SUY NIỆM CHÚA NHẬT V MÙA CHAY_B

20-03-2021 210 lượt xem

Lời Chúa: Gr 31,31-34; Dt 5,7-9; Ga 12,20-33

Mục Lục

HUYỀN NHIỆM SỰ SỐNG - + ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

GIAO ƯỚC TÌNH THƯƠNG - Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

CHUẨN BỊ CHẾT - Trầm Thiên Thu

KHAO KHÁT GẶP CHÚA - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

DIỆN MẠO CHÚA GIÊSU KITÔ - Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

LÀM THẾ NÀO ĐỂ HẠT GIỐNG TRỔ SINH HOA TRÁI? - Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

HẠT LÚA MÌ CAO CẢ MÃI TRỔ SINH - Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

CÙNG VƯỢT QUA VỚI CHÚA GIÊSU - Lm. Anphong Vũ Đức Trung, O.P.

GIỚI THIỆU ĐỨC KITÔ: TRỌNG TRÁCH CỦA MỖI KITÔ HỮU - Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

Thơ: GIỜ ĐÃ ĐIỂM - Viễn Dzu Tử

Thơ: CON NGƯỜI ĐƯỢC TÔN VINH - (Thế Kiên Dominic)

----------------------------------------------------------------------

HUYỀN NHIỆM SỰ SỐNG

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

Sự sống quanh ta thật huyền nhiệm. Từ con người đến muôn vật cỏ cây, mỗi loài mỗi kiểu, hết thảy đều mang trong mình sự sống. Nhờ sự sống mà muôn loài tăng trưởng và hoạt động. Tuy vậy, một điều xem ra là nghịch lý, đó là sự sống không dừng lại khi ta chết, nhưng lúc chết đi lại là lúc khởi đầu sự sống mới. Lời Chúa hôm nay muốn khẳng định với chúng ta điều ấy.

Mùa Chay cũng được gọi là Mùa Thương Khó, vì đây là thời điểm giúp chúng ta suy niệm cuộc khổ nạn và sự chết của Đức Giêsu. Chúng ta tôn vinh thập giá là phương tiện qua đó Đức Giêsu giới thiệu tình thương yêu vô bờ bến của Chúa Cha. Đức Giêsu đã hiến chính bản thân mình làm của lễ dâng lên Đức Chúa Cha, xin ơn tha tội cho loài người. Sự sống và hạnh phúc của con người được phát sinh và tuôn chảy từ cây thập giá, tức là từ sự chết của Chúa Giêsu. Ơn cứu độ dồi dào như mạch suối trào tuôn từ chính vết thương ở cạnh sườn của Người. Chính từ vết thương này phát sinh Giáo Hội và các Bí tích. Hai ngàn năm nay, Đấng chịu khổ hình trên thập giá đã lôi kéo biết bao người ra khỏi tối tăm để đến với ánh sáng, ra khỏi tội lỗi để đạt tới sự thánh thiện, ra khỏi hận thù để thực thi đức yêu thương.

Khi nói về hạt lúa mục nát, Chúa Giêsu muốn nói về cái chết của chính mình. Người không bị tiêu diệt do sự chết. Trái lại, như hạt lúa chấp nhận mục nát rồi nảy mầm kết trái, Người cũng sẽ trỗi dạy từ nấm mồ để ban sự sống cho con người. Giáo lý Công giáo dạy chúng ta: sự chết của Chúa Giêsu mang ơn cứu độ cho loài người. Người đã chết để chúng ta được sống. Người đã trở nên nô lệ để chúng ta được tự do. Người đã dùng cây thập giá để cứu độ trần gian, xóa bỏ bản án nguyên tội. Thập giá vừa nói với ta về tình yêu Thiên Chúa, vừa dạy ta biết sống vì người khác để đem niềm vui và hạnh phúc cho tha nhân.

Như thế, triết lý “hạt lúa mục nát” được đề nghị cho tất cả những ai muốn cất bước theo Đức Giêsu. Sự hy sinh này, nhìn theo lăng kính trần gian, lại là những nghịch lý:

– Sẵn sàng hy sinh mạng sống thì sẽ giữ được nó mãi mãi
– Khư khư giữ lấy nó, sẽ bị mất muôn đời.
– Vào giờ phút Chúa chịu khổ nạn và chết trên thập giá, cũng là lúc Người được tôn vinh.
– Khi thủ lãnh thế gian tưởng chừng như chiến thắng, chính là lúc nó bị đánh bại.
– Con Người bị treo trên thập giá, cô đơn đau khổ, lại có thể quy tụ muôn dân.

Nếu hạt lúa vẫn nằm yên bất động sau khi được gieo xuống thì niềm trông đợi của bác nông phu sẽ trở nên vô vọng. Nếu thân xác Đức Giêsu vẫn cứ tồn tại trong nấm mồ, thì nhân vật Giêsu sẽ chẳng còn gì để nói với chúng ta. Chính từ hạt lúa mục nát mà ta thấy sự sống mới; chính nhờ ngôi mộ trống mà chúng ta thấy niềm hy vọng.

Hạt-Lúa-Giêsu đã mục nát để phục sinh và đâm bông kết trái. Hạt lúa ấy đã trở nên bánh ăn để nuôi dưỡng chúng ta.

Hình ảnh hạt lúa mì cũng chứa đựng giáo huấn của Chúa Giêsu về định mệnh con người. Thiên Chúa dựng nên con người để cho họ được sống và được hạnh phúc, chứ không phải để chấm dứt với nấm mộ cô đơn lạnh lẽo nơi đồng hoang. Dưới nhãn quan của người Kitô hữu, sự chết là một cửa ngõ để họ bước vào đời sau. Đó là lý do tại sao người Kitô hữu đặt cây thập giá trên mỗi nấm mồ của người thân. Tuy vậy, hạnh phúc vĩnh cửu chỉ dành cho người công chính, tức là những ai mến Chúa yêu người.

Không phải đợi đến khi chết mới được hưởng hạnh phúc Chúa ban. Lời Chúa hôm nay như một lời hứa phục hồi ngay ngày hôm nay, trong cuộc sống hiện tại. Ý tưởng này được diễn tả trong bài đọc trích sách ngôn sứ Giêrêmia: “Mọi người từ nhỏ chí lớn đều nhìn biết Ta, vì Ta sẽ tha tội ác của chúng, và sẽ không còn nhớ đến tội lỗi của chúng”. Đây là những lời an ủi của Chúa đối với dân Do Thái trong bối cảnh gian nan và tuyệt vọng. Chúa hứa với họ sẽ giúp họ hồi sinh. Mặc dù trong bối cảnh tăm tối, Chúa sẽ ban cho họ một tương lai sán lạn huy hoàng.

Thời đại huy hoàng mà Chúa đã hứa qua lời ngôn sứ Giêrêmia đã được thực hiện khi Chúa giải phóng dân Người khỏi cảnh lưu đày. Nhưng đặc biệt hơn nữa, thời đại huy hoàng ấy, Thiên Chúa đã thực hiện trong Đức Giêsu Kitô, qua cái chết và sự phục sinh của Người. Tác giả thư Do Thái đã khẳng định: “Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã học vâng phục do những đau khổ Người chịu, và khi hoàn tất, Người đã trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời cho tất cả những kẻ tùng phục Người” (Bài đọc II).

Huyền nhiệm sự sống mời gọi chúng ta nhận ra Đức Giêsu là Đường, là Sự thật và là Sự sống. Huyền nhiệm ấy cũng nhắc nhớ chúng ta, hãy biến đổi mỗi ngày trong hành trình phụng sự Chúa, để sự sống siêu nhiên lớn dần trong cuộc đời trần gian. Để được như thế, con người cũ phải chấp nhận chết đi. Đó chính là thông điệp của giáo huấn qua hình ảnh hạt lúa mì. mục lục

GIAO ƯỚC TÌNH THƯƠNG

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Lời Chúa trong bài đọc I hôm nay đề cập đến giao ước. Vậy, giao ước là gì? Giao ước là do sự thỏa thuận của hai bên về một số những điều phải giữ, chẳng hạn như: giao ước hôn nhân, khấn dòng. Nếu một bên vi phạm, giao ước sẽ không còn hiệu lực nữa.

Phản bội giao ước

Nếu xưa trên núi Sinai, Thiên Chúa đã thiết lập giao ước với dân Israel, theo đó Thiên Chúa hứa Ngài là Thiên Chúa của họ và sẽ bảo vệ họ, phần họ thì phải phụng sự Ngài như là Chúa tể duy nhất. Các điều khoản của giao ước ấy được khắc lên hai bia đá. Nhưng dân Israel đã thường xuyên vi phạm giao ước ấy, quay lưng lại với Thiên Chúa, thờ bò vàng (x. Xh 32), dẫn đến hậu quả là nước mất, nhà tan, dân chúng lâm cảnh lưu đày.

Thiên Chúa không đành rút lại lời hứa, tội thì Chúa phạt, hoán cải thì Chúa cứu là lý do Chúa lại trao ban cho dân một giao ước mới, giao ước của tình thương. Giêrêmia là người duy nhất nói về “giao ước mới”, ông tuyên sấm: “Chính chúng đã huỷ bỏ giao ước của Ta, mặc dầu Ta là Chúa Tể của chúng”. Họ đã bất trung, lỗi lời giao ước, chạy theo các thần ngoại mà thờ, không tuân giữ các điều Chúa truyền dạy, sống bất công và vô luân. Chúa là Thiên Chúa tình thương, vấn vương khi tạo dựng, lòng thành tín của Chúa trải muôn ngàn đời, không hề lỗi lời giao ước. Thay vì chia tay để con người chết trong tội, Thiên Chúa chọn để thiết lập một giao ước mới khi tuyên sấm: “Này sẽ đến những ngày Ta sẽ lập với nhà Israel và nhà Giuđa một giao ước mới, không giống như giao ước Ta đã lập với cha ông chúng, ngày Ta cầm tay dẫn họ ra khỏi đất Ai-cập”.

Giao ước tình thương

Nội dung của giao ước mới là: “Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề Luật của Ta. Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng sẽ là dân của Ta. Chúng sẽ không còn phải dạy bảo nhau, kẻ này nói với người kia: “Hãy học cho biết Đức Chúa,” vì hết thảy chúng, từ người nhỏ đến người lớn, sẽ biết Ta. Ta sẽ tha thứ tội ác cho chúng và không còn nhớ đến lỗi lầm của chúng nữa. Israel sẽ tồn tại mãi” (Gr 31,31-34).

Nếu Luật của Thiên Chúa trước kia được khắc vào đá và Môisen phải đọc và truyền cho dân, dân đã lỗi phạm do vô tình hay hữu ý, khiến Chúa nổi giận. Nay Chúa trao ban Luật cho dân với một cách thức và công thức mới là ghi tạc vào lòng con cái Israel (x. Gr 31, 33). Mỗi người sẽ nhận được trực tiếp và cá nhân với Chúa (x. Gr 31, 34) không qua trung gian: “Người này sẽ không còn phải dạy người nọ, anh sẽ không còn phải dạy em ” (Gr 31, 34). Theo nghĩa Kinh Thánh là hiệp thông với Chúa cách sâu xa nhất. Công thức của hai bên: “Ta sẽ là Chúa của chúng, và chúng sẽ là dân của Ta” (Gr 31, 34), đây là nét đặc trưng của giao ước kể từ khi Xuất hành (x. Xh 6, 7) sẽ được áp dụng cho từng người trong dân. Một giao ước “khiến mọi người từ nhỏ chí lớn đều nhìn biết Chúa, vì Chúa sẽ tha thứ tội lỗi cho dân” (Gr 31, 34). Giao ước mới này sẽ được Đức Kitô thực hiện và hoàn tất trong “giai đoạn” vượt qua.

Đức Kitô kiện toàn giao ước

Đêm Vọng Phục Sinh, có nghi thức làm phép nước rảy trên dân chúng, nếu có dự tòng thì sẽ rửa tội họ bằng nước phép này. Phép Rửa tội, bí tích khai tâm, cửa ngõ đức tin và là dấu chỉ giao ước giữa Thiên Chúa với con người. Nước dùng để rửa tội là nước lã như mọi thứ nước, nhưng được làm phép để rửa tội nên nước ấy mang một ý nghĩa đặc biệt vì trong đó có giao ước giữa con người với Thiên Chúa.

Nếu trong Cựu Ước, phép cắt được coi là “dấu chỉ giữa Thiên Chúa và người dân của Ngài” (St 17,10-14). Thì đến thời Tân Ước, Đức Giêsu đã đến và ban dấu chỉ cứu rỗi (x. Cl 2,11); (1Pr 3,11).

Ðể chứng minh giao ước này là giao ước đời đời không hề thay đổi, Đức Giêsu đã trao ban bánh và rượu trong Lễ Vượt Qua, tượng trưng cho thịt và máu của Người, làm dấu chỉ giao ước hữu hình ở lại luôn mãi với loài người chúng ta (x. Ga 6,53-56, Mt 26,17-28). Như vậy, bằng lời hứa bất biến Thiên Chúa đã liên kết với chúng ta, nên Kinh Thánh gọi chúng ta là con của lời hứa: “Hỡi anh em, như Isaac, anh em là con cái của lời hứa” (Gal 4,28).

​Nhờ Bí tích Rửa tội, chúng ta nhận lời hứa và phúc lành đặc biệt của Thiên Chúa. Tuy nhiên, nếu chúng ta giữ lời giao ước với Thiên Chúa và không vâng phục lời Chúa, chúng ta sẽ đánh mất phúc lành ấy.

Giao ước Thiên Chúa đã ký kết dân Israel qua trung gian Môise, cứu họ khỏi ách nô lệ Ai-cập, đưa vào đất Canaan, là xứ của lời hứa. Lúc ấy, Thiên Chúa không đưa họ tiến thẳng vào xứ Canaan ngay lập tức mà lại dẫn họ 40 năm trường trong sa mạc, ban cho họ các giới răn xem họ có vâng phục không (x. Đnl 8,2-16). Tuy nhiên, họ đã không tuân giữ, phần lớn trong số họ phải chết (x. Ed 20,10-13). Chỉ có hai người là Calép và Giôsuê vâng lời Thiên Chúa, và những người sinh ra trong sa mạc mới được đi vào xứ của lời hứa (x. Ds 14,6-38).

Hành trình vào Đất Hứa của dân Israel báo trước hành trình của người kitô hữu chúng ta về Nước Trời. Thật là bài học quí giá. Chúng ta cũng sẽ không thể vào được nếu chúng ta bất tín (x. Dt 3,18-19, 1Cr 10,1-11). Chúng ta hãy cỗ gắng tuân giữ luật Chúa và vâng theo lời Chúa để được vào Thiên Đàng. Amen. mục lục

CHUẨN BỊ CHẾT

Trầm Thiên Thu

Đồi Sọ lặng Lẽ Cây Thánh Giá
Thế Trần Gieo Neo Nỗi Gian Truân.

Thánh Ambrôsiô Optina nhắn nhủ: “Đừng lo sầu về quá nhiều điều, nhưng phải để tâm lo cho một điều chính: CHUẨN BỊ CHO CÁI CHẾT CỦA MÌNH.” Bất cứ việc gì, dù to hay nhỏ, đều phải chuẩn bị: Phải im lặng trước khi có thể lắng nghe, phải lắng nghe trước khi học hỏi, phải học hỏi trước khi hành động, phải hành động trước khi phụng sự, phải phụng sự trước khi hướng dẫn,… Chết là sự kiện quan trọng nhất đời người, vì một đi không trở lại, càng phải chuẩn bị đặc biệt. Vả lại, cái chết đến bất ngờ, không thể biết trước.

Thiết tưởng đây là cách chuẩn bị tốt cho cái chết mà Thánh Barsanuphius đã áp dụng: “Đừng tìm cách để nổi trội. Trong bất cứ việc gì, đừng sánh mình với người khác. Hãy mặc kệ thế gian, hãy vác lấy thập giá, hãy vứt bỏ tất cả những gì phàm tục, hãy giũ sạch bụi trần khỏi bàn chân.” Đó là cách buông bỏ. Muốn bỏ thì phải buông, có buông ra thì mới nhẹ mình.

Điều đó có vẻ đơn giản nhưng lại không dễ dàng, bởi vì tính xác thịt của con người nặng nề lắm. Chân phước Claude de la Colombière tâm sự: “Chúa đã dang tay để kéo con ra khỏi vũng bùn nhơ mà tình cảm của con đã đẩy con vào và bản tính quá buông thả của con đã nhận chìm con trong đó.” Chắc chắn rằng nếu không có ơn Chúa, chúng ta không thể làm được gì. (Ga 15:5) Tuy nhiên, Thánh Thomas Aquino cho biết: “Chúng ta không có quyền đòi hỏi, nhưng phải nài xin Thiên Chúa ban cho ơn bền đỗ. Nhận ra những ai là người mà chúng ta phải tránh, đó là phương thế quan trọng để cứu lấy linh hồn mình.”

Từ thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã tuyên phán: “Này sẽ đến những ngày Ta sẽ lập với nhà Israel và nhà Giuđa một giao ước mới, không giống như giao ước Ta đã lập với cha ông chúng, ngày Ta cầm tay dẫn họ ra khỏi đất Ai Cập; chính chúng đã huỷ bỏ giao ước của Ta, mặc dầu Ta là Chúa Tể của chúng. Nhưng đây là giao ước Ta sẽ lập với nhà Israel sau những ngày đó. Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề Luật của Ta. Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng sẽ là dân của Ta.” (Gr 31:31-33) Bất kỳ Thiên Chúa hứa điều gì, dù to hay nhỏ, thì chắc chắn ứng nghiệm, không sai bao giờ.

Tất cả phàm nhân đều là tội nhân, chẳng đáng gì để được Ngài hứa, nhưng vì lòng thương xót mà Ngài dành cho chúng ta những giao ước kỳ diệu và vô giá: “Chúng sẽ không còn phải dạy bảo nhau, kẻ này nói với người kia: ‘Hãy học cho biết Đức Chúa,’ vì hết thảy chúng, từ người nhỏ đến người lớn, sẽ biết Ta. Ta sẽ tha thứ tội ác cho chúng và không còn nhớ đến lỗi lầm của chúng nữa.” (Gr 31:34) Quả thật, Thánh Vịnh gia không thể nín lặng nên đã thốt lên: “Ôi lạy Chúa, nếu như Ngài chấp tội, nào có ai đứng vững được chăng?” (Tv 130:3)

Chúng ta cảm thấy khó thực hiện nhưng không phải do Thiên Chúa đòi hỏi hoặc bắt buộc nhiều, thực sự Ngài chỉ cần chúng ta thành tâm sám hối. Thế thôi, mọi thứ sẽ ổn, vì chính Chúa Giêsu đã “bù lỗ” cho chúng ta bằng giá máu. Nhưng là phàm nhân, chúng ta không chỉ có máu Pharisêu mà còn có máu Cuội – xạo ke. Thật là quá quắt lắm, vừa giả hình vừa hứa lèo. Mỗi Mùa Chay là cơ hội thuận tiện để chúng ta nghiêm túc xét lại chính mình, soi kiểu 3D – từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới, từ bên này sang bên kia, rồi sám hối thật lòng: “Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xóa tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy.” (Tv 51:3-4)

Một chút tro rắc trên đầu (hoặc vẽ trên trán) cũng chỉ vô ích nếu chúng ta không “xức tro” linh hồn và “xé rách” lòng mình vì tự cảm thấy bất xứng với Thiên Chúa là Đấng chí thánh. Chắc chắn Ngài xót thương ngay, và sẵn sàng bỏ qua hết nếu chúng ta không vỗ ngực, nhưng chân thành đấm ngực mình, đấm vào chỗ sâu thẳm nhất của con tim, chứ không đấm ngực người khác. Không chỉ vậy, chúng ta còn phải cầu xin Thiên Chúa biến đổi chúng ta bằng cách “đại tu” linh hồn: “Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho con nên chung thuỷ. Xin đừng nỡ đuổi con không cho gần Nhan Thánh, đừng cất khỏi lòng con thần khí thánh của Ngài. Xin ban lại cho con niềm vui vì được Ngài cứu độ, và lấy tinh thần quảng đại đỡ nâng con; đường lối Ngài, con sẽ dạy cho người tội lỗi, ai lạc bước sẽ trở lại cùng Ngài.” (Tv 51:12-15) Lời nguyện chân thành đó là lời cầu nguyện có màu tím nhưng lại có sắc hồng lung linh. Tuyệt vời lắm!

Cuộc sống vô thường. Cái khổ nhiều hơn cái sướng, cái buồn nhiều hơn cái vui, nước mắt nhiều hơn nụ cười. Đáng quan ngại là “sinh hữu hạn, tử bất kỳ.” Đời phàm nhân là thế. Khi xuống thế làm người, Chúa Giêsu cũng phải trải qua trăm cay ngàn đắng. Cay xé lòng, đắng cứng miệng. Chẳng có con đường nào đau khổ và tang thương hơn Đường Thập Giá. Nhưng đó là con đường không thể tránh né, ai cũng phải đi qua.

Vừa giải thích vừa động viên, Thánh Phaolô cho biết: “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết. Người đã được nhậm lời, vì có lòng tôn kính. Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người.” (Dt 5:7-9) Vâng lời rất cần thiết, cần thiết hơn cả hy lễ, (Hs 6:6; 1 Sm 15:22; x. Tv 50:8-9) thế nhưng đó lại là bài học khó thuộc và khó thực hiện.

Có mấy người Hy Lạp trong số những người lên Giêrusalem thờ phượng Thiên Chúa. Họ đến gặp ông Philípphê, người Bếtxaiđa, miền Galilê, và xin được gặp Chúa Giêsu. Ông Philípphê đi nói với ông Anrê, rồi hai ông Anrê và Philípphê đến thưa với Đức Giêsu. Ngài không trả lời thẳng vấn đề mà Ngài nói: “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh! Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Ai yêu quý mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời. Ai phục vụ Thầy thì hãy theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha của Thầy sẽ quý trọng người ấy.” (Ga 12:23-26) Phải chết để có thể sinh ích lợi và tái sinh. Một loại triết lý sống vô cùng kỳ diệu.

Nếu thế này thì sẽ thế kia, nếu thế kia thì sẽ thế nọ. Rất bình thường mà cũng rất khác lạ. Chắc hẳn đã trải nghiệm nhiều nên Thánh Phanxicô Assisi có triết lý này: “Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân, chính lúc hiến thân là khi được nhận lãnh, chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.” (Kinh Hòa Bình) Quả thật, kỳ diệu ngoài sức tưởng tượng của chúng ta. Ai cũng phải tìm hiểu thấu đáo, rồi phải can đảm sống, như vậy mới có kinh nghiệm, có kinh nghiệm rồi thì mới khả dĩ cảm nghiệm dạng triết lý độc đáo như thế.

Mọi điều phải được ứng nghiệm, lời hứa phải được thực hiện, Ý Cha phải được thể hiện. Nhưng với nhân tính, Chúa Giêsu cũng cảm thấy lo sợ nên Ngài đã tâm sự với các môn đệ: “Bây giờ, tâm hồn Thầy xao xuyến! Thầy biết nói gì đây?” (Ga 12:27a) Rồi Ngài thưa với Chúa Cha: “Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến. Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha.” (Ga 12:27b-28) Mặc dù rất sợ nhưng Ngài vẫn mong cho ý Cha nên trọn. Ngay lúc đó có tiếng xác nhận từ trời vọng xuống: “Ta đã tôn vinh Danh Ta, Ta sẽ còn tôn vinh nữa!” (Ga 12:29) Mọi người có mặt ở đó nghe “tiếng động” như vậy, có người bảo đó là tiếng sấm, có người lại cho đó là tiếng của một thiên thần. Phàm nhân không thể hiểu được. Chúa Giêsu nói: “Tiếng ấy đã vọng xuống không phải vì tôi, mà vì các người. Giờ đây đang diễn ra cuộc phán xét thế gian này. Giờ đây thủ lãnh thế gian này sắp bị tống ra ngoài!” (Ga 12:30-31) Giờ G sắp sửa điểm!

Điều gì đến sẽ đến. Sự giằng co rất gay go. Thời đại chúng ta đang sống cũng là thời điểm “tranh tối, tranh sáng.” Đã có lần Thánh Phaolô phải thốt lên: “Mầu nhiệm của sự gian ác đang hoành hành.” (2 Tx 2:7) Dù thế nào thì Chúa Giêsu vẫn muốn thực hiện trọn đức tuân phục, và dù đau khổ tột cùng thì Ngài vẫn hứa chắc: “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi.” (Ga 12:32) Ngài nói thế để ám chỉ Ngài sẽ phải chết cách nào: Chết treo trên Thập Giá. Mọi điều ứng nghiệm từ A tới Z.

Chỉ là phàm nhân, là tội nhân, nhưng chúng ta vẫn được Thiên Chúa yêu thương và ban giao ước, do đó chúng ta cũng phải thề hứa với Ngài và tha nhân, hứa gì thì phải cố gắng thực hiện cho đúng. Bằng cách nào? Đó là đồng lao cộng khổ với Chúa Giêsu qua những điều trái ý mình hằng ngày.

Mùa Chay là Mùa Thương Khó, chúng ta hãy noi gương Thánh nữ Faustina cầu nguyện, đặc biệt biết tạ ơn về những gì mình không muốn: “Lạy Chúa Giêsu, con tạ ơn Ngài về những đau khổ nội tâm, về sự khô khan, về sự sợ hãi, về nước mắt, về sự lưỡng lự, về sự tăm tối nội tâm, về sự cám dỗ, về sự thử thách, về sự giày vò mà con không thể diễn tả, nhất là về những điều mà không ai hiểu, về giờ chết với sự chiến đấu dữ dội và cay đắng. Lạy Chúa Giêsu, con tạ ơn Ngài về những thập giá nho nhỏ hằng ngày, về sự đối nghịch với các nỗ lực của con, về sự gian khó của đời sống cộng đoàn, về sự hiểu lầm, về sự bẽ mặt vì người khác, về sự khó chịu mà người ta đối xử với con, về sự nghi oan, về sức khỏe yếu kém của con, về sự hy sinh, về sự chết cho chính con, về sự kém hiểu biết, về các kế hoạch thất bại của con.” (Nhật Ký, số 343)

Ôi, lời cầu nguyện vô cùng cao cả và tốt lành, hoàn toàn muốn tuân phục Ý Chúa, chắc chắn Ngài rất vui lòng. Tuy nhiên, muốn thực hiện thì chúng ta phải cố gắng lắm mới có thể hoàn tất lời ước nguyện đó. Thật là khó, nhưng với ơn Chúa thì người yếu đuối nhất cũng khả dĩ hoàn tất.

Lạy Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại, Ngài đã chịu chết để con được sống dồi dào và viên mãn, xin tăng lực can đảm và giúp con vững bước trên đường thập giá. Xin dạy cho con biết: đời sống con chung cuộc thế nào, ngày tháng con đếm được mấy mươi. (Tv 39:5) Con chân thành trở về, cố gắng canh tân cho hợp Thánh Ý Chúa, xin thương xót, tha thứ, cứu độ con và các tín nhân. Ngài Đấng hằng sinh và hiển trị cùng Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần, đến muôn thuở muôn đời. Amen. mục lục

KHAO KHÁT GẶP CHÚA

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Trong ba câu đầu của Phúc Âm Chúa nhật hôm nay (Ga 12,20-22), Thánh Gioan đã kể lại lời giới thiệu về Chúa Giêsu. Khi Người long trọng tiến vào Giêrusalem để mừng Lễ Vượt Qua lần cuối cùng và cũng là chuyến từ giã thế gian để về cùng Cha, có những người Hylạp khi được nghe giới thiệu, họ đã muốn tìm gặp Người. Họ là dân ngoại có cảm tình với Do thái giáo “Họ lên Giêrusalem thờ phượng Thiên Chúa dịp Lễ Vượt Qua“. Những người dân ngoại này tìm gặp Chúa Giêsu không chỉ để trông thấy mà thôi, mà còn muốn gặp để chuyện trò đàm đạo với Người. Họ đang bước tới trên con đường đức tin.

Họ đến gần Philipphê và xin ông giới thiệu để gặp Chúa Giêsu. Philipphê đi nói với Anrê. Cả hai ông đến thưa với Chúa. Ở đây ta thấy tầm quan trọng của vai trò trung gian, của người giới thiệu, đến với Chúa cần có người giới thiệu, người dẫn đường.

Những người Hy lạp năn nỉ Tông đồ Philípphê: Thưa ông, chúng tôi muốn được gặp Thầy Giêsu. Người Hy lạp ái mộ “muốn gặp Đức Giêsu”(Ga 12,21). Như thế họ đã có lòng khâm phục và muốn tin tưởng vào Chúa. “Trong Tin Mừng Gioan, gặp có nghĩa là tin. Đức Giêsu cho biết họ sẽ gặp Người nếu họ tin vào Người ngang qua cái chết” (Disciples in Mission 1999:22). Nghĩa là họ sẽ gặp Người trong vinh quang trên khổ giá. Bởi vậy thay vì trả lời trực tiếp, Đức Giêsu đã nói lên một sự thật. Giờ gặp Người là lúc Người bước vào vinh quang: “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh” (Ga 12,23). Nhưng vinh quang đó phải ngang qua khổ giá. Đúng hơn, chính trên khổ giá, chính lúc chương trình cứu độ được thực hiện, vinh quang Thiên Chúa tỏa sáng. Niềm tin của những người Hy lạp phải ngang qua thập giá mới đạt được. Đó là lý do tại sao Đức Giêsu nói với các môn đệ về sự thật trên bước đường theo Người. (Lm. Giuse Đỗ Vân Lực).

Chúng ta có ao ước gặp Chúa Giêsu không?

Để trả lời, trước hết nên tự hỏi lòng mình: tôi có yêu mến Chúa Giêsu không? Nếu thực sự tôi yêu mến Chúa, tôi rất ước muốn, khao khát gặp gỡ Người, và tôi sẽ tìm mọi cách để gặp Người cho bằng được. Dĩ nhiên, tôi cũng biết rằng, không giống như khi Chúa Giêsu còn tại thế, lúc mà những ai ao ước trông thấy Người, có thể thấy bằng mắt phàm; còn bây giờ tôi chỉ có thể thấy Chúa bằng con mắt đức tin, gặp Chúa bằng đức tin. Và nếu tôi ao ước thấy Chúa, gặp gỡ Chúa bằng đức tin, thì tôi sẽ toại nguyện, vì Chúa đã dạy rõ ràng : ai xin thì sẽ được, ai tìm thì sẽ gặp, ai gõ thì sẽ mở cho.

Thứ đến, Chúa luôn hiện diện cho chúng ta gặp Người, đặc biệt là trong Thánh lễ. Gặp gỡ Chúa khi dâng lễ mới là quan trọng. Chính vì thế mà khi Anrê và Philípphê đến thưa với Chúa Giêsu ước nguyện của mấy người Hy lạp, thì Chúa lại hướng các môn đệ đến Giờ Tử Nạn Phục Sinh của Người. Chúa bảo, đã đến giờ Con Người được Tôn vinh, rồi Người lại nói đến hạt lúa mì gieo xuống đất phải chết đi mới sinh nhiều hạt khác. Và bấy giờ Người mới mời gọi ai phục vụ Thầy thì hãy theo Thầy, và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó!. Như vậy là Ý của Chúa Giêsu đã rõ. Người hướng tất cả những ai muốn gặp Người, trong số đó có chúng ta, đến Giờ Tử Nạn Phục Sinh. Nơi đó, lúc đó chúng ta sẽ gặp được Chúa. Điều đó không có nghĩa là phải đợi đến ngày lễ Phục Sinh, chúng ta mới gặp được Chúa. Chúng ta cùng nhau gặp Chúa ngay bây giờ khi cùng nhau cử hành Thánh lễ, và đón Chúa đến với chúng ta trong lòng Giáo Hội. Với đức tin, chúng ta gặp được Chúa trong mầu nhiệm Tử Nạn Phục Sinh.

Chúa Giêsu đến trong Thánh lễ là Đấng đã chịu đóng đinh và chịu chết vì chúng ta, đã mặc lấy thân phận loài người như chúng ta, đã trải qua nhiều đau khổ, đã xin Thiên Chúa Cha cứu mình khỏi chết như lời thư gởi tín hữu Do Thái. Nhưng cuối cùng Người đã vâng phục Chúa Cha, sẵn sàng chịu chết. Chính vì thế mà Thiên Chúa đã tôn vinh Người, cho Người sống lại từ cõi chết.Đó là mầu nhiệm Giáo Hội tuyên xưng và cử hành trong mỗi thánh lễ, là bí tích Giao ước mới và vĩnh cửu giữa Thiên Chúa với nhân loại nhờ Máu của Chúa Giêsu đổ ra trên thập giá, làm cho chúng ta thành Dân riêng của Thiên Chúa. Thánh lễ là bí tích của sự gặp gỡ, là bí tích của tình bằng hữu giữa Thiên Chúa và chúng ta nhờ Chúa Giêsu. Mỗi lần đến nhà thờ tham dự Thánh lễ, hãy nhớ câu nói của mấy người Hylạp: Chúng tôi muốn được gặp Thầy Giêsu. (ĐTGM. Phaolô Bùi Văn Đọc [+]).

Philípphê và Anrê là những người đầu tiên chia sẻ kinh nghiệm và đưa những người khác đến với Chúa (1,35-46). Bổn phận người môn đệ phải chu toàn trong đời sống là làm trung gian để cho nhân loại có thể gặp gỡ Chúa Giêsu.Thế giới ngoại giáo chưa hề biết trực tiếp Chúa Giêsu, mà chỉ nhờ lời rao giảng của các tông đồ: người ngoại đã “thấy” Chúa Giêsu nhờ Tin Mừng được rao giảng cho họ. Nhưng giữa ước muốn được “thấy” Chúa Giêsu và việc “gặp” Người còn có cuộc Thương Khó-Chết-Phục Sinh của Chúa nữa. Chỉ khi đó họ mới bắt đầu những kinh nghiệm đầu tiên về niềm tin chân chính vào Đức Kitô hằng sống, là những kinh nghiệm không thể có được trước Phục Sinh.

Hôm nay, Giáo xứ chúng ta có nghi thức tiếp nhận các anh chị em Dự Tòng gia nhập vào Giáo hội. Đây là những lương dân thiện chí muốn trở nên Kitô hữu.Họ khao khát chân lý. Họ mong muốn tìm gặp Chúa Kitô và đón nhận tình yêu của Người. Sau những ngày tháng học hỏi về giáo lý, họ được tiếp nhận vào cộng đoàn và chuẩn bị lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội trong Đêm Vọng Phục Sinh để trở thành con cái Chúa.

Kính thưa anh chị em Dự Tòng.

Trở thành Kitô hữu không chỉ là gia nhập vào cộng đoàn giáo xứ,chấp nhận giáo lý của Chúa Giêsu và Giáo hội mà còn quan trọng hơn là gặp gỡ Thiên Chúa và khám phá ra tình yêu vô bờ bến của Ngài trong chính cuộc đời mỗi người.

Thật ra, mỗi Dự Tòng đã được Thiên Chúa yêu thương. Ngài hiện diện trong cuộc đời mỗi người từ lầu rồi, mặc dù anh chị em chưa bao giờ nghĩ tới để nhận ra Ngài. Anh chị em tìm kiếm Thiên Chúa, nhưng thực sự Thiên Chúa tìm kiếm anh chị em trước. Nhờ Ngài mà cuộc tìm kiếm của anh chị em thành tựu và hôm nay chúng ta đang gặp gỡ Ngài.

Một cuộc gặp gỡ,một tình yêu có thể làm đảo lộn cả một cuộc đời. Khám phá ra tình yêu Thiên Chúa trong đời mình quả là một biến cố vô cùng quan trọng.Trong ánh sáng tình yêu của Thiên Chúa, kể từ nay cuộc đời anh chị em sẽ thay đổi dần. Thiên Chúa luôn hiện diện trong cuộc đời anh chị em. Hãy đón nhận Ngài với lòng tri ân cảm tạ. Cùng với Ngài anh chị em hãy bắt đầu một cuộc sống mới. Đó là cách tốt nhất để đáp lại tình yêu của Thiên Chúa dành cho anh chị em.

Kính thưa cộng đoàn.

Hôm nay giáo xứ chúng ta tiếp nhận các anh chị em Dự Tòng. Hạt giống đức tin đã ươm mầm và mọc lên. Biết bao công sức, bao nỗ lực của các hội đoàn, bao người đã dày công chăm sóc cho những hạt giống đức tin ấy để hôm nay Thiên Chúa cho mọc lên.

Những Dự Tòng đây đến với Chúa, tin và gặp gỡ Ngài là nhờ lời giới thiệu và gương sống chứng tá của tất cả chúng ta.

Có biết bao người trở lại vì trước đây đã có những kỷ niệm đẹp về Đạo của Chúa. Có những người theo Đạo vì trước kia đã học trường Đạo. Có người khác theo Đạo vì đã có một ân nhân là người Công giáo. Cũng có những người cảm phục một tấm gương chứng tá của Phúc Âm. Có người lại nhận thấy đời sống người Kitô hữu trong gia đình, làng xóm tràn đầy tình bác ái.

Hôm nay giáo xứ chúng ta hân hoan thu hoạch một mùa lúa do công lao của biết bao người. Tạ ơn Chúa và tri ân những người truyền giáo âm thầm cho Giáo hội. Bổn phận giới thiệu Chúa cho người khác là một ân sủng Chúa ban.Khi giới thiệu Chúa cũng chính là lúc chúng ta thánh hoá bản thân mình.

Thiên Chúa là tình yêu.Vậy lời giới thiệu trung thực nhất phải là lời ca ngợi về một Thiên Chúa tình thương. Để nói về tình thương, chúng ta phải có kinh nghiệm về tình thương, ao ước và gặp gỡ Thiên Chúa tình thương. Cách chuyển thông chính xác nhất tình thương của Thiên Chúa là bản thân mỗi người yêu tha nhân với tấm lòng chân thành của mình.

Lời giới thiệu của Gioan Tẩy Giả về Chúa Kitô rất ngắn ” Đây là Chiên Thiên Chúa.Đây Đấng xoá tội trần gian“. (Ga 1,29). Điều đó nhắn nhủ rằng: Để giới thiệu về Chúa chưa chắc đã cần nói nhiều.Vì nói nhiều chưa chắc đã là nói hay.Nói hay mà không đúng thì chỉ làm người nghe lạc lối. Để giới thiệu về Chúa cần nói đúng và sống điều mình rao giảng. Khuôn mặt đúng nhất của Chúa là tình yêu thương: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi ban Con Một của Ngài” (Ga 3,16) và tình yêu thương ấy là “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình thương của người hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13).

Chúng ta hãy là hạt lúa,đến mảnh đất nào thì gieo mầm xanh tình thương để mảnh đất ấy bừng lên sự sống xanh tươi, hứa hẹn một mùa gặt tốt đẹp. mục lục

DIỆN MẠO CHÚA GIÊSU KITÔ

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

Bài Tin Mùng Chúa Nhật hôm nay mời gọi chúng ta chiêm ngưỡng diện mạo Chúa Giêsu, một khuôn mẩu linh mục tư tế đau khổ, đầy lòng trắc ẩn, đồng cảm và kết hợp nhân loại.

THIÊN CHÚA TRONG CỰU ƯỚC

Qua các Tin Mừng, chúng ta thấy ai cũng đều mong ước được gặp Chúa Giêsu, ngắm nhìn diện mạo, vẻ đẹp huy hoàng và vinh quang của Thiên Chúa. Các Ca Vịnh đều nói lên lòng ước mong được ngắm nhìn diện mạo Chúa !

«Xin dung nhan Chúa hãy tỏa chiếu sáng trên tôi tớ Chúa» (Cv 119:135).

Không phải chúng ta cầu khẩn để được gặp mặt Chúa mà chính Chúa cũng thúc dục, nhắc nhở chúng ta đi tìm kiếm Chúa:

«Hãy tìm kiếm mặt ta và dung nhan ta» (Cv 27:8).

Nhưng có lẽ chúng ta không thể kiếm ra được gương mặt mà Chúa muốn chúng ta đi tìm, nên đã có lời than van:

«Xin Chúa đừng lánh mặt tôi» (Cv 102:2)

«Tại sao Chúa cứ lánh mặt tôi»(Cv 88:14).

«Chúa còn lánh mặt tôi đến bao lâu nữa» (Cv 13:2).

Chúng ta cầu khẩn, chúng ta tìm tòi nhưng chúng ta không thể kiếm ra được diên mạo Chúa. Lúc đó chúng ta cảm thấy bối rối. Ông Môsê, với tính cách bạn nói với bạn, xin được gặp mặt Chúa, thì Chúa nói với ông:

«Ngươi không thể nhìn được mặt ta, vì không ai nhìn thấy ta mà sống được» (Xh 33:20).

THIÊN CHÚA TRONG TÂN ƯỚC

Nhưng trong Tân Ước thì khác, Thiên Chúa đã thay đổi, đã xuống thế làm người như chúng ta để cứu chuộc muôn dân. Hãy coi Tin Mừng thánh Gioan (chương 12) nói về sứ vụ công khai của Chúa Giêsu đi tới đỉnh điểm. Đây là hành động chính thức và sau cùng trước khi xẩy ra những biến cố khổ nạn của Chúa. Có rất nhiều người dân ngoại, không phải là Do Thái lần đầu tiên đi tìm kiếm Chúa Giêsu. Họ đến không phải chỉ để xem mặt hoặc tham dự cuộc ra mắt của Chúa, nhưng để “gặp” Người. Theo Gioan, từ “gặp” có nghĩa là “tin” vào Người. Một yêu cầu đơn giản và lạ lùng: «Thưa ông, chúng tôi muốn gặp Đức Giêsu» (Ga 12:21).

Trong ca vịnh, khi chúng ta cầu khẩn để gặp mặt Chúa là chúng ta xin được gặp Chúa là Chúa thực để ngắm nhìn xâu thẳm trong Chúa. Ở chương chót của sách Khải Huyền có viết: «Họ sẽ được nhìn thấy dung nhan Người» (Kh 22: 4). Chúng ta đã nhìn thấy diện mạo Chúa thể hiện qua con người Giêsu thành Nazareth. Biết bao nhiêu lần chúng ta thèm muốn được nhìn thấy dung nhan Chúa Giêsu? Chúng ta sẽ làm gì khi chúng ta “gặp” được mặt Chúa Giêsu Kitô?

TƯ TẾ TRONG CỰU ƯỚC

Tác giả của thư gửi tín hữu Do Thái mang nặng tư tưởng và tính thần học của thánh Phaolô và Gioan là tác giả khi chiêm ngưỡng là nhìn thấy sự khổ nạn và hấp hối của chúa Giêsu trong vườn cây dầu có liên quan đến chức tư tế và những hiến tế trong đền thánh. Trong Cựu Ước không bao giờ thấy đòi hỏi thầy cả thượng tế phải tự mình trở nên giống như những người anh em, trái lại ông ta cố gắng trở nên khác với họ. Thái độ đồng cảm với những kẻ tội lỗi đã tỏ ra không thích hợp với chức tư tế của thời Cựu Ước. Ngoài ra không có bản văn nào đòi hỏi vị thượng tế phải là người không vướng mắc tội lỗi gì cả.

TƯ TẾ TRONG TÂN ƯỚC LÀ ĐỨC KITÔ KHỔ NẠN

Trái lại chức tư tế trong Tân Ước thì khác. Thư gửi tín hữu Do Thái (Dt 5 :7-9) cho thấy Chúa Giêsu là một tư tế rất khác biệt, có đầy lòng trắc ẩn phi thường, tính đồng cảm và tình liên đới bền chặt. Trong những ngày còn ở dương thế, Chúa Giêsu đã chia sẻ với chúng ta một con người bằng xương bằng thịt như chúng ta. Ngài cũng cầu nguyện, cũng đau khổ, cũng sầu muộn và khóc than như chúng ta. Chúa Giêsu cũng bị thử thách, bị ma quỉ cám dỗ bằng mọi cách như chúng ta nên Chúa thấu hiểu những khó khăn của chúng ta cả trong lẫn ngoài, do đó ngài có lòng trắc ẩn, cảm thông và đồng cảm rất sâu đậm với chúng ta. Chúa Giêsu là tư tế độc nhất, đặc biệt, có đầy đủ ý nghĩa và là mẫu mực từ đó cho đến giờ.

TƯ TẾ/LINH MỤC GIÊSU LÀ CHÚA, LÀ THẦY VÀ BẠN CỦA CHÚNG TA

Chúng ta rút ra được bài học gì qua những hình ảnh của Chúa Giêsu? Những thử thách hàng ngày và những yếu đuối của chúng ta, thay vì là hố xâu ngăn cách giữa Chúa Giêsu và chúng ta thì lại là điểm hội tụ, nơi gặp gỡ giữa chúng ta và Chúa, không phải chỉ với một mình Chúa Giêsu Kitô mà còn với chính Thiên Chúa nữa. Hiệu quả là từ đó về sau, không ai trong chúng ta khi bị đau khổ mà không cảm nhận được có Chúa Kitô luôn luôn ở bên cạnh trong mọi hoàn cảnh, vui cũng như buồn. Chúng ta lắng nghe lời Chúa Giêsu vì Chúa là đấng « đáng kính và đáng tuân phục». Chúng ta cũng sẽ được Chúa nghe lời và an ủi bởi vì chúng ta biết cầu nguyện Chúa liên lỉ, kính thờ Chúa, phục tùng và lắng nghe lời Chúa thúc dục trong lòng. Chúa Giêsu là một linh mục, là Thầy, là Bạn và là Chúa chúng ta.

CƠN HẤP HỐI CỦA THÁNH GIOAN PHAOLÔ II

Trong bài Phúc Âm hôm nay, ta thấy những người lên Jerusalem thờ phượng Thiên Chúa có những người Hy Lạp đến nói với ông Philipphê là người đến từ làng Bethsaida, miền Galilea là họ muốn gặp Chúa Giêsu: «Ông Philipphê đi nói với ông Anrê rồi ông Anrê cùng ông Philipphê đến nói với Chúa Giêsu» (Ga 12:20-22). 

Để gặp Chúa Giêsu, phải được một môn đệ dẫn tới gặp. Lời giới thiệu của những người đã từng sống với Ngài, ở bên cạnh Ngài, cho chúng ta biết về Ngài và chúng ta không thể biết về Ngài nếu không có sự giới thiệu ấy.

Sự giới thiệu ấy thế nào? Đó là những bản văn viết của các Tông đồ, nhất là những bản Tin Mừng được lưu truyền cho chúng ta do truyền thống, tập tục, qua cha mẹ, các linh mục, phó tế, thầy giáo, giáo lý viên, những nhà giảng thuyết và những tín hữu là những chứng nhân và người mang Tin Mừng của Chúa. Nhận biết ra những vị then chốt này quả là quan trọng và cần thiết! Họ là những chứng nhân sống động và có liên kết với truyền thống và Tin Mừng về Chúa Giêsu Kitô.

Một người trong hàng triệu người như vậy trên khắp thế giới là Đức Karol Wojtyla, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Cả thế giới chứng kiến một cách công khai cuộc hấp hối và khổ nạn của đấng nối nghiệp Thánh Phêrô. Sắp đến ngày mừng kỷ niệm lễ giỗ của ngài vào ngày 2 tháng 4, chúng ta không thể không nhớ lại cái ngày đầy sống động ấy. Cử chỉ của ngài đã khiến chúng ta nhớ lại gương mặt Thiên Chúa với những hình ảnh Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên Thập giá.

Một trong những bài học đáng ghi nhớ nhất mà ngài đã dạy cho chúng ta vào những giờ phút cuối cùng của triều đại ngài là tất cả mọi người đểu phải chịu đau khổ, ngay cả vị đại diện của Chúa Kitô. Thay vì che dấu những tật nguyền của mình như đa số những vị thủ lãnh trên thế giới, Ngài để cho cả thế giới nhìn biết những điều Ngài đã và đang hứng chịu. Cử chỉ cuối cùng của đời Ngài cho thấy dù là lực sĩ rồi cũng phải bất động, tiếng nói trước kia có âm vang sang sảng thì nay cũng phải bặt tắt và bàn tay đã viết lên biết bao tông thư vĩ đại giờ này cũng không còn động đậy được nữa. Tuy nhiên không có gì làm cho ngài phải ngập ngừng, e ngại, ngay cả những yếu ớt bệnh hoạn ẩn dấu bên trong căn bệnh Parkinson của ngài, và cuối cùng ngài đã không thể nói và cử động được nữa. Nhiều người tin rằng thông điệp mãnh liệt nhất mà ngài đã truyền giảng lúc đó là khi ngài không còn nói và cử động được nữa.

Một trong những khoảnh khắc giảng dạy trong thinh lặng khó quên của những ngày cuối cùng đó đã xẩy ra vào đúng đêm thứ Sáu Tuần Thánh năm 2005 khi Đức Thánh Cha đang ngồi trong nhà nguyện riêng của ngài ở Vatican coi truyền hình cuộc khổ nạn đoạn đường Thánh giá được diễn lại ở đấu trường Colosseum tại Rome. Đến chặng đường Chúa chịu chết, ống kính truyền hình trong nhà nguyện chiếu Đức Thánh Cha giữ cứng Cây Thánh Giá trong tay, ôm vào ngực, má ngài đè chặt lên phiến gỗ. Ngài chấp nhận đau khổ và cái chết không cần nói. Hình ảnh đó tự nó đã nói nên lời.

Trước khi ra đi mấy tiếng đồng hồ, Đức Thánh Cha Gioan Phaolồ II đã nói: «Hãy đề cho tôi đi về Nhà Cha» Trong khi những lời kinh thân thiết nhất được vang lên, Thánh lễ được cử hành ngay dưới chân giường của ngài và hàng ngàn vạn người đang hát vang dưới Quảng trường Thánh Phêrô thì ngài nhắm mắt lìa đời lúc 9:37 chiều tối ngày 2 tháng 4 năm 2005. Qua cuộc khổ nạn công khai, nỗi đau khổ và sự chết của ngài, vị tư tế thánh thiêng này, người nối nghiệp các Thánh Tông đồ và là đầy tớ của Thiên Chúa đã chỉ cho chúng ta thấy dung nhan Chúa Giêsu bằng một phương cách rất đặc biệt và sống động.

Đến đây, tất cả mọi hình ảnh, công đức, sự nghiệp của ngài lại hiện ra trong tâm trí tôi. Những việc ngài đã làm cho Giáo Hội, cho Ba Lan, cho con người, cho cả thế giới…dù không nói lên, nhưng vẫn còn âm vang đâu đó. Đặc biệt câu nói tuy bình thường nhưng bất hủ: Các Con Đừng Sợ…

HÃY ĐỂ CHO TÔI ĐI VỀ NHÀ CHA, GẶP MẶT CHÚA

Như chúng ta đã biết, khi đoàn người đi lên Jerusalem thờ phượng Chúa, có những người Hy Lạp, đến xin ông Philiphê cho gặp Chúa Giêsu thì Chúa trả lời: “…Thật vậy, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh sôi nhiều hạt lúa khác. Ai yêu quí mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ được sự sống đời đời. Ai phục vụ Thầy thì hãy theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha của Thầy sẽ quí trọng người ấy….” (Ga 12:20-26).

Chúa Giêsu là tư tế, là linh mục và là Thiên Chúa. Một hình ảnh đau khổ, hấp hối, chịu cực hình, chịu đóng đinh chết trên thập giá vì tội lỗi nhân loại. Các Thánh Tông đồ như Phêrô, Phaolô… đều chịu cực hình và chịu chết như Thầy mình là Chúa Giêsu Kitô. Những gương sáng, hình ảnh, dung nhan diện mạo đầy lòng trắc ẩn, đồng cảm và kết hợp nhân loại của Chúa Kitô, của các Thánh Tông đồ đã để lại cho tất cả chúng ta, cho những ai là môn đệ của Chúa.

Đừng quên. Hãy Tin. Hãy yêu mến Chúa! mục lục

LÀM THẾ NÀO ĐỂ HẠT GIỐNG TRỔ SINH HOA TRÁI?

Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

Trong bài Tin Mừng tuần trước, Thánh Gio-an đã nói “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”. Và đây chính là toát yếu của toàn bộ Tin Mừng và cũng là trọng tâm của đời sống tín hữu. Chúng ta còn được mời gọi suy gẫm và thực thi giao uớc Tình Yêu này trong cuộc sống. Tình yêu là cho đi, là ban phát. Thật vậy, Đức Giê-su là quà tặng của Thiên Chúa cho nhân loại. Người đã đến để làm chứng cho Tình Yêu, không bằng chữ viết hay ngôn từ, nhưng còn bằng chính cuộc sống của Người. Cả cuộc đời của Người huớng về đích điểm đó, đích điểm diễn tả một cách thật cụ thể Tình Yêu Của Thiên Chúa, mà hôm nay theo Tin Mừng của Thánh Gio-an gọi là ‘giờ’.

Trong khi thi hành sứ vụ, bao nhiêu người đã ngộ nhận về mục tiêu, đích điểm, ‘giờ’ của Đức Giê-su; nhưng Người luôn luôn nói: “Giờ Ta chưa đến”. Giờ mà Đức Giê-su đã tiên báo lần đầu tiên tại tiệc cưới Cana. Giờ mà Người đến để Chúa Cha được thành toàn và tôn vinh. Nhưng, trước tiên ngay bây giờ và cũng như trong mọi khoảnh khắc của sứ vụ, Người cần vâng phục trọn vẹn ý định của Chúa Cha. Nói như thế có nghĩa là mọi cử chỉ của Người, mọi thái độ và cách hành xử của Người đều hướng về giờ đó. Đức Giê-su ý thức và biết rất rõ các việc Người làm dẫn Người đến giờ chết. Nhưng vì giờ này mà Người đã đến.

Thật can đảm cho ai biết rõ việc mình làm sẽ đem đến tai họa cho bản thân; nhưng vì lợi ích của người khác mà Người vẫn hân hoan thực hiện chỉ để làm chứng rằng Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Ngài cho chúng ta được sống.

Và trong bài Tin Mừng hôm nay, Người cuối cùng cũng phải xác định giờ đó sắp diễn ra. Người muốn nói ở đây là giờ nào vậy? Và, làm thế nào tâm tình của chúng ta có thể biến chuyển từ quan điểm cho rằng đó là thời điểm của thất bại. Tệ hại hơn, người ta còn coi như đó là giây phút của ô nhục và đáng khinh miệt. Nói theo ngôn ngữ hiện đại thì làm sao chúng ta có thể nhìn nhận giờ chết của một người sắp bị hành hình trên ghế điện hay là bị xử tử lại có thể là giây phút đem lại vinh quang cho người đó. Lối suy nghĩ và đặt vấn đề như thế cũng không xa lạ gì với cách nhìn vấn đề về cái chết trên Thập Gía của những người cùng thời với Đức Giê-su. Đó là án chết dành cho các tử tội. Đức Giê-su bị treo trên thập giá giữa 2 tên trộm cướp, nằm trên một ngọn đồi đầy sọ người mà người ta gọi là núi sọ.

Chết như thế mà dám gọi là vinh quang hay sao?

Để đáp trả cho câu hỏi này và cũng là câu trả lời của Đức Giê-su dành cho những người Hy Lạp muốn tìm kiếm và gặp Người. Họ muốn giáp mặt Người. Nhưng Người lại nhân cơ hội này bộc lộ cho họ và chúng ta biết làm thế nào để gặp được Người. Đức Giê-su đã không tiếp tục giải thích về sự nối kết giữa ‘giờ vinh quang’ và cái chết mà Người sắp đón nhận. Người dùng ví dụ mà nguời đuơng thời hay những ai có kinh nghiệm trong việc trồng cấy đều hiểu ngay điều Chúa muốn nói: “Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời.”

Ý nghĩa của ví dụ về sự phát triển của hạt giống trở nên rõ nghĩa hơn khi Đức Giê-su nhấn mạnh đến việc yêu thương và hy sinh cuộc sống mình vì lợi ích của người khác. Ai trong chúng ta cũng có trải nghiệm này là sống cho bản thân, chỉ lo cho mình là một lối sống tự diệt. Tình Yêu chỉ được thăng hoa khi người đó dám yêu và dám sống cho người khác. Tuy đó là hy sinh nhưng sự hy sinh như thế là việc rất cần thiết vì chúng ta biết rằng các việc làm tự nguyện đó sẽ đem lại ích lợi cho tha nhân.

Trong cuộc sống gia đình, có vợ chồng nào đã không buông bỏ ý riêng mình, thay đổi lối tư duy để sao cho hòa hợp với người mình yêu, không chỉ một vài lần mà hàng vạn lần. Lối sống chết đi cho ý riêng, sống lại với ý nghĩ mới để cùng nhau nở sinh hoa trái là khuôn mẫu trong mọi mối tương quan đã thấm nhuần vào trong cuộc sống của chúng ta. Một hình ảnh khác, cũng trong môi trường gia đình, có bậc phụ huynh nào không yêu con khi hy sinh cho con cái, từ bỏ ý riêng để chấp nhận ý định của các cháu và mong cho các cháu có một cuộc sống đổi mới. Đó cũng là việc chết đi cho ‘cái tôi’, sống cho người khác để họ được sinh hoa kết trái trong cách chọn lựa mới.

Nói chung, lối sống như thế tạo cho chúng ta một lối sống giầu có và luôn được thăng hoa, vì nó có thể chạm đến nguồn suối yêu thuơng của Thiên Chúa. Tất cả những điều đó đã được Đức Giê-su thể hiện qua cuộc sống từ bỏ, chấp nhận trong hân hoan để được chết đi, trở thành Bánh Hằng Sống nuôi dưỡng những ai đang đói khát nguồn ơn cứu thoát. Thật, đúng như thế, vì Thiên Chúa đã không sai Con của Ngài đến để luận tội và xét xử thế gian, nhưng nhờ Con của Ngài mà thế gian được cứu thoát.

Như vậy, thưa anh chị em,

Qua tấm lòng vâng phục, ngay cả sự chết cũng không làm Đức Giêsu chùn bước; cho nên Thiên Chúa đã siêu tôn Người vuợt lên trên mọi sự. Nhưng, sao mà Đức Giê-su có thể vượt qua mọi sự, ngay cả nỗi cô đơn, vuợt qua muôn vàn thử thách, ngay cả sự chối bỏ của những người bạn cùng đồng hành với Người, để trung thành và chấp nhân sự chết như thế? Chỉ có một câu trả lời xác đáng rằng sức mạnh mà Đức Giê-su có được, hoàn toàn phát sinh từ mối dây hiệp thông mật thiết với Chúa Cha, chỉ muốn làm hài lòng Cha. Có nghĩa là cái chết của Đức Giê-su cho thấy tình yêu vô biên của Thiên Chúa trong Người, bởi vì Người sống hoàn toàn cho Chúa Cha và hoàn toàn cho thế gian.

Còn một điều khác vừa kỳ diệu vừa thách thức bản thân khi chúng ta lại được nghe qua môi miệng của Chúa, Đấng tha thiết mời gọi chúng ta cùng tham dự vào sự chết của Người. Lúc đó, chúng ta giống như những hạt giống mà Thiên Chúa đã gieo trồng: cần bị mục nát, cần bị chết đi để sinh hoa lợi cho người khác. Đây là giây phút cao quí nhất của những ai theo và noi gương để chết đi như Đức Giê-su. Đây là giây phút tập trung lại tất cả những gì Đức Giê-su đã thực hiện khi còn sống và được tiếp tục qua lối sống tự hạ của chúng ta là những người sẵn sàng chấp nhận chết đi cho nhau được sống. Và, như Đức Giê-su, trong giây phút quên mình đó, cuộc đời của chúng ta cũng đựơc Thiên Chúa tôn vinh.

Và trong tâm tình đó, xin mời anh chị em cùng ôn lại một vài gương sáng.

Trước hết là cuộc đời của mục sư Martin Luther King. Ông là một con người đã dùng cả cuộc đời để tranh đấu cho quyền bình đẳng của người da đen; và sau cùng, ông đã bị ám sát chết vào ngày 4 tháng 4 năm 1968. Truớc cái chết vô cùng tang thương, trước sự mất mát thật to lớn của nhân loại; có ai trong chúng ta dám nói lúc ông bị ám sát là giây phút vinh quang của đời ông? Hay là chúng ta chỉ biết than khóc cho một con người đã hết lòng vì người khác. Đây phải chăng là một sự thảm bại mà ông phải chịu khi dám đứng ra để chống lại một thế lực quá lớn không hỗ trợ cho phép người da đen được bình đẳng. Tuy nhiên, ngày hôm nay sau hơn 50 năm, chúng ta đều nhận ra một điều là qua sự chết, ông đã đạt được giấc mơ đem lại quyền bình đẳng giữa người da mầu và da trắng. Đó chính là giây phút vinh quang mà ông muốn nhắm đến. Qua sự chết, ông đã truyền sức sống cho những hạt giống ở các thế hệ kế tiếp.

Qua sự chết của cố mục sư Martin Luther King làm chúng ta nhớ lại cái chết của vị cha già dân tộc Ấn là Mahatma Gandhi.

Người ta cũng không thể quên cái chết của linh mục dòng Phan-xi-cô, cha Ma-xi-mi-li-a-nô Kôn-bê đã tình nguyện chết thay cho người bạn tù. Hoa quả của cái chết mà Ngài để lại là tình thân ái, yêu thương và chia sẻ của những người bạn tù còn sống sót trong trại giam. Ai cũng cảm phục và muốn noi gương vị Linh mục dòng Phanxicô, đã hy sinh mạng sống để cứu một người anh em.

Đó là những mẫu gương phi thuờng đòi hỏi một cố gắng đem đến kết quả cũng phi thường. Nhưng đối với chung ta, hãy nhìn vào cuộc sống gia đình, chúng ta vẫn nhận ra rằng còn có những người cha và mẹ sẵn sàng hy sinh bản thân, chấp nhận là người thua cuộc chỉ vì họ yêu con cái của họ và người bạn đuờng hơn yêu chính bản thân. Còn bao nhiêu người đang âm thầm chết để bộc lộ tình yêu và gầy dựng tương lai cho các thế hệ mai sau. Trong Chúa, họ rất đáng được ca ngợi và tôn vinh.

Vì thế trong giây phút chuẩn bị bước vào Tuần Thương Khó, chúng ta cùng tạ ơn Chúa vì lối sống chứng nhân của bao nhiêu con người đang chết đi cho chính mình để sự chết của họ như mầm giống trổ sinh hoa trái cho các thế hệ mai sau. Họ là chứng nhân Tình Yêu. Cùng với họ chúng ta ngợi khen Tình Yêu của Thiên Chúa, Đấng mãi yêu thương chúng ta và thế gian đến nỗi hy sinh Con Một, Ngài cũng vui lòng. Amen. mục lục

HẠT LÚA MÌ CAO CẢ MÃI TRỔ SINH

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Chúa Giêsu phán: “Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất mà không thối đi, nó chỉ trơ trọi một mình, nhưng nếu nó thối đi, nó sinh nhiều bông hạt”. Vậy hình tượng hạt lúa mà Chúa nói là gì?

1. Hình tượng hạt lúa nơi Thánh giá Chúa Kitô. 

Nhìn vào khía cạnh cứu chuộc, nếu Chúa Kitô không chấp nhận hiến tế đời mình, chúng ta chẳng nhận được hiệu quả nào của ơn cứu chuộc. Chính trong sự tự hiến tế lớn lao ấy, Chúa Kitô trao cho ta sự sống của chính Thiên Chúa. Vì thế, cái chết khổ hình của Chúa Kitô là bằng chứng ơn cứu chuộc chúng ta.

Nhưng trong mầu nhiệm Thánh giá, không chỉ một mình Chúa Kitô, mà còn là chính Thiên Chúa tự hiến cho ta. Chúa Cha tự hiến mình khi trao ban chính Người Con Duy Nhất, sinh ra tự lòng mình. Chúa Con tự hiến mình, khi chấp nhận hóa thân làm người, chia sẻ đến cùng cái kiếp người mong manh của loài người, và chết đau thương như một tử tội để trao ban sự sống cho loài người.

Hiểu về mầu nhiệm tự hiến của Thiên Chúa như thế, ta cũng có thể áp dụng hình ảnh hạt lúa được gieo cho Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa đã hiến mình cho ta trước. Sáng kiến cứu độ phát xuất từ nơi Thiên Chúa. Thiên Chúa cúi mình để nâng ta lên trong sự tự hiến ấy. Vì thế, Thiên Chúa là hạt lúa nguồn, hạt lúa mẹ đã hiến mình cho ta, đã chết lặng trong thương đau tột cùng vì ta trong cái chết đau đớn của Chúa Kitô, Con Một của Ngài.

Cũng chính trong sự chết đau đớn của Chúa Kitô, Thiên Chúa tiếp tục mời gọi chúng ta hãy tự hiến tế chính mình như Ngài, để nên hạt lúa gieo vào lòng đời cho anh chị em của ta.

Sự dâng hiến của Thiên Chúa và của Chúa Kitô chính là động lực thúc đẩy ta sống cho anh chị em của mình. Sự tự hiến của Thiên Chúa và của Chúa Kitô đòi ta chui ra khỏi vỏ ốc ích kỷ, ra khỏi những bận tâm, toan tính, vun quén cho mình để sống cho tha nhân và cho Thiên Chúa.

2. Các thánh Tử đạo.

Hình tượng hạt lúa cũng làm ta nhớ tới các thánh Tử đạo đã hy sinh mạng sống để hạt giống đức tin sinh nhiều hoa trái. Hội Thánh Việt Nam chỉ là một Hội Thánh non trẻ, đã hiến dâng bao nhiêu người con suốt nhiều thế kỷ bắt đạo, cho đến nay, con số ấy vẫn không ai biết chính xác. 

Bất cứ ở đâu trên mảnh đất châu Á này, nếu Đức tin được rao giảng, thì ở đó lại thấm đẫm dòng máu các anh hùng Tử đạo. Con số các thánh Tử đạo càng tăng lên theo cấp số nhân nếu ta quay nhìn cả Giáo Hội hoàng vũ qua mấy ngàn năm. Không có thời buổi nào, không có thế kỷ nào, không có Hội Thánh địa phương nào mà không bắt đầu được sinh ra từ máu Tử đạo. 

Gần đây, các Đức Giáo hoàng tuyên khá nhiều vị thánh, hầu hết các vị là các Tử đạo thời đại mới. Máu Tử đạo cứ tiếp tục đổ, càng đổ bao nhiêu, đức tin càng lớn, sức sống của Hội Thánh Chúa Kitô càng căng tràn, mạnh mẽ bấy nhiêu. 

Chúa Kitô, Hạt Lúa Mì Anh Trưởng rơi xuống đất, làm nảy sinh vô vàng hạt lúa. Những hạt lúa từ thời đại này sang thời đại khác tiếp tục trổ sinh bông hạt. 

Các thánh Tử đạo, đến lượt mình, nhìn lên Thánh giá Chúa để rồi xông pha bước tới, chấp nhận thân phận hạt lúa mì nát tan được gieo trong lòng thế giới. Cứ như thế, hoa quả của đức tin, hoa quả của hòa bình đang tươi nở khắp nơi trong Hội Thánh và trên thế giới. 

Có một nguyên tắc rất kỳ diệu, rất nhiệm mầu, nhưng đã trở nên rất bình thường: Giáo Hội càng bị bắt bớ khốc liệt, người Công Giáo càng bị giết hại đẫm máu, thì Hội Thánh càng sống mãnh liệt và mau chóng lan rộng, đức tin của người Công Giáo càng được tôi luyện và trưởng thành.

Ngày nay có biết bao anh chị em tiếp tục nhìn vào Thánh giá Chúa Kitô mà dấn thân xây dựng, gìn giữ, bảo vệ đức tin và kiến tạo hòa bình, làm nảy sinh tình yêu khắp nơi, quên cả sức lực, quên cả bản thân để danh Chúa rạng ngời, Nước Chúa trị đến, cuộc sống bình an, thịnh vượng hơn. 

Những hạt lúc mì cứ rơi xuống, rồi lại sinh hoa kết quả, hết lớp này đến lớp khác. Ngày nào đức tin còn bị bắt bớ, thế giới vẫn tồn tại bất công, sự sống bị chà đạp, ngày ấy vẫn còn những hạt lúa mì rơi xuống và vô vàn bông lúa mì trỗ sinh.

Chúa Kitô, Đấng đã sống cho tình yêu, chết cho tình yêu, và sống lại vì tình yêu, luôn là mãnh lực cuốn hút muôn người hiến dâng mạng sống, và lưu danh ngàn đời. 

Chúa Kitô, hạt Lúa Mì cao cả làm trổ sinh vô vàn bông hạt tươi tốt… mục lục

CÙNG VƯỢT QUA VỚI CHÚA GIÊSU

Lm. Anphong Vũ Đức Trung, O.P.

Đức Giêsu nói: “Một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi" (Ga12, 32). Trên Thập giá như “được giương cao lên”; Và Sự Phục Sinh của Người như “lôi kéo mọi người lên”. Hơn nữa, “Không thể tách rời Ðấng bị đóng đinh ra khỏi Ðấng sống lại, như hai khía cạnh của cùng một mầu nhiệm Thiên Chúa là Tình yêu: Tình yêu tỏ bày Quyền năng Thiên Chúa; Tình Yêu hoàn tất Giao ước mới. Quyền năng và Tình yêu nơi Thiên Chúa là một, thể hiện nơi cuộc Vượt Qua của Đức Giêsu.

Có thể nói cuộc Vượt Qua của Đức Giêsu- Con Thiên Chúa, đã khởi đầu ngay tự lúc Người khai mạc sứ vụ công khai, vì “dầu là Con Thiên Chúa, người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; Và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn Cứu Độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người” (Dt 5, 8-9). 

Đỉnh cao cuộc Vượt Qua này là:

* Khi Đức Giêsu chịu treo trên Thập giá: Dấu chỉ được tôn vinh; 

* Khi Đức Giêsu được chôn trong mồ ba ngày: Dấu chỉ nhiều khổ đau, tang thương và vâng phục như hạt lúa chết đi, sinh nhiều hạt khác. 

* Khi Đức Giêsu Phục Sinh lôi kéo mọi người lên cao, để vượt qua bóng tối và bước vào ánh sáng; Qua hận thù ghen ghét bước vào tình yêu; Qua sự chết bước vào sự sống mới.

Ngôn sứ Giêrêmia nói với dân lưu đày về một Giao ước mới, trổi vượt hơn giao ước Sinai, vì lề luật và thánh ý Thiên Chúa “được ghi vào lòng dạ…khắc vào tâm khảm”, và “Đức Chúa sẽ tha thứ tội ác cho chúng và không còn nhớ đến lỗi lầm của chúng nữa”, nhờ đó Dân Chúa có thể sống trong tình yêu của giao ước mới. Đây thực là cuộc Vượt Qua của Dân Chúa, nhờ Tình Yêu hoàn tất Giao ước. Dân Chúa hướng tới tương lai tươi sáng hơn và Đấng Cứu Thế tương lai.

Đức Giêsu thiết lập Giao ước mới qua Bí tích Thánh Thể: “Đây là Mình Thầy, hy sinh vì anh em; Đây là Máu Thầy, Máu Giao ước mới đổ ra cho muôn người được ơn tha tội” (x. Mt 26, 26-29; Mc 14,22-24; 1Cr 11,23-26). Đây thực là cuộc Vượt Qua của Đức Giêsu, nhờ Tình yêu Hy hiến mang lại Ơn tha tội cho nhân loại. Giao ước mới được hình thành trong cái chết Thập giá và Phục Sinh của Đức Giêsu.“ Nhờ máu Đức Kitô đổ ra, anh em đã trở nên những người ở gần” (Ep 2, 5-6.13).

Lạy Chúa Giêsu,

Chúng con còn sợ khó, cũng như Chúa đã từng xao xuyến trước cái chết. Nhưng với hết lòng tin tưởng, chúng con nguyện bước theo chân Chúa đến cùng. mục lục

GIỚI THIỆU ĐỨC KITÔ: TRỌNG TRÁCH CỦA MỖI KITÔ HỮU

Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

Đọc Tin Mừng của Thánh Gioan, chỉ trong chương 1 thôi, tôi đã thấy có ba nhân vật có biệt tài giới thiệu Chúa đến cho người khác. Ba nhân vật này chính là Gioan Tẩy Giả, An-rê và Phi-lip-phê:

• Ông Gio-an lại đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông. Thấy Đức Giê-su đi ngang qua, ông lên tiếng nói: "Đây là Chiên Thiên Chúa." Hai môn đệ nghe ông nói, liền đi theo Đức Giê-su. (Ga 1:35-37).

• Ông An-rê gặp em mình là ông Si-môn và nói: "Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a" Rồi ông dẫn em mình đến gặp Đức Giê-su (Ga 1:41-42).

• Ông Phi-líp-phê gặp ông Na-tha-na-en và nói: "Đấng mà sách Luật Mô-sê và các ngôn sứ nói tới, chúng tôi đã gặp: đó là ông Giê-su, con ông Giu-se, người Na-da-rét” (Ga 1:45).   

Bạn thấy lời giới thiệu của Gio-an Tấy Giả, An-rê và Phi-lip-phê có sức thuyết phục mạnh ghê không? Bạn có biết nhờ vào đâu và nhờ cách nào mà lời giới thiệu của các ông lại mạnh mẽ và có sức thuyết phục cao như vậy không? Thánh Gio-an cho chúng ta biết, đó là nhờ các ông ĐÃ GẶP Đức Kitô. Nếu các ông không GẶP Chúa Giê-su thì các ông sẽ không thể BIẾT Ngài. Mà nếu không BIẾT thì các ông không thể giới thiệu một cách chính xác, và sẽ không có sức thuyết phục mạnh như vậy được!    

Bạn thân mến, xưa cũng như nay, trách nhiệm giới thiệu Chúa Giê-su cho tha nhân, vẫn là trách nhiệm và là bổn phận của tất cả mọi người chúng ta. Thật vậy, Công Đồng Vatican II đã nói rất rõ, việc giới thiệu Chúa Giê-su đến cho mọi người là trách nhiệm và bổn phận của tất cả mọi Kitô Hữu: “Nhiệm vụ cao cả của mọi giáo dân là làm cho ý định cứu độ của Thiên Chúa ngày càng lan tới tất cả mọi người ở mọi nơi và mọi thời đại” (Lumen Gentium # 33).  

Để công việc giới thiệu Chúa Giêsu đến cho mọi người được có kết quả tốt đẹp, bạn và tôi cần phải noi gương Giới Thiệu Đức Kitô: Trọng Trách Của Mỗi Kitô Hữu. Để công việc giới thiệu Chúa Giêsu đến cho mọi người được có kết quả tốt đẹp, bạn và tôi cần phải noi gương bắt chước thánh Gio-an Tẩy Giả, An-rê và Phi-lip-phê, chúng mình phải GẶP được Chúa.  GẶP rồi thì chúng ta mới BIẾT, và BIẾT càng nhiều, BIẾTcàng rõ bao nhiêu thì lời giới thiệu của chúng ta mới có sức thuyết phục mạnh bấy nhiêu! Bạn đồng ý không?  Để có thể GẶP được Đức Kitô, bạn và tôi phải ĐẾN với Ngài.

1. ĐẾN VỚI NGÀI QUA VIỆC ĐỌC KINH THÁNH. Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa (Ga 1:1). Chúa Giê-su chính là Ngôi Lời của Thiên Chúa. Đọc Kinh Thánh, suy niệm Lời Chúa, bạn và tôi sẽ được Ngài soi dẫn và mạc khải cho chúng ta biết về chính Ngài.

2. ĐẾN VỚI NGÀI QUA VIỆC CẦU NGUYỆN CHUNG VỚI NHAU. “Ở đâu có hai hoặc ba người tụ họp nhân danh Thầy thì Thầy ở giữa họ” (Mt 18:20). Khi cầu nguyện với nhau trong cộng đoàn hay trong gia đình…là khi đó Ngài đến với chúng ta, và chúng ta sẽ gặp được Ngài.

3. ĐẾN VỚI NGÀI QUA VIỆC THAM DỰ THÁNH LỄ. Chúa Giê-su hiện diện trong Bí Tích Thánh Thể, trong thánh lễ, vì thế khi đến tham dự thánh lễ, đến với những giờ Chầu Thánh Thể, là khi đó chúng mình GẶP được Ngài. “Ai ăn thịt Tôi và uống máu Tôi, thì ở trong Tôi và Tôi ở trong người ấy!” (Ga 6:56).

Chúng ta cầu nguyện cho nhau, để bạn và tôi luôn siêng năng đọc Kinh Thánh, cầu nguyện liên lỉ, và thường xuyên tham dự thánh lễ, rước lễ, nhờ vậy, chúng mình sẽ GẶP được Chúa, và qua sự GẶP GỠ ấy, chúng mình sẽ BIẾT thật nhiều về Chúa.  Và nhờ việc BIẾT đó, bạn và tôi mới có thể chu toàn trách nhiệm giới thiệu Chúa đến cho tha nhân. Cầu chúc bạn những ngày còn lại của mùa Chay thật thánh thiện, tràn đầy ơn Chúa, và bình an. mục lục

GIỜ ĐÃ ĐIỂM

[Niệm ý Ga 12,20-33]

Khi hạt lúa được gieo vào lòng đất

Phải chết đi cho nhiều hạt nảy sinh

Đã đến giờ Con Người được tôn vinh

Chén đắng trao và Ngài sắp phải uống.

Ai can đảm, dám coi thường mạng sống

Mất đời này sẽ được sống đời đời

Phục vụ Chúa thì theo đi khắp nơi

Ngài ở đâu, kẻ phục vụ ở đó.

Nhận chén đắng, Chúa cũng cảm thấy sợ

Tâm hồn Ngài xao xuyến và âu lo

Cầu xin Cha cho Ngài được thoát qua

Nhưng vẫn muốn vâng ý Cha đã định.

Cha xác nhận đã tôn vinh Danh Thánh

Và Cha sẽ còn tôn vinh nhiều hơn

Giờ đã điểm cuộc phán xét thế gian

Và thủ lãnh thế gian bị tống khứ.

Được giương cao, treo trên cây Thập Giá

Chúa hứa rằng Ngài kéo mọi người lên

Cuộc cứu độ thực hiện chỉ một lần

Nhưng Giá Máu của Ngài mãi giá trị. mục lục

Viễn Dzu Tử

CON NGƯỜI ĐƯỢC TÔN VINH    

(Suy niệm từ Ga 12,20-33)

Ngày đại lễ, cộng đoàn đang tham dự

Có mấy người Hy Lạp cũng tới đây

Xin các tông đồ giúp được gặpThầy

Theo ý họ, tông đồ thưa cùng Chúa.

Chúa lên tiếng: điều này cần  ghi nhớ:

Đã tới giờ Con Chúa được tôn vinh

Hạt lúa mì rơi xuống đất, thối ình

Nó sẽ nảy sinh rất nhiều bông hạt… 

Suy lời Chúa, nghĩ tới ngày thế mạt

Vua Giê Su vinh thắng, lập Nước Người

Vương Quốc đây có sự sống đời đời

Nhờ sự chết và phục sinh của Chúa…

Qua Giáo Hội, Tin Mừng hằng đoan hứa:

Lời Chúa là ngọn đèn soi, chỉ đàng

Mãi răn khuyên, tỉnh thức và khôn ngoan

Đường Thánh Giá, mới là đường công chính. mục lục

(Thế Kiên Dominic)

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan