SUY NIỆM CHÚA NHẬT LỄ LÁ – Năm B

26-03-2021 310 lượt xem

Lời Chúa: Mc 11,1-10; Is 50,4-7; Pl 2,6-11; Mc 14,1 – 15,47]

Mục Lục

NGÀI THỰC SỰ LÀ CON THIÊN CHÚA. NGÀI LÀ CHÚA CỦA CONĐTC. Phanxicô

ÔNG NÀY LÀ CON THIÊN CHÚA+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

NHỮNG NGÃ RẼ NGUY HIỂMLm. Giuse Nguyễn Hữu An

CHÚA CỠI LỪA VÀO THÀNHTrần Mỹ Duyệt

THIÊN CHÚA NHÂN TỪ & HAY THƯƠNG XÓT  - Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

CÕI KHỔTrầm Thiên Thu

CUỘC KHỔ NẠN CỦA ĐỨC GIÊSU KITÔ - Fr. Dominic Dieu Tran, SDD

SỐNG TÌNH YÊU HY HIẾN - Lm. Anphong Vũ Đức Trung, O.P.

LỜI ĐẦU TIÊN TRÊN THÁNH GIÁ: LỜI THA THỨ - Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

KHỔ NẠN CỦA CHÚA LÀ HY VỌNG CỦA CHÚNG TABs. Nguyễn Tiến Cảnh, MD

Thơ: LẬT MẶTViễn Dzu Tử

Thơ: HOAN HÔ ĐẤNG NHÂN DANH CHÚA - (Th. K. Dominic)

------------------------------------------------------------------------------------------

NGÀI THỰC SỰ LÀ CON THIÊN CHÚA. NGÀI LÀ CHÚA CỦA CON

ĐTC. Phanxicô

Mỗi năm phụng vụ này luôn khiến chúng ta kinh ngạc: chúng ta chuyển từ niềm vui chào đón Chúa Giêsu khi Người vào thành Giêrusalem sang nỗi buồn khi chứng kiến Người bị kết án tử hình và sau đó bị đóng đinh. Cảm giác kinh ngạc nội tâm đó sẽ vẫn còn với chúng ta trong suốt Tuần Thánh. Chúng ta hãy suy ngẫm sâu hơn về điều đó.

Ngay từ đầu, Chúa Giêsu khiến chúng ta kinh ngạc. Dân chúng chào đón Ngài một cách long trọng, nhưng Ngài vào thành Giêrusalem trên một con ngựa non hèn mọn. Người dân của Người mong đợi một đấng giải phóng quyền năng trong Lễ Vượt Qua, nhưng Ngài đã đến để đưa Lễ Vượt Qua đến chỗ viên mãn bằng cách hy sinh chính bản thân mình. Dân của Người đang hy vọng chiến thắng người La Mã bằng gươm, nhưng Chúa Giêsu đến để ăn mừng chiến thắng của Thiên Chúa bằng thập tự giá.

Điều gì đã xảy ra với những người trong thời gian vài ngày, từ chỗ hô vang “Hosanna” đến chỗ gào lên “Đóng đinh nó đi”? Chuyện gì đã xảy ra? Họ đang theo đuổi một ảo tưởng về Đấng Mêsia hơn là chính Đấng Mêsia. Họ ngưỡng mộ Chúa Giêsu, nhưng họ không để mình kinh ngạc trước Ngài. Kinh ngạc không giống như ngưỡng mộ. Sự ngưỡng mộ có thể là trần tục, vì nó tập chú vào những thị hiếu và mong đợi của riêng nó.

Ngược lại, sự kinh ngạc vẫn mở ra đối với những điều khác và sự mới mẻ mà những điều ấy mang lại. Ngay cả ngày nay, có rất nhiều người ngưỡng mộ Chúa Giêsu: Ngài nói những điều đẹp đẽ; Ngài tràn đầy tình yêu và sự tha thứ; tấm gương của Người đã thay đổi lịch sử và vân vân. Họ ngưỡng mộ Ngài, nhưng cuộc sống của họ không thay đổi. Chiêm ngưỡng Chúa Giêsu thôi thì chưa đủ. Chúng ta phải bước theo những bước chân của Chúa, để cho mình được thử thách bởi Người; chuyển từ ngưỡng mộ sang kinh ngạc.

Điều gì đáng kinh ngạc nhất về Chúa và Lễ Vượt Qua của Ngài? Đó là thực tế rằng Ngài đạt đến vinh quang thông qua sự nhục nhã. Ngài chiến thắng bằng cách chấp nhận đau khổ và cái chết, là những điều mà chúng ta, trong hành trình tìm kiếm sự ngưỡng mộ và thành công thường tìm cách tránh né. Chúa Giêsu - như Thánh Phaolô đã nói với chúng ta - “đã trút bỏ chính mình… Người đã tự hạ mình” (Pl 2:7,8). Điều đáng kinh ngạc là chứng kiến Đấng Toàn năng đã biến thành hư không; chứng kiến Ngôi Lời, Đấng thấu suốt mọi sự, dạy chúng ta trong thinh lặng từ trên đỉnh cao của thập tự giá; chứng kiến vua của các vị vua lên ngôi trên một giá treo cổ; chứng kiến Chúa của vũ trụ tước bỏ mọi thứ và đội lên đầu mão gai thay vì vinh quang; chứng kiến Đấng nhân lành hóa thân làm người bị sỉ nhục và bị đánh đập. Tại sao lại xảy ra tất cả sự sỉ nhục như thế? Tại sao, Lạy Chúa, chẳng lẽ Chúa muốn chịu đựng tất cả những điều này sao?

Chúa Giêsu đã làm điều đó cho chúng ta, để hiểu thấu chiều sâu của kinh nghiệm con người chúng ta, toàn bộ sự tồn tại của chúng ta, tất cả những điều xấu xa của chúng ta, để đến gần chúng ta và không bỏ rơi chúng ta trong đau khổ và cái chết của chúng ta, để cứu chuộc chúng ta, để cứu chúng ta. Chúa Giêsu đã được nâng lên cao trên thập tự giá để xuống vực thẳm của sự khổ đau của chúng ta. Ngài đã trải qua nỗi buồn sâu sắc nhất của chúng ta: thất bại, mất tất cả, bị bạn bè phản bội, thậm chí bị Thiên Chúa bỏ rơi. Bằng cách trải nghiệm trong xác thịt những cuộc đấu tranh và xung đột sâu sắc nhất của chúng ta, Ngài đã cứu chuộc và biến đổi chúng. Tình yêu của Ngài đến gần với sự yếu đuối của chúng ta; nó chạm đến chính những điều mà chúng ta xấu hổ nhất. Tuy nhiên, bây giờ chúng ta biết rằng chúng ta không đơn độc: Thiên Chúa ở bên cạnh chúng ta trong mọi cơn hoạn nạn, trong mọi nỗi sợ hãi; chẳng bao giờ có sự ác nào, cũng chẳng bao giờ có tội lỗi nào có tiếng nói cuối cùng. Chúa chiến thắng, nhưng lòng bàn tay chiến thắng đi qua gỗ của thập tự giá. Vì lòng bàn tay và cây thánh giá không thể tách rời.

Chúng ta hãy cầu xin ân sủng để được kinh ngạc. Một đời sống Kitô hữu không có sự ngạc nhiên sẽ trở nên buồn tẻ và thê lương. Chúng ta không thể nói về niềm vui được gặp Chúa Giêsu, trừ khi hàng ngày chúng ta đi từ ngạc nhiên này đến kinh ngạc khác bởi tình yêu của Ngài, là điều mang lại cho chúng ta ơn tha thứ và khả năng có một khởi đầu mới. Khi đức tin không còn cảm thấy kinh ngạc nữa, thì đức tin trở nên buồn tẻ: nó trở nên mù quáng trước những điều kỳ diệu của ân sủng; nó không còn có thể nếm được Bánh sự sống và không còn có thể nghe Lời Chúa; nó không còn có thể cảm nhận được vẻ đẹp của anh chị em chúng ta và món quà của tạo hóa. Nó không còn cách nào khác hơn là phải nương vào luật pháp, vào chủ nghĩa giáo sĩ trị và vào tất cả những điều mà Chúa Giêsu lên án trong chương 23 của Phúc âm Thánh Mátthêu.

Trong Tuần Thánh này, chúng ta hãy ngước mắt lên thập giá, để nhận được ơn kinh ngạc. Khi Thánh Phanxicô thành Assisi chiêm ngưỡng Chúa bị đóng đinh, thánh nhân ngạc nhiên rằng các anh em của ngài không khóc. Còn chúng ta thì sao? Chúng ta còn có thể rung động trước tình yêu của Thiên Chúa không? Có phải chúng ta đã đánh mất khả năng kinh ngạc trước Ngài không? Tại sao? Có thể đức tin của chúng ta đã trở nên chai lỳ vì thói quen. Có thể chúng ta vẫn bị kẹt trong những hối tiếc của mình và để cho bản thân mình bị tê liệt bởi những thất vọng của chúng ta. Có thể chúng ta đã mất hết niềm tin hoặc thậm chí cảm thấy mình vô dụng. Nhưng có lẽ, đằng sau tất cả những điều “có thể” này, là sự thật rằng chúng ta không mở lòng đón nhận ân sủng của Chúa Thánh Thần, Đấng ban cho chúng ta ân sủng của sự kinh ngạc.

Hãy để chúng ta bắt đầu lại từ sự ngạc nhiên. Chúng ta hãy nhìn lên Chúa Giêsu trên thập giá và nói với Người: “Lạy Chúa, Chúa yêu con biết bao! Con quý giá biết bao đối với Chúa!” Chúng ta hãy kinh ngạc trước Chúa Giêsu để chúng ta có thể bắt đầu hồi sinh, vì sự vĩ đại của cuộc sống không hệ tại nơi những của cải chiếm hữu được hay sự thăng quan tiến chức, nhưng chính là nhận ra rằng chúng ta được yêu thương. Đây là sự vĩ đại của cuộc sống: đó là khám phá ra rằng chúng ta được yêu thương. Và sự hùng vĩ của cuộc sống nằm chính ở vẻ đẹp của tình yêu. Nơi Chúa Giêsu bị đóng đinh, chúng ta thấy Thiên Chúa bị sỉ nhục, Đấng Toàn Năng bị gạt bỏ và loại trừ. Và với ân sủng của sự ngạc nhiên, chúng ta nhận ra rằng khi chào đón những người bị gạt bỏ và loại trừ, khi đến gần những người bị cuộc sống đối xử tệ bạc, chúng ta đang yêu mến Chúa Giêsu. Vì đó là vị trí của Người, nghĩa là giữa những anh chị em thấp hèn nhất của chúng ta, giữa những người bị từ chối và bị loại bỏ, giữa những người mà nền văn hóa tự cao tự đại lên án.

Bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy, ngay sau cái chết của Chúa Giêsu, đã có một biểu tượng huy hoàng của sự kinh ngạc. Đó là cảnh một viên đại đội trưởng, khi thấy Chúa Giêsu sinh thì, đã nói: “Quả thật người này là Con Thiên Chúa!” (Mc 15:39). Anh kinh ngạc vì tình yêu. Anh thấy Chúa Giêsu chết như thế nào? Anh đã thấy Ngài chết vì tình yêu, và điều này làm anh kinh ngạc. Chúa Giêsu đau khổ vô cùng, nhưng Ngài không ngừng yêu thương. Đây là điều đáng kinh ngạc trước Thiên Chúa, Đấng có thể lấp đầy cái chết bằng tình yêu. Nơi tình yêu nhưng không và vô tiền khoáng hậu đó, viên đại đội trưởng ngoại đạo đã tìm thấy Chúa. Lời nói của anh – Quả thật người này là Con Thiên Chúa! – “đóng dấu” bài tường thuật Cuộc Khổ nạn. Các sách Phúc âm cho chúng ta biết rằng nhiều người khác trước viên đại đội trưởng này đã ngưỡng mộ Chúa Giêsu vì những phép lạ và công việc phi thường của Ngài, và đã thừa nhận rằng Ngài là Con Thiên Chúa. Tuy nhiên, Chúa Giêsu Kitô đã làm họ im lặng, bởi vì họ có nguy cơ hoàn toàn dừng lại ở mức độ ngưỡng mộ của thế gian với ý tưởng về một Thiên Chúa đáng tôn thờ và đáng sợ vì quyền năng và sức mạnh của Ngài. Giờ đây không còn có thể như vậy nữa, vì dưới chân thập tự giá không còn có thể sai lầm: Thiên Chúa đã tỏ mình ra và chỉ trị vì bằng quyền năng nguôi giận và không bất bình của tình yêu.

Anh chị em thân mến,

Hôm nay Thiên Chúa tiếp tục làm cho tâm trí và trái tim chúng ta kinh ngạc. Chúng ta hãy để cho lòng mình tràn ngập sự kinh ngạc đó khi chúng ta nhìn ngắm Chúa bị đóng đinh. Chúng ta cũng có thể nói rằng: “Ngài thực sự là Con Thiên Chúa. Ngài là Chúa của con”. mục lục

Source: https://press.vatican.va -  J.B. Đặng Minh An chuyển ngữ 

ÔNG NÀY LÀ CON THIÊN CHÚA

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

Phụng vụ khai mạc Tuần Thánh bằng trình thuật cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, mà chúng ta quen gọi là “Bài Thương Khó”. Bằng những góc nhìn và điểm nhấn khác nhau, tất cả bốn tác giả Tin Mừng đều kể lại cuộc thương khó của Chúa Giêsu. Bài Thương Khó trích Tin Mừng Thánh Máccô được đề nghị cho năm Phụng vụ B. Tác giả dẫn chúng ta đi theo Chúa Giêsu từ làng Bêtania, nơi có gia đình thân thiết với Người. Chúng ta cùng với Chúa Giêsu trải qua những sự kiện quan trọng: bữa tiệc Vượt Qua (cũng gọi là bữa tối cuối cùng), sự phản bội của Giuđa, việc thiết lập Bí tích Thánh Thể, việc Chúa cầu nguyện trong Vườn Cây Dầu, Chúa Giêsu bị bắt, cuộc đối chất và xét xử và lên án tử cho Người bởi Công nghị Do Thái, sự phản bội của Phêrô, cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và Philatô, chặng đường thập giá và cuộc khổ nạn của Người. Lời tuyên xưng “Quả thật, ông này là Con Thiên Chúa” ở phần cuối của trình thuật, như một đáp số cho mọi vấn nạn đặt ra về một Con người bị treo và chết trên thập giá.

Những gì được liệt kê trên đây giống như một cuốn phim quay nhanh, giúp chúng ta có một cái nhìn tổng quát về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, đồng thời rút ra những bài học quan trọng và hữu ích cho đời sống Đức tin. Hãy cùng chiêm ngắm chân dung Chúa Giêsu được diễn tả trong Bài Thương khó:

Cuộc thương khó của Chúa là cuộc thương khó vì tình yêu. Chúa Giêsu đã trung thành cho đến chết, trung thành với tình yêu vô biên của Chúa Cha. Người cũng trung thành với tình yêu vô biên đối với nhân loại.

Chúa Giêsu đã chấp nhận cuộc thương khó này một cách hoàn toàn tự nguyện.  Người đã bẻ gẫy quyền lực của sự chết trong con người, tức là quyền lực tội lỗi. Tội lỗi đã khiến một số luật sĩ và Biệt phái hận thù và kích động bạo lực nơi dân chúng. Tội lỗi cũng khiến Philatô và đám đông hằn học ùa theo những lời vu khống. Tội lỗi cũng khiến cho các môn đệ sợ hãi chạy trốn và cuối cùng, tội lỗi khiến cho Phêrô chối Thày mình mà không hề ngượng ngùng.

Đối diện với cơn sóng tội lỗi và bạo lực hung dữ, Chúa Giêsu vẫn thể hiện một tình yêu cho đến cùng. Người vẫn nhìn con người với cái nhìn yêu thương, ngay cả khi bị đóng đinh trên thập giá. Đó là cái nhìn mời gọi tình yêu và sống cho tình yêu.

Đương nhiên, khi thấy bạo lực và sự chết, Chúa Giêsu đã run sợ, vì Người là Thiên Chúa nhưng cũng là con người. Trên thập giá, Người đã cảm thấy cô đơn và dường như bị Chúa Cha bỏ rơi. Tuy vậy, vượt trên tất cả, đó là lòng trung thành của Người. Người đã chấp nhận cuộc thương khó, như Người đã chấp nhận hạ mình mang lấy thân phận nô lệ phàm nhân. Sự chết của Người là sự chết tự trao ban, cũng như sự sống của Người đã hiến dâng trọn vẹn cho sứ mạng được Chúa Cha trao phó. Cây thập giá là dụng cụ để thi hành cuộc thương khó, đã trở thành dấu chỉ để nhận ra môn đệ của Người. Cây thập giá cũng là điểm quy tụ muôn dân, để cùng quy hướng về Đấng Cứu độ: “Một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12,32).

Màu áo đỏ của Phụng vụ lễ Lá nhắc lại cho chúng ta sự sỉ nhục của đám quân lính Rôma. Sự sỉ nhục này, lạ thay, lại mang tính tiên tri. Bởi lẽ vào lúc Chúa chịu thương khó, Đấng sẽ bị đóng đinh trên thập giá được phủ bằng áo khoác đỏ. Màu đỏ là sắc màu y phục của vua chúa. Chiếc áo này khẳng định với chúng ta: Chúa Giêsu là Vua và ngai toà của Người chính là cây thập giá.

Vị vua cao cả đã hiến thân làm người nô lệ. Vị Vua Giêsu đã tự huỷ mình ra không, như Thánh Phaolô nói với chúng ta trong Bài đọc II. Vị Vua này không giống như các vua chúa trần gian. Đó là Vị Vua yêu thương nhân loại. Người muốn cho con người được hiện hữu và được hạnh phúc. Đó cũng là Vị Vua đến trần gian để bẻ tan xiềng xích, kêu gọi con người xoá bỏ hận thù và bạo lực do tội gây nên.

Thánh Máccô đã kể với chúng ta, viên đại đội trưởng đứng đối diện với Đức Giêsu, thấy Người tắt thở như vậy, liền nói: “Quả thật, ông này là Con Thiên Chúa“. Viên đại đội trưởng là một quân nhân Rôma, tức là người ngoại đối với người Do Thái. Ông cũng là người tham gia thi hành án tử trong vụ Chúa Giêsu. Lúc Người còn sống thì ông lại không tin Người, nhưng chính lúc Người tắt thở thì ông lại nhận ra Người là Con Thiên Chúa. Cái chết thánh thiện và tự nguyện của Chúa Giêsu chính là một bằng chứng hùng hồn cho thân thế và sự nghiệp của Người.

Hôm nay và những ngày sắp tới của Tuần Thánh, chúng ta suy tư cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu Kitô. Khi chiêm ngắm Chúa Giêsu trên thập giá, chúng ta hãy tuyên xưng Người là Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu Độ. Chúng ta cũng cầu nguyện cho thế giới hôm nay nhận ra nơi Đấng chịu đóng đinh tình yêu vô bờ bến của Thiên Chúa đối với nhân loại. Xin cho thế giới mở rộng tấm lòng để đón nhận Chúa Giêsu. Một khi đón tiếp Người, cuộc sống sẽ có ý nghĩa, gia đình sẽ hạnh phúc, lương tâm sẽ thanh thản và thế giới sẽ bình an. mục lục

NHỮNG NGÃ RẼ NGUY HIỂM

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Lễ Lá có một khởi đầu vui và một kết thúc buồn. Đức Giêsu long trọng vào thành thánh Giêrusalem trong lời hoan hô chúc tụng và sau đó chịu kết án, chịu khổ hình và chết trên thập giá.

Con đường vào thành Giêrusalem vinh quang vương giả với đám đông ngưỡng mộ, cành lá và quần áo trải thảm đường đi. Con đường lên Núi Sọ với thân kẻ tội đồ vác thập giá, những lời nhục mạ, roi đòn tơi tả và hai tội nhân đồng hành.

Tiến bước theo Chúa trên đường thương khó để chứng kiến sự thay đổi nhanh chóng của lòng người.

Từ Chúa Nhật Lễ Lá đến Thứ Sáu Tuần Thánh thời gian không dài, nhưng biết bao người đã thay lòng đổi dạ. Từ cổng thành đến Núi Sọ đường đất không xa, nhưng biết bao người đã rẽ lối khác. Tại sao như thế?

Theo dấu vết của những người bỏ cuộc để nhận diện những ngã rẽ trên hành trình cuộc đời. ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt suy tư về ba ngã rẽ tiêu biểu, của Giuđa, Phêrô và đám đông.

1. Ngã rẽ của đám đông

Dân thành Giêrusalem nô nức phấn khởi, trải áo choàng, chặt những cành lá cây rải trên đường để Chúa đi qua, tay cầm cành lá, miệng reo hò tung hô Chúa, họ dành cho Chúa một nghi lễ đón rước như cho một vị vua của họ. Họ vừa đi vừa tung hô: “Hoan hô con vua Đavít”, “Vạn tuế Đấng nhân danh Thiên Chúa mà đến”. Thế mà sau đó không lâu, nghe lời xúi giục của tư tế, kinh sư, pharisiêu, họ lại biểu tình đả đảo, chống đối, hò la, gào thét đòi “đóng đinh nó đi!”. Hàng vạn người đã theo Chúa, mê mệt nghe đến mấy ngày quên ăn, quên về. Biết bao người reo mừng nghênh đón Chúa ngày long trọng vào thành. Thế mà trên Núi Sọ chỉ thấy những người đến sỉ vả, chê bai, nhạo cười.

Đám đông đã rẽ sang lối nào? Thưa họ rẽ sang lối dư luận. Thiếu lập trường, chạy theo đám đông. Thấy người ta đi nghe Chúa thì cũng đi. Thấy người ta nhạo cười Chúa thì cũng cười nhạo. Thấy người ta kết án Chúa thì cũng kết án. Đám đông thật nông nổi nhẹ dạ. Đám đông thường dễ bị lôi cuốn, người ta làm gì mình làm nấy mà nhiều khi chẳng biết tại sao. Có nhiều người trong đám đông đó không hề thù ghét Chúa Giêsu. Có lẽ còn có nhiều người đã từng nhận ân huệ của Chúa Giêsu! Thế nhưng, họ đã bị đám đông lôi cuốn vào việc kết án người công chính. Giữa cuộc đời hôm nay, biết bao người công chính, thanh liêm, trung trực, chính nghĩa đã chịu vu vạ cáo gian dẫn đến tù tội do đám đông nông nổi bị lừa dối, bị tuyên truyền!!!

2. Ngã rẽ của Giuđa

Giuđa là môn đệ trung tín theo Chúa trong suốt ba năm. Ông còn được Chúa tin cẩn trao phó cho công việc quản lý. Một ngày kia Chúa Giêsu đang cùng các môn đệ dùng bữa tại nhà ông Simon, bỗng có một phụ nữ đem đến một chai dầu thơm quí giá, rồi chị lấy dầu xức lên chân Chúa. Giuđa phản đối “Sao lại phí thế! Đem chai dầu bán cũng được hơn 300 đồng bạc, lấy số tiền đó đi giúp người nghèo có phải thực tế hơn không?”. Giuđa có đầu óc biết tính toán và thực tế của người quản lý tài chánh.

Ngày Lễ Lá chắc chắn ông có mặt. Nhưng khi Chúa chịu chết thì ông biệt vắng. Ông đã rẽ sang lối khác. Lối rẽ theo tiền bạc vật chất. Theo tiếng gọi của tiền bạc, ông đã đưa chân đi những bước xa lạ. Ông đi vào con đường khác. Ông trở thành con người khác. Ông bỏ Chúa vì tiền. Tệ hơn nữa ông bán Chúa để lấy tiền. Một con người bạc bẽo, vô tình vô nghĩa. Trong tình yêu có gì đẹp bằng nụ hôn! Vậy mà Giuđa dùng nụ hôn làm dấu hiệu nộp Thầy. Trong tình yêu, tội phản bội làm tổn thương và đau đớn vô cùng. Tình yêu càng lớn lao bao nhiêu, khi bị phản bội càng đau đớn bấy nhiêu. Ngã rẽ Giuđa biểu tượng cho những người quá say mê của cải vật chất ở đời này đến mức quên tình quên nghĩa, phản bội người khác, kể cả ân nhân của mình.

3. Ngã rẽ của Phêrô

Phêrô là môn đệ thân tín của Chúa. Là người đứng đầu tông đồ đoàn. Ông thề rằng dù mọi người có bỏ Chúa thì ông vẫn trung thành với Chúa. Ngày Lễ Lá, Phêrô ở bên Chúa. Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, chẳng thấy bóng ông đâu. Phêrô đã rẽ sang lối khác: lối rẽ lười biếng, thích hưởng thụ và sợ bị liên lụy. Lười biếng vì khi vào vườn Giêtsimani, Chúa kêu gọi ông hãy thức cầu nguyện với Chúa, vậy mà ông cứ ngủ. Hưởng thụ vì trong sân tòa án, thay vì theo dõi cuộc xét xử Thầy thì ông lại vào tìm hơi ấm nơi đống lửa giữa sân. An nhàn hưởng thụ đã kéo ông xa Chúa. An nhàn hưởng thụ đã đẩy ông đến chỗ chối Chúa. Phêrô chối Chúa cũng vì ông sợ bị liên lụy. Nếu những người hỏi ông không phải là những người của vị Thượng Tế đang xét xử Chúa Giêsu thì chắc Phêrô vẫn mạnh dạn nhìn nhận mình là môn đệ Đức Giêsu. Nhưng vì họ là người của Thượng Tế nên ông phải chối, kẻo họ báo cáo rồi ông cũng bị bắt luôn.

Phêrô đã theo Chúa Giêsu suốt ba năm. Phêrô nếm trải biết bao gian khổ, ông đón nhận tất cả mà không kêu ca nề hà gì. Nhưng hôm nay ông chối Chúa vì sợ bị liên lụy, vì an toàn của sinh mạng. Ông chấp nhận từ bỏ và hy sinh, nhưng chỉ đến một giới hạn nào đó thôi.

Phêrô là người được Chúa Giêsu yêu thương, chăm sóc, lo lắng, và được Ngài ban cho biết bao là ân huệ. Nào là vai trò thủ lãnh của Nhóm Mười Hai, nào là nhiệm vụ cầm giữ chìa khóa Nước Trời: “Dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy” (Mt 16,19); và còn được gọi là Kêpha, nghĩa là đá… vậy mà khi đối mặt với một đứa hầu gái vô danh tiểu tốt, đá lại mềm ra như bún, ông chối phăng không biết Giêsu là ai, ông lại còn dám cả gan thề độc: “Tôi thề là không có biết người các ông nói đó!” (Mc 14,71). Ông là người nhiệt tình nhất với Chúa Giêsu, thế mà cuối cùng cũng chối Thầy. Thế mới biết, bất cứ ai cũng yếu đuối và cũng có thể sa ngã nặng nề. Phêrô đã sa ngã. Vậy mà ông cứ luôn tưởng rằng mình mạnh mẽ.

Để tự nhiên, chắc chắn không ai nỡ nhẫn tâm bán Chúa, chối Chúa, lên án Chúa. Người ta thay lòng đổi dạ do tác động của tiền bạc, của hưởng thụ, sợ bị liên lụy và của theo hướng của dư luận. Đó là những ngã rẽ nguy hiểm.

Nếu có mặt trong ngày Chúa chịu khổ nạn, tôi và bạn có rẽ sang lối nào không? Tôi và bạn sẽ rẽ sang con đường phản bội của Giuđa? Tôi và bạn sẽ rẽ sang con đường chối Chúa của Phêrô? Tôi và bạn sẽ rẽ sang những con hẻm in dấu chân trốn chạy của các môn đệ? Tôi và bạn sẽ phụ hoạ với đám đông kết án Chúa? Hay tôi và bạn cũng theo quân lính đánh đập Chúa? Tôi và bạn có kết án bất công như Philatô không? Tôi và bạn có hùa với kẻ mạnh đàn áp bắt nạt người thấp cổ bé miệng như đám đông dân chúng không? Tôi và bạn phải dứt khoát lựa chọn một con đường.

Con đường theo Chúa không êm ái nhẹ nhàng và thênh thang đâu. Đó là con đường thập giá: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hàng ngày mà theo” (Lc 9,23). Đường thập giá là đường một chiều. Đường thập giá là đường lên dốc. Và đường thập giá là đường có nhiều ổ gà dằn xóc. Vì thế mà có nhiều người bỏ cuộc nên rẽ sang một hướng đi khác. Nhận diện những ngã rẽ nguy hiểm của tiền bạc dẫn lối, thích an nhàn hưởng thụ, sợ liên lụy bản thân và hùa theo dư luận để chúng ta tỉnh táo mà bước đi trên hành trình đức tin cuộc đời. Vác thập giá hôm nay chính là đón nhận những bệnh tật, thất bại, đau khổ, bất công… như những thử thách của lòng tin để vững bước theo Chúa đến cùng.

Tuần Thánh, chúng ta cùng dõi bước theo con đường thập giá của Chúa Giêsu. Đó là con đường đau khổ, nhưng cũng là con đường tình yêu và là con đường cứu độ.

Lạy Chúa, xin cho con luôn mạnh mẽ và kiên trì tiến bước theo Chúa trên mọi nẻo đường Chúa dẫn con đi. Amen. mục lục

CHÚA CỠI LỪA VÀO THÀNH

Trần Mỹ Duyệt

Truyền thống Công Giáo bắt đầu một tuần lễ cực thánh, chấm dứt 40 ngày chay tịnh bằng việc cử hành tưởng niệm biến cố Chúa Giêsu vinh quang tiến vào thành Giêrusalem, để rồi sau đó Ngài bị bắt, bị đánh đòn, tra tấn, bị kết tội vác thập giá lên núi Sọ, bị đóng đinh và chết trên thập tự giá, nhưng ngày thứ ba Ngài đã Phục Sinh.

Qua Thánh Kinh, Chúa Giêsu vinh quang khải hoàn vào thành thánh. Ngài không ngồi trên một con chiến mã, nhưng là trên lưng một con lừa. Những người tham dự vào cuộc khải hoàn ấy không phải là những đoàn quân anh dũng, với đầy đủ khí giới theo hầu, bảo vệ, nhưng lại là những thường dân, những em nhỏ, những con người đơn sơ và chất phát. Và điều này gợi lên trong ta ý nghĩa gì? Riêng đối với những tâm hồn yêu mến và muốn theo bước chân Ngài, chúng ta suy nghĩ gì qua biến cố rất đặc biệt này?

Suốt 3 năm miệt mài, vất vả rao truyền chân lý, chữa lành nhiều kẻ tật nguyền, thực hiện bao phép lạ vỹ đại, hôm nay là ngày Chúa Giêsu được vinh hiển nhất, được tôn kính trọng vọng nhất.

Dân chúng đứng chật hai bên đường, người người vui mừng reo hò. Họ tung hô vạn tuế và không ngừng ca tụng: “Hoan hô con Vua Ðavít. Chúc tụng Ðấng nhân danh Thiên Chúa mà đến. Hoan hô trên các tầng trời” (Mt 21:9). Lòng sùng mộ và yêu kính của dân chúng bấy giờ đã khiến họ hành động một cách hết sức đặc biệt. Họ cởi áo ngoài trải đường như một tấm thảm kéo dài trên đường Ngài đi qua. Và họ cầm trên tay ngành vạn tuế để vẫy chào khi Ngài đi qua chỗ họ. Thánh Kinh kể lại, số người theo tung hô Ngài mỗi lúc một thêm đông, đến độ khiến các Pharisiêu phải ghen tị.

Nhưng nếu bạn là người đang đứng hai bên đường và quan sát đám rước hôm đó, bạn sẽ thấy một chi tiết có thể khiến bạn phải dừng lại để suy nghĩ. Ðó là Chúa Giêsu không cỡi trên voi, trên ngựa, hay không ngồi trên kiệu mà tham dự cuộc khải hoàn này, nhưng Ngài lại ngồi trên lưng một con lừa con. Mátthêu ghi: “Chúa Giêsu sai hai môn đệ đi và bảo rằng: “Các anh hãy đến làng trước mặt kia, sẽ gặp ngay một con lừa mẹ cột ở đó với con lừa con. Các anh hãy mở dây và dẫn về đây cho thầy” (Mt 21:2). Ngài làm thế còn để ứng nghiệm lời Thánh Kinh: “Hãy nói với thiếu nữ Sion rằng, này vua các ngươi đang ngự đến, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa con, là con lừa mẹ” (Mt 21:5).

Chúa cỡi lừa con để khải hoàn vào Giêrusalem. Ngài không cỡi voi hay cỡi ngựa, ngồi trên kiệu, hoặc như phương tiện thời nay là dùng limousine, vì Ngài không muốn làm các thiếu nữ Sion phải hoảng sợ. Ngài không muốn bất cứ ai nhìn Ngài bằng cặp mắt đầy kinh ngạc, hoảng hốt và thán phục. Ngài không muốn bất cứ ai phải bắt buộc theo và miễn cưỡng mến Ngài. Ngài cũng không dùng sức mạnh, quyền lực của kẻ chiến thắng để khống chế và thu phục nhân tâm. Chính vì thế những hình ảnh liên quan đến sức mạnh quyền lực đều bị Ngài loại bỏ. Ngài chỉ muốn một mình đơn sơ ngồi trên lưng một con lừa nhỏ bé để tiến vào thành. Một hình ảnh nói lên vẻ thanh bình, đơn sơ, nhẹ nhàng, và tự nhiên. Và đó chính là Ngài, con chiên Thiên Chúa, vua các vua và Chúa các chúa.

Chúa Giêsu là vua. Ngài còn là Chúa tạo thành vũ trụ. Danh Ngài được vang vọng chúc tụng trên các tầng trời. Cả nhân loại phải phủ phục dưới chân Ngài và trước nhan Ngài. Mọi đầu gối, như Thánh Phaolô đã viết, trên trời, dưới đất và trong lòng đất phải quì gối trước mặt Ngài. Do đó, nếu Ngài dùng bất cứ hình thức di chuyển nào khác tối tân và tiện nghi nhất của thời bấy giờ thì vẫn chỉ là những phương tiện tầm thường chưa xứng với Ngài. Tuy nhiên, Ngài đã không làm thế. Hành động ấy của Ngài như nói trước về những gì mà Ngài sẽ làm kế tiếp như rửa chân cho các môn đệ, cho phép bị bọn lý hình hành hạ và chế diễu, chấp nhận bản án bất công từ Philatô. Và nhất là chấp nhận vác thập giá, và bị đóng đinh chết treo trên đồi Golgotha.

Làm sao tâm trạng của một người mang trong mình hình ảnh chiến thắng hiển hách, ngồi trên lưng một con chiến mã, ngồi trên lưng một con voi, ngồi trong một cái kiệu sang trọng, hay như phương tiện di chuyển thời nay là chuyên cơ, trực thăng, hoặc limousine đầy đủ tiện nghi tiến lên giữa tiếng tung hô, lại có thể chấp nhận quì gối xuống, bưng chậu nước đến trước mặt các môn đệ của mình để rửa chân cho họ.

Làm sao một vị đại tướng, một hoàng đế, một nữ hoàng, một tổng thống, một thủ tướng uy nghi duyệt qua hàng quân danh dự để tiến lên lễ đài giữa tiếng tung hôn vang dội của cả rừng người lại có thể dễ dàng chấp nhận chịu cảnh trao nộp, chịu đánh đòn, chịu khạc nhổ vào mặt, chịu đội mão gai, chịu xét xử bất công, và chịu đóng đinh chết trần truồng trên thập giá mà không một lời than van, trách móc.

Ngồi trên lưng ngựa, lưng voi. Ngồi trong kiệu, trong trực thăng, chuyên cơ hay limousine thì không dễ cúi mình xuống được, nhất là trong tư thế của kẻ có quyền, kẻ chiến thắng. Cũng không dễ chấp nhận thua thiệt, không dễ đón nhận nhục nhã, không dễ vâng phục thiên ý. Cứ nhìn bọn Pharisiêu qua thái độ ghen tức của họ với Chúa Giêsu, hoặc những Pharisiêu thời đại mới để hiểu rõ ý nghĩa và hành động ngồi trên lưng lừa của Ngài.

Làm như vậy là Chúa muốn nói với mọi người rằng, Ngài xứng đáng với tất cả mọi lời chúc tụng. Ngài chính là vua. Ngài là vua chiến thắng. Nhưng trên tất cả, Ngài là một vị vua nhân từ. Vua thái bình. Vua của tâm hồn con người. Và vì thế, Ngài đã cỡi lừa con mà không cỡi chiến mã.

Chúa là vua nhân từ, hiền dịu chứ không phải là vua quyền uy, độc tài, và hà khắc. Ngài thương yêu tất cả. Ngài mong mọi người hãy đến với Ngài, để học cùng Ngài, vì Ngài “hiền lành và khiêm nhường” (Mt 11:29).

Suy niệm việc Chúa cỡi lừa vào thành, chúng ta hãy để lòng mình chìm sâu trong những mầu nhiệm của Thương Khó, Thập Giá và Phục Sinh mà Ngài đã thực hiện vì chúng ta và cho nhân loại chúng ta.

(Hiệu đính từ bài viết “Ngài Cỡi Lừa Vào Thành”. 1 tháng 4 năm 2012 của cùng tác giả) mục lục

THIÊN CHÚA NHÂN TỪ và HAY THƯƠNG XÓT 

Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

Phúc Âm thuật lại rằng, trong ba năm rao giảng tại Galilê, Chúa Giê-su đã làm ơn làm phước, và giúp đỡ cho rất nhiều người.

• Ngài cho người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại…làm phép lạ hóa bánh ra nhiều cho năm ngàn người ăn, không kể đàn bà và trẻ con (Mt 11:5; 14:21).

• Ngài ban cho ông Giu-đa quyền trừ quỷ, chữa bệnh, Ngài tin tưởng và giao cho ông nhiệm vụ làm thủ quỹ, quản lý tất cả tài chánh của nhóm Mười Hai (Ga 13:29).

• Ngài lo lắng cho các ông từng miếng ăn giấc ngủ: “Anh em hãy lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút” (Mc 6:31).

• Ngài giao cho ông Phê-rô một chức vụ rất cao trọng: “Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy” (Mt 16:19).

Vậy mà khi Chúa Giê-su bị quân lính bắt thì “Các môn đệ bỏ Người mà chạy trốn hết” (Mc 14:50); Phê-rô thì thề rằng: “Tôi không biết người ấy [là ai cả]” (Mt 26:72); Giu-đa thì đã bán đứng Ngài: “Tôi nộp ông ấy cho quý vị, thì quý vị muốn cho tôi bao nhiêu … Họ quyết định cho hắn ba mươi đồng bạc” (Mt 26:14-15); còn dân chúng thì gào thét ầm ĩ: “Đóng đinh nó vào thập giá!” (Ga 19:6). Những người đã từng thọ ơn Chúa ở đâu cả rồi? Sao chẳng thấy ai đến bênh vực, hay ít ra đến để an ủi Ngài, nhưng lại để Ngài cô đơn, đau khổ và tủi nhục như vậy?

Bạn thân mến, qua các Bài Thương Khó của Chúa Nhật Lễ Lá và của thứ Sáu Tuần Thánh này, chúng ta sẽ thấy tất cả những bất công, đau khổ và những tủi nhục mà Đức Giê-su đã phải chịu vì tội lỗi của nhân loại, nhưng đồng thời chúng ta cũng sẽ nhận ra được dung mạo của một Thiên Chúa từ bi, hay thương xót, chậm bất bình và hết sức khoan nhân. Thật vậy, trước những sự bội phản và bạc bẽo của dân chúng, của các môn đệ, của những người mà Ngài đã yêu thương hết tình… Ngài không trách móc, không khinh thường, không ghét bỏ các môn đệ hèn nhát; Ngài cũng không lên án ông Phê-rô, không kiếm cách trả thù những kẻ đã tra tấn, hành hạ, nhục mạ và đóng đinh Người trên Thập giá… nhưng Ngài đã cầu nguyện cho họ: “Lạy Cha, xin Cha tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm." (Lc 23:34).

Đức Giê-su Ki-tô, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời (Dt 13:8) Ngài vẫn là Đấng nhân hậu và từ bi, là Đấng hiền lành và khiêm nhường trong lòng (Mt 11:29). Ngài luôn rộng lòng tha thứ và sẵn sàng bỏ qua tất cả những tội lỗi của nhân loại: “Tội các ngươi, dầu có đỏ như son, cũng ra trắng như tuyết; có thẫm tựa vải điều, cũng hoá trắng như bông” (Is 1:18). Thật vậy, cho dù con người ta trong đó có bạn và có tôi nữa, có xúc phạm và làm tổn thương Ngài nặng nề, có trầm trọng, có kinh khủng mấy đi chăng nữa…chỉ cần chúng ta ăn năn sám hối, nhận ra lỗi lầm của mình và quay trở về thưa với Ngài giống như người con hoang đàng khi xưa: “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa…” (Lc 15:21) thì Ngài lập tức tha thứ và ôm ấp chúng ta vào lòng từ ái của Ngài.

Bạn thân mến, nếu hôm nay, bạn nhận ra rằng Đức Giêsu Kitô là Đấng từ bi, nhân hậu, và bạn tin rằng Chúa không bao giờ chấp tội của chúng mình, Ngài sẵn sàng tha thứ tất cả mọi lỗi lầm thiếu sót của chúng ta, thì bạn và tôi hãy siêng năng chạy đến với Bí Tích Hòa Giải. Bởi vì trong và qua Bí Tích Hòa Giải, bạn và tôi sẽ cảm nghiệm được sự dịu dàng, nhân hậu và tha thứ của Thiên Chúa.

Xin bạn cũng hãy cầu nguyện cho những anh chị em đang sống xa nhà Chúa, những người đang nghi ngờ hay đang bị mất niềm tin vào Chúa, nhất là cho các bạn trẻ. Xin Chúa ban cho họ ơn khôn ngoan, để họ nhận ra rằng Thiên Chúa là Đấng rất nhân từ và rất kiên nhẫn trước những tội nhân “Cây lau bị giập, Người không đành bẻ gãy, tim đèn leo lét, chẳng nỡ tắt đi” (Mt 12:20). Và xin cho họ ơn can đảm, để họ chạy đến với Bí Tích Giải Tội, nhờ vậy họ sẽ được Chúa tha thứ và Ngài sẽ phục hồi sự bình an trong tâm hồn họ.

Xin cảm ơn bạn trước, và cầu chúc bạn một Tuần Thánh thật bình an, mạnh khỏe và tràn đầy ơn thánh. Và xin bạn nhớ thứ Sáu Tuần Thánh ăn chay và kiêng thịt nhé! mục lục

CÕI KHỔ

Trầm Thiên Thu

Lá Biếc Cùng Lá Xanh Vẫy Chào Chúa
Người Già Với Người Trẻ Mừng Đón Vua.

Đời là bể khổ. Chỗ nào cũng khổ, ngay ở những nơi mà người ta coi như “thiên đàng” thì cũng vẫn đầy nỗi khổ. Ai cũng khổ, đủ kiểu và đủ mức. Thánh Rosa Lima cho biết: “Thiếu gánh nặng đau khổ thì không thể đạt đến đỉnh cao ơn thánh. Những tặng phẩm ơn thánh gia tăng khi các cuộc giao chiến gia tăng.” Đau khổ có giá trị đặc biệt lắm. Văn hào Victor Hugo nói: “Đau khổ như hoa quả, Thiên Chúa không để nó phát triển trên những cành quá yếu ớt.” Nhận xét thật là độc đáo.

Đau khổ có giá trị, Thánh Madeleine Sophie Barat ví von: “Một thanh sắt được thành hình trên một cái đe và nhờ ngọn lửa thế nào, thì dưới sức nặng thử thách và trong ngọn lửa đau khổ, linh hồn chúng ta cũng sẽ thành hình đúng như Thiên Chúa muốn về nó như vậy.” Người ta nên khôn là nhờ đau khổ. Sướng quá hóa rồ dại mà thôi.

Khởi đầu Tuần Thánh là Lễ Lá. Những chiếc lá xanh biếc. Màu xanh tượng trưng niềm hy vọng. Hy vọng là khởi đầu ước mơ, hướng tới mục đích. Hy vọng rất cần cho cuộc sống. Có bốn hướng nhìn: Nhìn lại phía sau để rút kinh nghiệm, nhìn tới phía trước để thêm hy vọng, nhìn ra xung quanh để thấy thực tế, nhìn vào nội tâm để nhận diện chính mình.

Chỉ vài ngày trước lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu cưỡi một con lừa nhỏ vào Thành Giêrusalem, có các môn đệ lội bộ theo sau. Dân chúng đông lắm, như Thánh Gioan cho biết: “Dân chúng lũ lượt tuôn đến mừng lễ. Thoạt nghe tin Đức Giêsu tới Giêrusalem, họ cầm nhành lá thiên tuế ra đón Người và reo hò: Hoan hô! Hoan hô! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa! Chúc tụng vua Israel!” (Ga 12:12-13) Thật tuyệt vời!

Cuộc đời vui buồn lẫn vào nhau. Vui để rồi buồn. Buồn để rồi vui. Buồn càng nhiều, vui càng rộn rã. Tương tự, đau khổ để rồi hạnh phúc. Đau khổ càng nhiều, hạnh phúc càng lớn. Đó là hệ lụy tất yếu, và cũng là Thánh Ý Chúa, Thánh Ý mầu nhiệm.

Phần đầu của bài thứ ba trong số các Bài Ca Người Tôi Trung là trình thuật Is 50:4-7, đề cập đau khổ của Người Tôi Trung – Người Tôi Tớ Đau Khổ: “Đức Chúa là Chúa Thượng đã cho tôi nói năng như một người môn đệ, để tôi biết lựa lời nâng đỡ ai rã rời kiệt sức. Sáng sáng Người đánh thức, Người đánh thức tôi để tôi lắng tai nghe như một người môn đệ. Đức Chúa là Chúa Thượng đã mở tai tôi, còn tôi, tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui. Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu. Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ.” Các động thái đó không là miễn cưỡng, mà là tự nguyện – vì yêu thương và thương xót những sinh linh mà Người Tôi Trung quý mến. Họ là ai? Là chính mỗi tội nhân chúng ta. Thật lạ lùng!

Ai cũng sợ đau khổ, càng sợ hơn khi đau khổ quá lớn, đến tột cùng. Nhưng dù đau khổ tới đâu, Người Tôi Trung vẫn một lòng tín trung: “Có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ tôi, vì thế, tôi đã không hổ thẹn, vì thế, tôi trơ mặt ra như đá. Tôi biết mình sẽ không phải thẹn thùng.” Chẳng ai muốn sầu khổ, nhưng có nếm sầu khổ rồi mới biết thương những người “kém may mắn” hơn mình. Nếu chưa đau khổ, người ta không thể hình dung ra đau khổ. Chưa bị tù thì không thể cảm nhận khổ nhục nơi lao lý, và cũng khó hiểu được ý nghĩa của sự tự do đích thực.

Chắc hẳn chúng ta đã nhiều lần đọc hoặc nghe Phúc Âm tường thuật cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, nhưng có thể nói rằng vẫn có chút gì đó “chưa đủ” nếu chưa xem phim “The Passion of Christ” (Cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu) của đạo diễn Công giáo Mel Gibson. [https://vimeo.com/413740746 – 180 phút] Quân lính đánh đập Chúa Giêsu rất dã man, khó có ai có thể tưởng tượng được như vậy. Mel Gibson có trí óc tinh tế, và ông cho diễn như thật. Đặc biệt, sau khi đóng vai Chúa Giêsu, diễn viên Jim Caviezel đã gia nhập Công giáo.

Đau khổ có tác dụng khác nhau, tùy mỗi người: “Cùng một đau khổ, nhưng nó minh chứng, thanh luyện và làm thuần thục những người lành; nhưng nó lại kết án, phế truất và loại bỏ những kẻ xấu.” (Thánh Augustinô) Khi gặp đau khổ, người kiêu ngạo thì nguyền rủa – nguyền rủa người khác, trách móc đất trời, thậm chí nguyền rủa chính mình, vùng vẫy như con giun bị đạp; còn người khiêm nhường thì chấp nhận, cảm thấy tủi thân, có trách thì chỉ tự trách mà thôi: “Thân sâu bọ chứ người đâu phải, con bị đời mắng chửi dể duôi, thấy con ai cũng chê cười, lắc đầu bĩu mỏ buông lời mỉa mai: Nó cậy Chúa, mặc Người cứu nó! Người có thương, giải gỡ đi nào!” (Tv 22:7-9) Buồn lắm, buồn phát khóc, buồn như chết được!

Tác giả John Piper giải thích rõ ràng trong cuốn “It Is Well with My Soul” thế này: “Đau khổ làm cho chúng ta SÁM HỐI, đau khổ làm cho chúng ta LỆ THUỘC vào Thiên Chúa, đau khổ làm cho chúng ta TUÂN THEO Đức Kitô, đau khổ chuẩn bị cho chúng ta TẬN HƯỞNG Thiên Chúa, đau khổ PHƠI BÀY TỘI LỖI của chúng ta.”

Không ai hiểu được đau khổ. Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí. Buồn này chưa qua, sầu khác đã tới. Nước mắt không chỉ mặn mà còn chua và cay. Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng. Dù cô đơn, lạc lõng, đau khổ vẫn đeo bám, cứ tiếp tục chồng lên nhau: “Quanh con bầy chó đã bao chặt rồi. Bọn ác đó trong ngoài vây bủa, chúng đâm con thủng cả chân tay, xương con đếm được vắn dài; chúng đưa cặp mắt cứ hoài ngó xem. Áo mặc ngoài chúng đem chia chác, còn áo trong cũng bắt thăm luôn. Chúa là sức mạnh con nương, cứu mau, lạy Chúa, xin đừng đứng xa!” (Tv 22:17-20)

Đức Giêsu Kitô đã phải chịu như vậy. Dù là Con Yêu Dấu của Thiên Chúa Cha, nhưng Ngài vẫn phải đau khổ đến tột cùng để làm trọn sứ vụ cứu độ chúng sinh. Chắc chắn không một phàm nhân nào phải chịu đau khổ như Ngài. Chính Ngài cũng phải chịu đựng theo nhân tính, khổ tinh thần và đau thể lý, chúng ta không thể tưởng tượng nổi. Ngay cả những người chịu đóng đinh trong lễ hội Cutud (Philippines) chỉ là một phần nhỏ so với Con Người Giêsu mà thôi, chưa thấm vào đâu, nhưng chúng ta cũng phải khâm phục sự chịu đựng của họ.

Mặc dù cô đơn, đau khổ, nhục nhã, nhưng Người Tôi Trung vẫn quyết một lòng vì Danh Chúa. Hình ảnh này đã và đang được thể hiện nơi các vị tử đạo. Một lần hứa là trọn trăm năm, trước sau như một, không gì có thể lay chuyển: “Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa cho anh em tất cả được hay, và trong đại hội dân Ngài, con xin dâng tiến một bài tán dương.” (Tv 22:23)

Về sự tự nguyện của Người-Tôi-Trung-Đau-Khổ, Thánh Phaolô cho biết: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.” (Pl 2:6-8) Sự tự nguyện luôn cao cả, quý giá, đáng khâm phục, đáng noi gương. Bất cứ tình yêu nào cũng phải tiết ra chất hy sinh, nếu không thì không đáng gọi là tình yêu. Dám chết vì người khác là sự hy sinh cao nhất, vì Chúa Giêsu xác định: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” (Ga 15:13)

Thánh Phaolô giải thích và kết luận: “Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: Đức Giêsu Kitô là Chúa.” (Pl 2:9-11) Đức Giêsu Kitô đã nêu gương để chúng ta noi theo, nhờ đó mà được vĩnh viễn ở với Ngài.

Chuỗi đau khổ bắt đầu từ khoảnh khắc hiển hách. Thật lạ lùng! Trình thuật Mc 14:1-15 (≈ Mt 26:1-5, 26:6-16; Lc 22:1-6; Ga 11:45-53, 12:1-8) như một thước phim sống động chứng tỏ điều đó: Hai ngày trước lễ Vượt Qua và lễ Bánh Không Men, các thượng tế và kinh sư tìm cách dùng mưu bắt Đức Giêsu và giết đi, vì họ nói: “Đừng làm vào chính ngày lễ, kẻo dân chúng náo động.” Họ muốn giết Ngài trước ngày lễ, nhưng không thể, vì Chúa không muốn vậy. Loài người muốn không phải là Trời muốn: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên.”

Tại nhà ông Simon Cùi ở làng Bêtania. Khi Đức Giêsu dùng bữa, một phụ nữ đến với chiếc bình bạch ngọc đựng dầu thơm cam tùng nguyên chất, rất thơm và quý giá. Cô đập ra, đổ dầu thơm trên đầu Người. Chắc hẳn cô biết mình tội lỗi, nhưng cô không có ý “mua chuộc” hoặc “lấy lòng” Chúa Giêsu. Chắc hẳn cô tâm phục khẩu phục Con Người thánh thiện và cao cả này. Cô tin nên cô mới “ngồi lì” để xin Ngài thương xót. Cô có lý. Niềm hy vọng của cô rất rộng lớn và sâu thẳm. Thiện chí của cô đã được đáp đền.

Bạn bè của ông Simon Cùi biết rõ cô, thế nên có vài người tỏ vẻ bực tức: “Phí dầu thơm như thế để làm gì? Dầu đó có thể đem bán lấy trên ba trăm quan tiền mà bố thí cho người nghèo.” Ôi chao, ra cái điều nhân đức lắm. Bảo là thương người nghèo hay tiếc của? Họ hy vọng gì? Có lẽ chúng ta cũng thường có động thái này khi muốn chứng tỏ “bản lĩnh đạo đức” của mình, nhưng ngày nay chúng ta có “phong cách” tinh vi hơn. Thử “nhìn” các thành viên trong hội này hoặc đoàn nọ thì sẽ nhận thấy. Đôi khi thấy mà kinh dị. Đáng quan ngại lắm!

Bực tức trong lòng chưa đủ, họ còn gắt gỏng với cô. Lòng ghen tức của con người thật là kinh khủng! Nhưng Đức Giêsu ôn tồn bảo họ: “Cứ để cho cô làm. Sao lại muốn gây chuyện? Cô ấy vừa làm cho tôi một việc nghĩa. Người nghèo thì lúc nào các ông chẳng có bên cạnh mình, các ông muốn làm phúc cho họ bao giờ mà chẳng được! Còn tôi, các ông chẳng có mãi đâu! Điều gì làm được thì cô đã làm: cô đã lấy dầu thơm ướp xác tôi, để chuẩn bị ngày mai táng. Tôi bảo thật các ông: Hễ Tin Mừng được loan báo đến đâu trong khắp thiên hạ thì nơi đó việc cô vừa làm cũng sẽ được kể lại để nhớ tới cô.” Chúa Giêsu không thích nói nhiều, nhưng lúc này Ngài phải nói dài một chút để họ có thể hiểu ra. Vậy mà họ vẫn cố chấp.

Chúng ta cũng chẳng ưa nữ tội nhân này, chúng ta khinh miệt cô, nhưng Chúa Giêsu đã làm cho cô hãnh diện: “Hễ Tin Mừng được loan báo đến đâu trong khắp thiên hạ thì nơi đó việc cô vừa làm cũng sẽ được kể lại để nhớ tới cô.” Quả thật, cô “nổi tiếng” từ xưa tới nay, nhất là vào Tuần Thánh, dịp Lễ Vượt Qua.

Bất cứ điều gì phải đến rồi sẽ đến. Thánh sử Máccô kể ngắn gọn sang một cảnh khác: “Giuđa Ítcariốt, một người trong Nhóm Mười Hai, đi gặp các thượng tế để nộp Người cho họ. Nghe hắn nói, họ rất mừng và hứa cho tiền. Giuđa liền tìm cách nộp Người sao cho tiện.” (Mc 14:10-11) Vì mê tiền, ông Giuđa đã “đi đêm” với bọn bất lương. Ông cũng có cách hy vọng riêng: Có tiền tiêu xài hoặc làm việc gì đó. Tiền dù rất “bạc bẽo” nhưng nó có ma lực cực mạnh, khó có thể cưỡng lại. Tiền cần thiết nhưng nguy hiểm, Thánh Phaolô đã xác định: “Cội rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham muốn tiền bạc, vì buông theo lòng ham muốn đó, nhiều người đã lạc xa đức tin và chuốc lấy bao nỗi đớn đau xâu xé.” (1 Tm 6:10) Khinh suất là chết chắc – bất kỳ ai. Mê tiền là một dạng thờ ngẫu tượng!

Vào ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men, ngày sát tế Chiên Vượt Qua, các môn đệ hỏi Thầy Giêsu xem Thầy muốn ăn lễ Vượt Qua ở đâu. Ngài sai hai môn đệ đi, và dặn họ vào thành, gặp một người mang vò nước đến đón thì cứ đi theo người đó. Người đó vào nhà nào thì họ vào theo và hỏi chủ nhà xem phòng dành cho tiệc Vượt Qua ở đâu. Chúa Giêsu cho biết rằng chính ông ấy sẽ chỉ cho một phòng rộng rãi trên lầu, đã được chuẩn bị sẵn sàng, và họ có nhiệm vụ dọn tiệc. Mọi thứ đã được Thiên Chúa quan phòng và tiền định.

Vào buổi chiều, Đức Giêsu và Nhóm Mười Hai cùng tới. Đang khi dùng bữa, Người nói: “Thầy bảo thật anh em, có người trong anh em sẽ nộp Thầy, mà lại là người đang cùng ăn với Thầy.” Tá hỏa tam tinh. Thầy biết rồi sao? Kẻ thù thì dễ thấy mà đề phòng, người thân thiết thì biết họ trở tay lúc nào mà đề phòng? Nguy hiểm lắm. Quả thật, bạn bè và người thân đôi khi còn đáng sợ hơn kẻ thù. Sự thật cuộc đời quá phũ phàng!

Sau tiệc, qua việc chỉ điểm của ông Giuđa, bọn thủ ác đã tra tay bắt Chúa Giêsu. Thấy chướng mắt, ông Phêrô có sẵn gươm liền tuốt ra, vung chém đứt tai tên đầy tớ của thượng tế. Hú hồn! Có lẽ Phêrô chỉ hoảng mà chém đại thôi, chứ cũng đang run lắm. Nhưng Chúa Giêsu bảo ông cất gươm, rồi Ngài chữa lành tai cho nạn nhân. Thế mà chúng vẫn cứng lòng tin, không chịu sám hối, vẫn quyết bắt giết Con Thiên Chúa!

Một “khoảng tối” bao trùm, nhưng đoạn phim buồn chưa khép lại ở đây. Còn một “khoảng đen” khác, cuối cùng sẽ là “vùng sáng” huy hoàng. Màu xanh hy vọng vẫn tươi sắc xanh biếc... Hy vọng vẫn vươn lên, không bao giờ dừng lại.

Cuộc đời có nhiều thứ đan xen nhau: Lúa – cỏ, tốt – xấu, lành – dữ, hiền – ác, trắng – đen, mưa – nắng,... Trong một lần thị kiến, Thánh Faustina được Chúa Giêsu cho biết: “Con đừng ngạc nhiên vì đôi khi bị tố cáo bất công. Chính Ta đã từng uống trước chén đau khổ bất công này vì yêu con.” (Nhật Ký, #289)

Với cảm nghiệm sâu sắc, Thánh Faustina xác định: “Đau khổ là đại hồng ân; qua đau khổ, linh hồn trở nên giống Đấng Cứu Độ; trong đau khổ, tình yêu trở nên tinh tuyền; càng chịu đau khổ, tình yêu càng tinh khiết.” Chính thánh nữ đã chân thành cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu, con tạ ơn Ngài về những đau khổ nội tâm, về sự khô khan, về sự sợ hãi, về nước mắt, về sự lưỡng lự, về sự tăm tối nội tâm, về sự cám dỗ, về sự thử thách, về sự giày vò mà con không thể diễn tả, nhất là về những điều mà không ai hiểu, về giờ chết với sự chiến đấu dữ dội và cay đắng. Lạy Chúa Giêsu, con tạ ơn Ngài về những thập giá nho nhỏ hằng ngày, về sự đối nghịch với các nỗ lực của con, về sự gian khó của đời sống cộng đoàn, về sự hiểu lầm, về sự bẽ mặt vì người khác, về sự khó chịu mà người ta đối xử với con, về sự nghi oan, về sức khỏe yếu kém của con, về sự hy sinh, về sự chết cho chính con, về sự kém hiểu biết, về các kế hoạch thất bại của con.” (Nhật Ký, #57) Ước gì mỗi chúng ta cũng can đảm như vậy.

Lạy Thiên Chúa, chúng con biết thế gian là cõi tạm nhưng đầy đau khổ, xin giúp chúng con can đảm chấp nhận mọi đau khổ vì yêu mến Ngài, vì yêu thương tha nhân, vì muốn cứu các linh hồn và để đền tội ở đời này. Xin gia tăng tín lực và ái lực để chúng con đủ sức đi theo Đức Giêsu Kitô tới hơi thở cuối cùng. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. mục lục

CUỘC KHỔ NẠN CỦA ĐỨC GIÊSU KITÔ

Fr. Dominic Dieu Tran, SDD

Mùa Chay 2004, cả thế giới xôn xao khi bộ phim The Passion of the Christ đƣợc trình chiếu ra mắt nhân loại trên khắp toàn cầu. Ý tƣởng thực hiện cuốn phim này đƣợc nẩy sinh từ một khát vọng đã lâu, ẩn hiện trong tiềm thức ông Mel Gibson, một tài tử Công Giáo. Thuở ấy, ông đang lạc lối trong bóng tối, mắc chứng bệnh chán đời chẳng muốn sống thêm giây phút nào nữa. Thế nhƣng, khi gặp một phụ nữ ngƣời Pháp đến nói với ông: “Chúa Giêsu yêu ông đó”, Mel Gibson liền can đảm làm phim “Cuộc Khổ Nạn của Chúa” ngay lập tức. Nhờ đó, ông vƣợt qua đƣợc cơn suy nhƣợc của thần kinh chán đời.

Với 35 triệu dollars ngân quỹ trong tay, Mel Gibson quyết tâm thực hiện bộ phim đó vì lòng kính mến Chúa Giêsu, mà không cần biết nó sẽ lời lỗ ra sao sau này. Ông nói: “Tôi nghĩ rằng mục đích lớn lao để thành công phim này là làm thế nào thay đổi đƣợc trái tim con ngƣời. Cho dù khi trình chiếu ngoài rạp chỉ có 5 ngƣời đến xem, mà bộ phim đã giúp họ thay đổi đƣợc một điều gì đó, nhƣ vậy cũng là bõ công tôi rồi”. Có ai ngờ sau một năm đƣợc trình chiếu khắp nơi trên thế giới, số tiền Mel Gibson thu đƣợc là 612 triệu USD, lãi lợi nhuận gấp 17 lần so với vốn ban đầu đã chi xuất ra.

Một sự trùng hợp khác thƣờng là tài tử Jim Caviezel, nhân vật đóng vai Chúa Giêsu. Vốn có khuôn mặt thích hợp, anh đƣợc nhiều hãng phim khác nhau mời đóng vai Chúa Giêsu, song anh luôn từ chối vì cảm thấy mình bất xứng. Trong một lần đi hành hƣơng nơi Đức Mẹ hiện ra ở Medjugorge, bất chợt một bà cụ xa lạ nói với Jim: “Anh sẽ đóng vai Chúa Giêsu đấy!”. Về nhà, thấy đạo diễn Mel Gibson đăng báo tìm diễn viên, anh bèn ghi danh. Lạ lùng thay trong danh sách nhiều ngƣời xin đóng phim, nhà làm phim lại chọn Jim Caviezel, bởi tên anh và tên Jesus Christ rất gần nhau, đều viết tắt là J.C. Hơn nữa, khi đóng phim Jim Caviezel đƣợc 33 tuổi, cùng tuổi với Chúa Giêsu khi Ngài bị khổ nạn.

Nhiều dấu hiệu tốt cũng xuất hiện, suốt thời gian quay phim “The Passion of the Christ”: một số ngƣời trong đoàn phim vốn nghiện ma túy nay bỏ đƣợc thói nghiện, nhiều kẻ thù lâu năm làm hòa với nhau, vài anh vô thần và Hồi Giáo làm phim xong liền cải đạo theo Công Giáo, một đứa con của ngƣời cộng tác bộ phim đƣợc khỏi bệnh động kinh đang lúc quay phân cảnh “đóng đinh Chúa vào thập giá”. Thêm một sự lạ nữa là trƣớc đó không có chủ hãng thuê mƣớn nào muốn phim này đƣợc chiếu trong các rạp nhƣng đâu ngờ, phim vẫn thành công vƣợt bậc. Đức tin vào Chúa Giêsu Kitô đƣợc phát triển, nhiều kẻ vô thần phải nghiêm trang tìm hiểu giáo lý Kitô Giáo sâu đậm hơn.

Nhìn chung, bộ phim “Cuộc Khổ Nạn của Chúa”, đã khơi động và thức tỉnh niềm tin của nhiều kitô hữu vốn sống đạo khô khan lâu nay. Trong cuộc phỏng vấn của tuần báo Newsweek hỏi tài tử Jim Caviezel rằng “bộ phim có làm đức tin của ông thêm sâu đậm chăng, ông có gia tăng lòng yêu mến Chúa không”. Ngƣời đóng vai Chúa Giêsu đã trả lời: “Tôi yêu mến Ngài còn hơn cả vợ tôi và gia đình tôi”.

Bƣớc vào Tuần Thánh, Giáo Hội cho ta nghe lại các bài thƣơng khó Chúa Giêsu theo 4 thánh sử khác nhau, để ta thêm hiểu biết và suy niệm về:

1. Những khổ nạn mà Đức Giêsu Kitô phải chịu đựng.
2. Nguyên nhân khổ nạn và giá trị cái chết cứu chuộc của Chúa.
3. Cùng hiệp thông khổ đau với Chúa để chung hƣởng vinh quang cùng Ngài.

A. Những khổ nạn mà Đức Giêsu Kitô phải chịu đựng.

Phụng Vụ Tuần Thánh hôm nay mở đầu bằng hình thức Rƣớc Lá, cộng đoàn chào đón Đức Giêsu Kitô vinh hiển vào thành Giêrusalem. Vọng vang đó đây, lời thánh ca quen thuộc gợi nhớ cõi lòng các kitô hữu: “Lạy Chúa, con đường nào Chúa đã đi qua, con đường nào Ngài ra pháp trường, mạo gai nào hằn sâu trên trán. Lạy Chúa, thánh giá nào Ngài vác trên vai, đau thương nào phủ kín tâm tư, đường tình đó Ngài dành cho con”.

Vâng, khi xem qua bộ phim “Cuộc Khổ Nạn của Chúa”, cũng nhƣ nghe xong Bài Thƣơng Khó: ta thấy Đức Giêsu Kitô đã phải gánh chịu rất nhiều khổ đau về thể lý lẫn tinh thần, những đớn đau ở bên ngoài lẫn bao nội tâm phiền muộn bên trong.

a. Về thể lý:

· Đám đông quân dữ mang gƣơm giáo và gậy gộc đến bắt Chúa Giêsu đi xét xử.
· Các thƣợng tế và công nghị Do Thái tìm chứng gian tố cáo Ngài.
· Quân dữ phỉ nhổ, đánh đòn, che mặt, đấm đánh Chúa cách thậm tệ.
· Dân chúng vô ơn, đồng thanh chối bỏ Chúa mà xin tha án cho Baraba.
· Quân lính mặc áo choàng đỏ nhạo cƣời, lại đội mạo gai quấn trên đầu Ngài.
· Họ bắt Chúa vác thập giá đi đến pháp trƣờng, rồi đóng đinh Ngài vào thập giá đó.
· Quá đau đớn và mệt lả, Chúa bị ngã quỵ nhiều lần trên đƣờng thánh giá.
· Bị quân lính tƣớc đoạt cả áo ngoài, khiến thân thể Chúa trơ trụi treo cao trên thập tự.
· Chúng còn pha rƣợu với mộc dƣợc, thêm giấm chua khiêu khích Chúa uống.
· Khách qua đƣờng thì sỉ nhục Chúa, nhóm Thƣợng Tế luật sĩ liên tục nhạo báng Ngài.
· Chúa quặn ngƣời trong sức lực suy tàn, phó thác mọi sự trong tay Chúa Cha.

b. Về tinh thần:

· Các môn đệ thân tín mê ngủ, không liên kết cầu nguyện với Chúa nơi vƣờn Cây Dầu.
· Bị môn đệ Giuđa Iscariot phản bội, chỉ điểm cho quân dữ đến tận nơi bắt Chúa.
· Bị Tông đồ trung tín Phêrô chối Thầy ba lần, phủ nhận không có liên hệ gì với Chúa.
· Căng thẳng tâm trí trƣớc chén đắng Chúa sắp phải uống, vâng theo Thánh Ý Cha.
· Bị dân chúng chối từ, lìa bỏ; bị nhóm Thƣợng Tế vu oan bỏ vạ cáo gian.
· Bị đau nhói khi thấy Philatô hèn nhát, phủi tay, không mạnh mẽ bênh vực Chúa vô tội.
· Chúa cảm nhận sự cô độc, bị muôn ngƣời bỏ rơi khi phải treo mình trên cây Thánh giá.

B. Nguyên nhân cuộc khổ nạn và giá trị cái chết của Chúa.

Suốt ba năm truyền giảng Tin Mừng, Đức Giêsu Kitô mạc khải cho muôn dân biết Ngài là ai, Ngài đến rao giảng về Nƣớc Trời, dạy họ biết về Chúa Ba Ngôi cùng thực hiện bao việc lạ lùng giúp những kẻ tin Ngài nhận ơn chữa lành, tuyên xƣng Ngài là Đấng Messia đã đƣợc tiên báo trong Cựu Ƣớc.

Song le, Đức Giêsu Kitô luôn gặp sự đối kháng của giới lãnh đạo trong thƣợng hội đồng Do Thái. Các thƣợng tế, luật sĩ và công nghị Do Thái thƣờng xuyên họp nhau tìm đủ mọi cách bắt Ngài để nộp cho quan tổng trấn Rôma có thẩm quyền xét xử:

o Họ kết tội Chúa là kẻ phạm thƣợng, dám tự xƣng mình ngang hàng với Thiên Chúa.
o Họ cho rằng Chúa phá bỏ luật Môsê, khi chữa bệnh cho dân chúng trong ngày sabát.
o Họ vu cáo Chúa là ngƣời gây rối trật tự, đã qui tụ dân đông đảo chống lại chính quyền Rôma.
o Họ kết án Chúa là kẻ ngạo mạn, dám tuyên bố phá hủy đền thờ Giêrusalem đi rồi sẽ xây dựng lại nó trong ba ngày.

Thực tế, với những lý do vu khống ấy, Chúa có đủ khả năng minh chứng để tự giải oan cho mình, nhƣng “vì chúng ta, Đức Kitô đã tự hạ mình vâng lời Chúa Cha cho đến chết và chết trên thập giá” (Pl 2:8). Ngài chấp nhận hủy mình ra không để nhờ đó, con ngƣời đƣợc thứ tha và đƣợc sống muôn đời. 

Bởi thế, cái chết của Đức Giêsu Kitô trên thập giá và sự sống lại của Ngài trong ba ngày sau đó:

o Đã phá tan xiềng xích Satan vốn thống trị, kềm tỏa, đè nặng trên con ngƣời lâu nay.

o Giúp nhân loại nhận lãnh Ơn Cứu Rỗi, đƣợc tái sinh làm con Chúa, thừa hƣởng ơn nghĩa tử.

o Vì yêu thƣơng, Chúa chết để liên kết muôn ngƣời hiệp nhất, chung một Cha trên trời.

o Thân phận con ngƣời sẽ không dừng lại trong cái chết vô vọng, song sẽ đƣợc sống lại hiển vinh với Chúa trong ngày tận thế.

Do đó, ai tin và tuyên xƣng Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu Độ, ngƣời ấy sẽ đƣợc sống muôn đời.

C. Có đồng lao cộng khổ với Chúa, sẽ đồng hưởng vinh quang cùng Ngài.

Vào thế kỷ XV, tại một làng nhỏ của nước Đức, có hai anh em: Albert và Albrecht Durer đều có tài vẽ giỏi nhưng gia đình quá nghèo, không thể chu cấp học phí đầy đủ cho họ để đạt được ước mơ. Hai anh em bèn tung một đồng xu: người nào thua sẽ làm thợ mỏ, dùng toàn bộ thu nhập để nuôi người thắng ăn học. Còn người thắng, sau bốn năm học thành tài, sẽ ra trường vẽ tranh bán lấy tiền chu cấp tài chính cho người thua còn lại được đi học thành nghề.

Đồng xu được tung lên, Albrecht thắng cuộc và được đi học. Đang khi đó người anh tên Albert chấp nhận tới vùng mỏ đầy nguy hiểm, lao động cực nhọc để có tiền nuôi em ăn học. Càng học, tài năng của Albrecht càng tuyệt vời: những họa phẩm của anh được nhiều người nhắc đến, bởi chúng đẹp hơn cả các tác phẩm của các bậc thầy trong nhà trường. Cho đến khi tốt nghiệp, Albrecht đã bán được khá nhiều bức tranh và thu được một khoản tiền to lớn.

Trở về thăm gia đình, trong bữa ăn sum họp, Albrecht đứng dậy để cám ơn ông anh Albert đã lao động hy sinh miệt mài giúp mình hoàn thành mơ ước. Albrecht nói: “Anh Albert, bây giờ đến lượt anh. Hãy tới Nuremberg để theo đuổi ước mơ của mình. Như qui ước đã hứa, em sẽ lo toàn bộ chi phí và chăm sóc mọi sinh hoạt chi tiêu trong gia đình”. Albert mỉm cười và khóc: “Đã quá muộn rồi, Em ạ. Sau bốn năm làm việc, anh không còn ngón tay nào đủ lành lặn, để có thể cầm cọ vẽ được nữa”.

Nhìn đôi bàn tay tàn tạ sần sùi của anh Albert, người em Albrecht hết sức cảm động. Để tỏ lòng kính trọng và biết ơn, Albrecht Durer đã thực hiện một tác phẩm cẩn thận nhất trong đời: đó là bức tranh “Đôi Bàn Tay cầu nguyện”, trong đó Albrecht vẽ lại đôi tay của người anh, với lòng bàn tay hướng vào nhau và những ngón tay gầy guộc hướng lên trên. Ai ai cũng khen họa phẩm ấy có ý nghĩa.

* Hơn năm trăm năm đã trôi qua, hàng trăm bức chân dung, tranh màu nƣớc, tranh than chì, tranh khắc gỗ, tranh khắc đồng…của họa sĩ Albrecht Durer đƣợc treo tại những viện bảo tàng lớn nhất thế giới, nhƣng có một điều lạ: du khách chỉ chú ý tác phẩm Đôi Bàn Tay quen thuộc.

* Sản phẩm ấy sẽ bình thƣờng nhƣ bao sản phẩm khác nếu ngƣời bán không kể lại cho du khách mua tranh nghe về câu chuyện đầy giá trị nhân văn đi kèm, đằng sau sản phẩm đó.

* Một thành quả xuất sắc tuyệt vời đƣợc kết tinh sau bao ngày đồng lao cộng khổ giúp đỡ nhau. 

Thật rõ ràng: “có gieo trong lệ sầu, sẽ gặt trong hân hoan”, có đi trong nƣớc mắt hoen mi sẽ về giữa tiếng cƣời reo vui, có chấp nhận gian khổ chiến đấu mới mong đạt đƣợc thành tựu oai hùng.

* Ngày 30/01/1948, một thanh niên Ấn Giáo quá khích đã sát hại Mahatma Gandhi vì anh không chấp nhận việc Gandhi hô hào ngƣời Ấn Độ Giáo tha thứ cho ngƣời đồng hƣơng Hồi Giáo.

* Ngày 04/4/1968, tên sát nhân đã ám sát mục sƣ Martin Luther King vì không muốn ông hăng say đấu tranh cho quyền bình đẳng của ngƣời da đen tại Hoa Kỳ.

* Ngày 03/11/1995, một sinh viên Do Thái cực đoan đã hạ sát thủ tƣớng Yitzhak Rabin, vì anh không chấp nhận việc sống chung hòa bình giữa dân Israel với ngƣời Palestine và Trung Đông.

Máu của bao anh hùng dân tộc đã đổ ra vì họ muốn kiến tạo nền hòa bình cho dân tộc, màu da của họ.

Trƣớc đó trên hai ngàn năm, máu của Đức Giêsu Kitô đã từng đổ ra, phát sinh ơn ích cho các kitô hữu. Cái chết của Chúa là khởi điểm cho những cái chết của bao vĩ nhân theo sau: ai nấy đều hy sinh chính bản thân mình để đồng loại đƣợc sống an vui hạnh phúc hơn. Trên hết và trƣớc hết, theo thánh Phaolô:

1. Cái chết của Đức Giêsu Kitô giải thoát con ngƣời khỏi tội lỗi và án phạt muôn đời (Rm 6:22).
2. Cái chết của Đức Giêsu Kitô cứu chuộc muôn dân nên thanh sạch hoàn toàn (Rm 3:25).
3. Cái chết của Đức Giêsu Kitô giúp con ngƣời đƣợc giao hòa lại với Thiên Chúa (Rm 5:10-11).
4. Cái chết của Đức Giêsu Kitô nhƣ hy lễ đền tội (Pl 2:6-11), đền thay cho cả nhân loại, giúp con ngƣời đƣợc Thiên Chúa thứ tha.

Tri ân Chúa Giêsu cứu độ, ta hãy sống tốt lành thánh thiện để tận hƣởng xứng đáng ơn Chúa tặng ban.

D. Lời Nguyện kết thúc.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể!

Tuần Cực Thánh đã về, thay vì ưu sầu khóc lóc khi nhớ đến cái chết thảm thương của Chúa, xin giúp con biết khóc cho tội mình, đã khiến Chúa phải chịu bao đau đớn nhục hình. Xin chớ để lòng đạo đức của con quá sâu đậm cảm xúc bên ngoài mà thiếu sự sám hối bên trong.

Lạy Chúa! Xin thôi thúc con biết ăn năn và dốc lòng chừa thật, để xứng đáng nhận ơn Chúa thứ tha. AMEN. mục lục

SỐNG TÌNH YÊU HY HIẾN

Lm. Anphong Vũ Đức Trung, O.P.

Hằng năm, vào dịp lễ Vượt Qua, mọi nam nhân Do thái buộc phải về Giêrusalem để mừng lễ. Trong khi dân chúng thắc mắc Đức Giêsu có lên dự lễ không, còn các nhà lãnh đạo tôn giáo ra lệnh ai biết Đức Giêsu ở đâu phải tố giác Người. Xem ra tính mạng Đức Giêsu gặp nguy hiểm khi lên dự lễ, nhưng Người vẫn cương quyết lên dự lễ: Để sẵn sàng chết thay cho toàn dân; Và để quy tụ con cái Thiên Chúa về một mối.

Hai trình thuật Tin Mừng: 

1- Đức Giêsu được tung hô và chào đón: “Hoan hô! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa”, lúc mở đầu Thánh lễ. Xem ra Người được vinh quang, khi cưỡi lừa, và tiến vào thành Giêrusalem?!

2- Vụ án, Cuộc Thương Khó và Cái chết của Đức Giêsu. Xem ra có một sự tương phản sâu sắc giữa lời tung hô và lời kết án đóng đinh vào Thập giá?! Xem ra cuộc chiến đang đến hồi cao điểm căng thẳng, dữ dội nhất?!

Giữa đám đông dân chúng ô hợp, trong bối cảnh bạo loạn và hiếu chiến, với những nhà lãnh đạo thờ ơ như Philatô, hay thù nghịch như Caipha, Hêrôđê, có hai thái độ khác thường được ghi nhận: Một diễn ra khi khởi đầu, và một khi kết thúc cuộc Thương Khó như một khung hình cô đọng và tôn vinh Đức Giêsu: Đấng Cứu Thế. 

1/ Người phụ nữ vô danh diễn tả tình yêu và lòng kính trọng, với việc xức dầu thơm trên đầu Đức Giêsu, hai ngày trước lễ Vượt Qua, trước khi Người đối diện với cái chết. Đức Giêsu đánh giá cao việc cô ta làm như “một việc nghĩa”;

2/ Viên đại đội trưởng La mã “đứng đối diện với Đức Giêsu thấy Người tắt thở (trên Thập giá) như vậy liền nói: “Quả thật, Người này là con Thiên Chúa”. Xem ra ông tỏ lòng tin kính, mến yêu và tôn thờ Đức Giêsu?! 

Sau khi Đức Giêsu chịu chết trên Thập giá, 

1/ Ông Gioxếp, người thành Arimathê, thành viên thượng hội đồng Do thái giáo đến xin thi hài Đức Giêsu để chôn cất cho xứng đáng, hơn là để thi hài đó bị vứt vào ngôi mộ tập thể vốn dành cho các tử tội chịu đóng đinh thập giá; 

2/ Có mấy phụ nữ đứng xa xa mà nhìn Đức Giêsu chịu đóng đinh, họ “để ý nhìn xem chỗ họ mai táng Người” và chuẩn bị đến xức dầu thi thể Người khi sớm nhất có thể; 

3/ Có một nhóm dân ngoại và Do thái, gồm cả nam và nữ, chứng kiến cuộc Thương Khó và cái chết của Đức Giêsu với tâm tình tin và yêu, tỏ thái độ kính trọng- khác với đám dân chúng cười nhạo, báng bổ và la hét thô thiển kia.

Liệu chúng ta có nhận ra tình yêu Thiên Chúa phủ lấp tội lỗi, sai phạm và “những điều thiếu sót” của chúng ta không?

Liệu chúng ta có nhận ra quyền năng Thiên Chúa củng cố chúng ta trong những lúc yếu đuối, cám dỗ và sa ngã không?

Liệu chúng ta có nhận ra sự nghèo khó, tự hủy của Đức Giêsu trên Thập giá làm chúng ta trở nên phong phú và giầu có không?

Liệu chúng ta có nhận ra hành trình đi đến Thập giá của Đức Giêsu làm cho hành trình Đức Tin của chúng ta mạnh mẽ vì có Người đồng hành không?

Lạy Chúa Giêsu,

Chúng con biết Chúa đã chấp nhận đau khổ, chịu tử nạn, vì yêu thương. Xin Chúa cho chúng con thêm tình yêu của Chúa, để con cũng dám chịu khổ cho anh chị em của con. mục lục

LỜI ĐẦU TIÊN TRÊN THÁNH GIÁ: LỜI THA THỨ

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

"Lạy Cha, xin tha cho chúng" (Lc 23, 34). Đó là lời đầu tiên mà trên thánh giá Chúa Giêsu thốt lên.

Tha thứ, từ ngàn xưa là đề tài lớn của Thánh Kinh. Lịch sử cứu độ là lịch sử ghi đậm nét tình yêu tha thứ của Thiên Chúa. Thiên Chúa tha thứ cho loài người, để họ còn có thể ngẩng đầu lên trông chờ Đấng Cứu Độ, có thể mở lòng ra đón nhận ơn cứu độ. Đó là cách Thiên Chúa cứu rỗi loài người. 

Đến lượt mình, Chúa Giêsu, không ngừng thực hành và công bố quyền năng tha thứ. Chúa còn dạy loài người phải biết tha thứ cho nhau. Lời dạy này rõ ràng nhất nơi kinh Lạy Cha.

1. CHÚA GIÊSU KHÔNG NGỪNG CÔNG BỐ ƠN THA THỨ.

Lời tha thứ trên thánh giá như một tổng kết của một đời Chúa Giêsu tha thứ cho trần thế. Tin Mừng nhiều lần cho thấy Chúa Giêsu công bố ơn tha thứ cho con người. Và con người đã từng nhận lãnh hiệu quả rõ rệt của ơn tha thứ ấy.

Chúa tha cho người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Chúa bao dung với hết các tông đồ và đoàn môn đệ trong những năm tháng huấn luyện họ. Chúa mời gọi tông đồ Giuđa ở lại với ơn tha thứ khi Chúa "báo động" hành động tội lỗi của ông: "Con muốn làm gì thì làm đi" (Ga 13, 27). Chúa tha thứ cho thánh Phêrô. Chúa sẵn sàng chữa lành đầy tớ của thượng tế khi anh này bị thánh Phêrô chém đứt tai. Chúa tha cho người trộm cùng chịu đóng đinh thập giá...

Và chính lời cầu xin Chúa Cha tha thứ mà chúng ta đang bàn, là lời công bố ơn tha thứ cho tất cả mọi kẻ hãm hại Người.

Không chỉ tha thứ, Chúa Giêsu còn dạy ta phải biết tha thứ cho nhau: Xin Cha tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”. Hay: “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5,44). 

Hay dụ ngôn về người đầy tớ được chủ tha hết mọi khoản nợ, nhưng người đầy tớ lại không tha cho những khoản nợ của bạn mình. Ông chủ giận cho lính hành hạ người đầy tớ ấy cho đến khi anh ta trả hết nợ (x. Mt 18,23-35).

Và đòi hỏi phải tha "bảy mươi lần bảy" (Mt 18, 22) mà Chúa Giêsu đưa ra là lời dạy ta phải tha thứ luôn luôn, tha thứ đến kỳ cùng. Có nghĩa là, trong khi làm việc, ta có thể nghỉ ngơi. Nhưng tha thứ thì không bao giờ được phép dừng.

Từ đó, ta thấy tình yêu tha thứ của Chúa Giêsu là cánh cửa mở mà không biết đóng. Người sẵn sàng đón nhận bất cứ ai đang chiến đấu với tội lỗi, với sự dữ. Người mong chờ con người đến với mình để công bố, để trao ban ơn tha thứ cho họ. Chúa Giêsu sẵn sàng tha thứ như tấm lòng của Thiên Chúa, muôn ngàn đời vẫn có đó, “muôn ngàn đời vẫn trọn tình thương” (Tv 136,2).

2. ƠN THA THỨ QUAN TRỌNG TRÊN MỌI THỨ QUAN TRỌNG.

Lời đầu tiên ngay sau khi chịu treo trên thánh giá không phải là bất cứ lời nào quay về bản thân, mà là lời "đi ra" khỏi bản thân của Đấng Cứu Thế: "Lạy Cha, xin tha cho chúng".

Nói lời tha thứ trước khi nói bất cứ lời nào để đi vào cái chết, Chúa Giêsu cho thấy tâm hồn, cõi lòng, trái tim Ngài tràn ngập chúng ta. Chúng ta ưu tiên trên mọi thứ ưu tiên mà Chúa nhắm đến, dẫu sự sống không còn nhiều.

Nói lời tha thứ đầu tiên, trước khi quan tâm bất cứ điều gì, Chúa Giêsu còn cho thấy, tha thứ là quan trọng, là cần thiết vô cùng cho con người. Đó cũng là hành động nhắc ta: Tha thứ là vấn đề cơ bản trước hết và trên hết mọi vấn đề mà một đời làm người, ta phải tìm, phải múc lấy bằng được từ chính hy tế của Chúa.

Qua lời đầu tiên trên thánh giá, “Xin tha cho chúng”, Chúa Giêsu còn như muốn ta ý thức: Tha thứ, trên hết là một ơn ban đến từ Thiên Chúa, do Thiên Chúa. Bởi đây là một lời nguyện. Vì qua hình thức cầu nguyện, Chúa Giêsu cho thấy, tha thứ là một ơn ban đến từ Thiên Chúa.

Dù Thiên Chúa sẵn sàng ban cho con người, khi con người cần đến, nhưng ơn tha thứ, với hình thức cầu nguyện của Chúa Giêsu, là ơn mà con người phải kêu xin Thiên Chúa.

Chúng ta cảm nhận, khi trao sự tha thứ, thì người tha thứ vui, và người được tha thứ cũng vui. Ta vui mừng, vì có một Thiên Chúa luôn nhìn đến thân phận của ta. Ta vui mừng, vì trước mặt Chúa, ta không hề không có giá trị nào. Ta vui mừng, vì mãi mãi, bằng tình yêu tha thứ của Người, Thiên Chúa bảo vệ ta.

Thiên Chúa tha thứ. Niềm vui nội tại nơi chính bản thân Người, chắc chắn không nhỏ. Người say sưa tha thứ cho con người. Người trung thành với chỉ một đường lối, là sẵn sàng yêu thương tha thứ. Từ ngàn đời, Thiên Chúa đã tha thứ. Cho đến muôn đời, Thiên Chúa vẫn tiếp tục tha. 

Tha thứ chính là niềm vui vô bờ của Đấng tạo thành và cứu chuộc chúng ta. MỤC LỤC.

KHỔ NẠN CỦA CHÚA LÀ HY VỌNG CỦA CHÚNG TA

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

Chúa Nhật Lễ Lá là ngày đầu tiên của Tuần Thánh, khởi đầu cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu dẫn đến cái Chết của Chúa trên thập tự để cứu chuộc muôn dân. Và Chúa đã sống lại đem hy vọng cho loài người.

Cuộc Khổ Nạn, Cực Hình, Cái Chết và Sự Phục Sinh của Chúa là những mấu nút kết hợp tất cả chúng ta lại với nhau thành một Giáo Hội với những thần dân là Kito Hữu trong Tuần Thánh Này.

Tin Mừng thánh Máccô hôm nay cho chúng ta thấy những ngày giờ cuối cùng đầy khổ nạn của Chúa Giêsu nơi trần thế. Đây là câu chuyện với những tình tiết tương phản nhau, không thể không đánh động tâm trí chúng ta. Tuần Thánh là thời gian đặc biệt để chúng ta suy gẫm nhiều điều được thể hiện qua những biến cố đã xẩy ra cho Chúa Giêsu. Chúng ta cũng khám phá ra không chỉ những đặc tính của những kẻ đã cố tình làm nhục, kết án và giết Chúa trước đây, mà cả những gì đang và sẽ giết Chúa. Cái vòng luân lưu giữa những thói hư tật xấu, khủng bố, bạo lực, tàn ác, hận thù, oán ghét, nghi kỵ, ghen tương vẫn đang tiếp tục đóng đanh Chúa nơi những người anh chị em huynh đệ của mình, trong gia đình, ngoài cộng đồng, xã hội quê hương mình và cả nhân loại hiện nay. 

ĐIỂM ĐẶC THÙ CỦA CUỘC KHỔ NẠN CỦA CHÚA GIÊSU 

Theo Máccô (Mc 11: 1-10) thì cuộc vào thành Jerusalem của Chúa Giêsu đã được làm cho bớt vẻ trọng thể đi nhiều. Theo thông lệ khách hành hương thường đi bộ vào Jerusalem, trừ vua chúa mới cưỡi súc vật, mà là những con vật oai phong như ngựa, lại có đoàn rước đi theo để chứng tỏ mình là đấng quyền uy cao trọng. Chúa Giêsu thì lại khác, cũng cưỡi một con vật, nhưng không phải là ngựa quí hùng dũng oai phong mà chỉ là một con lừa con mà người ta dùng để chở đồ.

Chúa Giêsu ngồi trên lưng lừa đi vào thành Jerusalem như một ông vua, nhưng không phải “để được phục vụ mà là để phục vụ” (Mt 20:28). Nước của Người không phải nước ở trần thế, được tạo dựng bằng quyền lực hung dữ, mà vì lòng trắc ẩn thương yêu, đồng cảm và hết lòng xả thân phục vụ mọi người. Con lừa chính là hình ảnh mà tiên tri Zechariah đã nói trước đây cả 5 thế kỷ: “Hỡi con cái Zion! Hãy vui lên, hãy reo hò vang lên. Hỡi con cái Jerusalem! Trông kìa, Vua các người đang đến, trong khải hoàn vinh quang nhưng khiêm tốn ngồi trên lưng lừa…”

Qua cách mô tả của Máccô về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu thì vẻ mặt Chúa Giêsu như buồn rầu lo lắng vì bị bạn bè và các môn đệ bỏ rơi. Chúa đã cam chịu. Chúa không thèm trả lời Giuda là kẻ phản bội Chúa, cũng như Philatô khi ông ta chất vấn Chúa. Tổng trấn Philatô đã không cương quyết cứu Người với tư cách một quan Toàn Quyền, đại diện của La Mã, dù biết Chúa vô tội.

Thánh Máccô, qua toàn thể Tin Mừng, đã làm nổi bật sự thất bại cay đắng của các môn đệ là đã không an ủi nâng đỡ Chúa Giêsu, lại chẳng hiểu gì ý nghĩa những việc đang xẩy ra cho thầy mình. Một môn đệ trẻ lúc Chúa bị bắt, vì quá sợ hãi đã chạy trốn vào đêm tối không kịp mặc áo quần. Môn đệ này chính là hình ảnh các môn đệ, lúc khởi đầu đã bỏ gia đình bạn bè bà con để theo Chúa. Bây giờ gặp lúc nguy khốn thì bỏ mọi sự, bỏ cả Chúa để thoát thân.

Chúng ta thử nhớ lại những biến cố của Tuần Thánh đầu tiên này. Từ căn phòng Chúa ở đến vườn Gethsemane, từ phiên tòa Philato đến đồi Golgotha, từ thập tự giá đến ngôi mộ trống, Chúa Giêsu đã làm đảo lộn toàn thể thế giới. Người dạy cho chúng ta biết quyền lực thực sự chỉ thấy ở nơi nào có tinh thần phục vụ và lòng quảng đại đối với tha nhân; sự cao cả với lòng khiêm tốn; ước vọng yêu thương và công chính. Đó là những điều sẽ được Thiên Chúa chúc lành và khuyến khích. 

CUỘC KHỔ NẠN CỦA CHÚA VÀ SỰ TRUNG THÀNH

Thánh Mac Cô kể rằng, lúc ấy chúa Giêsu đang ở làng Betania và đến thăm ông Simon bị bệnh cùi, một người đàn bà đến mang theo một bình bạch ngọc đựng đầy dầu thơm đắt tiền, đập bể bình rồi trịnh trọng đổ lên đầu Chúa (Mc 14: 3-9). Mùi thơm lan tỏa khắp nhà, mọi người lúc đó tỏ vẻ bất bình vì cử chỉ phung phí của bà này. Chúa Giêsu đọc được ý của họ, bèn nói đỡ  cho bà ta là “bà đã biểu lộ một hành động trung thành và yêu thương thực sự”. Chúa Giêsu đã nói với họ rằng: “Bà này đã xức dầu lên người tôi để chuẩn bị cho ngày ướp xác” (Mc 14: 8). Vì lý do đó, chúa Giêsu đã hứa là “bất cứ nơi nào mà Tin Mừng được loan truyền đến thì câu chuyện này của bà cũng sẽ được kể lại để mọi người nhớ đến bà”. (Mc 14: 9). Người đàn bà này, không kể Đức Maria mẹ Chúa Giêsu, sẽ là người duy nhất được tôn vinh cao cả.

Trong khi các đệ tử và tông đồ Chúa tỏ ra thất bại rõ ràng vì phản bội và bỏ chạy thì người đàn bà vô danh này đã chứng tỏ chí cương quyết, lòng quả cảm, yêu thương và trung thành. Một gương sáng đáng ghi nhớ! Mặc dù bà ta không hiểu rõ hoàn toàn ý nghĩa việc làm có tính ngôn sứ và biểu trưng của bà ta, cũng như thời điểm của hành động của bà, nhưng bà ta đơn giản chỉ ước muốn biểu lộ cho Chúa biết là bà ta thực sự quan tâm, để ý đến Chúa và yêu mến Chúa thật tình.

Đó phải chăng là điều mà mỗi người chúng ta được mời gọi để thực hành trong Tuần Thánh này một cách đặc biệt! Phải chăng là yêu Chúa Giêsu và chú ý đến Người xuyên suốt qua những biến động bi thảm cuối cùng của bản hòa tấu cuộc đời của Chúa nơi dương thế này, giữa tất cả những tổn thương, thất bại và bội phản của chính chúng ta trong cuộc sống!  Cuộc sống của chúng ta phải giống như bình bạch ngọc đựng đầy dầu thơm quí giá của người đàn bà đã đổ ra tràn lan trên Chúa trong những giờ phút cuối cùng của đời Người nơi dương thế này. 

ĐÔI LỜI KẾT: AI ĐÂY, NẾU KHÔNG PHẢI LÀ ĐẤNG CỨU THẾ ĐÃ BỊ KẾT ÁN?

Lúc kết thúc đoạn đường Thánh Giá tại đấu trường Colosseum ở Rome vào đêm thứ Sáu Tuần Thánh Năm Thánh 2000, Thánh Gioan Phaolô II đã nói những lời rất cảm động nhưng đầy mãnh lực:

“Ai đây, nếu không phải là đấng cứu thế đã bị kết án, có thể hiểu một cách đấy đủ và trọn vẹn nỗi đau khổ của những người bị kết tội một cách bất công?

“Ai đây, nếu không phải là Vua Trời Đất bị khinh miệt và nhục mạ, có thể đáp ứng được những chờ mong của biết bao nhiêu người cả nam lẫn nữ đang sống trong vô vọng và mất nhân phẩm?

“Ai đây, nếu không phải là Con Thiên Chúa, có thể biết được nỗi buồn rầu và cô đơn của biết bao nhiêu người không có tương lai đang sống rải rắc trên khắp mặt địa cầu ?”

Đó là Đấng Cứu Thế, vị cứu chuộc nhân loại mà chúng ta đang có. Ngài là đấng thực sự thấu hiểu những điều kiện nhân tính của chúng ta. Ngài đồng hành cùng chúng ta và chia sẻ, cảm thông với chúng ta những sầu muộn, cô đơn và khổ đau của chúng ta. Chúng ta đã đáp trả lại loại tình yêu lạ lùng ấy và tình liên đới hiệp nhất thực sự ấy như thế nào? Chúa Nhật Lễ Lá là ngày mở đầu Tuần Thánh Chúa Chịu Nạn, mời gọi chúng ta chấp nhận điều mà thánh Phao Lồ gọi là “Thái Độ của Chúa Giêsu Kitô” (Pl 2: 6-11) trong khi Chúa chịu nạn và chịu chết. Hãy trút bỏ mọi ưóc muốn tư lợi và ích kỷ, mọi sợ hãi và nhu cầu riêng tư của mình vì lợi ích của tha nhân….

Chớ gì chúng ta có thể vươn tới để hàn gắn những vết thương của những kẻ đau khổ, an ủi những kẻ thất vọng ở quanh ta mặc dù bản thân chúng ta là những kẻ phản bội và chối Chúa.

Trong lúc những nghi lễ phụng vụ của Tuần Thánh diễn ra thật cảm động thì chúng ta có được những ân sủng đặc biệt để tiếp tục sống với niềm vui và hy vọng, mặc dù bị phụ rẫy, xỉ nhục và đau khổ. Trong chiều hướng đó, cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu sẽ trở thành lý do để chúng ta Hy Vọng và có những giây phút tràn đầy hồng ân khi chúng ta đi tìm kiếm Nước Chúa trong đời sống chúng ta, cho dù sự tìm kiếm đó đơn độc và đau thương.

Tuần Thánh quả là một nguồn an ủi và một xác tín rằng chúng ta không phải là những kẻ cô đơn. Chúa đã cứu chúng ta và hàng ngày đang đồng hành với chúng ta. mục lục

LẬT MẶT

Tung hô vạn tuế rất to
Lời hô đả đảo cũng la rầm trời
Là anh, là chị, là tôi
Là những con người phản bội Giê-su
Những lời thề hứa chưa nhòa
Mà khuôn mặt lật bên kia, bên này
Khi vui rộn rã vỗ tay
Khi buồn còn lại mình Thầy Giê-su
Hôm qua miệng lưỡi tung hô
Hôm nay lươn lẹo lại hò đóng đinh
Đau thương Chúa chịu một mình
Còn những điều lành Ngài vẫn trao ban
Lặng suy Tình Chúa từ nhân
Xin Ngài tha thứ, ban ơn đổi đời. mục lục
Viễn Dzu Tử

HOAN HÔ ĐẤNG NHÂN DANH CHÚA!!!

(Suy niệm Mc 11,1-10)
Cộng đoàn dân Chúa hôm nay
Mỗi người: cành lá trong tay làm cờ
Tham gia đón Chúa, như xưa
Chúa vào Thành Thánh, đợi chờ: hiến thân.
Nhiệm mầu cứu độ muôn dân
Ai nào suy thấu lòng nhân Chúa Trời
Vua Cứu Thế Giê Su vào Thành Thánh
Các tông đồ, dân chúng, đón rước Người.
Trên lưng lừa con, khoẻ, Chúa vui tươi
Toàn dân chúng tung hô rằng: “Vạn tuế!!!
Tung hô Đấng nhân danh Chúa mà đến
Nguyện vinh danh Chúa trên các tầng Trời.
Có phải chăng, Nước Đa vít tới nơi
Quyền cao cả Chúa Gia Vê thương đến???”
Đoàn tín hữu, giục lòng tin, cậy mến
Nguyện thành tâm thống hối ăn năn.
Cùng cảm thông tuần Thương Khó Chủ Chăn
Để xứng đáng mừng Phục Sinh Đại Lễ. mục lục
(Th. K. Dominic)

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan