn nho thuộc về Thiên Chúa, vườn nho là của Người. Chúng ta chỉ là những người cộng tác, hết nhóm này đến nhóm khác, hết thời này đến thời kia, Thiên Chúa vẫn làm chủ. Và, cho dù chúng ta bất xứng, nhưng Thiên Chúa luôn thành tín với dự án của Người. Đừng bao giờ có ý nghĩ chiếm hữu vườn nho cho riêng mình. Đừng bao giờ để cho thành quả của công việc làm thay đổi căn tính phục vụ của mình. Hãy sống trọn vẹn vai trò thừa tác, chu toàn bổn phận của người cộng sự mà làm cho Danh Chúa được cả sáng và Vườn nho của Chúa, là Thân Thể của Đức Ki-tô, được sinh hoa kết trái theo ý Người. Amen! mục lục

CHÚA KHÔNG BỎ RƠI VƯỜN NHO CỦA CHÚA

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

Tuần này chúng ta trở lại với vườn nho đã được Mátthêu nói đến. Trong bài Phúc Âm hôm nay, Đức Giêsu cho chúng ta biết Vương Quốc Thiên Chúa là gì? Đây là một dụ ngôn ngắn gọn nói về cuộc sống thực tế của dân làng ở Palestine vào thế kỷ I, nó khác với cuộc sống của chúng ta ngày nay. 

Giống như dụ ngôn tuần trước về hai người con (Mt 21:28-32) và tuần tới về tiệc cưới (Mt 22:1-14), dụ ngôn tuần này nói về những tá điền sát nhân đã đưa ra một phán quyết rõ ràng để trả lời cho những vị lãnh đạo tôn giáo, những kẻ đã đem quyền lực của Thiên Chúa ra thử thách (Mt 21:23-27). 

Trong Cựu Ước, “vườn nho” thường dùng làm ẩn dụ ám chỉ dân Chúa. Vườn nho trong những dụ ngôn cùa Chúa Giêsu cho biết những giai đoạn để đạt Nước Trời, căn nguyên và thảm trạng của ơn cứu độ. Việc làm trong vườn nho thì cực nhọc, đòi hỏi nhẫn nại mà lương bổng thì không biết trước được như trong những dụ ngôn trước (Mt 20:1-16). Vườn nho cũng là nơi làm việc đầy nguy hiểm, tham lam, ẩu đả giữa các thợ thuyền với nhau (Mt 18: 23-30) và, bạo động giết người cũng thường xẩy ra như trong câu chuyện hôm nay (Mt 21:33-43). 

BẠO ĐỘNG VÀ THAM LAM KHÔNG THUỘC VỀ NƯỚC TRỜI

Hòa bình, bạo động và thèm muốn trong bài Tin Mừng hôm nay là những yếu tố chính của câu chuyện dụ ngôn. Nhìn kỹ vấn đề, chúng ta thấy cuộc sống của người dân thời Đức Giêsu rất khó khăn. Thợ vườn nho phần đông là nô lệ hay tá điền.Tá điền thường là kẻ được tin tưởng nhất thì phải chịu trách nhiệm, họ sẽ chẳng ngần ngại gì mà không chiếm đoạt gia sản của chủ (Mt 21:35). Khi mùa Thu đến, thì mùa gặt cũng bắt đầu, chủ đất sai đại diện đến thu hoa lợi. Để cho an toàn, chủ đất đã tự bảo vệ mình, gia đình và mọi của cải trong những tháp cao vững chắc, và không tự mình đi thu hoa lợi. 

Thời Chúa Giêsu thì chẳng ai lạ gì cảnh bạo động như trong dụ ngôn này. Chủ đất sai con một của mình đến thu hoa lợi thì tá điền giết:“Tên thừa tự đây rồi, ta giết quách nó đi mà đoạt gia tài” (Mt 21:38). Thánh Mátthêu cho thấy những tá điền đã cướp đoạt của cải lại còn giết cả con ông chủ mà ông chủ cũng không hề oán thù. Kết thúc câu chuyện, chúng ta thấy Nước Trời đến với chúng ta theo những phương thức rất lạ lùng không như trong cuộc sống chúng ta. 

VƯỜN NHO LÀ VƯƠNG QUỐC THIÊN CHÚA   

Câu chuyện vườn nho này là một ẩn dụ ám chỉ nước trời. Hình ảnh vườn nho cũng được diễn tả trong bài đọc I. Vườn nho tượng trưng nhà Israel, được Thiên Chúa vun trồng săn sóc là biểu tượng một quà tặng, hồng ân và tình yêu Thiên Chúa. Tuy nhiên, vườn nho cũng đòi hỏi người làm phải cực nhọc mới có nho để làm rượu, nghĩa là con người phải biết đáp ứng quà tặng của Thiên Chúa là sinh hoa trái, làm việc lành phúc đức. 

Vườn nho ám chỉ nhà Israel thì những tá điền là những vị lãnh đạo tôn giáo của Israel, những người tuyên xưng trung thành với luật Israel hay luật Torah, lại từ chối không trả nợ cho Chúa bằng cách nhận biết và chấp nhận sự hiện diện đầy quyền năng của Thiên Chúa trong cuộc sống và sứ mệnh của Gioan Tiền Hô và Đức Giêsu thành Nazareth. 

Liên tiếp các “tiên tri và ngôn sứ” được gửi tới cho các “tá điền” đều bị giết. Chúa Giêsu đã báo động trước cho những người lãnh đạo tôn giáo là phải để ý đến những lời cảnh báo của các ngôn sứ nhưng họ không nghe. Họ cũng bị chỉ trích là không chấp nhận sứ giả do Thiên Chúa gửi đến. Điều này đưa đến hậu quả như chúng ta thấy: “Bấy giờ họ tìm cách bắt Người, vì Người kể chuyện dụ ngôn chống lại họ. Nhưng họ lại sợ đám đông vì đám đông cho Người là một ngôn sứ.” (Mt 21: 45-46). Mátthêu đã hình dung những biến cố lịch sử của ơn Cứu Độ qua câu chuyện dụ ngôn này. Vườn nho là nhà Israel, chủ đất là Thiên Chúa, các nô lệ được sai đến để thu hoa lợi là những ngôn sứ được gửi tới Israel, con ông chủ bị các tá điền giết là Đức Giêsu. 

Sự kiện vườn nho bị lấy lại khỏi các tá điền ác độc và cho những người khác (Mt 21:41) không nói về nhà Israel mà là Vương Quốc Thiên Chúa (Mt 21:43). Nó cũng không có nghĩa là Thiên Chúa sẽ hủy bỏ quyền lãnh đạo hiện tại của Israel và ban cho những vị lãnh đạo khác trung thành hơn. Đúng ra, “Vương Quốc Thiên Chúa” sẽ bị lấy đi “khỏi ngươi” và cho một quốc gia sẽ sinh ra hoa trái. Từ “ngươi” không chỉ những kẻ đối nghịch nói trong câu chuyện mà là tất cả những kẻ theo những vị lãnh đạo của họ và chối bỏ ông Gioan Tiền Hô và Đức Giêsu. Quốc Gia được chuyển thành Vương Quốc chính là Giáo Hội. Đỉnh điểm của câu chuyện dụ ngôn là Chúa Phục Sinh khi Đức Giêsu nói với những người nghe Chúa về lời tiên tri “đá tảng bị vứt bỏ” sẽ trở thành “đá góc tường” (Mt 21:42) trong khi phê phán sau cùng nhấn mạnh đến ý nghĩa của Giáo Hội là nơi thừa hưởng Nước Trời bị lấy đi khỏi những tá điền tiên khởi. (Mt 21:43) 

KHÔNG PHẢI KỲ THỊ DO THÁI 

Dụ ngôn này không có tính kỳ thị Do Thái. Nên đọc câu chuyện như một lời tiên tri của một người Do Thái nói với những người Do Thái. Mọi điều đều ám chỉ rõ ràng những vị lãnh đạo Do Thái, nhưng đừng quên nó cũng áp dụng cho chúng ta là những Kito hữu. Dù vườn nho sẽ được trao cho những tá điền khác (c.41) nhưng họ cũng vẫn mắc nợ ông chủ, vẫn có trách nhiệm nặng nề là phải tạo ra hoa trái Nước Trời. (Mt 21:43).

VƯỜN NHO KHÔNG BỊ HỦY BỎ

Trong lễ mở đầu Hội Nghị các Giám Mục về “Lời Chúa trong Đời Sống và Sứ Mệnh của Giáo Hội” ngày 05-10-2008, Đức giáo hoàng Biển Đức XVI đã giảng một bài rất tuyệt vời liên quan đến câu chuyện dụ ngôn này:

 “Sau chót, chủ vườn nho đã làm một quyết định cuối cùng là sai chính con một mình, hy vọng họ sẽ nghe lời con mình. Nhưng sự việc xẩy ra trái ngược, các thợ vườn nho đã giết người con ấy vì người ấy là con ông chủ, người sẽ thừa hưởng gia tài, để họ chiếm đọat tài sản của chủ dễ dàng hơn. Chúng ta đang chứng kiến một bước nhảy vọt về lời tố cáo vi phạm công bằng xã hội như xẩy ra trong bài thánh ca Isaiah. Ở đây chúng ta thấy rõ ràng là vị phạm luật của chủ là vi phạm tới ông chủ. Nó không đơn thuần là không vâng theo giới luật Thiên Chúa, mà thực ra là chối từ Thiên Chúa: màu nhiệm của Thánh Giá. 

“Tuy nhiên đã có một hứa do Lời của Đức Giêsu: vườn nho sẽ không bị phá hủy. Trong khi những người thợ không trung thành vất bỏ số phận của họ, chủ vườn nho đã không để mất lợi nhuận, đem trao vườn nho cho những tá điền trung thành. Điều này có nghĩa là, dù ở một số nơi, niềm tin bị suy giảm đến độ như tiêu tan hết, thì luôn luôn vẫn còn có những người khác sẵn sàng chấp nhận nó. Vì lý do đó, khi Chúa Giêsu nhắc đến Thánh vịnh 118:117 “Đá tảng xây nhà loại bỏ đi có thể trở nên đá góc nhà”(c.42), Người quả quyết cái chết của Người không có nghĩa là Thiên Chúa thất bại. Sau khi bị giết, Người sẽ không còn ở trong mồ, trái lại, điều xem ra như hoàn toàn thất bại sẽ là dấu hiệu khởi đầu một cuộc toàn thắng thực sự. Tiếp theo sau cuộc khổ nạn đau thương và cái chết của Người trên thập giá sẽ là cuộc chiến thắng Phục Sinh của Người. Vườn nho, do đó, sẽ tiếp tục sinh hoa trái và sẽ được chủ vườn cho “những tá điền khác thuê lại để họ sinh hoa trái cho Người vào đúng mùa của nó” (Mt 21:41).

SUY NIỆM: TÔI CÓ PHẢI LÀ THỢ VƯỜN NHO CÔNG CHÍNH KHÔNG? 

Dụ ngôn những tá điền ác độc, một lần nữa, cho thấy là chúng ta không thể kiểm soát được lòng Chúa thương xót liên tục đổ xuống cho những kẻ khác. Nó buộc ta phải tự xét mình về chính cuộc sống, thái độ và hành động của chúng ta xem nó có phản ảnh việc chúng ta chấp nhận hay chối từ sứ điệp hằng sống của Chúa Giêsu không. Thay vì chỉ để ý đến những người lãnh đạo tôn giáo Do Thái, chúng ta cũng phải đặt vấn đề với chính chúng ta là những Kitô hữu. 

* Tầm nhìn của tôi về Vương Quốc Thiên Chúa / Nước Trời là gì? Tôi tạo dựng mùa gặt cho Nước Trời như thế nào trong cuộc sống cá nhân của tôi và cộng đồng xã hội của chúng tôi?  

* Câu chuyện dụ ngôn này nói gì với tôi về sự liên hệ giữa tôi vài gia đình, bạn bè và đồng nghiệp?  

* Câu chuyện dạy tôi cái gỉ khi tôi không thể tha thức cho người khác và cả chính tôi nữa? 

* Đúng vậy, những tên tá điền ác độc trong bài Phúc Âm hôm nay đã thực sự thách thức lòng nhẫn nại của Thiên Chúa, nhưng, cá nhân tôi cũng vậy, tôi đã đáp lại lòng thương xót và tốt lành vô bờ bến của Thiên Chúa mà hàng ngày Người vẫn đổ ra cho tôi như thế nào? mục lục

THIÊN CHÚA VẪN MỘT LÒNG TRUNG TÍN

 Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Tiếp theo dụ ngôn “Hai người con”: Người cha sai hai đứa con vào làm vườn nho (x. Mt 21, 28-32). Đức Giê-su kể cho thượng tế và kỳ lão nghe dụ ngôn “Những tá điền sát nhân” (x. Mt 21, 33-43). Quả thật, Vườn nho của Chúa là nhà Israel, Thiên Chúa đã tuyển chọn và coi như một vườn nho đặc tuyển được Chúa chăm sóc, bảo vệ, (“Bài ca vườn nho” – Is 5, 1-7) là một bằng chứng: “Vườn nho của Chúa các đạo binh là nhà Israel, và người Giuđa là chồi cây Chúa vui thích” (Is 5, 7). Tình yêu của ông chủ với vườn nho, hay cụ thể là mối tình giữa Thiên Chúa với Dân Ngài thật đậm đà, thắm thiết. Thiên Chúa đã không tiếc gì đối với dân: “Người tôi yêu có một vườn nho trên đồi xinh tươi. Người rào giậu, nhặt đá, trồng cây chọn lọc, xây tháp giữa vườn, lập máy ép trong vườn, và trông mong nó sinh quả nho” nhưng hỡi ôi, “nó lại sinh toàn nho dại” (Is 5, 2).

Điều gì phải đến sẽ đến, ông chủ “sẽ phá hàng rào, để nó bị tàn phá, sẽ phá tường để nó phải bị giầy đạp. Ta sẽ bỏ nó hoang vu, không cắt tỉa, không vun xới; gai góc sẽ mọc lên, và ta sẽ khiến mây không mưa xuống trên nó” (Is 5, 5-6). Ngụ ý nói: “Thiên Chúa trông mong Israel thực hành đức công bình, nhưng đây toàn là tiếng kêu oan” (Is 5, 7). Theo lẽ thường, cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sẽ giáng xuống Israel. Nhưng Thiên Chúa “không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn cho mọi người ăn năn hối cải” (2 Pr 3, 9). Nên, mới giao vườn nho cho những tá điền chăm sóc (x. Mt 21, 33-43).

Gọi vào làm vườn nho và chăm sóc vườn nho là sáng kiến​​ của Thiên Chúa. Ngài đã chọn dân Israel. Ngài tin tưởng và ban cho dân những điều kiện để sống xứng đáng trong Vương Quốc của Ngài. Ngài gọi dân vào làm vườn nho thể thiện tương quan đặc biệt giữa Ngài với dân. Việc trồng nho lấy quả, ép rượu, theo truyền thống Kinh Thánh là dấu hiệu của niềm vui phồn thịnh.

Thiên Chúa lấy tình yêu mà chăm sóc dân Chúa để nó sinh nhiều trái tốt, là sống công chính hoan lạc trong tình yêu. Cây nho sinh trái, thể hiện tình yêu từ Thiên Chúa xuống với con người, trung thành với lề luật Chúa là đáp lại tình yêu ấy. Yêu thương con người là sáng kiến của Thiên Chúa, vì Ngài đã chủ động yêu thương. Thảm kịch đối với dân được chọn là khước từ kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa, cho dù bao lần Ngài dùng miệng các tiên tri không ngừng mời gọi dân hoán cải, thậm trí sai chính Con của Ngài đến kêu gọi, dân chúng vẫn chọn sự bất trung với Thiên Chúa, ngược đãi với Con Ngài.

Chúa Giêsu lấy lại và tiếp tục lời than của Thiên Chúa trong Isaia (x. Is 5, 1-7). Chính ở đó chúng ta gặp được chìa khóa cho dụ ngôn. Tại sao Thiên Chúa “trồng một vườn nho” và Thiên Chúa đến tìm những “hoa quả “ nào?

Những tá điền không trồng nho và chăm sóc vườn nho vì thương yêu vườn nho, nhưng vì lợi ích riêng của chính mình. Thiên Chúa thì khác, Ngài dựng nên con người và lập giao ước với con người, không phải vì lợi ích cho Thiên Chúa, nhưng vì yêu thương và ích lợi cho con người mà thôi. Những hoa quả được trông đợi từ con người là tình yêu đối Thiên Chúa và sự công bình đối với những kẻ bị áp bức: tất cả là vì con người, chứ không phải cho Thiên Chúa.

Qua dụ ngôn, Chúa Giêsu diễn tả tương quan giữa Thiên Chúa và dân Israel, đồng thời phác họa lịch sử tương quan của Thiên Chúa với toàn thể nhân loại chúng ta. Chúng ta có thể trách cứ dân Israel hay cha ông họ là những tá điền sát nhân, vì chẳng những từ chối tình yêu thương của Thiên Chúa mà còn giết hại chính Con Một Ngài. Coi chừng câu nói: “Đứa con thừa tự kia rồi, nào anh em! Chúng ta hãy giết nó đi và chiếm lấy gia tài của nó”(Mt 21,38) lại là của chính chúng ta. Bởi lẽ, ngày hôm nay chúng ta phải nói rằng Chúa Giêsu đã “bị quăng ra ngoài vườn nho,” bị quăng ra ngoài bởi những người xưng mình là Kitô hữu, hay là có khi phản Kitô hữu. Những lời nói của những tá điền vườn nho dội lên không bằng lời thì cũng ít nhất bằng những việc làm trong xã hội tục hóa ngày nay. Nhân loại tục hóa muốn làm người thừa tự, làm ông chủ.

Chúng ta tự hỏi: Tôi đã chuẩn bị thế nào để Chúa Kitô sống trong tôi? Tôi đáp trả tình yêu vô biên của Chúa dành cho tôi bằng cách nào? Tôi đã tình cờ quăng Người ra ngoài nhà tôi, ngoài sự sống của tôi; nghĩa là tôi đã quên và không biết Chúa Kitô chăng?

Thiên Chúa vẫn một lòng trung tín. Tình yêu của Ngài mạnh hơn tội lỗi và sự bất trung của con người. Ngài tiếp tục sai chính Con Một Ngài đến trao nộp vì chúng ta để bảo đảm cho tới cùng tình yêu trao ban cứu độ thế gian.

Lịch sử nhân loại được hoàn tất nhờ cái chết trên Thập giá. Nhờ cái chết, Chúa Giêsu đã tiêu diệt sự dữ. Nhờ phục sinh, Thiên Chúa đã nâng con người lên bằng sức mạnh của tình yêu, Người đã tiêu diệt hận thù. “Chính viên đá bọn thợ loại ra, đã trở nên viên đá góc ” (Mt 21, 42), đền thờ Thiên Chúa được phục hồi. Vườn nho trở nên Vương Quốc của Giao Ước Mới, vì Nước Trời không bị phá hủy, từ nay “ Nước Thiên Chúa sẽ cất khỏi các ông để trao cho dân tộc khác biết làm cho trổ sinh hoa trái” (Mt 21, 43). 

Ông chủ vườn nho nói: “Chúng sẽ nể con Ta” (Mt 21, 37). Giờ đây, Cha trên trời sắp sai Con của Người đến với chúng ta trong Bí tích Mình và Máu Người. Ta có hiểu sự cao trọng lúc này không? Ta có sẵn sàng đón tiếp Người với sự sùng kính mà Chúa Cha mong đợi không?

Hôm nay chúng ta đọc lại lịch sử Dân Chúa chọn để lên án sự loại bỏ Đức Kitô do Chúa Cha sai đến. Nhưng cũng ý thức về sự khốn cùng của chúng ta khi loại bỏ “viên đá góc”, lúc chúng ta có ý xây dựng thế giới này theo tiêu chí của chúng ta, tự coi mình là những ông chủ vườn nho của Chúa.

“Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, tình thương Chúa thật là cao cả, vượt xa mọi công trạng và ước muốn của con người, xin rộng tình tha thứ những lỗi lầm cắt rứt lương tâm chúng con, và thương ban những ơn trọng đại, lòng chúng con chẳng dám mơ tưởng bao giờ” (Lời nguyện Nhập lễ). Amen. mục lục

GHEN TỨC

TRẦM THIÊN THU

Ghen Ăn Tức Ở Mang Thêm Khổ Sở

Nhịn Nhục Yêu Thương Nhận Lấy An Vui.

Đó là lẽ tất nhiên, không chỉ trong đạo mà ngoài xã hội cũng vậy. Nhưng đâu dễ mấy ai thanh thản sống được như vậy, bởi vì cuộc sống vốn dĩ nhiêu khê, luôn phải cố gắng không ngừng để chiến thắng chính mình.

Thật hay khi Việt ngữ nói Ghen Tức – vì GHEN và phát TỨC. Thật vậy, ngu dốt thì bị khinh, thông minh thì bị ghét; nịnh hót thì đắc thắng, nói thẳng thì thua oan. Vấn đề “ghen ăn, tức ở” là chuyện thường thấy trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống đời thường – kể cả trong tôn giáo. Ghen tương (ghen tuông) là trạng thái cảm xúc bình thường. Nó chỉ bất thường khi người ta không kiểm soát được sự bùng phát dữ dội của nó, khiến bản thân và đối tác kiệt sức.

Tacitus (56–117 TCN), nhà sử học lỗ lạc của đế quốc Rôma cổ đại, nói: “Khi đầy lòng ghen tị, người ta chê bai mọi thứ, dù tốt hay xấu.” Thật vậy, “béo chê béo trục béo tròn, gầy chê xương sống xương sườn giơ ra.” (ca dao) Thế thì cỡ nào cũng… “chết.” Nếu người ta không ghen ghét ai, không cầu cạnh ai, không chờ đợi sự khen ngợi, không cho “cái tôi” vùng lên, chắc chắn làm gì cũng tốt lành.

Một số người cho rằng ghen tuông là cách thể hiện để người khác biết rằng họ muốn được yêu thương, được chăm sóc – giống như đứa trẻ hờn dỗi hoặc tức giận. Tuy nhiên, có mặt tiêu cực của ghen tuông: nó cho thấy sự kém tự tin, tự đánh giá thấp giá trị bản thân, hoặc các vấn đề tiềm ẩn trong mối quan hệ giữa đôi bên.

Trong cuộc sống, chúng ta thường nghe nói tới luật “Nhân – Quả.” Luật gì? Nhân Quả là một phạm trù dùng để chỉ mối liên hệ nguồn gốc tất yếu của các hiện tượng, trong đó hiện tượng này (nguyên nhân) sản sinh ra hiện tượng khác (kết quả). Người Việt cũng có khái niệm Nhân Quả khi nói: “Ở hiền gặp lành” (tích cực), “Gieo gió gặt bão” (tiêu cực), hoặc “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước.” Người Anh cũng có cách nói tương tự: “You reap what you sow.” (Bạn gặt những gì bạn gieo.) Có lẽ cũng có thể so sánh luật Nhân Quả tương tự loại vũ khí Boomerang của thổ dân Úc, ném đi rồi nó lại quay về mình. Người Việt gọi là “gậy ông đập lưng ông.”

Trong đời sống, nguyên lý Nhân Quả diễn ra theo quá trình mà “phần biết” và “phần được biết” chỉ là sự phân lập từ một tổng thể là “cái biết,” vì thế hiện tượng mà nó tạo ra được gọi là “hiện tượng nội sinh” – loại hiện tượng gọi là “karma” (nghiệp, nghiệp chướng – theo Phật học). Phật giáo quan niệm rằng hiện tượng này không do đấng quyền năng tối cao hoặc thế lực siêu nhiên chi phối, cho nên “nhân quả” được xem là nguyên lý quan trọng nhất của đời sống, khi các vấn đề trong đời sống được tìm hiểu từ bản chất của nó. Tất nhiên không phù hợp với Công giáo.

Theo hướng đó, chúng ta thường nói: “Ác giả ác báo.” Câu này được  rút gọn từ câu ngạn ngữ Trung Hoa: “Ác giả ác báo, thiện giả thiện lai.” Trong đó, “ác giả” là người xấu, sự dữ; “ác báo” là sự xấu đáp lại; “thiện giả” là người tốt, việc tốt; “thiện lai” là điều lành đáp lại. “Ác giả ác báo” nghĩa là người làm việc ác thì gặp điều ác báo lại, hoặc việc ác này sẽ bị việc ác khác báo lại – thường gọi là “quả báo.” Câu này nêu lên sự ảnh hưởng tương tác của hành động, ngụ ý khuyên người ta chớ làm việc ác để tránh sự dữ, và nên ăn ở hiền từ để gặp sự lành: “Ở hiền gặp lành.” Người Tây phương cũng có một câu theo tinh thần Kinh Thánh: “Kẻ nào đào hố bẫy ai thì kẻ đó sẽ rơi xuống hố.” Có thờ có thiêng, có kiêng có lành. Rõ ràng thực chất con người rất tâm linh.

Trình thuật Is 5:1-7 là “Bài Ca Vườn Nho,” với ca từ giản dị: “Tôi xin hát tặng bạn thân tôi, bài ca của bạn tôi về vườn nho của mình. Bạn thân tôi có một vườn nho trên sườn đồi mầu mỡ. Anh ra tay cuốc đất nhặt đá, giống nho quý đem trồng, Giữa vườn anh xây một vọng gác, rồi khoét bồn đạp nho. Anh những mong nó sinh trái tốt, nó lại sinh nho dại. Vậy bây giờ, dân Giêrusalem và người Giuđa hỡi, Xin phân xử đôi đàng giữa tôi với vườn nho. Có gì làm hơn được cho vườn nho của tôi, mà tôi đã chẳng làm? Tôi những mong trái tốt, sao nó sinh nho dại? Vậy bây giờ, tôi cho các người biết tôi đối xử thế nào với vườn nho của tôi: Hàng giậu thì chặt phá cho vườn bị tan hoang, bờ tường thì đập đổ cho vườn bị giày xéo.”

Đời nông dân vất vả khổ cực nên luôn muốn điều tốt, thế mà điều xấu lại xảy ra với họ. Họ luôn muốn lúa và hoa màu tốt tươi để có vụ bội thu, thế mà có khi mùa màng lại thất bát, thậm chí có khi bị trắng tay vì bão lụt hoặc bị kẻ xấu chặt phá. Thật oan ức khi phải chịu bất công, cứ phải cắn răng sống chung với “cỏ lùng.” (Mt 13:24-30) Tác giả “Bài Ca Vườn Nho” kể cho người bạn thân nghe biết về vườn nho của mình, muốn có nho tốt mà lại chỉ thấy nho dại. Thất vọng ê chề, nhưng đành phải chặt phá hàng giậu cho “vườn bị tan hoang” và đập đổ tường cho “vườn bị giày xéo.” Khổ tâm lắm!

Kinh Thánh ví Nước Trời với nhiều thứ, “vườn nho” là một trong các thứ đó. Thánh Vịnh gia cho biết: “Gốc nho này, Chúa bứng từ Ai Cập, đuổi chư dân, lấy chỗ mà trồng.” (Tv 80:9) Vì là giống tốt nên “bóng um tùm phủ xanh đầu núi, cành sum sê rợp bá hương thần, nhánh vươn dài tới phía đại dương, chồi mọc xa đến tận miền Sông Cả.” (Tv 80:12) Thế nhưng bất ngờ xảy ra điều khác thường: “Tường rào nó, vậy sao Ngài phá đổ? Khách qua đường mặc sức hái mà ăn! Heo rừng vào phá phách, dã thú gặm tan hoang.” (Tv 80:13-14)

Thế là vườn hoang, nhà trống, nhưng không phải bởi chủ nhân bất cẩn hoặc bỏ mặc, mà vì kẻ xấu. Ai vậy? Chẳng còn ai trồng khoai đất này nữa, chính các tội nhân chúng ta đã làm hư hại Vườn Nho của Thiên Chúa. Với tâm tình yêu thương của Đấng giàu lòng thương xót, Thánh Vịnh gia vẫn chân thành cầu xin: “Lạy Chúa Tể càn khôn, xin trở lại, tự cõi trời, xin ngó xuống mà xem, xin Ngài thăm nom vườn nho cũ, bảo vệ cây tay hữu Chúa đã trồng, và chồi non được Ngài ban sức mạnh.” (Tv 80:15-16) Lời trần tình tha thiết và da diết lắm!

Và không chỉ cầu nguyện với tư cách cá nhân, Thánh Vịnh gia còn đại diện cho cả nhân loại mà thề hứa trước Tôn Nhan Thiên Chúa: “Chúng con nguyền chẳng xa Chúa nữa đâu, cúi xin Ngài ban cho được sống, để chúng con xưng tụng danh Ngài. Lạy Chúa là Chúa Tể càn khôn, xin phục hồi chúng con, xin toả ánh tôn nhan rạng ngời để chúng con được ơn cứu độ.” (Tv 80:19-20) Thiên Chúa đã thương xót mà bỏ qua tất cả, chúng ta lại diễm phúc được làm con cái Ngài và được thừa kế gia nghiệp của Ngài. Chúng ta không thể không tạ ơn Ngài, đó cũng là trách nhiệm của mỗi chúng ta.

Thiên Chúa uy quyền, thẳng thắn và không thiên vị, nhưng Ngài rất nhân hiền, không chấp lách, chỉ cần chúng ta biết chân thành nhận lỗi là Ngài tha thứ ngay. Thật vậy, Thánh Phaolô động viên: “Anh em đừng lo lắng gì cả. Nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện. Và bình an của Thiên Chúa, bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hợp với Đức Kitô Giêsu.” (Pl 4:6-7) Ôi, thế thì còn gì bằng, không lo chẳng sợ chi nữa. Noi gương Thiên Chúa, Thánh nữ Clara cũng đã từng nói với các nữ tu: “Đừng sợ! Hãy tín thác vào Chúa Giêsu!” Tuy nhiên, chớ thấy vậy mà ỷ lại hoặc ảo tưởng, vì đó là kiêu ngạo. Thiên Chúa không muốn ở gần kẻ kiêu ngạo.

Ngoài ra, Thánh Phaolô còn căn dặn: “Những gì là chân thật, cao quý, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh, đáng khen, xin anh em hãy để ý. Những gì anh em đã học hỏi, đã lãnh nhận, đã nghe, đã thấy ở nơi tôi, thì hãy đem ra thực hành, và Thiên Chúa là nguồn bình an sẽ ở với anh em.” (Pl 4:8-9) Hai mệnh lệnh cách “hãy để ý” và “hãy đem ra thực hành” rất quan trọng. Đó là điều chúng ta phải cố gắng ý thức và ghi nhớ. Ngắn gọn và đơn giản nhưng không dễ thực thi chút nào!

Trình thuật Mt 21:33-43 (≈ Mc 12:1-12 và Lc 20:9-19) là dụ ngôn “Những Tá Điền Sát Nhân.” Đó là câu chuyện rất thực tế. Trong đó cũng có vấn đề liên quan lòng đố kỵ và ghen tức. Con gà còn tức nhau tiếng gáy huống chi con người – sinh vật cao cấp có lý trí và tự do. Cái “ghen tức” của con người rất đáng sợ, bất chấp và dám làm mọi việc ác – kể cả sát hại – để cái tôi của mình lấn át người khác.

Chúa Giêsu kể một dụ ngôn liên quan sự ác độc của con người: Có gia chủ kia trồng được một vườn nho; chung quanh vườn, ông rào giậu; trong vườn, ông khoét bồn đạp nho, và xây một tháp canh. Ông cho tá điền canh tác, rồi trẩy đi xa. Gần đến mùa hái nho, ông sai đầy tớ đến gặp các tá điền để thu hoa lợi. Bọn tá điền lần lượt bắt các đầy tớ của ông: Chúng đánh người này, giết người kia, ném đá người nọ. Ông lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước: nhưng bọn tá điền cũng xử với họ y như vậy. Sau cùng, ông sai chính con trai mình đến gặp chúng, vì nghĩ rằng chúng sẽ nể người con đó. Nhưng bọn tá điền vừa thấy người con thì bảo nhau: “Đứa thừa tự đây rồi! Nào ta giết quách nó đi, và đoạt lấy gia tài nó!” Thế là chúng bắt lấy cậu, quăng ra bên ngoài vườn nho, và giết đi. Đúng là “trẻ không tha, già không thương, thấy ai cũng xốn con mắt.”

Khi đó, Chúa Giêsu thản nhiên hỏi họ: “Khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn tá điền kia?” Họ đồng thanh: “Ác giả ác báo, ông sẽ tru diệt bọn chúng, và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi cho ông.” Có lẽ lúc đó Đức Giêsu vừa cười vừa gật đầu vì thấy họ nói đúng, rồi Ngài đặt vấn đề: “Các ông chưa bao giờ đọc câu này trong Kinh Thánh sao? Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta.” Ngài biết họ là những kinh sư và thầy thông luật, thuộc Cựu Ước làu làu, dẫn chứng câu nào đoạn nấy rất rạch ròi, thế nên Ngài “nhắc khéo” họ về Thánh Vịnh: “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ, lại trở nên đá tảng góc tường.” (Tv 118:22) Họ có tiếng là “có cả bụng chữ” nhưng họ chỉ thuộc mặt chữ chứ chẳng hiểu ý nghĩa thâm sâu.

Cuối cùng Chúa Giêsu nhấn mạnh: “Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi, KHÔNG cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi.” (Mt 21:43) Đó cũng là lời Đức Giêsu Kitô đang “nhắc khéo” mỗi chúng ta về cách hành xử với Thiên Chúa và với tha nhân, đặc biệt là những người “yếu kém” hơn mình, về cả vật chất lẫn tinh thần. “Đá Tảng” đó là gì hoặc là ai? Không còn ai trồng khoai đất này, đó chính là Đức Giêsu Kitô, Đấng đã chết để cứu độ chúng ta, mà chính tay chúng ta cũng nhúng chàm, mỗi chúng ta cũng là thủ phạm đã giết Con Thiên Chúa. Chúng ta không trực tiếp đóng đinh Ngài, nhưng chúng ta trực tiếp sát hại Ngài khi chúng ta “giết” tha nhân bằng nhiều loại đinh nhọn và sắc bén: Lời nói, ánh mắt, cử chỉ, thái độ, mưu mô,... thậm chí là hành động.

Ngày nay, chính Chúa Giêsu lại một lần nữa cảnh báo mỗi chúng ta: “Ai ngã xuống ĐÁ này, kẻ ấy sẽ tan xương; ĐÁ này rơi trúng ai sẽ làm người ấy nát thịt.” (Mt 21:44) Thật đáng sợ, không là lời ngăm đe hoặc hù dọa. Đúng là đáng sợ thật, bởi vì Chúa Giêsu đã có lần cảnh cáo: “Nếu không sám hối thì sẽ chết hết.” (Lc 13:3) Ai cũng là tội nhân, vấn đề hơn thua nhau chỉ là biết nhận lỗi và có sám hối hay không. Chỉ có cách là xì hơi “bong bóng cái tôi” để có thể không Ghen và không Tức.

Các hiền triết cũng có quan niệm giống nhau về khái niệm “ác giả, ác báo.” Đó là một dạng ý thức hệ. Khổng Tử nói: “Vi thiện giả, thiên báo chi dĩ phúc; vi bất thiện giả, thiên báo chi dĩ họa.” (Người làm điều tốt lành thì trời lấy phúc báo đáp lại người đó, kẻ làm điều không tốt lành thì trời lấy họa báo đáp lại kẻ đó.) Còn Trang Tử nhận định: “Nhất nhật bất niệm thiện, chư ác tự giai khởi.” (Nếu một ngày không nghĩ đến điều thiện, mọi điều ác sẽ tự dấy lên.) Và sách “Minh Tâm Bửu Giám” ghi: “Tích thiện phùng thiện, tích ác phùng ác.” (Làm việc thiện sẽ được điều tốt, làm việc ác sẽ gặp điều xấu.) Các hiền triết cũng chỉ là phàm nhân mà họ vẫn có thể nhận biết như vậy, tư tưởng gần gũi với Đức Kitô, họ đúng là thánh nhân rồi, thật đáng khâm phục và đáng để chúng ta noi gương. Các tư tưởng lớn sẽ “gặp nhau” vào một lúc nào đó.

Sự ghen tức liên quan cơn nóng giận. Kinh Thánh nói: “Người chậm giận thì đầy sáng suốt, kẻ nóng tính để lộ cái dại khờ. Áp bức người yếu thế là sỉ nhục Đấng tạo thành nên họ, thương xót kẻ khó nghèo là tôn kính Đấng dựng nên người đó.” (Cn 14:30 và 31)

Lạy Thiên Chúa, xin giúp con nhận ra con bất trác và bất túc để không ảo tưởng, Xin giúp con biết khiêm hạ và sẵn sàng hành động theo Ý Ngài. “Xin giúp con đơn giản hóa cuộc sống bằng cách nhân biết Ngài muốn con là gì và trở thành con người đó.” (Thánh Teresa Hài Đồng) Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. mục lục

MAY MẮN MÀ KHÔNG BIẾT

Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

Đọc bài Tin Mừng của Chúa Nhật hôm nay xong, bạn có biết tại sao những tên tá điền này dám cả gan ngược đãi và phạm tội sát nhân như thế không? Có ý kiến cho rằng, sở dĩ đám tá điền này đã cư xử một cách bất nhân và hung ác như vậy có lẽ là tại vì tính tham lam. Sau một thời gian cư ngụ trong vườn nho, đám tá điền này đã biết rõ những lợi nhuận kiếm được từ vườn nho và từ nhà máy sản xuất rượu. Họ lại nhận thấy rằng ông chủ là người rất giàu lòng nhân ái, rộng lượng, hay thương xót người nghèo, cho nên họ cứ khất lần khất lượt, làm dữ dằn vài lần như vậy là chắc chắn ông chủ sẽ chán nản, thất vọng và bỏ cuộc, thế là họ sẽ chiếm được cả một gia tài. Và nếu trường hợp ông chủ không chịu nhượng bộ và thoái lui thì mình… làm tới luôn, dùng chính sách bạo động, dùng vũ lực để cướp vườn nho. Một kiểu ăn cướp hiện nay mà chính quyền đó đây đã và đang áp dụng!

Riêng tôi, tôi nghĩ lý do khiến những tên tá điền này dám cả gan gây bạo động, ngược đãi và phạm tội sát nhân như vậy là vì họ đã không nhận ra rằng họ là những người vô cùng may mắn! Họ không nhận ra rằng:

• Ông chủ đã tốn công, tốn sức, lao động vất vả để có được một vườn nho tươm tất, và đã rào giậu chung quanh vườn, và xây một tháp canh để bảo vệ vườn nho và bảo vệ họ khỏi những nguy hiểm từ bên ngoài.

• Ông chủ đã tin tưởng, cho họ chỗ ăn, chỗ ở trong vườn nho, và giao cho công việc trông coi tất cả tài sản của ông.

• Ông chủ đã cho họ một công việc ổn định, cho họ làm việc trong vườn nho, trong hãng sản xuất rượu của ông. Họ không phải lo lắng chạy gạo từng bữa, không phải đứng chờ chực ngoài chợ…

Vì không nhận ra những sự may mắn mà họ đã được hưởng cho nên thay vì trao nộp cho ông chủ những hoa lợi, là những thùng rượu chất lượng; thay vì tỏ thái độ biết ơn với ông chủ, thì họ lại cư xử một cách hết sức là tàn nhẫn, họ bắt các đầy tớ [của] ông … đánh người này, giết người kia, ném đá người nọ … [Sau cùng] chúng bắt lấy cậu [con trai yêu quý của ông chủ], quăng ra bên ngoài vườn nho, và giết đi.

Bạn thân mến, giống như những tá điền trong dụ ngôn, tôi và bạn là những người may mắn vô cùng:

• Tôi được thâu nhận vào vườn nho, không phải chỉ trở thành một nhân công, mà là trở thành một người con, mà đã là con thì sẽ được quyền thừa tự những tài sản của Cha mình (x. Cl 1:12).

• Tôi được Thiên Chúa tin tưởng và giao cho tôi công việc chăm sóc những cây nho trong vườn và thâu hoạch những hoa quả ngon ngọt cho Ngài.

• Tôi được bảo đảm an ninh, được những loại hàng rào của Giáo Hội, được các bí tích che chở và gìn giữ khỏi những nguy hiểm của ma quỷ và những thế lực của sự ác.

Bạn có thấy và nhận ra rằng, chúng mình là những người may mắn lắm không? Nếu có thì ngày hôm nay, bạn và tôi
hãy dâng lên Chúa lời cảm tạ. Và để không bao giờ quên rằng mình là người may mắn, bạn và tôi hãy cố gắng:

• Nhớ lại những ơn huệ, những phúc lành, những may mắn mà Thiên Chúa đã và đang ban cho bạn, cho vợ, cho chồng, cho cha mẹ, cho gia đình bạn. Bạn ngồi xuống đếm đi, bạn sẽ thấy những điều rất thú vị. Bạn sẽ thấy biết bao nhiêu ơn lành mà bạn nhận được mà bạn không để ý tới.

• Từ sáng tinh mơ, mở mắt ra cho đến tối khi đi ngủ, trong mọi nơi, mọi lúc, trong mọi hoàn cảnh, chúng mình hãy dâng lên Chúa lời tạ ơn. Trước khi ăn uống, khi gặp may mắn, khi vui, khi buồn, khi thành công, lúc thất bại, khi lái xe, khi làm việc…Hãy tạ ơn Chúa không ngơi nghỉ!

• Đến tham dự thánh lễ mỗi ngày, vì đây là lời tạ ơn đẹp nhất, ý nghĩa nhất, và được Thiên Chúa ưa thích nhất. Không đi lễ sáng thì đi lễ chiều. Không đi lễ tiếng Việt thì đi lễ tiếng Anh,… Bạn cứ cố gắng đến tham dự thánh lễ mỗi ngày đi, tôi bảo đảm, cuộc đời của bạn và của gia đình bạn sẽ thay đổi tốt hơn và bạn sẽ sống bình an hạnh phúc hơn cho mà xem!

Chúng ta hãy cầu nguyện cho nhau, để đừng bao giờ chúng mình sống và đừng bao giờ có thái độ vô ơn bạc nghĩa hay cư xử độc ác với những sứ giả, với những vị đại diện của Chúa. Nhưng xin Chúa ban ơn giúp sức, để mỗi giây phút, mỗi ngày và trong mọi nơi, mọi lúc, chúng mình luôn nhận ra những ơn huệ của Chúa ban và cố gắng sống trong tâm tình tạ ơn Ngài.

Xin Chúa chúc lành, ban bình an, sức khỏe, và niềm vui cho bạn và cho những người thân của bạn trong tuần lễ mới này. Amen. mục lục

 

VƯỜN NHO NƯỚC TRỜI

(Cảm nhận và suy niệm từ Mt 21,33-43)

Trước cả nhóm Thượng Tế và Kỳ Lão

Chúa Giê-su lên tiếng với dụ ngôn

Chủ vườn nho cho tá điền lanh khôn

Thuê dài hạn, để đi xa dưỡng sức

Dụ ngôn kể: bọn thuê vườn thất đức

Giết cả người con chủ chẳng mủi lòng

Khi chủ về, (Chúa hỏi ý các Ông)

Các Ông nói: phải tru diệt bọn chúng.

***

Chúa báo trước về lời trong Kinh Thánh

(Viên đá mà các Ông sẽ loại ra

Chính là nơi Ơn Cứu Độ chan hoà)

Lòng thương xót Chúa của chung nhân loại

Không còn nói: dân riêng hay dân ngoại

Ai thành tâm thống hối, nên trọn lành

Chăm sóc vườn nho, trái trĩu cành

Nước Thiên Chúa đời đời là của họ. mục lục

(Thế Kiên Dominic)

LỜI KINH KẾT NỐI

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Xã hội được xây dựng trên nhiều nền tảng. Một trong những nền tảng căn bản và quan trọng nhất là truyền thông.Truyền thông càng ngày càng có nhiều ảnh hưởng thiết thực trong cuộc sống con người và trong đời sống của Giáo Hội.Thời đại hôm nay, mạng internet được gọi là xa lộ thông tin cung cấp rất nhiều thông tin về mọi lãnh vực, cho con người mối quan hệ rộng lớn và nhiều cơ hội diễn đạt cảm xúc cũng như suy nghĩ của mình. Hòa vào mạng internet, con người trên khắp thế giới được kết nối với nhau. Hầu như ai cũng dùng điện thoại di động, đi đâu cũng có Wifi, 3G, 4G…Đến đâu cùng có kết nối.

Phụng vụ Giáo hội bước vào tháng Mân Côi kính Đức Mẹ. Từ ý tưởng truyền thông liên kết, tôi nghĩ đến: Kinh Mân Côi như điện thoại di động hòa đời người tín hữu vào mạng sự sống thiêng liêng. Kinh Mân Côi là lời kinh kết nối.

1. Kết nối với Đức Maria

Kinh Kính Mừng là nối kết hai lời chào. Lời Sứ thần Gabriel chào Đức Maria trong buổi Truyền tin: “Mừng vui lên hỡi đấng đầy ơn phúc” (Lc 1,28) và lời bà Êlisabet chào Mẹ Maria: “Em thật có phúc hơn mọi người nữ”(Lc 1,42) trong ngày thăm viếng. Phần hai là lời khẩn nài được Giáo hội thêm vào xin Đức Mẹ cầu bàu: Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con khi nay và trong giờ lâm tử Amen.

Khi lần chuỗi đọc kinh Kính Mừng, chúng ta được nối kết với Đức Maria. Chiêm ngắm Mẹ chỉ là “Nữ tỳ hèn mọn”, nhưng “Chúa đã đoái thương nhìn tới”. Vì thế, “Từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc”. Một thiếu nữ nhỏ bé sống ở làng quê nghèo Nadaret đã trở thành Mẹ Thiên Chúa. Sứ thần Gabriel đến Nadaret chào thôn nữ Maria: “Mừng vui lên hỡi Đấng đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng Bà”. Ba tiếng “Đầy-ân-sủng” gộp lại trở thành như là tên gọi riêng của Đức Maria. Mẹ được tràn đầy ân sủng. Mẹ luôn luôn có Thiên Chúa ở cùng. Không có giây phút nào mà Mẹ không có Thiên Chúa với mình. Không có giây phút nào mà Mẹ không trọn vẹn thuộc về Chúa. Không có bất cứ dấu vết tội lỗi chen vào giữa Mẹ và Thiên Chúa. Là một tâm hồn luôn luôn nghiền ngẫm Kinh thánh, chắc hẳn Đức Maria nhớ lại Lời Chúa đã dùng Ngôn sứ Nathan mà thề hứa với vua Đavit xưa. Nhưng điều mà Mẹ không bao giờ nghĩ tới là mình có thể đóng vai trò gì trong việc thực hiện lời tiên tri ấy. Chuyện “không thể” được đầu tiên là làm sao mình sinh con được vì đã quyết “không biết đến chuyện vợ chồng” để sống trọn vẹn cho một mình Thiên Chúa mà thôi. Sau khi được Sứ thần giải thích rằng “đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”, Maria khiêm nhường thưa lại: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38). Và thế là Ngôi Hai Thiên Chúa đã nhập thể làm người trong lòng Đức Trinh Nữ. Và thế là Đức Maria khiêm nhường đã trở thành Thánh Mẫu của Thiên Chúa.

Mẹ được Thiên Chúa sủng ái, được trở nên cao trọng vì Mẹ khiêm nhường. Đức khiêm nhường dẫn Mẹ đến chỗ hoàn toàn tín thác vào Thiên Chúa.Đức Maria đã trở thành Mẹ Thiên Chúa qua thái độ khiêm nhường và lời đáp xin vâng phát xuất từ lòng tin của Mẹ.

Đức Maria là người diễm phúc vì Mẹ đã tin như bà Êlisabet đã thốt lên : “Phúc cho em vì đã tin những lời Chúa phán”.

Đọc Kinh Mân Côi là kết nối hai chiều đi đi về về giữa Đức Maria xuống với con người và giữa con người lên với Đức Maria, cách tự nhiên như tình mẫu tử.

Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thổ lộ tâm tình : “Từ thuở niên thiếu, lời kinh Kinh Mân Côi đã có một chỗ đứng quan trọng trong đời sống thiêng liêng của tôi… Kinh Mân Côi đã đồng hành với tôi trong những lúc vui sướng và trong những giai đoạn khó khăn. Tôi đã giao phó cho lời kinh ấy biết bao lo âu; nơi lời kinh ấy tôi đã luôn tìm được sự nâng đỡ…. Kinh Mân Côi là lời kinh tôi ưa thích. Một lời kinh kỳ diệu! Kỳ diệu qua vẻ đơn sơ và chiều sâu của nó”.

2. Kết nối với Chúa Giêsu

Điều huyền diệu làm cho chuỗi Mân Côi hữu hiệu là khi đọc, chúng ta vừa cầu nguyện vừa suy niệm. Kinh Lạy Cha dâng lên Chúa Cha, Kinh Kính Mừng dâng lên Đức Maria và Kinh Sáng Danh dâng lên Thiên Chúa Ba Ngôi. Những tâm tình suy niệm hướng về Chúa Giêsu Kitô.

Chuỗi Mân Côi là một bản tóm tắt gọn gàng, dễ nhớ về những biến cố quan trọng trong cuộc đời Chúa Cứu Thế. Mân Côi là những bông hồng đẹp được tượng trưng bằng các kinh Kính Mừng để tôn vinh Người. Đức Mẹ đã có mặt trong cuộc đời Chúa Cứu Thế từ những giây phút đầu cho đến những giây phút cuối.

Đọc Kinh Mân Côi là suy niệm các mầu nhiệm của Phúc Âm. Vì thế, Thánh Gioan Phaolô II nói: “Kinh Mân Côi không thay thế việc đọc Kinh thánh, lectio divina; trái lại, Kinh Mân Côi giả định trước và cổ võ việc đọc Kinh thánh. Trong Kinh Mân Côi, chúng ta cầu xin Mẹ giúp chúng ta trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu mỗi ngày một hơn. Khi suy ngẫm về Kinh Mân Côi, chúng ta bước vào trường học của Đức Maria để Mẹ dạy chúng ta về Chúa Giêsu vì Mẹ đã nuôi dưỡng Chúa Giêsu, đồng hành với Chúa Giêsu và cùng chịu khổ với Chúa Giêsu dưới cây thánh giá”.

Chuỗi hạt Mân Côi 200 hạt, 150 hạt, 50 hạt hay 10 hạt được dùng để đếm số Kinh Kính mừng là “…lời ca tụng Đức Kitô không ngừng. Đức Kitô được nhắc đến trong mỗi Kinh Kính Mừng cũng là Đấng được trình bày trong chuỗi các mầu nhiệm: Người là Con Thiên Chúa và là Con Đức Trinh Nữ…” (ĐGH Phaolô VI, Rosamrum Virginis Mariae, số 18).

Các mầu nhiệm Vui, Sáng, Thương, Mừng, hòa quyện trong cuộc đời dương thế của Chúa Giêsu. Chuỗi Mân Côi lần lượt diễn tả:

– Mầu nhiệm Vui: đồng hành với mầu nhiệm Nhập thể và đời sống âm thầm của Chúa Giêsu.

– Mầu nhiệm Sáng: đồng hành với những mốc thời gian hoạt động đặc biệt có ý nghĩa trong cuộc đời công khai của Chúa Giêsu.

– Mầu nhiệm Thương: đồng hành với những đau khổ của cuộc khổ nạn Chúa Giêsu.

– Mầu nhiệm Mừng: đồng hành với vinh quang phục sinh của Đức Kitô.

Qua Kinh Mân Côi, chúng ta lặp đi lặp lại không những một hai lần Kinh Kính Mừng, nhưng là đọc đi đọc lại cả hai trăm lần, như hai trăm đóa hoa hồng dâng kính Mẹ Maria. Đức Giáo Hoàng Piô V đã nói: “Đây là việc tôn kính Đức Trinh Nữ Maria bằng cách đọc một trăm năm mươi Kinh Kính Mừng, theo con số các thánh vịnh của Đavít, chia thành từng chục kinh một với một Kinh Lạy Cha, đồng thơi suy ngắm các mầu nhiệm về toàn thể cuộc đời của Chúa Giêsu Kitô”.

Chuỗi Mân Côi là quà tặng quí báu, Thiên Chúa và Đức Mẹ trao cho chúng ta. Người ta gọi chuỗi Mân Côi là kinh nguyện của người bình dân. Các mầu nhiệm Mân Côi còn được gọi là cuốn sách Phúc Âm rút gọn của người bình dân. Cứ 10 Kinh Kính mừng lại suy gẫm về một mầu nhiệm mùa Vui, Sáng, Thương, Mừng.

3. Kết nối với nhau

Đọc kinh Mân Côi mỗi người được kết nối với Đức Maria và với Đức Kitô, từ đó được hiệp thông với mọi tín hữu.

Kinh Mân Côi là lời kinh phổ cập, đó là kinh của mọi tín hữu. Ai cũng đọc được, từ người trẻ cho đến người già, người thông thái cũng như người ít học, người giàu hay người nghèo, người khỏe mạnh cũng như người đau yếu, khi vui cũng như lúc buồn, khi làm việc cũng như lúc nghỉ ngơi. Kinh Mân Côi có thể đọc được ở bất cứ đâu hay trong hoàn cảnh nào, ở nhà thờ, ở nhà mình, ở ngoài đường, trong nơi yên lặng hay giữa chốn ồn ào náo động và nhất là đọc chung với nhau trong gia đình hay những khi có đông người công giáo họp nhau lại. Đọc Kinh Mân Côi với ý thức là mình đang làm một công việc có chất Tin Mừng, được Giáo Hội công nhận và nhiệt tình khuyến khích, một công việc thu tóm lại tất cả cuộc đời Chúa Cứu Thế.

Cầu nguyện với Đức Mẹ bằng lời kinh Mân Côi, chúng ta được kết nối với Chúa Giêsu là nguồn mạch ban sự sống. Bóng đèn muốn được toả sáng thì phải được nối kết với nguồn điện.Cành nho muốn được trổ sinh hoa trái thì phải được tháp nhập vào thân nho.Bàn tay muốn sống còn và hoạt động thì phải liên kết với cơ thể. Con người muốn được sống dồi dào và vĩnh cửu thì phải nối kết với cội nguồn là Chúa Giêsu.

Chuỗi Mân Côi nuôi dưỡng đời sống nội tâm phong phú. Chuỗi Mân Côi làm lòng người lắng dịu, thanh thản bình an để chiêm ngắm cuộc đời Chúa Giêsu và ca ngợi Mẹ Maria.Chuỗi Mân Côi mang đến vô vàn huyền diệu cho con người. Ai yếu đuối, Kinh Mân Côi đem cho sức mạnh; ai tội lỗi, Kinh Mân Côi dắt về ơn thánh; ai bất hạnh, Kinh Mân Côi giúp bình tĩnh tìm ra hướng lối vươn lên; ai khô khan, Kinh Mân Côi giúp khám phá ra những ánh lửa vẫn còn ẩn giấu trong những đám tro tưởng như nguội lạnh.

“Với Kinh Mân Côi, tín hữu nhận biết người Ấn Độ là anh em của mình, người Châu Âu sung túc cũng nhận ra người Somali đói nghèo là chi thể của mình, người Kinh cảm nhận hơn nữa người Thượng gần gũi với mình. Tại sao ta lần hạt ở nhà thờ, gia đình, trên đường…? Tại sao ai cũng lần hạt được, từ giáo sĩ đến giáo dân, từ trí thức đến nông dân, từ em thơ đến các cụ? Thưa bởi vì Kinh Mân Côi bình đẳng phổ cập, chẳng những phù hợp với mọi người mà còn củng cố hiệp thông với mọi người. Buồn hay vui người ta đều lần hạt, đám cưới thì lần hạt xin hạnh phúc đời này, còn đám tang thì lần hạt xin hạnh phúc đời sau”. (x. Nút vòng xoay, trang 193, ĐGM Giuse Vũ Duy Thống).

Kinh Mân Côi là lời kinh kết nối mỗi người với Chúa Giêsu, với Mẹ Maria và với nhau. Đó là kinh nguyện phổ biến, vừa dễ đọc vừa dễ cầu nguyện mà lại mang lại nhiều ích lợi cho linh hồn.

Theo lời mời gọi của Đức Thánh Cha Phanxicô, chúng ta quyết tâm sống theo lời Mẹ trong dịp hiện ra lần cuối tại Fatima là “Hãy siêng năng lần hạt”. Kinh Mân Côi đưa chúng ta vào trong đại dương của Tình Yêu Thiên Chúa qua các mầu nhiệm chiêm ngắm và lời kinh lặp đi lặp lại. Kinh Mân Côi là nguồn an ủi, nguồn sức mạnh trong mọi hoàn cảnh của đời người tín hữu. “Ai mến Mẹ thì yêu thích chuỗi Mân Côi. Bởi vì chỉ có người yêu mới lặp lại một chuyện, một lời mà không biết nhàm chán” (Đường Hy vọng, số 947).

Lạy Mẹ Maria, xin dạy chúng con biết yêu mến tràng Chuỗi Mân Côi, siêng năng lần hạt trong mỗi ngày sống, nhờ đó chúng con được hiệp thông nối kết với nhau và cầu nguyện cho nhau. Xin Mẹ khẩn cầu cho chúng con bên tòa Chúa. Amen. mục lục

LỜI "XIN VÂNG" ẢNH HƯỞNG NHƯ THẾ NÀO

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Khi thưa: "Tôi xin vâng như lời thiên thần truyền", thì lời “Xin vâng” của Đức Mẹ, dù đơn sơ nhỏ bé, nhưng lại có nhiều ảnh hưởng. Những ảnh hưởng từ tiếng "Xin vâng" ấy là:

1. Chương trình của Thiên Chúa.

Từ đời đời, Thiên Chúa có chương trình tốt đẹp trê loài người. Đó là cho phép loài người được hưởng hạnh phúc của chính Thiên Chúa, sống gần gũi cùng Thiên Chúa, nên một trong sự thâm giao tuyệt đối với Người.

Nhưng nguyên tổ loài người đã bất tuân, thậm chí hết sức kiêu  ngạo và chống lại Chúa. Nguyên tổ đã nghe ma quỷ xúi giục, làm theo ý riêng mình, tự mình tách khỏi ảnh hưởng của Thiên Chúa. 

Chương trình của Thiên Chúa, vì thế đổ vỡ. Thiên Chúa không muốn chương trình của mình, liên quan đến chính loài người, được thành công mà không có sự đồng thuận và vâng phục của con người. Vì thế, Thiên Chúa không thể ban hạnh phúc cho con người, khi họ không tự nguyện đón nhận hạnh phúc.

Lời "Xin vâng" của Đức Mẹ nói lên sự đồng thuận của loài thụ tạo luôn được Thiên Chúa trung thành dành cho tình yêu của mình. Từ lời "Xin vâng" ấy, Chúa Kitô, Ngôi Hai cứu chuộc đi vào trần thế, lấy lại những gì mà loài người đánh mất trong tội của nguyên tổ. Từ đây, kế hoạch cứu độ mới dành cho loài người của Thiên Chúa thành công.

2. Lời “Xin vâng” của Ngôi Hai Thiên Chúa.

Từ ngàn đời, Chúa Kitô, Ngôi Hai Thiên Chúa đã đáp lời "Xin vâng" với Chúa Cha, khi Chúa Cha muốn Người trở thành tác giả của chương trình cứu chuộc loài người. Vì thế, khi lời Đức Mẹ “Xin vâng” được cất lên, cũng chính là lúc Chúa kitô thực hiện hành động “Xin vâng” của mình với Chúa Cha. 

Đức Mẹ “Xin vâng” là Đức Mẹ đồng thuận để Thiên Chúa thực hiện thánh ý của Người. Còn Chúa Kitô thực hiện hành động “Xin vâng” là Chúa Kitô khai thông chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa. Từ đây Người xuống thế làm người, bắt đầu từ việc tượng thai trong lòng Đức Mẹ.

3. Cả cuộc đời Đức Mẹ và Chúa Kitô.

Vì vâng lệnh Chúa Cha, Chúa Kitô từ trời xuống thế. Người hoàn toàn trút bỏ mình, không duy trì “địa vị ngang bằng với Thiên Chúa”, nhưng mang thân phận tôi đòi (x.Phil 2, 5-8).

Chúa Kitô thưa cùng Chúa Cha: “Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. … Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài.” (Dt 10, 5-7). Hay như lời Thánh vịnh: “Lạy Chúa, này con xin đến để thực thi ý Ngài” (39, 8).

Sự vâng lời ấy đã đưa Chúa Giêsu đến chỗ chấp nhận con đường bé nhỏ, khiêm nhường, làm người sống chốn trần gian. Sau cùng, Người vui nhận cái chết nhục nhã trên Thánh giá.

Còn Đức Mẹ, vì xin vâng, cũng đã theo Chúa Giêsu trên khắp các nẻo đường truyền giáo, đứng dưới chân thập giá, chịu mọi đau đớn, khổ nhục, hiệp cùng cái chết của con. 

Như thế, để thưa “Xin vâng” với Thiên Chúa, Chúa Giêsu và Đức Mẹ đã nói “không” với chính mình. Tiếng “Vâng” lớn thành hình nhờ những tiếng “không” khiêm cung. Ý Chúa được thể hiện nhờ Chúa Giêsu và Đức Mẹ bỏ ý riêng mình. Chương trình lớn thành công nhờ những hy sinh của Chúa Giêsu và Đức Mẹ.

4. Chúng ta sống "xin vâng".

Thiên Chúa luôn quan phòng và ấn định đường lối của Người cho mỗi một người. Ta cần cộng tác với Chúa bằng lắng nghe và vâng phục thánh ý. 

Ta là cộng tác viên, là một phần của chương trình ấy. Nếu ta không vâng theo ý Chúa, nhưng sống tiêu cực, phạm tội, nghe theo xúi giục của ma quỷ, của thế gian, chương trình thánh thiện của Chúa dành cho ta bị bẻ gãy. 

Để chương trình của Chúa được thực hiện, ta hãy học nơi Chúa Kitô và noi gương Đức Mẹ, đáp lời “xin vâng” với Chúa bằng cả cuộc đời ta:

Đó là: Bỏ ý riêng để vâng theo ý Chúa; bỏ chương trình riêng để đi vào chương trình của Chúa. 

Đó là: Xin vâng khi vui cũng như lúc buồn; khi hạnh phúc cũng như lúc khổ đau. 

Đó là: Bước theo Chúa Kitô như Đức Mẹ, dù phải đối diện cùng bất cứ hoàn cảnh nào trong đời. 

Hãy xin vâng từng giây phút để chương trình của Chúa được thực hiện. Xin vâng để tâm hồn ta hạnh phúc và đem hạnh phúc cho những người chung quanh. mục lục

KINH KÍNH MỪNG, LỜI KINH MẸ DẠY CẦU TRONG CƠN NGUY KHỐN

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Maria Mẹ được đầy ơn phúc, Mẹ cũng muốncho con cái mình hạnh phúc Một, vì mẹ nào mẹ chẳng thương con, nên khi con cáilầm đường lạc lối, xa lầy trong tội, Mẹ đã mở rộng vòng tay dẫn lỗi chỉ đường chocon người đạt tới hạnh phúc, với lời nhắn nhủ : "Hãy ăn năn đền tội, hãy năng Lần Hạt Mân Côi".

1. Kinh Kính Mừng

"Kính mừng Maria đầy ơn phúc."

Đó là câu đầu tiên trong Kinh Kính Mừng chúng ta vẫn thường xuyên đọc nhất là trong tháng Mười. Nhưng nguồn gốc của lời Kinh này phát xuất từ miệng sứ thần Gabriel khi chào kính Đức Maria lúc truyềntin (Lc1,28). Đức Maria là Đấng đầy ơn phúc như lời sứ thần nói, vì có ThiênChúa ở cùng. Phúc của Mẹ thật cao với khôn sánh, lời bà Ê-li-sa-bét xác nhận: "Em thật có phúc hơn mọi người nữ,vì Đấng em cưu mang thật diễm phúc". Ai có Thiên Chúa ở cùng, người ấyđược đầy ơn phúc. Đức Maria là người diễm phúc không chỉ Mẹ có Thiên Chúa ởcùng, mà Mẹ còn cưu mang Thiên Chúa ngay trong lòng mình nữa.

Những lời của sứ thần Gabriel và của bà Ê-li-sa-bét trên đây đã được Giáo hội dùng để chúc tụng ngợi khen Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ chúng ta. Đồng thời Giáo hội thêm vào đó lời cầu khẩn Mẹ thương nâng đỡ phù trì "Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời... và trong giờ lâm tử".

Phụng vụ mừng lễ Mẹ Mân Côi hôm nay, dựa trên trang Tin Mừng (Lc 1,26-38) lại dìu ta về với "Đức Maria đầy ơnphúc". Mẹ có phúc trước hết là vì Mẹ có Thiên Chúa ở cùng, và Con lòng Mẹ gồm phúc lạ. Thế nên Giáo hội không ngớt lời lặp đi lặp lại danh xưng hạnh phúcnày : "Kính mừng Maria đầy ơn phúc" để tôn vinh Mẹ Maria. Đức Maria là người hạnh phúc vì Mẹ đã đón nhận hồng phúc, được tuyển chọn để cưu mang,sinh hạ, nuôi dưỡng và làm Mẹ Đấng Cứu Thế, là Mẹ Thiên Chúa. Nếu yêu và đượcyêu là những điều hạnh phúc nhất trong đời, thì Đức Maria cũng rất hạnh phúckhi được Thiên Chúa yêu thương tuyển chọn và chính Mẹ cũng biết dành trọn vẹntình yêu thương của mình cho Thiên Chúa.

Mẹ được đầy ơn phúc, Mẹ cũng muốn chocon cái mình hạnh phúc, vì mẹ nào mẹ chẳng thương con. Nên khi con cái lầmđường lạc lối, sa lầy trong tội, Mẹ đã mở rộng vòng tay, dẫn lối chỉ đường chocon người đạt tới hạnh phúc với lời nhắn nhủ : "Hãy ăn năn đền tội, hãynăng lần hạt Mân Côi". Làm theo lời dặn dò của Mẹ, Hội Thánh đã thoátnhiều cơn giông tố hiểm nguy xác hồn, phá tan được bao bè rối, mang lại bình antrong tâm hồn.

2. Những ơn phúc bởi đọc Kinh Kính Mừng

Chính Mẹ đã dạy chân-phước Alanô :"Bất-cứ ai trung thành đọc Kinh Mân Côi và suy ngắm những Mầu Nhiệm sẽđược ân thưởng. Mẹ sẽ xin cho họ được tha mọi hình phạt và mọi tội lỗi tronggiờ họ chết". Thánh Bênađô nói : "Kinh Kính Mừng làm cho Quỉ Dữ trốnchạy, Hỏa Ngục run sợ".

Còn thánh Bônaventura nói : "Mẹ Maria chúc phúc cho những ai đọc kinh Kính Mừng".

Theo thánh Montfort "Những ngườirối đạo, những người vô tín ngưỡng, những người kiêu căng chê ghét hay khinh thị kinh Kính Mừng, là những người có dấu bị trầm luân Hỏa-Ngục. Không có gì có hiệu-lực được lên Nước Thiên Chúa bằng đọc Kinh Mân Côi".

Thánh Anphongsô: "Nhờ Kinh Mân Côi, biết bao tội nhân bỏ đường tội lỗi, bao linh hồn đã tiến cao trên đườngtrọn lành. Biết bao người được ơn chết lành và hưởng phúc Thiên đàng".

Kinh Mân côi là kinh chính Đức Trinh Nữ đã khuyến khích khi hiện ra với Cô Bernardette ở Lộ đức (1858) cũng như trong các lần hiện ra với ba em mục đồng Lucia, Phanxicô và Giaxinta 6 lần từ 13 tháng 5 tới 13 tháng 10 năm 1917. Cả 6 lần Đức-Mẹ đều thúc-dục : "Các con hãy tiếp tục đọc Kinh Mân Côi hằng ngày". Và nhất là: "Các con hãy đọc kinh Mân côi để cầu nguyện cho hòa bình thế giới". Chẳng nói đâu xa, ngay tại Lavang, Đức Mẹ cũng đã hiện ra để dạy các tín hữu đọc KinhKính Mừng, để cầu nguyện trong cơn nguy khốn, bách hại.

3. Lời kinh Mẹ dạy cầu trong cơn nguy khốn

Chúng ta đang sống trong một thế giới đầynhững căng thẳng, càng ngày càng gia tăng, nhất là trong thời đại dịch này.Chẳng những Đức Giáo hoàng Phanxicô, vị cha chung của chúng ta, mà còn cả cácgiám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ, giáo dân khắp đó đây trên toàn thế giới đềuhưởng ứng và có những sáng kiến chung lời nguyện cầu bằng Kinh Kính Mừng, vớiước nguyện làm theo lời Mẹ dạy để cho thế giới sớm được hòa bình, nhất là đẩylùi dịch bệnh càng sớm càng tốt. Trước tình hình thế giới hiện nay, chỉ biếtchạy đến với Thiên Chúa, để khẩn xin hòa bình cho thế giới và dại dịch sớm đượcđẩy lui. Việc làm trong tháng này là hãy tích cực và gia tang lần hát Mân Côi,như Giáo hội vẫn thường làm trong các cơn túng cực. Vì chỉ có lời cầu nguyệnmới vượt qua được các biên giới các quốc gia và các ngăn cách của thù ghétcũng như không hiểu nhau, mới đem lại bình an cho nhân loại. Chúng ta hướng vềĐức Maria, Nữ vương hòa bình, Mẹ chỉ bảo đàng lành, Mẹ cứu giúp trong những cơnnguy khốn và khẳng định rằng, nơi nào thiếu hòa bình, nơi nào con người tỏ rabất lực hay không muốn dẹp đi mầm mống thù ghét và chết chóc, thì việc trợ giúpphải đến từ Trời cao. Chính Đức Maria, Nữ vương hòa bình, Đấng đem chúng ta trởlại với Chúa Cha.

Trước những thế lực mạnh hơn, chúng tathường cảm thấy bất lực. bắt lực trước cả con virus vô hình. Khi nghĩ đến sứcmạnh của những thế lực trên trái đất này định đoạt số phận của nhân loại, chúngta cảm thấy bị giới hạn và bất lực, chúng ta chỉ biết tin tưởng vào lời cầunguyện mà thôi, chúng ta tin cậy vào một sức mạnh lớn hơn, là Thiên Chúa. ĐứcMaria, như gương mẫu của sự phó thác hoàn toàn cho thánh ý Chúa. Và với tìnhmẫu tử, Mẹ sẽ dẫn đưa chúng ta đến với Chúa Kitô, theo dõi chúng ta trên đườngđến với Chúa Cha, Đấng có thể cải hóa và làm cho các tâm hồn con người tùngphục thánh ý của Người.

Vậy Kinh Kính Mừng càng có lý do hơn nữađể xúc tiến hòa bình, một hoà bình cho tới nay vẫn chưa trở lại, một cơn đạidịch vẫn chưa chấm dứt. Với lời Mẹ Maria dạy và kinh nghiệm của các thánh về ơnphúc bởi đọc Kinh Kính Mừng, chúng ta hãy sốt sáng đọc kinh Mân Côi, để cầu nguyệncho bản thân, cho gia đình, cho Giáo hội, cho quê hương và cho toàn thế giới.

Nữ Vương truyền phép Rất Thánh Mân Côi,cầu cho chúng con.

Nữ Vương ban sự bình an, cầu cho chúngcon. Amen. mục lục

MÙA MẦU NHIỆM

Thánh Kinh hòa quyện Mân Côi

Tô điểm Tháng Mười thắm sắc hồng ân

Hoa Mân Côi nở quanh năm

Hân hoan hòa nhịp, râm ran không ngừng

Bốn mùa: Vui, Sáng, Thương, Mừng

Hiệp thông Giáo Hội, một lòng tín nhân

Cả khi vui, cả lúc buồn

Vẫn tâm sự với Mẹ Hiền sớm khuya

Mân Côi là nhạc, là thơ

Nhịp yêu mến Mẹ, vần mơ Nước Trời

Cầu thay nguyện giúp, Mẹ ơi!

Bây giờ và lúc trút hơi cuối cùng. mục lục

BỐN MÙA MÂN CÔI

Mân Côi thắm nở bốn mùa

Khi VUI, khi SÁNG ước mơ kiếp người

Có khi mặn chát cuộc đời

Sắc THƯƠNG nhiệm lạ vẫn tươi màu MỪNG.

Mân Côi thầm nguyện không ngừng

Kết Chuỗi Hoa Lòng dâng kính Mẹ Yêu

Xuân vui, Hạ nóng, Thu sầu

Rồi Đông rét buốt nỗi đau kiếp người.

Tháng Năm cùng với Tháng Mười

Miên man trầm nguyện Mân Côi sớm chiều

Vui, Thương, Mừng, Sáng nối nhau

Bốn mùa vẫn nở tươi màu Kinh Thiêng. mục lục

Viễn Dzu Tử

MẸ RẤT THÁNH MÂN CÔI

Con lạy Mẹ Maria Rất Thánh

Xin dạy con năng lần hạt Mân Côi

Để suy tôn ơn Cứu Độ muôn đời

Do Con Mẹ tự hiến cho nhân loại.

Vui, Thương, Sáng, Mừng thông qua tràng chuỗi

Mẹ dạy con cầu nguyện cho hoà bình

Mẹ dạy con cải tạo nếp gia đình

Và phó thác bản thân cho Thiên Chúa.

Con khẩn nguyện cho danh Cha cả sáng

Con kính mừng Mẹ Chúa và Ngôi Hai

Con khấn xin cùng Ngôi Ba Chúa Trời

Luôn đánh động lòng con khi lần chuỗi.

Ca Na tiệc cưới bất ngờ hết rượu

Mẹ yêu cầu, Chúa Con cứu giúp ngay

Con tin rằng kẻ sa đọa ngày nay

Mẹ cứu giúp, Chúa ban ơn cải hóa. Amen. mục lục

(Thế Kiên Dominic)

MẸ MÂN CÔI

Tháng mười là tháng Mân Côi

Tháng tôn vinh Đức Mẹ Chúa Trời

Gió Thu nhè nhẹ cho lá vàng rơi

Thu nhắc nhở lần chuỗi Mân Côi

Kính dâng lên Mẹ của lòng tôi

Lời thương kính nhớ Đức Mẹ tuyệt vời

Mẹ của đàn con trên khắp đất trời

Bao dung an ủi con Mẹ ở mọi nơi

Ai buồn tủi Mẹ chẳng để đơn côi

Cầu bầu xin tội ban ơn cứu rỗi

Cứu giúp muôn phương khắp mọi thời

Hỡi Maria chúng con xin vâng lời Mẹ

Làm người kính Chúa yêu người con nghe

Mở rộng lòng nhân đầy thương mến

Ai khổ Mẹ đưa các con tìm đến

Nhìn trong ánh Mẹ sáng gương soi

Từ trời áo Mẹ lấp lánh chối ngời

Tháng mười đoàn quân Mẹ xin ra trận

Viếng thăm người khổ kẻ bệnh đau

Giúp xoá tan bớt những u sầu

Giúp ai muốn tìm đến Chúa

Làm nhịp cầu ...tin vững bền thêm 

Gieo lòng yêu mến Mẹ khắp mọi miền

Mẹ sinh con Chúa cho trần thế

Kính yêu Mẹ lòng con mãi tôn thờ... mục lục

Anna Trần Thị Chúc

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan