SUY NIỆM LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM (CN 33 TN A)

13-11-2020 223 lượt xem

[2 Mcb 7,1.20-23.27b-29; Rm 8,31b-39; Lc 9,23-26]

Mục lục

SỨC MẠNH ĐỨC TINLm. Giuse Nguyễn Hữu An

MÀU SẮC TIN YÊUTrầm Thiên Thu

HIẾN DÂNG ĐỂ SỐNG TINH THẦN "TỬ ĐẠO"Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

TỬ ĐẠO TRONG THẾ KỶ XXIGiuse Vinhsơn Ngọc Biển, SSP

CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM 2020Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Thơ: LỜI DA VÀNGTrầm Thiên Thu

Thơ: Kinh nguyện CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM(Thế Kiên Dominic) 

TA NGỠ MẤT, MÀ CHƯA ĐÀNH ĐÁNH MẤTLm. Kevin O’Shea, DCCT – Mai Tá lược dịch 

KHO TÀNG PHẢI ĐEM RA DÙNG, PHÁT TRIỂN VÀ CHIA SẺ  - Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh. MD

HÃY LÀM NHỮNG YẾN BẠC SINH LỜILm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

PHẦN RIÊNG BIỆTTrầm Thiên Thu

BỔN PHẬN TRONG LÚC ĐỢI CHỜLm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

Thơ: NÉN TO LO NHIỀUViễn Dzu Tử

Thơ: TIÊU CỰC(Thế Kiên Dominic)

SỨC MẠNH ĐỨC TIN

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Nói đến sức mạnh, chúng ta tự nhiên sẽ nghĩ đến những chàng trai võ sĩ thân hình lực lưỡng, cân đối rắn chắc,với những bắp thịt vạm vỡ, với những quả đấm thôi sơn ngàn cân.Nói đến sức mạnh, chúng ta cũng nghĩ đến những trận cuồng phong, những cơn lũ lụt phá đổ cây cối nhà cửa làng mạc, đê điều, đường sá, cầu cống.Nói đến sức mạnh, chúng ta cũng thường nghĩ tới những đám cháy lớn thiêu rụi cả một khu rừng, thiêu huỷ các tầng lầu.Nói đến sức mạnh, chúng ta nghĩ đến những trận động đất san bằng nhiều thành phố, giết hại hàng triệu người trong vài giây đồng hồ.Nói đến sức mạnh, chúng ta cũng liên tưởng đến những cuộc chiến tranh đã giết hại bao sinh mạng, tàn phá bình địa nhiều thành phố làng mạc nhà cửa dinh thự đền đài… Nhưng còn có một sức mạnh vạn năng khác, mãnh liệt hơn cả, quyết thắng tất cả mà lại luôn luôn ở trong tầm tay con người. Đó chính là sức mạnh niềm tin tôn giáo (Lm Nguyễn Quý Thiện). Niềm tin tôn giáo không bao giờ bị bóp nghẹt do bất cứ quyền lực nào. Không có quyền lực nào có thể xoá bỏ được niềm tin tôn giáo. Lịch sử Giáo Hội đã chứng minh xác tín đó.

1. Sức mạnh đức tin vượt thắng những thách đố.

Trong chuyến hành hương Rôma, tôi có dịp đi viếng những hang toại đạo. Đi trong hang như là tìm về cội nguồn đức tin. Nơi đây biểu lộ sức mạnh đức tin của bao thế hệ tiền nhân. Giáo hội giữ vững niềm tin trên nền tảng tử đạo của biết bao con người nằm dưới hang này trong 300 năm đầu bị bách hại. Hang toại đạo là hệ thống đường hầm đào sâu dưới lòng đất tại các khu nghĩa trang ngoại thành Rôma. Những hang hầm dài nhiều cây số. Không phải chỉ một tầng mà đến 3, 4 tầng sâu dưới lòng đất. Không khí trong hang rất lạnh lẽo. Mùi tử khí vẫn còn thoang thoảng đâu đây. Đi trong hầm mộ lạnh lùng, hoang vắng, lối ngõ ngoằn ngoèo, tôi cảm nghiệm được ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Sự chết luôn luôn đe dọa rình rập cướp lấy mạng sống con người. Bước đi trong lòng tin và lòng cảm phục nên người hành hương lại cảm nhận sự ấm áp, thân tình gần gũi với các thế hệ tiền bối. Gia sản của Giáo Hội là đây.Tại nơi này, các tín hữu sơ khai đã ẩn trốn những cơn bách hại liên tiếp trong ba thế kỷ. Sức mạnh đức tin thật là kỳ diệu.

Suốt ba trăm năm bắt Đạo, trải qua sáu triều Vua: Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Giáo Hội Việt Nam đã có hơn trăm ngàn Vị Tử Đạo được ghi nhận trong sổ sách. Trong số này, có 58 Giám mục và Linh mục ngoại quốc thuộc nhiều nước như Pháp, Tây Ban Nha, Bồ đào Nha, Hà Lan, Italia, 15 Linh mục Việt Nam, 340 Thầy Giảng, 270 Nữ tu Mến Thánh Giá, 99.182 Giáo dân.

Trải qua 300 năm, với 53 sắc dụ cấm đạo dữ dội, Giáo Hội Việt Nam đã chịu bách hại và đã biểu lộ hào hùng sức mạnh đức tin qua dọc dài lịch sử.

Các Thánh Tử Đạo đã chịu đủ mọi cực hình: bị xiềng xích, lao tù, bị tra tấn, bị bỏ đói, bị chém đầu, bị thắt cổ, bị bá đao, phanh thây, bị kìm kẹp, bị voi dày, bị thiêu sống, bị buộc đá thả trôi sông, bị tống cổ ra khỏi nhà cửa, làng mạc, sống vất vưởng trong rừng sâu nước độc. Các ngài đã bị chết đói, chết khát, chết bịnh và bị dã thú ăn thịt…Với sức mạnh đức tin, các ngài đã chiến thắng mọi thứ cực hình dã man. Cho dù là gông cùm, xiềng xích, nhốt trong cũi, đánh đòn, bỏ đói, voi giầy, trói ném xuống sông, đổ dầu vào rốn rồi cho bấc vào mà đốt, đóng đinh vào ván rồi đem phơi nắng, chặt đầu, thắt cổ, thiêu sống, phân thây ra từng mảnh…các ngài chấp nhận tất cả nhờ đức tin mạnh mẽ. Trong 117 Thánh Tử Đạo được tuyên phong, có 79 vị bị trảm quyết (bị chặt đầu); 18 vị bị xử giảo (bị thắt cổ); 8 vị chết rũ tù; 6 bị thiêu sinh; 4 bị lăng trì (phân thây ra từng mảnh); 1 bị tử thương và 1 bị bá đao.

Người ta nghĩ ra mọi thứ hình phạt tàn ác để buộc các tín hữu chối bỏ đức tin.

- Thật kinh hoàng sởn tóc gáy khi nghe kể về cái chết của Cha Cố Du theo kiểu bị xử bá đao: “Ngày 30.11.1835, họ chọn Thợ Đức làm pháp trường để xử ngài.Sáng sớm hôm đó, họ điệu ngài đến nơi hành hình. Bên một lò than đang cháy đỏ rực có 5 tên lính cầm 5 chiếc kìm sắt đã được nung đỏ.Nghe lệnh, cùng một lúc cả 5 tên kẹp kìm nung đỏ vào mình ngài kéo ra những miếng thịt khét lẹt.Họ vu cho ngài móc mắt trẻ con khi rửa tội. Làm điều ám muội khi cử hành lễ cưới và cho ăn thịt người khi rước lễ. Sau đó họ tiếp tục gây thêm những thương tích nữa cho đến khi ngài bất tỉnh thì họ mới hành quyết. Họ cột chân tay ngài vào cây cột. Hai bên lính cầm kìm chờ sẵn. Cha Du ngửa mặt lên trời cầu nguyện dâng mạng sống mình cho Chúa. Sau hồi trống báo hiệu, hai tên lính cầm kìm kẹp vào ngực ngài kéo ra 2 miếng thịt nơi vú liệng xuống đất, một tên lính khác cầm dao xẻo thịt phía sau hông, rồi đến bắp đùi thì chúng lấy kìm kéo ra rồi lấy dao xẻo đứt từng miếng… làm cha rất đau đớn. Không được bao lâu thì ngài ngất đi, đầu rũ xuống và ngài về chầu Chúa lúc 17g ngày 30.11.1835. Cha Du chết rồi bọn lính còn chặt đầu ngài cho vào một chiếc thùng đầy vôi, cởi trói lật xác úp xuống rồi phân thây ra từng khúc bỏ tất cả vào thùng vôi. Đầu ngài họ đem treo 3 ngày ở giữa chợ rồi xay nát, bỏ chung với thùng vôi đựng xác ngài đoạn quăng cả xuống biển cho mất tích".

- Thánh Giám mục Xuyên, chân tay bị trói vào bốn cọc. Năm lý hình cầm 5 cái rìu, sẵn sàng nghe lệnh quan án sát. Vừa nghe lệnh, hai lý hình chặt hai chân, hai lý hình chặt hai tay, đến lượt lý hình thứ năm chặt đầu. Rồi họ mổ bụng ngài cắt lấy ruột gan.

- Cha Điểm và Cha Khoa bị trói chân tay vào cột, lý hình tròng dây vào cổ. Nghe hiệu lệnh, lý hình cầm hai đầu dây xiết mạnh cho đến khi hai vị nghẹt thở và lịm dần.

Dù chịu mọi cực hình tàn bạo, bị hành hạ tra tấn khủng bố, các ngài vẫn không chối bỏ đức tin. Vua chúa, quan quyền, binh lính phải sững sờ kinh ngạc và kính phục lòng tin sắt son của các ngài.

Thánh Hồ Đình Hy làm quan lớn trong triều đình. Quan Án Phạm Trọng Khảm. Nhờ sức mạnh đức tin, các ngài chấp nhận mất chức quyền, mất danh vọng thế gian và sẵn sàng hiến dâng mạng sống.

Thánh Lê Thị Thành, thân phận phụ nữ yếu ớt, gánh nặng gia đình, nhờ sức mạnh đức tin nên ngài đã sẵn sàng chịu mọi cực hình để minh chứng tình yêu đối với Đức Giêsu Kitô.

Thánh Tôma Thiện, Phaolô Bột, đầu xanh tuổi trẻ, tương lai còn dài, nhiều hứa hẹn. Các ngài đã dâng hiến tuổi thanh xuân cho Chúa nhờ sức mạnh đức tin.

Các Thánh Tử Đạo vui lòng đón chịu mọi cực hình đau đớn, chấp nhận mọi thua thiệt, vui lòng mất hết địa vị bổng bộc. Các ngài hiên ngang tiến ra pháp trường đón nhận cái chết như một mối phúc, minh chứng lòng trung thành của mình đối với Đức Kitô. Cái chết của các ngài làm sáng lên sức mạnh đức tin.

2. Những thách đố Đức Tin thời nay.

Làm sao chúng ta có thể sống đức tin mạnh mẽ như các Thánh Tử Đạo. Ngày nay đâu còn cảnh cấm đạo, bắt đạo, giết người có đạo như thời xưa. Nhưng ngày nay có rất nhiều thách đố đức tin với tín hữu Việt Nam.

- Vô thần duy vật

Thách đố trước hết đối với Đức Tin chính là môi trường mà chúng ta đang sống và “hít thở”, đó là một xã hội vô thần duy vật. Đây một xã hội tự bản chất chối bỏ Thiên Chúa, đề cao vật chất và quyền lực. Sự chối bỏ Thiên Chúa sẽ là nguyên nhân đưa tới sự sa đọa của con người và xã hội. Khi một xã hội vắng bóng Thiên Chúa, người ta sẽ tạo ra những “thiên chúa khác” nơi một con người hoặc nơi vật chất như người Do Thái trong Cựu Ước đã đúc ‘bò vàng” để thờ như thờ Thiên Chúa. Xã hội chạy theo sức hấp dẫn của đồng tiền. Của cải và quyền lực lên ngôi. Thang giá trị đạo đức bị đảo lộn. Người ta tìm mọi cách kiếm tiền để có quyền. Khi có chức quyền thì càng kiếm được nhiều tiền. Đồng tiền đang trở thành một quyền lực chi phối toàn bộ đời sống con người. Ai cũng muốn có nhiều tiền. Để có nhiều tiền, nhiều người đã không từ chối một phương cách nào: lường gạt, lừa đảo, làm hàng gỉa, buôn bán ma túy, tham nhũng, hối lộ… Tiền bạc qủa là một cơn cám dỗ đang làm chao đảo thế giới, tàn phá những gía trị, biến chất con người. Trong xã hội đó, nhiều người Công Giáo cũng bị cuốn hút vào ma lực của đồng tiền, nên dễ đánh mất Niềm Tin, xa rời Giáo Hội.

- Gian dối và lừa lọc lên ngôi

Thách đố thứ hai của Đức Tin, đó là xã hội Việt Nam đang báo động bởi đầy dẫy những bất công, lạm quyền và giả dối lan tràn. Đạo đức suy thoái, lương tâm và nhân phẩm bị xúc phạm. Mấy câu thơ sau đây có thể tóm tắt thực trạng xã hội:

“Nhân phẩm ngày nay giảm giá rồi,

Chỉ còn thực phẩm tăng giá thôi,

Lương tâm bán rẻ hơn lương thực,

Chân lý chân giò một giá thôi.”

Sống trong môi trường như thế, nhiều người lập luận: người ta gian dối mà mình trung thực là mình thua thiệt! Có những người Công Giáo cũng hành xử như người không tin, cũng lừa lọc, gian lận đủ cách để làm sao mình có lợi.

- Sự đề cao hưởng thụ cá nhân

Chúng ta đang phải đối diện với một nền văn hóa bị thống trị bởi lối sống hưởng thụ ích kỷ. Trong đó, con người chạy theo lối sống hưởng thụ cá nhân, biến người khác thành một món hàng để chiếm đoạt và mua bán. Tương quan yêu thương và nhân bản bị xếp sau tương quan trao đổi và lợi ích kinh tế. Xã hội này đã sinh ra những đứa con “quái thai” trong cách sống: bằng mọi cách để kiếm tiền và hì hục hưởng thụ! Khi sống theo lối sống này, con người trở nên ích kỷ, quy ngã, hời hợt, và ít quan tâm đến người khác, thiếu khả năng liên vị, không biết tôn trọng và yêu thương người khác. Quan sát cách hành xử của người Việt Nam ở nơi công cộng và nhất là khi tham gia giao thông, sẽ thấy người ta tranh giành nhau, chụp giật và manh mún theo kiểu mạnh ai người ấy thắng, cá lớn nuốt cá bé. Cách sống nói lên não trạng và tâm tính con người. Đó là một tình trạng đáng buồn cho xã hội Việt Nam hôm nay!

- Chủ trương duy tương đối

Còn có một thách đố lớn hơn đối với Đức Tin mà Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI luôn cảnh báo, đó là chủ trương duy tương đối. Chủ trương này khiến cho con người hôm nay không còn muốn chấp nhận các chân lý tuyệt đối nữa, không quy chiếu và sống theo một chuẩn mực luân lý hay giá trị đạo đức khách quan nào nữa. Tất cả là tương đối và mỗi người có thể thay đổi các chân lý và sống theo những chọn lựa và chuẩn mực cá nhân. Đây là sai lầm căn bản dẫn đến những sai lầm khác của con người hôm nay. (x. Những thách đố đối với Đức Tin trong xã hội hôm nay. lamhong.org).

Những lối sống và não trạng trên đã và đang len lỏi vào các ngõ xóm, các xứ đạo của chúng ta.

3. Hãy bén rễ sâu trong Đức Kitô

Đức Giáo hoàng Biển Đức dạy: Cần phải tăng cường việc cử hành Đức Tin (x. Tự sắc Porta Fidei, số 2 và 9). Cử hành đức tin là tuyên xưng, sống và làm chứng cho Đức Tin. Tuyên xưng Đức Tin như Kinh Tin Kính dạy và như Hội Thánh công bố. Tuyên xưng Đức Tin trong mọi hoàn cảnh sống khi an vui, hạnh phúc và thành công, cũng như khi đau khổ, bệnh tật, thất bại hay khủng hoảng. Cử hành Đức Tin bằng việc nhiệt thành dấn thân thực hiện công cuộc truyền giáo với cách thức mới mẻ và hiệu năng hơn. Cử hành Đức Tin bằng sự chuyên cần cử hành và lãnh nhận các bí tích. Cử hành các bí tích là cử hành mầu nhiệm các đức tin, nhất là bí tích Thánh Thể và Hòa Giải.

Đức Tin là hồng ân vô giá mà Thiên Chúa đã ban tặng. Đức Tin là “cửa” mở ra, đưa chúng ta đi vào đời sống kết hiệp thân tình với Thiên Chúa và bước vào Hội Thánh của Người. Nhờ sức mạnh đức tin tôn giáo, các Thánh Tử Đạo khi bị bắt, bị kết án nên đã không chối đạo, không bước qua Thánh giá. Các Ngài đã bị hành hạ, bị kết án tử hình bằng nhiều hình thức hung bạo dã man nhưng các Ngài không bị khuất phục, không nhường bước, không thỏa hiệp để được sống thảnh thơi.Tiền bạc không làm cho các Ngài mù tối. Khổ đau không làm cho các Ngài chùn bước. Nhục hình không làm cho các Ngài ngã qụi. Thậm chí ngay cả cái chết cũng không uốn cong được lòng trung tín của các Ngài. Và chính dòng máu của các Ngài đổ ra như những hạt giống gieo vào lòng đất đã trổ sinh một Giáo hội Việt Nam phong phú như hôm nay.

Đức Tin bừng lên mãnh liệt trong mầu nhiệm tự huỷ và hiến dâng. Mừng lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam là dịp để học hỏi nơi cuộc đời chứng nhân của các Ngài. Chúng ta được tiếp thêm sức mạnh Đức Tin để sống đạo giữa biết bao thách đố của thời đại hôm nay. “Hãy bén rễ sâu trong Đức Kitô, xây dựng trên nền tảng Đức Kitô và được củng cố trong đức tin” (Cl 2,7), chúng ta sẽ được tràn đầy sức mạnh Đức Tin. mục lục

MÀU SẮC TIN YÊU

Trầm Thiên Thu

Máu Đỏ Lung Linh Sắc Yêu Mến

Da Vàng Lấp Lánh Màu Kính Tin.

Như một quy luật bất biến, Kinh Thánh cho biết: “Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống, mùa gặt mai sau khấp khởi mừng.” (Tv 126:5) Thật đúng như vậy, chỉ là người đời rất ư bình thường mà người ta cũng có thể nhận định: “Có nhục mới có vinh.” Tương tự, muốn thành công thì phải khổ luyện, có đau khổ mới có hạnh phúc đích thực.

Theo bản tính con người, ai cũng sợ chết, dù chỉ chết một lần, bởi vì chỉ có một cuộc đời để sống, không thể rút... kinh nghiệm. Thế nên phải cố gắng sống sao cho có ý nghĩa để cái chết hợp lý. Chắc chắn các thánh tử đạo Việt Nam nhận thức được vậy nên không sợ chết, đặc biệt là chết vì tin vào Đức Giêsu Kitô. Đó là một mối phúc: “Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.” (Mt 5:10)

Như để tái xác định, Chúa Giêsu giải thích thêm: “Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế.” (Mt 5:11-12)

Thật lạ lùng với cách nhận xét của De Giradin: “Tình yêu chỉ sống được nhờ đau khổ. Sống trong hạnh phúc, tình yêu sẽ chết dần mòn.” Chính đau khổ và hy sinh là bằng chứng về tình yêu chân thật. Tình yêu vô hình, không thể nhìn thấy nhưng có thể cảm nhận. Bussy Rebutin nói: “Tình yêu trong xa cách ví như ngọn lửa trong gió, gió thổi tắt ngọn lửa nhỏ và thổi bùng ngọn lửa lớn.” Đó là nói về tình yêu đôi lứa, nhưng vẫn có ý nghĩa đối với các dạng tình yêu khác, kể cả tình yêu của chúng ta dành cho Thiên Chúa. Tính chất của lửa rất lạ, càng được chia sẻ càng lan tỏa, càng tăng thêm, chứ không bị giảm bớt hoặc mòn dần.

Tục ngữ Việt Nam có câu: “Một giọt máu đào hơn ao nước lã.” Máu duy trì sự sống bằng cách không ngừng từ Trái Tim – Trung Tâm Phân Phối Sự Sống – chuyển giao đi khắp cơ thể. Người ta khác nhau về loại máu, nhưng chung quy vẫn là sống và yêu. Tim còn đập là còn sự sống, còn sống thì còn yêu.

Theo y học, có khoảng 46 nhóm máu khác nhau, nhưng nhóm máu chủ yếu là O, A, B, AB và yếu tố Rhesus (Rh, có Rh+ và Rh-). Trong đó, máu O có thể cho bất cứ loại máu nào nhưng chỉ nhận cùng loại máu; còn máu AB có thể tiếp nhận mọi loại máu. Tuy nhiên, máu của mỗi nhóm có thể có kháng thể chống lại các nhóm khác. Một nhóm máu hoàn chỉnh có thể bao gồm một bộ 30 chất trên bề mặt của các RBC (red blood cell – hồng cầu), và nhóm máu của cá thể là một trong những cách kết hợp của một số kháng nguyên nhóm máu. Trong số 30 nhóm máu, có hơn 600 chất kháng nguyên (phân tử kích thích đáp ứng miễn dịch của cơ thể, sản sinh kháng thể) đã được phát hiện, nhưng đa số rất hiếm hoặc chủ yếu được tìm thấy trong các nhóm bộ tộc nhất định.

Đối với Kitô giáo, Công giáo nói riêng, Thập Giá là biểu tượng của đức tin, vì thế mà những người bách hại dùng Thập Giá – dù chỉ là hai thanh gỗ xếp thành hình thập giá – để bắt người ta bước qua, nhưng chỉ luống công vô ích, vì các tín nhân chân chính luôn tuyệt đối tin vào Đức Giêsu Kitô. Điều đó đã được chứng minh bằng hàng trăm ngàn cái chết của các vị tử đạo Việt Nam trong thời bách hại của các vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức.

Đó là ứng nghiệm lời cảnh báo của Chúa Giêsu: “Hãy coi chừng người đời. Họ sẽ nộp anh em cho các hội đồng, và sẽ đánh đập anh em trong các hội đường của họ. Và anh em sẽ bị điệu ra trước mặt vua chúa quan quyền vì Thầy để làm chứng cho họ và các dân ngoại được biết.” (Mt 10:17-18) Lời tiên báo đó đã và đang xảy ra khắp nơi trên thế giới, kể cả Việt Nam xưa và nay, càng ngày càng có xu hướng gia tăng. Thật đáng sợ với mưu mô thâm độc của ma quỷ, nhưng đừng hốt hoảng, vì Chúa Giêsu đã nói: “Khi người ta nộp anh em thì anh em đừng lo phải nói làm sao hay phải nói gì, vì trong giờ đó, Thiên Chúa sẽ cho anh em biết phải nói gì. Thật vậy, không phải chính anh em nói, mà là Thần Khí của Cha anh em nói trong anh em.” (Mt 10:19-20) Cứ an tâm mà sống!

Bách hại đủ kiểu, đủ mức, tín nhân cũng chẳng yên thân với chính người thân ngay trong gia đình mình: “Anh sẽ nộp em, em sẽ nộp anh cho người ta giết; cha sẽ nộp con, con cái sẽ đứng lên chống lại cha mẹ và làm cho cha mẹ phải chết. Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát.” (Mt 10:21-22) Không hẳn là những người trong gia đình hoặc trong dòng họ sẽ nộp nhau hoặc ra mặt chống đối, nhưng có thể “bằng mặt mà không bằng lòng,” họ bách hại nhau bằng nhiều cách tinh vi: Lườm nguýt, xa lánh, ghen ghét, mỉa mai, gièm pha, khích bác,... Đơn giản chỉ là không thúc giục nhau sống đạo.

Âm nhạc có những cung bậc khác nhau nhưng chung giai kết trọn, cuộc đời của chúng ta cũng tương tự, cần noi gương các thánh tử đạo Việt Nam, cùng hòa âm bản Hùng Ca Tin Yêu qua cách sống hằng ngày. Chúng ta không viết bản nhạc cuộc đời mình bằng máu tử đạo, nhưng có thể viết bằng cách khác: Sống âm thầm chịu đựng đau khổ vì Chúa cũng là một cách tử đạo liên lỉ, có ích lợi cho chính mình và các linh hồn. Cách nào cũng có mức độ khó riêng, chẳng cách nào dễ. Quan trọng là chúng ta phải hoàn tất bản tổng phổ đời mình.

Bửu Huyết Đức Kitô đã đổ ra vì thương xót và cứu độ nhân loại. Nhờ đó, nhiều người không tham sanh úy tử, dám liều chết vì Chúa. Đó là những nhân chứng đức tin, là các vị tử đạo. Chính máu các Thánh Tử Đạo là hạt giống sinh các tín hữu. Cũng là những người có cuộc sống bình thường như chúng ta, nhưng các vị tử đạo đã có cách sống khác thường. Thời đó, Việt Nam mới lãnh nhận đức tin Kitô giáo chưa được bao lâu, nhưng đức tin đã bén rễ mau chóng và sâu sắc.

Cụ thể là chàng trai trẻ Anrê Phú Yên (1625-1644) mới rửa tội được 4 năm, vậy mà đức tin ấy đã sớm trưởng thành nên không ngại thí mạng vì Đức Kitô khi mới 19 tuổi đời. Bà Anê Lê Thị Thành (1781-1841), thường gọi bà Đê, là một bà mẹ Công giáo bình thường, nhưng lại có một đời sống đức tin khác thường, để rồi dám chết vì Đức Kitô. Biết tin vua Thiệu Trị ra lệnh xử trảm, thương gia Matthêu Lê Văn Gẫm (1813-1847) vẫn thản nhiên nói: “Tôi có ăn trộm ăn cướp gì đâu mà sợ, mà buồn. Được chết vì đạo là điều tốt lắm.” Thật tuyệt vời biết bao!

Đối với xã hội loài người, họ là những người dại dột, thậm chí là ngu xuẩn, nhưng đối với Thiên Chúa thì họ là những người khôn ngoan. Chúa Giêsu đã giải thích: “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục.” (Mt 10:28) Thật vậy, tác giả sách Khôn Ngoan nói: “Linh hồn người công chính ở trong tay Thiên Chúa và chẳng cực hình nào động tới được nữa.” (Kn 3:1) Đau khổ chẳng là gì đối với những người hết lòng yêu mến Chúa, vì họ xác tín với lòi Chúa Giêsu: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi thì sẽ cứu được mạng sống ấy.” (Lc 9:24)

Các vị tử đạo Việt Nam đã chứng minh lòng tin yêu theo lời Thầy Chí Thánh: “Ai xấu hổ vì tôi và những lời của tôi thì Con Người cũng sẽ xấu hổ vì kẻ ấy, khi Người ngự đến trong vinh quang của mình, của Chúa Cha và các thánh thiên thần.” (Lc 9:26) Rất rõ ràng. Rất mạch lạc.

Tại Việt Nam, người Công giáo đã từng bị bách hại đủ kiểu, vì thế người Bắc và Trung đã tìm cách di cư vào Nam để có thể tự do tôn thờ Thiên Chúa, nhiều nhất là hồi tháng 07-1954. Mỗi thời có kiểu bách hại riêng, càng ngày càng tinh vi hơn. Thời Cựu ước, sách Ma-ca-bê 2 kể rằng có bảy anh em bị bắt cùng với bà mẹ. Vua An-ti-ô-khô cho lấy roi và gân bò mà đánh họ, để bắt họ ăn thịt heo là thức ăn luật Môsê cấm. Bà mẹ là người rất mực xứng đáng khâm phục và kính cẩn ghi nhớ. Bà thấy bảy người con trai phải chết nội trong có một ngày, thế mà bà vẫn can đảm chịu đựng nhờ niềm trông cậy bà đặt nơi Đức Chúa. Hẳn là rất hiếm có bà mẹ nào như vậy. Bà thực sự can đảm, đúng là bà yêu mến Chúa trên hết mọi sự. Chắc chắn “không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” (Ga 15:13)

Các Việt nhân chân chính sống trung thành, luôn đặt trọn niềm vui và hy vọng vào Chúa, hoàn toàn tín thác nơi Ngài. Họ THEO ĐẠO, cương quyết GIỮ ĐẠO, can đảm SỐNG ĐẠO, và chứng tỏ niềm tin bằng cái chết. Đúng là “vô tri bất mộ.” Không biết thì không yêu mến, nhưng càng biết thì càng thích, càng thích thì càng yêu, càng yêu thì càng mê, mê tới... chết.

Đạo và đời có liên quan lẫn nhau: Người có đạo giữ đạo và sống đạo giữa đời. Các thánh tử đạo Việt Nam đã trải qua như vậy, nhưng các ngài đã kiên cường giữ vững đức tin và không ngả theo cái xấu.

Về phần đời, Việt Nam có danh tướng Trần Bình Trọng đã chống lại quân Nguyên – Mông năm 1285, đời nhà Trần. Ông bị giặc bắt nhưng khí phách vẫn khẳng khái: “Thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc.” Một tấm gương sáng về tính cương trực và lòng ái quốc. Ngài Thomas Jefferson (1743-1826), tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ, nói: “Nếu pháp luật bất công, người ta không chỉ phải bất tuân mà còn bắt buộc phải làm như vậy.” Thật vậy, Thánh GH Phaolô VI cho biết: “Chính trị là một dạng bác ái cao nhất.”

Lạy Thiên Chúa chí thánh chí tôn, xin ban thêm đức tin và đức mến cho chúng con, xin giúp chúng con can đảm sống chân chính, không xao xuyến trước bất cứ áp lực nào. Lạy chư thánh tử đạo Việt Nam, xin nguyện giúp cầu thay và thúc giục chúng con sống xứng đáng là hậu duệ của các ngài. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. mục lục

HIẾN DÂNG ĐỂ SỐNG TINH THẦN "TỬ ĐẠO"

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Ngày lễ các thánh Tử Đạo Việt Nam là ngày Hội của Đức tin người Công giáo Việt Nam. Bởi từ khởi đầu truyền giáo đến nay, chưa từng có một khoảnh khắc bình an đúng nghĩa để giữ đạo và sống đạo, người Công giáo Việt Nam vẫn bất khuất trước mọi đầu sóng ngọn gió để đạt một gia sản đức tin quá đỗi lớn lao cho đến hôm nay, chắc chắn sẽ còn mãi về sau.

Người Công giáo Việt Nam vui mừng, hãnh diện vì đức tin của mình. Ngày Hội của Đức tin hàng năm là ngày người Công giáo Việt Nam vừa ôn lại quá khứ để học đòi bắt chước tấm gương kiên trung của cha ông, vừa là ngày mà họ trang trọng khẳng định với mọi người, nhất là với những ai thù ghét, luôn muốn đặt đức tin Công giáo trở thành mục tiêu tiêu diệt, rằng: Sức mạnh của đức tin là sức mạnh chiến thắng trên mọi chiến thắng!

Ngày Hội của Đức tin nhắc nhở từng người con của Hội Thánh Việt Nam, hậu duệ của các thánh Tử Đạo, phải ý thức đức tin của mình, phải lấy tấm gương quyết một lòng sống và chết cho đức tin của các ngài mà soi rọi, mà học tập, mà rút tỉa kinh nghiệm… cho chính đời sống Kitô hữu của mình. 

Qua chính tấm gương của các thánh Tử Đạo Việt Nam, ta thấy Đức tin luôn luôn có những đòi hỏi. Đòi hỏi rõ ràng nhất là đòi hỏi HIẾN DÂNG.

Thư gởi tín hữu Do Thái đã từng ca ngợi Chúa Kitô: “Người đã vào cung thánh không phải với máu các con dê, con bò, nhưng với chính máu của mình, Người vào chỉ một lần thôi, và đã lãnh được ơn cứu độ vĩnh viễn cho chúng ta” (Dt 9, 12). 

Hoặc nơi khác, thư gởi tín hữu Do Thái viết tiếp: “Khi vào trần gian, Đức Kitô nói: Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa này con đây, con đến để thực thi ý Ngài” (Dt 10, 5-7).

Nếu Chúa Kitô, người Thầy, đã tận hiến chính mình, đến lược mọi tín hữu, một khi đã tin Chúa Kitô, đi theo Người, cũng được mời gọi hiến dâng mình trong từng ngày sống để thánh hóa mình, để thu ngắn cánh đồng truyền giáo, để tôn vinh danh Chúa, mưu cầu hạnh phúc đời đời cho con người, để Hội Thánh tiếp tục trường tồn và phát triển.

Trong đời sống, hiến dâng mình là đón nhận Thánh Ý, vui sống với Thánh Ý qua từng ngày sống, từng biến cố, từng hoàn cảnh đời mình. 

Hiến dâng mình còn là nỗ lực băng mình phục vụ Chúa, phụng sự Nước Trời bằng tất cả khả năng, tất cả mọi công tác, tất cả mọi hy sinh, tất cả mọi đóng góp mà việc mở mang Nước Chúa cần đến chúng ta.

Hiến dâng mình là ta tự thánh hóa từng giây phút sống, thánh hóa ngay giây phút hiện tại mà Chúa ban, để mỗi giờ khắc trôi qua trong đời ta đều là giờ khắc thánh, đưa ta đến gần Chúa, đến gần ơn cứu độ của Người.

Hiến dâng mình là can đảm nghe thấu tiếng kêu của người đau khổ, kẻ góa bụa, nạn nhân của bóc lột, của bất công, của sự lủng đoạn công lý… 

Ta không tự bịt mắt trước hoàn cảnh của người cô thân, người bị bỏ rơi, người thiếu thốn, người cơ hàn… đang cần sự trợ giúp vì thiếu thốn cả tình yêu, tinh thần, lẫn vật chất.

Chúa Kitô đã từng chỉ cho ta cách hiến dâng mình để tự thánh hóa:“Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Mt 16,24). 

Thập giá ấy chính là trách nhiệm, là nỗ lực, là trung thành đến cùng qua tất cả mọi lao tác, mọi phận vụ, mọi chiều kích, dẫu có phải vượt qua chông gai, vượt qua đau đớn. 

Vác thập giá chính là hiến dâng mình trong đức tin, để biến thời gian sống của ta thành thời gian thánh và biến đời ta thành đời hy tế ích lợi cho anh chị em. 

Ta sống là sống với Chúa, sống với anh chị em.Vì thế, trong đức tin, ta hiến dâng là hiến dâng cho Chúa và cho anh chị em.

Như Chúa Kitô hiến tế cho trần thế, các thánh Tử Đạo Việt Nam noi gương Chúa Kitô hiến dâng chính mình. Các ngài hiến dâng cái quý giá nhất trong cuộc đời này, đó là mạng sống, là sự sống của bản thân. 

Các thánh Tử Đạo trở thành tấm gương và bài học sống động để chúng ta, hậu duệ của các ngài, thời này sang thờii khác noi gương bắt chước.

Ngày lễ trọng đại kính mừng các thánh Tử Đạo Việt Nam là ngày hạnh phúc, ngày hãnh diện, ngày vui mừng, ngày Hội lớn nhắc nhở chúng ta về một truyền thống đức tin không biết sợ hãi hay khuất phục, không bao giờ cúi đầu, nhưng luôn luôn bình tĩnh đón nhận dẫu phải trải qua những bàn tay dã man nhất, luôn luôn ung dung tự tại dẫu phải đối diện với trăm ngàn đe dọa hiểm độc nhất, luôn luôn ngẩng cao đầu đến nỗi những kẻ sắt máu nhất sẵn sàng lao vào giết hại mình bất cứ lúc nào cũng phải bạt nhược, khiếp đảm.

Ngày Hội Đức tin nằm trong bối cảnh năm Đức tin, lại càng là dịp giúp mọi con cái các thánh Tử Đạo, là tất cả các Kitô hữu Việt Nam, ra sức nêu cao tinh thần đức tin quật cường của Cha Ông! 

Chúng ta phải đi trên con đường của Cha Ông, để không bao giờ hỗ thẹn với tinh thần đức tin của các ngài. 

Chúng ta không được phép lỗi hẹn với Tiền Nhân. mục lục

TỬ ĐẠO TRONG THẾ KỶ XXI

Giuse Vinhsơn Ngọc Biển, SSP

Hôm nay, chúng ta hân hoan mừng kính trọng thể lễ các thánh Tử Đạo Việt Nam. Các ngài là cha ông, tổ tiên của chúng ta.

Khi mừng lễ các thánh tử đạo Việt Nam, chúng ta được mời gọi noi gương các ngài để can đảm sống chứng nhân đức tin giữa lòng đời trong bối cảnh hôm nay.

Như vậy, cùng một lời mời gọi nên thánh, chung một lý tưởng hoàn thiện, nhưng mỗi thời đại, chúng ta được thúc đẩy thể hiện niềm tin của mình bằng một cung cách khác.

Nhưng trước tiên, chúng ta cần tìm hiểu các thánh tử đạo Việt Nam đã sống đời chứng nhân như thế nào?

1. Đời sống chứng nhân nơi các thánh tử đạo Việt Nam

Mỗi lần nhắc đến các thánh tử đạo Việt Nam, ấy là mỗi lần chúng ta nhắc đến tấm gương anh dũng, can đảm, kiên trì, trung thành vì đức tin; tính trung thực, lòng yêu mến quê hương, tính liên đới, tấm lòng bác ái, vị tha nơi các ngài. Nhất là tấm gương anh dũng hy sinh chấp nhận cả cái chết để bảo vệ niềm tin vào Đức Kitô.

Điểm nổi bật nơi các thánh tử đạo là: các ngài không chấp nhận bất cứ hình thức nào theo kiểu: thuốc đắng bọc đường để bỏ Chúa. Khi dụ dỗ không được, vua quan thường hay tức giận và vu khống đủ điều xấu xa cho các ngài.

Một trong những tội mà các vua quan thời bấy giờ thường hay gán cho các ngài cũng rất giống tội danh mà các nhà lãnh đạo Dothái đã kết án Đức Giêsu, đó là tội chống chính quyền, sách động dân chúng, phản lại dân tộc. Khi bị ghép cho tội tầy trời như thế, thì chỉ còn nước chết và chết mà thôi!!!

Tuy nhiên, đây là một sự hồ đồ, ngộ nhận nơi vua quan, vì thế các ngài đã không chấp nhận và lại là dịp để chứng tỏ lòng yêu nước cũng như trách nhiệm xây dựng đất nước ngày càng tốt đẹp hơn. Điều này đã được thánh linh mục Khuông từng tuyên bố: "Đạo Giatô không những cấm tín hữu chống lại triều đình, mà còn khuyến khích để họ cầu nguyện và góp phần giúp quê hương an ninh thịnh vượng".

Các ngài đã phân biệt được đâu là ranh giới của lãnh vực này. Thánh binh sĩ Trần Văn Trung đã chấp nhận cái chết để nói cho vua quan biết lập trường của người Công Giáo: “Tôi là Kitô hữu, tôi sẵn sàng đi đánh kẻ thù của đất nước, nhưng bỏ đạo thì không bao giờ". Thua keo này họ bày keo khác, sự gán ghép với ý đồ thâm độc cho rằng tổ tiên chúng ta là những người theo đạo Tây, nên đây là tà đạo! Thánh linh mục niên trưởng Vũ Bá Loan đã khẳng khái tuyên bố: "Tôi chẳng theo đạo của nước nào cả, tôi chỉ thờ Chúa Trời Đất, Chúa của muôn dân thôi".

Khi nói về mẫu gương nổi bật nơi các ngài, chúng ta không thể quên được lòng trung thực được thể hiện qua cung cách lựa chọn của các thánh.

Các ngài đã noi gương Đức Giêsu, Thầy Chí Thánh của mình, yêu thương thật lòng không giả dối, ngụy biện... Chính thánh quan Hồ Đình Hy đã nói: "Đừng làm việc thiện cách máy móc qua lần chiếu lệ, mà phải làm với thiện ý". Khi nói về tình yêu thương, sự bao dung, tha thứ, thánh Cai Tả nói: "Mình quên nợ người, Chúa quên tội mình".

Khi được các quan tinh vi gợi ý giả vờ bước qua Thánh Giá để có cớ mà tha cho tội chết. Đây là một cám dỗ khá xảo quyệt và hấp dẫn, có vẻ được lợi cả hai, đời này và đời sau. Nhưng cha ông chúng ta đã không bị vướng vào cạm bẫy này, nên khi bị dụ dỗ và khuyên dụ nhắm mắt bước qua Thánh Giá, thày giảng Nguyễn Cần nói: "Thưa quan, mắt thì nhắm được, chứ lòng và trí khôn không thể nhắm được, nên tôi chẳng làm".

Nói chung, gương mẫu của các thánh tử đạo Việt Nam là rất nhiều, tuy nhiên, hôm nay, chúng ta chỉ đưa ra hai đặc tính nơi các ngài là:

- Không chấp nhận sự vu khống cho rằng người Công Giáo là người phản quốc, chống lại dân tộc. Cần phân biệt được đâu là người yêu nước thực sự, đâu là kẻ giả hình...

- Không chấp nhận sống hai mặt, hai lòng, giả dối để được lợi cho phần xác mà mất linh hồn.

Thiết nghĩ, hai đặc tính trên chính là sức hút và khơi nguồn cảm hứng cho mỗi chúng ta nên thánh trong thời đại hôm nay.

2. Tử đạo trong thế kỷ 21

Ngày nay, cảnh tượng kinh hoàng như thời các thánh tử đạo của chúng ta phải chịu như máu đổ, đầu rơi; đòn roi tra tấn; hay nhục hình ghê rợn..., không còn diễn ra trên diện rộng nữa, có chăng chỉ là những nơi xa xôi hẻo lánh, hay những người nắm chính quyền thiếu hiểu biết, ấu trĩ, bảo thủ hoặc ngu dốt, nên mới gây ra những hậu quả đáng tiếc, tạo nên sự mâu thuẫn giữa luật và người thi hành luật! Hay khi thi hành đã hành pháp sai mục đích chủ trương chính sách của dân tộc, hoặc đôi khi biết sai nhưng vẫn cứ nhắm mắt thi hành chỉ vì muốn trục lợi cá nhân... dung dưỡng cái bụng của mình mà làm cho cái đầu bị ngắn trí và trái tim bị teo lại nên không còn biết đúng - sai. Những người như vậy, họ thuộc hạng người bị mù lương tâm!

Còn trên bình diện thế giới, hình khổ theo kiểu cổ điển mà các chính quyền đưa ra để đàn áp những người Công Giáo cũng không thể diễn ra, bởi vì: hiến pháp của bất cứ quốc gia nào cũng tôn trọng tự do tín ngưỡng và các quyền cơ bản của con người. Có chăng, chỉ có phiến quân nhà nước Hồi Giáo (IS) cực đoan mà thôi!

Vì thế, khi nói đến tử đạo ngày nay, vẫn khái niệm duy nhất là chết vì bảo vệ đức tin. Tuy nhiên, cần mở rộng lối suy nghĩ để hiểu khái niệm này cách rộng rãi hơn, phù hợp với môi trường cũng như thách đố của chúng ta hiện nay.

Người chứng nhân của thời đại hôm nay chính là dám chấp nhận ngược dòng để sống căn tính, cốt lõi của Tin Mừng, đó là: chấp nhận đứng về phía người thấp cổ bé họng, những người không có tiếng nói, những người cô thế, cô thân, bị loại ra bên lề nhằm bênh vực và lên tiếng thay cho họ khi quyền chính đáng của họ bị cướp đoạt. Khi đứng về phía họ như vậy, chúng ta sẵn sàng bảo vệ công lý, chống lại bất công.

Tử đạo ngày nay còn là lựa chọn và khước từ trước những cám dỗ, lôi cuốn, hấp dẫn để trục lợi cá nhân, an thân, ăn trên ngồi trước, ham quyền cố vị..., hay chạy đua những dục vọng, dâm ô, khát vọng bất chính, sống trác táng, phóng đãng... Khi khước từ những thứ đó, chúng ta được mời gọi để sống một cuộc sống công minh chính đại, sống tinh thần phục vụ vô vị lợi theo lời mời gọi của Chúa và Tin Mừng của Ngài.

Trong thời đại này, một hiện tượng cũng khá phổ biến đang lưu hành trong xã hội và nó chi phối sự lựa chọn của rất nhiều người, làm cho chúng ta đáng quan ngại, đó là: sự dửng dưng, vô cảm trước nỗi đói khổ, hoạn nạn của anh chị em. Bên cạnh đó, lập trường sống theo kiểu hạt nhân, đèn ai nấy rạng, nên không cần quan tâm đến nhau cũng là điều đáng để chúng ta suy nghĩ!

Giữa một xã hội như thế, người Kitô hữu được mời gọi sống tinh thần nghèo khó, liên đới, trách nhiệm, loại bỏ những thứ như: hưởng thụ, khoái lạc, quyền lực, vụ lợi hay những thái độ dửng dưng, vô cảm... để chấp nhận nghịch lý của Tin Mừng khi lội ngược dòng với những hấp dẫn bất chính của con người và xã hội thời nay nhằm truyền tải cho xã hội và con người hôm nay một thông điệp rằng:

Đạo Công Giáo là Đạo Yêu Thương. Yêu con người và yêu dân tộc. Sẵn sàng đóng góp và xây dựng tổ quốc này ngày càng tốt đẹp hơn, nhân bản hơn, yêu thương, liên đới, cảm thông với nhau hơn. Tuy nhiên, khi thấy cảnh trái luân thường đạo lý, người nghèo bị áp bức, bóc lột... sự thật bị bóp méo... thì chúng ta không thể an thân, bình chân như vại. Ngược lại, bằng khả năng, cách thế của mình, chúng ta phải lên tiếng trong sự ôn hòa, yêu thương và trách nhiệm, để làm cho cuộc sống này tràn đầy tình thương và nhân ái hơn.

Khi sống chứng nhân như thế, hẳn chúng ta đã làm cho khái niệm tử đạo ngày nay được phong phú hơn, rộng rãi hơn và thiết thực hơn. Tuy nhiên, đây cũng là một thách đố mang tính trường kỳ nói lên tính tử đạo liên lỷ ngang qua những lựa chọn mà chúng ta phải đối diện hằng ngày.

Lạy Chúa, chúng con tạ ơn Chúa đã ban cho Giáo Hội Việt Nam các thánh Tử đạo là mẫu gương cho chúng con noi theo. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu mà ban cho chúng con ơn trung thành, can đảm để sống chứng nhân cho Chúa trong thời đại hôm nay. Amen. mục lục

CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM 2020

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Khởi đi từ Chúa nhật ngày 19/6/1988, ngày thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nâng 117 vị chân phước tử đạo Việt Nam lên hàng hiển thánh. Giáo Hội đã chọn ngày 24/11 để cả hoàn vũ cùng mừng kính các ngài.

Hàng năm cứ đến ngày này là người công giáo Việt Nam trong nước cũng như hải ngoại ở khắp Năm Châu đều hướng về các thánh với sự hãnh diện, tự hào và dâng trào lòng tri ân cảm tạ, quyết tâm sống Đạo. Đúng như lời giảng của thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II tại quảng trường thánh Phêrô, ngày 19/6/1988 như sau: “Tôi biết rằng anh em đang ôm nặng ước nguyện tôn vinh các vị Tử Đạo đồng hương, nhưng trong thâm tâm còn tự cảm thấy nhu cầu đứng chung quanh các thánh, để xe kết tình huynh đệ kết nghĩa mến thương hiện đang phập phồng trong đáy lòng vì nghĩ đến giang sơn gấm vóc ở xa. Hướng về quê hương này các con hoài cảm, luyến ái, nhớ nhung, là vì giữa thời gian phiêu bạt các con cố tìm ra một giây phút cảm thông với nhau và cùng chung sống niềm hy vọng”.

Làm sao kể lại cho hết? Tất cả là 117 vị Tử Đạo hiển thánh và 1 vị Á thánh, trong đó 8 vị Giám Mục, 50 Linh Mục, 59 Giáo dân, trong số đó một phụ nữ là Thánh Anê Lê Thị Thành mẹ của sáu người con.

Đọc lại lịch sử Giáo Hội Việt Nam, khởi đi từ những bước chân thừa sai của các nhà truyền giáo. Sách Khâm Định Việt Sử ghi lại sự đặt chân của giáo sĩ  Inikhu vào năm 1533 trên đất Việt, làng Ninh Cường và Trà Lũ. Tiếp theo là Gaspar da Cruz, Alexandre de Rhodes, Pedro Marques v.v. với dòng thời gian, hạt giống Tin Mừng được gieo vào lòng đất Việt đã âm thầm mọc lên và sinh hoa kết trái. Năm 1659, Tòa Thánh đã thiết lập hai Địa phận Tông Tòa Đàng Trong và Đàng Ngoài. Rồi đến năm 1960, Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII đã thiết lập hàng Giáo phẩm Việt Nam, nay tròn 60 năm.

Ba trăm năm loan báo Tin Mừng, một trang sử truyền giáo hào hùng, nhưng cũng đầy đau thương và đẫm nước mắt. Từng ngàn giáo dân tử đạo, từng trăm số người đã chết lưu lạc trên núi, trong rừng sâu nước độc! Tuy nhiên, một trang sử mới đã mở ra nhờ sự hy sinh tuyệt vời của các thừa sai, cũng như hàng hàng lớp lớp người tử vì Đạo đã nằm xuống với muôn cực hình cay đắng, khốn khổ. Dòng máu của các ngài đã đổ ra, tuôn trào, tưới gội Hội Thánh Việt Nam, từ các tỉnh phía Bắc đến tận miền sáu tỉnh phía Nam, từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX làm cho Hội Thánh lớn lên và phát triển, không ngừng sinh hoa kết quả tươi tốt, đúng như lời Tertullien đã viết:  “Máu tử  đạo là hạt giống trổ sinh người tín hữu”.

Đúng, máu các thánh Tử đạo đã đổ chan hòa mặt đất. Những dòng máu thuộc đủ thành phần xã hội: từ người làm nông đến chài lưới, từ thương lái đến lương y; từ học sinh đến thầy đồ; từ lý trưởng, cai tổng, binh lính đến quan văn, quan võ; từ giáo dân, ông trùm, ông quản đến chủng sinh, linh mục, giám mục; từ người ngoại quốc đến người bản địa… Tất cả đều mang trong mình một niềm tin son sắt, một tình yêu nồng cháy, một tinh thần can đảm quật cường, sẵn sàng chịu muôn ngàn thử thách vì danh thánh Chúa Kitô. Dù ngục tù, gươm đao, dù bị róc xương xẻ thịt, các ngài vẫn một lòng trung thành với Đạo Chúa. Dù bị tra tấn, hành hình man rợ, các ngài vẫn một lòng yêu mến Chúa. Các ngài đã yêu đến cùng, yêu đến thí mạng, sẵn sàng tha thứ cho những kẻ đã bách hại mình.

Hôm nay đây, chúng ta hướng tâm hồn lên một cách đặc biệt để mừng kính các ngài, trong hân hoan và hãnh diện. Chúng ta tôn vinh, tri ân các ngài và cùng nhau hô vang: Vạn vạn tuế Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, vạn vạn tuế Các Thánh Tử Đạo anh hùng.

Lời Chúa trích sách Khôn Ngoan: “Linh hồn những người công chính ở trong tay Thiên Chúa và đau khổ sự chết không làm gì được các ngài” (Kn 3,1). Quả quyết như trên có vẻ là không chính xác với thực tế lịch sử: thực ra đau khổ đã va chạm thân xác các ngài đến ghê sợ như: tùng xẻo, lăng trì, chặt đầu. Tuy nhiên, tác giả Kinh Thánh tiếp tục quảng diễn tư tưởng: “Đối với mắt người không hiểu biết, thì hình như các ngài đã chết và việc các ngài từ biệt chúng ta, là như đi vào cõi tiêu diệt. Nhưng thực ra các ngài sống trong bình an. Và trước mặt người đời, dầu các ngài có chịu khổ  hình, lòng cậy trông của các nài cũng không chết” (Kn 3,2–4).

Đúng là: “Ai khôn mới biết hiến mình cho chân lý, để chiếm hữu phần gia nghiệp muôn đời" (Thánh Phêrô Truật); "Thân xác tôi ở trong tay quan… nhưng linh hồn tôi là của Chúa, không có gì khiến tôi hy sinh nó được” (Thánh Phaolô Tịnh).

Các ngài là chứng nhân cho Chúa Kitô đã toàn thắng sự chết. Thay vì hình khổ ngắn ngủi, các ngài được nhiều ơn vĩ đại, “vì Thiên Chúa đã luyện lọc các ngài và thấy các ngài xứng đáng, Chúa đã thử thách các ngài như thử vàng trên lửa và đã chấp nhận các ngài như của lễ toàn thiêu” (Kn 3,5-6). Trong Chúa Kitô các ngài được Thiên Chúa cứu rỗi.

Chúng ta, dòng giống các vị tử Đạo. Hôm nay, hãy nghe hết lời sách Khôn Ngoan: “Trong ngày phán xét, người công chính sẽ chói sáng và chiếu tỏ ra như ánh lửa chiếu qua bụi lau” (Kn 3,7). Những tia sáng, những ánh đèn phản chiếu nguồn quang minh rữc rỡ. Và đây là câu sau cùng trong sách Khôn Ngoan: “Các ngài sẽ xét sử các dân tộc, sẽ thống trị các quốc gia, và Thiên Chúa sẽ ngự trị trong các ngài đến muôn đời” (Kn 3,17).

Lạy các Thánh Tử Đạo Việt Nam, xin giúp chúng con trung thành với Đức tin đã lãnh nhận, yêu mến Chúa, và Giáo hội bằng tinh thần cộng tác, hiệp thông và đồng trách nhiệm trong sứ mạng loan báo Tin Mừng trên quê hương đất nước chúng con. Amen. mục lục

LỜI DA VÀNG

Là người dân tộc Việt Nam

Tất nhiên máu đỏ, da vàng bẩm sinh

Ba trăm năm sống điêu linh

Chịu bao bách hại, nhục hình kèm theo

Nhưng luôn kiên vững tin yêu

Tôn thờ một Chúa, không dao động lòng

Đức tin chứng tỏ anh hùng

Tử vì đạo, quyết tâm không chịu hèn

Rạch ròi lời Chúa đã truyền

Sống công chính, chịu nhận phần thiệt thua

Chịu vu khống thứ xấu xa

Nhưng phần thưởng lớn đón chờ tín nhân [1]

Vì yêu, nát thịt xương tan

Voi giày, ngựa xéo, chịu oan tiếng đời

Lăng trì, xử giảo, vẫn vui

Tẫn hình, bào cách, vẫn cười bình an [2]

Một lòng yêu Chúa chân tâm

Quyết không giả bộ, bước chân không chùn

Đứng im chứ chẳng bước lên

Dẫu cây Thánh Giá là phần gỗ thô

Nhưng là biểu tượng Giê-su

Tín nhân không chút nghi ngờ chi đâu

Da vàng là một loại màu

Nhưng dòng máu Việt đỏ au Tin Mừng

Hàng trăm ngàn những Anh Hùng

Xả thân vì Chúa khắp vùng Việt Nam

Đầu này bị chém rụng liền

Đầu kia lại tiếp ngước lên hào hùng

Lung linh ánh sáng Tin Mừng

Khắp ba miền Bắc, Nam, Trung rạng ngời

Tạ ơn Thiên Chúa cao vời

Đức tin trao tặng giống nòi Việt Nam

Cầu xin chư vị tiền nhân

Đỡ nâng hậu duệ trọn niềm tin yêu. mục lục

Trầm Thiên Thu

Kinh nguyện 

CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM 

Đội ơn Thiên Chúa muôn trùng

Ban cho các Đấng Anh Hùng Việt Nam

Một lòng chối bỏ trân cam

Mặc ai dụ dỗ chẳng ham phúc trần.

Máu đào dâng hiến trọn thân

Quyết tâm theo Chúa- chứng nhân Nước Trời

Ngày nay cho đến muôn đời

Thanh nhàn vĩnh phúc, gương soi chiên đoàn.

Chúng con còn ở trần gian

Nguyện xin các Thánh thông ban hộ phù

Ơn thiêng: sức mạnh, thân tu

Nếu không tử đạo, cần cù siêng năng.

Vượt qua tục luỵ, lưới giăng

Noi gương các Thánh, Chúa hằng xót thương 

Chờ ngày Chúa gọi lên đường

Về cùng các Thánh đồng hương Nước Trời. Amen. mục lục

(Thế Kiên Dominic) 

CHÚA NHẬT XXXIII A THƯỜNG NIÊN

Cn 31: 10-13, 16-18,20,26,28-31; 1Tx 5:1-6; Mt 25:14-30

TA NGỠ MẤT, MÀ CHƯA ĐÀNH ĐÁNH MẤT

“Ta ngỡ mất, mà chưa đành đánh mất,

bởi mùi hương ngự trị, cánh hoa tàn.”

(dẫn từ thơ VươngNgọc Long)

Lm. Kevin O’Shea, DCCT – Mai Tá lược dịch 

Mất tình/mất tiền, nào mấy sợ. Bởi, tình/tiền xưa nay còn đó vẫn rất hiền. Cái dễ mất nhất, là niềm tin Chúa gửi nơi lòng dạ con người từ xưa đến nay. Lòng dạ ấy nay đà thấy ở trình thuật, ngày Chúa nhật.

Trình thuật Chúa nhật về niềm tin để luột mất, là ý tứ và ý từ được thánh Mat -thêu đề cập đến qua dụ ngôn kể lại hôm nay. Dụ ngôn, nay kể về “yến bạc” giao cho các người đầy tớ để sinh lời. Dụ ngôn, nay mang nặng tình tiết nối tiếp truyện kể đọc tuần trước, cũng đề cập việc sử dụng và đầu tư của cải vào mọi chuyện.

Thời xưa,“yến bạc” là đơn vị đo lường trọng lượng. Đó, là đồng cân nặng nhất trong hệ thống cần lường. Yến bạc, được dùng để cân đo vàng/bạc, kim loại, và đồ đồng. Mãi về sau, con người mới dùng nó làm đơn vị tiền tệ. Với người Do thái, một yến bạc tương đương với 3,000 shekels, tương tự định mức cân lượng mà người thường mang vác được. Lịch sử sau thời của Chúa và vào thời thánh Mát-thêu, thì một yến bạc tương đương với 6000 quan tiền người La Mã. 6,000 quan tiền, tương đương với lợi tức mà công nhân bình thường ở huyện có khả năng kiếm được trong vòng 15 đến 20 năm. Đó, cũng là lối nói thông thường về “một tấn tiền quan” người La Mã.

Người chủ được nói đến ở dụ ngôn, là người bận rộn, phải đi xa một thời gian không biết trước được hạn định. Ông trao cho 3 người tớ của ông 3 lượng tiền khác nhau. Một người, những 5 yến bạc. Kẻ kia chỉ hai yến. Còn người chót, chỉ mỗi yến một. Tất cả đều tuỳ khả năng của mỗi người. Nhưng, ông lại không cho họ biết phải làm gì với số bạc ấy. Ông coi mọi người như kẻ chín chắn. Chững chạc. Ông rất tôn trọng tự do và sức sáng tạo, của mỗi người. Và, ông cũng chẳng hề nghĩ là ông đã trao phần ít ỏi cho người đầy tớ thứ nhì và thứ ba. Bởi, mỗi yến bạc khi ấy nặng cả tấn tiền.

Về cốt truyện thì ai cũng đều đã tỏ. Hai người tớ đầu, đều biết mình phải làm gì với số lượng yến bào do chủ ủy thác. Tức, sử dụng nó một cách mẫn cán. Hiệu quả. Cả hai người này đều làm lợi cho chủ nhiều điều thấy rất rõ. Trong khi đó, người đầy tớ cuối lại không hành xử hệt như thế. Y đào đất chôn tiền quan xuống đó, tưởng rằng làm thế tức tạo sự an toàn, đúng đắn như bỏ vào két sắt/quỹ tiết kiệm, mà chẳng biết đầu tư cũng chẳng sinh lời sinh lãi.

Đó là biện pháp an toàn tối thiểu mà người tệ bạc nhất cũng nghĩ ra. Tức, không sinh lợi nhưng cũng chẳng làm hại, chẳng thua lỗ điều gì. Tức, không tạo tăng trưởng, nhưng cũng chẳng làm ai thiệt thòi hoặc mất mát. Y ta đem về cho chủ đúng số lượng buổi ban đầu do chủ giao, chẳng dùng vào việc chi hết. Cất như thế, có bỏ công tìm kỹ cũng chẳng thấy được dấu tay, hoặc vết tích. Thật ra, y ta chẳng làm điều gì sai trái cả. Vì có làm gì đâu mà có sai sót.

Dụ ngôn cũng cho thấy: hai người đầy tớ đầu được chủ tặng thưởng rất hậu hỹ. Lại được chủ gọi đích danh “tôi tớ lương hảo và trung trực”. Tức, nhận nhiều trách nhiệm sẽ gặt hái được nhiều niềm vui. Trong khi đó, người tớ chót bị chủ cho là thành phần “bất hảo, lười biếng”, đáng chê trách. Nói đúng ra, phải gọi anh ta là kẻ vô tích sự, chẳng làm được gì nên chuyện. Một thứ “ăn hại đái nát”, chẳng giống ai. Tức, những loại người ăn không ngồi rỗi, rất đáng buồn. Thế nên, họ mới bịlên án, dù chẳng lỡ lầm. Hoặc, sai trái.

Có lẽ khi viết lên dụ ngôn này, thánh sử Matthêu đã mang trong đầu ý tưởng về hai nhóm người Do thái khá quan trọng, vào thời ấy, nếu đem so với nhóm thứ ba. Hai nhóm đầu, là những người đại diện cho cộng đoàn Qumran. Nhóm thứ ba tượng trưng cho đám Biệt Phái, rất Pharisêu.

Qumran là nơi ta tìm ra Cảo Bản Biển Chết. Ở nơi đó, thấy có cộng đoàn sống chia cách/tách rời xã hội mình đang sống. Tách và rời, khỏi đền Giêrusalem để rồi đi vào chốn sa mạc lặng lẽ, trong hang động. Hang động họ sống, quanh Qumran, bị người La Mã phá huỷ vào thời chinh chiến suốt từ năm 68 đến 70 sau Công nguyên. Nên, cũng chẳng tồn tại khi thánh Matthêu viết lên Tin Mừng của thánh nhân vào niên biểu thứ 85. Và, thánh nhân cũng thừa biết là nhóm người này từng chôn giấu yến bạc đạo đức ở đâu đó, trong hầm tối của chính mình.

Pharisêu là nhóm người có mặt nhiều hồi thánh Mátthêu còn sống. Họ là những đối tác chuyên kình chống lại thánh nhân. Vào dạo trước, Đức Giêsu cũng có cảm tình với những người này. Và ngược lại, họ cũng biết điều với Ngài trong nhiều chuyện. Nhưng 40, 50 năm về sau, thế giới của họ đã biến đổi một cách khác hẳn. Sau ngày đền thờ Giêrusalem bị phá huỷ, đám Pharisêu lại trổi lên thành nhóm lãnh đạo dân Do Thái quyết tập hợp lại với cuộc sống ở ngoài đời. Trước thời thánh Matthêu sống, đám Pharisêu đã củng cố chỗ đứng của họ và phô trương cho mọi người thấy cung cách chỉ biết sống theo luật và luật. Và, cũng từ đó, họ tìm cách rút khỏi tầm ảnh hưởng của người La Mã để còn áp đặt mọi chuyện lên dân con của chính mình. Nói theo ngôn từ đạo đức, thì thời đó, đám Pharisêu là nhóm hướng dẫn việc đạo hạnh quyết đưa mọi người rời thế giới thực tại thời bấy giờ. Họ chính là những người cột chặt tinh thần câu nệ lề luật sau hàng rào bảo vệ của Torah.

Thánh Mátthêu chẳng ưa gì nhóm người này. Thánh nhân chỉ muốn sống theo tinh thần của Đức Giêsu chủ trương bằng vào tương quan cởi mở, gọn gàng và nhẹ nhàng hơn. Thánh nhân chủ trương tinh thần biết sử dụng các “nén bạc” do Đức Giêsu và Thần Khí Ngài tặng ban. “Nén bạc” nói ở dụ ngôn hôm nay, không chỉ mang nghĩa kim tiền/của cải thôi; nhưng, còn biểu trưng quà tặng về năng khiếu như khi ta đề cập đến kỹ năng âm nhạc, ngôn ngữ, toán học hoặc những thứ khác.

Thông điệp thánh Mátthêu gửi mọi người bằng dụ ngôn hôm nay, luôn mang tính giản đơn. Thẳng thắn. Trực tiếp. Ý thánh sử muốn nói, là: ân huệ Chúa ban cho mọi người vẫn thừa thãi, tràn đầy, không cạn tiệt. Nếu ta lại đem chôn ân huệ Ngài ban xuống đất, khác nào người đầy tớ vô tích sự, kể ở trên.

Truyện dụ ngôn hôm nay còn làm người đọc liên tưởng đến chuyện “Trân Châu Cảng”. Ở cảng này, tầu thuyền neo đậu đâu nào có nghĩa mình sẽ an toàn thoải mái mãi suốt đời? Chỉ hiện diện sống ở đó thôi, đâu có nghĩa mình sẽ được an toàn cả phần linh thánh lẫn mặt đời.

Tình tự chuyên lo sống an toàn, được ghi rõ ở nhiều thông điệp được Đức đương kim Giáo Hoàng Bênêđíchtô XVI tỏ cho giới trẻ biết trên báo đài lẫn Đại Hội Giới Trẻ ở Cologne, Sydney lẫn Madrid. Đức Giáo Hoàng đề cập đến Đạo Chúa như tình yêu cao cả, và mặc khải quý hiếm. Đối với ngài, làm tín hữu Đức Kitô là nhận lãnh ân huệ cao cả và quý hiếm Chúa vẫn ban. Ân huệ Ngài ban cho mọi người, sẽ là đôi cánh tiên để ta bay cao vút, lên cõi tiên. Ân huệ Chúa ban, còn là sứ mạng gửi đến mọi tín hữu. Sứ mạng ấy, là dự án để ta thực hiện vào mai ngày. Là, đem chân, thiện, mỹ vào cuộc sống rất thực để rồi ta tập trung đời mình vào những gì quan yếu, thiết thực thôi.

Đức Giáo hoàng từng bảo: giả như Hội thánh mình biết sống thực như thế, ắt hẳn cuộc sống của mình sẽ mãi mãi trẻ trung, suốt mọi thời. Có sống như thế, thánh hội của Chúa sẽ không bao giờ trở nên chai lì, cằn cỗi. Bởi, Hội thánh là hội của các thánh biết kết hiệp với Chúa, tức cội nguồn tuổi trẻ, rất sống động.

Nay, điều cần là mỗi người và mọi người nên để cho qua đi tâm tư mỏi mệt và tâm tình nhiều huỷ hoại. Để rồi, sẽ hướng nhìn về phía về nơi có sự cao cả đích thực là di sản của Đạo Chúa. Đó, còn là “nén bạc” mà Chủ Tể vũ trụ đã trao cho mỗi một người, trong cuộc đời. Đó, là sứ mệnh khiến ta chọn lựa. Chấp nhận. Sứ mệnh, là: sử dụng nén bạc Ngài trao hầu xây dựng tương lai mai ngày cho thế giới mình chung sống. Thế nên, hãy dấn bước thâm trầm mà tiến tới. Tiến về phía trước mặt, dù đời người muôn mặt, để còn sinh lợi “nén bạc’ hiếm quý Chúa trao ban, cho ta. Cho mỗi người.

Trong tâm tình cảm kích chấp nhận nén bạc Ngài ban, ta lại sẽ ngâm nga lời ca, còn đậm nét:

“Xa tít tắp từ rừng xưa cổ tích,

Cỏ xanh mềm ảo hoá giấc phù vân.

Mùa thu ấy đôi mắt buồn man mác

Ngong ngóng chờ hoài niệm hoá rêu xanh.”

(Vương Ngọc Long – Đêm Nguyệt Quỳnh)

Nguyệt Quỳnh đây, có thể không là “nén bạc” quý hiếm Chúa gửi gắm. Nhưng, vẫn là huệ ân/ân huệ mọi người trông ngóng biến thành những gì có lợi cho mình. Cho mọi người. Ở đời. mục lục

KHO TÀNG PHẢI ĐEM RA DÙNG, PHÁT TRIỂN VÀ CHIA SẺ 

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

Bài Phúc Âm hôm nay là dụ ngôn cuối cùng trong ba dụ ngôn mà Chúa Giêsu kể đã được Máthêu thuật lại. Mỗi dụ ngôn có một ý nghĩa đặc biệt đòi hỏi mọi Kitô hữu phải chuẩn bị cho ngày vinh quang cùng Chúa Kitô trên Nước Trời. Bài Tin Mừng nói về ông chủ và những gia nhân có những tài năng khác nhau (Mt 25:14-30) cho thấy việc chúng ta làm hàng ngày phải theo thiện chí và khả năng mà Chúa ban cho chúng ta, không kể những việc thiết thân nhất mà chúng ta không thể bỏ qua được. Sứ điệp Chúa muốn gửi là -để đạt vương quốc Nước Trời- chúng ta phải có tinh thần trách nhiệm đối với Thiên Chúa và loài người chúng ta đối với nhau.

Ý NGHĨA CỦA DỤ NGÔN

Dụ ngôn Chúa kể dựa theo cách sinh hoạt cuộc sống thường ngày của mỗi chúng ta, qua đó Chúa muốn dạy chúng ta phải sống sao cho hợp với đường hướng và mục đích của nước trời. Tuy nhiên dụ ngôn gợi cho ta một vài thắc mắc. Chuyện đượm màu tư bản chủ nghĩa, chỉ mong có được giàu sang; đã giầu rồi lại muốn giầu hơn. Thứ đến là cách tính toán sổ sách khi ông chủ trở về cho thấy thái độ của ông chủ đối với gia nhân rõ ràng là có khen thưởng và luận phạt.

Thực ra chúng ta nên hiểu câu chuyện theo nghĩa tổng quan. Chúa muốn làm nổi bật khả năng khác nhau của mỗi người, tức tặng phẩm Chúa ban để đạt nước Trời. Hai người đầu tiên, vì hiểu rằng họ có tặng phẩm là do lòng quảng đại của Chúa nên đã cố gắng làm theo ý Chúa đúng theo cách sống hằng ngày của họ. Còn tên thứ ba đã bị Thiên Chúa hành sử đúng như hắn nghĩ: “Thưa ngài, tôi biết ngài hà khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi….” (Mt 25:24). Hắn đã bị Chúa lấy mất cả vốn còn bị trừng phạt.

CHÚA CÓ QUÁ NGẶT NGHÈO VỚI TÊN THỨ BA KHÔNG?

Người thứ ba này đúng là quá “cẩn thận” và “chắc ăn”. Hắn có vẻ thành thật và lương thiện. Ông chủ hẳn cũng biết vậy, biết hắn đứng đắn nhưng không thông minh như hai tên kia nên cũng cho vốn nhưng ít thôi.. Hai tên đầy tớ thứ nhất và thứ hai là những tên thông minh, tinh nhanh, có óc thương mại, biết nhìn thị trường chứng khoán mà đầu tư để sinh lời. Tên thứ ba vì kém thông minh, luôn luôn sống trong sợ hãi vì biết ông chủ có tính tham lam và đòi hỏi, không ưa nhân viên làm liều để thất bại… cho nên để chắc ăn đã đem chôn dấu số tiền ông chủ đưa… Theo truyền thống Do Thái, chôn tiền là phương cách an toàn nhất để khỏi bị ăn cắp hay thất lạc. Ở Việt Nam, rất nhiều người cũng hành động giống như vậy, họ không dám mạo hiểm, liều đi vào nơi mà họ không biết hậu quả sẽ thế nào. Vì quá lo lắng và sợ hải, tên này đã trở thành kẻ tội phạm đối với ông chủ. Cuối cùng hắn đã mất tất cả. Hắn đã hành động phần nào vì lòng ngay, vì quá cẩn thận, không một ác ý nào cả. Có lẽ ông chủ nên thông cảm với hắn một chút thì hay hơn! Cho hắn cơ hội để sửa đổi.

TÍNH LUÂN LÝ CỦA CÂU CHUYỆN

Những ai coi cách đối sử của Thiên Chúa với loài người một cách tiêu cực, nghèo nàn hay bủn xỉn thì cũng sẽ đối sử với đồng loại của mình như vậy. Những người như thế sẽ vô phương được nhìn thấy vương quốc Thiên Chúa. Đây chính là sự nghèo nàn và mù lòa của tên đầy tớ thứ ba! Hắn đã chẳng dám làm gì cả chỉ vì sợ hãi. Tính tình này đã làm hắn bị tê liệt không thể tiếp cận được với những người cần phải giúp đỡ đang ở chung quanh hắn. Trọng điểm của Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô là phải vượt qua mọi sợ hãi để trở thành cần mẫn, đáng tin cậy và sáng tạo để thực hiện ước muốn của Thiên Chúa, không như tên đầy tớ thứ ba “vô tích sự và vụng về lại lười biếng”!

Để là môn đệ Chúa Kitô, chúng ta phải dám hy sinh mạng sống mình để được “sống”. Nếu chúng ta liều mạng vì một Chúa Kitô toàn vẹn thì chúng ta không thể nhìn thấy kết quả; có lẽ chúng ta phải liều hơn nữa để cam kết với một Giáo Hội bất toàn thì chúng ta có thể nhìn thấy. Nếu chúng ta coi niềm tin của chúng ta là cần phải được bảo vệ thì có lẽ nó không được hoàn hảo, và chắc chắn nó sẽ không phát triển và trưởng thành nếu mục đích chính của nó chỉ là “hành động khi chắc ăn”.

Bài Tin Mừng Chúa Nhật tuần sau là cuộc phán xét sau cùng, sẽ cho chúng ta thấy quang cảnh đối ngược với tên đầy tớ thứ ba. Nó sẽ giúp chúng ta thấy được sự thật sâu thẳm nhất nơi tâm can chúng ta khi chúng ta vượt qua nỗi sợ hãi để cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, tiếp đón kẻ khách lạ, đem áo quần cho kẻ trần truồng, viếng thăm kẻ ốm đau và tù tội.

YẾU TÓ BẤT NGỜ CỦA DỤ NGÔN HÔM NAY

Ngay từ đầu, chúng ta thấy ông chủ đã cho mỗi đầy tớ một số tiền coi như tặng phẩm nhưng không. Ông đã chứng tỏ là một người hoàn toàn quảng đại. Tên đầy tớ thứ ba chẳng hiểu gì về ông chủ, nhất là lòng quảng đại của ông. Hình như hắn chỉ dựa vào hành động của ông về một số công bằng khít khao theo nghĩa đen nên hắn đã hành động bủn xỉn dại dột để rồi cuối cùng đã mất hết tất cả.

Áp dụng quan niệm này vào Thiên Chúa, chúng ta rút ra được một bài học rất hay. Khi chúng ta cố gắng hiểu Thiên Chúa và cám ơn lòng quảng đại của Người vì đã ban cho chúng ta con một người là Đức Giêsu Kitô, chúng ta sẽ cảm nghiệm được sự tự do và lòng tri ân đặc biệt, để chúng ta chấp nhân hy sinh. Để thực hiện ước muốn của Thiên Chúa, chúng ta phải quyết định dám chấp nhận mạo hiểm vì lòng quảng đại bao la, lẽ công bằng, tình thương sót vô bờ bến và sự tin tưởng của Người đối với nhân loại. Dụ ngôn nhấn mạnh đến lòng can đảm dám hành động; nó giúp chúng ta sửa soan đón nhận những tác dộng vĩ đại của lòng thương sót, lẽ công bằng của Thiên Chúa trong giờ phán xét sau cùng!

KHO TÀNG PHẢI ĐƯỢC CHI DÙNG, PHÁT TRIỂN VÀ CHIA SẺ

Để kết luận, xin mượn bài giảng của ĐGH Biển Đức XVI ngày 16/11/2002 tại Thánh đường Angelus để suy niệm.

“Tài năng” giống như đồng bạc cổ La Mã rất có giá trị. Và đặc biệt vì tính phổ thông của câu chuyện, nó đồng nghĩa với quà tặng cá nhân mà Thiên Chúa đã ban cho mỗi người chúng ta. Nó cần phải được được phát triển. Chuyện kể: ông chủ sửa soạn đi xa nhà lâu ngày, đã gọi các người làm lại và trao cho mỗi người một phần tài sản của mình (Mt 25:14).

Ông chủ ở đây là Đức Kitô, người làm là các môn đệ, và tài năng là những tặng phẩm mà Đức Giêsu đặt tin tưởng trao cho họ. Những tặng vật này, ngoài những đặc tính tự nhiên của nó, còn tượng trưng cho sự phong phú mà Chúa Giêsu đã truyền lại cho chúng ta làm di sản, vì vậy chúng ta phải làm sao để nó phát triển và sinh lời: Lời Chúa trong Tin Mừng, nơi Phép Thanh Tẩy đã canh tân chúng ta trong Chúa Thánh Linh. Khi đọc kinh Lạy Cha, chúng ta ca tụng Thiên Chúa, chúng ta là con cái Người, hiệp nhất với con một Thiên Chúa; sự tha thứ mà người đã ban cho tất cả chúng ta; Mình Thánh Chúa đã hy sinh; Máu Chúa đã đổ ra. Gọn một lời, Vương Quốc Thiên Chúa chính là Thiên Chúa, hiện tại và sống động giữa chúng ta hằng ngày!

Đây là một kho tàng mà Chúa Giêsu đã đặt tin tưởng trao cho các bạn của người vào giờ phút cuối cùng của cuộc sống ngắn ngủi nơi dương thế. Bài dụ ngôn hôm nay nhấn mạnh đến tính thiên hướng nội tại cần thiết để chấp nhận và phát triển tặng phẩm này. Sợ hãi là một thái độ sai lầm: tên đầy tớ sợ ông chủ, sợ cả lúc ông trở về, đã chôn đồng tiền xuống đất nên nó chẳng sinh lời gì cả. Điều này xảy ra cho những ai, sau khi chịu phép Thánh Tẩy, Rước Lễ và phép Thêm Sức đã chẳng làm gì cả, lại đem những tặng vật đó dấu dưới gầm giường của thiên kiến, của hình ảnh sai lầm về Thiên Chúa, đã làm tê liệt niềm tin và những hành động thiện của họ. Tuy nhiên, câu chuyện cũng nói lên những hành động sinh hoa trái lớn lao do các môn đệ đã vui mừng khi đón nhận những tặng vật mà không đem chôn vì sợ hãi hay ghen ghét, nhưng làm cho nó sinh lời bằng cách cộng tác và chia sẻ. Đúng vậy, Chúa đã ban cho chúng ta gấp cả ngàn lần như vậy!

Kho tàng này phải được chi dùng, đầu tư và chia sẻ cho tất cả mọi người, như thánh Phaolô Tông đồ, nhà hành chánh vĩ đại của Chúa Giêsu về tài năng đã dạy. Bài Tin Mừng Mátthêu hôm nay cũng cho chúng ta -về phương diện lịch sử và xã hội- một bài học rất giá trị là khuyến khích lòng can đảm và tinh thấn dấn thân của mọi Kitô hữu. mục lục

HÃY LÀM NHỮNG YẾN BẠC SINH LỜI

Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

Bạn có biết tại sao người nhận một yến bạc lại hoàn lại cho ông chủ nguyên vẹn số bạc, không bị sứt mẻ gì không? Là bởi vì anh ta sợ: "Thưa ông chủ, tôi biết ông là người hà khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi. Vì thế, tôi đâm sợ, mới đem chôn giấu yến bạc của ông dưới đất” (Mt 25:24-25). Anh ta sợ lỡ đem số bạc ấy đi làm ăn, đầu tư, chơi stock, lỡ bị thua lỗ thì lấy gì mà hoàn trả lại cho chủ! Vì thế cho nên đem số bạc ấy đi chôn xuống đất là an toàn nhất. Thế nhưng anh ta đã lầm! Sự sợ hãi đã đẩy anh ta vào một hoàn cảnh đau khổ và khốn cùng, anh ta đã bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài: ở đó, [anh ta] phải khóc lóc nghiến răng (Mt 25:30).

Bạn thân mến, cũng như anh đầy tớ vô dụng, lười biếng và tồi tệ trong dụ ngôn Những Nén Bạc, có không ít lần, vì sợ cho nên tôi đã đem chôn dấu những yến bạc của Thiên Chúa trao cho tôi quản lý, tôi đã không làm cho nó sinh lợi bởi vì:
• Tôi sợ bị người ta đóng đinh, sợ bị người ta chỉ trích, sợ bị người ta tẩy chay…cho nên khi đứng trên bục giảng, tôi đã không dám nói đến những tệ nạn xã hội, ví dụ như nạn bạo lực trong gia đình, xì ke ma tuý, say sưa, cờ bạc, gian dối, lừa lọc, làm hôn thú giả, trốn thuế, ngoại tình, xem phim ảnh bậy bạ trên internet, TV…

• Tôi sợ phí thời giờ, sợ họp hành, sợ không có thời giờ đi chơi, sợ người này phê bình, chỉ trích, sợ phiền toái…cho nên tôi không tham gia vào các Hội đoàn, vào những công việc chung của giáo xứ, không dám cống hiến tài nấu ăn, tài cắm hoa, tài đánh đàn, dạy học…cho giáo xứ, cho trường giáo lý việt ngữ...

Bạn thân mến, những lúc chúng mình sợ hãi, khi tôi và bạn tính toán không muốn đem tài năng, khả năng và của cải vật chất, là những yến bạc của Chúa giao phó để phục vụ, để cho đi… là khi ấy bạn và tôi đang chôn vùi đi những yến bạc của Chúa đấy! Hãy đào bới lên ngay đi! Xin hãy mau mau đem ra đầu tư, làm cho nó sinh lợi ra cho Chúa! Xin đừng bao giờ chôn vùi những yến bạc của Thiên Chúa, bởi vì:

• Ông chủ đã ban thưởng cho người nhận năm yến cũng như cho người nhận hai yến y như nhau, không hơn không kém. Cả hai được khen thưởng không phải là vì họ đã làm cho những yến bạc sinh lợi ra nhiều, nhưng là vì họ đã vâng lời, đã chăm chỉ làm việc và đã tỏ lòng trung thành với ông chủ. “Khá lắm! hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành! Được giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy
vào mà hưởng niềm vui của chủ anh!” (Mt 25:23).

• Ông chủ là người rất hào phóng và rộng rãi, ông không lấy lại một xu nào nhưng đã cho các đầy tớ cả vốn lẫn lời “Hãy lấy yến bạc khỏi tay nó mà đưa cho người đã có mười yến… Vì phàm ai đã có, thì được cho thêm và sẽ có dư thừa” (Mt 25:28-29).

Thiên Chúa giao tài sản của Ngài cho tất cả mỗi người trên thế gian này, trong đó có tôi và có cả bạn. Kẻ ít người nhiều, ai ai cũng nhận từ Thiên Chúa những yến bạc. Kẻ nhận được năm yến thì phải lo làm sao cho sinh ra được năm yến khác. Người nhận được hai yến cũng vậy, và kẻ nhận một yến cũng thế, tất cả mọi người chúng ta đều phải có bổn phận và nhất là phải cố gắng làm cho sinh lời chứ đừng chôn dấu! Chôn dấu những yến bạc của Thiên Chúa là thiếu khôn ngoan, nếu không muốn nói là vô cùng dại dột!

Để cho công việc đầu tư, làm ăn, làm cho những yến bạc sinh lời, tôi xin mạn phép gửi đến bạn một vài lời đề nghị:

• Thứ nhất, bạn hãy ngồi xuống và liệt kê ra tất cả những yến bạc tức là những khả năng, những năng khiếu, những gì mà Chúa ban cho bạn, ví
dụ như tài năng về âm nhạc, về hội họa, về máy vi tính, về nghệ thuật trang trí, về cắm hoa, nấu ăn, may vá, làm bánh, cắt cỏ, làm vệ sinh, sửa chữa ống nước, sửa điện… Bạn có bao nhiêu tài năng thì đó chính là bấy nhiêu yến bạc của Chúa trao cho bạn quản lý đấy!

• Thứ hai, bạn hãy đem những yến bạc của Chúa giao phó để kinh doanh ngay ngày hôm nay bằng cách tham gia ca đoàn, trường giáo lý & việt ngữ, ban bảo trì…để những nén bạc của bạn được sinh lời ra nhiều hơn!

• Thứ ba, bạn hãy cảm tạ Chúa mỗi ngày vì Ngài đã thương, đã tin tưởng tín nhiệm và giao cho bạn quản lý những tài sản của Ngài. Và xin ghi nhớ, tất cả những gì bạn đang có dù là những tài sản về mặt tri thức hay về mặt vật chất hoặc về mặt tinh thần…tất cả đều thuộc về Chúa và là của Chúa, bạn và tôi chẳng có gì cả, chúng mình chỉ là những tên đầy tớ [vô duyên bất tài và] vô dụng [mà thôi]! (Lc 17:10).

Chúng mình cầu nguyện cho nhau để bạn và tôi luôn luôn chăm chỉ và siêng năng, nỗ lực đem những yến bạc của Chúa trao cho để đi đầu tư, để được sinh sôi nảy nở thật nhiều. Bạn cứ mạnh dạn đem ra đầu tư đi, không lỗ đâu! Nhưng chắc chắn sẽ lời lãi.

Và trong ngày sau hết, Thiên Chúa sẽ mỉm cười và âu yếm nói với chúng mình rằng: “Khá lắm! hỡi [những] đầy tớ tài giỏi và trung thành!…Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ [các ngươi]” (Mt. 25:21). Lúc đó bạn và tôi tha hồ mà nghỉ ngơi dưỡng sức! Đừng bao giờ đem những yến bạc của Thiên Chúa giao cho mà chôn dấu
xuống đất. Không ổn đâu nhé! 
mục lục

PHẦN RIÊNG BIỆT

Trầm Thiên Thu

Thiên Chúa nhân lành, công bằng và không thiên tư. Ngài tạo dựng chúng ta thì Ngài dành phần riêng cho mỗi người, không phải người được nhiều, kẻ được ít, mà Ngài biết rõ ai có thể làm gì thì Ngài ban cho đủ “vốn” để làm, nhưng là để sinh lợi cho người khác chứ không phải bo bo giữ lấy. Đừng ghen ăn tức ở như nhóm Pharisêu, Sađốc, kinh sư, luật sĩ,...

Bất cứ ai cũng được Thiên Chúa cấp vốn, nghĩa là ai cũng có tài này hay tài nọ, không ai hơn hoặc kém, nhưng cần cộng tác và cố gắng hết mình. Albert Einstein phân biệt: “Sự khác biệt giữa kẻ ngu xuẩn và thiên tài là thiên tài biết giới hạn của mình. Kẻ ngu xuẩn nào cũng có thể khiến mọi thứ trở nên to hơn, phức tạp hơn và bạo lực hơn. Cần có thiên tài – và nhiều dũng khí – để biến chuyển ngược lại. Người trí thức giải quyết rắc rối, bậc thiên tài ngăn chặn rắc rối.” Còn Thomas Edison xác định: “Thiên tài là một phần trăm cảm hứng và chín mươi chín phần trăm mồ hôi.”

Tất cả là do ơn Chúa, kể cả thời gian, chúng ta chỉ quản lý – vừa là quyền vừa là trách nhiệm. Kinh Thánh nói: “Bản thân chúng ta, cùng với ngôn từ, với toàn bộ trí tuệ và tài năng, tất cả đều nằm trong tay Thiên Chúa.” (Kn 7:16) Người tài năng thường được tỏa sáng trong im lặng, còn kẻ kém cỏi thường tự lan tỏa bằng âm thanh.

Cuộc sống có những chữ T gây ra nhiều phiền toái – Tình, Tiền, Tội, Tù, vì 4 T đó mà có thể Tử. Phần riêng có tốt và có xấu: “Chúa đổ mưa tai họa xuống đầu ác nhân; lửa đỏ, diêm sinh và gió nóng là phần riêng của chúng trên đời.” (Tv 11:6) Đó là phần riêng cho ác nhân, theo luật công bằng chứ Thiên Chúa chẳng ghét bỏ ai. Ở hiền thì gặp lành, nhưng đôi khi người hiền lành lại hay vướng “cái eo” đau khổ, phần riêng đó chỉ để bụng mà thôi: “Nỗi đắng cay chỉ riêng lòng mình biết, niềm hân hoan đâu chia sẻ được với người ngoài.” (Cn 14:10)

Chúa Giêsu dạy từ bỏ mình, quên mình chứ không quên người khác, hy sinh tư lợi vì lợi ích chung – công ích. Thánh Phaolô cho biết: “Đấng cung cấp hạt giống cho kẻ gieo, và bánh làm của ăn nuôi dưỡng, tất sẽ cung cấp dư dật hạt giống cho anh em gieo, và sẽ làm cho đức công chính của anh em sinh hoa kết quả dồi dào. Anh em sẽ được sung túc mọi bề để làm mọi việc thiện cách rộng rãi. Những việc chúng ta làm sẽ khiến người ta dâng lời cảm tạ Thiên Chúa. Thật thế, việc phục vụ cho công ích này không những đáp ứng nhu cầu của của các người trong dân thánh, mà hơn thế nữa, còn là nguồn phát sinh bao lời cảm tạ dâng lên Thiên Chúa. Việc phục vụ này là một bằng cớ cho họ tôn vinh Thiên Chúa, vì thấy anh em vâng phục và tuyên xưng Tin Mừng của Đức Kitô, và vì thấy anh em có lòng quảng đại, sẵn sàng chia sẻ với họ và với mọi người.” (2 Cr 9:10-13) Thực hiện công ích là thực thi Đức Ái, sống vì người khác là thể hiện lòng thương xót.

Trong Giáo huấn Xã hội Công giáo, công ích là một trong bốn nguyên tắc chính: [1] Nhân phẩm, [2] Công ích, [3] Bổ trợ, [4] Liên đới. Nói về công ích, có thể chúng ta cảm thấy xa lạ, nhưng thật ra rất gần gũi, vì công ích được phát xuất từ gia đình, mà gia đình lại chính là nền tảng của xã hội. Thật vậy, Kinh Thánh nói: “Tìm đâu ra một người vợ đảm đang? Nàng quý giá vượt xa châu ngọc. Chồng nàng hết dạ tin tưởng nàng, chàng sẽ chẳng thiếu chi lợi lộc. Suốt đời, nàng đem lại hạnh phúc chứ không gây tai họa cho chồng. Nàng tìm kiếm len và vải gai, rồi vui vẻ ra tay làm việc.” (Cn 31:10-13) Tiền tuyến luôn cần hậu phương. Người vợ âm thầm làm việc, với đủ thứ việc “không tên,” các việc lặt vặt mà không nhỏ, rất cần thiết để tạo nên Tổ Ấm, duy trì hạnh phúc thực sự trong gia đình.

Phụ nữ được Thiên Chúa ban cho tính cách độc đáo lắm: “Nàng tra tay vào guồng kéo sợi, và cầm chắc suốt chỉ trong tay. Nàng rộng tay giúp người nghèo khổ và đưa tay cứu kẻ khốn cùng.” (Cn 31:19-20) Cái tính nết đã đặc biệt rồi, mà cái tâm cũng khác lạ. Thật tốt lành. Nàng dịu hiền vì nàng là phụ nữ. Quả thật, nét dịu dàng rất cần ở phụ nữ, ca dao đã đặt vấn đề: “Có ai bán cái dịu dàng, tôi mua một gánh tặng nàng làm duyên.” Lời này như nhắc nhở chị em nào chưa dịu dàng đủ mức thì cố gắng thêm.

Phái nào cũng cần nét duyên dáng, đặc biệt rất cần đối với nữ giới, nhưng không nên yểu điệu quá hóa kiểu cách, phản tác dụng, vì Kinh Thánh nói: “Duyên dáng là giả trá, sắc đẹp là phù vân. Người phụ nữ kính sợ Đức Chúa mới đáng cho người đời ca tụng. Hãy để cho nàng hưởng những thành quả tay nàng làm ra. Ước chi nơi cổng thành nàng luôn được tán dương ca tụng do những việc nàng làm.” (Cn 31:30-31) Nét duyên dáng tâm linh mới thực sự cần thiết, nhưng giáo dân hoặc tu sĩ đều có dạng “chảnh” đặc trưng.

Nhân vị, nhân phẩm và nhân quyền là “tam giác sống” ai cũng có. Ngày nay, cả đời và đạo không còn nhìn phụ nữ như thời quân chủ, mà có tầm nhìn sâu rộng hơn về vị trí nhất định của nữ giới. Kinh Thánh nói: “Hạnh phúc thay bạn nào kính sợ Chúa, ăn ở theo đường lối của Người. Công khó tay bạn làm, bạn được an hưởng, bạn quả là lắm phúc nhiều may. Hiền thê bạn trong cửa trong nhà khác nào cây nho đầy hoa trái, và bầy con tựa những cây ô-liu mơn mởn, xúm xít tại bàn ăn.” (Tv 128:1-3) Hình ảnh gia đình hạnh phúc được mô tả rõ nét. Thánh Vịnh này rất quen thuộc vì thường được dùng làm đáp ca trong các lễ cưới, đặc biệt là lễ Thánh Gia – gương mẫu cho các gia đình.

Đó cũng là hình ảnh Giáo Hội luôn đầy tràn hồng ân Thiên Chúa. Thánh Vịnh ca ngợi: “Đó chính là phúc lộc Chúa dành cho kẻ kính sợ Người. Xin Chúa từ Sion xuống cho bạn muôn vàn ơn phúc. Ước chi trong suốt cả cuộc đời bạn được thấy Giêrusalem phồn thịnh, được sống lâu bên đàn con cháu.” (Tv 128:4-6) Đó là hạnh phúc thực sự đáng mơ ước, vì hạnh phúc đó chính là Ơn Thánh do Thiên Chúa trao ban.

Trong cuộc sống đời thường, người ta nhắc nhở: “Đừng ngủ quên trên chiến thắng!” Nhắc nhở mà là cảnh báo, rất cần thiết, bởi vì con người dễ ảo tưởng mà tự mãn. Ma quỷ rất mưu mô xảo quyệt luôn tìm mọi thủ đoạn để giành lấy linh hồn chúng ta, nó gài bẫy chúng ta bằng sự ảo tưởng để tạo thói kiêu ngạo. Được người ta khen khi chúng ta làm được điều gì đó “có vẻ hay” một chút, chúng ta rất dễ “lên mặt,” cứ tưởng mình là “cái rốn” của vũ trụ, cứ tưởng mình có đầy bụng chữ, rồi coi thường người khác. Xã hội Việt Nam ngày nay có nhiều “giáo sư, tiến sĩ” hợm mình kiểu như vậy. Thảo nào cụ thi hào Nguyễn Du đã khuyến cáo: “Có tài mà cậy chi tài, chữ TÀI liền với chữ TAI một vần.” (Truyện Kiều, câu 3247-3248) Và cụ xác định: “Chữ TÂM kia mới bằng ba chữ TÀI.” (Truyện Kiều, câu 3252) Chữ Tài thiếu dấu huyền hóa chữ Tai, nghĩa là có TÀI chưa đủ mức thì hóa TAI. Việt ngữ vô cùng độc đáo!

Chuyện xa lân la chuyện gần, chuyện gần phân vân chuyện xa. Về ngoại hình, đối với cả nữ và nam, khi tự thấy mình có ngoại hình “coi được” một chút là đã “chảnh” lắm rồi, cộng thêm “giỏi” một chút nào đó nữa thì mức độ càng tăng thêm. Thậm chí ngay cả khi làm công việc đạo đức, từ thiện, công ích,… người ta cũng “dám” lấy ngoại hình của mình mà “lấn át” người khác. Chính mình “chảnh” mà lại không nghĩ vậy, quên rằng “sắc đẹp là những cánh hoa hồng sẽ bị thời gian tỉa dần.” Ý tưởng nông cạn như thế thì nguy hiểm vô cùng! Hãy học thuộc lòng câu Kinh Thánh này: “Duyên dáng là giả trá, sắc đẹp là phù vân.” (Cn 31:30) Cố gắng đè bẹp “cái tôi” xuống.

Mọi thứ có liên quan lẫn nhau – từ cái nhỏ tới cái lớn, từ điều đơn giản tới điều phức tạp, từ chỗ xa tới chỗ gần, phong cách tiệm tiến và lung khởi. Thánh Phaolô căn dặn: “Thưa anh em, về ngày giờ và thời kỳ Chúa đến, anh em không cần ai viết cho anh em. Vì chính anh em đã biết rõ: ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm ban đêm. Khi người ta nói: ‘Bình an biết bao, yên ổn biết bao!’ thì lúc ấy tai họa sẽ thình lình ập xuống, tựa cơn đau chuyển bụng đến với người đàn bà có thai, và sẽ chẳng có ai trốn thoát được.” (1 Tx 5:1-3) Ý tưởng tỉnh thức này luôn xuất hiện trong Công giáo, bất kỳ thời điểm nào, đặc biệt là mùa Chay, mùa Vọng, mùa Cầu Hồn và cuối năm.

Cố gắng tỉnh thức là sống khôn ngoan, biết sống khôn ngoan là biết sống trong đức ái – một trong ba nhân đức đối thần quan trọng trong đời sống Kitô hữu. Thánh Phaolô giải thích: “Thưa anh em, anh em không ở trong bóng tối, để ngày ấy như kẻ trộm bắt chợt anh em. Vì tất cả anh em là con cái ánh sáng, con cái của ban ngày. Chúng ta không thuộc về đêm, cũng không thuộc về bóng tối. Vậy chúng ta đừng ngủ mê như những người khác, nhưng hãy tỉnh thức và sống tiết độ.” (1 Tx 5:4-6) Có cái này thì có cái kia, không có cái kia thì chẳng có cái nọ. Tính liên đới lạ lùng lắm.

Chúa Giêsu đã từng so sánh và xác định: “Con cái thế gian khôn ngoan hơn con cái sự sáng.” (Lc 16:8) Cái “khôn ngoan” ở đây không phải là một lời khen, mà là lời cảnh báo và chê trách. Khôn ngoan ở đây là khôn lỏi, khôn ranh, ma mãnh, mưu mô, xảo quyệt,... Ngày nay gọi là “đểu,” không là “đểu giả” mà “đểu thật,” đểu chính hiệu.

Trình thuật Mt 25:14-30 (≈ Lc 19:12-27) đề cập dụ ngôn “những yến bạc.” Khi sắp đi xa, ông chủ gọi đầy tớ đến để giao phó của cải. Người này được ông trao cho năm yến, người kia hai yến, người khác một yến, tùy khả năng riêng mỗi người. Sau đó, người lãnh năm yến đi làm ăn buôn bán, sinh lời được năm yến khác, và người lãnh hai yến sinh lời được hai yến khác, còn người lãnh một yến đi đào lỗ để chôn giấu. Một thời gian sau, ông chủ về tính sổ với các đầy tớ và thanh toán sổ sách với họ.

Mọi người lần lượt tính sổ. Người lãnh năm yến tiến lại và đưa năm yến khác, người lãnh hai yến cũng tiến lại và đưa hai yến khác. Ông chủ khen hai người này: “Khá lắm! hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành! Được giao ít mà anh đã trung thành, tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh!” Hạnh phúc nhãn tiền, sự công bằng chính đáng.

Rồi người lãnh một yến cũng tiến lại và phân bua: “Thưa ông chủ, tôi biết ông là người hà khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi. Vì thế, tôi đâm sợ, mới đem chôn giấu yến bạc của ông dưới đất. Của ông đây, ông cầm lấy!” Ông chủ thẳng thắn và nghiêm nghị nói: “Hỡi đầy tớ tồi tệ và biếng nhác! Anh đã biết tôi gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi, đáng lý anh phải gởi số bạc của tôi vào ngân hàng, để khi tôi đến, tôi thu được cả vốn lẫn lời chứ! Vậy các ngươi hãy lấy yến bạc khỏi tay nó mà đưa cho người đã có mười yến. Vì phàm ai đã có thì được cho thêm và sẽ có dư thừa; còn ai không có thì ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy đi. Còn tên đầy tớ vô dụng kia, hãy quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài: ở đó, sẽ phải khóc lóc nghiến răng.”

Nơi tối tăm đó chẳng phải là nơi hang động âm u hoang vắng, thiếu ánh sáng, cũng chẳng phải là chốn Luyện Hình, mà chính là Hỏa Ngục. Đúng là dốt mà chảnh, ngu mà kiêu. Đã kém cỏi mà không dám nhận, còn đổ lỗi cho người khác. Loại người này cũng thấy xuất hiện thường xuyên trong xã hội Việt Nam ngày nay. Theo báo Thanh Niên, mỗi năm Việt Nam mất 2.500 ha rừng, thế nên lũ lụt xảy ra dữ dội hơn, nhưng giới hữu trách lại biện hộ với các lý do rất ngớ ngẩn, thậm chí là ngu xuẩn.

Phàm nhân chúng ta chỉ là thụ tạo, là đầy tớ của Chủ Nhân Thiên Chúa. Mỗi chúng ta đều được Ngài trao cho đồng đều: Nhân vị, nhân phẩm, nhân quyền, và sự tự do. Ngài trao cho mỗi người khác nhau về số nén, loại nén, và kiểu nén. Nhưng vấn đề quan trọng là chúng ta có sinh lời hay không, tức là làm lợi cho chính mình và tha nhân. Nếu chỉ làm lợi cho mình thì là ích kỷ, muốn lên Thiên Đàng một mình cũng là ích kỷ. Chúng ta như bức tượng được nhà điêu khắc tạo ra, không có quyền than phiền bất cứ điều gì đối với nhà điêu khắc.

Chắc chắn không ai là kẻ bất tài hoặc vô dụng, người có tài này, kẻ có tài kia; người giỏi trong lĩnh vực này, kẻ giỏi trong lĩnh vực khác. Có tài để cộng tác với Thiên Chúa chứ không phải là để vinh danh mình. Hơn người khác về lĩnh vực nào đó thì đừng vội ảo tưởng được Thiên Chúa “ưu tiên” hoặc “cưng” hơn. Vĩ nhân Pythagore (570-495 trước công nguyên) nhận định: “Đừng thấy bóng mình to mà tưởng mình vĩ đại.” Ông là một thiên tài vĩ đại (triết gia, nhạc sĩ, chính trị gia, nhà đạo đức học, nhà toán học, nhà siêu hình học,...), nhưng ông rất sợ thói kiêu ngạo. Thế thì chúng ta là gì mà dám vênh váo tự đắc chứ? Vỏ quýt dày thì có móng tay nhọn.

Thật chí lý khi biết nhận diện chính mình và khiêm nhường, vì Chúa Giêsu đã xác định: “Chẳng ai có thể nhận được gì mà không do Trời ban.” (Ga 3:27) Thật vậy, những gì chúng ta lãnh nhận không phải để sở hữu riêng mà phải làm vì lợi ích chung. Chúa Giêsu khuyên: “Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.” (Mt 11:29) Quả thật, bài học khiêm nhường chỉ có thể học được ở Trường Siêu Đẳng của Thầy Giêsu mà thôi.

Lạy Thiên Chúa chí thánh, xin tạ ơn Ngài ban phần riêng cho chúng con, mỗi người mỗi khác, để chúng con cộng tác và bổ túc lẫn nhau. Xin ban ơn khôn ngoan để chúng con sinh lời theo đúng ý Ngài, và xin giúp chúng con nhận biết mình bé nhỏ và kém cỏi, bất túc và bất trác. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

--------------------------

[*] Giáo huấn Xã hội Công giáo cho biết: “Công ích được hiểu như là những điều kiện xã hội cho phép mọi người đạt đến trọn vẹn tiềm năng con người và nhận ra nhân phẩm của mình.” Trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, nguyên tắc công ích cho thấy nhu cầu về các cơ cấu quốc tế để có thể thúc đẩy sự phát triển cá nhân và gia đình vượt ra khỏi ranh giới quốc gia và khu vực. Sự thiếu vắng cảm thức về công ích là dấu chỉ chắc chắn về sự xuống cấp của xã hội. Cảm thức cộng đồng bị xói mòn sẽ dẫn đến các dạng suy thoái về công ích, từ đó có thể dẫn tới các hệ lụy khác gây ảnh hưởng xấu. mục lục

BỔN PHẬN TRONG LÚC ĐỢI CHỜ

Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

Trong dụ ngôn mười trinh nữ mà chúng ta đã nghe vào tuần trước, Thánh Mát-thêu khuyên chúng ta hãy tỉnh thức và sẵn sàng trong khi chờ ngày Chúa đến. Giống như các trinh nữ khôn ngoan, chúng ta phải chuẩn bị cho đèn đức tin của mình luôn được chiếu sáng bằng lượng dầu bác ái mà chúng ta phải có để chia sẻ cho tha nhân. Có nghĩa là chúng ta được mời gọi tỉnh thức trong công việc, chứ không thụ động để đợi chờ mà thôi.

Tiếp tục cùng một chủ đề, trong dụ ngôn các nén bạc, Thánh Mát-thêu muốn nhắn nhủ trong lúc chờ ngày Chúa đến, chúng ta hãy làm việc chăm chỉ để sinh lợi cho Chúa và tha nhân bằng những nén bạc, ám chỉ đến những hồng ân, mà Chúa đã giao.

Câu chuyện nói về việc ủy thác công việc quản lý tài sản của ông chủ cho các gia nhân. Trước khi đi vắng, ông đã trao quyền kinh doanh cho họ. Ông không muốn công việc bị đình trệ và không phát triển trong thời gian ông đi vắng. Tùy theo khả năng của từng người mà ông giao việc. Ông giao cho người thứ nhất năm nén bạc, người kế tiếp chỉ có hai nén, đến người thứ ba còn có một nén. Sự khác biệt này ám chỉ chủ ý của ông chủ mà các gia nhân phải nhận ra, đó là những gì họ có, hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của ông chủ. Ông không bất công, trái lại tùy theo khả năng của họ mà ông chủ đã giao. Không ai được giao các công việc quá sức mình. Như vậy, những gì họ có đều thuộc về chủ. Nói khác đi, không có gì họ có thuộc về họ cả. Bổn phận của họ là làm sinh lợi những nén bạc mà ông chủ đã giao.

Khi trao những nén bạc cho các gia nhân ông chủ đã không ban cho họ một lịnh truyền hay lời chỉ dẫn nào rõ ràng. Điều này có nghĩa là ông tín nhiệm và tôn trọng tự do của họ. Dù được tự do, nhưng người nhận hai nén và năm nén đã không lạm dụng tự do để làm giầu cho bản thân, bởi vì họ biết rằng sẽ có một ngày ông chủ sẽ đến tra vấn về những gì mà họ đã nhận. Họ bắt tay vào việc ngay. Ở đây, chúng ta phải ngầm hiểu là hai người tôi tớ đầu tiên này đã biết ý của ông chủ. Họ không làm theo ý riêng mà tìm kiếm và tuân theo ý định của ông chủ. Muốn được như thế họ cần phải thiết lập mối quan hệ thật tốt với chủ của mình.

Còn về gia nhân thứ ba, cho dù ông chỉ nhận được có một nén, nhưng đó là tất cả những gì ông có thể đảm đương được. Vẫn biết rằng, ngày nay người ta gửi tiền tại các ngân hàng. Ngày xưa cha ông mình có thói quen chôn tiền của hay vàng bạc. Vì thế, việc chôn cất nén bạc mà người đầy tớ thứ ba làm hôm nay có thể hiểu được và đâu có gì là sai trái. Việc làm này của ông có thể nói lên tính thận trọng và muốn bảo quản tài sản của chủ được an toàn. Kinh doanh mà lỗ vốn thì còn thiệt hại hơn là chôn cất của cải. Huề vốn là tốt rồi. Còn về phía ông chủ tuy chẳng có lời mà cũng chẳng lỗ vốn. Đó là ý nghĩ của ông và dường như những gì ông nghĩ, giải pháp ông đưa ra không hợp với ý của chủ.

Anh chị em thân mến,

Qua dụ ngôn các nén bạc, Chúa muốn nhắc chúng ta nhớ rằng: mỗi người sinh ra trong trần gian này đều được Chúa ban cho những ân huệ đặc biệt và khác nhau. Không ai giống ai. Mỗi người là một cá thể thật quan trọng và đều có một chỗ đứng riêng biệt trong trái tim yêu thương và chương trình của Thiên Chúa. Bổn phận của chúng ta là nhận ra vị trí của mình để ý thức hơn trong việc quản lý những gì mà Chúa trao ban cho con người. Trí khôn, khả năng đặc biệt mà chúng ta hay gọi là thiên phú và những gì ta đang có đều là những ân huệ nhưng không của Thiên Chúa ban cho hầu đem lại lợi ích cho nhân loại, chứ không chỉ dành cho riêng mình mà thôi. Do vậy, tất cả mọi người đều được mời gọi làm giàu và sinh lợi cho Chúa những hồng ân mà mình đã nhận.

Người nhận đuợc một nén bạc ít hơn người được năm nén, đó là điều rõ ràng, nhưng đối với Chúa thì một nén bạc là tất cả những gì mà ông ta cần. Điều quan trọng không nằm ở chỗ ông ta nhận nhiều hay nhận ít, nhưng ở chỗ là người đó biết dùng tài năng đó như thế nào. Bổn phận của chúng ta là sinh lợi không cho mình mà là cho chủ. Nhưng, người có một nén đã chọn việc đem chôn giấu đi, rồi sau đó lý luận và đổ thừa cho chủ.

Trong câu chuyện không hề có một chi tiết nào nói ông chủ là người hà khắc; thế mà ông ‘một nén’ này đã không nhận ra sự sai lầm của mình. Ông tuởng là ông đã biết ý của chủ, tình thực ông đã sai, chỉ biết nghĩ đến sự an toàn cho chính bản thân rồi làm theo ý mình; sau đó còn gán cho chủ ý nghĩ sai lầm của ông: “…, tôi biết ông là người hà khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi.” Ý nghĩ về chủ như thế khiến ông sợ hãi. Và trong tâm trạng sợ hãi như thế ông không nhìn ra ý muốn của chủ. Ông chỉ quan tâm đến việc bảo vệ nén bạc hơn là phát huy sáng kiến để thực hiện công việc mà chủ đã giao cho anh làm.

Đây là một trong những sai lầm mà chúng ta thường vấp phải. Thay vì làm giầu có các ân huệ đã đuợc lĩnh nhận, chúng ta lại xử dụng nó để làm giầu cho chính mình, để đầu tư vào ‘cái tôi’ và làm cho nó phình to hơn, phình đến độ chúng ta không còn biết ai làm chủ nữa. Nhận bổng lộc từ Chúa, thế mà mới sinh lợi được một chút mà đã muốn thay quyền Chúa làm chủ đời mình. Phải chăng ‘cái tôi’ và tham vọng đã làm thay đổi vị trí của Chúa trong cuộc sống chúng ta. Thay vì làm vinh danh Chúa được cả sáng thì bằng mọi cách và dưới mọi phuơng tiện, chúng ta làm để mình được tôn vinh. Như vậy, có nghĩa là Chúa đã bị chôn vùi trong chính cái tôi của mình.

Dựa vào kinh nghiệm khi làm việc, chúng ta có thể nhìn thấy một số hiện tuợng không mấy tốt đẹp vẫn thuờng xẩy ra cho một số người; đó là khi đuợc trọng dụng và kính phục thì họ rất hăng say trong các công tác. Việc nào cũng có mặt, công tác nào cũng tham gia. Họ không chỉ cống hiến tài năng và tiền của mà còn khuyến khích và kêu gọi các thành viên trong gia đình cùng tham gia. Nhưng khi gặp chuyện bất bình, bị chạm vào ‘cái tôi’, họ không chấp nhận sự góp ý của người khác, bèn lập bè tạo phái, rồi tìm những sơ hở của người khác và buông ra những lời chỉ trích thật nặng nề và thiếu tình bác ái. Thậm chí, họ còn có ý nghĩ là chỉ mình họ mới có đủ khả năng để hòan tất tốt đẹp những công tác mà hiện nay chính họ không muốn đụng ngón tay vào nữa.

Trên thực tế, đôi khi chúng ta quá bận tâm đến cuộc sống của chính mình như công danh, sự nghiệp đến nỗi không còn thời gian lo hoàn tất công việc mà Thiên Chúa đã yêu cầu chúng ta là xây dựng Nước Chúa trước còn mọi sự khác Chúa sẽ ban cho thêm. Những lời kêu gọi về việc tham gia mở mang Nước Chúa đòi hỏi một đức tin mạnh mẽ, lòng quảng đại và sự hy sinh; nhất là đôi khi, lời kêu gọi của Nước Trời đòi hỏi chúng ta đi ngược lại những gì mà thế gian mang lại.

Thật vậy, đối với những tín hữu, môn đệ của Chúa, chúng ta được mời gọi hành xử tự do với vốn liếng đã được trao ban. Sự tự do này khiến chúng ta liều lĩnh chấp nhận mọi thua thiệt để trung tín với những đòi hỏi triệt để của Tin Mừng. Liều lĩnh trong niềm tin vào Thiên Chúa là một trong những đức tính cần thiết mà chúng ta cần có. Liều lĩnh để làm chứng về tình yêu của Thiên Chúa là một ơn gọi vô cùng cao quí mà Chúa đã mời gọi. Đây còn là một đòi hỏi vô cùng cần thiết cho thế giới bị tục hoá mà chúng ta đang sống hôm nay.

Hành vi của lòng tin được hỗ trợ và đánh giá bởi lòng mến qua các việc bác ái như Thánh Gia-cô-bê khuyên: “Giả như có anh chị em nào không có áo che thân, không có của ăn hằng ngày, mà anh chị em lại nói với họ: “hãy đi bằng an, mặc cho ấm và ăn cho no, nhưng lại không cho họ những thứ họ đang cần, thì nào có ích gì? Cũng vậy, đức tin không có việc làm thì quả là đức tin chết.” (Gia-cô-bê 2: 15-17) Và đức tin mà không dựa trên lòng mến thì nào có ích gì?

Thưa anh chị em,

Hôm nay chúng ta mừng lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam, cha ông chúng mình. Không ai trong chúng ta có thể phủ nhận việc các Ngài đã dùng hết các nén bạc mà Chúa đã ban cho các Ngài. Có vị đã nhận được năm nén, vị khác được hai nén, và đại đa số chỉ có một nén. Tuy nhiên các ngài đã dùng hết, không vì mục đích làm gương sáng cho con cháu mà muốn chứng minh lòng yêu mến của các Ngài dành cho Chúa. Chính nhờ tình yêu mãnh liệt và can trường dành cho Chúa mà các Ngài đã can đảm, chấp nhận mọi khổ hình do các thế lực thù nghịch với đức tin đề ra.

Sử sách đã ghi lại bao nhiêu loại cực hình khác nhau đã đuợc dùng để tra tấn các ngài như: nhẹ thì gông cùm, giam tù, bỏ đói; nặng hơn một chút là cho voi dầy, phơi nắng và ném xuống sông; quyết liệt hơn thì bị chặt đầu, bị thắt cổ hay bị đốt cháy; man rợ và hiểm độc nhất là bị phân thây ra từng mảnh hay là tùng sẻo… Chỉ cần tuởng tượng những cực hình nói trên cũng khiến cho con người ngày nay run sợ hãi hùng.

Tất cả các cực hình đó không nhắm đến các nỗi thống khổ về phần xác; nhưng tất cả đuợc áp dụng để thử lòng trung tín với Chúa của các ngài. Vì thế, thật là thiếu sót, nếu chúng ta chỉ nhấn mạnh đến những nét hào hùng, những tấm gương can đảm, những cực hình mà cha ông chúng ta đã phải gánh chịu mà quên đi động lực chính đã giúp tổ tiên mình đi đến cùng; đó chính là lòng yêu mến Chúa Giê-su của các ngài. Vì yêu mến mà cha ông chúng ta đã từ khước tất cả và chấp nhận chết cho tất cả.

Thật vậy, sự hiểu biết giáo lý hay những tín điều về Thiên Chúa của các ngài thật nông cạn. Các ngài cũng không có những suy tư cao siêu về thần học. Nhưng khi trở thành tín hữu ‘một nén’, các ngài đã yêu Chúa bằng tất cả con người của các ngài. Đỉnh cao của tình yêu nơi các ngài được thể hiện qua việc chấp nhận cái chết không vì phần thưởng đã dành sẵn cho những ai trung tín với Chúa mà thôi; nhưng qua hành vi tự hiến các ngài đã noi gương Chúa Giê-su, Đấng đã hiến thân để bày tỏ lòng mến tuyệt vời của Thiên Chúa cho nhân lọai.

Tiến đến sự chết bằng niềm tin và lòng mến cho nên tâm hồn cha ông của chúng ta rất thư thái và bình an, miệng các ngài vang lên những lời tha thứ và trên môi là nụ cuời hân hoan của niềm vui sắp đuợc đoàn tụ với Chúa Giêsu, Đấng mà các ngài cả đời yêu mến và trông đợi.

Hôm nay chúng ta cũng được mời gọi sống trọn vẹn và sống cho đến giây phút cuối cùng bằng lòng mến. Đó chính là tâm huyết của cuộc sống. Và đó cũng là phương thức làm giàu các ân huệ và khả năng mà Chúa đã trao ban để sinh lợi cho Chúa, không cho sự an toàn của bản thân mình. Rồi, cũng giống như cha ông mình, các bậc tiền bối đã sống trọn vẹn lòng mến vì danh Chúa Kitô, mỗi người chúng ta đến lúc đó, sẽ nhận đuợc Lời Chúa phán rằng: “Hỡi con yêu dấu, con đã trung tín trong việc nhỏ mà ta đã trao phó, thì giờ đây ta sẽ đặt con trông nom việc lớn hơn. Hãy vào mà hưởng niềm vui với Ta.”

Ước gì trong niềm hãnh diện là con cháu của các Thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng ta biết noi gương sáng của các Ngài để lại, biết dùng mọi ân ban của Thiên Chúa mà làm sáng danh Chúa và sinh lợi cho Người nữa. Amen! mục lục

NÉN TO LO NHIỀU

[Niệm ý Mt 25:14-30]

Những gì Thiên Chúa ban cho

Mừng vui rồi lại thấy lo lắng nhiều

Ngài cho mà chẳng oai đâu

Bởi vì Ngài sẽ đòi nhiều đấy thôi

Coi chừng chưa có kịp cười

Đã mang họa lớn khiến đời lao đao

Và rồi phải chịu khổ đau

Bởi vì chẳng có chút nào lời thêm

Thà rằng sức mọn, tài hèn

Còn hơn ảo tưởng, vô duyên đời đời. mục lục

Viễn Dzu Tử

TIÊU CỰC 

(Tin Mừng Mt 25,14-30)

Lớp giáo lý em kia hỏi chị 

Rằng: Tiêu cực ý nghĩa làm sao?

Chị rằng: Em thấy nơi nao?

Em thường nghe nói biết bao nhiêu lần.

Khó giải nghĩa chị tần ngần mãi 

Một phút sau mới “nại” nên lời:

Dụ ngôn Chúa có một người

Gia nhân tệ bạc, biếng lười, ngu si. 

Bạc chủ giao không hề khai thác

Lại đem về giấu cất một nơi

Nghĩ rằng không mất thì thôi

Chủ về, nộp đủ, ắt thời khỏi chê.

Xảy tới, khi chủ về đúng hẹn

Các gia nhân cùng đến kiểm ngân

Người ta lãnh thưởng chuyên cần

Riêng mình bị mắng là quân biếng lười. 

Đấy tiêu cực việc đời là thế 

Phần chúng ta phải nghĩ sao đây?

Hồng ân Chúa xuống hằng ngày

Đã sinh hoa lợi hay rầy bỏ quên.

Anh em ta tự kiểm xem!!! mục lục

(Thế Kiên Dominic)

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan