TÔI THƯƠNG VÀ BIẾT ƠN SÀI GÒN

09-07-2021 147 lượt xem

Khi tôi đặt bút viết bài này, Sài Gòn đang bị giặc covid tấn công nặng nề. Dẫu trong đời mình, tôi chỉ là cư dân Sài Gòn chừng mười năm, nhưng tôi yêu Sài Gòn thật nhiều. Sài Gòn đã giữ trọn trong lòng mình thời trẻ trung của tôi. Bù lại, Sài Gòn đong đầy trong tôi nhiều kỷ niệm của thời trẻ trung ấy. 

Ca khúc: 'Sài Gòn tôi sẽ...' - Sáng tác: Thầy giáo tiếng Anh Nguyễn Thái Dương, 30 tuổi.

Mười chín tuổi, tôi bước ra khỏi làng quê, ngôi nhà và người thân của mình để hòa nhập vào cuộc sống vô cùng huyên náo của một nơi đã từng là đô thành lớn nhất miền Nam. 

Sài Gòn thuở ấy gắn bó thân thiết với tôi, đã cùng tôi học tập, cùng tôi ra chợ Ông Hoàng - Tân Bình bán hàng, cũng có lúc chứng kiến tôi bưng bê trong cửa hàng gần ga Hòa Hưng để có tiền trang trải.  

Sài Gòn nhiều lần chứng kiến tôi ăn vội, cùng tôi ngủ không đầy giấc. Sài Gòn dạy tôi cách sống tự lập. Sài Gòn uốn tôi từ thằng nhà quê thành kẻ có chút mùi phố thị. Sài Gòn cho tôi kiến thức, giúp tôi chốn học hành để tôi là chính tôi của hôm nay. Sài Gòn hung đúc tôi cứng cáp đủ để đối đầu cùng bão tố.

Giữa phồn hoa đô hội, Sài Gòn nắn đúc trong tôi nét trầm tư, sự vững chãi, sự trưởng thành, sự kiên cường và bền bỉ. Sài Gòn cho tôi kinh nghiệm sống. Sài Gòn rèn nghị lực trong tôi, để đừng bao giờ chùn bước trước khó khăn, nghèo đói hay bất cứ thử thách nào...

Tuy nhiều gian lao, nhưng giữa lòng Sài Gòn, không thiếu những trải nghiệm cho niềm hạnh phúc, sự vui đùa, nhất là những thể hiện cho tình người mà nhiều năm không phai trong lòng tôi... 

Sài Gòn theo tôi những buổi sáng và những buổi chiều đạp xe thong thả dưới hàng me "tử tội" (bị người ta cưa ngọn) trên đường Nguyễn Du hay những hàng cây cổ thụ trên đường Lý Thường Kiệt, đường Nguyễn Chí Thanh... 

Nhớ những chiều tan học sớm, trước giờ lễ của nhà thờ Đức Bà Sài Gòn, trong lúc đợi nhà thờ mở cửa, tôi đã từng một mình lặng lẽ ngồi dưới gốc cây to bên ngoài bờ tường nhà xứ Đức Bà, hay phía trước trường Hòa Bình, hướng về phía tượng Đức Mẹ Hòa Bình mà đọc thầm những lời kinh của chuỗi Mân Côi...

Tôi còn có dịp quan sát những con người. Kia là bà bán nước sâm ướp lạnh; chị đẩy xe bánh khúc, chú bán các loại đồ chơi bằng nhựa từ đâu trờ tới dựng xe bên lề đường; bên trong quảng trường Hòa Bình, dưới chân tượng đài Đức Mẹ, nhiều đứa trẻ mời mọc những ông bà khách (có cả người Tây) đánh giày, mua tem cũ, đồng bạc cũ, vé số, hoặc chìa tay xin tiền... 

Mười năm chớp nhoáng trôi như cụm ráng vàng phía trời tây trong chiều gió heo may thoang thoảng, tôi từ giả Sài Gòn để trở lại quê nhà...

Cho đến bây giờ, sau nhiều chục năm xa cách, Sài Gòn vẫn chiếm ngự trong tim tôi. Mỗi khi có dịp, tôi vẫn thích rong ruỗi bằng những bước chân chậm chạp qua nhiều dãy phố, nhiều công viên... Nhất là dạo quanh, ít nhất một vòng trong sân nhà thờ Đức Mẹ hằng Cứu Giúp, trước sân nhà dòng Chúa Cứu Thế, nhà thờ Đaminh Ba Chuông, chùa Vĩnh Nghiêm..., dù hiện tại Sài Gòn đã nhiều thay đổi, nhiều kỷ niệm của tôi đã biến mất... 

Đã có lần tôi tiếc đến ngơ đến ngẩn khi nghe tin chợ Cầu Muối (cầu Ông Lãnh) bị giải tán. Đó là khu chợ mà bọn sinh viên nghèo chúng tôi hay tìm đến để lượm những rau củ quả, tuy đã cũ, nhưng vẫn còn sử dụng được mà các bà bán hàng bỏ đi. Hoặc xót vô cùng hàng cây cổ thụ chạy dài từ Trung tâm Mục vụ giáo phận Sài Gòn, ngang qua Ba Son đến bến Bạch Đằng...

Tôi biết ơn Sài Gòn. Sài Gòn gánh cả nước. Để bất cứ ai muốn thoát thân nơi vùng quê của mình, họ đều bảo nhau: Lên Sài Gòn!

Sài Gòn che chở cho biết bao nhiêu thân phận những con người. Không thể sống nổi ở nơi mình chôn nhau, người ta vào Sài Gòn với một xấp vé số, với một gánh hàng rong, với một quán cơm nhỏ xíu bên hè phố... Hoặc giữa lòng Sài Gòn, người ta xin ăn, người ta làm thuê, người ta khuân vác mướn...

Có những người cao sang, trí thức, không thể kiếm hay không muốn kiếm tiền tại quê nhà, cũng nhờ cậy Sài Gòn. Hay những tỉnh xa, điều kiện y tế kém, để giữ mạng sống của mình, của người thân mình, người ta cũng vào Sài Gòn. 

Nhiều xứ đạo, nhiều cơ sở tôn giáo, nhiều nhà thờ, nhà chùa, nhiều công trình phúc lợi, nhiều cơ sở từ thiện... trong đạo, ngoài đời, khi cần xây dựng, sửa chữa, người ta cũng tìm đến Sài Gòn. Sài Gòn nộp ngân sách trung ương đứng hàng "tóp" của cả quốc gia...

Đâu chỉ hiện tại, nhưng từ những ngày xưa của thế kỷ trước, đặc biệt, những năm giữa thế kỷ ấy, Sài Gòn đã từng mở rộng trái tim mình, dang rộng vòng tay mình, đón hàng hàng lớp lớp những đoàn người di cư, tìm sự sống ở bên này chiến tuyến...

Sài Gòn bao dung. Sài Gòn thắm tình đồng bào cốt nhục. Sài Gòn trân quý lẽ yêu đương. Sài Gòn mạnh mẽ tình người. Dẫu chỉ mười năm tôi và Sài Gòn có với nhau một khoảng trời ký ức, nhưng sao tôi yêu quá Sài Gòn. 

Vừa mới đây, được tin chỉ vài giờ nữa thôi, bắt đầu từ nửa đêm nay (tức đầu ngày thứ sáu 9.7.2021) Sài Gòn phải chấp hành lệnh "ngăn sông cấm chợ", tôi muốn thốt lên lời an ủi Sài Gòn, "người yêu" cũ của tôi, nơi đã chiếm trọn thời trẻ trung, sôi động nhất của đời tôi, lời động viên thốt ra từ tận cõi hồn mang theo cả niềm yêu thương và lòng biết ơn: Hãy cố lên! Cố lên Sài Gòn ơi. Không đầu hàng nhưng phấn đấu liên tục, tôi tin Sài Gòn sẽ chiến thắng!

Rồi đây, chiến thắng của Sài Gòn sẽ cùng với trận dịch lịch sử đi vào lòng trang sử của dân tộc. Rồi đây, các thế hệ con cháu chúng ta sẽ ngước nhìn Sài Gòn, mến phục Sài Gòn, tự hào về Sài Gòn, khi dịch tễ như cơn sóng dữ sẽ đi qua, để lại một Sài Gòn nụ cười mới, bắt đầu mới, xây dựng mới...

Sài Gòn ơi, thương lắm! Và biết ơn lắm!...

Lm. JB. NGUYỄN MINH HÙNG

BÌNH MỸ TRONG TÔI

Cách đây một ít thời gian, tôi đã từng hân hạnh sống và làm việc tại Tân Thạnh Đông, Củ Chi, ngoại ô Sài Gòn. Địa bàn mà tôi phụ trách bao gồm cả xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi.

Đặc biệt, khắc sâu trong tôi là hình ảnh những gia đình từ Nam Định, Thanh Hóa, Hàm Nam mới tạm cư, mướn đất của dân địa phương làm nghề trồng cấy rau muống nước. Đa phần họ là gia đình Công giáo. Ấn tượng về đời sống, sự cơ cực của họ vẫn nguyên vẹn trong tôi cho tới bây giờ, và chắc chắn sẽ còn về sau. 

Nhìn tình cảnh của họ mà thương lắm, tôi không biết phải gọi tình cảm ấy trong tôi có tên là gì. Hình như đó là sự rung cảm và xúc động, mà còn hơn rung cảm và xúc động...

Ngày tôi còn làm việc tại địa bàn này, mới chỉ một số gia đình có nhà cửa đàng hoàng để trú ngụ, số lớn còn lại, vẫn phải sống tạm trong những căn chòi ở giữa mảnh ruộng rau mênh mông. Được chứng kiến mà thương anh chị em. Thương nhiều lắm!

Không biết ở quê cũ, anh chị em sống thế nào, nhưng chắc chắn, khi họ phải bỏ mọi thứ ở nơi chôn nhau cắt rốn để vào miền Nam, tha phương tìm kế sinh nhai, đã là một thiệt thòi, một nỗ lực không hề nhỏ nhằm chiến đấu giành lấy sự sống cho mình, cho gia đình. Bởi nếu có một cuộc sống yên bình, không ai dại gì chối từ nó để trôi giạt tìm một chỗ nương thân khác còn nhiều bấp bênh, nhiều thử thách nơi xứ người.

Tôi thương anh chị em bởi tôi đã từng chứng kiến, trong những căn chòi nhỏ bế ấy, cả gia đình phải chung sống cùng nhau, phải chấp nhận ẩm thấp vì đó là những cái sàn chòi nằm trên ruộng rau đầy nước. Tôi thương những trẻ em là con cái của họ, tuổi còn quá nhỏ mà phải chịu cảnh sống ẩm thấp, dễ ảnh hưởng sức khỏe. Hơn thế, chọn nghề làm rau muống nước, hằng ngày vợ chồng con cái phải ngâm mình trong ruộng nước ướt sủng, phải tiếp cận trực tiếp cùng nhiều loại thuốc và phân hóa học... 

Dẫu anh chị em chở rau bằng xe tải hay xe hai bánh, thì đặc thù của nghề làm rau cũng đồng thời là nghề thức đêm. Những xe rau, nhất là những xe hai bánh chở nặng đến cả tạ rưỡi hay nặng hơn nữa phải lao đi trên đường phố trong đêm giữa lúc mọi người đang ngon giấc, có khi mưa, có khi sương lạnh, có khi đầy gió rét. Bởi những xe thồ rau ấy không thể dưới 150 ký, vì thế, chuyện bị  sách nhiễu trên đường đi không những không hiếm mà còn là chuyện thường xuyên...

Chính vì tình cảm thương yêu này, mà mỗi khi nghe tin bất cứ ai trong họ mua được đất, xây được nhà mới, tôi vui mừng vô cùng. Mỗi một lần làm phép nhà mới cho những gia đình đã xây được nhà, nói lời chúc mừng có nhà mới mà lòng thấy ấm áp, vui thật vui, sẻ chia cùng niềm vui với anh chị em. Tôi thầm ước, đến một ngày hạnh phúc, tất cả mọi gia đình ở Bình Mỹ này đều có nhà mới thật đẹp, thật ấm áp.

Tôi thương lắm những ưu tư của họ khi rau bị xuống giá thấp, khi ruộng rau có bệnh, có sâu rầy. Tôi vẫn muốn mình gần gũi và đồng cảm với những lo lắng mỗi khi đến thời hạn nộp tiền thuê mướn ruộng cho chủ đất.

Càng thương, tôi càng cảm phục anh chị em, vì dù họ quá long đong, quá cực nhọc, vậy mà mỗi một lần, có những đoàn đến xin viện trợ, nhất là những đoàn từ quê nhà của họ đến, họ đều sẵn sàng giúp đỡ. Thậm chí, có thời gian, liên tục nhiều đoàn đến. Theo tôi được biết, tất cả những đoàn ấy, khi ra về, đã không bao giờ ra về tay không. Tôi biết điều đó khiến họ phải hy sinh nhiều, phải nỗ lực nhiều. Nghĩ như thế mà tôi càng thương anh chị em của tôi. 

Tất cả những suy nghĩ này, trước mặt họ, tôi chưa bao giờ dám nói ra, vì nhận ra cuộc sống của chúng ta còn đó quá nhiều khó khăn, sợ nói ra, anh chị em của tôi thêm chạnh lòng mà phải suy nghĩ. 

Nhưng hôm nay, trước tình hình căng thẳng vì bệnh tật của cả thành phố lớn nhất miền Nam, có thể nói mà không sợ nói ngoa rằng, cả thành phố đang bị rào chắn, đang bị buộc dây (hy vọng những ngày tới sẽ đỡ hơn vì lệnh tháo bớt rào chắn, tháo bớt dây), tôi nhớ đến anh chị em của tôi, nhớ đến cuộc sống còn nhiều bấp bênh theo dòng nước lên xuống chứa đầy mồ hôi, có khi còn vương nước mắt và những ruộng rau xanh ngắt như thấm đầy những trăn trở, những nhọc nhằn, những bấp bênh... 

Bởi, dù muốn dù không, họ vẫn đang là thành phần của cả thành phố bị bệnh. Trong tâm tư đời mình, tôi nguyện hứa không bao giờ quên họ. Hằng ngày, tôi đã mang họ theo vào trong các giờ kinh nguyện của mình, nay đứng trước nhiều khó khăn của đời sống và nhiều rủi ro của bệnh tật, tôi càng hiến dâng họ cho Thiên Chúa chúng ta. Tôi tin, anh chị em sẽ bình yên vô sự. Tôi tin, với nghị lực của bản năng sống, bản năng tồn tại và mãnh lực lớn của tinh thần bất khoan nhượng trước nghịch cảnh, anh chị em sẽ giữ được thăng bằng của đời sống và vượt qua truân chuyên, dẫu truân chuyên ấy có là con sóng dữ đi nữa.

Bình Mỹ đã là một phần của ký ức khó quên trong đời tôi. Những anh chị em tha hương sống trong những căn chòi sàn chênh vênh giữa những ruộng rau muống nước của Bình Mỹ càng là ký ức đủ thắm, đủ mạnh, sẽ khó phôi pha trong trái tim của bất cứ ai đã từng đến, đã từng sống, đã dành cho nhau niềm thương nỗi nhớ, dù thời gian có vô tình trôi xa...

Ôi những ruộng rau Bình Mỹ, tôi quý mến anh chị em! Mong anh chị em mãi khỏe khoắn, mãi vững vàng và nghị lực...!

Lm. JB NGUYỄN MINH HÙNG

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.