SUY NIỆM CHÚA NHẬT 14 THƯỜNG NIÊN_B

02-07-2021 252 lượt xem

[Ed 2,2-5 / 2 Cr 12,7-10 / Mc 6,1-6]

Mục Lục

“NGƯỜI GIEO NIỀM HY VỌNG”+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

THẤT BẠI MỞ RA CON ĐƯỜNG MỚILm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

SUY DIỄNTrầm Thiên Thu

“LẤY LÀM LẠ VÌ HỌ KHÔNG TIN”Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

CÓ PHẢI CẬU ẤY LÀ CON ÔNG THỢ MỘC VÀ BÀ MARIA?Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

CON NGƯỜI CỨNG LÒNG KHIẾN CHÚA NGẠC NHIÊNLm. Antôn Nguyễn Văn Độ

THÓI KIÊU NGẠO VÀ ĐỊNH KIẾN ĐÃ CẢN TRỞ ƠN CỨU ĐỘTu sĩ Jos. Vinct. Ngọc Biển, S.S.P.

THÀNH KIẾNLm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

MỞ LÒNG ĐÓN NHẬN ÂN SỦNG VÀ TÌNH YÊULm. Anphong Vũ Đức Trung, O.P.

TẦM THƯỜNG VÀ GANH TỴ - Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Thơ: LẠC GIỮA QUÊ HƯƠNGViễn Dzu Tử

Thơ: TÍN NHIỆM ĐỒNG HƯƠNG(Thế Kiên Dominic)

--------------------------------------------------------------------------------------------------------------

“NGƯỜI GIEO NIỀM HY VỌNG”

Đọc Kinh Thánh Cựu ước, chúng ta thấy bất kể thời nào, Thiên Chúa cũng sai sứ giả của Ngài đến để hướng dẫn dân Do Thái. Dù dân này cứng cổ và phản nghịch, Thiên Chúa cũng không bỏ rơi họ. Ngài vừa là một nhà giáo dục khôn ngoan, kiên nhẫn, mạnh mẽ lên án những sai lầm của dân, nhưng cũng là một người Cha bao dung tha thứ những tội lỗi dân đã phạm. Những sứ giả của Thiên Chúa cũng được gọi là tiên tri hay ngôn sứ, tức là những người được sai đi để chuyển tải sứ điệp của Thiên Chúa. Trong bối cảnh đau thương, thất bại, sa đoạ của dân Do Thái, họ là những người xây dựng hoà bình và gieo niềm hy vọng.

Êdêkien là một vị ngôn sứ sống ở cuối thế kỷ thứ VII, đầu thế kỷ thứ VI trước Công nguyên. Ông cùng chia sẻ thân phận lưu đày tại Babylon với dân tộc mình. Trong cảnh lưu đày xa quê, vào thời điểm không còn đền thờ, không còn nghi thức tế tự, cũng giống các ngôn sứ khác, ông có sứ mạng giúp dân duy trì niềm tin, tránh xa việc thờ ngẫu tượng cũng như những ảnh hưởng ngoại lai. Bài đọc hôm nay kể lại việc Chúa trao sứ vụ cho ngôn sứ Edêkien. Chúa cho ông biết trước, đây là một nhiệm vụ khó khăn và sẽ gặp nhiều chống đối. Lời trấn an «đừng sợ» được lặp đi lặp lại, cho thấy Thiên Chúa luôn ở bên và đồng hành với những sứ giả của Ngài. Chúa cũng hứa trước, Ngài sẽ ban cho vị ngôn sứ sức mạnh can trường, để có thể đương đầu với những nghịch cảnh. Như chúng ta đọc thấy trong sách ngôn sứ mang tên ông, vị ngôn sứ đã nhiệt thành chuyên cần và can đảm để rao giảng Lời Chúa, củng cố đức tin, loan báo niềm hy vọng cho dân chúng. Ông cũng được gọi là ngôn sứ của niềm hy vọng. Ông chuyển tải đến Dân Chúa lời hứa hẹn sẽ có ngày Chúa mở huyệt và đưa mọi người đã chết ra khỏi đó (x. Ed 11,19). Sẽ có ngày Chúa sẽ ban cho dân một quả tim mới, bỏ đi quả tim chai đá, thay vào đó là quả tim bằng thịt biết yêu thương. Ông cũng được gọi là vị Ngôn sứ của Thần Khí Thiên Chúa. Ông loan báo sẽ có ngày Thần Khí Chúa can thiệp làm cho dân được sức sống mới, như những bộ xương khô dường như không còn chút hy vọng sẽ tái sinh và trở thành những con người cường tráng (x. Ed 37,1-14). Những hình ảnh này đã nâng đỡ và khích lệ dân tộc đang lưu đày xa quê và đang chịu ngàn nỗi thống khổ.

Để thực hiện chương trình cứu nhân độ thế, Thiên Chúa đã sai con của Ngài là Đức Giêsu đến trần gian. Người là vị Ngôn sứ vĩ đại nhất trong lịch sử. Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai có sứ mạng cứu nhân độ thế. Lời nói và việc làm của Người đã chứng tỏ quyền năng thiên linh, đồng thời nhằm đem cho con người sự giải thoát. Khi nghe lời Chúa giảng dạy, những người nghe đã thốt lên: “Một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người” (Lc 7, 16). Lời Người giảng dạy vừa có uy quyền vừa có sức thu hút lạ kỳ. Hễ người đi đến đâu, dân chúng đi theo rất đông để đón nhận Lời Hằng Sống. Trước uy quyền của Người, những kẻ thù ghét Người cũng phải chùn bước.

Nếu có nhiều người đón nhận giáo huấn của vị ngôn sứ thành Nagiarét, thì cũng có những người khước từ và mưu mô chống đối. Đó là trường hợp những người đồng hương của Chúa Giêsu. Thánh Máccô trong Tin Mừng hôm nay kể lại một chuyến về thăm quê của Người. Người thi hành nhiệm vụ ngôn sứ, khi vào Hội đường để đọc và chú giải Sách Thánh. Đây là một sinh hoạt hàng tuần của các cộng đoàn Do Thái. Rất nhiều người ngạc nhiên vì lời giảng dạy của Chúa sâu sắc và khôn ngoan. Tuy vậy, cũng có những người dè bỉu chế nhạo. Khi không bắt bẻ được Người trong lời giảng dạy, họ bàn tán chê bai về gia đình và thân thế của Người. Họ lôi nghề nghiệp thợ mộc của cha Người để soi mói và nhằm giảm uy thế của Người. Họ chỉ đánh giá Người theo cái nhìn ghen tỵ và thành kiến. “Ngôn sứ không được tôn trọng tại chính quê hương mình…” Chúa Giêsu đã nhắc lại một câu ngạn ngữ thường được sử dụng trong giới bình dân, để chỉ sự cứng lòng của họ.

Nhờ Bí tích Thanh tẩy, người Kitô hữu được trao ba sứ mạng: Ngôn sứ, Tư tế và Vương đế. Ngôn có nghĩa là lời; Sứ có nghĩa là được sai đi. Ngôn sứ tức là người được sai đi để nói Lời của Chúa. Nhiệm vụ này, không phải lúc nào cũng dễ dàng, vì “Trung ngôn nghịch nhĩ – Lời nói thẳng thì khó nghe”. Để thi hành nhiệm vụ ngôn sứ, có những lúc người tín hữu giống như người bơi ngược dòng. Trong khi nhiều người dễ dàng chấp nhận sự dối trá, thỏa hiệp để được lợi lộc danh vọng, thì người Kitô hữu phải cân nhắc kỹ càng để không phạm Luật Chúa và không làm trái với lương tâm. Lịch sử ghi lại rất nhiều tín hữu đã chọn con đường thập giá của Chúa Giêsu để làm chứng cho sự thật. Các thánh tử đạo là những ví dụ điển hình và là gương mẫu cho chúng ta về lòng trung thành với Chúa, noi gương Chúa Giêsu.

Trong bối cảnh xã hội còn nhiều bóng tối do bạo lực, ghen ghét, hận thù và tranh chấp, mỗi người tín hữu phải là một ngôn sứ của hy vọng. Niềm hy vọng đối với người Kitô hữu không chỉ là một thái độ sống, nhưng còn là một nhân đức đối thần, đó là đức cậy trông. Khi chúng ta đặt niềm hy vọng nơi Chúa, thì niềm hy vọng ấy là sự trông cậy. Trông cậy vào Chúa tức là chúng ta tin Ngài có thể làm được mọi sự, vì Ngài vừa là Thiên Chúa quyền năng vừa là Đấng thành tín yêu thương. Các ngôn sứ và các thánh vịnh khẳng định với chúng ta : ai tin vào Thiên Chúa sẽ không bao giờ phải thất vọng. Ngài là Cha nhân hậu, luôn muốn những điều tốt đẹp cho con cái mình. Đôi lúc chúng ta không nhận ra những điều tốt đẹp ấy, như người con còn nhỏ không hiểu thiện ý của cha mẹ, mà lại cho đó là những kìm hãm ràng buộc, nên khó chịu và buồn lòng. Kitô hữu là người cậy trông ở Chúa. Kitô hữu cũng là người gieo niềm hy vọng đối với những người đang sống xung quanh. Lối sống thân thiện, lạc quan và hài hoà chính là những hạt giống làm nảy sinh hoa trái của niềm hy vọng đối với những người chung sống. Người Do Thái lưu đày ở Babylon đã nhờ các ngôn sứ, trong đó nổi bật là ngôn sứ Edêkien, mà họ bớt tiêu cực chán nản và họ vững tin vào Chúa. Ước chi nhờ đời sống lạc quan của người Kitô hữu, mà những ai đau khổ chán chường được tiếp sức để biét trân trọng và yêu mến cuộc sống này hơn.

Sống và thực thi ơn gọi ngôn sứ đòi hỏi sự kiên trì. Mặc dù bị chống đối, Chúa Giêsu không nản chí và thối lui. Người tiếp tục lên đường đến các làng mạc khác mà giảng dạy. Thánh Phaolô noi gương Thày mình, ông đã trải qua nhiều khó khăn thử thách trong khi thi hành nhiệm vụ loan báo Tin Mừng. Ông không buồn, trái lại, ông rất lạc quan: «Tôi cảm thấy vui sướng khi mình yếu đuối, khi bị sỉ nhục, hoạn nạn, bắt bớ, ngặt nghèo vì Đức Kitô». Phaolô bền tâm vững chí trong sứ mạng, vì ông tin tưởng vào lời Chúa: ơn Ta đủ cho con. Quả vậy, Chúa luôn ban ơn trợ giúp đúng lúc và đủ cho những ai cậy trông vào Ngài.

“Thần khí Chúa ngự trên tôi, Chúa đã xức dầu cho tôi. Ngài sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó”. Lời Kinh Thánh quen thuộc nhắc chúng ta danh dự và bổn phận của người Kitô hữu. Bất luận già trẻ, nam nữ, giàu nghèo, ai trong chúng ta cũng được Chúa sai đi để làm chứng cho Ngài. Không ai viện cớ mình không có khả năng để từ chối bổn phận này, vì lời chứng cho Tin Mừng rất đơn giản: một lời nói, một nụ cười, và cụ thể hơn cả là lối sống tốt lành của mỗi chúng ta. mục lục

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

THẤT BẠI MỞ RA CON ĐƯỜNG MỚI

Kính thưa quí ông bà và anh chị em,

Hôm nay, trong bài Tin Mừng chúng ta chứng kiến cảnh Đức Giê-su bị chối từ bởi những người bà con trong lần Người về thăm cố hương Na-da-rét. Dân trong làng vẫn nhận ra sự khôn ngoan trong lời giảng dậy của Người. Nhưng khi nhớ lại gốc tích và các kinh nghiệm mà họ đã từng trải qua với Đức Giê-su trong thời thơ ấu thì không một ai trong họ còn nhận ra quyền năng của Thiên Chúa đang hoạt động trong và với Người nữa. Đối với họ, Đức Giê-su vẫn chỉ là con bà Maria. Thân nhân và anh chị em của Người, họ đều biết rõ.

Đức Giê-su sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo. Cha Người là bác thợ mộc quê mùa. Người thuộc về tầng lớp không được trọng vọng, chẳng có địa vị gì. Và như vậy, dù Người có nổi tiếng và làm được nhiều điều kỳ diệu tại các nơi khác, thì truớc mặt họ, Chúa của chúng ta vẫn chỉ là con bác thợ mộc Giu-se. Với gốc tích bần cùng và nghèo hèn như thế thì Đức Giê-su có thể làm được gì tại Na-da-rét để cho họ khâm phục!

Nói khác đi, Đức Giê-su không có quyền trở thành một người khác hơn là một con người do họ nghĩ ra và tạo nên. Có nghĩa là Đức Giê-su bị nhốt trong lối suy nghĩ và cách nhìn của họ. Người bị giam lỏng như một số người trong chúng ta vẫn thường xuyên nhốt Người trong các cơ sở vật chất, cho dù nguy nga và tráng lệ đến đâu; nhưng thiếu tình yêu, bác ái và lòng thương xót thì các đền đài đó còn có ý nghĩa gì hay không?

Với ngần ấy lý do, chúng ta có thể thông cảm với cách hành xử thiếu tin tưởng của dân làng Na-da rét. Họ từ chối đón nhận sứ điệp của Người. Vì với lối suy nghĩ rất giới hạn và đầy thành kiến như thế thì làm sao họ có thể nhận ra chân tướng đích thật của Đức Giê-su! Làm thế nào họ có thể đón nhận Người là Đấng được Thiên Chúa sai đến để loan báo sứ điệp giải thoát và đem tin vui đến cho họ! Đó là các nguyên nhân đã làm mờ mắt họ khiến họ không còn nhận ra vẻ kỳ diệu và phi thường mà Thiên Chúa muốn tỏ bầy qua con người của Đức Giê-su nữa. Đức Giê-su đối với họ vẫn là con người Na-da-rét.

Truớc tình hình đó, Đức Giê-su còn biết nói gì hơn! Người chỉ biết trích một câu ngạn ngữ rất phổ thông để làm cho tình hình bớt căng thẳng, và đây cũng là dịp nhắc lại cho họ biết về sứ mạng và thân phận của một ngôn sứ. Đó là: “Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi.”

Thưa anh chị em,

Công việc mà Đức Giêsu cần làm trong hoàn cảnh này là thẳng thắn đối diện với tình trạng thiếu niềm tin của họ. Không thể để cho thái độ tiêu cực của họ làm cho Người bị nản chí hay bị gục ngã. Họ không tin. Nhưng các môn đệ cần nhìn vào gương sáng của Thầy. Gương sáng đó là niềm tin và tâm tình phó thác tuyệt đối vào Cha của Người, Đấng hiện diện trong mọi tình huống, nhất là trong những lúc Đức Giê-su cần đến Cha của Người. Bài học là như thế. Đức Giê-su đã trở thành gương sáng cho các môn đệ noi theo. Chu toàn ý định của Thiên Chúa hơn là đi tìm sự chấp thuận của thế gian, cho dù thế gian vẫn không tin Người.

Trạng thái thiếu niềm tin này có thể được cụ thể hoá qua lối sống của những người trẻ trong xã hội mà chúng ta đang sống hôm nay. Biết bao bậc làm cha làm mẹ đã và đang ngao ngán trước lối sống xa cách với niềm tin tôn giáo của con cái họ.

Chính Đức Giêsu, dù là Đấng đuợc Cha sai đến cũng đã gặp những người không tin, nhất là những người đó lại là thân nhân của Người. Đứng trước thái độ không tin của những người đồng hương, Đức Giê-su dường như bị bất lực. Thật ra, không hẳn là như thế. Sự im lặng của Chúa có thể cho chúng ta biết rằng Người hoàn toàn tôn trọng quyền tự do mà Thiên Chúa đã ban cho họ. Cho dù con người đã nhiều lần xử dụng sai cái thẩm quyền đó. Nhưng vì yêu thương, Người vẫn tôn trọng và tìm cách khác để lôi kéo họ về nẻo chính đuờng ngay.

Có một sự thật vô cùng hiển nhiên mà chúng ta không thể chối bỏ được là Đức Tin tuy là điều cần thiết để nhận ra uy quyền của Thiên Chúa. Nhưng đức tin đó không phải là thành quả phát sinh từ sự cố gắng của con người, cho bằng đó chính là hồng ân cao quí của Thiên Chúa ban cho.

Và, với bản chất mỏng dòn và yếu đuối của con người như thế nào thì niềm tin của chúng ta cũng mỏng dòn và yếu đuối như thế. Chính vì thế, chúng ta cần có sự trợ lực. Sự hỗ trợ này không phát xuất bất cứ từ một sức mạnh nào, cho bằng nhìn nhận sự yếu đuối của bản thân, rồi để cho sức mạnh của Thiên Chúa được tỏ hiện. Đó chính là kinh nghiệm đã được san sẻ bởi Thánh Phao-lô trong bài đọc thứ hai mà chúng ta vừa nghe hôm nay.

Những gì mà Thiên Chúa đã nói với Thánh Phao-lô khi xưa, cũng là Lời mà Chúa muốn nói với chúng ta hôm nay. Đó là “Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.” Và Thánh nhân đã rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của mình, để sức mạnh của Đức Ki-tô được biểu dương.

Đây, chính là bài học vô cùng quý giá cho những yếu đuối, thất bại và bị chối bỏ bởi người thân và những ai mà chúng ta quan tâm và hết lòng yêu mến. Chúng ta cần vững tin tiếp tục bước về phía trước, miễn sao chúng ta làm đẹp lòng Chúa là đủ rồi.

Vì thế, đứng trước sự từ khước của thân nhân và bà con lối xóm, Đức Giê-su đã không chấp nhận ngã gục hay thua cuộc, nhưng lại tiếp tục lên đuờng hoàn tất sứ mạng. Thánh Mác-cô nhận xét là Người ngạc nhiên vì họ thiếu lòng tin. Nhưng cũng chính vì ngạc nhiên mà Người tiếp tục tìm kiếm câu trả lời bằng cách thi hành sứ vụ. Câu trả lời đã đến qua việc Người đón nhận sự gục ngã toàn diện trên Thập Giá để củng cố niềm tin cho những ai đi theo Người. Và, đó cũng là cách mà Đức Giê-su muốn tỏ bầy để biểu lộ trọn vẹn kế hoạch của Thiên Chúa thành toàn nơi bản thân Người. Và chúng ta, hôm nay, đang được mời gọi để thực hiện kế hoạch của Thiên Chúa chứ không phải sự đồng thuận hay hỗ trợ của thế gian. Xin cho những suy nghĩ, hành động và từng bước chân của chúng ta luôn ở trong kế hoạch vẹn toàn của Thiên Chúa. Amen! mục lục

Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

SUY DIỄN

Con người là sinh vật cấp cao, hơn các động vật là có khối óc biết suy nghĩ. Phương pháp suy diễn là suy luận từ cái chung tới cái riêng, phương pháp quy nạp là suy luận từ cái riêng đến cái chung. Cách suy diễn có thể tốt hay xấu, ích lợi hoặc bất lợi. Không nên suy diễn lung tung, tùy hứng, hoặc theo định kiến riêng tư.

Không vồn vã với ai và không dửng dưng khinh người, cứ tự nhiên, thoải mái. Đó là cách xử sự không mấy người có được, bởi vì người ta thường thích nịnh bợ nhau. Thản nhiên là phong cách độc đáo và cần thiết, nhưng không dễ thể hiện, phải có đủ sâu sắc nội tâm mới toát ra ngoài.

Nhìn những người thản nhiên có vẻ rất lạnh lùng, người khác cảm thấy không thích. Họ là người bình tĩnh, điềm đạm, có thể làm chủ mọi tình huống và có thể tự kiềm chế bản thân. Họ vừa “tự động” vừa “chủ động,” chứ không “bị động” hoặc “thụ động.” Phong cách “cứ là chính mình” không phải ai cũng làm được – tức là không xu nịnh hoặc tâng bốc bất cứ ai, cũng không áp chế ai. Đó là “cái dũng của thánh nhân” – theo cách gọi của người xưa.

Những người thản nhiên không bao giờ vui quá hoặc buồn quá, trầm tư nên ít nói vậy thôi. Nhưng người ta cứ suy diễn rồi cho rằng họ tự kiêu, ra vẻ, chảnh, khinh người, lạnh như tiền,... Họ bị hiểu lầm và bị kết án oan.

Tín nhân, cuộc đời luôn mang tính thực tế, và có những dạng thực tế buồn. Chẳng hạn, một người bình thường, không thấy có gì nổi trội, nhất là khi người đó xuất thân từ một gia đình không danh giá, nghèo nàn, ít học,... thế mà bỗng nhiên làm được những việc khác người. Mặc dù vậy cũng chẳng ai tin. Xưa nay vẫn thế. Đó là một dạng “hàm oan,” một trong các dạng thực-tế-buồn thường thấy nhất. Người giỏi luôn thản nhiên, không cần biết người ta nghĩ gì về mình. Cuộc sống có một triết-lý-sống thú vị: Chỉ có người giỏi mới nhận ra và công nhận sự thông minh ở người khác.

Ngày xưa, khi về quê hương, Chúa Giêsu cũng “bó tay” và phải thốt lên: “Ngôn sứ có bị rẻ rúng thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi.” (Mc 6:4; Mt 13:57; Lc 4:24) Con người là thế, họ muốn thách thức với ngụ ý như câu tục ngữ: “Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình!” (Lc 4:23) Con gà tức nhau tiếng gáy. Những người ghét mình, chẳng ai đâu xa lạ, họ chính là những người thân quen nhất. Sự thật quá phũ phàng và đáng buồn. Chúa Giêsu luôn làm điều tốt mà vẫn bị người ta ghen ghét.

Người ta thường nói: “Đời là thế!” Chúa Giêsu còn phải “lắc đầu” thì phàm nhân chẳng còn cách nào khác. Môi miệng nói lời ngon ngọt vì cái lưỡi chứa đầy nọc độc. Kể cũng lạ, mình không làm được thì thôi, người khác làm được thì sao lại ghét? Nhóm Pharisêu, nhóm Sađốc, các kinh sư, các nhà thông luật, các tư tế,… là “siêu nhân” như vậy, nhiều lần họ bị Chúa Giêsu thẳng thắn nguyền rủa là đồ khốn, là mãng xà.

Người yếu thì sợ gió. Khi thấy mình bị đối xử bất công, những người hèn hạ sẽ tức giận, kẻ nhát đảm có thể “vào hùa” với họ để được an thân, trở thành hèn hạ như họ. Muốn giữ lập trường của mình thì phải phân định đúng đắn, phải đủ can đảm hành động. Ngôn sứ Êdêkien bộc bạch: “Một thần khí đã nhập vào tôi đúng như lời Người phán với tôi và làm cho chân tôi đứng. Người phán với tôi: Hỡi con người, chính Ta sai ngươi đến với con cái Israel, đến với dân phản nghịch đang nổi loạn chống lại Ta; chúng cũng như cha ông đã nổi lên chống lại Ta mãi cho đến ngày nay.” (Ed 2:2-3) Dám ăn nói với dân ngang ngược như vậy, chắc chắn ngôn sứ Êdêkien phải can đảm lắm. Nhờ ơn Chúa, người chính trực không sợ hãi gì.

Quả thật, họ là dân “anh chị” thứ thiệt chứ không phải là dân vừa: “Những đứa con mặt dày mày dạn, lòng chai dạ đá, chính Ta sai ngươi đến với chúng: ‘Đức Chúa là Chúa Thượng phán thế này.’ Còn chúng, vốn là nòi phản loạn, chúng có thể nghe hoặc không nghe, nhưng chúng phải biết rằng có một ngôn sứ đang ở giữa chúng.” (Ed 2:4-5) Ngôn sứ Êdêkien vẫn thản nhiên, không hề sợ hãi. Thiên Chúa có phong cách rất độc đáo, Ngài không ép buộc mà cho họ tùy ý, nghe hay không nghe là quyền tự do của họ. Nhưng chắc chắn sẽ có hệ lụy kéo theo: “Ta sẽ căn cứ vào lối sống của chúng mà hạch tội.” (Ed 11:21)

Những người sống thẳng thắn thì thường thua thiệt, bị ghen ghét. Là con người, họ cũng buồn lắm, nhưng họ không thể “gió chiều nào ngả theo chiều nấy.” Và họ chỉ còn biết tâm sự nỗi lòng với Đấng mà họ luôn tôn thờ và tín thác: “Con ngước mắt hướng nhìn lên Chúa, Đấng đang ngự trên trời. Quả thực như mắt của gia nhân hướng nhìn tay ông chủ, như mắt của nữ tỳ hướng nhìn tay bà chủ, mắt con cũng hướng nhìn lên Chúa là Thiên Chúa của con, tới khi Người xót thương chút phận.” (Tv 123:1-2)

Dù có thế nào thì vẫn phải không ngừng cầu nguyện, kết hiệp với Chúa ở mọi nơi, mọi lúc, nhưng lời cầu xin của họ như không được đáp lại. Tâm can trĩu nặng nỗi buồn. Chắc chắn không phải Thiên Chúa lãng tai hoặc làm ngơ, mà Ngài muốn chính họ xác nhận niềm tin tuyệt đối vào Ngài. Họ đã từng thất vọng nhiều nhưng họ không tuyệt vọng, vẫn một lòng tín nguyện: “Dủ lòng thương, lạy Chúa, xin dủ lòng thương, bởi con bị khinh miệt ê chề; hồn thật quá ê chề vì hứng chịu lời nhạo báng của phường tự mãn, giọng khinh người của bọn kiêu căng.” (Tv 123:3-4) Thiên Chúa chỉ can thiệp đúng lúc, không sớm và không muộn. Ngài không thể lặng nhìn tôi tớ ngài sa cơ thất thế, gặp nguy hiểm, phải chịu oan uổng. Thật vậy, Thánh Augustinô xác định: “Ngài có đó khi ta tưởng cô đơn, Ngài nghe ta khi chẳng ai đáp lại, Ngài thương ta khi tất cả hững hờ.”

Tự tin nhờ hiểu biết. Tự tin là đức tính cần thiết để sống bình an, nhưng tự tin thái quá có thể dẫn tới kiêu ngạo. Thánh Phaolô chia sẻ kinh nghiệm: “Để tôi khỏi tự cao tự đại vì những mặc khải phi thường tôi đã nhận được, thân xác tôi như đã bị một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của Satan được sai đến vả mặt tôi, để tôi khỏi tự cao tự đại.” (2 Cr 12:7-8a) Ông cho biết: “Đã ba lần tôi xin Chúa cho thoát khỏi nỗi khổ này.” (2 Cr 12:7-8) Ai cũng sợ đau khổ, cả thể lý lẫn tinh thần. Thánh Phaolô cũng “nổi da gà” khi đối mặt với đau khổ, ông năn nỉ Chúa cứu thoát, thế nhưng Chúa có vẻ như làm ngơ, nhưng rồi Ngài nói rõ: “Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.” (2 Cr 12:7-8b) Thánh ý Thiên Chúa vô cùng mầu nhiệm.

Đúng là “được lời như cởi tấm lòng,” Thánh Phaolô hết sợ, và vui vẻ chia sẻ: “Thế nên tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Kitô ở mãi trong tôi. Vì vậy, tôi cảm thấy vui sướng khi mình yếu đuối, khi bị sỉ nhục, hoạn nạn, bắt bớ, ngặt nghèo vì Đức Kitô. Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh.” (2 Cr 12:9-10) Hoàn toàn đảo ngược thế cờ: Nhược điểm (điểm yếu) hóa thành yếu điểm (điểm mạnh), sở đoản trở nên sở trường. Thật là kỳ diệu!

Phàm nhân khổng thể hiểu kế hoạch kỳ diệu của Thiên Chúa. Chính Ngài đã chịu đau khổ để chúng ta được hạnh phúc, chịu nghèo khó để chúng ta được sung túc, chịu nhục nhã để chúng ta được rạng rỡ, chịu yếu đuối để chúng ta được mạnh mẽ, chịu sỉ nhục để chúng ta được ca ngợi, chịu bị loại bỏ để chúng ta được đón nhận, chịu tan nát để chúng ta được nguyên vẹn,... và cuối cùng, Ngài chịu chết một lần để chúng ta được sống dồi dào và sống mãi.

Một lần nọ, Chúa Giêsu trở về quê hương thăm cha mẹ, cũng có các môn đệ đi theo. Ngày sabát, Ngài giảng dạy trong hội đường. Nhiều người nghe rất đỗi ngạc nhiên nên bàn tán: “Bởi đâu ông ta được như thế? Ông ta được khôn ngoan như vậy, nghĩa là làm sao? Ông ta làm được những phép lạ như thế, nghĩa là gì?” (Mc 6:2) Lý do rất đơn giả và hiển nhiên: Đức Giêsu là con của bác thợ mộc Giuse và Cô Maria, anh em họ với Giacôbê, Giôsết, Giuđa và Simôn, chị em của Ngài là bà con lối xóm với họ. (Mc 6:3) Hoàn toàn bình thường, chẳng có gì nổi trội. Họ đã vấp ngã vì Ngài với lý do rất bình thường. Người ta không đủ hiểu để phân biệt sự khác nhau giữa điều bình thường và điều tầm thường. Điều bình thường nhưng chưa chắc là tầm thường, mà có thể là phi thường. Cuộc đời nhiều vị thánh đã chứng tỏ quy trình lạ lùng như vậy.

Nhưng rồi cái gì đến sẽ đến. Đời là thế! Và Đức Giêsu đưa ra một kết luận tất yếu: “Ngôn sứ có bị rẻ rúng thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi.” (Mc 6:4) Đáng sợ thật, nhưng nếu có thể nhận ra và xác định như vậy thì không đáng sợ nữa. Thánh Máccô cho biết rằng hôm đó Chúa Giêsu đã không thể làm được phép lạ nào tại đó, mà chỉ đặt tay trên một vài bệnh nhân và chữa lành họ, chính Ngài cũng lấy làm lạ vì họ không tin. (Mc 6:5-6) Sự thật quá phũ phàng!

Chúa Giêsu không suy diễn, không quan ngại, không nao núng. Nhưng người ta lại cứ suy diễn nên có lối đối xử không hay – với Chúa và với nhau. Đừng suy bụng ta ra bụng người!

Lạy Thiên Chúa, xin ban ơn thông tuệ và khôn ngoan, xin giúp con hiểu biết và phân định đúng đắn, để con đủ nhận thức và ý thức những gì cần thiết theo ý Ngài. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. mục lục

Thomas Aq. Trầm Thiên Thu

“LẤY LÀM LẠ VÌ HỌ KHÔNG TIN”

Sau khi cho chúng ta chứng kiến quyền năng của Đức Giêsu mạnh hơn cả cái chết, thánh Maccô đưa chúng ta đi theo Người về nơi quê quán là Nadarét. Tiếng đồn về Đức Giêsu đã vang khắp nơi, lôi kéo người bốn phương tìm đến với Người (Mc 3, 7-8), nay về thăm quê, chúng ta tưởng rằng Đức Giêsu sẽ được dân làng đón tiếp linh đình, kèn trống râm ran, như cảnh “trạng về làng vinh quy bái tổ”. Chuyện diễn ra không như chúng ta nghĩ.Tuy về quê quán của mình, nhưng Người cũng chờ đến ngày sabát mới vào hội đường rao giảng. Phản ứng đầu tiên của dân làng là “rất đỗi ngạc nhiên”. Họ nói: “Bởi đâu ông ta được như thế? Ông ta được khôn ngoan như vậy, nghĩa là làm sao? Ông ta làm được những phép lạ như thế, nghĩa là gì?”. Thế ra họ cũng đã nghe biết về những phép lạ Người làm ở khắp nơi. Họ rất đỗi ngạc nhiên. Nhưng họ bỗng như bị xối nước lạnh lên đầu, khi họ nhìn thấy thân nhân của Người ngồi chung quanh họ trong cùng một hội đường. Thân nhân đã từng bị kích động vì dư luận, cho rằng Người đã mất trí và họ đã kéo nhau đi bắt Người về (Mc 3, 20-21.31-32), nhưng đã về tay không. Nhìn mặt Người thì vẫn là mặt bác thợ con bà Maria, từng làm thuê cho họ. Nhìn quanh, họ thấy anh em, chị em, bà con của Người, những người vẫn chen vai sát cánh với họ hàng ngày, trong cái làng quê nhỏ bé mà ai cũng biết mọi người, mọi nhà. “Và họ vấp ngã vì Người”. Đức Giêsu phải ngao ngán nói với họ: “Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi”. Quả như câu tục ngữ xưa của Việt Nam: “Gần chùa gọi Bụt bằng anh”. Kết cục: “Người đã không thể làm được phép lạ nào tại đó; Người chỉ đặt tay lên trên một và bệnh nhân và chữa lành họ”. Lại như một câu tục ngữ Việt Nam: “Bụt nhà không thiêng”; “người phụ nữ” đã được Người tuyên dương: “Lòng tin của con đã cứu chữa con”; ông trưởng hội đường đã được Người khích lệ: “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi!” còn dân làng Nadaret thì Người cũng phải “lấy làm lạ vì họ không tin”. Thế là chuyến thăm quê cũ chẳng có gì phấn khởi.(x. Tĩnh tâm với sách Tin mừng Maccô, Lm Giuse Nguyễn Công Đoan).

***

Cả ba sách Tin Mừng Nhất Lãm (Mt 13,53-58; Mc 6,1-6; Lc 4,14-39) đều thuật lại câu chuyện Đức Giêsu không được tiếp đón tại quê nhà và Ngài đều nói đến ý tưởng: “Ngôn sứ không được tôn trọng tại quê hương mình” (Ga 4,44). Nhưng mỗi Tin Mừng thuật lại câu chuyện với các chi tiết khác nhau và đặt trong những bối cảnh văn chương khác nhau. Tin Mừng Máccô đặt trình thuật “Đức Giêsu bị rẻ rúng tại quê hương mình” (Mc 6,1-6) sau trình thuật “Đức Giêsu chữa lành người đàn bà bị băng huyết và cho con gái ông Giaia sống lại” (Mc 5,21-43).

Quê hương Nadaret của Chúa Giêsu chẳng là trái ngọt nhưng là trái đắng với vị chát chối từ, và chua cay thành kiến. Dẫu vậy Ngài không than van, không giận dữ hay oán trách quê nhà. Ngài vẫn hiện diện thật hiền lành và khiêm hạ để đón nhận thực tế. Quê hương là “chùm khế ngọt” của mỗi con người. Nhìn về quê hương Nadaret của Chúa Giêsu, thật khác lạ. Ngài trở về quê mà không được dân làng ủng hộ, trái lại họ đã xem thường Ngài và xúc phạm đến Ngài. Tại sao?

Bởi lẽ, họ tìm về nguồn gốc thì chỉ thấy: “Mẹ ông là bà Maria, anh em họ hàng là Giacôbê, Giosê, Giuđa và Simon”. Tất cả bà con lối xóm đều coi ông như bạn bè từ gần 30 năm nay ở Nadaret này, một thôn ấp nhỏ bé chỉ có độ 150 gia đình nghèo nàn, mấy ai quan tâm đâu! Ông lại là anh thợ mộc, con nhà lao động, làm thuê làm mướn, đi từ nhà này sang nhà khác, đóng bàn sửa ghế, ráp giường ghép tủ, đục đẽo cày bừa, thành phần địa vị thấp kém trong xã hội. Có bao giờ thấy ông ấy nói năng, làm được gì hay lạ đâu ? Ông ấy bỏ quê nhà đi một thời gian, nay trở về, sao thay đổi nhanh như thế nhỉ? Một quá khứ và hiện tại như vậy đã khiến họ vấp phạm. Họ không tin Ngài là một Ngôn Sứ, lại càng không thể tin Ngài là Mêsia, và chắc chắn họ chẳng bao giờ dám nghĩ rằng mình là người đồng hương với Ngôi Hai Con Thiên Chúa.

Dân làng Nadaret quá biết về gốc gác, gia cảnh, biết rõ ràng lý lịch của Đức Giêsu. Với đầu óc thủ cựu, lại nặng thành kiến nên họ không thể nhận ra thiên tính nơi con người của Ngài, họ lấy lý lịch để thẩm định về Ngài. Đức Giêsu trở thành nạn nhân của “chủ nghĩa lý lịch”. Chính Nathanael cũng còn mang nặng quan niệm thành kiến đó: “Nadaret có cái gì tốt đâu?” (Ga 1,46). Những người Do thái cố chấp nhìn Đức Giêsu bằng lăng kính của thành kiến quê hương và họ đã đưa Ngài lên ngọn đồi và định xô xuống vực.

Đức Giêsu “ngạc nhiên vì sự không tin của họ”. Họ chỉ biết nhìn Ngài theo lối nhìn bên ngoài đầy thành kiến, chẳng thấy được những điều sâu lắng bên trong, những cái tinh thần cao thượng, những mầu nhiệm thiêng liêng chân thật. Dân làng Nadaret “vấp ngã vì Người”, họ không chấp nhận, họ không thể tin vào Đức Giêsu. Ngài mạc khải cho họ về nguồn gốc thiên sai của mình qua những lời giảng dạy khôn ngoan và các phép lạ, nhưng họ lại chỉ bám lấy thành kiến cố hữu. Chính thái độ bám ghì lấy, không dám buông bỏ những hiểu biết giới hạn nên họ không thể nhận biết Đấng Thiên Sai đang ở giữa họ. Đức Giêsu không thể làm được phép lạ nào tại đó vì họ không tin.

Dân làng Nadaret không tin vì thành kiến. Họ đóng khung Thiên Chúa và tôn giáo trong những định kiến hẹp hòi. Vì thế, họ không thể thấy được những chân trời rộng lớn và mới mẻ mà Đức Giêsu mở ra cho họ. Có ai ngờ Đấng Cứu Thế lại là người đơn sơ, khiêm hạ như thế. Đức Giêsu không sống như một siêu nhân, Ngài sống bình dị như mọi người trong mọi thực tại hằng ngày của cuộc sống gia đình.

Những người đồng hương của Đức Giêsu thật “dại”, thay vì “một người làm quan cả họ được nhờ” nhưng họ lại đánh mất cơ hội khi quan niệm “bụt nhà không thiêng”. Thành kiến kiểu “nhìn mặt là biết số nhà” khiến người ta không ít lần rơi vào sai lầm khi nhìn đến tha nhân.

Thành kiến là ý kiến có sẵn từ lâu trong đầu óc, không thay đổi được.Thành kiến có thể là của cá nhân hay của tập thể. Nếu là của tập thể thì nó tích tụ từ lâu đời qua nhiều thế hệ và hầu như không thể thay đổi được. Thành kiến là những nếp suy nghĩ, quan điểm, niềm tin chủ quan sẵn có, thường là tiêu cực đối với một người, một nhóm người dựa trên lối sống, nghề nghiệp, quan điểm chính trị, màu da, sắc tộc, quốc tịch, tôn giáo, giới tính…Thành kiến thường được định hình trong con người theo thời gian, từ trải nghiệm của bản thân, do được tuyên truyền, do thế hệ trước truyền lại, do môi trường sống.Thành kiến là một chứng bệnh di truyền kinh niên bất trị của con người, không ai thoát khỏi.

Thành kiến là một tâm trạng thiên lệch rất tai hại, là một sự yên trí, phán đoán mọi người mọi vật theo những quan niệm làm sẵn, có sẵn trong đầu óc, nhất là khi những tư tưởng có sẵn đó lại sai lạc, thì có thể đưa đến những hậu quả sai lầm hoặc nguy hại. Ai đeo kính đen nhìn cái gì cũng tối tăm; lưỡi đắng ăn gì cũng đắng; lòng buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Yêu nên tốt, ghét nên xấu. Yêu nhau yêu cả đường đi. Ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng. Thật dễ để nhận ra hay để nói về sai lầm của người khác.

Thành kiến làm cho người ta mù quáng, không nhận định khách quan nên khó có thể đối thoại, cởi mở với người khác, không nhìn thấy cái hay cái tốt nơi tha nhân.

Tin Mừng hôm nay bắt đầu bằng sự kiện dân làng Nagiarét ngạc nhiên khi nghe Chúa Giêsu rao giảng trong hội đường, và kết thúc bằng sự ngạc nhiên của Chúa khi Ngài thấy họ không tin. Làm sao họ không ngạc nhiên được khi lời rao giảng và những dấu lạ Ngài làm tỏ rõ Ngài là Đấng đầy quyền năng và khôn ngoan? Thế nhưng, sự ngạc nhiên ấy không đủ để thay đổi thành kiến của họ về Ngài. Họ không thể chấp nhận một bác thợ bình thường, là người đồng hương họ quen biết, lại là vị ngôn sứ được Thiên Chúa sai đến. Và càng không thể chấp nhận được một con người như Ngài lại cả dám tự xưng mình là Con Thiên Chúa, là Đấng Kitô. Hạnh phúc được tin vào Đức Kitô, đáng lẽ họ nhận được lại bị mất vì một thành kiến.

ĐTC Phanxicô kêu gọi mọi thành phần trong Hội Thánh “không bao giờ đóng kín nơi chính mình, không bao giờ lui về nơi an toàn của mình, không bao giờ chọn thái độ cố chấp hay tự vệ. Nó hiểu rằng nó phải gia tăng sự hiểu biết Tin Mừng và nhận ra các đường lối của Thần Khí, vì vậy nó luôn luôn làm bất cứ điều tốt lành nào có thể, dù trên đường đi, chân nó có thể bị lấm bùn” (Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng, số 45).

Đức Maria được ca tụng là có phúc vì đã tin (Lc 1,45). Chúng ta cũng thật có phúc vì đã tin Chúa Giêsu là Thiên Chúa nhập thể làm người và là Đấng Cứu Thế của nhân loại. Đức tin là ân huệ quý giá nhất trong cuộc đời, nhờ đó, mọi việc, dù nhỏ bé, âm thầm đến đâu, vẫn có ý nghĩa và có thể đem lại niềm vui, bình an cho cuộc đời.

Mỗi ngày mới, chúng ta hãy bày tỏ lòng tri ân Chúa đã thương ban cho mình ơn đức tin qua đời sống chuyên cần cầu nguyện và suy niệm Lời Chúa, tham dự Thánh Lễ.

Lạy Chúa Giêsu, con cảm thấy hạnh phúc khi đi theo Chúa, khi làm môn đệ Ngài. Xin Chúa giúp con sống tốt tư thế môn đệ ấy. Xin giúp con luôn quảng đại và khiêm tốn trong lời nói, trong những nhận định về nhau và nhất là xin cho con nhận ra sự hiện diện của Chúa nơi anh chị me con. Amen. mục lục

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

CÓ PHẢI CẬU ẤY LÀ CON ÔNG THỢ MỘC VÀ BÀ MARIA?

Có lẽ ai trong chúng ta cũng biết câu chuyện Tin Mừng hôm nay, vì nó quá phổ thông. Theo tục lệ Đức Giêsu đi đến hội trường mỗi tuần vào ngày Sabbath để dự lễ. Khi đến lượt mình, Đức Giêsu đọc và giải thích Kinh Thánh.

Dân thành lắng nghe Chúa vì tin đồn Chúa đã làm nhiều phép lạ ở những nơi khác. Họ thắc mắc không biết cậu này sẽ làm những gì ở tỉnh nhà đây?  

BỤT CHÙA NHÀ KHÔNG THIÊNG

Dân thành tỏ vẻ coi thường Chúa nên Chúa nói: “Chẳng có tiên tri nào lại được nể trọng và tôn vinh ở quê nhà của mình”. Dân thành Nazareth đã xúc phạm Chúa, không nghe những lời Người nói. Họ coi thường lời Người giảng chỉ vì Người là thợ mộc, dân giã tầm thường, gia đình chẳng có thế giá gì. Chúa Giêsu đã không làm những việc lạ lùng nơi họ vì họ không tin Chúa.

Họ ghét bỏ, từ chối, không tin Chúa thì họ sẽ chẳng biết gì hơn những điều họ đang có. Họ không chịu yêu người khác thì họ cũng không chấp nhận người khác. Chúng ta hẳn có những lần đã rơi vào tình trạng này ?

TRỞ VỀ QUÊ NHÀ

Chúng ta thường nghĩ chỉ có Luca mới ghi lại việc Chúa Giêsu về thăm Nazareth, nơi người đã được nuôi dưỡng và lớn lên và giai thoại xẩy ra trong hội trường ở Nazareth (Lc 4:16). Nhưng thực ra cả Máccô và Mátthêu cũng nói tới giai thoại này dù các ông không nhắc tới tên Nazareth mà chỉ nói là “tỉnh nhà” hay “quê nhà của Người” (Mc 6:1; Mt 13:54). Tuy nhiên cũng có đôi chút khác biệt giữa câu chuyện của Luca và của hai ông Máccô và Mátthêu. Trong Mátthêu và Máccô, dân chúng coi gốc gác Chúa Giêsu tầm thường, là thợ mộc (Mc 6:3), con ông thợ mộc (Mt 13:55), do đó nghi ngờ về sứ mạng cao cả của Chúa. Còn Luca thì không nhắc đến gốc gác tầm thường của Chúa.

Theo Máccô, về thăm tỉnh nhà của Chúa không chỉ là bước đầu cuộc hành trình mục vụ mà còn là suốt chiều dài rao giảng Tin Mừng và chữa lành của Chúa, ngay cả sau những lúc Chúa nói về các dụ ngôn (Mc 4:1-34), về người con gái ông Gia ia chết được sống lại (Mc 5:21-43). Trong Mátthêu thì Chúa cũng báo trước về sứ mệnh của Người với 12 Tông đồ (Mt 10:2-42).

Qua những thắc của dân thành về Chúa Giêsu trong câu chuyện của Máccô (6:1-6) ta học hỏi được gì? “Bởi đâu mà Người này có được những cái đó? Sao ông lại khôn ngoan như thế? Làm sao mà một mình tay ông lại có thể làm được những điều như vậy? Người này không phải là tên thợ mộc, con bà Maria, anh em với các ông Giacôbê, Giuse, Giuđa và Simon sao, chị em ông không ở đây với chúng ta sao? Và rồi họ xúc phạm đến người.”

Hình như họ muốn hỏi Chúa Giêsu “Ông là ai?” Chúa Giêsu thấy họ có vẻ trịch thượng và vơ vào cho mình quá lố: Ông này không phải là tên thợ mộc, con bà Maria sao? Hắn cũng như chúng ta thôi, là thành phần của chúng ta, do đó hắn phải làm cho chúng ta tất cả mọi sự hắn có thể. Hắn thuộc về phe ta nên mắc nợ chúng ta!

Chúa Giêsu đã phản đối thái độ chiếm hữu đó. “Tiên tri thì được tôn vinh mọi nơi, trừ quê nhà, anh em họ hàng và ngay cả trong gia đình nữa. Họ đã mắc một bệnh gọi là bệnh “mù lòa”. Chúa Giêsu đã từ chối không ban ân huệ cho tỉnh nhà mà ưu tiên cho những người xa lạ.

VIỄN KIẾN VÀ LÒNG QUẢNG ĐẠI

Để hiễu tường tận bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta cần phải có một tấm lòng, thiện chí và chấp nhận tha nhân. Từ đó ta mới có một viễn kiến đúng mức. Khi đối diện với một người có chí lớn, tâm hồn quảng đại và tầm nhìn xa như Chúa Giêsu, chúng ta thường tỏ ra ghen tức, dè bửu. Dân thành Nazareth đã không nhận ra được sự thánh thiêng của Chúa Giêsu bởi vì tiên khởi họ đã không muốn chấp nhận. Họ không nhận sự liên đới của Chúa Giêsu với Thiên Chúa bởi vì họ không muốn tìm hiểu cặn kẽ và đầy đủ, đồng thời họ cũng chẳng biết là chính họ cũng có liên hệ với Thiên Chúa tức là họ thuộc về Thiên Chúa. Họ không thể thấy được đấng Thiên Sai đang đứng bên cạnh họ bởi vì Người quá giống như những người của họ. Chỉ khi nào tự chúng ta biết mình được Thiên Chúa yêu thương thì những phép lạ sẽ trở thành hi hữu. Lúc đó các tiên tri, sứ giả ở giữa chúng ta mới cần phải phấn đấu để được mọi người chú ý, chấp nhận và nghe theo.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Máccô cho biết Chúa Giêsu lấy làm lạ vì có những kẻ không tin, dù lúc đầu mới nghe Chúa giảng, dân làng rất thán phục và hãnh diện về Người. Sứ điệp giải phóng của Người thật tuyệt vời. Nhưng rồi họ nhận ra vị tiên tri trẻ này chính là một trong những người mà họ nói: “Người này chẳng phải là tên thợ mộc, con bà Maria sao?”

Những người đả phá mạnh mẽ nhất thường là những kẻ rất quen biết với chúng ta, là người trong gia đình, bà con thân thuộc, người hàng xóm, những người thường kề vai sát cánh với chúng ta hằng ngày. Dân thành Nazareth đã từ chối không công nhận Chúa Giêsu vì quá quen biết, là bà con hàng xóm… Khi tính sở hữu của họ bị cản trở thì sẽ thành tự vệ rồi bạo động. Phản ứng này sẽ gây ra nhiều thảm cảnh như ganh ghét và thù hận. Họ xúc phạm Chúa. từ chối không chịu mở rộng lòng trí sẽ đi đến thái độ cực đoan. “Tất cả hội trường nổi cơn thịnh nộ (Lc 4:28) và họ tìm cách giết người (Lc 4:29). 

ĐÔI LỜI KẾT

Bài Tin Mừng hôm nay khuyên chúng ta nên cẩn thận, noi gương sáng của Chúa Giêsu. Con người có khuynh hướng chiếm hữu, ích kỷ và nhỏ nhặt. Chúa Giêsu là Đấng cứu chuộc toàn thể nhân loại (Ga 4:42), không riêng cho một làng, một tỉnh, một thị trấn hay một quốc gia nào!

Để bắt chước Chúa Giêsu, Đấng tuyệt mỹ duy nhất, chúng ta phải có lòng quảng đại, tâm trí bao dung. Ghen tương là một tính xấu của con người không nhận biết ra vẻ đẹp của tha nhân nên không kính trọng họ. Ghen tương làm người ta “mù lòa” bởi vì mắt bị che kín không thể nhìn thấy vẻ đẹp của người khác và cả của chính mình nữa. Ghen tương sẽ đi đến bạo động và phá hoại, có hại cho mình và cả những người khác. Để đến gần và bắt chước Chúa Giêsu, tức muốn sửa đổi con người mình, chúng ta phải nhận ra được tính ganh ghét của chúng ta và tự hủy bỏ nó đi ngay. 

Lòng quảng đại giúp mình thoát ly khỏi cái “tôi” của mình, muốn người khác được hạnh phúc, tự do để người ta trở nên vĩ đại đủ để giống hình ảnh và vẻ đẹp của Thiên Chúa. Lòng quảng đại thúc dục mỗi người chúng ta ao ước cho tha nhân được thỏa mãn và hạnh phúc tràn đầy! Lòng quảng đại có thể vươn tới, vượt quá con người mình để mong cho tha nhân có được những thứ mà mình thiếu không có, đồng thời vui sướng vì vẻ đẹp, lòng tốt và sự vĩ đại của họ.

Nên cầu nguyện thường xuyên để Chúa không còn phải sửng sốt vì lòng chai đá không tin của chúng ta nữa, nhưng xin Người vui nhận những hành động trung thành nhỏ bé của chúng ta, tính quảng đại với tha nhân của chúng ta trong việc phục vụ tha nhân, những người anh chị em chúng ta. Chớ gì Thiên Chúa ban cho chúng ta tâm hồn quảng đại để chúng ta có thể nhìn vượt quá chúng ta hầu nhận biết lòng tốt, tính vĩ đại và vẻ đẹp huy hoàng của tha nhân thay vì ganh ghét tỵ hiềm vì những cái họ có. Chỉ có quyền lực của Thiên Chúa mới cứu được chúng ta khỏi tính ganh ghét, tâm hồn nghèo nàn, khỏi sư nghi ngờ và sai lầm, khỏi sợ chết và thất vọng. 

Tin Mừng cứu chuộc quả là “Tin Mừng Vĩ Đại” cho chúng ta ngày nay.  mục lục

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

CON NGƯỜI CỨNG LÒNG KHIẾN CHÚA NGẠC NHIÊN

Bị hiểu lầm hay bị từ chối là những điều khiến người ta phiền lòng. Êdêkien, và ngay cả Chúa Giêsu Con Thiên Chúa làm người cũng không đứng ngoài qui luật thường tình ấy. Là ngôn sứ thì dù ở hội đường hay trong gia đình cũng sẽ gặp khó khăn, có thể bị ruồng bỏ là kinh nghiệm của Chúa Giêsu và Êdêkien. Êdêkien được Chúa chọn, gọi làm ngôn sứ cho dân đi lưu đầy cùng với ông : "Ta sai ngươi đến để nói với những con cái dầy mặt cứng lòng... Hoặc chúng nghe, hoặc chúng không nghe, vì đây là bọn phản loạn" (Ed 2,4-5). Chúa Giêsu về hội đường giảng dạy cho người đông hương cũng phát buồn và thốt lên câu nói để đời: "Không một tiên tri nào mà không bị khinh bỉ ở quê hương, gia đình họ hàng mình" (Mc 6,4). Tại sao vậy?

Biết rõ

Tin Mừng Nhất Lãm thuật lại sự lúng túng của dân thành Nadarét trước Chúa Giêsu người đồng hương của họ đi xa trở về nơi hội đường. Vì họ đã quá biết về gia thế của Chúa Giêsu, vì biết rõ nên họ không đánh giá đúng về Người.

Có lẽ đây là lần đầu tiên Chúa Giêsu trở về Nadarét sau khi đi thi hành sứ mạng công khai. Nadarét là cái nôi của thời thơ ấu, niên thiếu của Chúa Giêsu. Nơi ấy có gia đình, bà con, thân bằng quyến thuộc, bạn bè, quê hương, nên khi Chúa Giêsu trở về nhà họ biết ngay. Trong số họ có người đã từng thấy Chúa Giêsu được mẹ ẵm như bao nhiêu trẻ em khác. Con cái họ và Chúa Giêsu đều học chung một lớp, cùng chơi và cười đùa với nhau, cùng thảo luận những bài học về cái cửa, cái xà. Chúa Giêsu đã từng cầm cưa, bào, đục, và nhất là nói giọng nói miền quê Nadarét trong suốt bấy nhiêu năm trời.

Lần trở về này nhằm ngày Sabát, Chúa vào hội đường, dân làng đón tiếp Chúa rất vui vẻ. Tại đây, Chúa bắt đầu giảng dạy: "Nhiều thính giả sửng sốt về giáo lý của Người, nên nói rằng: "Bởi đâu ông này được như vậy? Sao ông được khôn ngoan như vậy? Bởi đâu tay Người làm được những sự lạ thể ấy?" (Mc 6,2).  Nói xong bỗng nhiên thái độ của họ đổi hẳn vì những cái đã biết về Người. Sự gần gũi, thân thiện gia đình, tình làng nghĩa xóm ấy làm cho họ ngạc nhiên. Từ ngạc nhiên bởi sự khôn ngoan và lời nói thốt ra từ miệng Người, cũng như các phép lạ Người làm tại Galilê sang từ chối, khiến họ không nhận ra Chúa Giêsu Con Thiên Chúa làm người ở giữa làng họ và họ "vấp phạm vì Người" (Mc 6,3).

Đã nhiều năm qua, gia đình Chúa Giêsu đã để lại những ấn tượng tốt về Người. Trước sự ngạc nhiên và từ chối của dân thánh Nadarét, cũng như sự thiếu lòng tin của họ, Chúa Giêsu đã buông lời thở dài: "Không một tiên tri nào mà không bị khinh bỉ ở quê hương, gia đình họ hàng mình! " (Mc 6,4).  Chúa Giêsu là Con yêu dấu của Chúa Cha, Đấng tạo dựng thế gian nhưng thế gian đã không tiếp nhận Người.

Không được đánh giá đúng

Chúa Giêsu buồn vì thành kiến của đông hương về lý lịch của Chúa: cha mẹ, gia đình và nghề nghiệp: "Ông này chẳng phải bác thợ mộc con bà Maria, anh em với Giacôbê, Giuse, Giuđa và Simon sao? Chị em ông không ở với chúng ta đây sao?" (Mc 6,3). Họ không thể đi vào mầu nhiệm Thiên Chúa làm người.

Ông là ai? Là câu hỏi được đặt ra trong toàn bộ Tin Mừng Marcô (1, 24 và  25 – 1,27 – 1,34 – 4,41 – 6,14 và 15). Căn tính bí ẩn này là gì? Trên đường hành trình với các môn đệ từ Xêsarê đến Philiphê Chúa hỏi các ông "Phần anh em, anh em bảo Thầy là ai? "

Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật

Ngày hôm nay, Thiên Chúa cần có câu trả lời từ phía con người đang tìm kiếm ý nghĩa của Lời Chúa và bước vào cuộc đối thoại với Chúa. Người thợ mộc thành Nadarét là Thiên Chúa thật và là Người thật, Người là Đấng Cứu Độ duy nhất của chúng ta, là Lời Chân lý dẫn đến Sự Sống đời đời. Hãy biết nhận ra Chúa, đừng để Chúa đi qua. Mẹ Maria hòa mình vào đám đông để chiếm ngắm và lắng nghe người ta nói về con Mẹ: "Ông này chẳng phải bác thợ mộc con bà Maria!" (Mc 6, 3). Con bà Maria và là Con Thiên Chúa, đó là Bí Mật Tình Yêu của Thiên Chúa, Người bước vào đời sống công khai bằng con đường khiêm tốn và nghèo khó. Người ngạc nhiên vì họ cứng lòng tin, và buồn vì họ không chấp nhận bất cứ sự gì đến từ Người. Nghĩa xác thực được thánh Marcô sử dụng ở đây theo tiếng Hy lạp, không phải Chúa Giêsu mong đợi người đồng hương tin vào Thiên Chúa, nhưng là mong đợi phần lớn những người Nadarét: tin vào Người.

Ngày hôm nay có người nói rằng: Nếu chúng ta sống vào thời các Tông đồ và chứng kiến Chúa Giêsu như họ, chắc chúng ta cũng giống họ. Họ biết quê hương mình có người tên là Giêsu nhưng không biết người đang nói với họ là Chúa Cả trời đất… Thực tế ngày hôm nay khác với ngày xa xưa ấy, vì nhiều người hạnh phúc hơn, tin tưởng vào những điều đã nghe và đã thấy.

Quả thật, ở giữa những người ẫu trĩ có một người khiêm nhường; là Thiên Chúa thật đến dạy dỗ chúng dân. Người đến với những thu thuế và tội lỗi, đồng bàn ăn uống với họ (Mt 9,11); Vì thế, có người miệt thị nói rằng: "Ông này chẳng phải bác thợ mộc con bà Maria, anh em với Giacôbê, Giuse, Giuđa và Simon sao?" (Mc 6,3; Ga 6,42) Nhưng Chúa Giêsu vần là Thiên Chúa thật và là người thật, các vua chúa trần gian phải phụng thời Người ... Người hoàn toàn là con người như chúng ta: ăn, uống, ngủ, nghỉ, đổ mồ hôi và mệt mỏi như chúng ta, giống chúng ta mọi đàng, ngoại trừ tội lỗi. Người được gìn giữ khỏi hư nát và khỏi chết giữa muôn người. Giờ đây Người ngự bên hữu Đức Chúa Cha (Mc 16,19), không gì có thể tách Người với Chúa Cha.

Thật là kỳ diệu, để có thể nhận biết và tin rằng một người như bao người là Thiên Chúa, Đấng tạo thành trời đất và mọi sự trên trời dưới đất ... Vì thế, hằng ngày chúng ta nghe Chúa Giêsu thông truyền thánh ý Chúa Cha qua các tác giả Tin Mừng, chúng ta phải vâng nghe, tuân giữ các giới răn của Người và tin vào Người.

Lạy  Chúa Giêsu, con tin Chúa là Thiên Chúa thật và là người thật, là Đấng cứu độ chúng con. Amen. mục lục

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

THÓI KIÊU NGẠO VÀ ĐỊNH KIẾN ĐÃ CẢN TRỞ ƠN CỨU ĐỘ

Khi Đức Giêsu đến trần gian, Ngài đã tuyệt đối trung thành với sứ vụ Thiên Sai của mình, vì thế, khi tiếp xúc với dân chúng, Đức Giêsu đã can đảm, trung thành với sứ vụ. Luôn tỏ ra là một Vị Thiên Chúa sẵn sàng khích lệ, đồng hành, cảm thông và xót thương con người. Dạy dỗ và làm nhiều phép lạ nhằm loan báo Mầu Nhiệm Cứu Chuộc cho dân để họ sám hối, tin theo và được cứu chuộc.

Tuy nhiên, khi thi hành sứ vụ, Đức Giêsu đã gặp phải rất nhiều thử thách đầy cam go do chính những người đồng hương với Ngài gây nên. Những thử thách đó khởi đi từ sự kiêu ngạo, tự phụ và thành kiến của người đồng hương.

Tuy nhiên, khi đối diện với những vấn đề như vậy, Đức Giêsu đã không chùn bước, nhưng Ngài vẫn luôn trung thành cách trọn vẹn thánh ý Thiên Chúa Cha đã trao gửi cho  Ngài trong sự khiêm tốn và can đảm.

1.  Nguyên nhân dẫn đến việc cản trở Đức Giêsu khi Ngài trở về quê hương

Hôm nay, thánh sử Máccô thuật lại việc Đức Giêsu trở về quê hương của Ngài. Trong chuyến thăm quê lần này, cũng giống như những lần khác, Ngài vẫn vào hội đường và cầu nguyện cũng như thi hành sứ vụ Thiên Sai của mình.

Tuy nhiên, Dân Do thái vốn dĩ là một dân cứng đầu, dễ nổi loạn chống đối lại Thiên Chúa. Họ luôn thách thức Thiên Chúa khi Người không đáp ứng nhu cầu của họ. Hơn thế nữa, họ rất coi trọng nguồn gốc sáng giá của một con người.

Bởi thế, thán phục các phép lạ, nhưng lại coi thường Đức Giêsu vì Ngài xuất thân trong một gia đình không mấy nổi nang! Điều này chính những người Do thái đã thắc mắc: cha ông không phải là Giuse, mẹ ông chẳng phải là bà Maria sao? vì thế, họ không tôn trọng Ngài.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên không là gì khác, đó chính là sự kiêu ngạo của những người đồng hương.

Tại sao vậy? Thưa, sự kiêu ngạo đã là đó ngáng chỗ và lòng kiêu căng đã chiếm mất chỗ của Chúa trong cuộc đời của họ.

Trước thái độ trên, Đức Giêsu đã tuyên bố một câu mà muôn đời vẫn giữ nguyên giá trị: đó là: “Tiên tri không bao giờ được tôn trọng trên chính quê hương mình”.

Qủa đúng như vậy, vì, xét theo lẽ tự nhiên, một con người dù tài giỏi đến đâu, làm việc hiệu quả thế nào, và thành đạt trên nhiều lãnh vực hay nhiều nơi đi nữa, thì khi trở về gia đình, quê hương, họ luôn bị chính những người thân cận, làng xóm coi ở mức độ “thường thường bậc chung” vì lối suy nghĩ thiển cận, nên: “Gần chùa gọi bụt bằng anh”.

Điều này Đức Giêsu đã trải qua khi Ngài trở về quê hương của mình!

Nhưng sự coi thường đáng tiếc này đã khiến cho ơn cứu độ của Thiên Chúa vuột mất khỏi họ, và suốt bao thế kỷ, họ vẫn đang chờ đợi một Đấng Kitô khác chứ không phải Đức Giêsu, Đấng đã hiện diện giữa họ cách đây hơn 2.000 năm.

2.  Thực trạng kiêu ngạo của con người hôm nay

Thực trạng ấy nơi những người đồng hương với Đức Giêsu khi xưa, hôm nay vẫn còn đây đó nơi chúng ta, vì: thói ích kỷ, kỳ thị, chấp nhất, định kiến, ác cảm, nên ta hay giam người anh chị em mình trong quá khứ hay “tạc tượng” họ trong một lối nhìn tiêu cực và không bao giờ cho họ cơ hội để mở ra một tương lai tốt đẹp hơn….

Lý do họ không nhìn anh chị em mình dưới lăng kính màu hồng, mà toàn màu đen, bởi mắt họ đang đeo cặp kính râm của sự kiêu ngạo! Vì thế, lối suy nghĩ nông cạn, vu vơ và trống rỗng đã dẫn đến việc đánh giá, đối xử lệch lạc và thiếu công bằng cũng như bất nhân. Quả đúng là: “Yêu ai thì nói quá ưa – Ghét ai nói thiếu nói thừa như không”; hay ”Yêu ai yêu cả đường đi, ghét ai ghét cả tông chi họ hàng”.

Những người nông nổi như vậy, họ đâu có hiểu được rằng: “Sông có khúc, người có lúc”.

Thật vậy, có người bị coi là không tốt, đồ bỏ, vứt đi ở chỗ này, nhưng họ lại được nhiều người coi trọng và kính nể ở một nơi khác…. Còn có nhiều người được xem là nhẹ nhàng, tao nhã, lịch thiệp chốn quan trường, ngoài xã hội, nhưng khi về đến gia đình, họ lại là kẻ bất nhân, vô liêm sỉ với người thân. Mở miệng ra là quát tháo, chửi bới nên “thượng thẳng tay, hạ thẳng chân” với anh chị em họ. Những người này thuộc hạng “khôn nhà dại chợ”; “làm phúc nơi nao để cầu ao rách nát”; … hay có những người ăn nói ngọt như đường mía lau, nhưng thực ra họ thuộc dạng: “Đội trên, đạp dưới” nên tâm địa bỉ ổi, xấu xa chẳng khác gì kẻ: “Miệng thì thơn thớt nói cười, mà trong nham hiểm giết người không dao”. Hay như Mc Kenzie nói :”Người có tình yêu nhìn bằng viễn vọng kính, còn người ghen tị thì nhìn bằng kính hiển vi”.

3. Sống sứ điệp Lời Chúa

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay vừa nhắc nhở, vừa mời gọi chúng ta ý thức sứ mạng ngôn sứ cũng như lối sống và cách thức loan báo Tin Mừng!

Trước tiên, sứ mạng ngôn sứ được trao ban cho chúng ta ngày lãnh nhận Bí tích Rửa Tội. Sứ mạng ấy càng thôi thúc mãnh liệt khi chúng ta lãnh nhận Bí tích Thêm Sức.

Vì thế, mỗi người phải có trách nhiệm loan báo Lời Chúa, thi hành sứ mạng ở mọi nơi, mọi lúc, dù: “Thuận tiện hay không thuận tiện”; được ủng hộ hay chống đối, được đón nhận hay bị khước từ, được tôn vinh hay giết chết…. Mặt khác, khi thi hành sứ vụ, chúng ta không thể chọn lựa theo ý mình, mà phải nói và làm điều Thiên Chúa muốn một cách trung thành (x. 1 Cr 9,15-16); không được giả hình và bóp méo Lời Chúa (x. 2Cr 11,10 ; 13,8).

Thứ đến, khi thi hành sứ vụ, cần nhớ nằm lòng câu nói của Đức Giêsu: “Không ngôn sứ nào được kính trọng nơi quê hương mình”.

Cần nhớ rõ một điều, chúng ta đi đến đâu, làm bất cứ điều gì, sẽ có 30% người ủng hộ. 30% người chống đối, loại trừg, số còn lại dửng dưng. Đây cũng chính là số phận và cái giá phải trả của Đức Giêsu khi thi hành sứ vụ.

Bởi vì làm ngôn sứ không phải là chuyện đơn giản, mà là: “Vô cùng phong nhiêu”, phúc tạp! Vì Lời Chúa một đàng là lời tình yêu, nhưng một đàng là lời cật vấn lương tâm, vạch trần tội ác, bất công, gian dối, hình thức…, nên:  “Nếu thế gian ghét các con, thì hãy nhớ rằng họ đã ghét Thầy trước …. Đầy tớ không lớn hơn chủ mình. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, thì họ cũng sẽ bắt bớ các con” (Ga 15,18-20).

Thật vậy, sứ mạng ngôn sứ đòi chúng ta chấp nhận lội ngược dòng, không thể sống theo phong trào hay “hiệu ứng đám đông”. Đôi khi chấp nhận điên vì sứ vụ, khùng Tin Mừng, khi dám nói lên tiếng nói công lý, công bằng ngay tại những nơi nguy hiểm như: sòng bài, quán rượu, quán karaokê…, nơi những con người đang “quậy” tứ tung hay “điên cuồng” trong những cuộc chơi bất chính….

Khi lựa chọn như thế, sự lẻ loi, cô lập và chống đối hay phải thí mạng là lẽ đương nhiên!

Mong sao, sứ mạng và số phận ngôn sứ của Đức Giêsu trong thời của Ngài, cũng là của chúng ta trong thời đại hôm nay.

Ước gì vì: “Nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà tôi đây sẽ phải thiệt thân” là lựa chọn của mỗi người Kitô hữu, vì: “Tình yêu Đức Kitô thúc bách chúng ta” nên chúng ta “được Chúa kêu gọi để tỏa sáng như các vì sao  giữa lòng thế giới tối tăm này” (Pl 2,15).

Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con sự khiêm nhường và tình yêu của Chúa, để chúng con yêu cả những người thù ghét mình. Xin ban sức mạnh của Chúa, để chúng con can đảm, vững bước trên con đường thi hành sứ vụ.

Xin cho chúng con mặc lấy lòng bao dung, nhân hậu của Chúa, để chúng con đón nhận anh chị em chúng con trong tình Chúa và tình người. Amen. mục lục

Tu sĩ Jos. Vinct. Ngọc Biển, S.S.P.

THÀNH KIẾN

Phúc Âm tường thuật rằng, ngay sau khi xuất hiện công khai tại vùng Ga-li-lê, Chúa Giêsu đã trở thành một nhân vật rất nổi tiếng. Từ miền quê cho đến thành thị, từ vùng biển cho đến vùng núi, trong nhà ngoài đường, nơi phố chợ…chỗ nào thiên hạ cũng trầm trồ, khen ngợi và khâm phục sự khôn ngoan, những lời giáo huấn, và những phép lạ mà Chúa Giê-su đã thi ân giáng phúc cho dân chúng. Chúa Giêsu đã nổi tiếng đến nỗi cả vua Hê- rô-đê cũng nôn nao, cũng ao ước muốn được gặp bởi đã từng nghe [người ta] nói về Người (x. Lc 23:8).

Ấy vậy mà những người hàng xóm của Chúa Giê-su lại nghi ngờ, rồi còn bàn tán với nhau: “Bởi đâu ông ta được như thế? Ông ta được khôn ngoan như vậy, nghĩa là làm sao? Ông ta làm được những phép lạ như thế, nghĩa là gì?...” (Mc 6:2).

Chưa hết, họ đã tỏ thái độ coi thường Chúa Giêsu đến nỗi, Ngài phải thốt lên: “Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi” (Mc 6:4).

Tại sao họ lại coi thường Chúa Giêsu như vậy? Tôi nghĩ là vì họ có qua nhiều THÀNH KIẾN.

• Họ biết Chúa Giê-su từ hồi nhỏ, cậu không phải là một người có bằng cấp cao, chẳng đi học đâu xa cả, chỉ loanh quanh trong ngôi trường làng, gia đình thì nghèo, bố làm thợ mộc, mẹ làm nghề may vá và nội trợ, cả họ hàng, anh em bà con cũng thế, chẳng có ai có tài năng gì đặc biệt cả. Vậy mà bây giờ Giêsu lại trở thành một người khôn ngoan, có tài ăn nói lưu loát và đầy sức thuyết phục như vậy, không thể như thế được!

• Trong ba mươi năm trời, Giêsu âm thầm sống với cha mẹ, chẳng bao giờ có ai nói, cũng chẳng có ai nghe là Giêsu có những khả năng phi thường hay có những tài năng đặc biệt gì cả. Vậy mà bây giờ lại nổi tiếng về tài chữa bệnh, làm phép lạ cho người què đi được, kẻ mù xem thấy, kẻ chết sống lại…thì làm sao mà tin cho nổi.

Vì mang nặng những THÀNH KIẾN như vậy cho nên họ đã khinh thường Chúa Giêsu. Và vì thế Ngài không thể làm được phép lạ nào tại [Na-da-rét] cả (x. Mc 6:5).

Thành kiến về tha nhân đã và vẫn đang tồn tại ở trong hãng xưởng, ở chợ, ở văn phòng, ở tiệm, ở trường học, ở trong gia đình, trong dòng tu, và ở trong giáo xứ dưới rất nhiều hình thức khác nhau.

• Con ơi, người ngoại quốc họ hoang phí lắm, họ không biết dành dụm, không biết tiết kiệm, không biết lo cho tương lai, làm đồng nào xào đồng ấy…con mà lấy nó thì cả đời con chỉ có khổ mà thôi!

• Mày là người miền nam mà làm dâu của nhà người miền bắc thì mày chết chắc! Người miền bắc họ lễ nghĩa, khách sáo, khắt khe, và khó khăn lắm đó!

• Phải là dân chơi, dân giang hồ, thì nó mới có những vết xâm ở trên tay như vậy! Tôi sẽ không bao giờ chấp nhận cái thứ ấy là rể trong gia đình tôi!

• Bà Hai cương quyết không chấp nhận cho Hào lấy Huê chỉ tại vì bà tin rằng “Những người mắt trắng môi thâm, trai thì xảo quyệt, gái thì điêu ngoa!”

Bạn có bao giờ có những thành kiến về người khác không? Nếu không thì cám ơn Chúa. Còn nếu chẳng may bạn đã từng có những thành kiến với tha nhân, thì xin bạn hãy suy nghĩ lại! Xin bạn thay đổi đi, bởi vì ở đâu cũng có người tốt kẻ xấu, tất cả mọi người chúng ta đều bất toàn, đều có những sai phạm, đều có những lỡ lầm…

Xin đừng có thành kiến với ai cả, vì khi có thành kiến với người khác, là khi đó ma quỷ sẽ gieo vào trong gia đình, trong cộng đoàn dòng tu, trong giáo xứ, vào trong nơi làm việc, và vào trong tâm hồn chúng mình sự chia rẽ, ghen tương, oán ghét, cạnh tranh, vu khống, nói hành, kiêu căng, hỗn loạn (2 Cr 12:20).

Cầu chúc bạn luôn luôn là một người đại lượng, nhân hậu, và phóng khoáng và nhất là không bao giờ có những thành kiến hay những định kiến tiêu cực về những người chung quanh, đặc biệt là đối với những anh chị em khác màu da, hoặc những người có những phong tục tập quán khác với mình.

Chúa Giê-su đã phán: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25:40). Nghĩa là mỗi lần bạn và tôi có thành kiến với bất cứ ai, thì lúc đó là chúng mình đã có thành kiến với chính Chúa vậy! Bạn và tôi hãy cầu nguyện cho nhau để đừng ai trong chúng mình có những thành kiến với Chúa nhé! Có thành kiến với Ngài là không ổn đâu! Thật đấy! mục lục

Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

MỞ LÒNG ĐÓN NHẬN ÂN SỦNG VÀ TÌNH YÊU

Đức Giêsu trở về thăm quê hương, nhưng dân làng không tiếp đón Người.

Thành kiến, cố chấp thường khiến con người mù quáng, thiếu suy xét cho đúng, và dẫn đến loại trừ: Mù quáng vì chỉ có thể nhìn thấy một phía, nhìn sai lệch; Thiếu suy xét vì chỉ hài lòng với những gì đã biết- thường dựa trên cảm tính, trong quá khứ; Loại trừ vì không nhận ra điểm tích cực, đánh giá thấp và không mở lòng chấp nhận. 

Thiên Chúa mời gọi chúng ta thoát ra khỏi thành kiến, để nhận ra những điều kỳ diệu mà Người đang thực hiện nơi những con người rất tầm thường, rất quen thuộc với chúng ta.

Đức Giêsu đã thất bại tại quê nhà Người vì “không thể làm được phép lạ nào tại đó”, trước sự cố chấp và thành kiến của dân làng. Đây thật là một kinh nghiệm thất bại đớn đau: Khi bị dân làng khước từ, khi thân nhân của Người cho rằng Người mất trí (Mc 3, 21), khi các Kinh sư, người Pharisêu không tin Người. Tất cả họ đã khép lòng trước ân sủng và tình yêu của Thiên Chúa.

Chúng ta cũng thất bại nặng nề: Khi mọi người đang gần gũi, qua lại, thân tình lại “trở mặt”, thay lòng đổi dạ; Khi tài sản tiêu tán, “không cánh mà bay”; Khi không có việc làm phù hợp với khả năng; Khi công việc kinh doanh sa sút hay không lợi nhuận... Kinh nghiệm thất bại thực là một trải nghiệm đớn đau, và thường gây chán nản, bỏ cuộc, thậm chí oán hận, tức giận, “giận cá chém thớt”, cay đắng, nghiệt ngã… và biết bao cảm xúc tệ hại khác. Có lẽ kinh nghiệm thất bại đau đớn nhất là khi tương giao thân tình- vốn nâng đỡ, có ý nghĩa cho cuộc đời, bị gẫy đổ: “Con người chối từ nhau”. 

Để có thể vượt qua thời khắc tệ hại này, chúng ta cần: 

* QUÊN những cay đắng, buồn phiền- vốn không chỉ có chúng ta phải chịu, mà còn nhiều người cũng phải chịu- có khi còn nặng nề hơn.

* QUY về Thiên Chúa tất cả những thất bại, cũng như thành công, vì “Tôi tớ không lớn hơn chủ nhà”. 

Thiên Chúa mời gọi chúng ta mở lòng đón nhận ân sủng và tình yêu của Người, mở mắt tâm hồn để nhận ra quyền năng của Người, vì Thiên Chúa cũng bất lực trước những khước từ, những tâm hồn khép kín của con người.

Lạy Chúa Giêsu,

Con cám ơn Chúa đã cho con cặp mắt để con thấy vinh quang của Chúa, cho con đôi tai để con nghe chân lý của Chúa, và cho con trí tuệ để con say mê Chúa. mục lục

Lm. Anphong Vũ Đức Trung, O.P.

TẦM THƯỜNG VÀ GANH TỴ

Một lần nữa, chúng ta suy niệm câu chuyện đau lòng: Người đồng hương của Chúa Giêsu khước từ Chúa. 

Tuy ít nhiều chi tiết, dụng ý, ngụ ý, bối cảnh văn chương khác nhau, nhưng cả ba tác giả Nhất Lãm (Mt 13, 53-58; Mc 6, 1-6; Lc 4, 14-39) đều ghi nhận, Chúa Giêsu, sau thời gian rời gia đình đi rao giảng, trở về quê nhà Nazareth, không được đón tiếp nồng hậu. Cả ba đều cho thấy Chúa Giêsu thất vọng đối với đồng hương: “Ngôn sứ không có thế giá tại quê hương mình” (Ga 4,44). 

Người làng Nazareth nói không sai về nguồn gốc nhân tính của Chúa: “Mẹ ông là bà Maria, anh em họ hàng là Giacôbê, Giuse, Giuđa và Simon”. Bởi Chúa lớn lên từ đây. Xóm làng này, từ nhiều chục năm nay, còn có ai lạ gì hình ảnh cha của cậu bé Giêsu, bác thợ Giuse hàng ngày tỉ mỉ với cái bào, cái cưa, cái đục lui cui đóng bàn sửa ghế, ráp giường ghép tủ... 

Nhưng họ chỉ biết một mà không biết hai. Họ tưởng mình thông suốt về lý lịch của Chúa Giêsu, thực ra họ chỉ là kẻ mù tối. Cái óc phán đoán chỉ biết dựa trên thứ chủ nghĩa lý lịch đã che mù con mắt của họ, đẩy họ xa rời đức tin. 

Bởi còn một chân lý quan trọng phía bên trong con người Giêsu ấy chính là nguồn gốc bởi trời, nguồn gốc thần linh tuyệt đối mà ngoài Chúa ra không một ai có được: Chúa là chính Đức Chúa Trời, là Ngôi Hai Thiên Chúa và là Đấng Thiên sai mặc lấy bản tính loài người nhập thể vào trần gian.

Khi có sẵn thành kiến về gốc gác của Chúa, người làng Nazareth cho thấy lòng họ nhiều tiêu cực: kiêu ngạo, ấu trĩ, thiếu cầu tiến, thiếu khôn ngoan...

Trong tất cả những tiêu cực, nổi bậc là sự tầm thường và thái độ ganh tỵ của họ đứng trước sự tự tin, khôn ngoan, uyên bác của Chúa Giêsu. Nhìn Chúa bằng cặp mắt tầm thường, họ đánh giá Chúa cũng bằng sự tầm thường ấy. 

Cái tầm thường đã "cư ngụ" sẵn, đã ngốn hết mọi vị trí trong phán đoán của họ. Vì thế, dẫu có nhận ra "ông này được khôn ngoan", thì họ vẫn không chấp nhận thực tế sự "khôn ngoan" của Chúa.

Nhìn người khác bằng ánh mắt tầm thường, cũng có nghĩa là lòng mình chỉ là cõi lòng tầm thường; con người mình chỉ là con người tầm thường.

Mọi suy xét, hiểu biết xuất phát từ cái tầm thường, làm sao có thể ra khỏi cái thế giới tầm thường đang vây lấy nó. Nói cho đúng, đã là kẻ tầm thường, não trạng của kẻ vốn tầm thường, trước sau cũng chỉ tầm thường mà thôi.

Chính cái tầm thường cố hữu của người làng Nazareth khi đứng trước sự khôn ngoan vượt bậc của Chúa, đã không mang lại cho họ bất cứ kết quả hay bài học tốt đẹp nào. 

Trái lại, nó khiến họ càng lấn sâu vào sự dè biểu, chê bai. Họ nương vào cái lý lịch của Chúa Giêsu để tự đánh lừa: Giêsu nào có gì hay. Con của lão thợ mộc, con của bà Maria quê mùa. Đó chỉ là một gia đình nghèo kiết xác.

Họ bám víu vào cái lý lịch mà họ tự hiểu về Chúa để tự yên tâm về sự đánh giá mà họ dành cho Chúa. Càng tìm lý lẽ ngụy biện hòng làm bệ đỡ cho lối suy nghĩ tiêu cực, càng cho thấy họ tầm thường. Cái tầm thường ấy chỉ có thể đẻ ra lòng ganh tỵ. Càng tầm thường, càng ganh tỵ mà không tiếp thu được bất cứ điều gì từ sự khôn ngoan của Chúa và từ chân lý mà Chúa mạc khải.

Qua suy nghĩ về cách mà người đồng hương của Chúa thể hiện, ta phải nhìn lại mình, nhìn lại thái độ sống bên cạnh anh em của mình. Ta cũng đầy ganh tỵ tầm thường, đầy những lý lẽ ngụy biện để chối từ anh em, chối từ một hiện thực nào đó, lẽ ra rất cần, rất tốt cho bản thân hay đời sống chung.

Ganh tỵ vì thua kém, bởi anh em, nhất là những kẻ từng ở bên cạnh mình, nay trội hơn mình, là thứ sản phẩm xuất ra từ cái tầm thường của ta.

Tầm thường mà không nhận thấy mình tầm thường, lại chỉ tỏ ra ganh tỵ, cũng là thứ kiêu ngạo. Bởi kiêu ngạo, nên không đón nhận tha nhân, không đón nhận cái hay, cái tốt, không đón nhận những đổi mới đôi khi vô cùng cần thiết cho cá nhân, tập thể, cộng đoàn dòng tu, giáo xứ, giáo phận...

Hãy đứng trên cái tầm thường nhỏ nhen của bản thân. Hãy học cách ngưỡng một thay vì ganh tỵ. Hãy tập cho mình tâm hồn rộng lượng, bao dung để khi thấy ai thành công, ta mừng cho họ. Thấy ai hơn mình, ta chúc phúc cho họ. Trong cuộc sống đời thường, hãy học cách khen ngợi người khác thật lòng, chân thành công nhận thành tựu của người khác.

Hãy nhớ, ganh tỵ bóp méo nhân cách, làm thay đổi bản chất tốt đẹp trong  ta. Cuộc sống bản thân vui vẻ, hạnh phúc hay đau khổ tùy vào lựa chọn và cách nghĩ của mỗi người. Ganh tỵ, nhất là ganh tỵ triền miên với người gần bên, sẽ làm ta mất bình an, mất niềm vui, mất hưởng thụ cuộc sống.

Nếu có lúc nhận ra mình ganh tỵ, hãy nhìn Chúa Giêsu hy sinh cho nhân loại, cho chính ta, để học theo Chúa từng chút, từng chút một, suốt đời mình.

Hãy nghĩ về cái tốt ta đang có và tự nhủ: "Nhìn lên không bằng ai, nhưng nhìn xuống không ai bằng", để chuyển ganh tỵ thành ngưỡng mộ, chuyển năng lượng xấu thành tích cực, thành động lực để cố gắng hoàn thiện bản thân. 

Lm. JB. NGUYỄN MINH HÙNG

LẠC GIỮA QUÊ HƯƠNG

[Niệm ý Mc 6,1-6]

Về quê mà chẳng vui
Mọi người đều quen mặt
Chẳng ưa nên thấy ghét
Rẻ rúng hơn người dưng
 
Chúa Giê-su phi thường
Về quê cũng đành chịu
Đời chẳng mấy người hiểu
Giỏi cũng chẳng ai tin.
 
Về quê tìm bình yên
Mà chỉ thấy xáo trộn
Quen mà như lạ lẫm
Thấy nhau vội quay đi.
 
Ra đời có là chi
Về quê cũng thừa thãi
Có khôn cũng như dại
Lạc lõng giữa quê hương. mục lục

Viễn Dzu Tử

TÍN NHIỆM ĐỒNG HƯƠNG

 (Suy niệm từ Mc 6,1-6)

Ngày kia Chúa ở quê nhà, 
Giảng rao Kinh Thánh trước ba hạng người
Người nghe sửng sốt lạ đời
Ngợi khen giáo lý của Người tuyệt cao
Đã nghe phép lạ truyền rao
Nay Người giảng dạy, ai nào dám khinh
Đó là hạng nhất thật tình
Hạng hai tự hỏi: thông minh như vầy
Nghĩ rằng duyên cớ chi đây
Bao nhiêu sự lạ xưa rầy có đâu
Hoài nghi giữ mãi trong đầu
Cho qua tín nhiệm, mặc dầu đáng tin
Hạng ba khinh suất, chẳng tin
Anh em nhà họ ở liền chúng ta
Dân thường như chúng ta mà 
Họ làm, họ nói, bỏ qua cho rồi
Chỉ là giả dối mà thôi …
***
Người thiện chí tâm hồn quảng đại
Giữ lòng thanh, nhân ái, khiêm nhu
Khôn ngoan: ơn Chúa hộ phù
Nhận ra chính Chúa thiên thu vĩnh hằng. mục lục

(Thế Kiên Dominic)

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan