SUY NIỆM CHÚA NHẬT LỄ HIỂN LINH (03/01/2021)

02-01-2021 117 lượt xem

Lời Chúa: Is 60,1-6; Ep 3,2-3a.5-6; Mt 2,1-12

Mục Lục

ÁNH SÁNG CỦA CHÚA KITÔ THÌ MẠNH MẼĐTC Phanxicô 

ĐẤNG CỨU ĐỘ MUÔN DÂN - + ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

HÃY ĐỨNG LÊN, HÃY TOẢ SÁNG RA - Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

TRI THỨC và KHÔN NGOAN - Trầm Thiên Thu

TA VẪN ĐÁNG TIN ĐỂ CHÚA ĐƯỢC HIỂN LINH - Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

MỘT VÌ SAO VÀ MỘT TRÁI TIM - Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

"NGÔI SAO CỦA NGƯỜI” - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

PHẢI LÀM GÌ KHI GẶP THỬ THÁCH? - Lm Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

Thơ: ÁNH SÁNG HIỂN LINH - Trầm Thiên Thu

Thơ: CHÚA TỎ MÌNH CHO DÂN NGOẠI - (Thế Kiên Dominic)

ÁNH SÁNG CỦA CHÚA KITÔ THÌ MẠNH MẼ

ĐTC. Phanxicô 

Anh chị em thân mến,

Hôm nay chúng ta cử hành trọng thể lễ Hiển Linh, là sự tỏ mình của Thiên Chúa cho tất cả mọi dân tộc. Thật vậy, ơn cứu rỗi do Chúa Kitô thực hiện không có ranh giới, ơn ấy dành cho tất cả mọi người. Hiển Linh không phải là một mầu nhiệm nào khác nữa, đó chính là mầu nhiệm Giáng sinh, nhưng được nhìn dưới chiều kích ánh sáng: ánh sáng chiếu soi mọi người, ánh sáng được đón nhận trong đức tin và ánh sáng được mang đến cho người khác trong đức ái, trong việc làm chứng và loan báo cho Tin mừng.

Thị kiến của Isaia được tường thuật trong phụng vụ hôm nay (x. 60,1-6), vang lên trong thời đại chúng ta nhiều hơn bao giờ hết: “Kìa bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân” (c.2). Trong viễn tượng này, vị tiên tri đã loan báo về ánh sáng: Ánh sáng do Thiên Chúa ban cho Giêrusalem và ánh sáng đó được dành để soi đường cho mọi dân. Ánh sáng này có sức mạnh thu hút tất cả mọi người ở gần và ở xa, và mọi chư dân đều đi về phía ánh sáng (x.c3). Đó là một cái nhìn mở ra con tim, nới rộng hơi thở, mời gọi tới niềm hy vọng. Tất nhiên, bóng tối hiện hữu và đe dọa cuộc sống của mọi người trong lịch sử nhân loại, nhưng ánh sáng của Chúa thì mạnh mẽ hơn nhiều. Cần phải đón nhận ánh sáng vì ánh sáng có thể chiếu sáng tất cả mọi người. Nhưng chúng ta có thể tự hỏi: Ánh sáng này ở đâu vậy? Vị tiên tri đã thoáng thấy được nó từ xa, nhưng nó cũng đủ để cho trái tim của Giêrusalem được đong đầy một niềm vui khôn tả.

Ánh sáng này ở đâu? Đến lược thánh sử Matthêu kể về sự kiện các đạo sĩ (x. 2, 1-12), cho thấy ánh sáng này là Hài nhi Giêsu ở Bêlem, dẫu cho địa vị làm vua của Ngài không được mọi người chấp nhận. Thật vậy, một số người đã từ chối Ngài, chẳng hạn như Hêrôđê. Ngài là ngôi sao xuất hiện ở chân trời, là Đấng Mêsia được mong đợi, qua Ngài Thiên Chúa thực hiện vương quốc tình yêu, vương quốc công lý và hòa bình của mình. Ngài sinh ra không chỉ cho một số người mà cho tất cả mọi người, mọi dân tộc. Ánh sáng ban cho mọi dân tộc, ơn cứu rỗi dành cho mọi dân tộc.

Và việc “soi chiếu” này diễn ra thế nào? Làm thế nào ánh sáng của Chúa Kitô lan tỏa ở mọi nơi và mọi lúc? Chúa có phương pháp làm lan tỏa của mình. Ngài không thực hiện nó qua các phương tiện đầy uy quyền của các vua chúa trên thế gian này, những người luôn cố gắng tìm quyền để thống trị. Không, ánh sáng của Chúa Kitô lan tỏa qua việc rao giảng Tin mừng. Rao giảng, lời và chứng từ. Và với chính phương pháp này Thiên Chúa đã chọn để đến giữa chúng ta: sự nhập thể, tức là tự hiến cho người khác, gặp gỡ họ, chấp nhận thực tại của họ và mang đến cho mỗi người lời chứng niềm tin của chúng ta. Đây là cách mà ánh sáng của Chúa Kitô, là tình yêu, có thể chiếu soi nơi những người biết đón nhận và lôi kéo người khác. Ánh sáng của Chúa Kitô không phải được mở rộng chỉ bằng lời, bằng các phương pháp kinh doanh giả tạo… Không. Qua đức tin, lời nói, lời chứng: qua đó ánh sáng của Chúa Kitô được mở rộng. Ngôi sao là Chúa Kitô, nhưng chúng ta cũng có thể và phải là ngôi sao, vì anh chị em chúng ta, như các nhân chứng của những kho tàng đức hạnh và lòng thương xót vô biên mà Đấng Cứu chuộc ban tặng cách nhưng không cho tất cả mọi người. Ánh sáng của Chúa Kitô không mở rộng do chủ nghĩa tòng giáo, nhưng mở rộng nhờ lời chứng, nhờ việc tuyên xưng niềm tin, cũng như nhờ việc tử đạo.

Vì vậy, điều kiện là phải tự mình đón nhận ánh sáng, đón nhận ánh sáng ngày một hơn. Khốn cho chúng ta nếu chúng ta nghĩ rằng mình đang sở hữu nó, khốn cho chúng ta nếu chúng ta chỉ nghĩ rằng chúng ta chỉ cần “quản lý”  nó. Chúng ta cũng giống như các đạo sĩ, chúng ta được mời gọi luôn để cho mình được quyến rũ, lôi kéo, hướng dẫn, soi chiếu và hoán cải nhờ Chúa Kitô: đó là hành trình đức tin, qua việc cầu nguyện và chiêm niệm công trình của Thiên Chúa, để những điều đó liên tục đổ đầy trên chúng ta niềm vui và sự kinh ngạc, một sự kinh ngạc luôn luôn mới mẻ. Kinh ngạc luôn là bước đầu tiên để bước đi trong ánh sáng này.

Chúng ta cầu xin sự che chở của Đức Maria trên Giáo hội hoàn vũ, để Giáo hội có thể loan truyền cho toàn thể thế giới Tin mừng của Chúa Kitô, ánh sáng của tất cả mọi người và mọi dân. mục lục.

 

ĐẤNG CỨU ĐỘ MUÔN DÂN

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

Ngày lễ Hiển Linh trước đây được gọi là Lễ Ba Vua. Tên gọi lễ Ba Vua nhắc lại sự kiện ba nhà đạo sĩ từ phương Đông đến Belem để thờ lạy Hài Nhi Giêsu. Khi gọi là lễ Ba Vua, là chúng ta nhấn mạnh tới sự kiện. Còn khi nói Lễ Hiển Linh là chúng ta chú trọng tới ý nghĩa và nội dung của ngày lễ. Qua sự kiện ba nhà đạo sĩ đến thờ lạy Chúa Giêsu, Chúa tỏ mình ra cho muôn dân và khẳng định: Người là Đấng Cứu độ muôn loài. Khi Chúa Giêsu sinh hạ tại Belem, những người đầu tiên được đón tiếp Chúa là Đức Maria, Thánh Giuse và các mục đồng chăn chiên. Họ đều là những người Do Thái. Tuy thế, ơn Cứu độ mà Đức Giêsu mang đến cho nhân loại không chỉ dành cho người Do Thái, mà được dành cho mọi dân tộc trên thế giới. Cuộc viếng thăm của ba nhà đạo sĩ đến từ phương Đông đã nói lên điều đó. Vì lẽ đó mà Phụng vụ ngày nay gọi ngày lễ này là Lễ Hiển Linh, muốn nhấn mạnh tới ý nghĩa của sự kiện này. Cuộc lên đường đầy gian nan trắc trở của ba nhà đạo sĩ, vừa là thiện chí kiếm tìm Chân lý của các ông, vừa là lời mời gọi của Thiên Chúa gửi đến các ông để các ông đến tôn nhận vương quyền của Đấng Cứu thế. Ngôi sao lạ chính là biểu tượng của lời mời gọi đó.

Thiên Chúa là Cha chung của hết mọi dân tộc. Đức Giêsu là quà tặng của Chúa Cha cho nhân loại. Quà tặng ấy là bằng chứng hùng hồn về tình thương của Thiên Chúa. Thánh Gioan thánh sử đã viết: “Thiên Chúa yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một mình, để tất cả những ai tin vào Con của Ngài thì khỏi phải chết, nhưng được sống đời đời” (Ga 3,16). Như thế, những ai đón nhận Chúa Giêsu là đón nhận quà tặng từ Thiên Chúa Cha. Đón nhận Chúa Giêsu không dừng lại ở những công thức hay ngôn từ, mà còn là thiện chí thực hiện giáo huấn của Người. Nhờ thực thi giáo huấn của Chúa Giêsu, biết bao người đã từ bỏ tội lỗi và nên hoàn thiện. Món quà vô giá này, Thiên Chúa không ban cho riêng một dân tộc hay một cá nhân nào, nhưng hết thảy mọi người đều được mời gọi đón nhận quà tặng của Thiên Chúa. Qua sự kiện ba nhà đạo sĩ đến thờ lạy Hài Nhi Giêsu, Thiên Chúa muốn giới thiệu quà tặng đó cho muôn dân. Các lễ vật của các nhà đạo sĩ là vàng, trầm hương và mộc dược hàm chứa lời tôn vinh Chúa Giêsu là Thiên Chúa (qua biểu tượng Trầm hương), là Vua (Vàng) và Đấng Cứu thế (Mộc dược).

Tính phổ quát của ơn Cứu độ còn được diễn tả một cách đặc biệt qua Lời Chúa trong Bài đọc thứ nhất trích sách Ngôn sứ Isaia. Giêrusalem được giới thiệu như trung tâm thế giới, và từ đó vinh quang của Thiên Chúa toả lan. Ngày ấy, người khắp nơi sẽ tuôn về Thánh Đô. Các dân tộc, các nền văn hóa đều quy hướng về Chúa, các loại sản phẩm tượng trưng cho sự phong phú đang dạng của các dân tộc đều được mang về Giêrusalem để dâng cho Chúa. Đến với Giêrusalem là đến với Nhà Đức Chúa để tôn vinh và cảm tạ Ngài. Đây là một viễn tượng tương lai, vừa diễn tả Thiên Chúa là Cha chung của gia đình nhân loại, vừa cho thấy sẽ có ngày vinh quang Ngài toả lan đến tận cùng thế giới.

Đức Giêsu là Ánh sáng muôn dân, như lời Ngôn sứ Isaia: “Này đây Ta đặt con làm ánh sáng muôn dân, để con đem ơn Cứu độ của Ta đến tận cùng trái đất” (Isaia 49,6). Cuộc viếng thăm của ba nhà đạo sĩ đã làm cho những gì Bài đọc I diễn tả và lời ngôn sứ Isaia vừa trích dẫn được ứng nghiệm. Với ánh sao chỉ đường, ba nhà đạo sĩ đã “nhìn thấy” nơi Hài Nhi này là Vua và là Đấng Cứu độ. Họ đã đến thờ lạy Hài Nhi. Họ đã vượt đường xa dặm thẳm để đến với Belem. Cuộc gặp gỡ với Hài Nhi Giêsu đã làm họ thỏa mãn và quên hết mệt mỏi của chặng đường dài.

Cuộc tìm kiếm của ba nhà đạo sĩ phần nào phác họa đời sống đức tin của người Kitô hữu chúng ta. Bởi lẽ tin là một cuộc tìm kiếm liên lỉ, là một chuỗi liên tục những khám phá và những bất ngờ. Những ai nỗ lực tìm kiếm Chúa sẽ gặp được Ngài. Đức tin trước hết đòi chúng ta phải biết chấp nhận những hy sinh. Các nhà đạo sĩ là những người trí thức uyên thâm. Họ đã chấp nhận rời bỏ quê hương lên đường vì nhận ra thông điệp của một ngôi sao. Họ cũng khôn ngoan cân nhắc trước mưu mô của Hêrôđê. Ông ta lấy danh nghĩa đi thờ lạy Hài Nhi nhưng thực ra muốn ngấm ngầm giết hại vị Vua mới sinh. Trong đời sống đức tin, muốn được gặp Chúa, chúng ta cũng phải chấp nhận từ bỏ lối sống không phù hợp với giá trị Tin Mừng. Khi các nhà đạo sĩ bị lạc đường, họ không nản lòng, nhưng kiên trì tìm hiểu để thấy hướng đi cho mình. Mục đích được gặp vị Vua mới sinh đã cho các ông quyết tâm vượt qua mọi khó khăn gian khổ. Các ông nêu gương cho chúng ta về sự kiên nhẫn và hy vọng. Quả thế, trong hành trình tìm kiếm Chúa, có những lúc chúng ta nản chí vì những thử thách gian nan. Sự kiên trì và cậy trông chắc chắn sẽ giúp ta tìm thấy Chúa và gặp gỡ Ngài.

Nếu ba nhà đạo sĩ đã cất công lên đường tìm cho bằng được Hài Nhi mới sinh, thì những nhà chuyên viên Kinh Thánh kiến thức uyên thâm lại dửng dưng với việc Đấng Cứu thế ra đời. Đây là một nghịch lý vẫn tồn tại ở mọi thời. Chi tiết này cho ta thấy tìm kiếm và tôn thờ Chúa không phải chỉ trong sách vở và lý thuyết suông, nhưng còn là nỗ lực để gặp được Chúa trong cuộc đời. Không chỉ dửng dưng với việc Đấng Cứu thế hạ sinh, Hêrôđê gian ác còn sợ vị Vua mới sinh cướp mất ngai vàng của mình, nên đã ra kế hoạch giết hại vị Vua ấy.

Nếu Đức Giêsu là Đấng Cứu độ muôn dân, thì không còn sự phân biệt dân Do Thái với dân ngoại, vì tất cả đều được quy hướng về Thiên Chúa. Mọi lời chúc tụng tôn vinh đều dâng về Ngài. Thánh Phaolô đã khẳng định với tín hữu Êphêsô: “Trong Đức Kitô Giêsu và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa”. Như vậy, ngày lễ Hiển Linh nhắc chúng ta vinh dự lớn lao Chúa ban. Bởi lẽ, chúng ta trước đây đều là “dân ngoại”, nhưng nhờ Bí tích Thanh tẩy, chúng ta được kết hợp với Đức Giêsu. Chúng ta được gọi là con Thiên Chúa. Nếu năm xưa ba nhà đạo sĩ đã nhờ ngôi sao chỉ đường để đến thờ lạy vị Vua mới sinh, thì hôm nay, mỗi Kitô hữu được mời gọi trở nên một ngôi sao toả sáng giữa cuộc sống đầy ồn ào náo nhiệt và bon chen tính toán. Bởi lẽ, nhờ Bí tích Thanh tẩy, chúng ta được trở nên ánh sáng trần gian, vì được kết hợp với Đức Kitô là Ánh Sáng ngàn đời từ Thiên Chúa Cha, Đấng là cội nguồn ánh sáng. Các Kitô hữu trở nên ngôi sao sáng khi cố gắng sống trung thực, với lương tâm ngay thẳng và với tâm hồn thánh thiện. Những đức tính này có sức thuyết phục mạnh mẽ đối với anh chị em không cùng niềm tin, và như thế, họ nhận ra Đức Giêsu và giáo huấn của Người.

Sau khi gặp gỡ và thờ lạy Chúa Giêsu, ba nhà đạo sĩ đã “đi lối khác mà về xứ mình”. “Đi lối khác” là kết quả của cuộc gặp gỡ với vị Vua mới sinh. “Đi lối khác” cũng là để tránh gặp Hêrôđê đang manh tâm tìm cách xuyên tạc và phủ nhận sự thật. Người tín hữu, sau khi mừng lễ Giáng Sinh cũng cần tìm ra một lối đi mới cho đời mình, nghĩa là đoạn tuyệt với lối sống cũ còn đầy khuyết điểm, gian tham và ích kỷ. Đó chính là hành trình gặp gỡ Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu độ trần gian.

Lạy Chúa Giêsu là Ánh Sáng trần gian, xin chiếu rọi những góc khuất trong cuộc đời chúng con, nhờ đó, chúng con có thể chiếu toả ánh sáng trong đời sống hằng ngày. Xin hãy giúp chúng con để mỗi Kitô hữu trở nên một ánh sao chỉ đường cho nhiều người biết Chúa là Đấng Cứu độ và là Vua vinh quang. Amen. mục lục.

HÃY ĐỨNG LÊN, HÃY TOẢ SÁNG RA

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Lễ Chúa Hiển Linh trước hết có nghĩa là lễ Chúa tỏ mình ra cho muôn dân. "Epiphaino" có nghĩa là Thiên Chúa tự mặc khải trong nhân tính của Ðức Kitô, tự làm cho mình có thể trông thấy được.

Trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, Con Thiên Chúa không những chỉ xuống thế làm người trên mặt đất này, mà còn để cho con người nhìn thấy ; Người không chỉ có sinh ra, nhưng còn để con người biết đến và thờ lạy. Đây là sự thật nhãn tiền được biểu lộ trong ngày lễ Hiển Linh, ngày Chúa tỏ mình ra cách rõ nhất mà hôm nay chúng ta mừng kính. 

Chúa là Ánh Sáng

Lễ Hiển Linh là mầu nhiệm ánh sáng, ánh sáng được diễn tả qua biểu tượng ngôi sao hướng dẫn cuộc hành trình của các nhà đạo sĩ. Chúa Kitô chính là Ánh Sáng Thật, là “sự lóe rạng mặt trời đức nghĩa” (Ml 3, 20); “Mặt Trời mọc lên từ trên cao” (x. Lc 1,78) toả sáng trên trần gian.

Ánh sáng của Chúa Kitô chiếu toả đến ba nhà Ðạo Sĩ, hoa quả đầu mùa từ các dân ngoại : “Lúc nhìn thấy ngôi sao, họ hết sức vui mừng… và họ đã quỳ gối xuống sụp lạy Người” (Mt 2,11). Trong khí đó, “cả nhà vua cùng các đại giáo trưởng và luật sĩ trong dân” (Mt 2,3) còn nằm trong bóng đêm, nơi mà tin tức về Ðấng Thiên Sai sinh ra, được thông báo một cách nghịch lý cho họ biết qua các vị Ðạo Sĩ, và khơi dậy không phải niềm vui mừng, nhưng là sự lo sợ và những phản ứng thù nghịch (x. Mt 2,3). Ý định của Thiên Chúa quả thật là nhiệm mầu: “Sự sáng đã đến trong thế gian, mà người ta đã yêu mến tối tăm hơn sự sáng, vì việc họ làm là điều xấu” (Ga 3,19).

Thánh Gioan viết : “Thiên Chúa là sự sáng, tối tăm không hề có nơi Người” (1Ga 1,5). Và ngài thêm: “Thiên Chúa là Tình Yêu”. Hai lời quả quyết trên giúp chúng ta hiểu rõ hơn rằng: Ánh sáng bừng lên trong đêm Giáng Sinh là Tình Yêu Thiên Chúa, được mạc khải nơi chính Đức Giêsu Con Thiên Chúa Nhập Thể làm người.

Ðược Thiên Chúa linh ứng, cụ Simêon bồng ẵm Hài Nhi Giêsu và thốt lên “là Ánh sáng đã chiếu soi lương dân và Vinh quang của Israel dân Chúa” (Lc 2,32). Ánh sáng chiếu soi mọi dân tộc, ánh sáng của lễ Hiển Linh phát xuất từ vinh quang của Israel dân Chúa, vinh quang của Ðấng Thiên Sai, mà theo Kinh Thánh, đã giáng sinh tại Bêlem, “thành của Vua Ðavít”. Các Ðạo Sĩ thờ lạy một Hài Nhi đơn sơ nằm trong đôi tay Mẹ Maria, bởi vì các ngài nhìn nhận nơi Con Trẻ này nguồn mạch của hai ánh sáng đã hướng dẫn các ngài: ánh sáng của ngôi sao và ánh sáng của Kinh Thánh. Các ngài tin nhận nơi Con Trẻ vị Vua của người Giuđêa, vinh quang của dân Israel, và cũng là Vua của tất cả mọi dân nước.

Ánh sáng chiếu tỏa trên địa cầu

Vào Lễ Nửa Đêm, Giáo Hội đã hô vang: “Con Một Chúa là nguồn ánh sáng thật đến soi chiếu trần gian làm cho đêm cựu thánh này bừng lên rực rỡ” (Lời nguyện nhập lễ Thánh lễ Đêm). Vào lúc rạng đông Giáo Hội lại cất lên lời nguyện như muốn khẳng định với thế giới rằng Chúa là Ánh Sáng: “Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, ánh sáng mới của Ngôi Lời nhập thể đã tràn ngập chúng con, và chiếu giãi niềm tin vào tận tâm hồn. Giờ đây, xin Chúa cũng làm cho ánh sáng ấy rực lên trong mọi sinh hoạt của chúng con” (Lời nguyện nhập lễ Thánh lễ Rạng Đông).

Quả thật, cách đây 2020 năm, Ánh Sáng Vĩnh Cửu có tên = là Đức Giêsu đã đến trần gian. Người là Con Thiên Chúa nhập thể làm người. Người mang thân phận con người như mỗi chúng ta, ngoại trừ tội lỗi. Người là Mặt Trời Công Chính xuất hiện để báo hiệu đêm đã tàn và ngày mới đến. Đêm đông lãnh lẽo Người sinh ra đời như ánh sáng bừng lên giữa đêm đen, đẩy lùi bóng tối và soi sáng cho nhân loại đang bước đi trong bóng đêm đen, bóng đêm tội lỗi. Trước khi Người sinh ra, Isaia đã thấy trước : “Đoàn dân đang lần bước giữa tối tăm, đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi” (Is 9,1). “Hôm nay, muôn dân đã được thấy ánh sáng. Hôm nay, Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người” (Thánh ca).

Giáo hội là ánh sáng

Trong khung cảnh phụng vụ của lễ Hiển Linh cũng được biểu lộ mầu nhiệm Giáo Hội và chiều kích truyền giáo của Giáo Hội. Giáo Hội được mời gọi làm chiếu sáng trong thế giới ánh sáng của Chúa Kitô, vừa phản chiếu ánh sáng đó nơi chính mình, như mặt trăng phản chiếu ánh sáng của mặt trời.

Giáo hội với sứ mạng phổ quát của mình, phải là nơi đáp ứng những khát vọng sâu xa của con người mọi nơi, mọi thời đại về Thiên Chúa. Giống như Chúa Kitô, Người đã chiếu tỏa vinh quang cho dân ngoại. Giáo hội cũng mời gọi chúng ta dõi theo ánh sao cùng ba nhà đạo sĩ đến chiêm ngắm và đón nhận chính Hài Nhi ấy là Ánh Sáng và là Chúa Kitô vào trong chúng ta, để chúng ta có sống là sống chính sự sống của Người, và lấy các tâm tình, tư tưởng và hành động của Người làm tâm tình, tư tưởng và hành động của chúng ta. Như thế, mừng Giáng Sinh là biểu lộ niềm vui, sự mới mẻ, ánh sáng mà biến cố Giáng Sinh này đã đem lại trong toàn cuộc sống chúng ta. Người kitô hữu sẽ phải thực hiện điều này là : “chiếu toả ánh sáng của chúng con trước mọi người, ngõ hầu nhờ thấy những việc tốt chúng con làm mà họ tôn vinh Cha chúng con trên trời” (Mt 5,16). Amen. mục lục.

TRI THỨC và KHÔN NGOAN

Thiều Quang Chiếu Soi Thấu Vùng Bóng Tối
Bóng Tối Tan Biến Nhường Ánh Thiều Quang (Ga 1:5)
Trầm Thiên Thu

Tri thức (hoặc kiến thức) gồm các dữ kiện, thông tin, cách mô tả, kỹ năng nhờ trải nghiệm cuộc sống hoặc được giáo dục. Vô tri bất mộ. Người ta yêu mến vì đã biết rõ và tin tưởng. Và đó là khôn ngoan.

Nhưng thế nào là khôn ngoan và khôn ngoan là gì? Kinh Thánh cho biết: “Bước đầu để đạt tới Đức Khôn Ngoan là thật lòng ham muốn học hỏi. Chăm lo học hỏi là yêu mến Đức Khôn Ngoan. Mà yêu mến là tuân giữ lề luật. Chú tâm tới lề luật của Đức Khôn Ngoan là bảo đảm được trường sinh bất tử.” (Kn 6:17-18) Các đạo sĩ thực sự là những con người có tri thức và khôn ngoan.

Sự khôn ngoan là một nhân đức cần thiết: “Đức Khôn Ngoan là kho báu vô tận cho con người. Chiếm được Đức Khôn Ngoan là được nên bạn hữu với Thiên Chúa, và được Người tin cậy, vì đã tiếp nhận những lời dạy dỗ bảo ban.” (Kn 7:14) Nhiều vấn đề có liên đới với nhau: “Kẻ có lương tri là có nguồn sự sống, sự dại khờ là hình phạt kẻ ngu si. Trí khôn ngoan làm miệng nên khéo léo và thêm sức thuyết phục cho đôi môi.” (Cn 16:22-23) Kinh Thánh còn cho biết điều lạ lùng: “Sự khôn ngoan làm cho người khôn mạnh hơn cả mười thủ lãnh trong thành.” (Gv 7:19) Không thể sống thiếu khôn ngoan, vậy thì chắc chắn phải tìm kiếm, bởi vì “trí khôn ngoan là cội rễ không thể nào hư hoại.” (Kn 3:15)

Các đạo sĩ đã quyết định tìm kiếm Nguồn Mạch của Đức Khôn Ngoan khi nhận biết điều kỳ diệu từ Ngôi Sao Lạ. Họ mau mắn lên đường dù biết sẽ gặp gian khó trên hành trình đức tin, và lòng thành của họ đã được đền đáp: Gặp được chính Thiên Vương Giêsu. Họ đã quên mình và tiến dâng Ngài những gì quý giá nhất trên đời này.

Người ta biết nhờ học hỏi và tìm hiểu, nhưng biết gì thì thực sự là vấn đề. Cái cần biết thì không biết, cái không cần biết thì lại biết. Hiểu biết điều hay thì tốt, hiểu biết điều xấu thì nguy hiểm – trức tiên là hại chính mình.

Chắc hẳn Hêrôđê là người hiểu biết, nhưng lại hiểu biết những thứ xấu xa. Ông không thật lòng muốn gặp Chúa bởi vì ông độc ác, nham hiểm, ích kỷ, tham quyền cố vị, ưa hình thức, trọng địa vị, khoái chức tước, thích quyền lực để hành hạ người khác. Có quyền hành mà hèn hạ, sợ người khác lấn quyền nên sát hại cả những trẻ thơ vô tội, thậm chí ông giết cả con trai của mình vì sợ nó chiếm ngôi báu. Vô cùng hèn hạ và độc ác!

Từ hàng ngàn năm trước, Thiên Chúa Cha đã hứa ban Ngôi Con, và nay đã ứng nghiệm: Ngôi Hai mặc xác phàm làm người ở giữa nhân loại. Ngài làm người để chia ngọt sẻ bùi với thân phận con người của nhân loại, và Ngài muốn tỏ mình ra cho muôn dân nhận biết Ngài, thế nhưng người nhà lại không chịu đón nhận Ngài khi Ngài đến nhà mình. (Ga 1:11)

Phàm nhân chúng ta chỉ là những kẻ nô lệ tội lỗi, nhưng số phận của chúng ta được chính Đức Giêsu đến biến đổi, và chúng ta còn được trở nên con cái của Thiên Chúa. Ngôn sứ Isaia kêu gọi: “Đứng lên, bừng sáng lên! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi. Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu toả trên ngươi. Kìa bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân; còn trên ngươi, Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa, vinh quang Người xuất hiện trên ngươi.” (Is 60:1-2) Đó là Ánh Sáng vinh quang của Thiên Chúa, là chính Đức Kitô giáng sinh tại Belem năm xưa, và từ nay, Ánh Sáng đó luôn chiếu tỏa khắp nơi, khiến bóng tối phải lùi bước mọi nơi và mọi lúc.

Chúng ta không chỉ được giải thoát và trở nên con cái của Thiên Chúa, mà còn được Ngài quan tâm, chăm sóc, nâng niu, chiều chuộng,... Quả thật, chúng ta không thể không vui mừng hớn hở với tâm hồn rạo rực. Thật diễm phúc biết bao!

Vì thế, “chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước. Đưa mắt nhìn tứ phía mà xem, tất cả đều tập hợp, kéo đến với ngươi: con trai ngươi từ phương xa tới, con gái ngươi được ẵm bên hông.” (Is 60:3-4) Trong số chư dân đó có chúng ta, những con dân nước Việt bé nhỏ, và trong số những người Việt, chúng ta lại được diễm phúc làm con cái của Thiên Chúa. Ánh Sáng Đức Kitô đã và đang chiếu sáng khắp đất nước hình chữ S thân yêu của dân Việt, không ngoại trừ ai.

Từ ngàn xưa, ngôn sứ Isaia tiên báo: “Trước cảnh đó, mặt mày ngươi rạng rỡ, lòng ngươi rạo rực, vui như mở cờ, vì nguồn giàu sang sẽ đổ về từ biển cả, của cải muôn dân nước sẽ tràn đến với ngươi. Lạc đà từng đàn che rợp đất, lạc đà Mađian và Êpha: tất cả những người từ Sơva kéo đến, đều mang theo vàng với trầm hương, và loan truyền lời ca tụng Đức Chúa.” (Is 60:5-6) Và rồi điều đó đã ứng nghiệm một cách kỳ diệu.

Nhận biết là điều không dễ, không phải cứ thấy là biết, nhìn ngoài mà có biết trong? Hài Nhi sinh ra nơi hang chiên lừa hôi tanh trong đêm tối ở cánh đồng hoang vu Belem kia lại chính là Tân Vương Nhi, là Thái Tử của Thiên Hoàng, ai thực sự tin? Dù người ta có tin hay không thì Ngài vẫn là Ngài, chính Ngài đến để giao hòa đất với trời, đồng thời cũng để “xét xử dân Ngài theo công lý, và bênh vực quyền lợi kẻ nghèo hèn.” (Tv 72:6)

Các vua chúa trần gian đi đâu cũng được tiền hô hậu ủng, kẻ hầu người hạ, nhưng Thiên Vương Giêsu lại khác, Ngài đến để phục vụ chứ không được ai phục vụ, Ngài “đến không để kêu gọi người công chính mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn,” (Lc 5:32) Ngài “đến để tìm và cứu những gì đã mất,” (Lc 19:9) và Ngài “đến để cho con người được sống dồi dào.” (Ga 10:10) Phong cách và hành động của Ngài có vẻ “lập dị” lắm, nhân loại không thể hiểu hết, thậm chí có những người không muốn hiểu. Bởi vì Ngài thấu suốt mọi sự, biết rõ tư tưởng của bất kỳ ai, Ngài cũng nói thẳng: “Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối của các ngươi không phải là đường lối của Ta.” (Is 55:8)

Tuy nhiên, triều đại của Ngài luôn “đua nở hoa công lý và thái bình thịnh trị tới ngày nao tuế nguyệt chẳng còn,” (Tv 72:7) để rồi “mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng, muôn dân nước thảy đều phụng sự.” (Tv 72:11) Hài Nhi nơi máng cỏ là Vua các vua, Chúa các chúa, nhưng Ngài vô cùng nhân từ, luôn theo sát đồng bào, luôn tận tụy với đám dân nghèo, đặc biệt là cương quyết bảo vệ công lý và chân lý. Ngài không chỉ tay năm ngón, sai người khác làm, Ngài trực ngôn và hành động cụ thể để “giải thoát bần dân kêu khổ và kẻ khốn cùng không chỗ tựa nương, chạnh lòng thương ai bé nhỏ khó nghèo. Mạng sống dân nghèo, Ngài ra tay tế độ.” (Tv 72:12-13)

Vương Quốc của Ngài là Vương Quốc Hòa Bình, mọi công dân đều sống trong cảnh thái an, vô ưu, vô sầu, và tận hưởng niềm hạnh phúc đích thực mãi mãi.

Người ta tuôn đến từ mọi miền, ngay cả những vùng sâu xa nhất, từ “các hải đảo xa xăm, hàng vương giả sẽ về triều cống Ngài, những vua chúa cũng đều tới tiến dâng lễ vật, mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng, muôn dân nước thảy đều phụng sự” (Tv 72:10-11). Đức Kitô là Vua Công Lý, “Ngài giải thoát bần dân kêu khổ và kẻ khốn cùng không chỗ tựa nương, chạnh lòng thương ai bé nhỏ khó nghèo. Mạng sống dân nghèo, Người ra tay tế độ.” (Tv 72:12-13) Đó là điều mà Giáo Hội luôn quan tâm, được trình bày qua Giáo huấn Xã hội Công giáo thời Đức Leo XIII (1810-1903), nhất là từ Công Đồng Vatican II.

Như để giải thích, Thánh Phaolô nói: “Hẳn anh em đã được nghe biết về kế hoạch ân sủng mà Thiên Chúa đã uỷ thác cho tôi, liên quan đến anh em. Ngài đã mặc khải để tôi được biết mầu nhiệm Đức Kitô như tôi vừa trình bày vắn tắt trên đây.” (Ep 3:2-3) Tông truyền là một trong bốn đặc tính của Giáo hội Công giáo, và đó cũng là mối dây liên kết các chi thể trong Nhiệm Thể Đức Kitô, đồng thời cũng là tình liên đới với nhau – kể cả với người khác đạo.

Thánh nhân nói rõ: “Mầu nhiệm này, Thiên Chúa đã không cho những người thuộc các thế hệ trước được biết, nhưng nay Ngài đã dùng Thần Khí mà mặc khải cho các thánh Tông Đồ và ngôn sứ của Ngài. Mầu nhiệm đó là: trong Đức Kitô Giêsu và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do-thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa.” (Ep 3:5-6) Vì thế, chúng ta không có lý do gì để ỷ lại hoặc kỳ thị bất kỳ ai.

Theo lời kể của Thánh Mátthêu trong Mt 2:1-12, khi Đức Giêsu ra đời tại Bêlem, miền Giuđê, thời vua Hêrôđê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giêrusalem, và hỏi: “Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người.” Lúc đó, vua Hêrôđê thấy đáng quan ngại, ngay lập tức ông triệu tập tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân, rồi hỏi cho biết Đấng Kitô phải sinh ra ở đâu. Họ trả lời: “Tại Bêlem, miền Giuđê.” Đúng như trong sách ngôn sứ có chép rõ ràng: “Phần ngươi, hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Israel dân Ta sẽ ra đời.”

Vốn tính nham hiểm, ông bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện, rồi phái các vị ấy đi Bêlem và dặn: “Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Ngài.” Nghe có vẻ rất tử tế. Nhưng không thể nghe, mà phải nhìn. Hêrôđê là con cáo già, đểu thật chứ không đểu giả, lọc lừa và mánh khóe một cách tinh vi, người khác khó có thể nhận ra.

Động thái của cáo già Hêrôđê nhắc nhở chúng ta về lời nói và hành động, liệu có gì “lệch pha” chăng? Theo bản chất, ai cũng nói hay về mình, muốn chứng tỏ mình tốt lành, nhất là khi đang lập mưu thâm kế độc. Lời nói lúc này “ngọt” hơn cả mía lùi. Đáng sợ lắm!

Các đạo sĩ cứ tưởng ông vua này tốt bụng nên họ vui mừng lên đường, nhưng chẳng có con cáo nào hiền từ. Ông ta chỉ muốn bảo vệ “cái ghế toàn năng” của mình mà thôi.

Khi ra khỏi hoàng cung, họ lại thấy ngôi sao mà họ đã thấy ở phương Đông. Họ đi theo hướng ánh sao và tới đúng nơi cần đến. Vào trong hang đá, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, họ liền sấp mình thờ lạy Hài Nhi. Họ chân thành và nỗ lực tìm gặp Chúa Giêsu, và họ đã được gặp. Họ tin và can đảm ra đi, tránh người xấu như Hêrôđê, sống tốt lành và hành động tích cực.

Thiết tưởng sống tốt không chỉ là làm lành và lánh dữ, mà còn phải tích cực hành động, bảo vệ công lý cho tha nhân. Các đạo sĩ là bài học về sự cảnh giác, trong thời đại mà sự ác không ngừng hoành hành như loại đại dịch nguy hiểm vậy. Hèn nhát là động thái tồi tệ, vì Kinh Thánh nói: “Khốn thay những tâm hồn HÈN NHÁT, những bàn tay rã rời, và người tội lỗi lập lờ nước đôi.” (Hc 2:12)

Lạy Thiên Chúa, xin soi sáng để chúng con không lạc đường khi tìm kiếm Ngài, xin giúp chúng con nhận biết chính mình để không ảo tưởng, và xin ban ơn khôn ngoan để chúng con phân định đúng Thánh Ý Ngài. Lạy Mẹ Maria và Thánh Giuse, xin giúp chúng con sống ngay thẳng, không nhìn người khác bằng nhãn quan suy diễn hoặc định kiến. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. mục lục.

TA VẪN ĐÁNG TIN ĐỂ CHÚA ĐƯỢC HIỂN LINH

Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

Hôm nay, chúng ta mừng Lễ Chúa Hiển Linh, tỏ mình cho nhân loại và còn được gọi là Lễ Ba Vua. Tuy nhiên, hầu hết các nhà chuyên môn về Thánh Kinh đều cho rằng chẳng có vua chúa trần gian nào đến bái thờ hài nhi Giêsu hết, ngoại trừ Vua Hê-rô-đê, một bạo chúa đã tìm cách giết Người. Vậy, ai là những người đã đến từ Phương Đông để tôn thờ Hài Nhi? Họ là các nhà chiêm tinh, chuyên nghiên cứu thiên văn và nhìn ngắm sao trời để đoán ra vận mạng của một số người nổi tiếng. Tuy hành trình và mục tiêu kiếm tìm của họ đáng cho chúng ta ngưỡng mộ và noi gương. Nhưng việc hệ trọng hơn cả là trong lễ Hiển linh chúng ta hân hoan mừng kính việc Thiên Chúa hiện diện trong thân phận con người cho muôn dân; chứ không chỉ cho dân Do Thái mà thôi.

Như thế, biến cố Hiển Linh giúp chúng ta nhận ra chiều kích tràn đầy của việc Giáng Sinh. Giáng Sinh dù thế nào vẫn chỉ là cuộc viếng thăm của Thiên Chúa dành cho dân Israel, dân riêng của Người. Với Lễ Hiển Linh, mầu nhiệm đó đạt đến mức toàn diện. Thiên Chúa sinh ra làm người và tỏ mình cho muôn dân muôn nuớc, bao gồm cả chúng ta. Việc tỏ mình là sáng kiến của Thiên Chúa, không ai có thể yêu cầu hay buộc Người phải làm chuyện đó. Nhưng, nếu chúng ta không nhận biết, không đón nhận và không loan báo cho nhau thì quả là một điều thiếu sót. Như thế, biến cố này đóng một vai trò thật quan trọng trong hành trình niềm tin và cách sống đạo của chúng ta.

Ngày xưa, có nhiều người đã gặp Đức Giêsu. Họ đã cùng lớn lên với Người tại Na-za-rét. Họ đã dong duổi theo Người trên bước đuờng rao giảng, từ làng này qua làng kia, từ tỉnh này đến thành phố kia. Họ còn đuợc Người nuôi ăn trong cơn đói khát. Họ đã chứng kiến các phép lạ. Cuối cùng thì sao, đâu cũng hoàn đấy? Dân Na-za-reth, dân Ga-li-lê-a hay dân Giê-ru-sa-lem cũng tìm cách bỏ Người khi Người cần đến sự an ủi và hỗ trợ của họ trên đường khổ nạn.

Nhưng các nhà chiêm tinh hôm nay lại khác. Họ đã không nhận ra sự xuất hiện của Thiên Chúa bằng truyền thống, hay tìm kiếm Chúa qua mớ giáo lý kinh điển do cha ông truyền lại. Thiên Chúa đã đến trong hoàn cảnh, lối sống và khả năng chuyên môn của họ. Người đã xuất hiện ngay trong tầm nhận biết của họ. Cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và họ cũng giống như việc Chúa kêu gọi các môn đệ của Người. Người đã đến trong lúc Phê-rô và các bạn đồng nghiệp đang chài lưới để kiếm ăn. Người đã đến trong lúc Phao-lô thi hành bổn phận chống lại Người. Người gọi Mat-thew khi ông ta đang ngồi thu thuế. Không ai có đặc quyền hay đặc lợi. Sáng kiến là của Thiên Chúa. Người đã đứng trước cửa nhà, hiện diện tại hoàn cảnh riêng của mỗi người. Và như các nhà chiêm tinh, sau khi tìm kiếm và gặp gỡ Người rồi, chúng ta hãy lên đường, nhưng không phải là con đường cũ mà là con đường khác mà về nhà.

Còn hành trình tìm kiếm của họ thì sao? Không dễ dàng. Dù có ngôi sao dẫn đuờng, nhưng ngôi sao lại có lúc ẩn lúc hiện. Cũng có lúc các ông bị mất dấu; không phải do các ông đi lạc; nhưng ngôi sao không xuất hiện thì biết lối nào để đi. Trong hoàn cảnh đó, họ không hề thất vọng; tiếp tục tìm kiếm bằng cách dò hỏi những ai đã đuợc tiên báo về sự xuất hiện của con trẻ Giê-su. Đó là các thượng tế và kinh sư của đạo Do Thái, dân riêng của Chúa; nắm giữ trong đầu các lời loan báo của các ngôn sứ về nơi chốn của vị lãnh tụ, đấng chăn dắt dân của Thiên Chúa sẽ ra đời. Các nhà lãnh đạo tôn giáo thời đó biết theo kinh điển mà không hề cất bước đi tìm nên cái biết của họ đã chẳng giúp gì cho họ. Vua Hê-rô-đê cũng biết, nhưng điều mà vua biết không đem vua lại gần Chúa, trái lại cái biết đó lại là nguyên nhân đem đến cho vua nỗi lo sợ. Phát sinh từ nỗi sợ hãi hoang tưởng, sợ mất quyền hành, vua đã tìm cách tiêu diệt mầm tai họa bằng cách giết lầm hơn bỏ sót, ông ta đã giết hết những ai là mầm mống đe doạ sẽ lật đổ ngai vàng của ông sau này.

Tuy nhiên, hành trình tìm kiếm của các nhà chiêm tinh không phải là mối bận tâm của Thánh Sử. Qua trình thuật này, Người muốn nhấn mạnh đến chuơng trình của Thiên Chúa dành cho mọi dân tộc. Việc Chúa tỏ bầy, Chúa hiển linh là một sáng kiến phát sinh từ kho tàng ân huệ của Thiên Chúa. Ngôi sao cũng là một cách thức để dẫn đưa họ. Thậm chí, Chúa có thể dùng cả những kẻ gian ác như Vua Hê-rô-đê như là cách thức soi sáng, cung cấp thông tin giúp họ khỏi lạc hướng. Như vậy, Thiên Chúa luôn soi sáng cho những ai tha thiết tìm ơn cứu độ, dù đôi khi họ cảm thấy ánh sáng lúc ẩn lúc hiện, đường đi không rõ và tương lai lại mịt mù.

Việc hiển linh đã trở nên trọn vẹn khi Đức Giê-su đã cho đi tận cùng cuộc sống của mình. Chính việc cho đi và tự hiến sau cùng của Người lại là cuộc hiển linh huy hoàng nhất về chân tuớng đích thật của Người qua biến cố Phục Sinh. Vào ngày đó, Đức Giêsu không còn là hài nhi bé bỏng bọc trong tã tại hang bò lừa nữa, mà Người đã được siêu thăng trên Thập Giá để tỏ bầy sự vâng phục trọn vẹn với chương trình của Thiên Chúa, Cha của Người. Chính vì thế, trong giờ phút đó, thần tính của Thiên Chúa bao phủ nhân tính của Người một cách trọn vẹn nhất. Như vậy, chính nhờ ơn Phục Sinh mà chúng ta nhận ra thần tính của Đức Chúa. Các môn đệ là nhân chứng về cuộc Hiển Linh Phục Sinh. Niềm tin của chúng ta hôm nay cũng dựa vào lời chứng của các tín hữu tiên khởi, đó chính là: Thiên Chúa đã tỏ mình trong thân phận con người của Đức Giêsu, Người đã ở giữa chúng tôi và chúng tôi đã thấy vinh quang của Người từ Chúa Cha mà đến.

Như vậy, qua trình thuật Hiển Linh, Thiên Chúa đã làm người, đã bộc lộ chân tướng đích thật của Người cho chúng ta nhận biết. Nhưng chúng ta đã làm gì để việc hiển linh của Thiên Chúa trở thành lời chứng sống động trong cuộc sống mình?

Thưa anh chị em,

Tình hình trước mắt cho chúng ta thấy rằng tương lai vẫn u ám do đại dịch mang lại. Thế giới đang bị đám đen bao phủ, dường như chưa thấy được lối thoát. Hiện tượng này khiến tâm hồn con người thêm u uất và nặng chĩu. Từ đó chúng ta cảm thấy chán nản, buông xuôi, thất vọng, chỉ muốn rút lui và bỏ cuộc.

Nhưng có một điều khiến ta ngạc nhiên và ngạc nhiên luôn mãi là Thiên Chúa không chán, không thất vọng về ta. Người dùng đủ mọi cách thức để bộc lộ và hướng dẫn chúng ta: Từ ngôi sao, lúc ẩn lúc hiện, đến người không tin như Hê-rô-đê và các bậc vị vọng am tường đạo Chúa. Thiên Chúa vẫn dùng họ, không chừa một ai, để hỗ trợ, động viên và nhắn gửi cho ta một sứ điệp là dù cuộc sống hay bản thân của chúng ta có ra sao, như thế nào thì Thiên Chúa vẫn tin ta.

Vì vậy, trong bối cảnh hiện tại, chúng ta không chỉ hy vọng mà còn là nhân chứng của niềm hy vọng để đối phó với những khó khăn do Covid-19 gây ra. Hơn bao giờ hết, là người tín hữu chúng ta phải tin và nhìn ra thời gian hiện tại là một cơ hội để chúng ta cho phép việc Thiên Chúa tỏ bầy hôm nay, đi thẳng vào trái tim và làm cho cuộc sống chúng ta được biến đổi. Thật vậy, không có trận đại dịch nào hay một khủng hoảng nào có thể dập tắt sự vinh hiển của Thiên Chúa hiện diện qua cuộc giáng trần của hài nhi Giê-su, Đấng đã đến để bầy tỏ cho chúng ta thấy tình yêu vô biên của Thiên Chúa

Căn cứ vào điều này, chúng ta đừng chán nản, hãy tiếp tục lên đuờng, căng buồm ra khơi để làm chứng về sự hiện diện của Thiên Chúa, Đấng vẫn đang tìm đủ cách bộc lộ vinh quang của Người cho thế gian nhận biết. Hiển Linh là như thế. Amen! mục lục.

MỘT VÌ SAO VÀ MỘT TRÁI TIM

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

LỄ BA VUA HAY LỄ HIỂN LINH?

Lễ Hiển Linh là dịch từ chữ Epiphany có nghĩa là “biểu lộ”, “làm cho mọi người biết đến” hoặc “tiết lộ, bày tỏ”. Vì ý nghĩa đó lễ này gọi là Lễ Hiển Linh, tức Thiên Chúa thể hiện cho mọi người biết. Hồi xưa chúng ta thường nghe nói Lễ Ba Vua thì chỉ đơn giản hiểu là lễ kính ba ông vua ở phương Đông đến thờ lạy Chúa Hài Đồng ở hang đá Bethlehem.

Lễ Hiển Linh bắt đầu ở Giáo Hội phương Đông. Tại Jerusalem, nơi gần Bethlehem thì lễ này lại có ý nghĩa đặc biệt ám chỉ lễ Chúa Sinh Ra. Ngày nay nơi các giáo hội Chính Thống/Orthodox, lễ này nhấn mạnh đến việc Chúa Giêsu Kitô biểu lộ cho muôn dân biết Người là đấng Thiên Sai và là Ngôi Hai Thiên Chúa lúc Chúa chịu phép thánh tẩy ở sông Jordan bởi thánh Gioan Tiền Hô. Cũng vì vậy mà có danh từ Theophany, từ tiếng Hy Lạp, có nghĩa là “Thiên Chúa chiếu sáng”. Đây là một trong những lễ trọng của năm phụng vụ. 

HIỂN LINH LÀ GÌ?

Tây Phương đã lấy ngày lễ của phương Đông và giữ lại tất cả những đặc tính chính của nó mặc dù thời gian phôi pha qua đi đã lâu nhưng những mấu chốt chính vẫn không thay đồi như ba vua đến viếng chúa Hài Đồng và tặng lễ vật, chứng tỏ Chúa Giêsu đã “biểu lộ” cho thế giới biết Người là Thiên Chúa, là Vua. Lễ này được mừng cũng để nói lên sứ mệnh truyền giáo của Giáo Hội, nói cho thế giới biết Chúa Giêsu là Đấng Cứu Chuộc muôn dân. Hiện tượng dân Do Thái chối bỏ Chúa Giêsu trong khi dân ngoại chấp nhận Người đã đảo lộn tình thế như trong câu chuyện thánh Mátthêu kể. 

CHI TIẾT CÂU CHUYỆN 

Hêrôđê trị vì từ năm 37 đến năm 4 trước cn. Ba nhà đạo sĩ đi tìm Hài nhi Giêsu lúc đó gọi là Ba Vua hay ba nhà thông thái, thuộc hàng đạo sĩ / tư tế ở xứ Ba Tư. Danh xưng đó ám chỉ những người có tầm hiều biết hơn người. Thánh sử Mátthêu gọi họ là những nhà thiên văn học. Ngôi sao lạ hiện ra trên trời, là điềm lạ mà dân chúng thời đó tin rằng có Đấng cầm quyền cao trọng, hoặc Đấng vua sinh ra. Thánh Mátthêu cũng nhắc lại câu chuyện trong Cựu Ước mà tiên tri Balaam đã nói tới “một ngôi sao sẽ mọc lên từ nhà Jacob” (Ds 24:17). Ngôi sao này không phải là hiện tượng thiên văn mà ám chỉ một vị vua.

Cử chỉ thờ kính của Ba Vua tương đương với sự chúc phúc của Simêon, nghĩa là Hài nhi Giêsu sẽ là “Ánh sáng dẫn đường cho dân ngoại” (Lc 2:32), một trong những dấu chỉ đầu tiên là Chúa Giêsu đã đến với muôn dân, ở mọi quốc gia, mọi sắc tộc. Việc Thiên Chúa làm cho thế giới thì không giới hạn, riêng tư cho bất cứ ai hoặc bất cứ nơi nào.

Tại quê hương của các ngài, nơi miền đất ngoại xa xôi, ba vị đang sống trong khung cảnh huy hoàng, ấm cúng, đấy đủ tiện nghi, nhưng các ngài cảm thấy bồn chồn, thắc mắc như thiếu thốn, mất mát cái gì. Bất chấp khó khăn hiểm nguy do ngoại cảnh, các ngài liều mình đi tìm biết cho ra sự thật như đã chiêm nghiệm thấy. Không như những mục đồng, ba vua phải làm một cuộc hành trình dài, phải đối dầu với biết bao hiểm nguy gian khổ mới đạt được mục đích. 

Các mục đồng cũng gặp những nghịch cảnh, nhưng được chuẩn bị nhờ các thiên thần thông báo cho biết Chúa Hài Đồng sinh ra. Khi đã vượt qua mọi sợ hãi, các mục đồng chỉ việc đi bộ qua cánh đồng là tới Bethlehem và gặp được Hài nhi Giêsu, không phải lặn lội đường xá xa xôi. Quả là một cuộc hành hương tình cảm, đầy thơ mộng mà chúng ta thường thấy nơi máng cỏ chúng ta làm mỗi năm.

Đối với ba nhà thông thái từ phương Đông là những người ngoại đúng nghĩa, đã được hướng dẫn không phải chỉ do sự khôn ngoan và hiểu biết của mình về ngôi sao lạ, mà còn được soi sáng bởi Cựu Ước, Kinh Thánh của người Do Thái.

Ý nghĩa này rất quan trọng. Chúa Kitô kêu gọi tất cà mọi dân tộc trên khắp thế giới, dân ngoại cũng như dân Do Thái, hãy bước theo Người. Chúng ta có thể nói rằng Jerusalem và Cựu Ước là điểm khởi đầu cuộc hành hương của dân ngoại đi tìm đức tin nơi Chúa Giêsu. Dân chúng trong thị trấn này, ngay cả chính vua Hêrôđê, đã là dụng cụ dẫn đường cho ba vua đến gặp Chúa Kitô!

CÂU CHUYỆN BI THƯƠNG CỦA MỘT NGƯỜI LỚN

Tin Mừng Thánh Mátthêu cho chúng ta thấy ngay từ khởi đầu câu chuyện, Chúa Giêsu Hài đồng là Vua dân Israel đã được một số người hân hoan chào mừng, nhưng đồng thời lại có một số người khác lo sợ. Bởi vì khi biết tin có vua Do Thái sinh ra, Hêrôđê đã cho triệu tập tất cả thân hào nhân sĩ trong dân lại để tham khảo ý kiến để tìm hiểu xem hài nhi sinh ra ở đâu (Mt 2:3-4). Thánh Mátthêu gọi “tất cả các thầy cả thượng thẩm và các luật sĩ trong dân lúc đó” là những cố vấn của ông vua Hêrôđê thâm hiểm.

Có thể là họ đã hành động nhiều hơn là trả lời những câu hỏi thắc mắc về thần học của vua. Thánh Mátthêu chắc chắn đã có ám chỉ điều gì đó. Lúc đầu, họ tỏ ra bối rối vì lời ba nhà thông thái nói về biến cố Đấng Thiên Sai sinh ra. Biết Hêrôđê bắt đầu nghi ngại về ngai vàng của mình, ba vua đã nhận ra là ông vua này cũng chẳng tử tế gì đâu với con trẻ là “Vua dân Do Thái” vừa mới sinh ra.

Tiết lộ cho Hêrôđê biết nơi Đấng Thiên Sai sinh ra, các cố vấn đã tỏ ra là những cộng sự viên rất tích cực trong ý đồ gây tội ác. Chính họ, không phải là Hêrôđê, đã đưa ý kiến giết “Vua dân Do Thái”. Chính “các thầy cả thượng thẩm và các bô lão trong dân” là những người đã âm mưu bắt và giết Chúa Giêsu (Mt 26:3-5,47; 27:1-2,12,20); Các luật sĩ thì nêu ra luật để có lý do bắt giết Chúa (26:57; 27:41). “Hắn là tên rất nguy hiểm cho ngôi vị của hoàng đế Hêrôđê và cho chúng tôi”, một thần quyền của nhiều người..

Hành động tiêu cực của Hêrôđê và các thầy cả thượng thẩm và luật sĩ đã biến câu chuyện Hài Nhi thành một pho sách Tin Mừng thực sự như chúng ta thấy. Nếu đọc cẩn thận, chúng ta sẽ thấy câu chuyện Chúa Hài đồng Giêsu không còn là câu chuyện thần tiên về trẻ em mà quả là câu chuyện bi thương của người lớn. Quan sát khung cảnh ngày Lễ Giáng Sinh, chúng ta đã thấy một dấu hiệu chết chóc, như ít ngày sau khi Chúa sinh ra Thánh Giuse đã phải vội vàng mang Chúa Giêsu và Mẹ Maria trốn sang Ai Cập để tránh cái chết do vua Hêrôđê âm mưu, và lúc cuối đời về cái chết hy sinh khó có thể tránh của “vua mới sinh ra này” do chính các kỳ mục, thượng thẩm, luật sĩ và dân Do Thái giết treo trên thập giá. 

Theo Thánh Mátthêu, chúng ta thấy ngay từ khởi đầu câu chuyện, Đức Giêsu đã được chào đón nồng nhiệt bởi một số người nhưng cũng làm một số người phải lo sợ. Đối với những người  lúc nào cũng để ý đến những dấu chỉ thời gian và không gian, thì sự xuất hiện của Chúa Giêsu là bước đầu của cuộc hành trình đầy mạo hiểm đi tìm đức tin và sự sống.

ĐI TÌM CHÚA KITÔ NGÀY NAY: VUI MỪNG

Một con trẻ vừa sinh ra thì cũng là lúc quyền lực của tử thần xuất hiện. Vua Hêrôđê làm bộ cộng tác với ba nhà thông thái nhưng trong lòng đầy gian hiểm, muốn kết thúc cuộc hành trình của họ đi tìm sự sống vĩnh cửu. Trọng tâm của câu chuyện quả đầy vẻ trái nghịch. Hài Nhi là biểu tượng của Vui Mừng, nhưng với Hêrôđê lại là nỗi sợ hãi niềm “vui mừng của muôn dân”.

Nền văn hóa sự chết của xã hội hiện nay càng ngày càng sợ sự sống con người, mà đáng lẽ phải là nỗi vui mừng. Chúng ta phải tái cam kết giữ và bảo tồn sự sống, khuyến khích, chúc phúc nó và cảm tạ Chúa vì đã cho chúng ta quà tặng quí giá này.

Một số chúng ta có lẽ chỉ cố gắng đi tìm Hài Nhi Giêsu sau cuộc hành trình dài gian khổ giống như ba vị vua trong Tin Mừng. Những khôn ngoan của người đời và vẻ hào nhoáng bề ngoài của Giáo Hội cũng nên dẹp bỏ. Chúng ta cần chấp nhận hy sinh để tìm cho ra ý nghĩa thâm sâu nhất và bằng an thực là Chúa Kitô. Đa số những vị khôn ngoan đã làm những cuộc hành trình đặc biệt gian khổ để tìm kiếm cho ra một ý nghĩa vĩnh cửu nào đó.

Người dân bình thưòng đi tìm Chúa bằng cách vượt qua cánh đồng như những kẻ chăn chiên đã làm. Họ mang theo sự nghèo nàn, lòng khiêm tốn và cởi mở đơn sơ của họ. Sự thông thái, khôn ngoan, quyền lực, uy tín và kiêu căng thường đưa tới tuyệt vọng. Những kẻ dựa vào thế quyền và đi theo thế quyền để được yên thân, thoải mái, được trọng vọng vì nghĩ rằng họ khôn ngoan, thông minh, có khi lại nói ‘họ có Chúa Thánh Thần soi sáng’. Nhưng có biết đâu họ đã tự dối mình, nghe theo lời đường mật, phỉnh gạt của Hêrôđê đã giết Chúa. Loại người như vậy, họ tin tưởng rằng họ có thể có ngay lập tức sự thật cuối cùng, có thể làm sáng tỏ những điều họ nghĩ. Nhưng họ lại thường đi vào con đường cùng, trống vắng hoặc lạc lối vào sa mạc cô quạnh, ích kỷ, thiếu thốn đủ thứ và tuyệt vọng.

Cuối cùng, ba vua đã đi theo con đường riêng của họ, từ chối không để cho dối trá mê hoặc. Họ sửng sốt vui mừng vì ngôi sao trên trời mà họ đã tin tưởng lại xuất hiện. Đây không phải chỉ là tả cảnh lúc Chúa sinh ra mà còn là chính thời đại của chúng ta. Khi đã tìm ra được sự vui mừng thực sự ở giữa bóng tối ghê rợn, thất vọng, dửng dưng và vô nghĩa thì cách duy nhất còn lại là “quì gối và thờ lạy”.

Nếu chúng ta khôn ngoan đủ thì hãy hành sử như ba vua. Khi nghe thấy tiếng nói của tử thần, sợ hãi và dối trá, chúng ta hãy bình tâm, lấy can đảm đi theo con đường của mình là Vui Mừng. Ngôi sao trên trời và cuộc hành trình sẽ dẫn đưa chúng ta tiến bước, bằng con đường mới, con đường thật của Chúa để tới gặp Hài Nhi Ánh Sáng và Hoàng Tử Hòa Bình, là Đấng hoàn thành niềm hy vọng sâu xa nhất của loài người và ước vọng ánh sáng, công lý, hòa bình và tình thương yêu..

LỜI KẾT: TIẾP TỤC CUỘC HÀNH TRÌNH

Để kết luận bài suy niệm, xin mượn lời của một đại văn hào Công Giáo người Pháp Georges Bernanos (1888-1948) đã nói rất bay bướm về ngày đại lễ này ở thời đại chúng ta:

“Từ khởi đầu, Giáo Hội của Ta đã là Giáo Hội ngày nay, và nó sẽ như vậy cho đến tận thế, là một gương xấu cho những kẻ mạnh mẽ, một thất vọng cho những kẻ yếu đuối, là thử thách và an ủi cho những ai có đời sống nội tâm dồi dào, biết tìm kiếm nơi mình không gì khác ngoài chính Ta.

“Đúng vậy (….) bất cứ ai muốn tìm Ta ở đâu thì sẽ thấy Ta ở đó; nhưng họ sẽ phải tìm, và Ta sẽ ẩn tránh kỹ hơn là người ta tưởng, hơn cả một vài linh mục của ta đã chỉ dạy cho bạn biết. Cũng còn khó khăn mới khám phá ra Ta hơn là Ta đã ở trong hang bò lừa nhỏ bé ở Bethlehem đối với những ai sẽ không đến với Ta một cách khiêm tốn theo bước chân của các mục đồng và của ba nhà thông thái.

“Thực sự là những lầu đài đã được xây vì Vinh Dự Ta với những bao lơn và hàng cột bao quanh vô số kể, được chiếu sáng huy hoàng chói lọi suốt ngày đêm, có lính canh gác đứng nghiêm chào. Nhưng nếu bạn muốn tìm Ta ở đó thì việc khôn khéo là phải làm như họ đã làm trên con đường xưa phủ đầy tuyết ở Judea, và chỉ hỏi điều mà bạn cần: Một vì sao và một trái tim tinh tuyền.” mục lục.

NGÔI SAO CỦA NGƯỜI”

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Hình như phía trên mọi Hang Đá Máng Cỏ đều có một ngôi sao. Đó là Ngôi Sao Dẫn Đường hướng về Máng Cỏ. Lễ Hiển Linh là lễ Ánh Sáng. Mầu nhiệm Ánh Sáng của lễ Hiển Linh được tỏ hiện qua ngôi sao hướng dẫn các Đạo Sĩ từ Đông Phương đến thờ lạy Chúa Hài Nhi.

Thế nhưng, làm sao một ngôi sao trên trời lại có thể như ngọn đèn đi trước dẫn đường, rồi dừng lại chính xác trên ngôi nhà nơi Hài Nhi đang ở? Rõ ràng ngôi sao đã trở thành biểu tượng cho ánh sáng đức tin làm cho dân ngoại nhận biết Chúa Giêsu là Vua, là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Một khi đã gặp Ngài, đã tin vào Ngài thì người ta không trở lại con đường cũ nữa mà đi theo đường khác “đường sự thật, đường sự sống”. Bước đi trong ánh sáng định hướng thiêng liêng, con người luôn sống theo đường lối khôn ngoan của Thiên Chúa.

“Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện bên Phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người”. Ngôi sao của Thiên Chúa là ánh sao mà Người dùng để lôi kéo thụ tạo đến với Người. Ánh sao ở đây là lời mời gọi, một sự gợi mở, một sức hút, một sự chỉ đường. Chỉ có “Ngôi sao của Người” mới dẫn con người đến để gặp Thiên Chúa.

Các nhà chiêm tinh Đông Phương nhìn thấy ngôi sao xuất hiện và lên đường tìm kiếm. Họ đã tìm ra Hài Nhi mới sinh nằm trong máng cỏ hang lừa. Đó chính là vị Cứu tinh mà Israel từ lâu mong đợi. Vị Cứu tinh chào đời tại Bêlem như lời Ngôn sứ Mikha đã loan báo “Phần ngươi, hỡi Bêlem Epratha, ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giuđa, từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị lãnh tụ chăn dắt dân Israel” (Mk 5,1). Các nhà chiêm tinh vui mừng tôn kính dâng lễ vật bái thờ Người.

Ngôi sao xuất hiện ở phương Đông được ông Bilơam tiên báo: “Một Vì Sao xuất hiện từ Giacóp, một vương trượng trỗi dậy từ Israel” (Ds 24,17). Các nhà chiêm tinh đến từ vùng đất phương Đông, quê hương của Bilơam. Ngôi sao họ nhìn thấy vốn là dấu hiệu chỉ vương quyền. Ngôi sao nhắc lại lời sấm chúc phúc của Bilơam thuở xưa nói về triều đại Đavít và về chính Đấng Mêsia. Một ngôi sao lạ ở phương Đông xuất hiện trên bầu trời đầy sao.Các nhà chiêm tinh nhận ra ngôi sao lạ. Họ tin rằng có một vị vua mới sinh ra ở đất Do thái. Họ lập tức khởi hành, lên đường tìm kiếm. Con đường đi của họ dẫn qua sa mạc, bụi bặm, nóng bức và giá lạnh. Ðó là một con đường đầy chông gai khó khăn, vất vả và nguy hiểm. Họ luôn nhìn lên ngôi sao dẫn đường và tiến bước. Khi đến thủ đô Giêrusalem, các nhà chiêm tinh dò hỏi tông tích của vị tân vương.

Nghe tin ấy, vua Hêrôđê bối rối liền triệu tập các thượng tế và kinh sư lại hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. Chuyện đang công khai, Hêrôđê chuyển thành bí mật: “bí mật vời các nhà chiêm tinh, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện, rồi phái các vị ấy đi, căn dặn: xin đi dò hỏi tường tận… khi tìm thấy xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy người”. Tất cả những động từ trên đây cho thấy cáo già Hêrôđê đang tìm cách biến các nhà chiêm tinh thành gián điệp phục vụ cho âm mưu đen tối của ông. Hêrôđê vốn gian hùng, sánh được với Tào Tháo của Trung Hoa. Hêrôđê mưu toan làm cho các nhà chiêm tinh thành mật thám của mình, để dò biết đích xác mà giết vua người Do thái mới sinh. Nhưng Thiên Chúa can thiệp để các nhà chiêm tinh đến thờ lạy “vua dân Do thái mới sinh” và ra về an toàn.

Các đạo sĩ ra đi “Bấy giờ ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở mới dừng lại”. Họ mừng rỡ vô cùng. Họ gặp Hài Nhi, liền sấp mình bái lạy, với lòng thành họ dâng tiến lễ vật vàng, nhũ hương và mộc dược.“Sau đó, họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa, nên đã đi đường khác mà về xứ mình”.

Câu chuyện Phúc âm tuyệt đẹp. Ba nhà chiêm tinh đi tìm Đấng Cứu Thế theo ánh sao lạ. Nếu Thiên Chúa đã dùng cột mây lửa để dẫn dân Do thái đi trong hoang địa về Đất hứa thì Người cũng có thể dùng ngôi sao lạ để dẫn đường cho các nhà chiêm tinh đến Bêlem để gặp Đấng Cứu Tinh.

Nhưng khi vị Cứu Tinh xuất hiện sau bao thế kỷ chờ đợi thì dân Do thái lại thờ ơ lãnh đạm. Các thượng tế, các kinh sư có thái độ dửng dưng thụ động. Họ rành rẽ Kinh Thánh và biết rõ nơi sinh của Đấng Cứu Thế nhưng họ chẳng cất bước đến Bêlem. Còn Hêrôđê thì hốt hoảng bối rối, sợ ngai vàng bị lung lay nên tìm cách loại trừ với mưu mô cạm bẫy. Chỉ có các nhà chiêm tinh hăng hái lên đường lao vào cuộc phiêu lưu tìm kiếm. Họ đã làm tất cả miễn sao gặp được Đấng Cứu Tinh. Cho dù Đấng ấy chẳng uy nghi ngự trong lâu đài điện ngọc nhưng họ vẫn vui mừng đón nhận, xin được bái kiến và dâng lễ vật quý giá với cả tấm lòng thành.

Phụng vụ đọc câu chuyện tuyệt đẹp này trong ngày Lễ Hiển Linh “Thiên Chúa tỏ mình ra cho dân ngoại”. Các nhà chiêm tinh là dân ngoại, họ đại diện cho mọi dân tộc, họ khao khát tìm kiếm ơn cứu độ. Sau này Chúa Giêsu đã xác định: “từ phương đông phương tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng tổ phụ Abraham, Isaac, Giacop trong nước trời” (Mt 8,11). Các thượng tế và các kinh sư thông hiểu Thánh Kinh, họ giảng giải thật hay cho Hêrôđê, nhưng chỉ là lý thuyết. Họ tìm Đấng Cứu Thế trong sách vở nhưng không nhận ra Người trong thực tế vì Người không phù hợp với những quan điểm cố định của họ. Những người chuyên nghiên cứu sách vở đầy sự uyên bác thông thái, nếu không lên đường, không thao thức tìm kiếm thì chẳng bao giờ gặp được Thiên Chúa.Trái lại, những tâm hồn đơn sơ, khó nghèo như các mục đồng, hay cởi mở và khao khát chân lý như các nhà chiêm tinh lại được diễm phúc gặp gỡ Người vì họ đã dám mạo hiểm lên đường tìm kiếm, bước đi theo các dấu chỉ.

Thiên Chúa vẫn luôn tỏ mình ra cho nhân loại qua những dấu chỉ tự nhiên của trời đất, qua từng biến cố lịch sử, qua Lời Người trong Thánh Kinh, qua sự hiện diện của Dân Chúa là Giáo Hội, qua các Bí tích. Muốn gặp được Thiên Chúa, nhất thiết phải nổ lực tìm kiếm. Cho dầu có những thử thách, cam go, những hiểm nguy cạm bẫy, vẫn luôn kiên trì trong đức tin, bền đổ trong lòng mến.

Ngày nay, không có ngôi sao Đông phương nào xuất hiện trên bầu trời để soi đường cho chúng ta đi tìm Chúa. Thế nhưng, “Ngôi sao của Người” có thể là các Thánh, là Giáo hội, là các giáo hoàng, các giám mục, các linh mục, là tu sĩ, là cha mẹ, là những người thầy, là những người bạn, những người giúp chúng ta đến với Thiên Chúa. Những ánh sao này phản chiếu ánh sáng từ một Vì Sao đích thực: Đức Kitô, và nó chỉ lung linh khi nó dẫn đường đến với Thiên Chúa mà thôi.

Mẹ thánh Têrêxa Calcutta với tấm lòng yêu thương bao la là một vì sao chiếu sáng trên vòm trời. Chúa muốn chúng ta là ánh sáng chiếu tỏa cho mọi người chung quanh: “Các con là ánh sáng cho trần gian” (Mt 5,14). Kitô hữu trở nên ánh sao tình yêu, ánh sao tha thứ, ánh sao hy vọng, ánh sao công bình, ánh sao bác ái, ánh sao đạo đức, góp phần dẫn đường cho người khác đến với Chúa.

Đặc biệt, chúng ta có một ánh sáng khác rực rỡ hơn giúp tìm gặp Người. Đó là ánh sáng của Lời Chúa: “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” . Bước đi trong ánh sáng Lời Chúa, chúng ta sẽ trở nên ngôi sao dẫn đường cho nhiều người tìm đến Thiên Chúa. Thánh Phaolô mời gọi : “Anh em hãy chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời”(Pl 2,15).Tại sao các Kitô hữu được gọi là các vì sao ? Thánh Gioan giải thích : “Thiên Chúa chưa ai thấy bao giờ. Nếu chúng ta yêu thương nhau thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta”(1Ga 4,12). Nói cách khác, Thiên Chúa của chúng ta là một vị “Thiên Chúa ẩn mình”, nhưng Người muốn tỏ mình ra cho người ta thấy qua cách sống yêu thương của chúng ta. Nói cách khác nữa, khi chúng ta yêu thương nhau thì Thiên Chúa ở trong chúng ta, bởi vì “Thiên Chúa là tình yêu”(1Ga 4,18). Cho nên cách sống yêu thương của người Kitô hữu làm cho người ta nhìn thấy và nhận biết được Thiên Chúa tình yêu. Chính vì thế mà thánh Phaolô đã so sánh thế gian như vòm trời tăm tối, và khuyến khích các Kitô hữu hãy sống yêu thương để có thể thành những vì sao chiếu sáng trên vòm trời ấy.

“Ngôi sao của Người” dẫn các nhà chiêm tinh đến gặp Chúa Hài Nhi rồi tiến dâng lễ vật. Chúng ta nhờ ánh sáng Lời Chúa soi dẫn trên hành trình cuộc đời. Lời Chúa là ánh sao chiếu soi tâm hồn giúp chúng ta sáng lên niềm tin. “Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa” (Lc 11,28), Chúa Giêsu chỉ cho thấy sự cao cả đích thực của Đức Maria, như thế mở ra cho mỗi người chúng ta khả năng sống mối phúc phát sinh từ Lời được lắng nghe và đem ra thực hành. (x.Verbum Domini, số 124).

“Ngôi sao của Người” dẫn chúng ta đi vào con đường chói ngời ngọn lửa đức mến. Bước theo ánh sáng “Ngôi Sao của Người”, người Kitô hữu chiếu tỏa các giá trị Phúc Âm giữa lòng trần thế. Loan báo Phúc Âm là loan báo tình yêu thương, là xây dựng “nền văn minh tình thương”. Những chứng tá đức tin cậy mến, những gương sáng đời sống gia đình, những nỗ lực thực thi các giá trị Phúc Âm chính là những “Ngôi sao của Người” cụ thể soi đường truyền giáo trong thời đại hôm nay. mục lục.

PHẢI LÀM GÌ KHI GẶP THỬ THÁCH?

Lm Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

Qua bài Tin Mừng của ngày lễ Hiển Linh, tôi thấy ba nhà chiêm tinh đã phải đương đầu với rất nhiều khó khăn, thử thách, nguy hiểm và kể cả chán nản thất vọng khi các ngài rời bỏ quê hương xứ sở để theo ánh sao lạ. Trước khi cất bước ra đi, họ phải do dự, đắn đo suy nghĩ rất nhiều về chuyện phải bỏ lại đàng sau lưng vợ con, gia đình, sự nghiệp…Rồi trên cuộc hành trình, họ đã phải đối diện với khí hậu khắc nghiệt, ngày nóng, đêm lạnh, với sự thiếu thốn về những tiện nghi tối thiểu, nào là thú dữ, nào là nguy cơ trộm cướp, rồi phải ăn bờ ngủ bụi…Rồi khi đến Giê-ru-salem, họ bị mất ánh sao dẫn đường, đây có thể nói là giai đọan căng thẳng và đen tối nhất! Thế nhưng cuối cùng, ba nhà chiêm tinh đã đến đích điểm, đã gặp được Đấng Cứu Thế, Con Thiên Chúa làm người.

Câu hỏi mà tôi muốn mời bạn cùng suy nghĩ đó là, nhờ đâu và làm cách nào mà ba nhà chiêm tinh đã hoàn tất cuộc hành trình đi tìm Chúa như vậy? Tôi nghĩ ba nhà chiêm tinh đã nhờ vào LÒNG TIN.

• Các ông TIN rằng ngôi sao xuất hiện trên bầu trời đó chính là ngôi sao của Đấng Cứu Tinh.

• Các ngài TIN rằng, nếu có công đi TÌM thì các ông sẽ GẶP

• Các nhà chiêm tinh TIN rằng, GẶP được Đấng Cứu Thế rồi thì cuộc đời của họ sẽ hạnh phúc và bình an hơn.

Nhờ LÒNG TIN sắt đá và kiên vững ấy, cho nên các ngài đã chiến thắng được những sự sợ hãi, nguy hiểm, vượt qua tất cả những gian khổ, nguy hiểm... kể cả những mưu mô xảo quyệt của vua Hêrôđê, và đã đến đích điểm bình an.

Bạn thân mến, nhìn vào cuộc hành trình đi tìm Chúa của ba nhà chiêm tinh, tôi nghĩ cuộc hành trình đi tìm Chúa của chúng mình và của những Kitô hữu khác, cũng chẳng khác gì của các ngài. Trên cuộc hành trình đi tìm Chúa, chúng ta đã, đang, và vẫn còn thường xuyên đối diện với những gian nan, khó khăn thử thách, cám dỗ và những nguy hiểm nữa. Thế nhưng vì không đủ niềm tin, hay ít là chưa đủ lòng tin, cho nên nhiều lúc người ta đã bỏ cuộc. Cuộc hành trình đi tìm Chúa của họ bị gián đoạn, hay bị bỏ ngang khi họ gặp những chướng ngại vật, khi gặp phải những ngăn trở trên đường đi tìm Chúa của họ. Không nhiều lắm đâu nhưng cũng không phải là ít!

• Sau khi hồ sơ về vụ lạm dụng tính dục của Theodore McCarrick được Tòa Thánh công khai hóa, nhiều Kitô hữu đã cảm thấy chán nản, thất vọng, tức giận, bỏ lễ, bỏ nhà thờ, bỏ giáo hội và bỏ luôn cả Chúa, vì cách làm việc câu thả và hành xử thiếu khôn ngoan của các giới chức bên Tòa Thánh.

• Không ít người bị lung lay niềm tin, chán nản, thất vọng, và chắc không ít người trong số họ đã bỏ cuộc, không muốn tiếp tục cuộc hành trình đi tìm Chúa nữa, khi họ nghe tin các Giám Mục không thống nhất với nhau về việc từ chối không cho các chính trị gia, những người công khai ủng hộ phá thai, và rước lễ.

• Nhiều Kitô hữu tại Hoa Kỳ cũng như nhiều quốc gia trên thế giới đã bỏ cuộc, không còn muốn đến với Chúa, không còn thiết tha đến việc đi tìm Chúa, vì họ cho rằng Giáo Hội quá khắt khe về vấn đề ngừa thai, phá thai và hôn nhân đồng tính!

Bạn có muốn bỏ cuộc như họ không? Hay bạn muốn hoàn tất cuộc hành trình đi đến với Chúa giống như ba nhà chiêm tinh khi xưa? Nếu bạn muốn bỏ cuộc thì tôi xin bạn hãy suy nghĩ lại. Nếu không thì xin bạn hãy ráng:

• Thứ nhất, noi gương bắt chước các tông đồ, cầu nguyện lien lỉ, xin Chúa ban thêm lòng tin cho chúng ta. “Lạy Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con” (Lc 17:5)

• Thứ hai, phải bám lấy Chúa và trông cậy vào sự trợ giúp của Ngài, bởi chính Ngài đã hứa: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11:28).

• Thứ ba, phải ghi nhớ nằm lòng, không có ai tránh khỏi hay được miễn trừ khỏi những gian nan, khốn khó và thử thách trên cuộc hành trình đi tìm Chúa cả! Nobody! Kể cả Đức Maria, là Đấng đầy ơn Phúc Đức Chúa Trời ở cùng bà…

Hôm nay là ngày lễ Hiển Linh, chúng ta cầu nguyện xin Chúa ban thêm lòng tin cho chúng ta, để giữa những sóng gió ba đào của cuộc đời, giữa những lúc chán nản, ê chề, thất vọng, khi gặp những gương mù gương xấu trong giáo hội…bạn và tôi sẽ noi gương bắt chước ba nhà chiêm tinh khi xưa, can đảm chấp nhận tất cả mọi hy sinh, gian nan thử thách, và kiên trì khi gặp những song gió, thử thách, và đi đến cùng đích của cuộc hành trình, phải đến để gặp cho bằng được Đức Giêsu Kitô, là Thiên Chúa và là nguồn sự sống lại của chúng ta.

Chỉ khi nào tôi và bạn GẶP được Chúa thì lúc đó cuộc đời của chúng mình mới có bình an, hạnh phúc và mới có sự sống đời đời. Đừng bỏ cuộc nửa chừng, uổng lắm bạn nhé! Xin Chúa chúc lành, ban bình an và gìn giữ bạn luôn sống trong tình yêu thương của Ba Ngôi Chí Thánh. mục lục.

ÁNH SÁNG HIỂN LINH

Hiển linh – Thiên Chúa tỏ mình
Cho nhân loại biết ân tình Trời cao
Hiển linh sáng tỏ thương yêu
Chứng minh Tình Chúa dạt dào trao ban
Hiển linh dẫn tới Be-lem
Muôn dân nhận biết ơn thiêng giữa đời
Hiển linh soi lối lên trời
Phàm nhân hèn mọn hóa người Thiên Cung
Hiển linh – ánh sáng khác thường
Cho đời biết Chúa Thiên Đường giáng sinh
Hiển linh – ánh sáng quang vinh
Giáng sinh một thoáng, phục sinh đời đời. mục lục.
CHUYẾN HẠNH PHÚC
Người ta đã chờ đợi
Suốt hàng ngàn năm dài
Xuất hiện Ngôi Sao Lạ
Họ biết “sự lạ” đây.
Từ miền xa xôi lắm
Các đạo sĩ lên đường [*]
Ra đi để tìm kiếm
Mong gặp được Thiên Vương.
Họ chuẩn bị mọi thứ
Tin tưởng, chẳng nghi nan
Đi theo hướng Sao Lạ
Vượt qua mọi khó khăn.
Thông minh và trí thức
Nhưng lại rất khiêm nhường
Họ đã được đền đáp
Hạnh phúc vì thỏa lòng.
Ai chân thành tìm Chúa
Chắc chắn sẽ gặp Ngài
Và được Ngài chúc phúc
Đức tin thật tuyệt vời.

[*] Có hàng chục đạo sĩ, nhưng người ta quy ước họ với ba tên gọi: Gaspar, Melchior và Balthasar. mục lục.

BA LỄ VẬT

Vàng, nhũ hương, mộc dược
Báu vật của người xưa
Thành kính dâng Đức Chúa
Hiện thân một Hài Nhi.
Họ thông minh, trí thức
Nên nhận biết phận mình
Chỉ những kẻ ngu dốt
Mới hợm hĩnh, ngông nghênh.
Báu vật Tin Cậy Mến
Ba lễ vật tuyệt vời
Dâng Chúa từ khởi sự
Đến khi kết thúc đời. mục lục.

TRẦM THIÊN THU

CHÚA TỎ MÌNH CHO DÂN NGOẠI

 (Cảm nhận và suy niệm từ Mt 2,1-12)

Ba đạo sĩ Đông Phương nhìn sao lạ
Cùng ngắm suy tìm hiểu ý nhiệm mầu
Họ được ơn linh ứng đã từ lâu:
Chúa Cứu Thế giáng sinh từ Do Thái.
Cả ba vị theo sao lạ dẫn lối
Tới Gia Liêm - vua Hê Rốt trị vì
Họ kính chào, thăm hỏi rồi ra đi
Tới hang đá Bê Lem sao dừng lại.
Trước máng cỏ bò lừa quì thở ấm
Ấu Chúa, Phụ Mẫu,Thiên sứ, mục đồng
Ánh sáng linh thiêng như lúc rạng đông
Đêm cực thánh sáng soi vùng cô tịch.
Quỳ, sụp lạy, tôn thờ, dâng lễ vật
Là nhũ hương, mộc dược, vàng tinh nguyên
Ý chỉ: nhân, thiên tính và vương quyền
Ôi! Mầu nhiệm Hiển Linh ai suy thấu!.. mục lục.

ÁNH SAO SINH NHẬT

Vào thời ấy, hơn hai ngàn năm lịch sử
Tại Đông Phương sao lạ đã hiện ra.
Đem Tin Mừng cho nhân thế gần xa
Qua linh ứng lòng Ba Vua Dân Ngoại (đạo sĩ).
Nào hãy đến chung mừng Vua Cứu Thế!
Sinh vào đời như đã hứa từ xưa
Bốn ngàn năm, tổ phụ vẫn mong chờ
Ngày đại phúc cho mọi người, mọi nước.
Nghe tiếng hát thiên thần, theo sao lạ
Cả Ba Vua sốt sắng cùng lên đường
Vượt đường xa, chẳng e ngại vấn vương
Và gặp Đấng Thiên Sai trong hang đá.
Ôi! Huyền diệu! Đấng Cứu Tinh Giáng Thế!
Cư ngụ trong hang đá máng cỏ bò lừa
Giửa đêm đông, sương lạnh và gió lùa
Được sưởi ấm bằng cỏ khô, rơm rạ...
Khách, cùng với mục đồng quì thờ lạy
Đấng Thiên Sai quyền phép thật khôn lường
Xuống làm người, với lòng Chúa xót thương
Mọi dân nước đều hưởng nhờ ơn cứu độ…
Sau dâng lễ, Ba Vua lòng phấn khởi
Lên đường về, sao lạ lại hiện ra
Theo ánh sao chỉ lối bớt đường xa
Và tránh khỏi mưu độc vua Do Thái. mục lục.
(Thế Kiên Dominic)

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan