SUY NIỆM CHÚA NHẬT PHỤC SINH_NĂM B

03-04-2021 106 lượt xem

[Lời Chúa: Mc 16,1-8; Cv 10,34a.37-43; Cl 3,1-4; Ga 20,1-9]

Mục Lục

NGÔI MỘ TRỐNG + ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

NIỀM VUI VÀ ĐỨC TIN PHỤC SINHLm. JB. Nguyễn Minh Hùng

CHÚA ĐÃ SỐNG LẠI! HALLELUIAGiuse Vinhsơn Ngọc Biển, SSP

ÁNH SÁNG ĐỨC KITÔ PHỤC SINH XUA TAN ĐÊM TỐIFr. Dominic Dieu Tran, SDD

KHOẢNG TRỐNG ĐẦY Ý NGHĨATrầm Thiên Thu

THẮP SÁNG SỨ ĐIỆP TÌNH THƯƠNGLm. JB. Nguyễn Minh Hùng

HÃY TRỖI DẬY VÌ NGƯỜI ĐÃ PHỤC SINHLm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

Thơ: ĐỐI THOẠI PHỤC SINHViễn Dzu Tử

Thơ: TUYÊN XƯNG CHÚA SỐNG LẠI(Thế Kiên Dominic)

NGÔI MỘ TRỐNG

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

Buổi sáng ngày Phục sinh, tức là ngày thứ nhất trong tuần, mà ngày nay được gọi là ngày Chúa nhật, chúng ta giống như những người phụ nữ và hai môn đệ trong Tin Mừng, hối hả chạy đến mồ Chúa Giêsu. Bài Tin mừng Thánh Gioan được đọc trong Thánh lễ chính ngày diễn tả hai môn đệ chạy đến mộ để kiểm chứng những gì họ đã nghe mấy người phụ nữ kể lại. Các bà này đã nói: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu”. Các bà bàng hoàng và lo sợ vì mất Chúa, và các bà cảm thấy đau xót về điều đó. Hai môn đệ là Phêrô và Gioan đã vội vàng chạy đến xem và họ thấy ngôi mộ trống. Khác với mấy người phụ nữ, hai ông không lo sợ bàng hoàng, mà tin vào sự phục sinh của Chúa, vì Người đã tiên báo với các ông điều này.

Cần lưu ý, trong xã hội Do Thái thời cổ xưa, mỗi ngôi mộ được thiết kế như một hang động, nhất là đối với những người khá giả. Thánh sử Gioan nói với chúng ta, ngôi mộ an táng Chúa Giêsu là ngôi mộ của một người nhà giàu còn mới, nên các môn đệ an táng Chúa tại ngôi mộ đó. Chính vì vậy mà hai ông Phêrô và Gioan cũng như những người phụ nữ có thể bước vào bên trong ngôi mộ này. Các bà đến viếng mộ với ý định hoàn tất nghi thức tẩm liệm mà trước đó chưa làm xong vì lý do ngày lễ nghỉ.

Hãy trở lại với ngôi mộ trống: nếu như thân xác Chúa Giêsu còn nằm trong ngôi mộ. Nếu như nấm huyệt vẫn được đậy kín, thì Chúa Giêsu cũng chỉ như một vĩ nhân, khi còn sống thì rao giảng những điều uyên bác cao siêu, nhưng khi chết thì cũng giống như bao người khác. Không, ngôi mộ trống khẳng định với chúng ta: Chúa Giêsu không còn ở đây. Người không còn bị giới hạn bởi thời gian và không gian. Người không bị giam cầm bởi sự chết cũng như bởi nấm mộ. Nói cách khác, Người đã sống lại. Sự phục sinh của Chúa đã được Người báo trước. Tuy vậy những người phụ nữ và một số môn đệ khác vẫn thấy hoang mang và bất ngờ trước sự việc này. Thay vì vui mừng, các bà sợ hãi, run rẩy, hết hồn hết vía. Các bà không dám nói với ai vì sợ hãi.

Ngôi mộ trống là khởi điểm cho Đức tin Kitô hữu. Đức Giêsu là Thiên Chúa quyền năng. Người có quyền trên sự sống và sự chết. Người đã tự ý trao ban sự sống của Người và Người có quyền lấy lại, như chính Người đã tuyên bố. Vì vậy, sự chết không còn làm chủ được Người. Ngôi mộ là bằng chứng hùng hồn về quyền năng của Chúa Giêsu, là Thiên Chúa tối cao.

Ngôi mộ nói với chúng ta về chiến thắng của Chúa Giêsu. Chúa chiến thắng cái gì? Thưa, Chúa chiến thắng bạo lực. Thập giá là bạo lực của con người dành cho Con Thiên Chúa. Một số biệt phái và luật sĩ, có sự chống lưng của các tư tế và nhất là vị tư tế thượng phẩm, đã lên án tử cho Chúa và quyết định giết Người bằng một hình thức vừa gây đau đớn, vừa gây nhục nhã. Khi giết được Chúa và khi thấy các môn đệ đã an táng Thầy mình trong huyệt mộ, những kẻ giết Chúa nghĩ mình đã diệt được một kẻ thù. Họ đã nhầm. Chúa Giêsu đã bước ra khỏi mộ, vinh quang sáng láng. Thiên Chúa đã chiến thắng mưu mô của con người. Tình thương đã thắng thù hận. Ánh sáng đã thắng tối tăm. Chúa Giêsu không sống lại để trả thù những người đã hành hạ và đã giết Chúa. Người sống lại để khẳng định rằng: mưu mô gian trá chỉ là nhất thời, tình yêu bao dung sẽ tồn tại mãi mãi. Đấng Phục sinh không chỉ chiến thắng sự chết, mà Người còn giải phóng con người khỏi sự chết. Người cũng giải phóng con người khỏi sự giam cầm của quyền lực tối tăm, tức là ma quỷ và tội lỗi xấu xa.

Ngôi mộ nói với chúng ta về niềm hy vọng Kitô giáo. Con người được tạo dựng không để nằm yên trong huyệt mộ, sau khi đã trải qua một cuộc sống đan xen hoà quyện giữa hạnh phúc và đau khổ, nhưng được tạo dựng để hưởng hạnh phúc vinh quang đời đời với Chúa. Chúa phục sinh bước ra khỏi mộ khơi nguồn hy vọng cho con người nói chung, người Kitô hữu nói riêng. Bởi lẽ từ nay, họ xác tín rằng, thân phận con người không chỉ là “hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi”, nhưng trong con người có mầm sống siêu nhiên, thúc đẩy con người sống lương thiện. Mầm sống ấy không chết khi con người nhắm mắt xuôi tay, nhưng sẽ bừng lên cho một cuộc sống mới, như hạt giống gieo vào lòng đất, chấp nhận mục nát để nảy mầm sinh bông kết trái. Niềm hy vọng của người tín hữu giúp họ vượt lên những khó khăn của cuộc đời, với niềm xác tín Đấng Phục sinh đang hiện diện với họ, để dẫn họ đi trên mọi nẻo đường.

Kitô hữu là người tin vào Chúa. Tin là chấp nhận một điều gì đó mặc dù không nhìn thấy hoặc không thể kiểm chứng bằng kinh nghiệm. Một cách nào đó, người tín hữu đang đứng trước sự vắng bóng của Thiên Chúa, được coi như đứng trước một ngôi mộ trống. Quả vậy, chúng ta tin vào Chúa mà đâu có nhìn thấy Ngài. Chúng ta cầu nguyện với Chúa nhưng đâu có được gặp gỡ Ngài trực tiếp. Ngôi mộ trống chỉ là nơi đã an táng Chúa Giêsu. Những gì chúng ta cảm nhận suy tư về Thiên Chúa thực ra chỉ là dấu vết của Ngài. Chính vì vậy, lễ Phục sinh mời gọi chúng ta nhận ra sự hiện diện quyền năng và đầy yêu thương trong cuộc sống hằng ngày. Chúa đang ở đây, với chúng ta, mặc dù con mắt thể xác không nhìn thấy Ngài.

Lễ Phục sinh không phải một sự kiện giải trí. Câu chuyện Đấng sống lại không phải là một huyền thoại. Người tín hữu mừng lễ Phục sinh, phải canh tân đổi mới cuộc đời để sống lại với Chúa. Trong thư gửi giáo dân Côlôxê được đọc trong Bài đọc II của Thánh lễ, thánh Phaolô nói đến sự sống mới của người Kitô hữu. Bởi lẽ, nhờ những hy sinh hãm mình và khổ chế, chúng ta cùng chết với Chúa Giêsu, và nay chúng ta sống lại với Người. Thánh nhân đặt những giá trị thuộc thượng giới, đối nghịch với những giá trị thuộc hạ giới. Giá trị hạ giới chỉ đem lại cho con người niềm vui nhất thời; giá trị thượng giới giúp con người đạt tới hạnh phúc vĩnh cửu. Quả vậy, hành trình đi theo Đức Kitô là hành trình biến đổi. Đây vừa là hành trình của sự sống, cũng là hành trình của sự chết. Bởi lẽ chúng ta phải chết đi mỗi ngày để sống lại với Chúa. Nói cách khác, chúng ta phải loại bỏ những gì là tham lam, bần tiện, hận thù, ích kỷ, để nhường chỗ cho lòng đạo đức, nhân hậu bao dung. Tiến trình hoán cải là tiến trình liên lỉ, lâu dài, đòi hỏi mỗi người phải cố gắng hy sinh và chấp nhận thương đau, như sự chết vậy.

Chúng ta hãy trở lại với hai môn đệ chạy vội đến mộ Chúa vào lúc tảng sáng. Khi trực tiếp quan sát ngôi mộ trống, hai ông tin. Các ông đã theo Chúa khoảng ba năm, được Chúa hướng dẫn và dạy dỗ. tuy vậy, niềm tin nơi các ông vào Đấng Thiên Sai còn nhiều mờ khuất và lệch lạc. Chính biến cố phục sinh đã giúp các ông xác tín vào Thày mình với một quan niệm và tầm nhìn xa rộng hơn. Không chỉ xác tín vào quyền năng của Chúa Giêsu, các ông còn mạnh mẽ lên đường rao giảng Đấng Phục sinh, mặc dầu phải chấp nhận hy sinh gian khổ và phải chết. Mỗi chúng ta, khi mừng lễ Phục sinh, hãy trở nên nhân chứng của Đấng phục sinh giữa đời, để khẳng định với mọi người xung quanh: Đức Giêsu đã sống lại và đang hiện diện giữa chúng ta. Những ai tin vào Người sẽ được hạnh phúc hôm nay và mãi mãi.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã phục sinh từ cõi chết. Chúa đã chiến thắng tử thần để sống lại vinh quang. Chúng con nhiều khi bị giam cầm trong huyệt mộ của sự ghen ghét, lười biếng và ích kỷ. Xin Chúa kéo chúng con ra khỏi mồ tối, để nhờ ánh sáng phục sinh chiếu soi, chúng coi can đảm vươn tới ánh sáng và trở nên ánh sáng giữa đời. Amen. mục lục

NIỀM VUI VÀ ĐỨC TIN PHỤC SINH

 Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Chúa Kitô đã Phục Sinh. Tin Mừng theo thánh Gioan tường thuật khá chi tiết, và đầy xác tín: Chúa đã sống lại (x. Ga 20,1-31).

Với tôi, Tin Mừng theo thánh Gioan như một nhân chứng vừa sung sướng, vừa hãnh diện thuật lại những gì mắt thấy tai nghe.

Bằng ngòi bút sâu sắc trong suy niệm; thâm tín trong diễn tả; quả quyết trong lời kể; say sưa trong chiêm ngắm; tràn ngập hạnh phúc, niềm vui, lòng mến nơi tâm hồn, thánh Gioan tường thuật hành trình chạm tới ơn phục sinh và chạm tới Đấng Phục Sinh mà các môn đệ, cụ thể là ba con người: Maria Macđala, Phêrô, Gioan đã trải qua để tiến đến đức tin mạnh mẽ rằng: “Chúa đã Phục Sinh”.

Bằng chính niềm vui và đức tin phục sinh, thánh Gioan quả quyết: “Ông Phêrô và môn đệ kia liền đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phêrô và đã tới mộ trước. Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. Ông Simôn Phêrô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin. Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh, Đức Giêsu phải trỗi dậy từ cõi chết” (Ga 20, 3-9).

I. NIỀM VUI VÀ ĐỨC TIN PHỤC SINH SỚM LAN TRÀN.

Chúa đã phục sinh. Không phải chỉ một mình thánh Gioan sung sướng ghi lại biến cố phục sinh của Chúa, và sung sướng ngỏ với mọi người về chính đức tin của mình: “Ông đã thấy và đã tin”, mà chẳng lâu sau đó, thánh Phêrô cũng đã tin, các tông đồ đã tin, đoàn môn đệ đã tin, và cả Hội Thánh đã tin.

Niềm vui và đức tin phục sinh đã lan tràn. Niềm vui và đức tin phục sinh đi vào và đang lớn lên trong cõi lòng từng người chúng ta. Niềm vui và đức tin phục sinh luôn là tất cả hy vọng của Hội Thánh.

Ngày nay Hội Thánh vẫn mang lấy chính tâm tư vui mừng khôn xiết của thánh Gioan, để không chỉ tin, mà còn hãnh diện đem “khoe” cùng cả loài người, cùng toàn thể vũ trụ, cùng mọi thụ tạo để loan báo, để truyền giảng không mệt mỏi về niềm vui và đức tin: Chúa của mình đã phục sinh. Người vẫn tồn tại. Đến muôn đời, Người sẽ tồn tại. Người là Chúa. Bất cứ ai thuộc về Người, cũng sẽ phục sinh cùng Người.

Bởi thâm tín mạnh về niềm vui và đức tin Phục Sinh, dẫu là thánh Phêrô hay các tông đồ, dẫu là đoàn môn đệ của Chúa hay toàn Hội Thánh, đã không để bất cứ điều gì khuất phục mình – nhưng đạp trên tất cả sự dữ, dù là cái chết, gông cùm, tù tội, bị thú dữ nghiền nát, bị hành hạ dã man, bị lên án khốc liệt, bị phân biệt đối xử…, vẫn không làm lung lay lời rao giảng và lòng xác tín: Chúa đã phục sinh – để đêm ngày, qua muôn muôn lớp lớp lịch sử, vẫn hiên ngang sống, hiên ngang chết cho niềm thâm tín vào Một Đấng Phục Sinh Duy Nhất là Chúa muôn loài, cữu rỗi muôn loài.

II. NIỀM VUI VÀ ĐỨC TIN PHỤC SINH: SỰ CHIẾN THẮNG.

Niềm vui và đức tin phục sinh mà Hội Thánh xác tín nơi Chúa Kitô, không đơn giản chỉ là hồi sinh trở về đời sống trần thế như đã từng sống. Sẽ không bao giờ giống cuộc trở về sau cái chết của con trai bà góa thành Naim (Lc 7, 11-17), con gái ông Giairô (Lc 8, 40-56), hay  Lazarô ở làng Bêtania (Ga 11,1-45). Bởi tất cả họ, dù đã từng được Chúa cho hồi sinh, đều cũng lại trở về bụi đất như tất cả mọi người.

Chúa Kitô phục sinh, Người không phục hồi sự sống như đã từng sống nơi dương thế, nhưng là tiến về sự sống trong Thiên Chúa, sống bằng sự sống của chính Thiên Chúa. Đó là sự sống thuộc linh, một sự sống không hao mòn, không bị thời gian khống chế, không tàn phai, không kết thúc.

Về mặt nhân trần, Chúa đã chết thật. Chúa là người như mỗi chúng ta là người. Chúa đã chết như bao nhiêu con người đã chết.

Nhưng Chúa đã phục sinh. Từ nay Chúa mặc lấy sự sống sung mãn đến nỗi sự chết không còn quyền gì ảnh hưởng tới Chúa. Chúa chúng ta cũng không còn bị bất cứ định luật tự nhiên nào có thể chi phối. Không còn có bất cứ mãnh lực nào, dù tự nhiên hay siêu nhiên, hữu hình hay vô hình, có thể bị hủy hoại hay bất hoại… có khả năng chi phối sự sống phục sinh của Chúa.

Chúa Kitô là Đấng duy nhất trong nhân loại đã chiến thắng sự chết. Từ nay, Chúa đi vào sự sống của chính Thiên Chúa. Sự sống đã khải hoàn chiến thắng của Chúa đã trào tràn, tuôn đổ trên mỗi chúng ta.

Chúa Kitô Phục sinh trở nên nguồn sự sống và là sự sống lại của chúng ta. Người cho chúng ta tham dự vào sự phục sinh của Người, như chính Người đã từng phán: “Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta, thì dù có chết cũng sẽ sống. Ai sống và tin vào Ta, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11,25-26).

Còn chúng ta, nhờ ơn phục sinh của Chúa, chúng ta cũng trở thành bất diệt sau cái chết trần thế của mình.

Là chứng nhân của Ðấng Phục Sinh đầy tràn sự hãnh diện, ôm ấp niềm vui, và tha thiết sống chết cho đức tin, các tông đồ, các môn đệ, và cả Hội Thánh của Chúa, ra đi khắp thế giới, loan tin mừng Phục Sinh. Tất cả cùng khẳng định: Ai tin nhận Chúa Kitô, tuyên xưng Người là Chúa và sống theo giáo huấn của Người, kẻ đó sẽ được Phục Sinh như Người.

III. CHÚNG TA SỐNG NIỀM VUI VÀ ĐỨC TIN PHỤC SINH.

Chúng ta, từng cá nhân, hãy mang lấy chính tâm tư vỡ òa của thánh Gioan tông đồ, của cả Hội Thánh, của biết bao nhiêu anh chị em đồng đạo, dám băng mình trên mọi nẻo đời, công bố cách không mệt mỏi đức tin cao cả, quý trọng, độc nhất vô nhị của mình: Chúa đã phục sinh.

Niềm vui và đức tin phục sinh phải là lẽ sống, là tâm niệm sống, là định hướng sống của từng Kitô hữu.

Hãy để niếm vui và đức tin phục sinh hướng dẫn đời sống. Một đời sống mà biết để niềm vui và đức tin phục sinh hướng dẫn, sẽ là một đời sống phong phú, một đời sống không chỉ mang đậm niềm hạnh phúc, nhưng còn trào tràn hạnh phúc ấy ra mọi nơi, mọi hoàn cảnh mà đời sống ấy hiện diện.

Hãy để niềm vui và đức tin phục sinh đồng hành, giúp ta vững tâm bước qua tăm tối, chông gai, thử thách của đời sống mình. Qua tất cả những thăng trầm ấy, ta đóng đinh chính mình, đóng đinh tính xác thịt của mình vào thánh giá của Chúa, nhờ đó, ta sẽ cùng Chúa tiến vào cõi phục sinh vinh thắng.

Chúa đã phục sinh. Lẽ ra ta phải phục sinh với Chúa, phải bước ra khỏi vùng tối tăm để nhập cuộc với ánh sáng huy hoàng của ơn phục sinh.

Nhưng nhiều lần xét mình, ta chợt thảng thốt: cứ hết lễ phục sinh này đến lễ phục sinh khác, hết mùa phục sinh năm nay, lại đến phục sinh năm tới…, tâm hồn ta vẫn còn thuộc về bóng tối,

Có thứ bóng tối tội lỗi nhận chìm linh hồn ta trong những vực sâu không có lối thoát.

Có thứ bóng tối đam mê dục vọng gìm linh hồn ta trong cơn mê ngủ miệt mài, mất hết ý chí phấn đấu tiến lên.

Có thứ bóng tối tham lam ích kỷ làm lu mờ lương tâm, lý trí, khiến ta coi tiền bạc trọng hơn tình nghĩa. Vì tiền bạc mà dám phạm tội. Vì lợi nhuận mà làm thiệt hại người khác.

Có thứ bóng tối ghen ghét oán thù làm tâm hồn ta không lúc nào bình an, vì chìm ngập trong nỗi hận thù dai dẳng.

Có thứ bóng tối tự ái kiêu căng khiến linh hồn ta không tìm thấy niềm vui trong sự khiêm nhường tha thứ.

Tất cả những bóng tối đó đang khiến linh hồn ta suy yếu, chết dần chết mòn. Tất cả những bóng tối đó ngăn chặn ánh sáng của Chúa, ngăn chặn dòng suối ơn lành của Chúa đổ vào hồn ta.

Để ánh sáng Phục Sinh của Chúa tràn vào hồn ta, ta phải quét sạch những bóng tối còn vương vấn trong tâm hồn. Đó là cách duy nhất để ta sống niềm vui và đức tin phục sinh.

Mùa phục sinh luôn luôn có hình ảnh cây nến. Nến phục sinh tượng trưng Chúa Kitô, Đấng đã thoát ly khỏi tối tăm của thế gian, mang lại ánh sáng phục sinh vô biên cho chính thế gian, phá tan bóng tối thế gian.

Như cây nến phải chịu tiêu hao mòn mỏi mới giữ được ánh sáng soi chiếu đêm tối, ta cũng phải phấn đấu với chính bản thân, quên mình, chịu chết cho tội lỗi, để sống một đời sống mới cho Chúa và trong Chúa.

Khi chiến đấu đẩy lùi bóng tối tội lỗi, ta thoát được ách ma quỷ và được sống trong ánh sáng của Chúa, trở nên con cái ánh sáng.

Người tham dự vào niềm vui và đức tin phục sinh, luôn luôn dược đòi hỏi phải chiến đấu với kẻ thù của linh hồn mình. Vì thế, hãy chiến đấu để đi tới chiến thắng. Chỉ có chấp nhận chiến đấu để vươn tới chiến thắng, ta mới thực là người mang lấy và sống niềm vui và đức tin phục sinh.

Lạy Chúa Kitô Phục Sinh, Chúa đã chiến thắng ma quỷ, xin giúp chúng con chiến đấu với ba thù, để được sống một đời sống mới trong ánh sáng của Chúa.

Lạy Chúa, xin cho ánh sáng Phục Sinh của Chúa chiếu rọi vào mọi góc tối tăm của linh hồn chúng con, để chúng con trung thành sống chết cho đức tin. Xin đừng để chúng con rơi vào hoàn cảnh bi thảm mà các lãnh đạo Do thái giáo xưa đã từng thực hiện, đó là một mặt tuyên xưng lòng tin của mình, nhưng mặt khác, do đời sống bê bối của chúng con, chúng con lại đang ra sức chối từ Chúa, ra sức đẩy xa ảnh hưởng của niềm tin phục sinh ra khỏi cuộc đời mình. Amen. mục lục

CHÚA ĐÃ SỐNG LẠI! HALLELUIA

Giuse Vinhsơn Ngọc Biển, SSP

Trong suốt Mùa Chay, nhất là Tuần Thánh, đỉnh cao là đêm Vọng Phục Sinh, Chúng ta được Giáo Hội qua các nghi thức cử hành, mời gọi chúng ta hướng về Quê Trời, cởi bỏ con người cũ, mặc lấy con người mới là chính Đức Kitô. Từ bỏ tội lỗi để sống xứng đáng là con cái Chúa. Ra khỏi bóng tối để đi vào Ánh Sáng. Những ý nghĩa này, đã được các nghi thức tối hôm qua diễn tả thật rõ nét. Thánh lễ giờ đây, chúng ta được Giáo Hội mời gọi hãy hân hoan hát lên bài ca “Chúa Đã Sống Lại! Halleluiya!” và hãy loan tin vui này đến tận cùng trái đất. Nhưng điều quan trọng là làm sao chúng ta tin? Làm sao chúng ta dám loan truyền Chúa đã sống lại? Dựa vào đâu để xác tín điều đó?

1. Ngôi mộ bị bỏ trống?

Bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe, thuật lại sự kiện Chúa Phục Sinh. Bắt đầu từ việc bà Maria Mácđala đi ra mộ, mang theo thuốc thơm để sức xác Chúa. Khi tới nơi, bà ngỡ ngàng vì những gì hiện lên trước mắt bà. Tảng đã khổng lồ đã lăn ra khỏi mồ. Như vậy, theo linh tính, bà biết rằng xác Chúa không còn trong đó. Phải chăng người ta đã mang xác Chúa đi chỗ khác? Có thể là do một hoặc nhiều người đã lấy cắp xác Chúa? Bà liền chạy về báo cho các môn đệ, và Phêrô cùng với Gioan đã chạy tới, nhưng tiến thêm một bước nữa, cả hai ông đều vào và thấy khăn vải quấn người Đức Giêsu cũng như khăn che đầu vẫn còn đó. Một trong hai ông đã tin, đó là Gioan. Sự kiện ngôi mộ trống đã rõ ràng. Chắc chắn không còn xác Đức Giêsu trong đó. Nhưng Chúa đã sống lại hay bị mang đi hoặc bị đánh cắp? Tin Mừng cho chúng ta thấy có những suy nghĩ trái chiều. Maria Mácđala thì cho rằng: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để người ở đâu”. Với các Kinh Sư, Luật Sĩ, Thượng Tế…và những kẻ chủ mưu giết Đức Giêsu, sau khi nghe tin Chúa đã sống lại thì đã dàn dựng một vở kịch nhằm vu khống cho các môn đệ, đồng thời bảo các lính canh thế này: “Ban đêm đang lúc chúng tôi ngủ, các môn đệ của hắn đã đến lấy trộm hắn đi. Nếu sự việc này đến tai quan Tổng trấn, chính chúng tôi sẽ dàn xếp với quan và lo cho các anh được vô sự” (Mt28:13-15).

Tuy nhiên việc phao tin là các môn đệ lấy cắp xác Đức Giêsu không khả tín cho lắm vì những lý do:

– Các môn đệ là những người ít học, đơn sơ chất phác. Những người chủ mưu giết Đức Giêsu thì có cả một kế hoạch (x. Mt 27, 62-66; 28,13-15).

– Khả năng chuyên môn của các môn đệ là chài lưới, thu thuế…Còn đội lính canh giữ Đức Giêsu thì tinh nhuệ và sắc bén (x. Mt 27, 62 – 66).

– Các môn đệ đang trong tình trạng sợ sệt, không thể nào lấy cắp xác Chúa mà vẫn ung dung xếp những giải khăn gọn gàng được (x. Ga 20:18-19).

–  Các môn đệ là những người thụ động. Lính canh là những người chủ động…

Như vậy, không có thể bày đặt ra chuyện Chúa đã sống lại để rồi lừa dối được. Gioan đã hiểu điều đó nên ông đã tin.

Tuy nhiên, nếu chỉ có chứng cứ về ngôi mộ trống thì không thuyết phục cho lắm. Sự kiện này chỉ có tính cách khai mở và là dấu chỉ của sự phục sinh mà thôi. Bằng chứng cho thấy vẫn còn nhiều giả thiết trái ngược nhau được đưa ra. Vậy, chúng ta còn dựa vào đâu nữa? 

2. Những lần Đức Giêsu hiện ra và những lời Đức Giêsu đã báo trước

Đức Giêsu sống lại, Ngài đã hiện ra với rất nhiều người, có những lúc trong nhà, trên đường, ngoài bãi biển. Trong số những người được Chúa hiện ra, chúng ta gặp những tên tuổi và những nhóm người như: hiện ra cho Maria Mácđala (x. Ga 20, 11- 18); với các phụ nữ đi ra viếng mồ Ngài (x. Mt 28,9-10; Mc 16,9; Ga 20,11-18); hiện ra với 2 môn đệ trên đường về Emau (x. Mc 16,12-13; Lc 24,13-35); hiện ra với các môn đệ khi các ông đang họp kín, trong đó có Tôma (x. Ga 20,19-29); bên bờ hồ Giênêdarét (Ga 21); phép lạ đánh cá (x. Ga 21, 1- 14).v.v… ; và hiện ra tại Galilê, sai các môn đệ đi rao giảng Tin Mừng (x. Mt 28,16-20; Mc 16: 14 -18; Lc 24: 36 -49; Ga 20: 19 -23; Cv 1:6-8).

Những lần hiện ra, có những nhận thức khác nhau, và việc nhận thức này được thực hiện theo nhiều mức độ khác nhau:

– Nhận ra khuôn mặt Đức Giêsu (x. Ga 20, 20.27); 

– Nghe thấy những gì Ngài nói (x. Ga 20,16);

– Những hành động Chúa làm (x. Lc 24, 35); 

– Hiểu Kinh Thánh (x. Lc 24,27.45). 

Mặt khác, đây chính là sáng kiến từ phía Đức Giêsu: Ngài đến gặp họ (x. Mt 28,9); Ngài tiến lại gần các môn đệ, đến ở giữa họ, hiện ra với họ (x. Lc 24,15), đón gặp họ, cùng đi với họ, và, ở lại với họ (x. Lc 20,14;21,4).

Sự kiện Đức Giêsu hiện ra và việc nhận ra Ngài  đã được tông đồ Tôma đáp lại cách tuyệt đối sau khi đã sỏ ngón tay vào lỗ đinh, thọc bàn tay vào cạnh sườn: “lạy Chúa tôi, lạy Chúa của tôi” (Ga 20,28). Mặt khác, Đức Giêsu còn ra dấu hiệu về việc làm chứng và sứ vụ. Đồng thời, những lần hiện ra, Ngài còn hứa hẹn và loan báo sẽ trao ban Chúa Thánh Thần đến để trợ giúp, đồng hành với các ông trong sứ vụ.  

Cuối cùng, Đức Giêsu đã mở lòng trí các ông, để các ông nhớ lại tất cả những điều đã được báo trước trong Kinh Thánh và chính Ngài đã nói cho các ông trước khi lên Giêrusalem để chịu chết: “Thày đi Giêrusalem, chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại” (Mt 16, 21).

Các bằng chứng đã rõ. Chúng ta không thể không tin được. Chỉ có cố chấp và trai lì trong ích kỷ, tội lỗi…thì mới không tin mà thôi.

Như vậy, sự kiện Đức Giêsu sống lại là một biến cố lịch sử, với những chứng từ lịch sử được tất cả bốn sách Tin Mừng ghi lại: ngôi mộ trống, khăn liệm xếp ngay ngắn gọn gàng, Đức Giêsu đã nhiều lần hiện ra cùng ăn uống và đàm đạo với các môn đệ, sai các môn đệ đi rao giảng Tin Mừng, và hứa sẽ đồng hành với các môn đệ mọi ngày cho đến tận thế qua việc trao ban Chúa Thánh Thần, và điều quan trọng nhất đó là những lần Ngài đã báo trước. 

3. Sự kiện Đức Giêsu sống lại và niềm tin của chúng ta

Chúa Đã Sống Lại! Halêluiya!” đó là tiếng hô vui mừng của Phêrô, của Gioan, của các Tông đồ…, và của mọi thế hệ Kitô hữu. Đó là niềm tin của Giáo Hội hơn 2000 năm qua, là Tin Mừng trọng đại không chỉ cho các môn đệ Đức Giêsu mà thôi, nhưng còn cho tất cả mọi người, mọi dân tộc, bởi vì: “Nếu Đức Kitô đã không sống lại, chúng ta là những người khốn khổ nhất trong mọi người” (1Cr 15, 19), và niềm tin của chúng ta trở nên hão huyền, lời rao giảng là vô cớ. Nhưng Ngài đã sống lại và đã phục sinh tâm hồn chúng ta, biến chúng ta thành con người mới: “Nếu Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết ngự trong anh em, thì Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới” (Rm 8, 11). Đây quả là Tin Mừng, và Tin Mừng đó phải được vang xa đến tận chân trời góc biển. Cái chết không còn là tiếng nói cuối cùng, bởi vì sau sự chết là sự sống lại, qua đau khổ là vinh quang. Sự kiện Chúa Phục Sinh, đem lại cho chúng ta niềm hy vọng cũng được Phục Sinh như Ngài.

Giờ đây, niềm tin vào Đức Giêsu Phục sinh lại một lần nữa được chúng ta cùng nhau tuyên xưng qua Kinh Tin Kính: tôi tin Đức Giêsu […] Đấng đã “chịu nạn đời quan Phongxiô Philatô, chịu đóng đanh trên cây Thánh Giá, chết và táng xác, xuống ngục tổ tông, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết sống lại; lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng; ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết.”. Đây là niền tin của Giáo Hội và của mỗi chúng ta. Chúng ta hãnh diện, tự hào và tuyên xưng đức tin ấy cùng với Giáo Hội và trong Giáo Hội mà chúng ta là thành phần của Giáo Hội ấy. Amen. mục lục

ÁNH SÁNG ĐỨC KITÔ PHỤC SINH XUA TAN ĐÊM TỐI

Fr. Dominic Dieu Tran, SDD

Năm 1994, thế giới điện ảnh Hollywood xôn xao về cuốn phim “Schindler’s List” (Bản danh sách của Schindler) được thực hiện từ một câu chuyện có thật ở trại tù Auschwitz (Ba Lan). Nhà đạo diễn Steven Spielberg đã thành công khéo léo trong bộ phim đặc biệt đen trắng này, kéo dài đến 195 phút, đoạt 7 giải thưởng Oscar. Cuốn phim khiến người ta nhớ đến câu nói quen thuộc trên môi miệng dân Do Thái: “Ai cứu được một mạng người thì người đó cứu được cả thế giới”.  

Chuyện xảy ra xoay quanh cuộc đời ông Oskar Schidler. Là một doanh gia người Đức tham lam và hiếu chiến, ông làm ăn phát đạt quen biết nhiều sĩ quan Phát xít Đức thời Đệ Nhị Thế Chiến. Chứng kiến cả triệu người Do Thái bị giết chết thảm thương trong các trại tập trung do chính sách tàn bạo của nhà độc tài Adolf Hitler, ông đau xót tột cùng. Số phận họ thật khốn cùng và tuyệt vọng: dân Do Thái bị tước đoạt không chỉ quê hương, người thân, tính mạng; mà còn cả quyền làm người cũng bị lột bỏ.

Lợi dụng sự quen biết uy tín với quân Phát xít Đức, ông lập ra một nhà máy ngay trong trại Auschwitz. Cùng với viên thư ký gốc Do Thái, ông lên một danh sách dài thuê mướn những người Do Thái vào làm trong xưởng thợ của mình. Nơi ấy sẽ là mái nhà che chở họ an toàn khỏi bị thiêu đốt trong lò thiêu sinh. Và ông đã cứu được hơn 1.100 công nhân Do Thái gốc Ba Lan, giúp họ sống sót cho đến khi chiến tranh kết thúc. Người Do Thái bày tỏ lòng biết ơn Oskar Schindler, một người Đức chính trực, vĩ đại.  

Điều ám ảnh khán giả xem phim là: họ thấy rõ sự bất lực và hoảng loạn của dân Do Thái trong trại tập trung. Không ai biết chuyện gì sẽ xảy đến với mình, liệu ai nấy còn có thể sống sót qua hôm nay chăng? Họ cũng thấy: tâm trí Schindler luôn giằng co và ân hận, khi ông muốn cứu thêm nhiều người Do Thái khác nhưng không được. Trong ray rứt ăn năn, Schindler đã khuỵu xuống, khóc nức nở như một trẻ thơ. Một cuộc lột xác ở trong ông: từ sự trực diện bóng tối sự ác, Schindler đã bước ra ánh sáng lòng nhân ái.  

Hôm nay, Lễ Chúa Phục Sinh, ta nghe lại bài Tin Mừng của thánh sử Gioan tường thuật:

* Ngày thứ nhất trong tuần, trời còn mờ tối, Maria Magdala một mình đi đến mộ.

* Thấy tảng đá che mộ bị lăn ra , bà chạy về nhà báo tin cho Phêrô và Gioan. Họ chạy vội vã ra mộ giữa đêm trường u tối. Bước vào trong mộ, tâm trí họ càng tăm tối bối rối hơn khi xác Chúa mất.  

Nếu cứ tiếp tục đọc hết chương 20 của bài Tin Mừng Gioan, ta sẽ bất ngờ nhận ra:

* Chúa Phục Sinh hiện ra với Maria: khơi động trong bà ánh sáng niềm tin “Tôi đã thấy Chúa”

* Chúa Phục Sinh cũng hiện ra với Nhóm Mười Một: ban Thần Khí cho các ông, đồng thời lan tỏa ánh sáng đức tin đặc biệt cho Toma, giúp họ can đảm tuyên xưng “Thầy đã sống lại thật rồi”.  

Cuốn phim Schindler’s List khởi đi từ những u tối, mặt trái của tình người: sự tàn bạo của cái ác nơi bọn phát xít Đức, nỗi tuyệt vọng đến tận cùng của tù nhân Do Thái… nhưng sau đó nhà đạo diễn đã làm sáng lên một người hùng của bi kịch, dám liều mình đưa các kẻ xấu số vào nhà máy của mình lẩn trốn.  ·

* Đã có bóng tối, ắt sẽ thấy ánh sáng sau đó. Sau cơn mưa dài nặng hạt, bầu trời lại sáng tỏ từ từ. ·

* Bóng tối sự chết đè nặng thân xác Đức Giêsu Kitô chiều thứ Sáu khổ nạn. Thế nhưng ánh sáng phục sinh của Con Thiên Chúa toàn năng, đã xua tan ách thống trị xấu xa đê tiện của Satan.   

Ta cùng suy niệm:     

1. Nhân loại còn nặng trĩu u mê trong đêm dài tăm tối.   

2. Thiên Chúa đã tái tạo ánh sáng Đức Tin cho con người.  

3. Hãy đi trong Thần Khí, để ở trong ánh sáng Chúa luôn mãi.  

A. Nhân loại còn nặng trĩu u mê trong đêm dài tăm tối.

Cái chết của Thầy Chí Thánh Giêsu là một cú sốc lớn trong tâm trí các tông đồ. Cái chết ấy cũng là chủ đề bàn tán xôn xao nơi các cư dân Giêrusalem suốt mấy ngày kế tiếp (Lc 24:18). Đặc biệt, cái chết đó còn ám ảnh mãi các Thượng Tế và lãnh đạo dân Do Thái, khiến họ ăn ngủ không yên (Mt 27:62-64).

Nhìn chung, mỗi người mỗi cảnh, mỗi tâm trạng khác nhau. Ai nấy đều lang thang lưu lạc trong cái u mê của cõi lòng, tâm trí.  

* Quan Philatô vô cảm, rửa tay trước đám đông, tỏ ý vô can trong việc kết án Chúa (Mt 27:24).

* Quân lính chứng kiến tử tù Giêsu đã chết thật, họ chu toàn nhiệm vụ được trao (Ga 19:33-34). ·

* Nhóm thượng tế no lòng thỏa dạ, khi đã loại trừ xong một “kẻ gây rối nguy hiểm”(Mt 27:62-64). ·

* Dân chúng khép lại câu chuyện khi tù nhân Giêsu đã bị xử tử theo ý họ mong muốn (Ga 19:16). ·

* Môn đệ buồn rầu thê thảm vì Thầy Chí Thánh Giêsu đã chết thật rồi (Ga 19:27.30).

* Các phụ nữ thương tiếc Chúa, rủ nhau ra thăm mộ Ngài từ sáng sớm. Họ hoang mang phân vân và sợ hãi khi thấy xác Chúa bị mất, không còn nằm trong Mộ Thánh (Lc 24:1-7). ·

* Nghe tin các bà thông báo, Phêrô chạy ra mộ, bồn chồn lo lắng khi xác Thầy đã mất (Lc 24:12). ·

* Bọn lính canh giữ mồ lo lắng về xác tử thi Giêsu biến mất. Họ nhận tiền cấp trên mua chuộc, đi loan tin thất thiệt là “môn đệ Giêsu đã trộm xác Thầy ban đêm, khi họ đang ngủ” (Mt 28:12-15). ·

* Đôi mắt u buồn nặng trĩu của Maria đã che khuất tâm trí sáng suốt của chị. Lòng đầy cảm xúc đến nỗi Maria vẫn không nhận ra Chúa Giêsu rõ ràng, cứ tưởng đó là người giữ vườn (Ga 20:15).

Qua đó, ta nhận ra có hai khuynh hướng rõ rệt nơi não trạng u mê của những người chứng kiến việc Chúa Giêsu chịu khổ nạn:      

+ Kẻ gian dối (thượng tế, Philato, lính canh…): họ như khí cụ Satan sử dụng, bị Satan xui khiến làm công việc đen tối chống lại Chúa, vì Ngài đã trục xuất nó ra khỏi thế giới loài người.      

+ Người lành thánh (Đức Mẹ, các tông đồ, nhóm phụ nữ đạo đức, Giuse Arithmathia, Nicôđêmô..): tâm trí họ buồn rầu, hoang mang, bối rối, quên hẳn lời Chúa đã tiên báo “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người và ngày thứ ba, Người sẽ trỗi dậy” (Mt 17:22-23).

B. Thiên Chúa tái tạo ánh sáng Đức Tin cho con người.

Mầu nhiệm “một Thiên Chúa quyền năng sẽ chịu bắt nộp vào tay thế lực người đời mà không kháng cự, rồi phải chết”, thực sự là việc không thể chấp nhận, dưới con mắt khó hiểu của Phêrô (Mt 16:22). Ông suy nghĩ tự nhiên theo tư tưởng phàm nhân, chưa thấu đáo được chương trình của Thiên Chúa.               

=> Thế mới hay, “đường lối của Chúa bao giờ cũng cao hơn đường lối của con người” (Is 55:5).

Trong ánh sáng của Thần Khí Chúa tác động, nhân loại mới dần dần hiểu được Ơn Cứu Chuộc mà Đức Giêsu Kitô đã thực hiện để cứu độ cả thế giới.  

1. Khi các bà ra viếng mộ từ tảng sáng, Chúa đã dùng hai nam nhân với y phục sáng chói hiện ra giải thích cho các bà hiểu “Chúa không còn ở đây nữa nhưng Người đã trỗi dậy rồi” (Lc 24:6).

2. Nhìn trực tiếp thấy ngôi mộ trống, xác Thầy không còn, ơn Chúa soi sáng “người môn đệ Chúa yêu” nhớ lại lời Kinh Thánh. Ông đã thấy và đã tin (Ga 20:8) rằng “Chúa sống lại thật rồi”.  

3. Sau khi hai môn đệ Phêrô và Gioan rời bỏ mộ trống trở về nhà, thì Maria còn nán lại bên ngoài khóc thương Chúa. Thình lình Chúa Phục Sinh hiện ra với bà nhưng Maria vẫn không nhận ra. Chúa dùng giọng nói quen thuộc gọi tên bà, Maria vui sướng nhận biết Chúa thực (Ga 20:16).

=>Ánh sáng Phục Sinh của Chúa xua tan mọi suy nghĩ còn giới hạn của nhân loại.

4. Ngay sau đó Chúa Phục Sinh còn hiện ra nhiều lần khác, tái tạo ánh sáng Niềm Tin cho nhân thế. ·

* Ngài sống lại hiện ra với các phụ nữ ra thăm mộ (Mt 28:9-11).

* Ngài sống lại gặp gỡ hai môn đệ trên đường đi làng Emmaus (Lc 24:13-35). ·

* Ngài sống lại xuất hiện với các môn đệ Nhóm Mười Hai thân thương (Ga 20:19-29), giơ tay cho họ xem cùng ăn uống bình thường trước mặt các ông (Lc 24_36-43).

* Ngài sống lại hiện ra ưu ái với bảy môn đệ đi đánh cá ở biển hổ Tiberia (Ga 21:1-14).

Rõ ràng qua việc sống lại hiển vinh từ trong cõi chết, Đức Giêsu Kitô đã:

o Gia tăng ánh sáng Đức Tin cho những tâm hồn thiện chí, vốn trung tín yêu mến Chúa xưa nay.

o Lan tỏa ánh sáng Ơn Cứu Độ cho nhân loại được tái sinh làm Con Thiên Chúa.

o Gieo niềm Hy Vọng, Cậy Trông vào Thiên Chúa cho những ai còn ngồi trong bóng tối tử thần.

C. Bước đi theo Thần Khí để ở trong ánh sáng Chúa luôn mãi.

Caroline Aigle sinh ngày 12/9/1974 tại Pháp nhưng trải qua thời thơ ấu ở Phi Châu, nơi thân phụ cô là bác sĩ quân y. Vốn tính hiếu động, ngay lúc 14 tuổi, Caroline ghi danh học trường Thiếu Sinh Quân rồi gia nhập trường Không Quân khoảng hai năm sau đó. Năm 1997, khi sắp tốt nghiệp Đại Học, được tin lần đầu tiên chính phủ tuyển phụ nữ làm phi công lái máy bay tiêm kích, Caroline không ngần ngại nộp đơn thi tuyển. Lòng can đảm, nghị lực hăng say, đã giúp cô được phân công lái chiếc Mirage 2000.

Năm 2002, Caroline gặp và yêu Christophe cũng là một phi công chiến đấu. Họ thành hôn với nhau hạnh phúc đón con trai đầu lòng tên Marc năm 2005. Song le, niềm vui ấy không kéo dài bao lâu khi cô mang thai đứa con thứ hai, Caroline bất ngờ mắc chứng bệnh nguy hiểm. Cô liên tục chiến đấu với bệnh tật để bảo vệ mầm sống được 5 tháng tuổi, đang lớn lên từ từ trong bụng mình. Khi vi trùng ung thư càng lúc càng tiến triển với tốc độ chóng mặt, Caroline gắng kiên trì chịu đựng quyết tâm chống chọi. Cô biết rằng từng giây phút cô chiến đấu là từng cơ hội sống sót của đứa bé càng tăng thêm. 

Ngày 03/8/2007, khi bào thai được 5 tháng rưỡi, sức khỏe Caroline bổng trở nên nguy kịch. Ê kíp bác sĩ quyết định cô cần được giải phẩu gấp rút, để cứu lấy mầm sống đang thành hình. Người mẹ chấp nhận hy sinh mọi sự để con được chào đời. Quả nhiên, bé Gabriel mở mắt an toàn được mang đến cho người mẹ. Caroline ôm con trong lòng, thì thầm con âu yếm, ở bên con yêu đúng 18 ngày, rồi qua đời.

Tên AIGLE trong tiếng Pháp có nghĩa là đại bàng. Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy đã truy tặng huân chương cao quý cho Caroline: một con chim đại bàng đã dũng cảm giang cánh bay thẳng vào cõi hư vô, trong cuộc chiến đấu cuối cùng.  

ð Tình yêu và sự hy sinh của người mẹ cưu mang đứa con thơ, đã làm cho sự sống được triển nở.

ð Là một tín hữu Công giáo, Caroline can đảm gạt đi lời khuyên phá thai của bác sĩ, để con yêu sớm chào đời ba tháng. Cô chịu nhiều đau đớn trong trận chiến ấy và cô đã chiến thắng.

ð Henry Drummond (người Scotland) nói: “Không có hạnh phúc trong việc sở hữu hay đón nhận. Hạnh phúc chỉ có thực sự khi bạn dám cho đi và sống vì người khác”.  

Chỉ trong Thần Khí Chúa sáng soi và nâng đỡ, con người mới hoạt động tích cực làm vinh danh Chúa.  

1. Nghe lời người khách lạ mới quen dọc đường, ông ta giải thích Kinh Thánh đoạn cầm bánh bẻ ra trước mặt họ: đôi mắt hai môn đệ chợt bừng sáng nhận ra Thầy, thì Thầy biến mất (Lc 24:31).

2. Được nhận bí tích Thánh Tẩy trong đêm Vọng Phục Sinh, tâm hồn các dự tòng được gia tăng ân sủng: học hỏi, hiểu biết và sống Đạo những ngày kế tiếp trưởng thành hơn.

3. Bị ngã ngựa mù mắt ở Damas, thánh tông đồ Phaolo phải mất một thời gian ẩn dật học biết Chúa và nhận lại ánh sáng Thần Linh (Cv 22:1-21) rồi mới đi rao giảng cho dân ngoại ở phương xa.

4. Trong một thị kiến riêng, tông đồ Phêrô nhận thánh ý Chúa từ trời đến nhà ông Cornelio. Tại đó, Thần Khí Chúa thúc đẩy Phêrô làm phép Rửa cho dân ngoại lần đầu tiên (Cv 10:44-48).

5. Thần Khí Chúa thôi thúc Phillipphê chạy theo xe ngựa của viên thái giám xứ Ethiôpi đang đọc Kinh Thánh. Ngài giải thích giúp quan hiểu Lời Chúa và làm phép Rửa cho ông luôn (Cv 8:38).

6. Phaolô và Sila bị giam trong tù. Thình lình có một cơn động đất mạnh, cửa ngục mở toang, viên cai ngục toan tự tử vì nghĩ rằng tù nhân trốn trại hết. Song Phaolo trấn an ông ta cùng giảng giải đạo lý giúp ông tin Đấng Cứu Độ và cả gia đình ông đều nhận được phép Rửa (Cv 16:25-34).

Đi trong ánh sáng của Ơn Chúa Thánh Linh tác động, nhiều người nhận biết Chúa tỏ tường. Họ vui nhận Phép Rửa, đổi mới con người mình và canh tân cuộc sống theo Lời Chúa mời gọi.  

D. Lời Nguyện kết thúc.

Lạy Chúa Kitô Phục Sinh! Chúa là đường, là sự thật và là sự sống. Xin giúp con luôn tìm về bên Chúa, ngập tràn ánh sáng Đức Tin đưa con vào chính lộ. Xin hướng dẫn con đêm ngày đi theo Thần Khí Chúa, hầu đạt tới cuộc sống đời đời, nơi không còn đau khổ và nước mắt, không còn u mê lầm lạc trong tăm tối triền miên. AMEN. mục lục

KHOẢNG TRỐNG ĐẦY Ý NGHĨA

Trầm Thiên Thu

Ngôi Mộ Chứng Minh Đức Chúa Sống Lại
Tín Nhân Loan Báo Tin Mừng Phục Sinh.

Đúng như lời Đức Kitô nói trước, bây giờ đã ứng nghiệm. Vâng, Ngài đã bị giết chết công khai, nhưng thực sự Ngài đã sống lại, niềm tin của chúng ta được bảo đảm: “Thiên Chúa đã làm cho Chúa Kitô sống lại; chính Người cũng sẽ dùng quyền năng của mình mà làm cho chúng ta sống lại.” (1 Cr 6:14) Vô cùng kỳ diệu, chính “ngôi mộ trống trơn” lại chứa đựng tất cả sự sống. Thiên thần đã nói với mấy phụ nữ đạo đức: “Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết? Người không còn đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi.” (Lc 24:5-6) Sự thật tiếp tục được củng cố.

Vì yêu thương, cha mẹ muốn có gì đó để lại cho con cái. Có người để lại tiền bạc, nhưng các cha mẹ tri thức và khôn ngoan thì không cho con cái thừa kế tài sản mà để lại cho chúng thứ quý giá hơn, không thể mua bằng tiền bạc – kiến thức và sống lương thiện.

Có câu chuyện thật lạ tại một hội nghị tôn giáo, người ta đặt câu hỏi: “Sau khi chết, thủ lĩnh tôn giáo của quý vị để lại di sản gì?” Lãnh đạo các tôn giáo lần lượt trả lời. Người thì nói di sản là chút tro tàn, người thì nói là chút hài cốt, người thì nói là mấy cọng râu, nhúm tóc, manh áo, chiếc nhẫn, hoặc vật này, vật nọ. Cuối cùng, vị lãnh đạo Công giáo nói: “Chúa Giêsu của chúng tôi để lại di sản là NGÔI MỘ TRỐNG.” Rất đặc biệt và rất tuyệt vời!

Ngôi mộ trống nhưng không rỗng tuếch mà đầy ắp mọi thứ. Mắt thường không thể thấy nhưng đó là sự thật minh nhiên, không thể chối cãi, lịch sử và khoa khảo cổ đã cho thấy càng ngày càng có nhiều chứng cớ chứng tỏ thực sự có một Ông Giêsu đã bị đóng đinh, được mai táng và đã sống lại – dù sự thật này bị một số người bóp méo, vì họ cố chấp hoặc vô thần.

Thật vậy, chính các thượng tế và các kỳ mục đã bàn bạc với nhau là cho lính một số tiền lớn và bảo: “Các anh hãy nói như thế này: Ban đêm đang lúc chúng tôi ngủ, các môn đệ của hắn đã đến lấy trộm xác. Nếu sự việc này đến tai quan tổng trấn, chính chúng tôi sẽ dàn xếp với quan và lo cho các anh được vô sự.” (Mt 28:13-14) Lính đã nhận tiền và làm theo lời họ dạy. Kẻ trên hèn thì kẻ dưới nhát. Vô cùng hèn hạ!

Tuy nhiên, khắp nơi trên thế giới này vẫn có các nhân chứng sống động, cụ thể trước tiên là ông Phêrô – người đã từng sợ hãi khi bị phát hiện là người cùng phe với Chúa Giêsu, và rồi đến Phaolô – người đã từng phủ nhận Thiên Chúa. Kinh Thánh cho biết: “Một hôm, tại nhà ông Conêliô, ông Phêrô lên tiếng: “Quả thật, tôi biết rõ Thiên Chúa không thiên vị người nào. Nhưng hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì dù thuộc bất cứ dân tộc nào, cũng đều được Người tiếp nhận.” (Cv 10:34-35) Thiết tưởng cũng nên nhớ rằng Kinh Thánh là bộ sách được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất trên thế giới, và được bán chạy nhất thế giới, ước tính mỗi năm có thêm 100 triệu bản. Điều đó chứng tỏ rằng Kinh Thánh nói thật, không hư cấu hoặc bịa đặt.

Một Simôn đã thành Phêrô, và Phêrô hôm nay hoàn toàn khác Phêrô hôm qua, kẻ sợ hãi đã biến thành người can đảm. Chính ông đã tới nơi chôn cất Đức Giêsu Kitô và ông thấy ngôi mộ trống trơn. Vì thế, ông tin và ông có trách nhiệm phải chia sẻ niềm tin đó với người khác. Ông hùng hồn nói về Đức Kitô: “Quý vị biết rõ biến cố đã xảy ra trong toàn cõi Giuđê, bắt đầu từ miền Galilê, sau phép rửa mà ông Gioan rao giảng. Đức Giêsu xuất thân từ Nadarét, Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Người. Đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế, bởi vì Thiên Chúa ở với Người.” (Cv 10:37-38)

Dẫn chứng rất cụ thể, ông nói một lèo: “Chúng tôi đây xin làm chứng về mọi việc Người đã làm trong cả vùng dân Do Thái và tại chính Giêrusalem. Họ đã treo Người lên cây gỗ mà giết đi. Ngày thứ ba, Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy, và cho Người xuất hiện tỏ tường, không phải trước mặt toàn dân, nhưng trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại. Người truyền cho chúng tôi phải rao giảng cho dân, và long trọng làm chứng rằng chính Người là Đấng Thiên Chúa đặt làm thẩm phán, để xét xử kẻ sống và kẻ chết. Tất cả các ngôn sứ đều làm chứng về Người và nói rằng phàm ai tin vào Người thì sẽ nhờ danh Người mà được ơn tha tội.” (Cv 10:39-43) Tin mừng Chúa Giêsu Phục Sinh là tin thật, không là tin giả, là sự thật tuyệt đối, không thể chối cãi, bất cứ ai từ chối đều là cố chấp.

Đức tin của chúng ta là có tính tông truyền, thật diễm phúc vì chúng ta đang cố gắng sống niềm tin đó. Mừng lễ Chúa Phục Sinh là dịp chúng ta xem lại đức tin của mình và tái xác định: “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.” (Tv 118:1) Chúng ta chỉ là con “số không” to lớn, thế nên càng phải tạ ơn, bởi vì “tay hữu Chúa đã ra oai thần lực, tay hữu Chúa giơ cao, tay hữu Chúa đã ra oai thần lực.” (Tv 118:16) Kinh Thánh xác định: “Không thuốc nào chữa cho con người khỏi chết.” (Kn 2:1) Chúng ta sẽ chết, nhưng chúng ta không chết tủi nhục, mà sẽ được sống lại và sống mãi nhờ Đấng Phục Sinh. Như vậy, ngoài việc tạ ơn, chúng ta còn phải tự hứa: “Tôi không phải chết, nhưng tôi sẽ sống, để loan báo những công việc Chúa làm.” (Tv 118:17)

Có điều rất lạ lùng: “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta.” (Tv 118:22-23) Niềm vui nối tiếp nỗi mừng, không thể không chia sẻ với người khác: “Đây là ngày Chúa làm ra, nào ta hãy vui mừng hoan hỷ.” (Tv 118:24)

Alleluia – Hãy vui mừng! Và như một mệnh lệnh, Thánh Phaolô nói: “Anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới.” (Cl 3:1-2) Phải thế thôi, không thể khác được, bởi vì chính Chúa Giêsu xác định: “Tôi không thuộc về thế gian này.” (Ga 8:23) Chúng ta là môn đệ, là con cái, là những người đi tìm Đấng Phục Sinh, chắc chắn chúng ta cũng phải một lòng một dạ “tìm kiếm và ái mộ những sự trên trời” để được vĩnh sinh với Chúa Giêsu Phục Sinh.

Tại sao? Thánh Phaolô cho biết: “Anh em đã chết, và sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Đức Kitô nơi Thiên Chúa. Khi Đức Kitô, nguồn sống của chúng ta xuất hiện, anh em sẽ được xuất hiện với Người, và cùng Người hưởng phúc vinh quang.” (Cl 3:3-4) Xác đất vật hèn, chúng ta chỉ là bùn đất, rác rưởi, nhơ nhớp và hôi tanh, vậy mà chúng ta lại được hưởng phúc vinh quang cùng với Đấng Phục Sinh Giêsu Kitô. Cứ ngỡ là huyền thoại mà lại là sự thật. Rất kỳ diệu, ngoài sức tưởng tượng của phàm nhân.

Nhưng phải luôn cẩn trọng, kẻo mà ảo tưởng, bởi vì ảo tưởng sinh ra kiêu ngạo, kiêu ngạo sinh ra cố chấp, cố chấp thì cùng đường. Thánh Phaolô căn dặn: “Lý do khiến anh em vênh vang chẳng đẹp đẽ gì! Anh em không biết rằng chỉ một chút men cũng đủ làm cho cả khối bột dậy lên sao? Anh em hãy loại bỏ men cũ để trở thành bột mới, vì anh em là bánh không men. Vì thế, chúng ta đừng lấy men cũ, là lòng gian tà và độc ác, nhưng hãy lấy bánh không men, là lòng tinh tuyền và chân thật, mà ăn mừng đại lễ.” (1 Cr 5:6-8) Mừng đại lễ không là mâm cao, cỗ đầy, với những món hấp dẫn, quan trọng là tâm hồn chúng ta có thực sự phục sinh hay chưa.

Chuyện ngôi mộ trống và chuyện những người đi tìm Đấng Phục Sinh được trình thuật Ga 20:1-9 kể ngắn gọn, nhưng vẫn đầy đủ các chi tiết: Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Mácđala đi đến mộ thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Chắc hẳn lúc đó bà hốt hoảng và quan ngại lắm, phụ nữ mà, thấy gì khác lạ là thấy lo lắng rồi. Thế nên bà liền chạy về gặp ông Simôn Phêrô và người môn đệ Đức Giêsu thương mến. Bà thông báo khẩn: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ, và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu.” Nghe nói vậy, cả Phêrô và Gioan vội vã chạy ngay ra mộ. Có lẽ họ cũng hoang mang, cũng nghĩ có kẻ nào đó đã lén lấy thi hài Thầy đem đi mất tiêu!

Họ cùng rán sức chạy, nhưng Gioan trẻ hơn nên chạy mau hơn Phêrô và tới mộ trước. Gioan cúi xuống, thấy những băng vải còn đó, nhưng không vào. Phêrô đến sau và vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải ở đó, có cả khăn che đầu Đức Giêsu nhưng khăn này cuốn lại, xếp riêng một nơi. Thế thì không thể có kẻ lấy xác Thầy. Kẻ trộm nào cũng sợ, vội vàng vơ vét chứ đâu có bình tĩnh mà xếp gọn gàng khăn khố như thế. Chắc chắn Thầy phục sinh thật rồi!

Sau đó Gioan cũng đi vào, cũng thấy, cũng tin. Mới trước đó, hai ông còn lo sợ, chưa hiểu hết lời Kinh Thánh đã nói trước rằng Đức Giêsu phải trỗi dậy từ cõi chết. Giờ đây, ngôi mộ trống đã cho thấy hai năm rõ mười, họ an tâm trở về, hết lo sợ, khấp khởi vui mừng, can đảm làm chứng nhân: Thầy Giêsu đã phục sinh vinh quang.

Lạy Chúa Cha toàn năng, Con Một Ngài là Đức Kitô đã phục sinh vinh hiển, thật diễm phúc cho chúng con. Xin cho linh hồn chúng con được sống lại thật, giúp chúng con can đảm làm chứng về Đấng Phục Sinh. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. mục lục

Thưởng thức Hallelujah của Händel (1685-1759) với phong cách độc đáo:

THẮP SÁNG SỨ ĐIỆP TÌNH THƯƠNG

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Đêm canh thức Vượt qua khởi sự bằng nghi thức thắp sáng nến Phục sinh và ba lần chủ tế vừa giơ cao nến sáng vừa tung hô: "Ánh sáng Chúa Kitô". Đó là ánh sáng những ngọn nến nhấp nhô giữa trời đêm. 

Với phụng vụ, ánh sáng ấy biểu trưng cho điều mà chủ tế tuyên xưng: "Ánh sáng Chúa Kitô". Vì thế, ánh sáng trong đêm gọi về ý nghĩa thiêng liêng và thánh thiện: Chúa Kitô chiếu giãi Ánh Phục sinh giữa những đêm tối trần gian.

Những đêm tối ấy chính là bóng tối trong đời mà thế giới và từng người có thể đang đối mặt. Nó là tội lỗi, là cám dỗ, hoặc những khổ đau, những lúc thiếu vắng niềm tin, bị chao đảo, bị mất phương hướng.

Đêm tối ấy còn là những nghi kỵ mà những người thân trong gia đình dành cho nhau. Vợ chồng không đủ niềm tin vào nhau, gia đình ly tán. 

Bóng đêm như ập xuống cuộc đời mỗi người khi bị tấn công bởi những thất bại, bởi chạm phải sự nham hiểm của lòng người, hay mất mát trong việc làm ăn, lúc bệnh tật, lúc rơi vào hoàn cảnh bi đát mà không còn chỗ nương tựa...

Ngay lúc này, dù ơn Phục sinh đã soi rọi, dịch tễ vẫn như vũ bão, tàn sát cơ man đồng loại của mình. Người chết, chết trong đơn độc, trong tủi phận. 

Nhiều quốc gia, bệnh nhân tăng đến nỗi không kịp chữa trị, đành chọn lựa những ưu tiên về sức khỏe, tuổi tác và cơ may sống sót cao hơn...

Hơn một năm, đại dịch toàn cầu đã khiến nhân loại phải chứng kiến nhiều bi thương. Trong đó, người thân còn sống thậm chí không thể chứng kiến người thân chết. Họ biết người thân chết mà không biết làm sao cứu chữa...

Bóng đêm của đại dịch khắc sâu vết hằn không dễ xóa trong lịch sử nhân loại. Bóng đêm đau đớn. Bóng đêm không gồm những giọt sương nhưng ngập tràn nước mắt. Bóng đêm ghê rợn. Bóng đêm mang đầy nỗi chết chóc...

Bóng đêm dày đặc. Nó khiến bao nhiêu người hoang mang, nghi nan, nao núng, mất niềm tin vào cuộc sống, mất đức tin vào Đấng mình tôn thờ.

Với bản thân, trải qua quá nhiều đêm tối trong đời mình, trong đời những người thân và của biết bao sinh linh mà mình chứng kiến, cũng như chính trận dịch thiên niên kỷ, tôi càng thâm tín: Ánh Phục sinh được công bố giữa thực tại của đời sống phủ đầy bóng đêm, càng khiến niềm tin Phục sinh thật ý nghĩa. 

Dù đi giữa đường hầm, vẫn có đó Ánh sáng. Bên trên đường hầm, Ánh Phục sinh chan chứa thắp đầy ủi an, hy vọng, tình yêu, lẽ sống, ý nghĩa sống... 

Bởi đó chính là "Ánh sáng Chúa Kitô". Vì thế, đang khi mừng lễ Phục sinh, mừng mùa Phục sinh, tôi thấy mầu nhiệm Phục sinh đang vượt thắng, đang soi rọi từng ngõ ngách của thế giới này.

Có một đáng tiếc: Tôi từng nghe những nói về "thế giới Kitô giáo" (châu Âu), không phải cảm thông nhưng cười cợt giữa lúc dịch hoành hành dữ dội...

Với cái nhìn của loài người, hôm nay người này có thể tự đắc vì chiến thắng của bản thân, người kia có thể đang lầm lủi bước đi. 

Nhưng với đức tin Kitô của mình, tôi muốn trưng cho mọi người, và nếu có thể, nói với cả loài người rằng, chúng ta đang giáp mặt cùng đêm tối dày đặc. Chúng ta đang trải qua đau thương của lịch sử cứu độ mà người Dothái - dân riêng của Thiên Chúa - xưa phải đối diện: hết nô lệ đến lưu đày; hết lưu đày này đến lưu đày khác; tất cả những thứ thiêng liêng nhất: tôn giáo, quốc gia, dân tộc, lịch sử, văn hóa, luật pháp của riêng mình... đều bị cáo chung.

 Cho nên quá ý nghĩa, khi giữa bóng đêm mà chúng ta mừng lễ Phục sinh; giữa bóng đêm mà chúng ta thắp sáng nến Phục sinh; giữa trời đêm dày đặc, chúng ta tuyên xưng Chúa sống lại. Giữa bóng đêm, niềm tin chúng ta không giảm mà như tăng cao...

Đường hy vọng ở phía trước. Dân Dothái khi đi trong bóng tối đã không nhìn thấy bất cứ điều gì. Nhưng sau khi mọi sự đã đi qua, họ mới nhận ra, bàn tay Chúa dẫn đưa quá diệu kỳ.

Có những lúc, Chúa phải đánh đòn chúng ta, Chúa phải giáo dục chúng ta. Chúa phải dùng ngọn roi thật đau, thật thấm thía để lôi chúng ta về phía Chúa.

Nếu bây giờ, ai đứng ngoài nhìn vào những quốc gia có truyền thống Kitô - lại có quá nhiều người ngã xuống, nhiều người còn lại thì đau khổ, gục ngã - lại mỉa mai họ bị đày đọa, thì đó là cái nhìn của con người, cái nhìn nông nổi.

Cái nhìn vô cảm ấy đúng hay sai, tôi không xét đoán. Chỉ xin ghi nhớ: Mỗi người có một thân phận. Thân phận từng người không do mình nắm số mệnh. Ai cũng tin, số mệnh của đời người do một Đấng quyền năng khác nắm giữ.

Đứng trước những hoàn cảnh đau thương, tê tái, là người đúng nghĩa thì không phải dùng những lời sát phạt, đả kích, gièm pha để tuôn ra trong lúc này.

Nếu là người đúng nghĩa, chúng ta sẽ có ánh nhìn cảm thông, có đôi mắt ứa lệ cùng, có sự sớt chia, thương cảm. 

Xin Chúa ban cho những ai đang lâm hoàn cảnh khổ đau, những gia đình, những phận người đang bị bóng đêm đè bẹp được nhìn thấy Ánh sáng Phục sinh là chính Chúa Kitô chiến thắng mà Hội Thánh  đang công bố.

Xin Chúa ban cho từng người niềm hy vọng, để giữa cõi đời, nếu còn đó ngọn roi Chúa giáo dục, sẽ bám vào Chúa, tin tưởng Chúa nhiều hơn.

 Đặc biệt, những ngày ôn dịch đen tối, từng người vững vàng trong Ánh sáng Phục sinh của Đấng Toàn Năng, để cùng phục sinh vinh hiển với Chúa. mục lục

HÃY TRỖI DẬY VÌ NGƯỜI ĐÃ PHỤC SINH

Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

Anh chị em thuộc Giáo Hội Công Giáo bên Đông Phương có thói quen nhắc nhở nhau trong ngày mừng lễ Phục sinh: Chúa đã sống lại thật. Và, ngay cả chúng ta, những người may mắn sống trên đất Úc cũng bị ảnh hưởng bởi nền văn hoá Phương Tây, nên kể từ sau Lễ Vọng Phục Sinh, mỗi khi gặp nhau, chúng ta cũng trao cho nhau lời chúc mừng

Happy Easter. Đây là thói quen tốt. Nhưng tôi e ngại đó chỉ là những công thức, những ngôn từ suông, không chứa đựng một sứ điệp hay một chút cảm xúc gì!

Trong giây phút này, tôi không dám nói thêm về các giáo điều hay giải thích thêm về ý nghĩa của mầu nhiệm mà chúng ta đang mừng. Dù có muốn cũng chẳng biết nói gì!

Tuy nhiên, qua mấy ngày vừa qua, tôi vẫn loay hoay tự hỏi tại sao một người vô tội như Đức Giê-su mà Philato đã không dám kết án lại bị chết như một tử tội. Nói theo ngôn ngữ của các cháu hôm nay ‘it’s not fair – thật là bất công’

Thật vậy làm sao chúng ta có thể nói ‘it is fair’ khi còn biết bao nhiêu người vô tội vẫn bị chết thảm thương. Cụ thể, vào Chúa Nhật Lễ Lá, ngày 28 tháng 3 vừa qua, một cuộc đánh bom nhắm vào những người Công giáo, họ vừa tham dự Thánh lễ tại nhà thờ chính tòa Thánh Tâm Chúa Giê-su trên đảo Sulawesi làm cho ít nhất 14 tín hữu đã bị thương. Tưởng cũng nên nhắc lại, vào tháng 5 năm 2018, ba năm trước đây, một số nhà thờ bên Indonesia đã bị đánh bom. Số phận của những tín hữu bên Indoneisa và các nước Trung Đông vẫn bị đe dọa. Họ nhận đuợc những lời hăm dọa của một số tổ chức cực đoan, cuồng tín nhằm chống phá các sinh hoạt của Hội Thánh Công Giáo tại một số quốc gia mà số người theo Chúa chỉ là thiểu số.

Gần đây, trên các bản tin chúng ta được nghe về số phận của các thường dân vô tội nhất là các trẻ em vẫn đang bị giết bên Myanmar!

Ngoài ra, trên thế giới vẫn còn những người đang chết dần mòn vì nghèo đói. Vẫn còn những người đang kéo lê cuộc sống vì những căn bệnh hiểm nghèo. Vẫn còn những trẻ thơ đang bị giam kín trong các trại giam của cô đơn; bị bỏ rơi và thiếu tình thương của các bậc sinh thành. Vẫn còn những trái tim đang tan nát vì bị phản bội hay bị lợi dụng. Vẫn còn những con người không còn tương lai, hay tương lai đang bị chôn vùi bởi những nấm mồ đen tối không lối thoát. Và, còn bao nhiêu cái ‘vẫn đang xẩy ra’ như sự hoành hành của Covid-19 vẫn đe dọa cuộc sống của con người tại hầu hết các nơi trên thế giới và còn nhiều chuyện riêng tư ‘đang xẩy ra’ xung quanh chúng ta nữa!

Đó là những câu chuyện lớn. Còn trong cuộc sống, chúng ta đã trải qua các kinh nghiệm bi thương như bị lâm vào cảnh cô đơn, bị ruồng rẫy, bị phản tội, bị lợi dụng, bị phụ tình, nạn nhân của ghen tuông, bị nhạo báng, chịu sỉ nhục, sống trong tình trạng tiến thoái lưỡng nan… muốn nói ra mà không biết giải thích làm sao. Một sự im lặng, câm nín không lối thoát bao vây đời mình. Và lúc đó chúng ta chỉ thấy cuộc đời chỉ là màn đen, bóng tối đang bao phủ và hầu như không lối thoát.

Trong cảnh ngộ đó, nhiều người đã tìm một giải pháp để thoát; họ không còn đủ tỉnh táo để nhận ra đâu là việc cần làm, đâu là việc nên tránh; qua việc tìm kiếm để được giải thoát họ chỉ muốn không còn bị đau khổ nữa; nói khác đi họ đã quá đau, trong cơn đau quằn quại của thể xác, tâm trí hoảng loạn, họ chỉ muốn hết khổ. Còn chúng ta, những tín hữu của Chúa biết tìm vào đâu?

Như các Tông đồ và các tín hữu của Giáo Hội tiên khởi, chúng ta tuởng mọi sự như đã kết thúc vào chiều ngày Thứ sáu Tuần Thánh. Đức Kitô trần trụi trên Thập giá tưởng như cũng bị bó tay. Làm như sự ác đã chiến thắng! Nhưng, thật ngạc nhiên! Vì, chính lúc đó, Thiên Chúa lại can thiệp.

Thưa anh chị em, nhất là những ai đã từng trải qua một vài kinh nghiệm nói trên hãy cùng tôi đi thêm một bước nữa, bước mà chúng ta cùng với toàn thể Hội Thánh cử hành hôm nay.

Đức Giê-su đã sống lại ngay trong lúc mà chúng ta tưởng như Người đã bị bí lối. Người vẫn đang sống trong hoàn cảnh bó tay mà chúng ta đang phải đối diện. Nhận ra cảm nhận như thế, mới biết Phục sinh là ánh sáng soi đường. Có kinh nghiệm như thế mới biết sự sống cần và quan trọng như thế nào.

Sự thinh lặng mà Hội Thánh mời gọi chúng ta đi vào từ khi Chúa chết cho đến bây giờ nhắc cho chúng ta biết về thân phân ‘bị bó tay’ của mình: không đường đi, không lối thoát. Chúng ta bị bó tay, Đức Kitô trần trụi trên Thập giá tưởng chừng như cũng bị bó tay… Nhưng chính lúc đó là lúc Thiên Chúa làm việc và can thiệp vào tình trạng ‘bị bó tay’ của nhân loại và của riêng mỗi người chúng ta.

Ánh sáng Phục Sinh đã bùng lên trong đêm tối của cuộc đời.

Ánh sáng Phục Sinh đã đem đến cho cuộc đời một ý nghĩa mới, mục đích mới. Và chỉ có ai cảm nhận được sự can thiệp đó của Thiên Chúa mới biết niềm vui là gì và từ đó mới có thể đem niềm vui cho người khác.

Chúa Phục sinh không cất đi những bi thảm của cuộc đời tôi; nhưng chính Người đã ôm lấy những bi thảm đó. Tôi không còn cô đơn, ngã gục nhưng Phục sinh đã giúp tội nhận ra rằng Chúa đang hiện diện và ôm tất cả những nghịch cảnh của cuộc đời vào lòng Người và ban cho tôi sức mạnh để nâng tôi dậy.

Chúa Phục Sinh đem đến cho tôi niềm hy vọng. Hy vọng và xác tín rằng ngay lúc đen tối nhất Thiên Chúa không bỏ rơi Con Ngài thì Ngài cũng không bỏ rơi tôi. Can đảm, mạnh dạn mà tiến bước là thái độ sống mà tôi học được qua Phục sinh.

Phục Sinh giúp tôi hiểu rằng sức mạnh oai phong của Thiên Chúa giúp tôi chấp nhận thực tại của đời sống như: bị hiểu lầm, bị đối xử thiếu công bằng; ngay cả lúc tôi trao đi tình yêu của mình, nhưng bù lại bằng sự lạnh nhạt hay phản bội của đối phương; và nhất là không còn sức để đối diện với sự thật về đời mình, về người khác…. Đức Ki-tô Phục sinh giúp tôi chỗi dậy đễ chấp nhận với niềm tin rằng Ngài vẫn sống trong cảnh ngộ của tôi.

Chúng ta đừng nghĩ rằng Người đã rời xa tôi. Không, Người vẫn sống, một cách thật thầm lặng – như hạt lúa gieo vào lòng đất - mục nát – chờ ngày trổ sinh hoa trái

Thưa anh chị em,

Chúng ta không thể tách cuộc khổ nạn của Chúa trong ngày thứ Sáu, sự thinh lặng hầu như quá khó hiểu của ngày thứ Bẩy ra khỏi mầu nhiệm Phục Sinh mà chúng ta đang cử hành. Tất cả được liên kết trong bàn tay thật tuyệt diệu của Thiên Chúa, Đấng ban cho chúng ta sự sống và sự sống thật sung mãn để chúng ta vào đời với tâm hồn vui tươi, hân hoan vì có Chúa Phục sinh ở cùng.

Đây không phải là điều mà chúng ta đạt được. Nhưng hoàn toàn là do ân huệ của Thiên Chúa, của Chúa Thánh Thần, sức riêng sao đạt được. Vậy xin Chúa sai Thần Khí Chúa xua đuổi lối sống bi quan yếm thế để chúng con tin vào sự hiện diện của Chúa, đấng đang sống trong cảnh ngộ của từng cá nhân, rồi bước đi trong yêu thương.

Tất cả đang đợi chờ ơn Phục Sinh. Thế giới đang bị ảnh hưởng bởi lối sống vô cảm vẫn cần niềm hy vọng; những người đang trải qua những bi kịch của đời sống đang cần đến ánh sáng. Vậy chúng ta hãy mạnh dạn mà tiến bước vì có Chúa Phục sinh đang ở cùng. Alleluia. mục lục

ĐỐI THOẠI PHỤC SINH

[Tình khúc Ga 20:11-18]

– Sao cô khóc, Maria!

Cô có điều gì đau khổ hay sao?

– Ông ơi! Tôi khổ tâm nhiều

Bởi vì có kẻ làm liều đêm qua

Xác Thầy chí thánh Giê-su

Người ta đã lấy đem đi mất rồi!

– Tại cô không nhớ đó thôi

Thầy Giê-su nói rạch ròi trước đây

Rằng Ngài bị giết chẳng sai

Nhưng Ngài sống lại vào ngày thứ ba

– Ôi chao, chỉ bởi quá lo

Nên con đã chẳng nhận ra được Thầy

Chúa ơi, Thầy vẫn còn đây

Vậy mà con tưởng có ai làm liều!

– Bây giờ đi báo tin mau

Cho mọi người biết Con Yêu Chúa Trời

Chính Ngài đã sống lại rồi

Thật đúng như lời Kinh Thánh cho hay

– Thưa Thầy, con sẽ đi ngay

Gặp Thầy, con thấy lòng đầy mừng vui

Con không còn thấy ngậm ngùi

Rạng rỡ môi cười, chẳng khóc nữa đâu! mục lục

Viễn Dzu Tử

TUYÊN XƯNG CHÚA SỐNG LẠI

(Suy niệm từ Mc16.1-8// Ga 20.1-9// Lc24.13-35)

Chúa sống lại, như lời đã phán hứa

Halleluia! Halleluia!!!

Khắp đất, trời vang dội tiếng hoan ca

Và nhân loại reo mừng ơn Cứu Độ!!!

Tuần Thương Khó, tham gia tích cực

Lễ Phục Sinh rạo rực trong lòng

Cảm suy mầu nhiệm hiệp thông

Các bà phụ nữ lập công bất ngờ…

Say sứ vụ: Tông đồ cao cả

Quyết hiến thân truyền bá Tin Mừng

Lời Thầy ai dám nhửng nhưng

Rao truyền khắp chốn, tận cùng thế gian.

Người tín hữu, dân ngoan Giáo Hội

Luôn giữ mình: tội lỗi tránh xa

Đường trần: can đảm vượt qua

Phục sinh trong Chúa chính là chứng nhân... mục lục

(Thế Kiên Dominic)

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan