SUY NIỆM LỄ CHÚA GIÊSU KITÔ VUA VŨ TRỤ_A

21-11-2020 214 lượt xem

[Ed 34,11-12.15-17; 1 Cr 15,20-26.28; Mt 25,31-46]

Mục lục

VƯƠNG QUYỀN ĐỂ PHỤC VỤ VÀ YÊU THƯƠNG - + ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

VUA GIÊSU,VỊ THẨM PHÁN - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

CÁC NGƯƠI ĐÃ LÀM NHỮNG ĐIỀU ĐÓ CHO TABác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

CHIÊN HAY DÊ, BẠN HÃY CHỌNLm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

ĐẤNG XÉT XỬTrầm Thiên Thu

CHÚA KITÔ, VUA HÒA BÌNHLm. JB. Nguyễn Minh Hùng

CHÚA GIÊSU LÀ VUALm. Antôn Nguyễn Văn Độ

NHÂN QUẢLm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

Thơ: MẶC ĐỊNH - Viễn Dzu Tử

Thơ: CHÚA KITÔ VUA VŨ TRỤ(Thế Kiên Dominic)

Thơ: VỊ THẨM PHÁN CÔNG MINH - Mic. Cao Danh Viện

VƯƠNG QUYỀN ĐỂ PHỤC VỤ VÀ YÊU THƯƠNG

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

Trong những ngày này, cả thế giới hồi hộp theo dõi cuộc chạy đua vào Nhà Trắng của hai ứng cử viên tổng thống Hoa Kỳ, một vị thuộc đảng Cộng hoà, một vị thuộc đảng Dân chủ. Cuộc đua càng gay cấn khi có những cáo buộc từ phía đảng Cộng hoà, cho rằng Đảng Dân chủ đã có những gian lận trong việc bầu cử, nhất là từ những lá phiếu gửi qua đường bưu điện. Những phê phán nặng lời đến từ hai phía, làm cho nước Mỹ hỗn loạn. Đã có nhiều cuộc biểu tình và bạo động đến từ những người ủng hộ các ứng viên tổng thống. Chắc chắn nước Mỹ phải có tổng thống trong vài tuần tới. Tuy vậy, những lùm xùm xung quanh việc bầu cử đang làm ảnh hưởng đến hình ảnh của đất nước quyền lực nhất thế giới. Nó cũng cho thấy cơn cám dỗ quyền lực thật ghê gớm và mạnh mẽ. Những hứa hẹn khi tranh cử, những thủ đoạn trong bầu cử, đều cho thấy người ta dùng mọi cách để đạt được quyền lực, mà đó lại lại quyền lực nhất thời.

Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng vụ, Giáo Hội tôn vinh Đức Giêsu Kitô là Vua Vũ trụ. Danh hiệu “Vua” được coi như quy tóm những lời danh xưng mà Giáo Hội đã dành để tôn vinh Ngôi Lời nhập thể trong suốt một năm. Danh hiệu “Vua” dễ gây ngộ nhận, đồng thời có thể là cơ hội để những người thiếu thiện cảm với Kitô giáo suy diễn công kích. Thực sự, khi tôn vinh Đức Giêsu Kitô là “Vua”, truyền thống Giáo Hội khẳng định: Người là Thiên Chúa, Đấng Sáng tạo. Người cũng là Đấng Cứu chuộc và xoá bỏ tội lỗi trần gian. Người là Đấng khai mở kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của công bình, chân lý và tình yêu. Trong giáo huấn của Chúa Giêsu, Người luôn nhấn mạnh đến những yếu tố này. Cũng như một vị vua thống trị cõi sơn hà, Đức Giêsu là Vua của hoà bình như lời tiên báo của các ngôn sứ trong Cựu ước. Người thiết lập hoà bình giữa các dân tộc, và nhất là hoà bình trong tâm hồn con người. Vương quốc của Người rộng lớn bao la và hiện diện trong trái tim của những ai thành tâm tìm kiếm Chúa và chuyên cần thực thi giáo huấn của Người.

Lời Chúa trong lễ Chúa Kitô Vua diễn tả Người là một vị Vua hoàn toàn khác với quan niệm trần gian. Ngôn sứ Edêkien diễn tả vị vua như một mục tử. Đây là hình ảnh rất quen thuộc trong xã hội Do Thái thời xưa. Vị vua này có đủ các đức tính của một mục tử, luôn ân cần săn sóc đàn chiên và sẵn sàng hy sinh mạng sống vì đàn chiên. Hình ảnh người mục tử trong ngôn sứ Edêkien sẽ được tròn đầy ý nghĩa qua cái chết của Đức Giêsu trên thập giá. Người đã chấp nhận chết để nhân loại được sống. Người rảo khắp xứ Palestina để chữa lành con người tổn thương do tội lỗi và do bệnh tật thể xác cũng như tinh thần gây nên. Cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá đã quy tụ muôn dân, làm cho nhân loại trở thành gia đình của Thiên Chúa. Người đã phá bỏ bức tường ngăn cách giữa dân ngoại và dân Do Thái, làm cho thế giới này trở thành vương quốc của tình huynh đệ. Thánh Phaolô đã quảng diễn điều này trong thư gửi giáo dân Côrintô (Bài đọc II). Đức Giêsu được tôn vinh là Vua, vì Người đã chấp nhận cái chết để ban cho nhân loại sự sống, như một mục tử hy sinh mạng sống để đàn chiên được bình an. Cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu khẳng định với chúng ta: quyền lực vương đế của Người không phải để thống trị, mà là để phục vụ và yêu thương.

Cũng hoàn toàn khác với quan niệm một vị vua trần gian hay một tổng thống ngoài đời, hình ảnh về vị Vua khiến chúng ta ngỡ ngàng hơn nữa, qua trình thuật của sử gia Matthêu về ngày phán xét chung. Lúc đó, vị Vua xuất hiện như một vị thẩm phán công minh. Người xét xử kẻ dữ và kẻ lành, trả công cho mỗi người theo công việc họ đã làm khi sống trên dương gian. Những người chịu phán xét ngạc nhiên trước lời tuyên bố của vị Thẩm phán: “Tôi bảo thật anh em: những gì anh em làm cho một trong các người bé mọn nhất này của Tôi, là anh em đã làm cho chính Tôi” (Mt 25,40). Thì ra, Đức Giêsu đồng hoá mình với những kẻ bé mọn, cơ nhỡ và bất hạnh trong cuộc đời, để rồi những ai giúp đỡ họ là giúp đỡ Chúa; những ai bỏ rơi họ là bỏ rơi Chúa. Vị Vua của chúng ta là như thế đó. Những ai chuyên tâm làm việc thiện và giúp đỡ anh chị em mình, xứng đáng được hưởng hạnh phúc đời đời.

Ngày hôm nay, vị Vua Giêsu vẫn đang cùng đi với chúng ta trong mọi nẻo đường của cuộc sống, để khích lệ, thêm sức cho chúng ta trên đường đời. Mỗi khi thực thi giáo huấn của Người là chúng ta góp phần làm cho vương quốc tình yêu của Người được triển nở và lan rộng. Lời cầu nguyện “Nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”, cần phải đi đôi với những nỗ lực cố gắng làm cho vương quốc hoà bình mà Đức Giêsu khai mở được thực hiện. Là Kitô hữu cũng là công dân của vương quốc vĩnh cửu. Xin cho chúng ta sống xứng đáng với danh hiệu cao quý này, để đáng được Chúa chúc phúc, hôm nay cũng như vào giờ phán xét cuối cùng. mục lục

VUA GIÊSU,VỊ THẨM PHÁN

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Năm phụng vụ mở đầu bằng mầu nhiệm Nhập thể và kết thúc bằng vương quyền viên mãn của Đức Kitô. Đặt lễ Chúa Kitô Vua trong Chúa nhật cuối cùng năm phụng vụ, Giáo Hội nhắc nhở rằng, Đức Kitô chính là Vua của vũ trụ, Ngài là Chủ của thời gian, Chủ của lịch sử nhân loại và là Chủ của lịch sử mỗi người chúng ta. Chúa Kitô vượt trên thời gian để mãi mãi là vị Vua vĩnh cửu, Vua tình yêu.

Bài Tin mừng hôm nay mô tả ngày cánh chung. Khi đó Đức Giêsu xuất hiện như một vị Vua-Thẩm phán. Tất cả mọi người đều tập họp trước nhan Ngài để chịu xét xử. Tiêu chuẩn mà vị Vua-Thẩm phán ấy dựa vào để xét xử là cách sống yêu thương. Ngài cho rằng ai thể hiện tình yêu cụ thể với những người khốn khổ bé mọn tức là thể hiện tình yêu đối với Ngài và sẽ được trọng thưởng. Ngược lai, ai không yêu thương những người khốn khổ bé mọn cũng có nghĩa là không yêu thương Chúa nên bị trừng trị.

1. Ngọn núi Corcovado và núi Tao Phùng

Dịp Đại Hội Quốc Tế Giới Trẻ tại Rio Brazil, tôi đi hành hương lên ngọn núi Corcovado cao 704m, kính viếng bức tượng Cristo Redentor - Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế Vua dang tay đứng trên đỉnh núi cao.

Có loại xe lửa nhỏ khoảng 30 chỗ ngồi đưa du khách lên núi theo đường ray. Cũng có một đường xe hơi chạy lên núi theo hình xoắn ốc, đây cũng là đường bộ cho những ai thích leo núi.Năm 1985, Francisco Passos và Tegesra Suris xây dựng tuyến đường sắt thông đến núi Corcovado.

Lên đến trạm cuối, chúng tôi đi thang máy lên chỉ cách đỉnh núi khoảng 100m và tiếp tục đi bộ khoảng 120 bậc thang là đến chân tượng Chúa.

Từ đỉnh cao phóng tầm mắt nhìn thành phố Rio de Janeiro tuyệt đẹp. Tôi dành nhiều thời giờ để ngắm trời mây cảnh vật và chụp hình lưu niệm; đặc biệt chiêm ngắm tượng Chúa Cứu Thế là một trong 7 kỳ quan mới của thế giới. Bức tương màu trắng thiên nhiên hướng nhìn về phía ngọn núi Zuckerhut - Sugarload.

Bức tượng Chúa Giêsu Vua là một đài kỷ niệm trên đỉnh ngọn núi Corcovado ở phía Nam thành phố. Bức tượng được dự định xây dựng để kỷ niệm 100 năm độc lập của nước Brazil do Kỹ sư kiến thiết Heitor da Silva Costa người Brazil phác họa vẽ mẫu. Bức tượng được khởi công thi hành năm 1922, nhưng gặp trở ngại vấn đề tài chánh nên việc thi hành kéo dài suốt 10 năm. Sau khi Tổng giáo phận Rio de Janeiro, Tòa Thánh Vatican và nước Pháp cùng trợ giúp cho dự án, công trình được hoàn thành, và khánh thành ngày 12.10.1931.

Bức tượng Chúa Giêsu cao 30 mét, chân đế cao 8 mét, đủ chỗ chứa cho 150 người vào trú ẩn trong tượng. Hai cánh tay Chúa Giêsu dang ra rộng 28 mét. Bức tượng nặng 1.145 tấn. Đầu và hai tay Chúa Giêsu do nhà điêu khắc người Pháp Paul Landowski làm ở Paris. Bức tượng làm bằng vật liệu bêtông cốt sắt theo từng phần ráp nối lại, và được kết bên ngoài bằng những viên đá dát theo kiểu Mosaic.

Năm 2006 dịp mừng kỷ niệm bức tượng được 75 năm, Giáo Hội đã chính thức nâng nơi đây thành nơi hành hương kính viếng Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế.

Đứng nơi ngọn núi Corcovado, tôi nhớ đến Tượng Kitô Vua (Tao Phùng) ở Vũng tàu. Với chiều dài 500m đi lên khoảng 1.000 bậc thang. Tượng được xây dựng 1974, do điêu khắc gia Văn Nhân và 50 thợ lành nghề thực hiện. Tượng có chiều cao 32 mét, chiều dài hai cánh tay là 18,4 mét; được đặt trên bệ khối chạm hình Tiệc ly. Bên trong tượng là cầu thang xoắn ốc gồm 133 bậc, chạy từ bệ lên cổ tượng. Trong lòng tượng có thể chứa 100 người cùng một lúc. So với tượng Kitô Vua ở Rio de Janeiro ở Brazil thì tượng ở Vũng Tàu cao hơn 2 mét.Tượng Chúa ở Brazil đứng trên đỉnh núi Corcovado cao hơn 704 mét so với mực nước biển, còn tượng Chúa ở Vũng Tàu đứng trên độ cao hơn 170 mét của núi Nhỏ. Bệ tượng ở Brazil cao 8 mét, còn bệ tượng ở Vũng Tàu chỉ cao 4 mét.

Núi Corcovado hay núi Tao Phùng, nơi Chúa Giêsu Vua giang đôi tay ôm trọn nhân loại trong tình thương cứu rỗi.Trái tim của Ngài mở ra để yêu thương mỗi người và mọi người, cánh tay của Ngài mở rộng để vươn đến mọi người. Đó là hình ảnh tuyệt đẹp của người Mục Tử.

Chúa Giêsu là Vua Mục Tử Nhân Lành. Ngài tụ họp những con chiên bị phân tán, tìm con chiên lạc, băng bó chiên bị thương tích, chữa lành chiên bị đau ốm, chăn dắt chăm sóc đoàn chiên theo đường công chính (Bài đọc I). Ngài tuyên bố : “Ta là mục tử nhân lành, Ta biết chiên Ta và chiên Ta biết Ta”(Ga 10,10); “Ta đến để cho chiên Ta được sống và được sống dồi dào. Chính Ta là mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình vì chiên”. Vua Mục Tử thiết lập Vương Quốc Tình Thương. Vị Vua ấy đã tự đồng hóa mình với những kẻ bé mọn nghèo khổ : “Ta bảo thật các ngươi, mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40). Tiêu chuẩn để xác định một người thuộc vương quốc của Ngài là chính những hành động của tình thương. Vua Giêsu làm Thẩm phán xét xử mỗi người theo tiêu chuẩn của tình thương.

2. Vua Giêsu, vị Thẩm phán

Để diễn tả vương quyền của Chúa Giêsu Kitô, Vua vũ trụ, bài Tin Mừng mỗi năm Phụng vụ khai triển về một khía cạnh đặc biệt. Năm A với bài Tin Mừng Matthêu (25,31-46), đề cao Vua Giêsu như vị Thẩm phán xét xử muôn loài. Năm B với bài Tin Mừng Gioan (18,33-37), một cái nhìn thần học về uy quyền của Vua Giêsu là Lời Thiên Chúa nhập thể đến để làm chứng cho sự thật rằng Thiên Chúa hằng yêu thương nhân loại và chờ đợi con người đáp lại tình yêu ấy bằng cách tin vào Đấng được sai đến. Năm C với bài Tin Mừng Luca (23,35-43) trình bày Vua Giêsu hiển trị từ trên thập giá. Ngai vàng là thập giá, vương miện là mão gai. Vua Giêsu tuyệt đối vâng phục Chúa Cha để đem lại sự tha thứ tội lỗi cho nhân loại. Ngài không là vị Vua Cứu Độ bảo đảm cho con người ta những sự thiện hảo thế tạm. Ngài chẳng giải thoát ngay cả chính bản thân Ngài khỏi cái chết thảm thương trên thập giá. Ngài cũng chẳng hứa sẽ giải thoát con người khỏi bệnh tật hay đói nghèo. Quyền bính của Ngài là ơn cứu độ và sự sống trong Thiên Chúa: “Nước Thiên Chúa là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần” (Rm 14,17). Ngài đã thi hành vương quyền bằng cách yêu thương loài người đến nỗi sẵn sàng chết cho loài người ngay chính lúc loài người từ chối Ngài, chế giễu Ngài, thậm chí thách thức Ngài.

Vương quốc của Chúa Kitô Vua là vương quốc của tình yêu. Muốn vào vương quốc của Ngài, phải là người có lòng yêu mến Chúa và yêu thương anh em thật sự.

3. Đã làm gì và không làm gì cho tha nhân

Thánh Mátthêu tường thuật quang cảnh ngày cánh chung, khi Chúa Giêsu tái giáng và Ngài phân xử, mọi người tốt xấu, lành dữ đều có mặt và được xét xử rõ ràng. Tiêu chuẩn để xét xử là tình yêu mỗi người thực hiện cho tha nhân.

Nội dung cuộc xét xử thật bất ngờ.Đấng Thẩm Phán chỉ xét hỏi người ta về tình thương. Một tình thương cụ thể được chứng tỏ bằng việc làm thiết thực đối với những con người bằng xương bằng thịt “Cho kẻ đói được ăn, cho kẻ được khát uống, viếng thăm kẻ bệnh tật và tù đày, tiếp rước khách lạ bơ vơ…”. Điều bất ngờ hơn nữa chính là lời Đức Kitô tuyên bố: “Mỗi lần các ngươi làm những điều ấy cho một kẻ bé nhỏ là các ngươi làm cho chính Ta”. Những người bị xét xử đều nhất loạt thắc mắc: “Lạy Chúa, có bao giờ chúng con thấy Chúa đói khát, rách rưới, bệnh tật, bị cầm tù hay là khách lạ đâu?”. Mặc cho người tốt kẽ xấu thắc mắc, lời Chúa dạy thật rõ ràng: người khốn khổ bất cứ dưới hình thức nào đều là hiện thân của Chúa. Ngài tự đồng hóa mình với họ. Vậy thì rõ ràng mọi việc chúng ta làm vì tình thương đối với đồng loại đều là việc đạo đức.Thiên Chúa không cần phân biệt ai là giáo hoàng, ai là giám mục, ai là linh mục, ai là giáo dân; không cần biết ai giàu ai nghèo, ai có địa vị ai là thường dân; Ngài chỉ xét có một điều: mỗi người đã làm gì và không làm gì cho tha nhân. Như thế, việc làm chứ không phải lời nói hay cái gì khác quyết định chúng ta thuộc chiên hay dê.

Thánh Gioan Kim Khẩu dạy: đừng phân biệt đối xử giữa Chúa Giêsu trong nhà thờ và Chúa Giêsu ngoài nhà thờ. Chúa trong nhà thờ và Chúa ngoài nhà thờ, tức là những anh chị em khác, phải được tôn trọng như nhau. Đức Kitô hiện diện trong Bí tích Thánh Thể và Ngài cũng hiện diện thực sự trong mỗi một con người.

Ngôi Lời Thiên Chúa đã làm người, đã sinh ra trong hang súc vật, trốn chạy sự tàn ác và tham vọng của con người, bị đeo đuổi chỉ trích, hành hạ và bị treo trên Thập giá. Ngôi Lời Thiên Chúa đã sinh ra trong hang súc vật, trốn chạy sự tàn ác và tham vọng của con người, bị chỉ trích lại trừ, bị hành hạ và chết treo trên Thập giá. Vì thế, Ngài đã kinh qua mọi khổ đau và cái chết trong thân phận con người, Ngài cảm thông với hết thảy mọi người. Chúa bảo rằng, những ai cho người đói khát một ly nước, một chén cơm là họ cho Chúa ăn uống. Những ai cho người rách rưới hoặc mình trần một manh áo là họ đã cho Ngài mặc áo. Những ai cho người sa cơ thất thế không nơi nương tựa được trú ngụ một thời gian là họ đã cho Chúa trọ nhà... Điều vĩ đại trong Phúc Âm về ngày Phán xét đó là giá trị những việc nhỏ bé hàng ngày của tình yêu thương. Mọi sự sẽ qua đi, nhưng yêu thương sẽ tồn tại mãi mãi.

Vương quốc của Vua Giêsu là vương quốc của tình yêu. Ai sống trong tình yêu thì thuộc công dân Nước Thiên Chúa.Tình yêu là “thẻ căn cước”của công dân Nước Trời. Tình yêu không đòi hỏi nhiều lời nói cho bằng nhiều hành động thiết thực và sống động. Việc bác ái là chứng chỉ duy nhất để được nhận vào số những người được Chúa Cha chúc phúc.

Nếu Chúa Giêsu chỉ là Vua của thế giới, của vũ trụ, mà không phải là Vua của tâm hồn ta, thì việc tuyên xưng Ngài là vua có ích lợi gì cho ta? Tuyên xưng thật mạnh mẽ trên lý thuyết, mà thực tế đời sống của ta lại chứng tỏ trái ngược lại, thì sự tương phản ấy chỉ cho thấy sự giả dối hay giả hình của ta thôi! Tôi rất thích lời của Tổng thống Bush: “Show, but don’t tell!”: Hãy chứng tỏ (bằng thực tế, bằng hành động) chứ đừng nói suông!

Trong ngày sau cùng, khi Vua Giêsu phán xét chúng ta như vị Vua của vũ trụ, Ngài chỉ xét chúng ta những điểm rất thực tế: ta đã thực hành ý muốn của Ngài như thế nào? nhất là đã yêu thương và đối xử với Ngài như thế nào qua hiện thân của Ngài là những người chung quanh ta? Ngài có phải là Vua đích thực của chính bản thân ta không?

Thiết tưởng việc sống đạo của chúng ta cần phải xây dựng trên căn bản là thực tế của đời sống, chứ không phải trên lời nói, lý thuyết, sách vở. Có như thế chúng ta mới là “người khôn ngoan xây nhà trên đá”. (Mt 7,24).

Lạy Chúa Giêsu, nhìn thấy Chúa trong người khác là điều không dễ, nhưng đó là điều mà Chúa đề cao: mỗi lần giúp đỡ, yêu thương, chia sẻ, thiện cảm, vui cười, nói dễ nghe, cư xử tốt, cầu nguyện cho người khác…đó là chúng con làm cho chính Chúa, xin cho chúng con luôn biết thực hành đức ái trong đời sống hàng ngày. Amen. mục lục

CÁC NGƯƠI ĐÃ LÀM NHỮNG ĐIỀU ĐÓ CHO TA

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

Hôm nay Chúa Nhật cuối cùng của năm Phụng vụ và cũng là lễ trọng mừng kính Chúa Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ. Qua Tin Mừng Mátthêu (Mt 25:31-46), chúng ta được coi quang cảnh ngày Đức Kito trở lại lần thứ hai là ngày phán xét chung. Đây là bài giáo huấn sau cùng của Đức Giêsu trước khi Người đi lên Jerusalem để đối diện với thập giá và tử thần. Điệp khúc của bài Tin Mừng này rất rõ ràng:“Các ngươi đã làm những điều đó cho ta” (Mt 25:40)

Như vậy, thật quá dễ dàng để nhận biết chiên và dê. Chiên thì đứng phía bên hữu Con Người, là những ai nhận biết và chấp nhận sứ giả và sứ điệp của Chúa Kitô; dê thì ở bên tả, là những kẻ không nhận biết và chấp nhận sứ giả hoặc sứ điệp của Chúa.

Đức Kitô là Chúa lịch sử và vua vũ trụ sẽ phân chia chiên và dê dựa vào hành động họ có chấp nhận Lời Chúa qua cử chỉ họ đối với sứ giả được Thiên Chúa sai đến rao truyền Lời Chúa hay không. Chấp nhận hoặc từ chối ấy chính là chấp nhận hay từ chối Thiên Chúa, đấng đã sai sứ giả Giêsu đến thế gian. Từ chối Đức Giêsu là Con tức từ chối Thiên Chúa là Cha. Từ chối một môn đệ được Đức Giêsu sai đi tức từ chối chính Đức Giêsu.

TÁT CẢ TỤ TẬP NƠI VƯƠNG QUỐC

Lúc đó Con Người sẽ “ngự trên ngai vinh quang có muôn dân tụ họp trước mặt” (Mt 25:31-32) chính là đấng chủ thể mọi quyền năng vũ trụ. Người cho thấy chúng ta nhân danh Người thế nào khi cho một kẻ hèn mọn nhất nước uống cho khỏi khát, khi nào chúng ta bày tỏ, thực hành lòng thương xót, tử tế, tha thứ cho tha nhân là chúng ta làm việc đó cho chính Chúa. Chúa hoàn toàn đồng hóa mình với những kẻ thiếu thốn, sống lay lắt bên lề xã hội, những kẻ bị ức hiếp, những kẻ đói khát, xa lạ, trần truồng, yếu đau, tù tội. Tất cả mọi người đều hiện diện trong vương quốc của Đức Giêsu khiêm tốn. Triều đại của Người hoàn toàn vượt hẳn lên trên mọi vương quyền trần thế. Vương quyền và hoàng gia của Đức Giêsu cuối cùng là phục vụ đến hy sinh mang sống mình, chết cho loài người.

Những người công chính sẽ ngỡ ngàng vì biết mình đã lo lắng cho những kẻ thiếu thốn và đau khổ chính là phụng sự Thiên Chúa (25:37-38). Những kẻ bị luận phạt (25:41) cũng sẽ ngỡ ngàng khi nhận ra mình bỏ quên những kẻ khổ đau là mình đã bỏ quên chính Chúa thì sẽ nhận được cùng một số phận như vậy.

THIÊN CHÚA CÓ TOÀN QUYỀN TRÊN MUÔN LOÀI

Qua bài đọc hai thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô (1Cr 15:20-26,28), Thánh Phaolô đã miêu tả sự liên đới giữa Đức Kitô với kẻ thù và Cha người. Qua các chiều kích của vũ trụ, Phaolô muốn diễn tả mục đích của toàn thể lịch sử. Bài đọc này mang một ý nghĩa thần học và Kito học, vì Thiên Chúa cuối cùng vẫn là chủ thể và tột đỉnh của lịch sử. Chúng ta cuối cùng sẽ được cứu rỗi bởi Thiên Chúa, đấng đã và đang đi vào lịch sử loài người trong con người của Đức Giêsu thành Nazareth. Khi Thiên Chúa đã thống trị thì không có sức cản nào có thể chống lại quyền năng cứu chuộc của người. Như vậy Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài. Đây là ý nghĩa sâu sắc và quan trọng nhất của từ “qui phục” (1Cr 15:28): Thiên Chúa là Đấng toàn hảo đã hoàn thành tác động cứu chuộc của Người vì chúng ta.

Ý TƯỞNG VỀ VƯƠNG QUYỀN CỦA CON THIÊN CHÚA

Nhân dịp cuối năm phụng sự và dưới ánh sáng của ngày phán xét chung, chúng ta hãy coi lại hai bản văn của ĐGH Biển Đức XVI. Một bản là Tông Thư “Porta Fidei/Cửa Niềm Tin” ban hành ngày 11/10/2011 nói về Năm Đức Tin.

Đức Tin mà không có Đức Ái thì sẽ không sinh hoa trái trong khi Đức Ái mà không có Đức Tin thì chỉ là loại tình cảm yêu thương mơ hồ. Đức Tin và Đức Ái hoạt động hỗ tương với nhau, cái này giúp cái kia vạch ra một lối đi riêng cho mình. Thực vậy, nhiều Kitô hữu vì tình thương đã hiến dâng đời mình cho những kẻ cô đơn, bị hất hủi sống bên lề xã hội, là những kẻ mà thoạt thấy đã phải động lòng trắc ẩn muốn giúp đỡ, vì trong họ là phản ảnh dung nhan Chúa Kitô. Nhờ đức tin, chúng ta nhận ra được diện mạo Chúa Phục Sinh nơi những kẻ cần tình thương của chúng ta.“Khi các ngươi làm như vậy cho một trong những người anh em nhỏ bé nhất của ta là các ngươi đã làm cho chính ta vậy” (Mt 25:40). Đây cũng là lời cảnh cáo chúng ta đừng bao giờ quên Chúa vì những ơn lành Chúa đã ban cho chúng ta. Chính niềm tin đã giúp chúng ta nhận biết Đức Kitô và chính tình yêu của Chúa đã thúc dục chúng ta giúp người bất cứ khi nào người hiện thân là người láng giềng đang đồng hành với chúng ta trên bước đường dương thế. Nhờ niềm tin trợ lực, chúng ta hãy nhìn vào những cam kết của chúng ta về thế giới với hy vọng “một Trời Mới Đất Mới trong đó chỉ có lẽ công chính ngự trị”(2 Pr 3:13; Kh 21:1).

CHÚA KHÔNG THIẾT LẬP VƯƠNG QUỐC BẰNG BẠO LỰC

Thứ đến, ĐGH Biển Đức XVI suy niệm về vương quyền của Đức Kitô hôm 26/10/2011, trong lễ vọng “Ngày suy niệm, đối thoại và Cầu Nguyện cho Công Lý và Hòa Bình trên thế giới: Những kẻ hành hương Sự Thật và Hòa Bình” được tổ chức tại Assisi ngày hôm sau.

Trong bài giảng, ĐGH Biển Đức trích sách Zecharia 9, trong đó Chúa hứa ơn cứu chuộc qua một vị vua:

Nhưng sự loan báo lại không ám chỉ một vị vua có quyền lực loài người và sức mạnh súng đạn. Cũng không ám chỉ một vị vua cai trị bằng sức mạnh chính trị và quân sự. Mà là một vị vua hiền từ cai trị một cách khiêm nhường và dịu dàng trước mặt Thiên Chúa và loài người, một vị vua hoàn toàn khác biệt với những chủ tể vĩ đại trên mặt đất. 

Các Tông đồ đã nhắc lại lời các tiên tri, đặc biệt về cuộc khổ nạn của Đức Kitô, cái chết và phục sinh của Người (…..) với con mắt đức tin. Các ngài coi việc Thầy mình đi vào thị trấn thánh là một niềm vui. Người cưỡi lừa do các ông mướn (….) không phải là ngựa như những vị vương tướng thế gian làm. Người đi vào Jerusalem không có xe cộ, quân linh hùng dũng hộ vệ. Người là một ông Vua nghèo hèn, Vua của những kẻ nghèo hèn của Thiên Chúa, (….), nơi họ có một tự do nội tại đặc biệt khả dĩ giúp họ vượt thắng mọi gian tham và ích kỷ của loài người, nơi họ chỉ nhận biết có một mình Thiên Chúa là kho tàng vô giá, (….). Người là vị Vua sẽ làm cho xe cộ, chiến mã tiêu tan, bẻ gẫy mọi khí giới chiến tranh. Người là Vua mang lại hòa bình trên thập giá, liên kết trời với đất, thiết lập nhịp cầu nối kết tất cả mọi người lại với nhau. Thập giá là tân hòa bình, dấu chỉ và khí cụ của hòa giải, (…) dấu chỉ cho thấy tình yêu manh hơn bất cứ hình thức bạo động, đàn áp nào, mạnh hơn cả tử thần. Tội ác sẽ bị sự thiện và tình yêu đè bẹp, lướt thắng.

Vương quốc của Đức Kitô thì phổ quát. Chân trời của vị Vua nhu mì và nghèo hèn này không phải là chân trời của một quốc gia trần thế bị giới hạn đóng khung nơi dương thế này. Người tạo hiệp thông và thống nhất. Ngày nay chúng ta thấy lời loan báo của Người trở thành cụ thể ở đâu? Trong mạng lưới vĩ đại của mọi cộng đồng Thánh Thể bao trùm khắp thế giới, ở đó lời tiên tri Zecharia nổi bật và sáng chói. (…) Ở tất cả mọi nơi, tất cả mọi nền văn hóa, (…) Người đến và hiện diện. Và khi hiệp thông với Người, loài người sẽ thống nhất thành một thân thể, vượt qua mọi phân chia, ganh tỵ và thù hận. Chúa đến trong phép Thánh Thể để vứt bỏ mọi ích kỷ nơi chúng ta, đem trở lại những ai bị loại trừ, và làm cho chúng ta trở nên một thân thể duy nhất, một vương quốc của hòa bình duy nhất trong một thế giới chia rẽ... 

Làm sao chúng ta có thể kiến tạo một vương quốc trong đó Chúa Kitô là Vua? (…) Giống như Chúa Giesu, những sứ giả hòa bình của vương quốc của Người phải khởi đầu bằng một cuộc hành trình. (…) Họ phải hành trình, nhưng không bằng sức mạnh của chiến tranh và cường quyền. (…) Không phải bằng quyền lực hay bạo động mà vương quốc hòa bình của Đức Kitô vẫn đang lớn mạnh, nhưng với xả thân và tình thương được chia sẻ đến tận cùng ngay cả với kẻ thù. Chúa Giêsu không chinh phục thế giới bằng sức mạnh quân sự nhưng bằng sức mạnh của Thánh giá, một bảo đảm thực sự để thắng lợi.

VIVA CRISTO REY - VẠN TUẾ CHÚA KITÔ VUA

Sau cùng, chúng ta nên nhớ lại cuộc đời của Thánh trẻ tử đạo Dòng Tên Miguel Agustin Pro, sj (1891-1927), một người suốt đời xả thân vì Chúa Kitô Vua. Ngài sinh ngày 13/1/1891 tại Guadalupe Zacatecas, Mexico, cha là một kỹ sư hầm mỏ, mẹ là một người đầy lòng bác ái và đạo đức. Thuở thiếu thời, Miguel là học sinh rất chăm chỉ và tiếp tục như vậy suốt cả đời. Năm 20 tuổi, ngài xin vào nhà tập Dòng Tên, rồi chẳng bao lâu bị lưu đày vì cuộc cách mạng ở Mexico. Ngài đi sang Hoa Kỳ, tới Y Pha Nho, Nicaragua và Bỉ, ở đó ngải chịu chức linh mục năm 1925. Cha Pro bị đau bao tử kinh niên. Sau nhiều cuộc giải phẫu vẫn không thuyên giảm, cha bề trên cho phép ngài trở về Mexico năm 1926 dù lúc đó cuộc truy lùng Công Giáo rất khủng khiếp vẫn đang xảy ra.

Các giáo đường bị đóng cửa, các linh mục phải lẩn trốn. Cha Pro thi hành mục vụ “chui” cho những người Công giáo Mễ. Ngài tạo sức mạnh cho giáo dân bằng niềm tin và hoàn toàn xả thân phục vụ người nghèo trong thành Mexico city. Ngài ăn mặc giả dạng dưới mọi hình thức để giúp người nghèo một cách thầm lặng và kín đáo. Đôi khi ngài ăn mặc như một tên ăn mày và đi vào đêm tối để rửa tội cho trẻ con, ban phép Hôn phối và cử hành Thánh lễ. Ngài xuất hiện nơi nhà tù như một sĩ quan để mang Mình Thánh Chúa cho những người Công giáo bị kết tội. Khi đi vào những khu giầu có sang trọng để cung cấp nhu cầu cho người nghèo, cha Miguel xuất hiện trước ngưỡng cửa mặc quần áo hợp thời trang như một giám đốc với hoa cài trên miệng túi áo. Ngài cải biến, thay đổi mạo diện như một thám tử điện ảnh hoặc trong truyền hình. Tuy vậy cha Pro vẫn luôn luôn vâng lời bề trên và đầy lòng kính mến và vui mừng phục vụ Chúa Kitô là Vua.

Cha đã bị tố cáo oan là âm mưu đặt bom ám sát cựu tổng thống Mexico và bị truy nã. Cha bị bắt đem giải giao cho cảnh sát và bị kết án tử hình không có tòa án và kháng cáo. Vào ngày bị xử, cha Pro đã tha thứ cho những kẻ hành quyết ngài. Cha can đảm từ chối bịt mắt và trước khi chết, cha tuyên xưng hô lớn “Viva Cristo Rey, Vạn tuế Chúa Kitô Vua!”

Hình ảnh Thánh Miguel Pro can đảm quì gối khi bị hành quyết. Ngài tha thứ cho kẻ xử bắn ngài trong khi tuyên xưng vương quyền thực sự và bất bạo động của Thiên Chúa vẫn còn in dấu trong đầu tôi. Hình ành các thánh tử đạo Việt Nam cổ vẫn đeo gông quyết không bước qua Thánh giá Chúa Kitô Vua để được tha chết không bị chém đầu là những gương hy sinh phi thường vẫn còn đậm nét mãi trong tâm trí tôi.

BIỆN HỘ TRƯỚC TÒA THIÊN QUỐC

Khi đọc bài đọc 1 tiên tri Ezekiel 34:11-12, 15-17 và bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta có hình ảnh gì về Thánh Têrêsa thành Calcuta, Thánh Miguel Pro, các Thánh tử đạo Việt Nam, Đức TGM Nguyễn Kim Điền, cha chính Hanoi Nguyễn Văn Vinh, thầy giảng Nguyễn Bá Lung và biết bao thánh nhân nam nữ giống như các ngài qua suốt chiều dài lịch sử? Dưới nhiều hình thức khác nhau, các ngài đã tung các Chiên Thiên Chúa đi muôn nơi, cứu chúng khi bị mây mù đen tối bao phủ, cho chúng ăn, cho chúng nghỉ ngơi. Công việc của các ngài là chăm sóc đàn chiên, an ủi chữa trị khi chúng đau ốm, cho chúng Máu và Thịt Chúa như trong bài Phúc Âm hôm nay. “Các ngươi đã làm những điều đó cho Ta”. Hôm nay họ được an ủi là hành động mến yêu xót thương của họ đối với những kẻ nhỏ bé hèn mọn nhất đã được nhận biết và biện hộ trước toa thiên quốc, bởi vì Thiên Chúa biết hết mọi sự. Người là ân nhân cuối cùng, là kẻ nghèo hèn đói khổ, bị xã hội bỏ rơi, áp bức, đói khát, là khách xa lạ, là kẻ bị cầm tù, trần truồng, ốm đau mà họ đã hết lòng chăm sóc lo lắng giúp đỡ thực sự. Họ là những công dân của Vương quốc nước Trời.

CHÚA KITÔ LÀ VUA

Niềm tin của chúng ta bắt rễ nơi Đức Giêsu thành Nazareth, Đấng được tuyên dương là Vua khi bị hành quyết chết trên Thập giá. Người không phải là Vua ham quyền, không phải là nhà độc tài toàn trị, đạp dưới chân bất cứ ai chống đối. Nơi vương quốc của Người, những công dân nghèo khó được tung hô ca ngợi và yêu thương. Họ là bạn hữu, là huynh đệ, là những kẻ nhỏ bé nhất của Người được dự phần vào sự sống của chính Người. Vương quốc trần thế thì nay đến mai đi. Vương quốc của Đức Kitô thì bền vững đến muôn đời.

Cùng với Thánh Têrêsa thành Calcuta, Thánh linh mục Miguel Pro, các Thánh Tử Đạo Việt Nam, ĐTGM Nguyễn kim Điền, cha chính Hanoi Nguyễn Văn Vinh chúng ta tuyên xưng “Vạn Tuế Chúa Kitô là Vua vũ trụ bây giờ và mãi mãi. Viva Cristo Rey!” mục lục

CHIÊN HAY DÊ, BẠN HÃY CHỌN

Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

Đã có một thời, tại nhiều nơi, nhất là tại các xứ đạo toàn người công giáo, Lễ Chúa Ki-tô, Vua vũ trụ được tổ chức thật hoành tráng và trọng thể. Ý nghĩa của việc làm này nhằm tuyên dương quyền thống trị toàn thế giới của Chúa Ki-tô mà chúng ta đang trông đợi. Tuy đây là một việc làm thật chính đáng, nhưng đôi khi chúng ta lại quá nhấn mạnh đến quyền thống trị của Thiên Chúa mà quên đi con đường dẫn Đức Ki-tô đến vương quyền hoàn toàn khác hẳn với quan niệm thống trị của các vua chúa trần gian mà chúng ta đã được nghe đến.

Ngày nay, ý nghĩa về ngày Đại Lễ không chỉ nhấn mạnh đến quyền thống trị của Đức Giê-su mà là cơ hội nhắc nhở chúng ta về con đường dẫn Người đến vương quyền, một vương quyền không đạt được bằng sức mạnh, vũ lực hay gươm giáo; nhưng cốt yếu là yêu thương và phục vụ, cho dù phải trả bằng mạng sống của chính Người, Đức Giê-su vẫn sẵn lòng. Qua đó, Đức Giê-su đã khai mở một đường lối cai trị mới, không bằng quyền hành nhưng bằng sự quan tâm, lo lắng, chăm sóc và hy sinh cho con dân trong vương quốc của Người, cách riêng cho những ai bị thương tích hay bị bỏ rơi.

Sau cùng, tình yêu của Đức Giê-su Ki-tô, Vua nhân ái được diễn tả qua việc hiến dâng trên Thập Giá. Đó chính là đích điểm của con đường yêu thương và phục vụ của Đức Giê-su mà Người đã chia sẻ trong các bài giảng của Người. Đó là sự rộng lượng, tấm lòng quảng đại, ơn tha thứ, lòng quan tâm chăm sóc người nghèo, chữa lành bệnh tật cho kẻ bị đau ốm và kêu gọi những người tội lỗi ăn năn. Người không chỉ ban một học thuyết, cho dù học thuyết về tình yêu; nhưng Người đã khai mở con đường yêu thương. Con đường hay lối sống yêu thương này đã xuất phát từ kinh nghiệm mà Đức Giê-su đã trải nghiệm với Cha của Người, và bất cứ ai tin và sống theo Tin Mừng của Đức Giê-su đã rao giảng đều có một trải nghiệm giống như thế. Để có được tâm tình của Đức Giê-su, chúng ta cùng nhau nghe lại Lời Người dậy bảo trong bài Tin Mừng hôm nay. Tuy nhiên, chúng ta đừng nghe câu chuyện này như là lời phán quyết sau cùng của Chúa. Nhưng hãy đón nhận và lắng nghe như một lời cảnh báo. Hãy để cho Lời của Chúa hôm nay trở nên một cơ hội cho chúng ta nhìn thấy mình đang ở đâu?

Chúa phán: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han." Bấy giờ những người công chính sẽ thưa rằng: "Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống; có bao giờ đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước; hoặc trần truồng mà cho mặc? Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù, mà đến hỏi han đâu? "Đức Vua sẽ đáp lại rằng: "Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy." Rồi Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên trái rằng: "Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng." Bấy giờ những người ấy cũng sẽ thưa rằng: "Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói, khát, hoặc là khách lạ, hoặc trần truồng, đau yếu hay ngồi tù, mà không phục vụ Chúa đâu?" Bấy giờ Người sẽ đáp lại họ rằng: "Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy." Thế là họ ra đi để chịu cực hình muôn kiếp, còn những người công chính ra đi để hưởng sự sống muôn đời.” (Mt 25:31-46)

Những lời chất vấn của Chúa hôm nay đã giúp tôi nhớ lại một kinh nghiệm mục vụ. Cách đây vài năm, khi còn làm việc tại trung tâm Hoan Thiện, Keysborough. Vào một buổi sáng, tôi đã gặp một người. Anh ta kể về hoàn cảnh của anh, lý do nào anh đưa ra cũng xác đáng. Sau cùng anh xin tôi giúp anh ít tiền để làm lộ phí đi đường. Dựa trên kinh nghiệm của bản thân đã dậy cho tôi biết rằng, nếu tôi mủi lòng, đáp lại lời yêu cầu của anh thì sẽ có nhiều người khác đến để xin giúp đỡ… Sau cùng, tôi đành từ chối lời van xin của anh. Phần anh, đây có lẽ không phải là lần đầu tiên bị từ chối. Đã quá quen khi bị khước từ nên xem ra trông anh ra về rất thanh thản. Còn tôi, coi như xong một chuyện, trở về cuộc sống thường nhật.

Câu chuyện không chấm dứt như thế. Vài tuần sau, trong khi chào đón bà con đến tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật hàng tuần. Bỗng nhiên, tôi gặp lại anh. Bổn phận khiến chúng tôi khổng thể tránh mặt nhau. Tôi tiến đến chào và vui vẻ mời anh vào nhà nguyện để cùng dâng lễ với chúng tôi.

Tôi không biết sự thật về cuộc đời của anh, tôi cũng không tìm hiểu các lý do anh đưa ra có xác thực hay không. Có lẽ tôi cũng không cần biết các điều đó làm gì. Sự thật là qua hai lần gặp gỡ, anh đã cho tôi thấy sự thật của đời mình. Anh đã hiện diện như một cơ hội yêu cầu tôi phải đưa ra một sự lựa chọn, không phải là việc giúp đỡ hay không giúp đỡ. Đó là sự lựa chọn mang tính ‘con người’, giữa ánh sáng và bóng tối, giữa lòng nhân ái và tính ích kỷ.

Đấy, kinh nghiệm sống của tôi như thế. Căn cứ vào tiêu chuẩn phân loại của Đức Giê-su mà chúng ta vừa nghe thì làm sao tôi giải thích đây! Việc phân loại mình là chiên hay là dê quả thật không dễ dàng, không rõ ràng như trong bài Tin Mừng mà Đức Giê-su vừa nói. Thực tế, tôi là cả hai. Có những lúc tôi đã chia sẻ của ăn, thức uống cho người đói khát, thăm viếng những người đau ốm, an ủi những kẻ bị giam cầm, v.v… và lại có những lần khác tôi nhắm mắt làm ngơ khi nhìn thấy những người cùng chung hoàn cảnh nêu trên.

Kính thưa anh chị em,

Những diễn biến của ngày chung thẩm, ngày phán xét chung được diễn tả trong dụ ngôn quá đầy đủ. Trong ngày đó, Chúa sẽ không chất vấn về lòng sùng đạo qua việc đọc bao nhiêu kinh? Cầu nguyện bao nhiêu lần? Xưng tội bao nhiêu lần và xưng các tội nào? Rước lễ có theo ý ngay lành hay không? Đã tham gia bao nhiêu chuyến hành hương hay có một lòng một ý khi tham dự các nghi thức phụng vụ như Thánh Lễ hay không? Nhưng, trong ngày đó, Ngài sẽ hỏi chúng ta đã làm gì cho nhau?

Muốn có câu trả lời cho ngày đó, thì ngay bây giờ, trong mọi giây phút của cuộc sống; chúng ta cần để cho Lời Chúa trong bài Tin Mừng hôm nay chất vấn và chỉ có một việc duy nhất mà chúng ta cần thực hiện là nỗ lực làm cho trần gian này trở thành nơi chan chứa tình huynh đệ, nơi không còn chia rẽ, nơi mà những giọt lệ của đau thương sẽ nhường chỗ cho niềm vui và an bình, nơi mà người tốt và xấu có thể sống chung hòa bình. Quả thật, chúng ta không cần chờ đến ngày tận thế mới thấy Chúa. Và nếu chúng ta chờ cho đến ngày đó mới thấy Chúa thì đã quá trễ rồi! Nhất là làm sao chúng ta có thể nhận ra ai là Chúa, một khi trong cuộc sống chúng ta chưa hề gặp gỡ hay có một kinh nghiêm nào về Ngài! Trong khi đó, ngay bây giờ và trong lúc này, Chúa đang ở giữa chúng ta, đặc biệt nơi những người khốn khổ nhất.

Có một chi tiết trong bài Tin mừng gây không ít ngạc nhiên là trong câu trả lời của cả hai nhóm, chiên cũng như dê, những người thực hiện lòng thương xót và những ai không làm, đều không biết đến sự hiện diện của Chúa ở nơi những con người khốn khổ và bé mọn. Họ nói: “Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, Chúa khát mà cho uống, Chúa trần truồng mà cho áo mặc, Chúa đau yếu hay bị giam trong các nhà tù mà đến thăm rồi phục vụ Chúa đâu?” Đâu là động lực khiến họ khác nhau? Phải chăng nhóm thuộc về phe chiên là những ai sống theo lương tâm và nhịp đập của con tim, biết rung cảm trước các nỗi khốn cùng của nhau; còn những ai thuộc về nhóm dê là những con người đã chôn cất trai tim và lòng thương xót của mình vào tủ kín rồi khóa lại. Họ đã đánh mất đi các diệu cảm và thức đẩy của Tin Mừng.

Như vậy, một cách nào đó chúng ta nhận thấy ngoài việc để cho Lời Chúa tác động, con người, không phân biệt mầu da, niềm tin hay phái tính, tất cả cần sống với chất liệu và nhịp rung cảm của trái tim, để thực hiện lòng thương xót và quan tâm cho nhau trước. Thật ra, chính con tim nhậy cảm mà Chúa đã đặt vào trong thân xác tôi đã dậy cho tôi biết rằng: tha nhân và Chúa không hề tách biệt nhau.

Ngoài con tim nhậy cảm, chúng ta còn được Lời Chúa huớng dẫn nữa. Cụ thể, Lời Chúa trong bài Tin Mừng hôm nay đã tỏ cho tôi biết rằng Chúa đã nên đồng hình đồng dạng với con người, đặc biệt những ai bé mọn: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh chị em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.” Còn lời khẳng định nào rõ ràng hơn. Đức Giêsu đã xác định thật rõ ràng về sự liên hệ mật thiết giữa những người bé nhỏ, hèn mọn này với Người. Vì thế, những việc chúng ta làm cho nhau vì Chúa, hay vì đuợc khen thuởng rồi cũng bị phơi bày ra hết.

Như vậy, qua dụ ngôn này, Chúa nhắc nhở và hối thúc chúng ta cần xông xáo ra đi khỏi mình để chia sẻ và xoa dịu những nỗi đau của nhau. Đặc biệt thực hiện lòng thương xót nơi những nguời thiếu ăn, thiếu mặc, không cửa không nhà, đang bị tù đầy, v.v…

Thiếu ăn, thiếu mặc không hẳn là đói khát hay bị lạnh về phần xác, nhưng còn bao nhiêu người thiếu nụ cuời, không đựợc ủi an, tôn trọng.

Không chốn nương thân không hẳn là không có nhà để ở, nhưng vì con người ngày nay ích kỷ hơn, không dám mở lòng ra đón nhận nhau và đôi khi còn tạo ra những rào cản để nhốt và giam giữ nhau…

Một vài nét tiêu biểu như thế. Còn biết bao nhiêu điều cần làm, kể sao cho hết. Nhưng với ai có con tim nhậy cảm trước nỗi đau của tha nhân thì tự họ sẽ tìm ra các phương thuốc để giúp nhau. Và, đối với các kẻ tin, một lần nữa, với lời xác quyết rõ ràng của Chúa, chúng ta không còn vịn vào bất cứ một lý do nào để từ chối những người mà chúng ta gặp trong cuộc sống. Tất cả đều được quan tâm, không ai bị lọai trừ khỏi lòng mến của Thiên Chúa qua sự hiện diện của Đức Kitô hôm qua, hôm nay và mãi mãi. Người không chỉ hiện diện trong nhà thờ, hay tại những cuộc biểu dương tôn giáo; nhưng mãnh liệt và xác thực hơn cả là Người đang hiện diện trong đời sống của những người bé mọn và khốn cùng.

Sau cùng, dụ ngôn này được công bố vào Chúa nhật cuối của năm phụng vụ và nói đến việc thẩm định của Chúa trong ngày sau cùng. Nhưng không phải là chấm dứt. Cùng với Hội Thánh trên cuộc lữ hành trần thế, chúng ta sống với niềm hy vọng về cùng đích của đời mình là được Đức Kitô quang lâm đón chúng ta về nhà Cha để tham dự bữa tiệc hồng phúc, bữa tiệc cánh chung. Với niềm hy vọng đó, chúng ta bắt đầu lại con đuờng sống đạo bằng một khởi điểm mới phù hợp với những thách đố của Tin Mừng, đó là trong Đức Giê-su Ki-tô, Vua yêu thương, chúng ta quyết tâm làm chứng cho nhân lọai nhận ra tình thương của Thiên Chúa bằng chính cuộc sống yêu thương và phục vụ lẫn nhau mà Vua Giê-su đã làm gương. Amen. mục lục

ĐẤNG XÉT XỬ

Trầm Thiên Thu

Thiên Chúa là Đấng Thánh duy nhất, và Ngài “có toàn quyền trên muôn loài.” (1 Cr 15:28) Thật vậy, sau khi phục sinh, chính Chúa Giêsu đã hiện ra với 11 môn đệ tại Galilê và xác nhận: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất.” (Mt 28:18)

Chúa Giêsu được toàn quyền, nghĩa là Ngài cũng là Thẩm Phán xét xử trong ngày chung thẩm. Ngài xét xử đầy lòng thương xót nhưng cũng rất thẳng thắn, công minh. Kinh Thánh cho biết: “Đức Chúa là Đấng xét xử, Người chẳng thiên vị ai.” (Hc 35:12; Đnl 10:17-18; Lc 20:21; Cv 10:34; Rm 2:11; Gl 2:6; Ep 6:9) Kinh Thánh còn cho biết chi tiết với cách nói mạnh mẽ hơn: “Chúa Tể muôn loài không bao giờ vị nể, kẻ quyền cao chức trọng, Người cũng chẳng kiêng dè. Sang hay hèn đều do Người tạo tác, đều được Người chăm sóc hệt như nhau, nhưng kẻ quyền cao sẽ bị tra vấn nghiêm nhặt.” (Kn 6:7-8)

Đó là luật công bằng, như Chúa Giêsu đã xác định: “Hễ ai đã được cho nhiều thì sẽ bị đòi nhiều, và ai được giao phó nhiều thì sẽ bị đòi hỏi nhiều hơn.” (Lc 12:48) Tuy nhiên, bản chất vốn dĩ là tình yêu nên Thiên Chúa có đặc điểm bất biến: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.” (1 Sb 16:34 và 41; 2 Sb 5:13; 2 Sb 7:3 và 6; Er 3:11; Tv 100:5; Tv 106:1; Tv 107:1; Tv 118:1-4 và 29; Tv 136:1-26) Nếu Thiên Chúa chấp tội thì chẳng ai có thể đứng vững trước Tôn Nhan Ngài. (Tv 130:3) Thật vậy, “Ngài không cứ tội ta mà xét xử, không trả báo ta xứng với lỗi lầm.” (Tv 103:10)

Trong xã hội loài người, các lãnh thổ khác nhau chia thành năm châu lục, mỗi châu lục gồm nhiều quốc gia, mỗi quốc gia có một vị đứng đầu với quyền tối thượng, phàm ngôn gọi là nguyên thủ quốc gia – thay đổi tùy thời: Chúa Thượng, Hoàng Thượng, Hoàng Đế, Vua, Nữ Hoàng, Quốc Vương, Quốc Trưởng, Tổng Thống,... Riêng Công giáo gọi vị đó là Giáo Hoàng – người kế vị Thánh Phêrô cai quản Giáo Hội tại thế.

Người ta có câu: “Quan nhất thời, dân vạn đại.” Dĩ nhiên đó là nói về thế gian. Các nguyên thủ quốc gia cũng chỉ tạm thời chứ không vĩnh viễn, kể cả quyền lực, chỉ có Thiên Chúa là duy nhất, vĩnh viễn, bất biến, và có quyền tối thượng, kể cả “quyền ném vào hoả ngục.” (Lc 12:5) Khi bị thế lực trần gian áp chế, Chúa Giêsu vẫn thẳng thắn nói với Philatô là người có toàn quyền trong tay: “Ngài KHÔNG có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngài.” (Ga 19:11) Rất rõ ràng.

Theo chiết tự chữ Hán, chữ Vương (vua, 王), ba “gạch ngang” tượng trưng cho Thiên, Nhân, Địa, và được nối kết bằng một “gạch đứng” với ý nghĩa “vua là người nối kết trời, đất và con người.” Đúng theo nghĩa đó thì trọng trách nặng nề lắm, nhưng vua trần gian chẳng mấy người như vậy, đôi khi họ còn ngược ngạo, hống hách, làm khổ dân mà thôi. Tương tự, gần gũi chữ Vương (王) là chữ Chủ (主), cũng có nghĩa là Chúa, viết như chữ Vương và có thêm “ngọn lửa” ở trên, với ý nghĩa: Chúa cũng là vua nhưng có đức độ, gần gũi với con người, đốm lửa trên đầu ngài là ánh sáng soi sáng cuộc đời chúng ta, thúc bách chúng ta đi theo ngài, và đó là ý nghĩa của cuộc đời chúng ta. Hán tự thật thâm thúy, đúng là chữ phải có nghĩa.

Đệ Nhất Thiên Vương là Chúa Giêsu, vì Ngài là Vua các vua và Chúa các chúa, thế nhưng Ngài lại hạ mình đến tận cùng vì yêu thương các thần dân. Có điều rất kỳ lạ: Vua chúa trần gian có mọi thứ, còn Chúa Giêsu là Vua Đa Không: KHÔNG ngai, KHÔNG đăng quang, KHÔNG vương miện, KHÔNG vương trượng, KHÔNG long bào, KHÔNG quần thần, KHÔNG dinh thự, KHÔNG văn phòng làm việc, KHÔNG nghi thức, KHÔNG thiết triều,... Thậm chí Ngài còn SINH nơi hang động, SỐNG ở ngoài đường, rồi CHẾT trên đồi hoang.

Tại sao như vậy? Chính Chúa Giêsu minh định với tổng trấn Philatô: “Nước tôi không thuộc về thế gian này.” (Ga 18:36) Tuy nhiên, Ngài lại có quyền tối thượng: “Chúa Cha không xét xử một ai, nhưng đã ban cho người Con mọi quyền xét xử. Chúa Cha có sự sống nơi mình thế nào thì cũng ban cho người Con được có sự sống nơi mình như vậy, lại ban cho người Con được quyền xét xử, vì người Con là Con Người.” (Ga 5:22, 26-27)

ĐỨC VUA GIÀU LÒNG THƯƠNG XÓT

Thật khủng khiếp với quyền sinh sát trong tay vua chúa trần gian: “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung.” Vì họ tự nhận là Thiên Tử – Con Trời, hét ra lửa, mửa ra quyền. Còn Chúa Giêsu khác hẳn, khi Philatô hỏi Ngài có phải là vua không, Ngài thản nhiên: “Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.” (Ga 18:37) Là Vua các vua, nhưng Chúa Giêsu luôn động lòng trắc ẩn, chạnh lòng thương xót. Ngài đến thế gian để cứu những gì đã mất, và Ngài nhắn nhủ: “Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.” (Mt 11:29) Là Thiên Vương nhưng Vua Kitô Giêsu là Vua Thương Xót, luôn nhân hậu, nhân ái và từ tâm.

Chính Đức Chúa là Chúa Thượng đã tuyên phán: “Đây, chính Ta sẽ chăm sóc chiên của Ta và thân hành kiểm điểm. Như mục tử kiểm điểm đàn vật của mình vào ngày nó ở giữa đàn chiên bị tản mác thế nào, Ta cũng sẽ kiểm điểm chiên của Ta như vậy. Ta sẽ kéo chúng ra khỏi mọi nơi chúng đã bị tản mác, vào ngày mây đen mù mịt.” (Ed 34:11-12) Thật vậy, khi chúng ta tưởng mình cô đơn thì Ngài đang ở ngay bên; khi cuộc đời êm trôi, Ngài đồng hành với chúng ta; khi cuộc sống như ở trong ngõ cụt, Ngài không chỉ đồng hành mà còn vác chúng ta trên vai để chúng ta được an toàn. Thực sự như thế, nhưng vì phàm nhân yếu đuối, chúng ta đã từng có những lúc bị dao động, chao đảo, vì đức tin còn yếu kém.

Là Đấng tạo dựng nên chúng ta, Thiên Chúa biết rõ chúng ta thế nào, và Ngài đã xác định: “Chính Ta sẽ chăn dắt chiên của Ta, chính Ta sẽ cho chúng nằm nghỉ. Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật, Ta sẽ làm cho mạnh; con nào béo mập, con nào khoẻ mạnh, Ta sẽ canh chừng. Ta sẽ theo lẽ chính trực mà chăn dắt chúng. Phần các ngươi, hỡi chiên của Ta, Đức Chúa là Chúa Thượng phán. Này Ta sẽ xét xử giữa chiên với chiên, giữa cừu với dê.” (Ed 34:15-17) Ngài không bỏ qua bất cứ ai, người nào càng đau khổ thì càng được Ngài thương xót. Thật vậy, Ngài không phân biệt, chấp nhận bỏ lại 99 con chiên béo tốt để tìm cho được 1 con chiên xấu xí, ốm yếu, hôi tanh. (x. Mt 18:12-14; Lc 15:4-7) Phàm ngôn không đủ từ ngữ để diễn đạt lòng thương xót mầu nhiệm như vậy.

May thay, hiếm nhưng vẫn có: Các vua chúa trần gian ít có người đích thân vi hành như Hoàng đế Khang Hi (Kangxi, 1654-1722) đời nhà Thanh của Trung Hoa. Ông là vua tốt lành, thương dân suốt hơn 60 năm trị quốc. Có bao giờ Tổng thống đến khu dân cư nghèo để thấy sinh hoạt cực khổ của người dân? Có đến thì chỉ ở “trung tâm” rồi tiệc tùng, và nghe “báo cáo,” liệu có bao nhiêu phần trăm trung thực? Bởi vậy, người dân mới thở dài rồi nói: “Ôi dào! Làm láo, báo cáo hay!” Ngay cả tỉnh trưởng hoặc quận trưởng cũng vậy, chẳng mấy người thật lòng muốn biết nỗi niềm của người dân. Đạo cũng không khác lắm, có bao nhiêu giám mục hoặc linh mục tận tình đến thăm giáo dân để hiểu được nỗi lòng của họ, cả đời thường lẫn tâm linh? Có chức nên có quyền, đủ lý lẽ biện hộ, khó mà thản nhiên trả lời ngay. ĐGH Phanxicô cũng thường thẳng thắn dám nói tới những điều “nhạy bén” như vậy, có lẽ nhiều người cũng cảm thấy “dị ứng” lắm. Đúng là “sự thật mất lòng” mà.

Quả thật rất ấn tượng với Đức cố Giám mục Jean Cassaigne (1895-1973), gọi thân thương là Cha Sanh, nhà truyền giáo của dân tộc Kơ Ho, chết vì lây bệnh cùi tại Trại Phong Di Linh, được mệnh danh là Tông Đồ Người Cùi. Khi còn là Giám mục GP Saigon, ngài thường dùng chiếc xe vespa cọc cạch đi thăm dân chúng vùng Chợ Lớn. Một người Pháp mà quên mình, dấn thân và hòa nhập với người Việt, đặc biệt là những người dân tộc và các bệnh nhân phong cùi. Không yêu thương làm sao sống được vậy? Đó là phong cách của thánh nhân, ngài đã sống đúng khẩu hiệu giám mục của ngài: “Caritas et Amor – Bác Ái và Yêu Thương.”

Cuộc đời luôn có những ngịch lý: Biết nhiều thì khổ nhiều; thấy nhiều thì chán nhiều; nghe nhiều thì nóng máu. Làm ngơ thì người ta nói mình sợ, nói ra thì bị ghét. Thẳng thắn sẽ va chạm, chỉ khổ mình thôi. Thế nhưng không thể làm ngơ, ai nhát đảm thì dễ vào hùa, đồng lõa. Thật may còn có Chúa là Bến Yêu Thương cho chúng ta trú ẩn. Thánh Vịnh gia chia sẻ cảm nghiệm tâm linh: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi. Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính vì danh dự của Người.” (Tv 23:1-3) Mỗi tín nhân đều khả dĩ trải nghiệm đức tin tuyệt vời như vậy thì hạnh phúc biết bao!

Chắc chắn đức tin phải được tôi luyện trong gian truân thì mới có thể dần dần trở nên tinh ròng, và lúc đó người ta mới có thể xác tín: “Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm. Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc ngay trước mặt quân thù. Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm, ly rượu con đầy tràn chan chứa.” (Tv 23:4-5) Thánh Vịnh gia chia sẻ thêm: “Lòng nhân hậu và tình thương Chúa ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời, và tôi được ở đền Người những ngày tháng, những năm dài triền miên.” (Tv 23:6) Thật là hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc đó không thể có nếu cứ sống tà tà. Thiên Chúa là Đấng cầm quyền sinh tử, (Đnl 32:39; 1 Sm 2:6; Kn 16:13) Ngài không bao giờ “chợp mắt ngủ quên” hoặc nỡ lòng để chúng ta lâm vào ngõ cụt, bởi vì bản chất của Ngài là tình yêu, (1 Ga 4:8 và 16) mà tình yêu thì bất diệt.

Chúa Giêsu là Để Nhất Thiên Vương, nhưng là Đệ Nhất Hàn Vương: SINH nơi hang động, SỐNG ở ngoài đường, CHẾT trên đồi hoang. Ngài là Vua mà cuộc sống như vậy, chúng ta không thể sống khác nếu muốn đi theo Ngài.

Ngài là Vua của người sống chứ không là Vua của kẻ chết. Thật vậy, dù Ngài bị người ta ghen ghét đến nỗi giết Ngài, nhưng Ngài đã từ cõi chết sống lại, và cai trị cả Tử Thần. (x. 1 Cr 15:25) Thánh Phaolô cho biết chi tiết: “Đức Kitô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu. Vì nếu tại một người mà nhân loại phải chết thì cũng nhờ một người mà kẻ chết được sống lại. Quả thế, như mọi người vì liên đới với A-đam mà phải chết thì mọi người nhờ liên đới với Đức Kitô, cũng được Thiên Chúa cho sống. Nhưng mỗi người theo thứ tự của mình: mở đường là Đức Kitô, rồi khi Đức Kitô quang lâm thì đến lượt những kẻ thuộc về Người. Sau đó mọi sự đều hoàn tất, khi Người đã tiêu diệt hết mọi quản thần, mọi quyền thần và mọi dũng thần, rồi trao vương quyền lại cho Thiên Chúa là Cha.” (1 Cr 15:20-24)

Chúa Giêsu đã đau khổ tột cùng nên hoàn toàn hợp lý khi Ngài có toàn quyền: “Đức Kitô phải nắm vương quyền cho đến khi Thiên Chúa đặt mọi thù địch dưới chân Người. Thù địch cuối cùng bị tiêu diệt là sự chết, vì Thiên Chúa đã đặt muôn loài dưới chân Đức Kitô. Mà khi nói muôn loài thì dĩ nhiên không kể Đấng đặt muôn loài dưới chân Đức Kitô.” (1 Cr 15:25-27) Đức Kitô là Chúa Con, Ngôi Hai Thiên Chúa, mà Chúa Cha với Chúa Con chỉ là MỘT: “Lúc muôn loài đã quy phục Đức Kitô thì chính Người, vì là Con, cũng sẽ quy phục Đấng bắt muôn loài phải quy phục Người; và như vậy, Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài.” (1 Cr 15:28)

Thời quân chủ, vua cho sống thì được sống, vua bảo chết thì phải chết, cái chết đó được coi là trung thành. Có những trung thần đã dám xin được chết để minh chứng lòng trung thành với vua. Người ta không được phép nhìn mặt vua và phải tránh những chữ có “liên quan” nhà vua, phải đọc “trại” đi (trường – tràng, sinh – sanh, bảo – bửu,...), thậm chí muốn tâu bẩm cũng phải tránh né: “Muôn tâu bệ hạ!” – tức là tâu cái bệ rồng của vua ngồi mà thôi. Ôi, cái ghế vua ngồi còn đáng giá hơn thần dân. Nhưng với Vua Giêsu thì không sợ “phạm húy,” cứ thân thưa thẳng thắn: “Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội chúng con! Lạy Chúa Giêsu, chúng con tín thác vào Ngài.”

ĐỨC VUA CÔNG MINH CHÍNH TRỰC

Thiên Chúa “xét xử địa cầu theo đường công chính, xét xử muôn dân theo chân lý của Người, và xét xử muôn dân theo lẽ công bình.” (Tv 96:13 và Tv 98:9)

Trình thuật Mt 25:31-46 nói về thời điểm Vua Kitô xét xử nhân loại. Về cuộc phán xét chung, Chúa Giêsu dùng hình ảnh thực tế: Chiên và Dê. Hình ảnh gần gũi với đời sống. Chiên là loài động vật hiền, mỗi lần bị xén lông rất đau nhưng nó không hề kêu hoặc phản ứng và có hình dáng “bắt mắt,” còn dê là loài động vật có thể phản ứng dữ dội và có hình dáng “khó nhìn.” Chiên là người lành, dê là kẻ dữ. Rất dễ hiểu.

Chúa Giêsu đã vâng lời Chúa Cha và chịu chết để cứu độ nhân loại, thế nên Ngài có quyền phân xử, nhưng hoàn toàn công minh chính trực. Khi Ngài đến thế gian lần thứ hai có các thiên sứ theo hầu, và Ngài sẽ ngự trên ngai vinh hiển. Ngài tập hợp các dân thiên hạ trước mặt Ngài, rồi Ngài sẽ tách biệt họ như mục tử tách biệt chiên với dê. Ngài cho chiên đứng bên phải, còn dê ở bên trái. Bấy giờ Thiên Vương Giêsu nói với những người ở bên phải: “Nào những người được Cha Tôi chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho quý vị ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Tôi đói, quý vị đã cho ăn; Tôi khát, quý vị đã cho uống; Tôi là khách lạ, quý vị đã tiếp rước; Tôi trần truồng, quý vị đã cho mặc; Tôi đau yếu, quý vị đã thăm viếng; Tôi ngồi tù, quý vị đã đến hỏi han.” (Mt 25:34-37)

Nghe Vua Kitô nói vậy, họ ngạc nhiên vì họ chưa hề thấy Chúa gặp hoạn nạn mà giúp đỡ, nhưng Chúa Giêsu xác định: “Mỗi lần quý vị làm như thế cho một trong những anh chị em bé nhỏ nhất của Tôi, là quý vị đã làm cho chính Tôi vậy.” (Mt 25:41) Thật lạ lùng quá chừng!

Tương tự, Đức Vua nói với những người ở bên trái những điều như đã nói với những người bên phải, chỉ khác chữ KHÔNG. (Mt 25:42-44) Và họ cũng ngạc nhiên và phân bua, nhưng Ngài nói thẳng: “Mỗi lần quý vị KHÔNG làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là quý vị đã KHÔNG làm cho chính Tôi vậy.” (Mt 25:46) Hết lý lẽ để biện minh, họ đành lủi thủi ra đi để chịu cực hình muôn kiếp. Đó là công bình: Tốt được thưởng, xấu bị phạt. Có điều lạ là không thấy Chúa đề cập tội này hay tội nọ, Ngài chỉ thẩm vấn HAI điều: Sử dụng vốn sống thế nào để sinh lời, (Mt 25:14-30) và thực hành đức ái. (Mt 25:31-46)

Đức Vua không thiên vị ai, không thể lấy cớ mình là “ông này” hay “bà nọ” để được ưu tiên. Có lẽ chúng ta nghe nhiều và nhàm tai, rồi cứ tưởng Chúa vui tính, thích đùa dai. Số phận thành Sôđôma và Gômôra bị thiêu rụi đã quá hiển nhiên, rồi hằng năm có nhiều vụ “thiên tai” nhưng người ta vẫn “bình chân như vại,” thích những “sự lạ” chứ không muốn hiểu “triệu chứng” của một căn bệnh trầm kha bất trị. Thiên tai hay nhân tai? Việt Nam cũng không loại trừ. Người ta cứng lòng, tự mãn, hay giả mù sa mưa?

Thực sự không hề dễ để có thể nhận ra Chúa nơi người khác, nhưng đó là điều Chúa Giêsu đề cao: Mỗi lần chúng ta giúp đỡ, yêu thương, chia sẻ, thiện cảm, vui cười, nói dễ nghe, cư xử tốt, cầu nguyện cho người khác,… đó là chúng ta làm cho chính Thiên Chúa. Người khác là tha nhân, là bất kỳ ai, dù không quen biết, thậm chí là kẻ thù. Thật tuyệt vời với cách suy luận của đại văn hào Victor Hugo: “Ai cho kẻ khốn cùng là đã cho Thượng đế vay.”

Yêu thương là xót thương, Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta đến cùng, (Ga 13:1) Ngài không phạt nhãn tiền vì Ngài nhẫn nại chờ chúng ta sám hối, đợi chúng ta tín thác vào Lòng Thương Xót vô biên và sâu thẳm của Ngài, điển hình là qua Bí tích Hòa giải và Thánh Thể. Không được tha thứ là tại chúng ta cố chấp mà thôi. Alfred Mortier nói: “Mọi người đều nói đến quyền lợi, không mấy ai nói đến bổn phận.” Thật vậy, chúng ta van xin Chúa ban “miễn phí” cho chúng ta đủ điều, nhưng lại không muốn hy sinh, chỉ muốn tránh né “cái khó” càng nhiều càng tốt. Như vậy thì chúng ta không công bằng với Chúa, cũng có nghĩa là chúng ta bất công với Ngài.

Chúa Giêsu là Vua các vua nhưng không được tiền hô hậu ủng, không xa giá, chỉ một lần duy nhất được tung hô vạn tuế khi Ngài cưỡi lừa vào thành Giêrusalem trước dịp lễ Quá Hải (Vượt Qua), thế nhưng chỉ vài ngày sau là họ lật mặt mau hơn trở bàn tay: “Đóng đinh nó vào Thập Giá.” (Mt 27:22-23; Mc 15:13-14; Lc 23:21; Ga 19:6; Ga 19:15) Quả thật, chúng ta cũng chẳng hơn gì dân xưa.

Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng, suốt ba năm hoạt động công khai, hằng ngày Ngài đích thân rong ruổi khắp mọi nẻo đường, đến tận các hang cùng ngõ hẻm để giáo huấn và chia sẻ nỗi đau khổ của những người nghèo khổ nhất, đặc biệt là Ngài luôn tôn trọng nhân vị, nhân phẩm và nhân quyền của mọi người. Là Vua với đầy quyền lực trong tay, nhưng Ngài đã thực hiện đúng như đã nói: “Ai làm lớn phải phục vụ.” (Mt 20:24-28; Mc 10:40-45) Ngài không cậy quyền, không ỷ thế, nói và làm gì cũng dựa trên nền tảng yêu thương, ngôn hành luôn song song, thậm chí Ngài còn làm nhiều hơn nói. Thật diễm phúc khi chúng ta là thần dân của Vua Kitô Giêsu!

Lạy Đức Vua Kitô Giêsu, xin tỏ cho con thấy tình thương của Ngài và ban ơn cứu độ cho con. (Tv 85:8) Xin Ngài nhớ đến con bởi lòng thương dân Ngài, xin ngự đến viếng thăm mà ban ơn cứu độ. (Tv 106:4) Xin Ngài đứng dậy mà xét xử địa cầu, vì chính Ngài làm chủ muôn dân. (Tv 82:8) Xin thương tha thứ, nâng đỡ, che chở, độ trì, soi sáng và hướng dẫn con trong Chân Lý và Tình Yêu cao cả. Ngài là Đấng Cứu Độ duy nhất, hằng sinh, đồng hiển trị cùng Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. Amen. mục lục

CHÚA KITÔ, VUA HÒA BÌNH

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Gần nửa thế kỷ, từ năm 1870-1914, Hội Thánh liên tục đối diện nhiều khó khăn. Trong những khó khăn ấy, rất nhiều đe dọa có thể gây nguy hiểm cho Hội Thánh về mặt đức tin cũng như ngoại giao, kinh tế và nền hòa bình. 

Bằng chứng, nước Tòa Thánh từng bị giải thể. Ngày 22.9.1870, người Ý tiến vào và chiếm đóng Rôma. Đến ngày 2.10, Tòa Thánh và chính quyền Rôma mở cuộc trưng cầu dân ý. Người ta nhất trí, nước Tòa Thánh phải thuộc đất Ý. Ba tuần sau, chính quyền Ý tuyên bố Rôma là thủ đô của Ý. 

Lãnh thổ mất, sứ mạng Hội Thánh không mất. Cùng cuộc phát kiến đất mới khắp nơi, lịch sử Hội Thánh từ đó sang trang: Hội Thánh bung ra thế giới. 

Người ta nhận ra thánh ý Chúa nhiệm mầu và lớn lao: Lãnh địa bị mất, nhường chỗ cho vương quốc tinh thần lan rộng. Chúa sử dụng hoàn cảnh tưởng chừng khó khăn để tạo những thuận lợi lớn chưa từng có: phong trào truyền bá Phúc Âm lan nhanh. Công tác truyền giáo gặt hái nhiều thành công.

Tuy nhiên, bất ổn trên thế giới ảnh hưởng đến thế giới Công giáo không nhỏ. Thực tế Tòa Thánh bị giải thể. Người Công giáo gặp khó khăn: họ chạm trán nhiều đe dọa cho an ninh của mình, lẫn những thử thách riêng trong nội bộ. Nhiều nơi, Công giáo bị nghi kỵ, ruồng rẫy, bị xem là sự cản trở những mưu toan thâm hiểm của nhiều quốc gia... 

Cuối thế kỷ XIX, do các đế quốc đi tìm và tranh giành thuộc địa cùng nhiều lý do, đã có những mâu thuẫn ngấm ngầm hay những cuộc chiến lớn nhỏ. Chúng ta ghi nhận bốn cuộc chiến lớn:

- Chiến tranh Mỹ – Tây Ban Nha (1898). Mỹ chiếm Cuba và Philippine.

- Chiến tranh Anh – Buren (1899-1902): Anh chiếm hai quốc gia của người Buren, sáp nhập họ vào Nam Phi.

- Liên quân tám đế quốc can thiệp vũ trang vào Trung Quốc (1900) đàn áp phong trào Nghĩa Hòa Đoàn.

- Và từ 1904-1905, Nga – Nhật tuyên chiến.

Bất ổn âm ỷ lâu ngày, đến lúc phát nổ. Năm 1914, chiến tranh thế giới lần I bắt đầu. Nó khiến cả nhân loại sống trong hận thù, giết hại, máu đổ khắp nơi.

Lý do chủ yếu của cuộc chiến: Các đế quốc tranh chấp về ảnh hưởng và quyền lợi trên các thuộc địa. Thế giới hình thành hai phe kình địch nhau: Khối Liên Minh gồm Đức, Áo Hung, Ý - Khối Hiệp Ước gồm Anh, Pháp, Nga. 

Chiến tranh thế giới lần I đưa tới kết quả thảm khốc: tám triệu người chết; 20 triệu người bị thương; kinh tế thế giới kiệt quệ; bản đồ thế giới sắp xếp lại. 

Giữa cảnh thương tâm cho thế giới, người Công giáo đón nhận tin mừng và hạnh phúc trọng đại: Năm 1917, liên tiếp từ tháng Năm đến tháng Mười, tại Phatima ở Bồ Đào Nha, Mẹ Thiên Chúa nhiều lần viếng thăm thế giới. Qua ba trẻ chăn đàn vật, Đức Maria, Đấng được tuyên xưng là Nữ Vương Hòa Bình, đã an ủi thế giới nói chung và con cái mình là Hội Thánh nói riêng.

Ngoài mệnh lệnh Đức Mẹ đòi tín hữu ăn năn đền tội, siêng lần chuỗi, tôn sùng Trái tim Đức Mẹ, Đức Mẹ còn tiên báo: chiến tranh thế giới sắp kết thúc.

Đúng như lời Đức Mẹ, cuối năm 1918, đại chiến kết thúc. Chiến tranh tự nó đã khủng khiếp. Giờ đây, chiến tranh đi qua, hậu quả nó để lại còn khủng khiếp hơn: hàng đoàn người đói khắp nơi. Nhân loại gánh vô vàn sự đổ nát, tan vỡ và thiếu thốn trầm trọng. Thế giới phải bắt tay xây dựng lại. 

Sau những tương tàn, giết hại nhau quá sức đau lòng, năm 1925, Đức Piô XI thiết lập lễ Chúa Kitô Vua Vũ Trụ, với một lý do quan trọng: Hiến dâng thế giới và nền hòa bình của nhân loại cho Chúa Kitô. Bởi chỉ có Chúa Kitô là Vua Hòa bình, là Chúa của sự bình an.

Thiết lập và tiếp theo là mừng lễ Chúa là Vua Vũ Trụ hàng năm, Hội Thánh xin Chúa, vì tình thương, hãy làm cho thế giới được bình an. Xin Chúa giải phóng con người khỏi nỗi sợ hãi của chiến tranh bạo tàn. 

Thời buổi chúng ta đang sống, hầu như không ngày nào thế giới bình yên, nhân loại khó hưởng hạnh phúc trọn vẹn. Thế giới đầy cảnh chém giết. 

Ta cầu xin Vua Tình Yêu ban cho thế giới bình an. Xin cho lòng ta cũng bình an, đừng hận thù, đừng nuôi lòng oán ghét anh em. Xin Chúa thương giải thoát thế giới khỏi chiến tranh, tai ương và giết chóc kinh hoàng.

Đặc biệt, dịch tễ corona đang trở nên kẻ thù mạnh nhất của nhân loại. Nó giết chết gần một triệu bốn trăm ngàn người. Nhân loại vẫn loay hoay tìm cách chữa trị mà chưa có phương pháp ngăn chặn khả dĩ. Con số người chết vì dịch tễ chắc chắn tăng lên từng ngày.

Trong nỗi sợ, chúng ta hãy hiến dâng thế giới, hiến dâng sự an nguy của nhân loại cho Chúa Kitô. Xin Chúa, Đấng là Vua Hòa bình, là Chúa Bình an, hãy mở tay ban phúc lành cho nhân loại. Xin Chúa thống trị mọi sự dữ trong thiên nhiên, trong lòng người trên khắp thế giới. mục lục

CHÚA GIÊSU LÀ VUA

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Chúa Nhật cuối cùng của năm phụng vụ, Giáo hội long trọng cử hành lễ Chúa Kitô là Vua vũ trụ với niềm vui khôn tả và quả quyết rằng Người là Vua và là Chúa chúng ta. Nhưng vương quốc của Người không thuộc về thế gian này.

Vậy Người là Vua những gì? Người là Vua vinh quang, Vua mọi sự. Đơn giản, Người là Vua, hoàn toàn là Vua. Thực tế xem ra khó chấp nhận, vì con người muốn biến Đức Giêsu thành trò cười khi mặc cho Người áo tím và đội vòng gai.

Theo Kinh Thánh, Thiên Chúa là Vua dân Ngài tuyển chọn. Tước hiệu này được gán cho Chúa Kitô, chính nơi Người mà mạc khải được hoàn tất. Người đã khai mở triều đại Thiên Chúa bằng chiến thắng trên sự chết, khước từ vương quốc nhân loại sau khi làm phép lạ hóa bánh ra nhiều: "Biết họ muốn tôn phong Người lên làm vua" (Ga 6, 5). Người sẽ thể hiện ý nghĩa tuyệt đối về vương quốc của Thiên Chúa trên thập giá. Bị kết án bởi những tham vọng của vương quốc thế trần, nhưng chiến thắng bằng vương quốc vĩnh cửu, yêu thương và an bình.

Khi nói đến tước hiệu "vua" một số người thường nghĩ ngay đến quyền lực và sức mạnh tuyệt đối. Nhưng quyền ở đây là gì? Đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe có câu trả lời. Đó là quyền sống đời đời! Vậy câu hỏi được đặt ra: chúng ta trao quyền đó cho ai? Chính chúng ta cũng không có quyền sống đời đời, làm sao chúng ta có thể trao ban cho người khác? Ngay cả sự sống chúng ta lãnh nhận, chúng ta cũng không thể tặng ban cho chính mình, huống hồ là sự sống thần linh, sự sống đời đời.

Chúng ta lãnh nhận sự sống từ Thiên Chúa, chỉ mình Thiên Chúa mới có thể trao ban sự sống ấy. Chúa Cha đã trao cho Chúa Con quyền này, và đặt vào tay Chúa Con, nên Chúa Con là Vua vũ trụ. Lời nguyện Thánh lễ hôm nay cho thấy Thiên Chúa muốn thiết lập mọi sự nơi Con yêu dấu của Ngài là Vua vũ trụ "Chúa Giêsu là nền tảng của chúng ta, nơi Người chúng ta đặt mọi hy vọng". Chúng ta biết, muốn xây dựng một lâu đài cao vút, thì nền móng phải vững chắc và đáng tin. Vậy, Chúa Giêsu là đá tảng từ trời xuống đặt nền trên trái đất để xây dựng một nhân loại mới lên tới trời!

Đời sống chúng ta được xây dựng trên Chúa Kitô, đức tin càng chắc chắn và sống động thì sự hiện hữu của chúng ta càng gắn bó chặt chẽ với Thiên Chúa. Chính bởi nghe và đồng hóa với Lời Thiên Chúa mà đức tin chúng ta trở nên chắc chắn và lớn lên trong Đức Kitô.

Lời cầu nguyện đầu lễ: "Xin cho hết mọi loài thọ sinh đã được cứu khỏi vòng nô lệ tội lỗi… " Một trong những thuộc tính của vị vua là bảo vệ thần dân, giải phóng dân của mình khỏi tay quân thù; Chúa Kitô Vua đã giải thoát chúng ta khỏi vòng nô lệ của tội lỗi và sự chết. Hận thù, bạo lực, ngẫu tượng làm chúng ta thất vọng, Người đến giải thoát chúng ta khỏi mãnh lực của sự chết, khỏi nô lệ của mọi thứ vui, rượu chè, cờ bạc, sì ke, ma túy…

Lời Chúa trong sách Tiên tri Êdêkiel "Chính Ta sẽ chăn dắt các chiên Ta, chính Ta sẽ cho chúng nằm nghỉ, Chúa là Thiên Chúa phán như thế. Ta sẽ tìm con chiên đã mất, sẽ đem con chiên lạc về, sẽ băng bó con chiên bị thương tích, sẽ lo chữa con chiên bị ốm đau". (Ez 34, 15-16).

Và khi giải thoát chúng ta, Đức Kitô đã đưa ra khỏi tình trạng nô lệ để chúng ta trở nên những người tự do. Chính tình yêu cho phép chúng ta sống sự sống của Thiên Chúa nơi con người, và phục vụ đồng loại trong yêu thương khi trao ban cho người đói đồ ăn, người khát thức uống, cho khách đỗ nhờ, cho người mình trần áo mặc, viếng thăm kẻ bị giam cầm, an ủi người cùng khổ; tóm lại, yêu thương và phục vụ con người là trả lại cho anh em đồng loại phẩm giá bị đánh mất. Đây chính là điều Đức Giêsu đã làm để giải thoát con người.

Sau cùng, Đức Kitô có quyền xét xử. Chính người tuyên án: "Mỗi lần các ngươi đã làm (hay các ngươi đã không làm) cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây là các ngươi đã làm (hay các ngươi đã không làm) cho chính Ta". (Mt 25, 40.45).

Chúng ta không thể chiếm lấy gia nghiệp Nước Trời đã chuẩn bị từ tạo tiên lập địa cho những ai phục vụ trong yêu thương. Chỉ người sống yêu thương mới có chỗ trong triều đại sự sống và chân lý, ân sủng và thánh thiện, công chính, yêu thương và an bình của Thiên Chúa.

Lời cầu nguyện Ca hiệp lễ kết thúc bằng lời cầu xin: "cho hết mọi loài thọ sinh (…) biết phụng thờ Chúa là Đấng cao cả uy linh và không ngớt lời ngợi khen chúc tụng".

Nếu Đức Kitô Vua đã chiến đấu cho đến chết, thì các thần dân cũng phải chiến đấu. Vì thể chế xã hội loài người không muốn Đức Kitô cai trị trên họ nên họ chiến đấu chống lại Đức Kitô.

Nếu chúng ta là thần dân của Đức Kitô, chúng ta phải cầm vũ khí tốt để chiến đấu, vũ khí ấy là: chuyên cần cầu nguyện, siêng năng lãnh nhận các bí tích, sự chúc lành của Thiên Chúa chỉ cho chúng ta trước cuộc chiến đấu, biết chiến thắng cuối cùng của Thiên Chúa và của Đức Kitô trên mọi sức mạnh của sự dữ.

Chúng ta chỉ còn đặt mình dưới sự hướng dẫn của Vua Kitô, sống trung thành với Người như những tôi tớ, can trường trong đức tin, nhiệt thành trong đức mến, để một ngày kia, chúng ta có thể nghe Vua Kitô nói với chúng ta rằng: "Hãy đến, hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy lãnh lấy phần gia nghiệp là Nước Trời đã chuẩn bị cho các ngươi từ khi tạo dựng vũ trụ" (Mt 25, 34).  

Lạy Chúa Giêsu là Vua các vua, Chúa các chúa, Vua của vũ hoàn. Chúng con cùng với muôn loại thụ tạo cung chúc tôn thờ và cảm tạ Vua Giêsu, Vua Tình Yêu. Xin cho đời chúng con thành lời ca ngợi, luôn làm theo ý Vua vũ hoàn, nhiệt thành phục vụ Chúa và tha nhân. Lạy Đức Giêsu Kitô là Vua vũ trụ, mọi vinh quang và danh dự cho Thiên Chúa Cha đến muôn đời. Amen. mục lục

NHÂN QUẢ

Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

Bạn biết NHÂN QUẢ có nghĩa là gì không? Rất đơn giản, theo nghĩa đen, NHÂN là hạt, QUẢ là trái, ta gieo hạt nào thì ta sẽ hưởng quả ấy. Còn theo nghĩa bóng thì NHÂN QUẢ là HẬU QUẢ hay KẾT QUẢ của việc ta đã làm. Nếu tôi làm những việc độc ác, bất lương ... thì tôi sẽ phải gánh chịu những HẬU QUẢ BI THƯƠNG. Còn khi tôi làm những việc tốt lành, làm với tấm lòng quảng đại, không nhỏ hẹp... thì tôi sẽ nhận được những KẾT QUẢ TỐT ĐẸP.

NHÂN QUẢ không chỉ là thuyết của nhà Phật, nhưng cũng là niềm tin của chúng ta, những Kitô Hữu nữa. Vì Kinh Thánh có chép, "Kẻ làm điều ác lãnh đồng lương hư ảo, người gieo công chính được phần thưởng vững bền. Kẻ gieo tai ác sẽ gặt tai ương, nó đã tàn phá, ắt sẽ tàn lụi" (Cn 11:18; 22:8). Và sách Huấn Ca cũng khuyên nhủ người ta rằng: "Con ơi, đừng gieo trên những luống bất công, kẻo phải gặt bất công gấp bảy lần (7:3).

Trong bài Tin Mừng của lễ Chúa Kitô Vua hôm nay, Chúa Giê-su đã nói về NHÂN QUẢ. "Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; ngồi tù, các ngươi đến hỏi han" (Mt 25:34-36). Chúa Giê-su đã mạc khải cho chúng mình biết, khi còn sống, nếu bạn và tôi rộng rãi chia sẻ, cho đi cơm áo, gạo tiền, biết quan tâm tới những kẻ cùng khốn, kém may mắn...thì trong ngày phán xét, chúng mình sẽ được chính Thiên Chúa ân thưởng.

Còn nếu khi còn ở dương gian, bạn và tôi mà sống keo kiệt, bủn xỉn, ích kỷ, chỉ khư khư giữ cho mình, không chịu làm việc thiện, không muốn chia sẻ, không màng giúp đỡ cho những người nghèo khổ, làm ngơ và dửng dưng trước những đau khổ của tha nhân, thì trong ngày phán xét, chúng mình sẽ phải gánh chịu những hậu quả vô cùng bi đát, sẽ phải xa lìa Thiên Chúa một cách vĩnh viễn: "Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng" (Mt 25:41-43).

Bạn thân mến, nếu hôm nay, bạn tin rằng có NHÂN QUẢ, thì xin hãy cố gắng quan tâm đến những người kém may mắn, đến những bệnh nhân, đến ông bà cha mẹ, và hãy rộng rãi quảng đại làm việc bác ái, chia sẻ và cho đi, bởi vì "mỗi lần [ban và tôi làm phúc bố thí, chia cơm sẻ áo, thăm hỏi, chăm sóc ...] cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của [Chúa], là [chúng mình] đã làm cho chính [Chúa] (Mt 25:40).

Còn có một điểm quan trọng xin bạn đừng bao giờ quên, đó là Thiên Chúa sẽ ân thưởng cho bạn và tôi dựa trên những gì chúng mình đã CHO ĐI khi còn sống ở trần gian này, chứ Ngài không xét xử dựa trên những gì mà chúng mình CÓ đâu! Nói một cách khác, Đức Vua Giê-su sẽ không ân thưởng vì bạn và tôi có nhiều bằng cấp, lắm nhà nhiều xe cộ, có nhiều tiền bạc, lắm tài năng ... Nhưng Ngài chỉ ân thưởng cho chúng mình dựa trên những gì mà bạn và tôi đã CHO ĐI mà thôi. Vì thế, là người khôn ngoan, bạn và tôi hãy cố gắng rộng rãi và quảng đại CHIA SẺ càng nhiều càng tốt.

• Khi nghe tin chỗ này bị hỏa hoạn, bão lụt, chỗ kia bị động đất, bị sạt lở, nơi nọ bị hạn hán, đói ăn...xin hãy móc túi (của mình chứ không phải của người khác à nha!) mở cuốn check ra, hay lấy thẻ tín dụng ra để giúp đỡ cho họ.

• Khi nghe thông báo có quyên tiền lần thứ hai cho quỹ truyền giáo, cho các dòng tu, cho các chủng viện, cho quỹ hưu dưỡng của các linh mục tu sĩ, cho Holy Land, cho quỹ bác ái của Đức Giáo hoàng… thì xin đừng càu nhàu, đừng nhăn nhó và đừng than thở (xin lỗi, thở thì OK, nhưng nhớ thở nhẹ thôi kẻo Covid bay ra thì khổ cho những người chung quanh!) nhưng hãy vui vẻ hưởng ứng và quảng đại đóng góp và giúp đỡ.

• Khi Hội Đồng Giáo Xứ, các ông trùm ông quản...kêu gọi đến giúp cho công này việc nọ, khi cha xứ cần giúp công việc gì đó cho cộng đoàn giáo xứ, thì xin hãy mau mắn đến đem tài năng, thời giờ và công sức để cống hiến.

Thay cho lời kết, xin bạn cùng với tôi suy gẫm về lời khuyên dạy của Chúa Giê-su: "Cho thì có phúc hơn là nhận...Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy" (Cv 20:35; Lc 6:38).

Cho đi những của cải vật chất, chia sẻ cơm áo, gạo tiền, những thứ tạm bợ, mục nát, nay còn mai mất, những thứ không phải của mình, để đổi lấy hạnh phúc vĩnh cửu ở trên Thiên Quốc do Thiên Chúa ban tặng thì lời hay lỗ? Nếu bạn thấy là lời thì xin hãy cố gắng làm sao để đoạt được phần thưởng của Chúa ban trong ngày phán xét nhé!

Thế mới gọi là khôn! Cầu chúc bạn và những người thân của bạn luôn mạnh khỏe, vui vẻ và bình an trong tuần lễ mới này. mục lục

MẶC ĐỊNH

[Niệm ý Mt 25:31-46]

Cuộc đời lắm khổ, nhiều đau

Như phần cố định cài vào mặc nhiên

Cuộc đời có khốn mới khôn

Có dê xấu xí, có chiên hiền lành

Sống sao tùy ý riêng mình

Khôn hồn thì sống có tình với nhau

Khổ đau cuộc sống đã nhiều

Không thương thì cũng đừng gieo oán thù

Kiếp người chóng hết, mau qua

Chúa chẳng xét gì ngoài đức ái đâu

Trái tim ai cũng được trao

Là phần mặc định thương yêu trọn đời

Thiên Đàng, Hỏa Ngục hai nơi

Tùy mình chọn lựa rạch ròi từ nay

Chọn ngay từ cõi đời này

Nay sao, mai vậy, chẳng sai chút nào

Chúa không chấp lách gì đâu

Nhưng không thiên vị, xét theo việc làm

Muốn như dê hoặc như chiên

Tự do thực hiện ý riêng mỗi người. mục lục

Viễn Dzu Tử

CHÚA KITÔ VUA VŨ TRỤ

(Suy niệm từ Tin Mừng Mt 25,31-46)

Người sẽ đến trong vinh quang cao cả

Hầu cận Người là thiên sứ, thiên thần

Quanh ngai vàng Chúa ngự, sáng vô ngần

Dân thiên hạ tập trung trước Nhan Chúa.

Như mục tử thi hành việc chọn lựa

Chiên và dê hai loại đứng hai bên

Bên phải dành riêng cho các con chiên

Loại dê nọ bị đẩy về bên trái.

Lời phán quyết của Người thật quảng đại

Phán quyết Người là tuyệt đối công minh

Phán quyết Người khiến ta phải giật mình,:

Việc làm tốt, không làm, đều xét xử…

Vua Vũ Trụ xót thương người lữ thứ

Kẻ cơ hàn, đau yếu, bị tù đày

Người quan quả, cô đơn chịu đắng cay

Tất cả, Chúa coi là anh em Chúa.

“Ta khát! Ta khát!” Ôi lời vàng đá

Chúa Giêsu khi rời bỏ thế gian

Tình yêu Người tột độ đến đầy tràn

Thương toàn thể nhân loại nơi hoàn vũ.

Con xin Chúa cho con can đảm đủ

Để sẵn lòng phục vụ anh em con

Giúp tha nhân phần xác như phần hồn 

Là phục vụ Chúa đầy lòng thương xót. mục lục

(Thế Kiên Dominic)

VỊ THẨM PHÁN CÔNG MINH

Đến ngày chung cuộc nhân sinh 

Người là Thẩm phán uy linh ngự triều 

Sách vàng được mở phẳng phiu

Luật kia ghi một chữ YÊU rõ ràng.

Giữa đoàn Thiên sứ hàng hàng

Người là vua ngự ngai vàng oai phong 

Trước nhan thánh, muôn vạn dân

Đợi chờ phán xét công bằng nghiêm minh.

Ai vào được chốn thiên đình?

Người xây đức mến sống tình yêu thương 

Thấy người đau khổ sầu vương

Thực thi bác ái, khiêm nhường trao ban.

Nơi Người vũ trụ Bình an

Mọi loài mọi vật là con cái Người 

Chan hoà sức sống xinh tươi

Yêu thương trong một Chúa Trời khoan nhân.

Vua Kitô, Đấng hiến thân

Cho con hộ chiếu công dân Nước Trời 

Hiến chương Mến Chúa Yêu người

Chu toàn luật Chúa cuộc đời quang vinh.

Trong vương quốc chứa chan tình

Mỗi người hạnh phúc hiến mình cho nhau 

Vua Vũ Trụ, Đấng là đầu

Yêu thương Nhiệm Thể ân trao tình nồng. mục lục

Mic. Cao Danh Viện

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan