TÔN SÙNG MẪU TÂM

12-06-2021 215 lượt xem

(Is 61,9-11; lc 2,41-51)

Tháng Năm, tháng Đức Bà, tháng Sáu, Tháng Trái Tim Cực Thánh Chúa Giêsu và các Linh Mục. Điều này là do mối liên hệ với Lễ Trọng kính Mình Thánh Chúa dẫn đến Lễ Trọng kính Thánh Tâm hầu như luôn luôn được cử hành vào tháng Sáu. Tiếp liền sau lễ Thánh Tâm, Giáo Hội cử hành lễ Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ vào ngày thứ Bảy sau Chúa nhật II lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, cho thấy việc đền tạ Trái Tim Cực Thánh Chúa Giêsu đi liền với việc đền tạ trái tim vô nhiễm Đức Mẹ.

Trái tim vẹn sạch Đức Bà Maria hay Trái tim vô nhiễm nguyên tội Đức Maria hay Khiết tâm Đức Bà Maria là dấu chỉ và biểu tượng nói lên sự thương cảm và vô tội của mẹ Maria. Đó cũng là một biểu tượng để các kitô hữu tôn sùng.

Lòng sùng kính Trái tim Vô nhiễm Đức Mẹ là một truyền thống cổ xưa, gắn liền với với đoạn văn trong Tin Mừng Thánh Luca nói đến trái tim của Đức Maria : “Maria giữ kỹ mọi điều ấy và hằng ngày suy nghĩ trong lòng” (Lc 2,19) ; “Một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn Bà” (Lc 2, 35). Dịp Chúa giáng sinh tại Bêlem và dịp Chúa bị lạc năm 12 tuổi (Lc 2,51) là hai dấu mốc Mẹ ghi nhớ trong tim để suy gẫm. Các Thánh Giáo Phụ cũng như nhiều vị thánh khác và các đức giáo hoàng đã coi những lời Kinh Thánh trên tuy ngắn gọn, nhưng là nền tảng chính yếu cho lòng tôn sùng Trái Tim Đức Mẹ. Bởi nó chứa đựng tình mẫu tử thiêng liêng của Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu với trái tim của một người mẹ đối các linh mục nói riêng và nhân loại nói chung.

Ý nghĩa hình, tượng trái tim Đức Mẹ

Nhìn vào ảnh, tượng trái tim Đức Mẹ do các họa sĩ, nghệ nhân đắp, chúng ta thấy trái tim Đức Mẹ nằm bên ngoài cơ thể. Điều này muốn nói đến tình yêu vô tận của Mẹ dành cho loài người lớn lao như thế không thể giấu được bên trong được. Một bàn tay Mẹ nâng trái tim lên và bàn tay chỉ về trái tim ấy, nghĩa là Mẹ muốn trao trái tim của mình cho bất cứ ai đang chiêm ngắm ảnh tượng trái tim Mẹ. Phía trên trái tim Đức Mẹ có ngọn lửa bừng cháy, nhấn mạnh đến tình yêu Mẹ dâng hiến cho Thiên Chúa và dành cho loài người.

Trái tim Mẹ có bông hồng bao quanh, một số bức tranh còn xuất hiện hoa lily tượng trưng cho sự thanh khiết, trong sạch của Mẹ, ơn vô nhiễm nguyên tội, đã tạo ra nơi Mẹ một trái tim rất vẹn sạch. Trái tim có thanh gươm đâm thâu qua ám chỉ (“một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà”), và gợi lên những đau khổ mà Mẹ phải chịu trong suốt cuộc đời, đặc biệt trong lúc Mẹ thấy con mình là Chúa Giêsu bị đóng đinh.

Cuối cùng là chùm tia sáng bao quanh trái tim Mẹ, gợi nhớ đến đoạn văn trong sách Khải Huyền 12,1, trong đó mô tả Đức Mẹ như “một người phụ nữ mình khoác áo mặt trời.”

Lịch sử ngay lễ

Lòng sùng kính Trái Tim Đức Maria đã có trong Giáo Hội từ thời các Giáo Phụ. Trong Giáo Hội, có những vị thánh sùng kính cách đặc biệt như, Thánh Anselmô, nhà thần học Eadmer, Thánh Bênađô, và nhà thần học Hugh St. Victor khởi đầu sùng kính Trái tim Đức Mẹ. Rồi Thánh Mechtilđê, Thánh Giêtruđê, Thánh Brigitta, nhất là Thánh Bênađinô là "tiến sĩ của Trái tim Mẹ", cổ võ phong trào sùng kính Trái tim Đức Mẹ.

Thánh Anselmô, nhà thần học Eadmer, Thánh Bênađô, và nhà thần học Hugh St. Victor khởi đầu sùng kính Trái tim Đức Mẹ. Rồi Thánh Mechtilđê, Thánh Giêtruđê, Thánh Brigitta, nhất là Thánh Bênađinô là "tiến sĩ của Trái tim Mẹ", tiếp tục phong trào sùng kính Trái tim Đức Mẹ.

Đến thế kỷ XVII, lòng sùng kính Trái tim Mẹ mới được phổ biến rộng rãi do Thánh Euđê mà Đức Thánh Piô X gọi là "sư phụ, là tiến sĩ và là tông đồ" của Phụng vụ sùng kính hai Thánh Tâm Chúa Giêsu và Mẹ Maria.

Năm 1648, nhiều Giám mục nước Pháp ban phép mừng lễ Trái tim Mẹ trong giáo phận vào ngày mồng 8 tháng 2. Năm 1799, tất cả các nhà thờ giáo phận Palermô nước Ý được mừng lễ này. Năm 1855, dưới triều đại Đức Piô IX, giờ kinh và Thánh lễ đã được Thánh bộ Lễ nghi chấp thuận.

Với biến cố Đức Mẹ hiện ra tại Fatima năm 1917 với ba trẻ mục đồng, Jacinta, Franciscô và Lucia và ban hành mệnh lệnh “Tôn sùng Trái tim Đức Mẹ”. Lòng sùng kính này lan rộng với sự phê chuẩn của Tòa Thánh vào năm 1942, kỷ niệm 25 năm biến cố Đức Mẹ hiện ra ở Fatima, Giáo hoàng Piô XII đã dâng thế giới cho Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ và kêu mời mọi người dâng mình cho Trái tim Vô nhiễm Đức Mẹ. Năm 1945, ngài chính thức thành lập lễ "Trái tim Vô nhiễm Đức Mẹ" vào ngày 22 tháng 8. Theo chiều hướng canh tân Phụng vụ, năm 1969, Đức Phaolô VI đổi lễ này vào ngày thứ Bảy sau lễ Thánh Tâm tuần Chúa nhật II sau lễ Hiện Xuống. Đỉnh điểm là Thánh Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích đã ấn định Lễ Kính Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria như là một Lễ Nhớ buộc trong lịch Phụng Vụ chung của Giáo hội Rôma vào năm 1996. Vào ngày mồng 08 tháng 10 năm 2000, trong khuôn khổ của Năm Thánh 2000, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã tận hiến thế giới cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên tội Mẹ Maria.

Ý nghĩa của ngày lễ

Mừng lễ Trái tim Vô nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria. Chúng ta hãy Chiêm ngưỡng Trái tim Mẹ vẹn tuyền thanh sạch, đầy tình yêu thương, trọn lành thánh thiện, trung thực phản ảnh ưu phẩm toàn mỹ, toàn thiện, toàn ái của Ba Ngôi Thiên Chúa, để chúng ta nhìn thẳng vào quả tim tội lỗi sắt đá của chúng ta, xin Trái tim Vô nhiễm Mẹ cải hoá quả tim chúng là với những tâm tình tốt lành thánh thiện.

Chúng ta chúc tụng Trái tim Mẹ luôn qui hướng về Chúa, luôn kết hợp mật thiết với Chúa. Và xin Mẹ dạy chúng ta đón nhận Chúa thế nào vào đời sống chúng ta. Xin Mẹ dạy chúng ta biết đói khát Chúa và biết sống chính sự sống và lời Chúa.

Chúng ta tôn vinh Trái tim Mẹ là đền thờ sống của Chúa Thánh Thần, là cung thánh của Con Thiên Chúa hằng hữu. Xin Mẹ biến đổi quả tim ô nhơ của chúng ta thành trung tâm tôn thờ cho Chúa Ba Ngôi ngự trị.

Chúng ta ngợi khen Trái tim Mẹ thẳm sâu khiêm nhượng đã đưa Mẹ vào mầu nhiệm Nhập Thể Cứu chuộc của Chúa, và vào đời sống Giáo hội. Xin Mẹ dẫn đưa chúng ta gia nhập công trình Cứu chuộc của Chúa và vào công cuộc Tông đồ của Giáo hội.

Sau cũng chúng ta ca tụng Trái tim Mẹ dạt dào tình Hiền Mẫu êm ái ngọt ngào trong phẩm chức Mẹ Thiên Chúa và Mẹ toàn thể loài người chúng ta. Xin Mẹ ban cho chúng ta lòng thiết tha yêu mến Chúa, yêu mến Mẹ và đậm đà yêu thương mọi người.

 Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

MẪU TÂM VẸN TUYỀN

Thánh Gioan Phaolô II cho biết: “Kinh Mân Côi là mầu nhiệm của các mầu nhiệm. Lần chuỗi Mân Côi là giao phó những gánh nặng cho Thánh Tâm Thương Xót của Chúa Kitô và Đức Mẹ.” Thánh Germanô phân tích: “Tôn sùng Mẹ là dấu chỉ linh hồn có ơn thánh, hay ít nhất cũng sắp được ơn thánh. Con người còn thở chứng tỏ họ còn sống, tôi tớ Mẹ còn kêu tên Mẹ cũng chứng tỏ họ còn sống, còn hoạt động và còn được ơn Chúa phù hộ.” Và Thánh Laurentiô Justinianô xác định: “Đức Mẹ hộ phù, chúng con khỏi chết; Đức Mẹ cầu bầu, chúng con được sống.”

Hầu như thánh nhân nào cũng yêu mến Đức Mẹ. Mẹ là tất cả của Con, và Con là tất cả của Mẹ. Chúng ta có người mẹ trần gian là hạnh phúc lắm rồi, dù người mẹ đó bất toàn, chúng ta còn hạnh phúc tột cùng vì có người mẹ tâm linh là Đức Trinh Nữ Maria – Người Mẹ tuyệt hảo. Chúa Giêsu muốn chúng ta yêu mến Đức Mẹ nên Ngài đã giao phó cho chúng ta qua Thánh Gioan: “Đây là mẹ của anh.” (Ga 19:27)

Trái Tim Đức Mẹ là Mẫu Tâm vẹn tuyền, không chút bợn nhơ, Vô Nhiễm Nguyên Tội. Chưa có ai hiểu được lý lẽ của trái tim người mẹ. Trái tim người mẹ trần gian còn chưa hiểu nổi, huống chi Trái Tim Người Mẹ tâm linh – Thánh Mẫu Maria. Là người cổ võ lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu và Mẫu Tâm Đức Maria, Thánh Gioan Eudes nói: “Trái Tim Mẹ Maria là Trái tim Giáo Hội chiến đấu, Giáo Hội tẩy luyện và Giáo Hội vinh thắng.”

Đức Mẹ thật cao trọng nhưng lại rất khiêm nhường, chỉ nhận mình là “nữ tỳ của Chúa.” (Lc 1:38) Có lẽ Đức Mẹ là người được tôn xưng bằng nhiều danh hiệu nhất, không chỉ vì Mẹ là Mẹ Thiên Chúa mà còn vì Mẹ trọn hảo.

Khôn ngoan là nhân đức cần thiết, Kinh Thánh cho biết: “Đức Khôn Ngoan tự biểu dương và hãnh diện ở giữa dân mình. Khôn ngoan lên tiếng trong đại hội của Đấng Tối Cao và hãnh diện trước quyền uy của Người.” (Hc 24:1-2) Đức khôn ngoan biểu hiện Thiên Chúa, vì Ngài là Đấng Khôn Ngoan. Ngài xác định: “Duy có mình Ta đi vòng cả bầu trời và rảo bước khắp vực sâu thăm thẳm. Trên sóng biển, trên toàn cõi đất, trên mọi nước mọi dân, Ta nắm trọn chủ quyền. Giữa chúng hết thảy, Ta tìm chốn nghỉ ngơi, xem có gia nghiệp của ai để Ta cư ngụ.” (Hc 24:5-7)

Thánh vương Salômôn đã rất khôn ngoan khi ông chỉ xin được sự khôn ngoan và hiểu biết (1 Sb 22:12; 2 Sb 1:10) chứ không xin gì khác. Vì thế, “Thiên Chúa cho vua Salômôn được dồi dào khôn ngoan, thông thạo, và một trái tim bao la như cát ngoài bãi biển.” (1 V 5:9) Đức Maria là Ngai Tòa của Đấng Khôn Ngoan, là Nhà Tạm đầu tiên từ khi “xin vâng.” Đó là sự khôn ngoan của Đức Mẹ.

Kinh Thánh nói về đức khôn ngoan: “Ta đâm rễ sâu giữa một dân hiển hách, trong phần riêng của Đức Chúa, cũng là sản nghiệp của Người. Ta đã vươn lên tựa cây bá hương vùng Li-băng, tựa cây trắc bá núi Khéc-môn. Ta đã vươn lên như cây chà là ở Ên Ghe-đi, như những khóm hồng ở Giê-ri-khô, như cây ô-liu xanh tốt giữa cánh đồng. Như cây tiêu huyền, Ta đã vươn lên. Như cây quế, như tước sàng, Ta nức hương ngào ngạt, Ta toả hương thơm ngát như mộc dược quý, như phong tử hương, mã não, an tức hương, như khói hương nghi ngút trong lều, Ta vươn nhánh ra như cây nhựa điều, nhánh của Ta là nhánh vinh quang tươi đẹp.” (Hc 24:12-16)

Sự khôn ngoan thật kỳ diệu, nhưng phải là sự khôn ngoan từ Thiên Chúa, chứ sự khôn ngoan của loài người chẳng nghĩa lý gì, như Thánh Phaolô so sánh: “Cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người.” (1 Cr 1:25) Sự khôn ngoan cao quý, cao cả, cao vời, sâu thẳm, bao la và bất tận: “Người đầu tiên chẳng biết hết khôn ngoan, kẻ cuối cùng cũng không hiểu thấu được. Vì tư tưởng của khôn ngoan rộng hơn đại dương, ý định của khôn ngoan sâu hơn vực thẳm. Phần tôi, tôi như kênh đào chảy từ sông lớn, như con lạch dẫn nước tới địa đàng.” (Hc 24:28-30)

Là Đấng nhân lành và khiêm nhường, Thiên Chúa hạ bệ bất kỳ ai hung hăng, kiêu căng: “Cung nỏ người hùng bị bẻ tan, kẻ yếu sức lại trở nên hùng dũng. Người no phải làm mướn kiếm ăn, còn kẻ đói được an nhàn thư thái. Người hiếm hoi thì sinh năm đẻ bảy, mẹ nhiều con lại ủ rũ héo tàn.” (1 Sm 2:4-5) Ý tưởng này cũng được Đức Maria đề cập trong bài Magnificat khi đến thăm bà chị Êlisabét. (Lc 1:46-55)

Chỉ một mình Thiên Chúa là Đấng toàn năng, tự hữu, hằng sinh, tạo dựng muôn loài, có mọi quyền hành: “Đức Chúa là Đấng cầm quyền sinh tử, đẩy xuống âm phủ rồi lại kéo lên. Đức Chúa bắt phải nghèo và cho giàu có, Người hạ xuống thấp, Người cũng nhắc lên cao. Kẻ mọn hèn, Chúa kéo ra khỏi nơi cát bụi, ai nghèo túng, Người cất nhắc từ đống phân tro, đặt ngồi chung với hàng quyền quý, tặng ngai vinh hiển làm sản nghiệp riêng. Vì nền móng địa cầu là của Đức Chúa, Người đặt cả hoàn vũ lên trên.” (1 Sm 2:6-8) Tuy nhiên, Thiên Chúa dùng quyền để nâng đỡ, yêu thương và cứu thoát, chứ không dùng quyền để “hành” chúng ta như phàm nhân thường làm.

Chắc hẳn Đức Mẹ là người điềm tĩnh, bởi vì Đức Mẹ luôn “ghi nhớ mọi kỷ niệm và suy đi nghĩ lại trong lòng.” (Lc 2:19) Đức Mẹ im lặng để cầu nguyện và kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa. Đời sống cầu nguyện rất quan trọng đối với các Kitô hữu, Thánh Mark khổ tu cho biết: “Bằng việc cầu nguyện và cậy trông, chúng ta hãy gắng sức xua đi mọi ưu tư trần thế. Nhưng nếu chúng ta không thể làm được như thế để đạt đến trọn lành, chúng ta hãy thưa với Thiên Chúa về những khiếm khuyết của chúng ta và đừng bao giờ từ bỏ việc siêng năng cầu nguyện. Bởi vì bị trách cứ về những thiếu sót thường xuyên thì vẫn còn hơn là sự chểnh mảng hoàn toàn.”

Mọi tín nhân đều là thụ tạo mới của Thiên Chúa. Thánh Phaolô giải thích: “Tình yêu Đức Kitô thôi thúc chúng tôi, vì chúng tôi nghĩ rằng: nếu một người đã chết thay cho mọi người, thì mọi người đều chết. Đức Kitô đã chết thay cho mọi người, để những ai đang sống không còn sống cho chính mình nữa, mà sống cho Đấng đã chết và sống lại vì mình. Vì thế, từ đây chúng tôi không còn biết một ai theo quan điểm loài người. Và cho dù chúng tôi đã được biết Đức Kitô theo quan điểm loài người, thì giờ đây chúng tôi không còn biết Người như vậy nữa. Cho nên, phàm ai ở trong Đức Kitô đều là thọ tạo mới. Cái cũ đã qua, và cái mới đã có đây rồi. Mọi sự ấy đều do bởi Thiên Chúa là Đấng đã nhờ Đức Kitô mà cho chúng ta được hòa giải với Người, và trao cho chúng tôi chức vụ hòa giải.” (2 Cr 5:14-18) Đó là sự thật minh nhiên, và rất kỳ diệu.

Thánh Phaolô xác định: “Thật vậy, trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hòa giải với Người. Người không còn chấp tội nhân loại nữa, và giao cho chúng tôi công bố lời hòa giải. Vì thế, chúng tôi là sứ giả thay mặt Đức Kitô, như thể chính Thiên Chúa dùng chúng tôi mà khuyên dạy. Vậy, nhân danh Đức Kitô, chúng tôi nài xin anh em hãy làm hòa với Thiên Chúa. Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người.” (2 Cr 5:19-21) Tình Chúa nhiệm mầu và cao siêu, phàm nhân không thể hiểu thấu, nhưng đó là sự thật tuyệt đối.

Qua trình thuật Lc 2:41-52, Thánh sử cho biết: “Hằng năm, cha mẹ Đức Giêsu trẩy hội đền Giêrusalem mừng lễ Vượt Qua. Khi Người được mười hai tuổi, cả gia đình cùng lên đền, như người ta thường làm trong ngày lễ. Xong kỳ lễ, hai ông bà trở về, còn cậu bé Giêsu thì ở lại Giêrusalem, mà cha mẹ chẳng hay biết. Ông bà cứ tưởng là cậu về chung với đoàn lữ hành, nên sau một ngày đường, mới đi tìm kiếm giữa đám bà con và người quen thuộc. Không thấy con đâu, hai ông bà trở lại Giêrusalem mà tìm.” (Lc 2:41-45) Cha mẹ luôn lo cho con cái, đặc biệt là trái tim người mẹ không thể yên được khi chưa biết rõ sinh hoạt của con cái.

Sau ba ngày, hai ông bà mới tìm thấy Con Trai ở Đền Thờ, đang ngồi giữa các thầy dạy, vừa nghe vừa hỏi. Ai nghe Cậu nói cũng ngạc nhiên về trí thông minh và những lời đối đáp của Cậu. Họ ngạc nhiên vì biết Cậu Giêsu là con ai và ở đâu, nhưng không thể ngờ rằng Cậu chính là Con Thiên Chúa, và là Thiên Chúa Ngôi Hai.

Gặp lại Con Trai, Đức Mẹ tỏ rõ mối bận tâm: “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!” (Lc 2:48) Đức Mẹ không thể im lặng lúc này, vì trái tim người mẹ chịu bất an mấy ngày rồi. Chắc hẳn Đức Mẹ cũng đã khóc nhiều. Đức Thánh Giuse không nói gì, chỉ im lặng. Tình cha thâm trầm, nhưng lòng cha cũng bồn chồn đâu kém lòng mẹ.

Biết cha mẹ lo lắng và cũng thấy thương lắm, nhưng Chúa Giêsu cho biết điều quan trọng: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” (Lc 2:49) Chính “bổn phận ở nhà Cha” cần thiết và quan trọng lắm. Nhưng cũng là phàm nhân nên ông bà không hiểu hết lời Con Trai vừa nói.

Thánh Piô Năm Dấu nói: “Hãy yêu mến Đức Mẹ và hãy lần chuỗi Mân Côi, vì chuỗi Mân Côi là vũ khí chống lại sự dữ trong thế giới ngày nay. Mọi ân sủng đều được Thiên Chúa trao ban qua Đức Mẹ.” Để tỏ lòng kính yêu Đức Mẹ và tôn sùng Mẫu Tâm – một trong ba mệnh lệnh Fátima, chúng ta phải noi gương Chúa Giêsu bằng cách cố gắng “ngày càng thêm khôn ngoan và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta.” (Lc 2:52) Chắc chắn điều đó cũng làm Đức Mẹ vui lòng lắm.

Lạy Thiên Chúa từ bi nhân hậu, xin giúp chúng con biết yêu mến và noi gương Đức Mẹ. Lạy Mẹ Maria, xin giúp chúng con biết khao khát nên thánh, biết vâng lời và chịu lụy. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

TRẦM THIÊN THU

NÊN THÁNH HẰNG NGÀY

Trong quyển “Friends of God” (Những Người Bạn Của Chúa), Thánh Linh mục Josemaría Escrivá (1902-1975, sáng lập Opus Dei) viết: “Lương thực của tôi là làm theo ý muốn của Đấng đã sai tôi và hoàn thành công việc của Ngài” (Ga 4,34​). Thiên Chúa kêu gọi mỗi người và mọi người nên thánh, Ngài yêu cầu mỗi người và tất cả mọi người yêu mến Ngài: trẻ, già, độc thân và kết hôn, khỏe mạnh và ốm yếu, có học và không có học, bất kể họ làm việc gì hoặc ở đâu (x. Lv 19,2).

Thánh Josemaría Escrivá là vị thánh của sự thánh thiện hằng ngày. Thật vậy, Đức Gioan Gioan Phaolô II đã từng gọi ngài là “vị thánh của đời sống bình thường” vì sứ điệp của ngài nói rằng tất cả các tín hữu đều có thể đạt được sự thánh thiện và nên thánh. Thánh Josemaría dạy rằng sự thánh thiện hằng ngày như vậy có thể cho phép người ta gặp gỡ Chúa ngay tại nơi họ đang ở.

Lời kêu gọi nên thánh này có thể đạt được! Đôi khi chúng ta chùn bước trước điều này. Chắc chắn chúng ta biết đó là những lời dạy về đức tin, nhưng có vẻ như những điều không thể đạt được. Thậm chí vài năm trước, có thể tôi đã nhăn mặt trước khái niệm về sự thánh thiện phổ biến. Tôi nghĩ chắc chắn rồi, nếu đó là sự thật, vậy tại sao thế giới lại tan rã? Chiến tranh, tham nhũng, chết chóc,... Nếu nên thánh quá dễ dàng, vậy tại sao thế giới lại tồi tệ như vậy?

Tất nhiên, như Thánh Josemaría đã dạy, nên thánh không bao giờ dễ dàng. Chắc chắn đó là mục tiêu cao, nhưng đó cũng là điều chúng ta có thể đạt được. Đó là nỗ lực cả đời. Chắc chắn nó sẽ gây tổn thương và đòi hỏi hy sinh. Nhưng con đường nên thánh có thể làm nhiều điều hơn là dẫn chúng ta đến niềm vui vĩnh cửu: nó có thể thay đổi thế giới.

Như Thánh Josemaría đã giảng, để đem lại bình an đích thực cho các linh hồn; để biến đổi trái đất và tìm kiếm Thiên Chúa của chúng ta trong thế giới và qua mọi sự của thế gian, sự thánh thiện cá nhân không thể thiếu.

Thế giới của chúng ta có thể sử dụng rất nhiều thứ bình an đích thực đó. Mặc dù chúng ta có thể không giải quyết được nhiều vấn đề của thế giới, nhưng chúng ta có thể đem sự thánh thiện vui vẻ vào cuộc sống của chính chúng ta và của những người xung quanh.

Dưới đây là 7 bài học về sự thánh thiện của Thánh Josemaría Escrivá mà tôi thấy hữu ích và có sức biến đổi cuộc sống của chính tôi. Hy vọng bạn sẽ ghi nhớ những bài học này và vào đời để thay đổi và định hình thế giới.

1. SỰ THÁNH THIỆN TRONG CẦU NGUYỆN

Con đường dẫn đến sự thánh thiện là con đường cầu nguyện. Lời cầu nguyện phải bén rễ và lớn lên trong tâm hồn từng chút một, giống như hạt giống nhỏ bé sau này phát triển thành cây có nhiều cành.

2. SỰ THÁNH THIỆN CHO MỌI NGƯỜI

Sự thánh thiện không dành cho một số ít người có đặc quyền. Thiên Chúa kêu gọi tất cả chúng ta. Ngài mong đợi tình yêu từ tất cả chúng ta – từ tất cả mọi người, dù họ ở đâu; từ tất cả mọi người, bất kể tình trạng của họ trong cuộc sống, nghề nghiệp hoặc công việc của họ. Đối với cuộc sống hằng ngày chúng ta đang sống, dường như rất bình thường, có thể là con đường dẫn đến sự thánh thiện: không nhất thiết phải từ bỏ vị trí của mình trên thế giới để tìm kiếm Thiên Chúa… bởi vì mọi con đường trên trái đất đều có thể là cơ hội gặp Chúa Kitô.

3. BỔN PHẬN NÊN THÁNH

Mỗi ngày hãy ý thức bổn phận nên thánh của mình. Điều đó không có nghĩa là làm những điều kỳ lạ, mà có nghĩa là hằng ngày đấu tranh trong đời sống nội tâm và trong việc hoàn thành nghĩa vụ của mình một cách anh dũng cho đến cùng.

4. SỰ THÁNH THIỆN TIỀM ẨN TRONG ĐỜI THƯỜNG

Thiên Chúa đang kêu gọi bạn phục vụ Ngài trong và ngoài các hoạt động bình thường, vật chất và thế tục của đời sống con người. Ngài đợi chúng ta mỗi ngày – trong phòng thí nghiệm, trong phòng mổ, trong doanh trại quân đội, trên ghế đại học, trong nhà máy, trong xí nghiệp, ngoài đồng ruộng, trong nhà và trong toàn cảnh bao la của công việc. Hãy hiểu rõ điều này: có điều gì đó thánh thiện, điều gì đó thánh thiêng tiềm ẩn trong những tình huống bình thường nhất, và mỗi chúng ta phải khám phá ra.

Khi đức tin thực sự sống động trong tâm hồn, thay vào đó, người ta khám phá ra rằng để theo Chúa Kitô thì người ta không cần phải bước ra khỏi khuôn mẫu bình thường của cuộc sống hằng ngày, và sự thánh thiện cao cả mà Thiên Chúa mong đợi ở chúng ta là phải tìm thấy ở đây và bây giờ trong những điều nhỏ nhặt mỗi ngày.

5. CẢ NGÀY SỐNG LÀ TÔN THỜ

Hãy tiếp tục chiến đấu, để Hy Lễ trên bàn thờ thực sự trở thành trung tâm và căn nguyên trong đời sống nội tâm của bạn, vì vậy cả ngày sống của bạn sẽ biến thành hành động tôn thờ – một phần mở rộng của Thánh Lễ bạn đã tham dự và là bước chuẩn bị cho ngày kế tiếp. Sau đó, cả ngày sống của bạn sẽ là hành động tôn thờ tràn đầy khát vọng, kính viếng Thánh Thể và dâng công việc và cuộc sống gia đình của bạn…

6. CUỘC SỐNG HẰNG NGÀY LÀ SỨ VỤ CỦA CHÚNG TA

Cuộc sống hằng ngày là khung cảnh thực sự cho cuộc sống của bạn với tư cách là Kitô hữu. Sự tiếp xúc bình thường của bạn với Thiên Chúa diễn ra nơi tha nhân, khát vọng, công việc và tình cảm của bạn. Ở đó, hằng ngày bạn gặp Đức Kitô. Ngay giữa những thứ vật chất của trái đất, chúng ta phải thánh hóa bản thân, phục vụ Thiên Chúa và toàn thể nhân loại.

7. CHIẾN ĐẤU ĐỂ NÊN THÁNH

Hãy kiên trì theo con đường của bạn dù có điều gì xảy ra; kiên trì, vui vẻ và lạc quan, vì Thiên Chúa đang muốn quét sạch mọi trở ngại. Hãy nghe tôi nói: Tôi khá chắc chắn rằng nếu bạn đấu tranh, bạn sẽ là một vị thánh!

JOSEPH I. ELIZONDO - https://catholicexchange.com

TRẦM THIÊN THU chuyển ngữ

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan