SUY NIỆM CHÚA NHẬT VI THƯỜNG NIÊN_B

13-02-2021 143 lượt xem

Lv 13:1-2, 44-46; 1 Cr 10:31-11:1; Mc 1:40-45

Mục Lục

“NGƯỜI CHẠM VÀO ANH” + ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

LẠY CHÚA, XIN LÀM CHO CHÚNG CON NÊN SẠCHLm. Antôn Nguyễn Văn Độ

ĐỪNG SỢ MỒ MẢ DƯỚI ĐẤTBác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

XIN CHÚA SÁNG SOI CHO BIẾT VIỆC PHẢI LÀMLm. Antôn Nguyễn Văn Độ

LÒNG THƯƠNG XÓT VƯỢT QUA TẤT CẢTu sĩ Jos. Vinc. Ngọc Biển, P.S.S

BỆNH CÙI THỜI NAY Lm. Ansgar Phạm Tĩnh, SDD

ĐỜI HỦI TỦI PHẬNTrầm Thiên Thu

TÌNH YÊU VÀ QUYỀN NĂNGLm. Anphong Vũ Đức Trung, O.P.

Thơ: KHÔNG THỂ LẶNG IMViễn Dzu Tử

Thơ: NGƯỜI BỆNH CÙI ĐƯỢC SẠCH(Thế Kiên Dominic)

“NGƯỜI CHẠM VÀO ANH”

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

Xuất phát từ một chủ để chung là bệnh phong cùi, bài đọc trích sách Lêvi và bài Tin Mừng Thánh Mác-cô hôm nay nêu lên sự khác biệt giữa giáo huấn của Cựu ước và giáo huấn của Tân ước. Xưa cũng như nay, bệnh cùi là một trong những chứng bệnh nan y. Bệnh nhân không chỉ đau đớn về thể xác, mà còn đau đớn về tinh thần, vì bị mọi người khiếp sợ và xa lánh. Sách Lêvi quy định rõ: những ai bị bệnh này phải trùm đầu, phải sống xa khu dân cư và nếu gặp ai, phải hô lớn tiếng để cho người ta biết mà tránh (Bài đọc I). Nếu những người phong cùi bị kết án là “ô uế” thì quyền năng của Con Thiên Chúa đã làm cho người ấy nên thanh sạch. Qua việc giơ tay chạm vào người bệnh nhân, Chúa Giêsu đã vượt qua mọi định kiến của truyền thống cũng như của quan niệm tôn giáo.

Thánh Mác-cô đã dùng động từ “chạm vào” để diễn tả việc Chúa Giêsu chữa lành người cùi. Chạm tới là chia sẻ, là động viên. Đây vừa là một cử chỉ thân thương gần gũi, vừa là một hành động phục hồi người cùi, từ chỗ bị xa lánh, được tái hoà nhập vào cộng đồng. Cử chỉ “chạm tới” của Chúa Giêsu giúp ta liên hệ tới mầu nhiệm nhập thể. Qua mầu nhiệm này, Thiên Chúa đã cúi mình xuống để gặp gỡ con người. Ngôi Hai đã khiêm hạ rời bỏ địa vị cao sang để làm người hoàn toàn như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi. Qua mầu nhiệm nhập thể, Thiên Chúa trở nên gần gũi con người, chạm tới nỗi đau của họ để chữa lành và giúp họ phục hồi. Chúa Giêsu đã tiếp xúc trực tiếp với những người đau khổ bệnh tật, đồng thời Người truyền cho họ sức mạnh và tình thương. Trong Tin Mừng, chúng ta thấy Chúa chạm tay vào chiếc quan tài của người đã chết, làm cho người thanh niên sống lại và cầm tay trao cho người mẹ đang đau khổ (x. Lc 7,11-18). Sứ mạng thiên sai của Chúa là đem lại cho con người niềm vui và hạnh phúc, giúp họ hòa nhập với cộng đồng xã hội và hướng tới phần thưởng đời đời Thiên Chúa dành cho người công chính.

Trong truyền thống Thánh Kinh, bệnh cùi không đơn giản là bệnh tật thể xác, nhưng còn là sự ô uế đối với phụng vụ và đối với cộng đoàn. Họ không được tham dự các buổi hội họp tôn giáo, cũng không được sống chung với những người khác. Vì vậy, tác giả Mác-cô, thay vì nói được chữa lành, thì nói: anh được sạch. Điều đó có nghĩa anh không còn bị coi là ô uế nữa, nhưng đã được thanh sạch nhờ được Chúa chạm tới. Anh cũng được tái hoà nhập vào đời sống cộng đồng như những người bình thường khác. Sau khi chữa cho anh được sạch, Chúa Giêsu bảo anh đi gặp các tư tế để được xác nhận mình không còn bị nhơ uế nữa. Với việc đi trình diện các tư tế, anh được những người có trách nhiệm trong tôn giáo công nhận là thanh sạch. Anh được quyền tham dự các nghi lễ ở Đền thờ và Hội đường. Anh cũng sẽ có một tương lai như biết bao người khác và không bị mọi người xa lánh phân biệt, nhưng trở thành một công dân bình thường. Chúa Giêsu đến trần gian để mời gọi con người hãy đón nhận nhau trong tình huynh đệ, không phân biệt nhơ uế hay thanh sạch, tội lỗi hay thánh thiện, giàu hay nghèo, vì tất cả là đều là anh chị em với nhau.

Thánh Máccô cũng nhấn mạnh đến một hành động của người phong cùi, đó là “đến gặp Chúa Giêsu”. Đối với anh, đến gặp Chúa Giêsu là một hành động bạo dạn và được thúc đẩy bởi lòng tin. Bởi lẽ, như đã nói ở trên, những người phong cùi không chỉ bị cấm tiếp xúc với người khác, mà còn phải hô lớn tiếng “ô uế! ô uế!” mỗi khi gặp người đi ngang qua. Để đến được với Chúa Giêsu, người cùi cũng phải vượt qua mọi quan niệm khắt khe, mọi rào cản của phong tục tập quán. Lòng tin mạnh mẽ đã giúp anh đến với Chúa Giêsu, vì anh tin rằng Người là Đấng quyền năng có thể làm được mọi sự. Thay vì hô lên “ô uế”, người này lại xin Chúa chữa mình được khỏi bệnh và trở nên thanh sạch.

Hành động “đến gặp Chúa Giêsu” của người cùi là mời gọi thôi thúc chúng ta hãy mạnh dạn đến với Chúa. Có nhiều người vì lý do này hay lý do khác ngại ngùng không muốn đến với Chúa và như thế, càng ngày họ càng xao lãng Đức tin. Hãy dến với Chúa, dù còn nhiều khiếm khuyết bất xứng. Chúa Giêsu vẫn đang chờ đợi chúng ta đến với Người để ban ơn phúc và dẫn dắt chỉ lối cho chúng ta trên đường đời. Người phong cùi là có một quyết định quan trọng là đến với Chúa, và quyết định này đã thay đổi cuộc đời, đem lại cho anh một tương lai. Chúng ta cũng vậy, nếu dứt khoát trút bỏ những yếu hèn tội lỗi để về với Chúa, chúng ta sẽ được Người  chạm tới và ban sức mạnh.

Người phong cùi, một khi được chữa lành đã trở thành người loan báo Tin Mừng. Anh muốn hét to lên niềm vui được khỏi bệnh. Anh như người đã chết mà được cứu sống, đã bị loại trừ khỏi xã hội mà nay được tái hòa nhập vào cộng đồng những người thân. Anh muốn nói cho mọi người biết Đức Giêsu là vị Ngôn sứ, là Đấng Thiên sai và là Thiên Chúa quyền năng. Noi gương người phong cùi, mỗi chúng ta, một khi đã lãnh nhận ơn tha thứ của Chúa, cũng hãy là những chứng nhân của lòng thương xót Chúa. Thánh Phaolô đã khuyên chúng ta “hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa”. Thánh nhân cũng cảnh báo chúng ta đừng làm gương xấu cho bất kỳ ai, nhưng hãy nên gương sáng trong mọi hoàn cảnh. Thánh nhân cũng tự hào vì được trở nên giống Chúa Giêsu và mời gọi mọi người hãy làm như mình (Bài đọc II).

Trong những ngày đầu xuân Tân Sửu, theo truyền thống, chúng ta sum họp gia đình, bạn bè để cầu chúc cho nhau những điều tốt lành. Tuy vậy, nếu có những người vui niềm vui sum họp, thì vẫn còn những người đang tìm một mái ấm hoặc đang khao khát tình thương. Qua việc Chúa chữa người phong cùi, chúng ta nhận được bài giáo huấn quan tâm chia sẻ với những người bất hạnh. Những cử chỉ bác ái khi tết đến xuân về là một trong những nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam, nhất là khi những chia sẻ ấy được thực hiện trong tinh thần bác ái Kitô giáo. Khi quảng đại chia sẻ tinh thần vật chất cho những người kém may mắn, mùa xuân sẽ đẹp hơn, nắng xuân sẽ ấm áp hơn, bởi lẽ tình Chúa tình người đang được nhân rộng nơi cuộc sống hôm nay. mục lục

LẠY CHÚA, XIN LÀM CHO CHÚNG CON NÊN SẠCH

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Thánh Máccô tường thuật cho chúng ta việc Chúa Giê-su chữa lành người bệnh phong, cho thấy Chúa Giê-su là thầy thuốc đích thực, chữa lành cả thân thể và linh hồn, Ðấng được Thiên Chúa Cha sai đến thế gian để chữa lành cho nhân loại, để cứu nhân loại khỏi tội lỗi và khỏi những hậu quả của tội.

Bệnh phong cùi đã có từ bao đời nay. Bệnh này thường bị coi là căn bệnh nguy hiểm và cần phải né tránh bởi con người sợ bị lây nhiễm. Người Do Thái thời xưa rất sợ bệnh phong cùi, một căn bệnh nan y bất trị thường gặp lúc bấy giờ. Căn bệnh đáng sợ này có thể tấn công các đầu dây thần kinh của người bệnh, làm cho cơ thể bị thương tổn và biến dạng vĩnh viễn. Vào thời đó, người ta không biết cách chữa căn bệnh này. Người bệnh bị cách ly và bắt buộc phải cảnh báo người khác về căn bệnh của mình (x. Lv 13,1-2. 44-46).

Giới lãnh đạo Do Thái giáo đã đặt thêm luật về bệnh phong cùi, khiến cho cuộc sống của người bệnh gặp khó khăn một cách không cần thiết. Chẳng hạn, luật lệ của giới ráp-bi cấm bất kỳ ai đến gần người phong cù, phải ở xa họ khoảng khoảng 2m. Nhưng nếu đang có gió, không ai được đến gần trong vòng khoảng 45m. Sách Lêvi đưa ra điều luật là người phong cùi phải sống “phải ở riêng, thì phải mặc áo rách, để đầu trần, lấy áo che miệng và la to rằng mình mắc bệnh truyền nhiễm và ô uế. Bao lâu người đó còn mắc bệnh phong cùi và ô uế, họ phải ở riêng một mình ngoài trại”(x. Lv 13,44-46). Tuy nhiên, một số chuyên gia luật Do Thái giải thích rằng điều luật này có nghĩa là những người phong cùi không được sống trong các thành có tường thành. Vì vậy, khi thấy một người phong cùi trong thành, một ráp-bi sẽ ném đá vào người đó và nói: “Hãy trở về chỗ ngươi ở, đừng làm ô uế người khác”.

Về mặt tôn giáo, bệnh phong cùi làm cho người ta trở nên ô uế, tội lỗi. Người Việt Nam chúng ta cũng na ná tương tự như người Do Thái, ai bị bệnh thì phải xa nhà xa cả người thân, địa phương xa lánh người gần người xa, khiến người bệnh cay đắng cực lòng.

Thời Chúa Giêsu, bệnh phong cùi vẫn bị liệt vào loại bị cấm tiếp xúc, người bị bện phải tránh xa và phải làm hiệu để người khác tránh xa mình. Tuy nhiên, Chúa Giêsu lại hoàn toàn khác, bởi vì Người đến để yêu thương và cứu giúp mọi người, nên Người đã chữa lành cho người mắc bệnh phong cùi như trong Tin Mừng Marcô 1,40-45 thuật lại hôm nay.

Người ta coi người cùi là hạng người ô uế, kẻ nào chạm tới người cùi cũng bị lây ô uế. Nhưng Chúa Giêsu đã dám đưa tay chạm tới người cùi này. Chúa Giêsu cũng đánh đổ được huyền thoại của người đương thời với Chúa về bệnh phong cùi. Thật thế, trong quan niệm của người Do Thái lúc đó, bệnh tật còn là một hình phạt trực tiếp của Thiên Chúa đối vớ tội lỗi con người. Người mắc bệnh phong cùi là người đã từng mắc tội ác khủng khiếp đến độ đã bị Thiên Chúa trừng phạt nặng nề. Thế nên, khi bị đẩy ra bên lề xã hội, người phong cùi không những chịu đớn đau trong thân xác, mà còn phải gánh chịu sự tủi nhục do người đồng loại gây ra. Khi chữa lành người phong cùi. Chúa Giêsu muốn chứng tỏ rằng Thiên Chúa vẫn tiếp tục yêu thương con người và chính tình yêu là sức mạnh chữa trị bệnh tật của con người.

Ngày nay bệnh cùi không còn là một chứng nan y bất trị. Nhưng vẫn còn nhiều loại “Người cùi” kiểu khác bị người ta ghê tởm tránh xa, chẳng hạn những người dơ dáy, hôi hám, những người mang cá tính bị người khác ghét bỏ, những người lỡ mang tai tiếng khiến người ta không dám tiếp xúc, họ bị liệt ra bên ngoài xã hội, thiếu sự cảm thông và tình liên đới cộng đồng. Cụ thể hơn là những người tội lỗi. Chỉ có tội lỗi mới làm cho con người ra ô uế. Những thứ tội lỗi như ích kỷ, ngạo mạn, tham ô tham nhũng, những thứ bệnh của tâm hồn như thế cần được thanh tẩy. 

Ngày đầu Năm Mới, mỗi người chúng ta hãy hồi tâm thinh lặng, suy xét lòng mình, để khám phá ra những gì là ô uế, những gì là tội lỗi trong tâm hồn mình để thân thưa với Chúa với cả tấm lòng rằng: "Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho con được sạch!" Chúa cũng lặp lại với chúng ta rằng: "Ta muốn, con hãy lành sạch!". Thật là mừng vui biết bao! Khi ấy thứ bệnh phong của tội lỗi sẽ biến mất, chúng ta có thể trở về sống trong niềm vui con thảo với Thiên Chúa, và niềm vui được sống giữa mọi người.

Con người ta, sinh, lão, bệnh, tử là lẽ thường tình. Bệnh tật là điều phải có trong kiếp sống làm người. Ai cũng có bệnh, không nhẹ thì nặng, chẳng ai thoát khỏi căn bệnh ở đời. Vì thế, chúng ta phải liên đới, hiệp thông và trợ giúp lẫn nhau với tình yêu thương, đặc biệt với những ai mắc bệnh hiểm nghèo.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã vì yêu mà vượt qua ranh giới giữa Thiên Chúa với con người, giữa người khỏe với kẻ bệnh tật để chữa lành họ. Xin trợ giúp chúng con làm được những điều Chúa muốn. Amen. mục lục

ĐỪNG SỢ MỒ MẢ DƯỚI ĐẤT

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

Bài đọc 1 hôm nay cho thấy luật lệ rất khắt khe đối với những người bị bệnh phong cùi (Lv 13:1-2,45-46).

Cùi hủi là loại bệnh mà người ta kinh sợ nhất. Thời xưa nó là bệnh thường thấy và nguy hiểm nên Thiên Chúa đã cho Môsê những giáo huấn chặt chẽ để đối phó với bệnh đó như được nói trong sách Lêvi (chương 13 và 14). Người ta tin là chỉ có Thiên Chúa mới chữa lành được bệnh hủi. Chữa được bệnh hủi là một phép lạ và người chữa lành đó phải là Thiên Chúa.

Theo Kinh Thánh, bệnh phong cùi xuất hiện dưới hai hình thức. Bắt đầu da bị đổi màu từng mảng rồi bệnh xâm nhập lục phủ ngũ tạng. Các thớ thịt và xương ngón tay chân bị thoái hóa trở thành cong queo rồi rụng cụt.

Thời Chúa Giêsu, những người cùi phải sống riêng biệt bên ngoài cộng đồng, cách ly gia đình bạn bè, không được tiếp xúc với bất cứ ai. Sách Lêvi (13:45-46) cho thấy người cùi mặc quần áo rách, đầu phải để trần, râu che lại và ở trong những trại đặc biệt. Nếu có ai không bị bệnh đến gần thì phải kêu lớn tiếng “Tôi dơ bẩn, tôi dơ bẩn”. Vì thế người bi cùi hủi rất đau khổ vì vừa phải sống cách ly khỏi cộng đồng vừa chịu đau đớn thân xác lẫn tinh thần. Đời sống họ chẳng còn gì gọi là cuộc sống nữa. Vậy thì cái gì tồi tệ hơn? Đớn đau vì bệnh tật hay bị cô lập khỏi xã hội?

Tin mừng Máccô (1:40) kể lại,- vì nghe tiếng đồn Chúa Giêsu làm phép lạ lan ra khắp miền, cả nơi những người cùi hủi ở- người cùi bất ngờ quì phục dưới chân Chúa Giêsu van xin Chúa chữa lành. “Thưa ngài, nếu Ngài muốn, xin Ngài chữa cho tôi sạch. Chúa giơ tay đặt vào người đó và nói: Ta muốn, anh hãy khỏi bệnh!”

Đến gần Chúa Giêsu, người cùi đã vi phạm luật Lêvi. Lời anh nói “Thưa Ngài, nếu Ngài muốn, xin Ngài chữa cho tôi được sạch” chứng tỏ anh tin tưởng Chúa có thể chữa lành bệnh cho anh. Lời anh nói cũng có thể thách thức Chúa hành động. Thời ấy, tại miền Địa Trung Hải, sờ mó vào người cùi là một hành động rất can đảm và táo bạo.

Sờ mó một kẻ bị xã hội xua đuổi ghét bỏ, Chúa Giêsu đã chẳng coi luật Lêvi ra gì cả. Ngoài ra khi đó chỉ có các vị tư tế mới có thể tuyên bố ai là kẻ đã khỏi bệnh. Theo luật, Chúa Giêsu biều người bệnh đến gặp vị tư tế để được xác định hết bệnh và không được nói với bất cứ ai khác, nhưng anh ta vẫn lớn tiếng nói cho khắp bàn dân thiên hạ biết.

LÒNG BÁC ÁI VÔ BỜ CỦA VỊ SÁNG LẬP TRẠI CÙI DI LINH

Ở Việt Nam, hồi xưa và có lẽ cả bây giờ, người bị phong cùi cũng bị cô lập ở những trại riêng, dù cách chữa trị và phòng bệnh đã dễ dàng hơn. Mọi người khi nghe nói đến người cùi hủi đều sợ hãi và tránh xa, nhất là những người trốn trai ra ngoài ăn xin. Bài viết về trại Cùi Di Linh với Đức cha Cassaigne và các soeurs đã được viết từ lâu nay nói lại để nhớ đến những vị vì Chúa xả thân mình…

Vị sáng lập trại phong cùi Di Linh: Đức Giám Mục J.B. Cassaigne / Cát Gia Minh

Trong những năm học y khoa, tôi đã có dịp tiếp xúc với bệnh nhân cùi, và có lần đã đi coi trại cùi ở Di Linh do Đức cha J.B.Cassaigne (Giang Cát Sinh) thành lập năm 1927 lúc ngài còn là linh muc thừa sai mới qua Saigon được 2 năm. Ngài đã hy sinh phục vụ người phong cùi mà đa số là người thiểu số cho đến khi làm Giám mục Saigon năm 1941. Ngày 19-12-1945 là ngày kỷ niệm 30 năm linh mục thì cũng là ngày ngài biết ngài bị nhiễm bệnh cùi. Năm 1955, ngài trở lại Di Linh và qua đời tại đó năm 1973. Khẩu hiệu của ngài là “Tình Yêu và Bác Ái / Amor et Caritas”. Đúng vậy, ngài đã hy sinh cho những người khốn khổ bị người đời ruồng bỏ và ghê sợ vì tình yêu và bác ái. Ngài đã hy sinh cả cuộc đời cho người cùi nghèo khổ cho đến chết và xác cũng để lại nằm cùng với những người cùi mà ngài từng chăm sóc, như ngài đã thú nhận: “Tôi đã thấy họ trần truồng, la hét, đói khát, tuyệt vọng. Tôi đã thấy những vết thương của họ lúc nhúc ruồi trong những túp lều dơ bẩn…” Trại cùi Di Linh có được như ngày nay cũng là nhờ vị sáng lập tiên khởi từ lúc còn là vùng đất hoang vu hiểm trở.

Gương phục vụ của một nữ tu: Chị Mai thị Mậu

Nối tiếp sự nghiệp của Đức cha J.B.Cassaigne là chị Mai thị Mậu, một nữ tu dòng Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn. Chị đã phục vụ ở đây 38 năm, từ năm 1968 lúc mới 27 tuổi. Chị đã vui vẻ dẫn chúng tôi đến thăm cả khu cũ và mới, phòng làm hồ sơ trị liệu cho những người anh chị em xấu số này. Qua ánh mắt và thái độ cho thấy chị mến thương tất cả mọi nạn nhân và bệnh nhân. Chị biết tên hết mọi người và từng người chị phục vụ như con cái. 95% nạn nhân ở đây thuộc dân tộc K’Ho và Nùng, nên họ gọi chị là Mơi Mậu (tức là Mẹ Mậu). Trong tổng số 219 người, một số là con cái của họ, và trong số những người con ấy, chị đã nuôi cho ăn học thành 3 bác sĩ và 2 kỹ sư, đang phục vụ cho trại cùi này.

Đúng thế, chị đã phục vụ tại đây 38 năm. Cô thiếu nữ Mai Thị Mậu, năm 12 tuổi, đã theo gia đình từ Hải Hậu, Nam Định di cư vào Sài Gòn. Sau khi tốt nghiệp trung hoc, có một lần cô tình cờ cùng với một người bạn vào thăm thân nhân ở Bệnh Viện Nhi Đồng, cảm thấy thương các em nhỏ ở đó đớn đau la khóc, cô đã thầm nguyện theo học ngành y để sau này phục vụ bệnh nhân ở bất cứ nơi nào. Và thiên ý đã định cho chị đến với Trại Phong Di Linh từ năm 1972 cho tới nay. Vào năm phục vụ thứ 33 ở đây, người nữ tu này đã tâm sự rằng: “Làm sao tôi bỏ đi đâu được, khi họ luôn luôn chờ tôi. Cũng giống như nếu tôi lấy chồng thì trại phong này chính là gia đình chồng tôi vậy. Tôi đã thuộc về nơi ấy!”

Phải, chính vì người nữ tu này đã nhận nơi này làm nhà chồng của mình, và có lẽ chính vì những người anh chị em xấu số được chị phục vụ đã chẳng những trở thành nguyên cớ để chị đã đến không thể bỏ đi, mà còn là động lực để chị hăng say phục vụ hơn nữa, như chị đã tâm sự như sau: “Người cùi luôn khao khát cuộc sống. Khi bị bệnh, họ bị buôn làng và gia đình ruồng rẫy. Đàn ông mất vợ. Đàn bà mất chồng… Vào trại, những con người bị ruồng rẫy ấy gặp nhau, lại nên vợ nên chồng, để tiếp tục cuộc sống bằng sức lực và thân thể đã tàn phế. Tôi học được ở chính những bệnh nhân của tôi tinh thần biết chấp nhận số phận một cách bình thản, không kêu ca oán thán…

Vì biết chấp nhận số phận của mình, hoặc vì trung thực với ơn gọi sống đời tận hiến cho Thiên Chúa trong việc phục vụ tha nhân, thành phần bất hạnh ở trại phong Di Linh này, nữ tu Mai Thị Mậu đã nỗ lực mở mang cho rộng lớn hơn rất nhiều những công trình do vị sáng lập của chị đã gầy dựng từ ban đầu. Thật vậy, chị cho biết: “Năm 1972, tôi tình cờ có dịp chăm sóc cho một bác sĩ người Pháp ở Lâm Đồng bị bệnh nặng. Sau khi giúp ông khỏi bệnh, để trả ơn, ông hỏi tôi muốn gì? Khi biết ông có rất nhiều đất ở vùng này, tôi liền xin mua một miếng đất để sau này giúp cho con cháu người cùi tự lực làm ăn sinh sống. Vị bác sĩ đồng ý ngay và để cho tôi một vạt rừng rộng 53 mẫu, với giá chỉ tròm trèm 15 cây vàng. Tôi tìm mọi cách chắt mót để có được số tiền ấy mua đất”.

Thế là sau bao nhiêu công lao khốn khó do đích thân người nữ tu chân yếu tay mềm này, cùng với những người được Thiên Chúa sai tới vào thời điểm của Ngài, có được mảnh đất là một vạt rừng với những cây thân to cả mấy người ôm mới hết, lại thấp thoáng bóng hoang thú cọp, beo, công, vượn v.v. từ từ đã trở thành nơi trồng cấy khoai mì, khoai lang, bắp, cà phê v.v. Chưa kể khu nhà trẻ mẫu giáo khang trang, tường hồng, gạch men, với vườn hoa thược dược đỏ thẵm trước sân.

Từ đó, các con em thuộc trại phong Di Linh được chuyển đến đây, cách 12 cây số, ở xã Gia Hiệp để sinh sống biệt lập. Thật là một chuyện hình như chưa hề xẩy ra trong lịch sử các trại phong cùi. Các em dù có gia đình hay chưa, đều được hướng dẫn trồng trọt và chăn nuôi, trong vòng 5 năm, rồi sau đó sống tự lập. Cách đây mấy năm đã có 30 hộ gia đình tự lập, với 4 sào đất được cấp cho và một căn nhà trị giá 12 triệu đồng Việt Nam (tương đương với trên 700 Mỹ kim). Trẻ em trong trại đều được đi học. Nay đã có 3 em làm bác sĩ và 2 em làm kỹ sư đang phục vụ tại chính trại Phong Di Linh như đã nói. 

Khi chị đang dẫn chúng tôi từ khu nạn nhân đến khu bệnh nhân, tôi thấy một nữ tu trẻ đẹp, đang phục vụ bệnh nhân ở đấy, đang tiến ngược về phía phái đoàn viếng thăm của chúng tôi. Tôi tránh sang một bên, đợi đến khi người nữ tu bước ngang qua trước mặt mình, tôi lên tiếng nói: “ngưỡng phục, ngưỡng phục!” Một nữ tu trẻ đẹp, mới 32 cái xuân xanh -như Mơi Mậu cho biết- kể như chôn vùi cuộc đời phơi phới đầy tương lai của mình trong trại cùi này hoàn toàn tự nguyện. Nếu trong trại này -Mơi Mậu kể- có hai người đàn bà nạn nhân cùi, một người đã chết 80 tuổi, và một người đang sống 70 tuổi, vẫn còn muốn lập gia đình, để tìm hạnh phúc cho tấm thân tàn ma dại già nua của mình vào những ngày cuối đời, thì lại càng phải ngưỡng phục biết bao con người nữ tu trẻ đẹp đang hiến thân phục vụ ở một ngọn đồi hoang vắng chẳng ai biết đến ấy. Hạnh phúc của người nữ tu trẻ đẹp ấy không phải là tình yêu phái tính mà là đức ái trọn hảo!

Chắc chắn người nữ tu Việt Nam trẻ đẹp này không thể nào tự mình có thể hy sinh tận tuyệt đến như thế, ít là cho tới bấy giờ, nếu không được thu hút bởi Đấng là Tình Yêu, Đấng cũng đã bất ngờ chiếm đoạt con tim của một chiêu đãi viên hàng không người Pháp. Cô chiêu đãi viên xinh đẹp duyên dáng Pháp quốc này đã trở thành một nữ tu, và đã hiến trọn đời mình để phục vụ những anh chị em xấu số, cũng tại chính trại cùi Di Linh này. Người nữ tu này -Mơi Mậu cho biết- cũng trẻ đẹp và đã qua đời rồi. Người chiêu đãi viên hàng không trở thành người nữ tu phục vụ trại cùi Di Linh ấy, như truyện kể, đã thực sự được vị Tình Quân là Tình Yêu của cô chinh phục trên một chuyến bay, sau khi nghe thấy một vị hồng y nói rằng: cô đẹp lắm, nhưng cái duyên sắc mà cô có được là do Thiên Chúa đã lấy của bao nhiêu người cùi để trang điểm cho cô đó!

Tấm lòng bác ái của Sơ Mai Thị Mậu

Vào năm 1973, khi Đức cha Cassaigne, người sáng lập làng phong cùi này qua đời vì bị lây bệnh, người nữ tu trẻ tuổi này quyết định xin ở lại trại cùi vĩnh viễn để được tiếp tục săn sóc cho các bệnh nhân. Nơi rừng thiêng nước độc và hẻo lánh, cả làng phong cùi chỉ có đôi ba nữ tu phục vụ, chẳng một ai ngó ngàng đến. Chị Mậu kể lại:

-“Lúc đó, mọi người ai cũng sợ hết, những người bị phong cúi họ cho ở riêng một chỗ, chứ không ở chung trong gia đình. Ví dụ cách nhà của họ mấy chục thước thì họ làm cho một cái chòi để mà ở. Thời đó ai cũng sợ, không có ai dám bước đến trại phong, không ai giúp đỡ…Chỉ ngoài những nữ tu phục vụ thì ở đó thôi. Cũng không có bệnh viện nào nhận người cùi hết, chỉ có một bệnh viện Chợ Quán, có hai chục giường là để riêng cho người bị bệnh phong, cần nằm thì cho nằm thôi…Còn ngoài ra, tất cả các bệnh viện khác, không có ai nhận người phong hết, vì họ quá sợ…Thành ra, trong trại, các nữ tu theo nghề nghiệp của mình phải lo cho họ, tất cả mọi thứ, ngoài bệnh phong ra, phải tìm mọi cách để mà lo cho họ...” 

-“Là một y tá, -chị Mậu kể tiếp- tôi chịu trách nhiệm trực tiếp điều trị cho bệnh nhân. Các ngón tay chân bị mất, ngắn, cụt, nhỏ lại, bị co rút, trông cong queo, không kéo ra được. Vi trùng hủi nó làm hại đến cả dây thần kinh ở mặt và tay…làm cho miệng méo, mắt không nhắm được, sống mũi sập xuống. Tóm lại bệnh này nó tàn phá con người cả thể xác lẫn tinh thần đến tàn tật, chưa kể đến những đau đớn lở loét thúi tha dơ bẩn  mà người bệnh phải chịu.…Cuối cùng là chúng tôi phải nuôi dưỡng và chăm sóc những người bị tàn phế cả thể xác lẫn tinh thần.”

Nâng đỡ tinh thần bệnh nhân

Không những chỉ chăm sóc về thể xác, mà chị còn tìm cách nâng đỡ tinh thần cho họ. Đa số những bệnh nhân khi đến trại đều bị gia đình bỏ rơi, hàng xóm láng giềng ghẻ lạnh nên họ rất buồn tủi…

“Ngày xưa -chị nói- họ ở theo tập thể gia đình, cứ mỗi một cái nhà bằng gỗ, 12 thước,

 chia ra, những người độc thân thì ở chung với nhau, 2, 3 người một phòng, rất là thiếu tiện nghi. Lúc đó, cũng ít người có gia đình, vì những người vợ, hay chồng bị bệnh bị bỏ rơi thì vô trại, còn những vợ hay chồng không bị phong thì họ ở lại làng…đương nhiên là người ta sẽ lấy chồng khác, vợ khác. Khi họ vào đây thì họ lại lấy nhau làm thành một gia đình khác…Con cái theo mẹ, nếu sinh con ở đây thì con cái thuộc về đây luôn…”

Được hỏi làm thế nào để tránh cho con cái của bệnh nhân không bị nhiễm bệnh phong? Chị cho biết: lúc đầu, cách ly con ngay khi lọt lòng mẹ, nhưng vì điều kiện vật chất quá thiếu thốn nên khi tách con sớm như thế thì hay bị chết non. Do đó, chị Mậu quyết định để hẳn trong trại phong nhưng cách ly sinh hoạt, cho ăn uống và ngủ riêng. Nhờ vậy, sự lây lan cũng đỡ dần. Với quyết tâm xây dựng tương lai cho các con của bệnh nhân được học hành đến nơi đến chốn, Sơ Mậu tìm mọi cách thuyết phục các trường học thu nhận các em này. Chị kể lại: “Hồi đầu họ nhất định không cho học, nhưng sau này, khi họ biết các cháu ở riêng, và phải có giấy xác nhận là không có bệnh thì họ mới cho học…Các em đi học từ mẫu giáo đến cấp ba, em nào đi học đại học thì cho nó đi học ở thành phố Saigon hay ngoài Huế, theo các ngành nghề khác nhau…Những em học về ngành Y thì tụi nó trở về đây giúp, còn các ngành khác thì mình xin việc cho chúng nó làm như đi dậy học ở trường của tỉnh, còn kỹ sư thì chúng nó tự xin công việc ở thành phố hay các tỉnh…Nhưng nếu mình cần, thì cũng kêu các em về và cũng trả lương cho các em, thí dụ như em nào là kỹ sư nông nghiệp, mình có đất sản xuất, chăn nuôi, thì phải nhờ nó, thì mình cũng trả lương để các em về làm cho mình…Còn các em y, bác sĩ, thì nhà nước trả lương…”

Làng phục hồi: 

Để giúp cho gia đình của các bệnh nhân tự lập và hoà nhập vào cộng đồng, Chị Mậu có sáng kiến lập làng phục hồi. Cũng nhờ ngày xưa, trước năm 1975, với sự hỗ trợ của nhà Dòng và các ân nhân, chị mua được một miếng đất hoang vu, cách trại chừng 12 km, và đưa những người còn có khả năng làm việc về đó sinh sống và khai khẩn đất hoang, Chị nói: “Những người đó đã khỏi bệnh, sạch vi trùng, nhưng tàn phế, cùng với con em của họ về đấy sinh sống, làm thành một làng, hoà đồng vào xã hội…Tất cả những ai còn sức lao động, hay không tàn phế nhiều thì mình chuyển họ lên đó, vì ở trong này quá lâu, đất đai nhà cửa lại không còn đủ nữa…lên đó họ có đất đó để làm ăn…

Sau này, mình tập cho họ tự lo liệu lấy với hết khả năng của họ, rồi thiếu tới đâu, mình giúp tới đó…mình tập cho họ không còn là gánh nặng cho xã hội nữa…Thí dụ mình khoẻ mạnh thì làm được 90%, còn họ làm 40%....” Cũng theo lời chị Mậu, hầu hết kinh phí để lo cho đời sống của bệnh nhân và con cái họ là do các nữ tu tự xoay sở lấy. Trước kia, trại có sự hỗ trợ của nhà dòng và các ân nhân cùng bạn bè của cha Cassaigne. Sau năm 1975, nhà nước bắt đầu quản lý, thì: “Nhà nước cho được 5 ký gạo, và 5000 đồng cho mỗi bệnh nhân….Sau đó, cứ lên dần, 20 ngàn, 50 ngàn…rồi 100 ngàn…bắt đầu năm nay thì được hai trăm ngàn một người…Bây giờ ở Việt Nam cũng nhờ có phong trào làm việc xã hội, nên họ cũng rủ nhau, qua những đoàn đi tham quan Đà Lạt, hoặc là thăm chùa, bên Công Giáo là các ngày lễ lớn, hay tết, thì người ta cũng rủ nhau đến tặng quà cho bệnh nhân…mỗi chỗ họ cho một ít.”

Sau 38 năm làm việc tại trại phong Di Linh, giờ đây, nhìn lại những gì đã trải qua, Chị tâm sự: “Trong một khu vực mà chẳng một ai dám đến, nên đỡ đẻ cũng mình, nhổ răng cũng mình, chăm sóc cũng mình, chôn cất cũng mình, rồi lo ăn uống cũng mình…nhà cửa cho họ cũng mình… như một người mẹ lo cho các con vậy. Thật ra thì mình cũng có lý tưởng của mình rồi, không có sợ gì cả, giống như những người họ dấn thân vào bệnh Sida/HIV, nếu người ta sợ, người ta đâu có dấn thân như vậy.

Mình tận hiến để lo cho họ, những anh em nghèo khổ, đó là mục đích của mình… Chăm sóc họ về cả thể xác lẫn tinh thần, dậy dỗ, giáo dục cho các em về nhân bản, nhân cách, là một công dân tốt trong xã hội và có thể đưa họ đến đời sống thiêng liêng thánh thiện nữa. Mình phục vụ cho họ vô vị lợi, chứ không vì cá nhân hay gia đình mình…”

Tấm lòng của một người mẹ

Dưới đây là cảm nghĩ của một số nạn nhân được nữ tu Mai Mậu chăm sóc:

Nữ hộ sinh kiêm điều dưỡng Ka Siuh, năm nay 31 tuổi, hiện đang làm việc tại khu điều trị thì nói: “Em sinh ra và lớn lên trong trại cùi này luôn…Dì Mậu như là người mẹ của tụi em vậy, dì săn sóc tụi em từ khi mới sinh ra cho đến khi lớn lên, học hành và lo cho tụi em đến khi thành tài.”

Anh Krung, năm nay 42 tuổi cho biết: “Tôi là người dân tộc. Tôi sống ở đây được 6 năm rồi, vô đây được các dì giúp đỡ. Từ ngày tôi mắc bệnh, tôi bất mãn và chán chường lắm. Từ khi tôi vô trại, được sự giúp đỡ, tôi cũng bớt mặc cảm đi. Tôi sống rất thoải mái và hạnh phúc. Trong một thời gian điều trị thì tôi hết bệnh…được sơ đào tạo cho một nghề sửa xe. Tôi thấy sơ Mậu như một người mẹ tốt, đã tận tình giúp tôi trong những ngày tôi đau ốm.”

Bác Đinh Văn Cung, người đã sống trong trại 40 năm qua, hiện có hai con đang theo học Đại Học Y Dược ở Saigon, đã phát biểu:“Trong gần 40 năm, dì đã yêu thương, tận tình chăm sóc chúng tôi và làm cho cuộc sống của chúng tôi được hạnh phúc và tràn đầy niềm vui, những điều mà tưởng rằng chúng tôi không bao giờ có được nữa khi chúng tôi phải chịu nỗi bất hạnh của bệnh phong cùi…Dì đã cho con cái của chúng tôi một tương lai tươi sáng khi lo lắng, giúp đỡ, khích lệ từng đưá con của chúng tôi nỗ lực học tập để hoà nhập vào cộng đồng…”

Còn với Soeur Tiến, người đã làm việc trong trại 22 năm qua bên cạnh Soeur Mậu, chứng kiến bao sự thăng trầm và gian nan vất vả của Soeur Mậu, đã chia xẻ: “Soeur Mậu là một người rất có bản lĩnh trong vấn đề phục vụ…giống như những người kinh doanh để làm giầu, bà bạo gan, bà dám nói, dám làm, bà rất táo bạo trong những công việc để phục vụ cho các bệnh nhân chứ không phải cho cá nhân bà…Nhờ đó, mà cho đến ngày hôm nay, các bệnh nhân và con em của bệnh nhân mới có được như ngày hôm nay.”

Với tâm nguyện phần nào chăm sóc và xoa dịu những nỗi bất hạnh của những người bệnh phong cùi, với quyết tâm đem lại cho đời sống và con cái của họ một tương lai tốt đẹp, chị Mai thị Mậu đã kiên trì vượt qua bao gian khổ, khó khăn cùng chia xẻ bao mồ hôi và nước mắt với bệnh nhân, để ngày nay họ được hưởng một cuộc sống tươi sáng hơn. Cảm phục thay sự can đảm và hy sinh của chị ! … (Theo Phương Anh, phóng viên đài RFA, nguồn RFA)

Trong Giáo Hội còn có hai vị thánh đã hy sinh cho người cùi, dám sờ mó và ôm lấy thân xác họ là Thánh Damien đảo Molokai (Joseph De Veuster), và Chân phước chị Marianne Cope

Thánh Damien đảo Molokai

Thánh Damien sinh năm 1840 tại Bỉ. Năm 20 tuổi ngài gia nhập dòng Trái Tim Cực Thánh Chúa và được sai đi truyền giáo tại quần đảo Ha Uy Di và lấy tên là Damien. Sau 9 năm thi hành chức vụ linh mục, năm 1873 ngài nhận nhiệm vụ làm việc giữa những người phong cùi trên đảo Molokai. Năm 1885 ngài bị mắc bệnh cùi và chết hồi tháng 4 năm 1889. Ngài được Đức Gioan Phaolo II tuyên Chân phước năm 1994 rồi tuyên Hiển Thánh tháng 10 năm 2009 bởi Đức Bênêđíctô XVI.

Lạy thánh Damien, xin giúp chúng con không biết sợ những nấm mồ ở trần gian này. Ngài đến đảo Molokai này của những người cùi như là đến một nghĩa địa, một hỏa ngục của những người sống. Bài giảng đầu tiên của ngài đã như muốn hòa đồng, ôm chặt lấy tất cả mọi người phong cùi ở đó khi ngài cất tiếng: “Chúng ta đều là những người cùi hủi” thì ngay lập tức người cùi đã nói với ngài: “Cha ơi, nguy hiểm lắm, cha hãy cẩn thận, cha có thể lây bệnh của chúng con”. Ngài liền trả lời: “Cha là cha, nếu bệnh tật có lấy đi cái thân xác này thì Thiên Chúa sẽ cho cha lại một thân xác khác.”

Chân Phước Marianne Cope (1838-1918)

Chị Marianne Cope là mẹ của những người cùi ở đảo Molokai. Vào thập niên 1880, đang là bề trên Hội Dòng Chị Em thánh Phan Sinh tại Syracuse, Nữu Ước, chị Marianne nghe lời kêu gọi đến săn sóc những người cùi hủi trên đảo Molokai ở Hawaii. Cùng với cha Damien, chị làm việc trong một xã hội của những người cùi khốn khổ bị bỏ rơi trên đảo mà không bao giờ được trở lại với gia đình.

Vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 khoảng chừng 10% người cùi trên đảo Molokai và bán đảo Kalaupapa là phật tử. Còn lại thì đa số theo đạo của dân địa phương Polynesian, một số người theo Tin Lành và một số là Công Giáo. Chị Marianne thương yêu tất cả mọi người không phân biệt niềm tin, săn sóc họ như nhau với tất cả lòng trắc ẩn.Tất cả mọi người trên đảo đều tỏ lòng kính mến cha Damien và Mẹ Marianne là những người đã chữa lành họ cả thân xác lẫn linh hồn.

ĐÔI LỜI KẾT: ĐỪNG SỢ

Sau cùng, chúng ta hãy nhớ lại Chân Phước Teresa thành Calcutta (1910-1997) là người không bao giờ sợ phải nhìn và chạm vào mặt Chúa Giesu qua những gương mặt buồn rầu khốn khổ của những người nghèo khổ nhất trong những người nghèo.

Mẹ Teresa viết: “Trọn vẹn trái tim của chúng ta được thể hiện qua hành động chúng ta đối sử với người cùi hủi, với những người đang hấp hối và những người vô gia cư. Đôi khi làm việc với những người đang hấp hối ở ngoài đường thì khó khăn hơn với những người nhà, vì họ sẵn sàng chờ đợi giây phút đi về với Chúa một cách an bình.

“Bạn có thể đụng chạm vào người bệnh, người phong cùi và tin rằng bạn đang đụng vào thân xác Chúa Kito. Nhưng nó sẽ khó khăn hơn nhiều khi những người đó đang say hoặc la lối nghĩ rằng mình là chúa Giesu đau khổ. Bàn tay bạn phải sạch sẽ và dịu dàng thế nào để có thể nói lên được nỗi trắc ẩn trạnh lòng thương của bạn đối với họ!

“Chúng ta cần có một trái tim tinh tuyền để nhìn Chúa Giêsu qua một người có đời sống tinh thần nghèo nàn nhất. Vì vậy hình ảnh Thiên Chúa trong con người đó càng buồn rầu đau khổ, thì lòng đạo đức và niềm tin của chúng ta trong việc tìm kiếm gương mặt Chúa Giêsu và phụng sự Người càng to lớn.”

Đa số người ta chưa bao giờ nhìn thấy người phong cùi. Chúng ta cũng sẽ chẳng biết gì về việc họ bị xã hội cách ly hoàn toàn như vậy. Nhưng ngày nay còn có những loại phong cùi khác đang phá hủy con người, giết chết tinh thần và hy vọng của họ, lại cách ly họ khỏi xã hội. Ai là những kẻ cùi hủi đó trong cuộc sống của chúng ta, đang đau khổ vì tật bệnh thể xác làm ô uế, cách ly và tách biệt những người khác ra khỏi đất sống của những người bình thường? Những điều kiện nào trong xã hội ngày nay đang làm cho con người trở thành kẻ sống như đã chết, đẩy họ vào nghĩa địa, ngục tối của xấu xa hèn hạ, của nghèo đói, thất vọng, cô đơn, bạo động, sầu buồn, thất vọng, vô gia cư, nghiện ngập và tâm trí bệnh hoạn?

Đừng sợ mồ mả dưới đất. Hãy vào những túp lều dơ bẩn đó và mang lời an ủi, cử chỉ chữa lành cho mọi người. Theo lời Mẹ Teresa thành Calcutta: “Công việc càng ghê gớm dơ bẩn thì niềm tin và lòng tận hiến càng to lớn. Có những điều chúng ta cảm thấy ghê gớm và không ưa thích nhưng nếu chúng ta vượt qua được nó vì tình yêu Thiên Chúa thì chúng ta đã là những anh hùng rồi.” mục lục

XIN CHÚA SÁNG SOI CHO BIẾT VIỆC PHẢI LÀM

(SN lễ mùng 3 Tết Tân Sửu - Ga 20,19-31)

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Để thánh hóa ba ngày Tết Nguyên Đán, Hội Thánh Việt Nam đã chỉ định Ngày mồng ba Tết, Ngày Cầu Mùa, để xin Chúa chúc lành cho công việc làm ăn được phát đạt.

Sau khi đã vui chơi ăn Tết, đến lúc phải bắt tay vào làm việc. Lời nguyện nhập lễ giao thừa chúng ta cúi xin Chúa rộng ban cho chúng ta một năm mới dồi dào phúc lộc và đầy lòng hăng hái làm việc lành để tôn vinh Danh Thánh.

Thánh Phaolô đã có một kinh nghiệm tuyệt vời khi chia sẻ: “Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm”(Rm 7,19). Điều này có nghĩa là, chúng ta không thể điều khiển được chính mình, chúng ta không đủ nghị lực để dám chắc mọi điều ta làm đều tốt. Vì thế, Giáo Hội mời gọi chúng ta đọc“Kinh Sáng Soi” để xin Chúa hướng dẫn, nhất là thánh hóa trước khi bắt đầu việc làm trong năm mới. “Cúi xin Chúa sáng soi cho chúng con được biết việc phải làm, cùng khi làm xin Chúa giúp đỡ cho mỗi kinh mỗi việc chúng con, từ khởi sự cho đến hoàn thành đều nhờ bởi ơn Chúa. Amen”.

Lời kinh này chất chứa niềm tin tưởng và lòng cậy trông vững vàng của những người con Chúa.

Quả thật, khi chúng ta  : “Xin Chúa sáng soi cho chúng con được biết việc phải làm” là chúng ta khơi lên niềm khát mong được nguồn ánh sáng của Chúa soi dẫn tâm trí, lời nói, việc làm… cho chính bản thân ta và đồng thời xin Chúa thánh hóa. Bởi đã có không ít lần chúng ta bắt đầu làm việc mà không biết phải làm gì hoặc phải bắt đầu từ đâu. Vì thế, khi giục lòng cậy trông xin ơn Chúa soi sáng là ta nhận biết về uy quyền của Thiên Chúa trong đời sống chúng ta suốt năm tháng ngày giờ. 

Thiên Chúa đặt con người làm chủ

Sau khi đã tạo dựng vạn vật muôn loài, Thiên Chúa phán : "Chúng ta hãy dựng nên con người theo hình ảnh giống như Ta, để chúng làm chủ cá biển, chim trời, dã thú khắp mặt đất" (St 1, 26). Thế là "Thiên Chúa lấy bù đất nắn thành con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi và con người trở thành một vật sống . Thiên Chúa lập một vường tại Eđen về phía đông và đặt vào đó con người mà Ngài đã dựng nên" (St 2, …). Việc con người được dựng nên từ bùn đất cho thấy tính chất yếu hèn, mỏng giòn của thân phận. Nhưng Thiên Chúa lại tạo nên con người và ban cho con người hình ảnh Chúa, cho con người được chia sẻ sự sống của Chúa, phú ban cho con người sự sống siêu nhiên và nhiều đặc ân như trí khôn minh mẫn, ý chí hướng thiện, không phải đau khổ và không phải chết và nhất là đặt con người làm chủ công trình Chúa sáng tạo, làm chủ chính mình trong ơn sủng mà Thiên Chúa đã ban cho.

Việc làm trong chương trình của Thiên Chúa

Công ăn việc làm là một phần trong chương trình của Thiên Chúa Sáng Tạo. Trong sách Sáng Thế, đề tài trái đất như là nhà - vườn được trao phó cho con người săn sóc và canh tác (x. St 2,8.15) đã đuợc diễn tả như sau : "Ngày Thiên Chúa làm ra đất và trời, chưa có bụi cây ngoài đồng nào trên mặt đất, chưa có đám cỏ ngoài đồng nào mọc lên, vì Chúa là Thiên Chúa chưa cho mưa xuống đất và không có người để canh tác đất đai, và Người làm trào lên từ đất nước của các con kinh để tưới" (St 2,4b-6). Vẻ đẹp của trái đất và phẩm giá của công ăn việc làm được làm ra để nối kết với nhau. Cả hai song hành cùng nhau: trái đất trở nên xinh đẹp, khi nó được con người canh tác.

Hình ảnh địa đàng, nơi con người là chủ, sống, cày cấy và canh giữ đất đai (x. St 2,4-15), cho thấy con người nguyên thủy sống trong mối hiệp thông thân tình với Thiên Chúa, hài hòa với chính mình, với nhau và với cả vạn vật chung quanh. Trong tình trạng hạnh phúc và công chính nguyên thủy đó, con người làm chủ chính mình, không phải đau khổ và không phải chết. Lao động không là gánh nặng nhưng là sự cộng tác của con người với Thiên Chúa, nhằm kiện toàn chính bản thân và cả công trình tạo dựng của Thiên Chúa.Vì “khi chúng ta làm việc là chúng ta cộng tác với Đấng đang làm việc…bởi vì không có Chúa chúng ta không thể làm được gì” (Thánh Augustino - GL HTCG Số 2001). Ý thức được giá trị ấy, con người phải có nghĩa vụ sinh lời từ những ân phúc do Chúa tặng ban.

Làm gì với nén bạc Chúa trao 

Tin Mừng ngày xin Chúa thánh hóa công ăn việc làm hôm nay thuật lại câu chuyện ba người đầy tớ được ông chủ tin tưởng trao phó tài sản của mình trước khi ông bắt đầu một cuộc hành trình dài. Hai trong số họ đã làm rất tốt công việc của mình, vì họ đã làm sinh lợi gấp đôi cái nhận được. Nhưng người thứ ba thì không: “Người lãnh một nén, thì đi đào lỗ chôn giấu tiền của chủ mình” (Mt 25,18). Anh đào lỗ chôn giấu, vì sợ ông chủ, không biết làm thế nào để sinh hoa lợi. Đây có lẽ là trung tâm của dụ ngôn.

Việc gì đến cũng sẽ đến, chủ trở về, ông gọi các đầy tớ lại để tính sổ những gì ông đã trao phó cho họ. Ông hoanh nghênh hai người đầu tiên, và tỏ sự thất vọng đối với người thứ ba. Trong thực tế, người thứ ba đã sai lầm khi chôn kín số tiền nhận được, anh hành xử như thể sẽ không có ngày anh sẽ bị hỏi về những việc anh đã làm. Với dụ ngôn này, Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta cách sử dụng tốt những gì chúng ta đã được ban tặng.

Ý nghĩa của dụ ngôn này thật rõ ràng. Ông chủ trong dụ ngôn này là Chúa Giêsu, những đầy tớ là chúng ta và những nén bạc là tài sản mà Thiên Chúa đã giao phó cho chúng ta. Khi thông ban cho chúng ta sự sống, Thiên Chúa cũng phú ban cho chúng ta những nén bạc, có thể là khả năng nhiều hay ít. Các nén bạc tượng trưng cho những ơn ban của Chúa để phát triển cá nhân, đạo đức và tôn giáo. Các nén bạc ấy, Ngài đã ủy thác để chúng ta làm cho chúng sinh lời. Cái hố được đào dưới đất bởi người “đầy tớ xấu xa và biếng nhác” (Mt 25, 26). Chúa không yêu cầu chúng ta phải bảo quản ân ban của Ngài trong két sắt! Nhưng mong muốn rằng, chúng ta sử dụng nó để sinh lợi cho tha nhân. 

Những nén bạc không đồng đều, kẻ nhiều người ít. Nhiều hay ít, số lượng không quan trọng. Quan trọng là cách mỗi người làm việc với những nén bạc đó. Chúa chú ý tới cố gắng của mỗi người. Bởi thế, người đã lãnh năm nén và người đã lãnh hai nén mà xử dụng tốt đều được thưởng như nhau, là “vào hưởng sự vui mừng của chủ” (x.Mt 25, 21.23). Bạc Chúa trao cho chúng ta phải ra sức làm việc để sinh lời. Việc sinh lời không hệ tại số lượng nén bạc được gia tăng, mà hệ tại tấm lòng của người tôi tớ, người ấy biết chủ tín nhiệm mình nên để đáp lại anh cũng hết lòng với chủ.

Chúng ta hãy cầu xin Chúa sáng soi, để chúng ta biết việc phải làm. Đồng thới luôn ý thức về sứ mạng Chúa trao ban là làm chủ, để chúng ta mến yêu lao động, cộng tác vào công trình cứu độ của Chúa.  Chúng ta không làm việc một mình, nhưng có Chúa cùng hoạt động.

Xin Chúa chúc phúc cho công ăn việc làm của chúng con trong suốt cả năm mới này. Amen. mục lục

LÒNG THƯƠNG XÓT VƯỢT QUA TẤT CẢ

Tu sĩ Jos. Vinc. Ngọc Biển, P.S.S

Có một cô gái đẹp và tính tình rất tốt. Nhan sắc cũng như đức tính của cô làm mê hồn nhiều chàng trai, khiến biết bao trai tráng trong làng mê mẩn đến điên cuồng và rất nhiều người muốn được làm chồng cô trong tương lai!

Tuy nhiên, một tai ương ập đến với cô, đó là: một hôm, cô đang nấu ăn ở trong bếp, bỗng nhiên bình ga bốc nổ, khiến lửa bốc cháy dữ dội và bén vào người làm cô bị bỏng rất nặng. Người thân của cô đưa cô đến bệnh viện, nhưng các bác sĩ chỉ có thể cứu sống cô, họ không thể làm thêm được gì hết! Kết cục, khuôn mặt và thân hình của cô bị biến dạng, trông ghê rợn hãi hùng! Cũng kể từ thời điểm đó, cô không được sự ngưỡng mộ của những thanh niên cùng trang lứa. Chẳng ai thèm để ý và hy vọng được làm chồng của cô như trước nữa. Ai nhìn thấy cô, họ cũng đều sợ hãi vì sự dị dạng bất thường nơi cô. Nhiều người còn buông ra những lời nguyền rủa không thương tiếc cho số phận hẩm hiu của nàng. Nói chung, họ đều xa tránh cô, khiến cô rất đau đớn thể xác và khốn khổ về tinh thần! 

Hôm nay, câu chuyện Tin Mừng cũng trình bày về số phận của người bị phong cùi. Anh ta cũng trải qua biết bao đau đớn về thể xác và chịu đựng nỗi khốn khổ khôn nguôi về tinh thần.

Tuy nhiên, may mắn cho anh cùi trong Tin Mừng chúng ta vừa nghe, giữa biết bao người khinh miệt, ruồng bỏ, hất hủi, loại trừ, chà đạp và xúc phạm, anh đã gặp được quý nhân phù trợ. Đức Giêsu đã không chỉ thương anh bằng tình thương của con người với nhau, mà Ngài còn thương anh bằng trái tim và lòng thương xót của Thiên Chúa, nên anh đã được chữa lành không chỉ thể xác, nhưng còn được chữa lành mọi vết thương trong tâm hồn mà bấy lâu anh đã lãnh chịu. 

1. Căn bệnh thế kỷ và nỗi khổ khôn nguôi

Để hiểu được nỗi khổ tâm đến xót xa của người bệnh và thấy được lòng thương xót vô biên của Đức Giêsu, chúng ta cần tìm hiểu về quan niệm, lối nhìn của người Dothái thời bấy giờ về căn bệnh quái ác này và thái độ của họ đối với người không may mắc phải.

Vào thời Đức Giêsu, người ta rất sợ hãi nghe được hay nhìn thấy hoặc đụng trạm đến những người bị bệnh phong. Họ coi những người này như một thứ quái dị, đồ bỏ. Vì thế, những người bị mắc phải bệnh cùi, họ bị chính người thân trong gia đình và xã hội loại ra bên lề. 

Theo quan niệm của người Dothái, bất cứ ai tiếp xúc với người bệnh phong thì đều bị coi là ô uế và nếu đụng chạm tới thì mắc tội trọng. Người mắc bệnh phong cùi thì không bao giờ được vào thành Giêrusalem cũng như bất cứ thành phố nào được bảo vệ bằng tường bao. Người phong cùi mà vô tình thò đầu vào nhà nào thì nhà ấy trở thành nhà ô uế và ngay cả cái kèo trên mái nhà cũng bị ô uế theo. Khi ra ngoài đường, họ không được chào hỏi ai và cũng chẳng được ai chào hỏi. Khoảng cách mà người bệnh và người khỏe phải giữ với nhau, đó là gần hai mét. Nếu vô tình, người bệnh đứng ở đầu gió, thì những ai ở cùng hướng gió phải cách 45 mét. Hơn nữa, người ta kiêng kỵ đến độ những vật bày bán ở nơi người phong đi qua, cũng không nên mua và chắc chắn là không ăn. 

Tuy nhiên, không chỉ dừng lại ở góc độ bị coi thường khinh miệt, mà chính bản thân họ, họ cũng phải tự mình ý thức là người đáng bị kinh tởm và tự nhận mình là người gây nên sự bất tiện cho mọi người. Để hiểu rõ điều này, chúng ta thấy sách Lêvi có đề cập đến như sau: “Người mắc bệnh phong hủi phải mặc áo rách, xõa tóc che râu và kêu lên: ‘Ô uế! Ô uế!’ Bao lâu còn mắc bệnh, thì nó ô uế; nó ô uế: nó phải ở riêng ra, chỗ ở của nó là một nơi bên ngoài trại” (Lv 13,45-46).

Chính vì sự phân biệt phũ phàng đến như vậy, nên họ bị đẩy vào rừng sâu hay nơi sa mạc hoặc ra nơi đồng ruộng để tồn tại.

Trong hoàn cảnh đó, những người bị bệnh, họ đau đớn tột cùng về thể xác, nhưng có lẽ nỗi đau tinh thần còn lớn hơn gấp bội qua việc bị khinh thường và loại trừ ngay từ những người thân. Nỗi ám ảnh về số phận và tự ti vì bị coi là tội lỗi nên mới phải chịu thứ bệnh quái ác này đã làm cho họ bị dằn vặt tinh thần rất nhiều!

Tuy nhiên, hôm nay, Đức Giêsu và chính anh cùi đã lội ngược dòng với những quan niệm của người Dothái đương thời, để giữa Ngài và anh có một mối liên hệ mật thiết qua lòng trắc ẩn của Đức Giêsu và nơi đức tin mạnh mẽ của anh, khiến Đức Giêsu đã làm phép lạ để giải thoát anh cách toàn diện, trọn vẹn. 

2. Đức tin và lòng thương xót

Vượt qua ranh giới, bất chấp lề luật, chẳng sợ lây nhiễm, nên Đức Giêsu đã tiến lại và chạm vào người bị phong cùi. Đây là hành vi phi thường đến dợn tóc gáy mỗi khi người Dothái nghĩ tới!

Còn nơi người phong cùi, anh ta có thái độ tin tưởng quá phi thường và thái độ tôn thờ đến tuyệt đối, nên đã dám đến gần Đức Giêsu, quỳ gối và van xin: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể khiến tôi nên sạch”. 

Thái độ này của Đức Giêsu hoàn toàn đi ngược lại với những nhà lãnh đạo và quan niệm của dân chúng thời bấy giờ. Nơi Đức Giêsu, Ngài không thể ngồi đó xem cách hành xử bất công của người Dothái và sự tủi nhục của người bệnh. Không! Ngài coi nó như bổn phận buộc mình phải thi hành. Điều này làm toát lên dung mạo xót thương của Thiên Chúa dành cho nhân loại. 

3. Bài học cho chúng ta

Sống trong xã hội loài người, dù thời điểm nào, người ta cũng cần lắm một tấm lòng cảm thông đối với người bất hạnh. Mặt khác, nếu chúng ta là những người bị coi là bất hạnh, thì chính mình phải là người can đảm chạy đến với Chúa để được Ngài xót thương.

 Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta:

Thứ nhất, hãy noi gương Đức Giêsu, luôn yêu thương và không loại  trừ anh chị em chúng ta, nhất là những người bất hạnh, nghèo khổ, bệnh tật, bị bỏ rơi, buồn khổ, mặc cảm, tự ti…. Luôn biết hàn gắn những vết thương tâm hồn và tôn trọng nhân phẩm của người khác. Tránh xa sự chia rẽ và thái độ phân biệt đối xử để sống sự liên đới với mọi người.

Thứ đến, cần tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa. Luôn sống tình bác ái yêu thương, nhất là hãy hành động vì đức ái. Có thế, chúng ta mới đụng chạm được cốt lõi của Tin Mừng và mới có cơ hội ngửi, cảm, thấu nỗi đau khổ của anh chị em xung quanh và ra tay nâng đỡ họ. Cần can đảm loại trừ những gì làm thui chột tình thương và không phù hợp với giá trị Tin Mừng. 

Thứ đến, noi gương người phong cùi, hãy khiêm tốn và can đảm đứng dạy để tin tưởng vào lòng thương xót của Thiên Chúa, vì Ngài sẽ chữa lành những ai bệnh tật, xoa dịu những tâm hồn đau thương, băng bó những cõi lòng tan nát, an ủi những ai sầu khổ và cứu chuộc những ai có lòng tin.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho đôi mắt của chúng con được mở ra và nhìn thấy những người bất hạnh; cho trái tim biết rung lên những nhịp đập yêu thương; cho khối óc biết nghĩ đến người đau khổ; cho đôi chân biết đi tới những nơi cần sự giúp đỡ; cho đôi tay biết mở ra để ban phát, và, cho đôi tai biết lắng nghe để cảm thông. Amen. mục lục

BỆNH CÙI THỜI NAY

Lm. Ansgar Phạm Tĩnh, SDD

Với những tiến bộ vượt bực của khoa học kỹ thuật, cộng với sự phát triển đến chóng mặt của nghành y khoa cũng như dược khoa, ngày hôm nay, bệnh phong cùi không còn phải là một căn bệnh nan y vô phương cứu chữa nữa. Lạc quan hơn nữa, theo như Tổ Chức Y Tế Thế Giới cho hay, con số bệnh nhân mắc bệnh cùi trên thế giới ở 130 quốc gia từ năm 2006 cho đến nay đã giảm trung bình khoảng 4% mỗi năm. Đó là những thông tin rất lạc quan, rất phấn khởi về bệnh cùi, về căn bệnh thể lý! Con vi khuẩn cùi có tên là Mycobacterium Leprae đang bị khống chế và đang bị con người tiêu diệt. Từ nay trở đi, con vi khuẩn cùi sẽ không còn cơ hội gây ra những đau khổ cho con người nữa!   

Thế nhưng, cùi cũ vừa bị tiêu diệt thì cùi mới liền xuất hiện, loại cùi mới này còn nguy hiểm và có sức tàn phá kinh khủng hơn loại cùi cũ rất nhiều. Loại cùi mới này có tên là Pornography, một loại vi khuẩn có khả năng  sinh sôi nảy nở, có sức lây lan và càng ngày càng làm cho nhiều tâm hồn bị lở loét, bị tàn phá và bị biến dạng…y như con vi khuẩn Mycobacterium Leprae gây ra cho thể xác người ta khi xưa vậy!  

Thật vậy, theo những nghiên cứu và điều tra của các cơ quan, các tổ chức bảo vệ gia đình và những giá trị luân lý đạo đức như Family Safe Media, Safe Families, Tech Mission…con vi khuẩn cùi tâm linh này đang là nguyên nhân gây ra những thứ cùi lở trong tâm hồn của hàng tỉ người trên thế giới này.  Những nghiên cứu cho biết:

• Con vi khuẩn cùi Pornography đang chiếm lĩnh và có mặt trên hơn 4.2 triệu trang web, tức là 12% trong tổng số các trang web.   

• Thu nhập của kỹ nghệ hình ảnh dâm ô trên internet, tạp chí Playboy, phim DVD…tại Hoa Kỳ thu lợi nhuận về tới 13.3 tỉ đôla mỗi năm.

• Cứ mỗi một giây đồng hồ trôi qua thì có 28,258 người bị con vi khuẩn cùi tâm linh tấn công và xâm nhập vào tâm hồn của họ.   

• Cứ mỗi một giây đồng hồ trôi qua, người ta chi ra $3,075.64 để cho phép con vi khuẩn cùi pornography lan tràn trong tâm hồn của họ.   

Bạn thân mến, nếu bạn nhận ra rằng tâm hồn của bạn đang bị con vi khuẩn phong cùi dâm ô này đục khoét, tàn phá và làm cho suy sụp…thì bạn hãy mau mau bắt chước người bị phong hủi, mà Thánh Mác-cô kể trong bài Tin Mừng của Chúa Nhật hôm nay, đến ngay với vị lương y tuyệt tài là Đức Giêsu Kitô, và tin tưởng một cách tuyệt đối rằng chỉ có Ngài mới có khả năng chữa trị cho những căn bệnh cùi hủi trong tâm hồn của mình.   

• Hãy CHẠY ĐẾN với Chúa Giêsu qua bí tích Giải Tội, quỳ xuống và khiêm tốn van xin với Ngài rằng: “Nếu Chúa muốn xin Chúa cứu chữa con khỏi căn bệnh cùi tâm linh này!” (Mc 1:40).

• Hãy CHẠY ĐẾN với Chúa Giêsu qua việc đi xưng tội và tham dự Thánh Lễ Misa bởi vì bí tích Giải Tội và bí tích Thánh Thể chính là những phương thuốc kỳ diệu mà Chúa Giêsu ban có khả năng tiêu diệt những con vi khuẩn cùi dâm ô trong tâm hồn và trong đời sống của chúng ta.

• Hãy TIN TƯỞNG tuyệt đối vào tài chữa bệnh của Chúa Giêsu, Ngài chuyên chữa căn bệnh cùi tâm linh đấy.  Ngài sẽ không bao giờ xua đuổi, mắng nhiếc, ruồng bỏ hay xa lánh những bệnh nhân mắc phải bệnh cùi tâm linh đâu.  Tin tôi đi!  

Người khôn ngoan là người một khi đã nhận ra là mình có bệnh trong người thì bằng mọi giá, phải làm mọi cách và mau mắn đi tìm kiếm bác sĩ giỏi để xin chữa trị. Bạn có phải là người khôn ngoan không vậy? Nếu bạn là người khôn ngoan (và tôi tin như vậy!) thì xin bạn hãy cấp tốc chạy ngay đến gặp thầy thuốc lừng danh là Dr. Jesus ngay ngày hôm nay. Phòng mạch của Ngài mở 24/24 giờ, 7 ngày một tuần đấy! Đừng chần chờ, đừng ngần ngại cũng đừng lần lừa nữa! Con vi khuẩn cùi Porn mà ăn sâu vào tim, vào não là kể như…tiêu đời! mục lục

ĐỜI HỦI TỦI PHẬN

Trầm Thiên Thu

Mặc dù ngày nay đã có thuốc điều trị bệnh phong, nhưng bệnh phong vẫn là nỗi ám ảnh kinh hồn của con người, chẳng khác gì hiện nay con người đang kinh sợ đối với loài quỷ sứ corona vậy. Biến chứng thể lý ảnh hưởng tinh thần, gây chấn thương tâm lý, và có thể để lại di chứng suốt đời. Thật đáng quan ngại!

Năm 1873, bác sĩ Armauer Hansen, người Na Uy, đã phát hiện vi khuẩn gây bệnh phong. Nó không có bào tử nên nó không lây qua vật trung gian, chỉ tồn tại được khoảng 1-2 ngày khi nó ở ngoài. Vi khuẩn Mycobacterium Leprae và Mycobacterium Lepromatosis làm cho da thịt bệnh nhân thường nổi nhọt, lở loét, nặng hơn thì vết thương lõm vào da thịt, lông mày rụng, mắt lộ ra,... Bệnh nhân phong chịu đựng sự đau nhức vào những đêm trăng, trăng càng sáng thì họ càng đau nhức vì vi khuẩn rúc rỉa, do đó mà Thi sĩ Phanxicô Hàn Mặc Tử (Nguyễn Trọng Trí, 1912-1944), trong thi phẩm Trăng Vàng Trăng Ngọc, đã thốt lên: “Ai mua trăng, tôi bán trăng cho...” Trăng không là của riêng ông mà ông vẫn muốn bán vì ông quá khổ sở vì trăng!

Đối với bệnh nhân phong, tình trạng mất cảm giác xuất hiện ở một vài bộ phận trên cơ thể do dây thần kinh bị nhiễm trùng. Sau đó các bắp thịt tiêu đi, gân cốt co rút lại, khiến đôi tay co quắp. Ở mức độ nặng ngón tay ngón chân rụng dần. Ước vọng của họ rất đơn giản: Khỏi bệnh. Họ khổ cả thể lý lẫn tinh thần vì bị mọi người xa lánh, kỳ thị. Ngày nay, bệnh phong đã trị được, nhưng người ta vẫn “ngại” khi tiếp xúc với bệnh nhân phong.

Nếu có dịp đến Trại Phong Di Linh (Djiring), người ta có thể cảm thấy các bệnh nhân phong thật đáng thương. Họ có vẻ ít nói với vẻ ngần ngại lắm. Có lẽ họ không dám tin rằng người đối diện với họ không ác ý, vì trong tâm trí họ đã in sâu “ấn tượng xấu” rồi. Trại Phong Di Linh do ĐGM Cassaigne (1895-1973), thường được gọi thân thương là Cha Sanh, thuộc Hội Thừa Sai Balê, thành lập. Ngài đến Di Linh năm 1927, lập Trại Phong năm 1929. Ngài sinh ngày 30-01-1895 tại Grenade (Pháp), thụ phong linh mục ngày 19-02-1925, được bổ nhiệm làm giám mục chánh tòa Saigon, lễ tấn phong giám mục diễn ra tại Nhà Thờ Đức Bà ngày 24-6-1941. Ngài được mệnh danh là “Tông Đồ của Người Cùi.” Thật đúng với khẩu hiệu giám mục của ngài là “Caritas et Amor” – Bác Ái và Yêu Thương.

Từ xa xưa, bệnh phong đã xuất hiện. Thời Cựu Ước, Đức Chúa phán với hai ông Môsê và Aharon: “Khi trên da thịt người nào phát ra nhọt, lác hoặc đốm, và cái đó trở thành vết thương phong hủi, người ta sẽ đưa người ấy đến với tư tế Aharon hoặc với một trong các tư tế, con của Aharon.” (Lv 13:1-2) Tại sao vậy? Kinh Thánh giải thích: “Tư tế sẽ khám người ấy: nếu nhọt ở vết thương có màu trắng đỏ nhạt ở chỗ sói đầu hoặc sói trán, trông giống như phong hủi da thịt, người ấy bị phong hủi: người ấy ô uế. Tư tế sẽ tuyên bố người ấy là ô uế, nó bị vết thương ở đầu.” (Lv 13:43-44) Bệnh nhân mà hóa nạn nhân, bởi vì họ không chỉ khổ về thể lý mà còn khổ về tinh thần, có thể nói đó là điều sỉ nhục đối với họ. Thật khổ sở vô cùng!

Quả thật, thời đó người ta lập ra “quy chế người phong hủi” rất khắt khe và tàn nhẫn: “Người mắc bệnh phong hủi phải mặc áo rách, xoã tóc, che râu và kêu lên: ‘Ô uế! Ô uế!’ Bao lâu còn mắc bệnh thì nó ô uế; nó ô uế: nó phải ở riêng ra, chỗ ở của nó là một nơi bên ngoài trại.” (Lv 13:45-46) Ngày nay, cái quan niệm tàn nhẫn đó vẫn chưa thể “tẩy não” hoàn toàn được. Cũng là con người với đầy đủ nhân vị, nhân phẩm và nhân quyền, nhưng bệnh nhân phong chịu thiệt thòi vì bị rẻ rúng thái quá!

Nhìn những bệnh nhân cùi thật là đáng thương, thậm chí có người còn thấy sợ. Chứng phong cùi thể lý mà còn đáng quan ngại như vậy, chắc chắn phong cùi tâm linh còn đáng sợ và đáng thương hơn. Ai trong chúng ta cũng đã từng bị chứng “phong cùi” này, thế nhưng chúng ta thật diễm phúc vì được Đại Bác Sĩ Giêsu chữa trị. Thánh Vịnh gia nói: “Hạnh phúc thay, kẻ lỗi lầm mà được tha thứ, người có tội mà được khoan dung. Hạnh phúc thay, người Chúa không hạch tội, và lòng trí chẳng chút gian tà.” (Tv 32:1-2) Dạng diễm phúc này đôi khi chúng ta không để ý, nhưng thực sự là niềm hạnh phúc khôn tả, vì được Thiên Chúa chúc phúc và được ôm vào lòng.

Cảm nhận được như vậy thì chắc hẳn người ta không ngần ngại hoặc lần lữa đến với Lòng Chúa Thương Xót – Bí tích Hòa Giải: “Con đã xưng tội ra với Ngài, chẳng giấu Ngài lầm lỗi của con. Con tự nhủ: ‘Nào ta đi thú tội với Chúa’ và chính Ngài đã tha thứ tội vạ cho con.” (Tv 32:5) Và rồi không thể không chia sẻ với người khác về niềm vui thánh thiện đó: “Hỡi những người công chính, hãy vui lên trong Chúa, hãy nhảy mừng. Mọi tâm hồn ngay thẳng, nào cất tiếng hò reo!” (Tv 32:11) Chỉ cần thành tâm sám hối thì tội gì Ngài cũng bỏ qua hết cho chúng ta: “Lòng thương xót của Ta lớn hơn tội của con và toàn thế giới.” (Nhật Ký Thánh Faustina, #1485)

Thánh Cyril Giêrusalem nói: “Tội lỗi là sự dữ đáng kinh sợ, nhưng với người biết sám hối thì rất dễ chữa lành.” Thánh Catarina Siena phân tích: “Phạm tội là con người, nhưng ngoan cố trong tội là ma quỷ.” Có Chúa thì có tất cả, mất Chúa thì trắng đời.

Bất cứ người nào có Chúa thì không còn ham mê điều gì khác ngoài Chúa, và họ làm gì cũng chỉ muốn tôn vinh Ngài Đúng như Thánh Phaolô khuyên: “Dù ăn, dù uống, hay làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa. Anh em đừng làm gương xấu cho bất cứ ai, dù là cho người Do Thái hay người ngoại, hoặc cho Hội Thánh của Thiên Chúa; cũng như tôi đây, trong mọi hoàn cảnh, tôi cố gắng làm đẹp lòng mọi người, không tìm ích lợi cho riêng tôi, nhưng cho nhiều người, để họ được cứu độ.” (1 Cr 10:31-33) Người biết sống vì Chúa thì cũng biết vì tha nhân, bởi vì thước đo lòng mến Chúa là lòng yêu người. Vả lại, “ai nói yêu mến Chúa mà lại ghét tha nhân thì là kẻ nói dối.” (1 Ga 4:20) Ước gì mỗi chúng ta có thể nói được như Thánh Phaolô khi chúng ta tâm sự với người khác: “Anh em hãy bắt chước tôi, như tôi bắt chước Đức Kitô.” (1 Cr 11:1) Thế thì thật tuyệt!

Trình thuật Mc 1:40-45 (≈ Mt 8:1-4; Lc 5:12-16) nói về việc Đức Giêsu chữa người bị phong hủi. Hôm đó có một bệnh nhân phong đến gặp Ngài và quỳ xuống van xin: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch.” Chữ “nếu” ở đây không phải là nghi ngờ, mà chỉ là “một cách nói” mà thôi. Chắc hẳn người này đã rất khổ sở vì chứng phong, khổ đủ thứ, và anh rất muốn được khỏi để không bị xã hội xa lánh, ruồng bỏ. Anh đến cầu xin với Chúa Giêsu, chứng tỏ anh vững tin Ngài là Đấng uy quyền. Anh tin thật chứ không mê tín dị đoan hoặc xin theo phong trào như nhiều người khác. Vấn đề quan trọng là niềm tin chân thành và vững vàng, vì điều đó như điều kiện ắt có và đủ để được Thiên Chúa thương xót.

Thật vậy, Chúa Giêsu nghe anh nói thì Ngài chạnh lòng thương, rồi giơ tay đụng vào anh và bảo: “Tôi muốn, anh sạch đi!” Thật hạnh phúc cho anh vì ước muốn của anh hoàn toàn hợp ý Chúa. Và ngay lập tức, chứng phong hủi biến khỏi anh. Anh đã được toại nguyện nhờ lòng tin chân thành và mạnh mẽ.

Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã nghiêm giọng đuổi anh đi ngay, và bảo anh: “Coi chừng, đừng nói gì với ai cả, nhưng hãy đi trình diện tư tế, và vì anh đã được lành sạch, hãy dâng những gì ông Môsê đã truyền, để làm chứng cho người ta biết.” Ngài bảo anh “coi chừng” vì anh có nói ra cũng chẳng ai tin, những kẻ có quyền hành chỉ muốn tìm dịp để bắt giết Ngài, và cũng chưa đến giờ của Ngài. Nhưng làm sao anh ta có thể im lặng được khi sự sung sướng đang dâng cao, tất nhiên anh cũng muốn người khác biết anh đã sạch phong hủi, tức là anh muốn người ta không xa lánh và miệt khinh anh nữa. Vì thế, vừa ra khỏi đó thì anh bắt đầu rao truyền và tung tin ấy khắp nơi, đến nỗi Ngài không thể công khai vào thành nào được, mà phải ở lại những nơi hoang vắng ngoài thành.

Danh tiếng nổi như cồn, Chúa Giêsu có đi đâu thì người ta cũng tìm cho bằng được, bởi vì họ đã tận mắt thấy anh chàng phong cùi hôm nào đã khỏi hẳn. Vô cùng lạ lùng! Thế là dân chúng từ khắp nơi kéo đến với Ngài, đông như trẩy hội, như nước lũ chảy nhanh và mạnh. Không thể nào tưởng tượng nổi!

Là con người, ai cũng có những ước mơ, hoài bão, thậm chí là tham vọng. Dù ước vọng lớn hay nhỏ cũng là ước vọng – cho chính mình và cho người khác, nhất là cho những người thân yêu. Ước vọng có thể cao thượng, bình thường hoặc tầm thường, nhưng vẫn là ước vọng. Thi văn sĩ kiêm lý luận phê bình Samuel Johnson (1709-1784, Anh quốc) nhận định: “Mỗi người đều giàu có hay nghèo khổ tùy thuộc tỷ lệ giữa niềm ước vọng và sự thỏa mãn của mình.” Mức độ và ý hướng của ước vọng khác nhau tùy mỗi người, chắc hẳn biết “ái mộ những sự trên trời” là ước vọng tốt lành trong cuộc đời tín nhân.

Thánh Vịnh gia nói: “Ngài nghe thấy ước vọng của kẻ nghèo hèn; Ngài cho họ an lòng và lắng tai nghe họ, để bênh kẻ mồ côi và người bị áp bức, khiến cho kẻ mang thân cát bụi, chẳng còn khủng bố ai.” (Tv 10:17-18) Thiên Chúa biết rõ mọi ước vọng thầm kín của chúng ta, (Tv 38:10) bởi vì Ngài thấu suốt mọi sự. (1 Sb 28:9b; Gđt 8:14; Et 4:17d; Et 5:1a; 2 Mcb 6:30; 2 Mcb 7:35; 2 Mcb 9:5; 2 Mcb 12:22; 2 Mcb 15:2; G 28:27; Tv 139:2; Cn 16:2; Cn 21:2; Cn 24:12; Kn 1:6; Kn 7:23; Hc 23:19; Hc 42:20; Gr 10:12; Gr 11:20; Gr 20:12; 1 Cr 2:10; 1 Cr 12:4-6; 1 Ga 3:20)

Lạy Thiên Chúa chí nhân chí thánh, chúng con muốn sạch nhưng lại tự vấy bẩn đời mình, thậm chí còn ghê gớm hơn chứng bệnh phong, xin Ngài chữa lành chúng con. Xin hướng dẫn cách tiếp cận với những người hèn mọn trong xã hội, trong Giáo Hội, và dạy chúng con cách nâng dỡ họ theo khả năng của chúng con. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. mục lục

TÌNH YÊU VÀ QUYỀN NĂNG

Lm. Anphong Vũ Đức Trung, O.P.

Đức Giêsu chạnh lòng thương, đưa tay chạm vào, chữa lành cho người mắc bệnh phong cùi, khi anh ta đến gặp và quỳ xuống van xin Người: Ba yếu tố trở thành một hành động chữa lành duy nhất. Nơi người mắc phong cùi, hai yếu tố- đến gặp và quỳ xuống, thể hiện lòng tin mạnh mẽ và tôn thờ Đức Giêsu, Thiên Chúa làm Người. Điểm gặp gỡ là đây: Thiên Chúa luôn hào phóng, ban ơn cho con người, con người mở lòng đón nhận bằng tin yêu và thờ lậy. Thiên Chúa thể hiện quyền năng của Người, khi yêu thương, gia ân cho con người, để họ được bình an và hạnh phúc.

Chuyện thời xưa: Người phong cùi bị đau đớn thể xác, nhưng tệ hại hơn, họ chịu đau khổ về tinh thần: Bị mọi người coi là ô uế, bị xa cách, khinh bỉ, không được hội nhập cộng đoàn, không được học luật, phải sống ở nơi cách biệt, mặc áo rách, xõa tóc, che râu, kêu lên “ô uế” khi tình cờ đi qua nơi công cộng (x. Lv 13,1-2,44-46). Đức Giêsu chữa lành để phục hồi họ sống niềm vui, hy vọng và yêu mến. Đàng khác, luật “vô nhân” này lại nhằm bảo vệ cộng đồng được thanh sạch trước mặt Thiên Chúa. Xem ra loại trừ một nhóm người (phong cùi) để bảo vệ một nhóm người khác (Dân Chúa) vẫn không được chấp nhận, dù biện minh với lý do nào?! 

Anh cùi quỳ xuống- hành vi tôn thờ Đức Giêsu như thần linh, và van xin Người chữa lành: Anh đã vượt qua mọi rào cản, mọi ngăn cản của lề luật, quy định vô nhân kia. Hơn nữa, anh còn thách thức tình yêu của Đức Giêsu: “Nếu Ngài muốn…”. Câu hỏi đó đã có phản hồi: Đức Giêsu đã chữa lành thể xác và tâm hồn anh. Đức Giêsu thể hiện quyền năng bằng tình yêu, và Tình yêu chữa lành của Người chính là quyền năng Người. 

Chuyện ngày nay: Một phụ nữ đến gặp Bậc Thầy và than thở: “Thưa Thầy, con gặp gỡ nhiều người, và giúp đỡ họ như họ yêu cầu. Nhưng sao con cảm thấy mọi người chung quanh lại lìa xa con, không muốn gần gũi thân thiết với con”. Bậc Thầy ôn tồn trả lời: “Con đã làm rất tốt khi gần gũi, giúp đỡ những ai cần. Con đã cố sống hòa đồng với mọi người, nhưng con cần tẩy rửa những ý nghĩ “không hay” về người chung quanh, bỏ đi thói “trịch thượng”- nghĩ mình là cao hơn và “thi ân” cho người khác. Đó là một thứ “phong cùi tâm hồn”- vốn là rào cản mọi người gần gũi con. Thứ rào cản vô hình này không dễ nhận ra, nhưng có sức phá hoại mọi tương giao Đôi khi, thứ rào cản này “đóng băng” con trong nếp nghĩ ích kỷ của mình, thậm chí, “hạ thấp” phẩm giá của người khác trong ánh mắt của con.

Lạy Chúa Giêsu,

Xin dạy cho chúng con biết cúi mình xuống với những mảnh đời đau khổ, bất hạnh để cảm thông và chia sẻ, vì chính chúng con cũng đã được Chúa cảm thông và chia sẻ. mục lục

KHÔNG THỂ LẶNG IM

[Niệm ý Mc 1:40-45 ≈ Mt 8:1-4; Lc 5:12-16]

Người bị bệnh, chẳng ai không muốn khỏi

Người phong hủi càng muốn điều đó hơn

Đến gặp Chúa, anh quỳ xuống van xin:

“Nếu Ngài muốn, xin cho tôi được sạch”.

Chúa Giê-su chạnh lòng thương tha thiết

Ngài giơ tay sờ anh và nói ngay:

“Tôi muốn lắm, anh được sạch đây này!”

Ngay lập tức, chứng phong hủi biến mất.

Thật lạ lùng, mọi vết phong hết sạch

Chúa không muốn người ta biết chuyện này

Nên Ngài bảo anh đừng nói với ai

Chỉ âm thầm đi trình diện tư tế.

Nhưng vui quá, anh không thể lặng lẽ

Phải nói ra cho thiên hạ tỏ tường

Tin tung ra tới mọi nơi, khắp vùng

Đông người quá, Ngài không vào thành được. mục lục

Viễn Dzu Tử

NGƯỜI BỆNH CÙI ĐƯỢC SẠCH

(Cảm nhận và suy niệm TM: Mc 1,40-45)

Trên đường Cứu Chúa đang đi 

Người cùi đâu tới lạy, quì, van xin

Chúa thương kẻ có lòng tin

Đặt tay lên hắn, hắn liền sạch ngay.

Chúa rằng: chớ nói với ai

Hãy đi trình diện với người quyền năng

Để thầy thượng tế chứng minh

Và dâng của lễ - thói lành Môsê.

Lời Chúa dạy, giáo dân luôn ghi nhớ:

Là tội nhân, Chúa tha tội cho mình

Không khoe khoang, nhưng khấn giữ trung thành

Luôn cảm tạ và canh tân cải hoá.

Đời tín hữu luôn sống trong phép lạ:

Kẻ yếu hèn đủ sức do Thánh Linh 

Sống Tin Mừng: cầu nguyện và thực hành

Theo Ý Chúa, trọn đời hằng tin cậy… mục lục

(Thế Kiên Dominic)

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan