SUY NIỆM CHÚA NHẬT 15 THƯỜNG NIÊN_B

09-07-2021 243 lượt xem

[Am 7,12-15 / Ep 1,3-14 / Mc 6,7-13]

Mục Lục

NHƯ CHA SAI THẦY + ĐTGM Giuse Vũ Văn Thiên

HÃY CHO CHÚA TẤT CẢ! Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

KHƯỚC TỪ và GIŨ SẠCH - Thomas Aq.. Trầm Thiên Thu

GỌI VÀ SAI ĐILm. Giuse Nguyễn Hữu An

ĐƯỢC CHÚA SAI ĐIBông hồng nhỏ 

ĐƯỢC CHỌN LÀM CON ĐỂ NÊN THÁNH THIỆN - Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

CHÚA CHỌN VÀ SAI TÔI ĐI - Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD 

THIÊN CHÚA THÌ KHÁCLm. Anphong Vũ Đức Trung, O.P.

CHÍNH và PHỤLm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

TRÚT BỎ  - Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Thơ: LỰA - Viễn Dzu Tử

Thơ: ĐƯỢC SAI ĐI - (Thế Kiên Dominic)

----------------------------------------------------------------------------------------------------

NHƯ CHA SAI THẦY

Đức Giêsu là Đấng Thiên sai. Tại Hội đường Nadarét, khi về thăm quê và đọc Lời Chúa ngày Sabát, trước sự ngỡ ngàng của những người đồng hương, Chúa đã xác quyết Người là Đấng Thiên sai, khi tuyên bố: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh mà quý vị vừa nghe” (x. Lc 4, 16-22). Khi còn ở trần gian, Chúa Giêsu mời gọi mọi người cộng tác với sứ vụ thiên sai của Người. Người đã chọn gọi các môn đệ, đào tạo các ông và sai các ông lên đường để loan báo Tin Mừng cứu độ. “Như Cha sai Thày, Thày cũng sai anh em!”, Chúa Giêsu đã nói như thế khi sai các môn đệ. Noi gương Thầy mình, các ông nhiệt thành lên đường. Sau khi Chúa Giêsu về trời, nhờ những vị thừa sai đầu tiên này mà Tin Mừng như một dòng chảy nhanh chóng lan toả đến mọi miền thế giới.

Những người được chọn và sai đi không hẳn là người uyên bác tài giỏi. Ngôn sứ Amos đã thú nhận: tôi không phải dòng dõi ngôn sứ, mà chỉ là một người chăn chiên bò và chuyên đi hái sung, nhưng Chúa đã chọn và gọi tôi và nói: ‘Ngươi hãy đi nói tiên tri cho dân Israel của Ta’. Sống ở thế kỷ thứ VIII trước Công nguyên, vào thời Nam Bắc phân tranh, Amos là người phía Bắc. Ông là vị ngôn sứ của người nghèo. Giáo huấn của ông gồm những lời phê phán mạnh mẽ những người giàu có bóc lột dân nghèo. Ông cũng kêu gọi dân chống bạo lực, gian dối, mời gọi họ trung thành với Chúa. Như thế, sự khôn ngoan can đảm nơi các ngôn sứ đến từ Chúa. Ngài sai các ông đi và hướng dẫn cho các ông những điều các ông rao giảng. Các ngôn sứ là người chuyển tải ý muốn của Chúa. Lời rao giảng của các ông vừa là lời động viên khen ngợi, nhưng cũng là những lời phê bình chỉ trích và đôi khi lên án quyết liệt những hành vi và lối sống sa đoạ của dân. Ngôn sứ không nhằm làm hài lòng con người và chiều theo những khuynh hướng đam mê của họ, nhưng là làm vừa lòng Thiên Chúa và giữ gìn kỷ cương trật tự.

Như Chúa đã sai các môn đệ, hôm nay Người cũng sai chúng ta, là những người tín hữu, nam cũng như nữ, giàu cũng như nghèo. Tất cả mọi tín hữu đều có ơn gọi thừa sai, loan truyền Danh Chúa trong mọi hoàn cảnh, phù hợp với bậc sống và điều kiện của mình. Thánh Phaolô đã nói lên vinh dự cao quý của người Kitô hữu: “Chiếu theo thánh ý Ngài, Ngài đã tiền định cho ta được phúc làm con nhờ Đức Giêsu Kitô, để chúng ta ca tụng vinh quang ân sủng của Ngài mà Ngài đã ban cho chúng ta được ơn cứu chuộc nhờ máu Người, được ơn tha tội theo sự phong phú của ân sủng Ngài” (Bài đọc II). Ca tụng vinh quang ân sủng của Chúa, đó chính là giới thiệu và loan truyền để Người được nhận biết giữa những người đang sống xung quanh chúng ta.

Thành công của sứ vụ loan báo Tin Mừng không lệ thuộc vào những phương tiện trần gian, cũng không do sức riêng của con người, nhưng là do Chúa. Trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu đã dặn dò các môn đệ rất kỹ lưỡng. Người dạy các ông phải buông bỏ để thanh thoát nhẹ nhàng, dễ dàng lên đường mà không bị dính bén hay ràng buộc. Hành trang quan trọng là lòng tín thác nơi Thiên Chúa. Chúa cũng dạy các ông phải kiên trì. Bởi lẽ sứ điệp Tin Mừng không dễ dàng được chấp nhận bởi con người mọi thời đại, nhất là đối với những người đã có sẵn thành kiến với Giáo Hội. Truyền giáo không phải là mua chuộc, cũng không phải là gâp áp lực bắt người khác phải theo. Truyền giáo là nói về lòng nhân lành của Chúa, đồng thời trình bày niềm hạnh phúc của những ai tin vào Ngài. Niềm hạnh phúc ấy, không phải là một công thức bên ngoài, nhưng được cảm nghiệm và lan toả từ chính cuộc sống của người loan báo.

Mỗi khi thánh lễ kết thúc, linh mục chủ tế nói với cộng đoàn phụng vụ: “Lễ xong, chúc anh chị em đi bình an”. Nhiều người hiểu đây là một lời chào tạm biệt. Không phải vậy. Đó là lời sai đi. Linh mục vừa thay mặt Chúa Giêsu, vừa thay mặt cho Giáo Hội để sai chúng ta lên đường. Người tín hữu, sau khi đã được nuôi dưỡng bởi Lời Chúa và Mình Chúa, nay lên đường với nghị lực mới. Thánh lễ là một cuộc lên đường, là một khởi đầu mới với những năng lượng đón nhận từ nơi Chúa.

Chúa Giêsu đã tuyên bố: “Tôi là ánh sáng trần gian!” (Ga 8,12). Với các môn đệ, Người cũng khẳng định: “Anh em là ánh sáng thế gian” (x. Mt 5,14-67). Lời Chúa vừa nhắc đến danh dự của người tín hữu, vừa gợi cho họ nhớ đến sứ mạng phải toả sáng nơi lòng cuộc đời bằng chính đời sống khiêm nhường và yêu thương. mục lục

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

HÃY CHO CHÚA TẤT CẢ!

Tuần trước, trong lần về thăm cố hương Nadarét, Đức Giêsu đã không nhận được nhiều thuận lợi như tại các nơi khác. Họ chào đón Người bằng môi miệng, nhưng tâm can của họ không hề bị đánh động bởi Lời giảng của Người. Trái lại, họ còn không tin. Đức Giê-su rất đỗi kinh ngạc về thái độ không tin của họ, nhưng thái độ bất cộng tác và không tin của họ không thể ngăn cản Người thực thi sứ mạng.

Hôm nay, Đức Giêsu rời Nadarét, tiếp tục lên đường để hoàn tất nhiệm vụ mà Cha đã trao phó cho Người. Trong lần ra đi này, Đức Giêsu đã làm một việc mà cho đến lúc này Người chưa làm, đó là bắt đầu sai các Tông đồ ra đi làm nhân chứng, thay mặt Người kêu gọi người ta ăn năn sám hối. Còn phần các ông thì được trao ban cho quyền trừ quỷ và chữa lành bịnh nhân.

Vì đây là chuyến đi đầu tiên của các Tông đồ, cho nên Đức Giêsu đã ban cho các ông những lời hướng dẫn rất cụ thể như không mang gì đi đường, ngoại trừ cây gậy; không mang của ăn thức uống, không mang tiền trong túi; chân được đi dép nhưng không được mang hai áo. Nói chung, chỉ thị của Đức Giêsu ban cho các Tông đồ và các môn đệ sau này là phải sống nghèo, ra đi cũng nghèo; cuộc sống và hành trang của người môn đệ chỉ lệ thuộc vào sự giầu sang và phong phú của Thiên Chúa, Đấng sai các ông ra đi. Muốn được như thế, các môn đệ cần ghi nhớ rằng chúng ta được sai đi để tiếp nối sứ vụ của Chúa, chứ không hẳn là của chúng ta.

Thật vậy, Chúa là Đấng được Chúa Cha sai đến; và chúng ta, giống như các Tông đồ và các môn đệ khi xưa, là những người được sai. Người đuợc sai không thể cao trọng hơn kẻ sai phái, và những ai được sai đi cũng không thể tiếm quyền kẻ sai mình.

Hãy nhìn vào lịch sử cứu độ, trong những ngày đầu tiên và trải dài theo dòng lịch sử, Thiên Chúa đã không ngừng sai các sứ giả của Người đến với chúng ta; và sau cùng qua Mầu Nhiệm Nhập Thể, Thiên Chúa đã mặc lấy thân phận con người mà lưu ngụ giữa chúng ta. Vì thế, chúng ta có thể xác tín rằng Thiên Chúa không hề bỏ rơi con người, dù hành vi và cách ứng xử của chúng ta có như thế nào vẫn không làm lay chuyển lòng thương xót của Người. Và, giống như Đức Giêsu, Đấng đã được Chúa Cha sai đến như thế nào, thì hôm nay Người cũng muốn sai các Tông đồ ra đi như vậy. Vì thế, hiệu quả sứ vụ của các Tông Đồ nói riêng và chúng ta nói chung hoàn toàn tuỳ thuộc vào sự gắn bó vào Chúa.

Có Chúa trên hành trang là có tất cả, và đó cũng là điều mà Đức Giêsu căn dặn các Tông đồ hôm nay. Để nhẹ nhàng mà lo việc Chúa, các Tông đồ tuy sống vào lòng hiếu khách và rộng rãi của tha nhân, nhưng không được dính bén với bất kỳ môt ai. Các ông cũng không để cho bất kỳ một quyền lực nào ảnh hưởng trên hành trang của người môn đệ. Ngay cả cơm ăn, áo mặc và nơi cư trú là những điều cần thiết cho cuộc sống, nhưng các ông cũng không nên lo lắng thái quá. Mọi sự đó Chúa sẽ ban tặng. Phần các ông, hãy trao hết mọi sự cho Người và chỉ cần ra đi với một lòng tín thác vào Người là đủ.

Nói khác đi, yêu cầu mà Chúa mời gọi các môn đệ hôm nay là biết chấp nhận thân phận nghèo của mình. Nghèo ở đây không chỉ thu tóm vào đời sống vật chất hay tinh thần cho bằng nhấn mạnh đến việc chúng ta phải lệ thuộc vào Chúa như thế nào! Điều này có nghĩa là người được Chúa sai đi luôn luôn ở trong tư thế sẵn sàng, bằng lòng từ bỏ dần dần và trọn vẹn để cho sự giầu có và phong phú của Thiên Chúa được biểu lộ.

Như vậy, sống nghèo là sống dựa vào Chúa chứ không dưạ vào bất cứ một thứ quyền lực nào, cho dù đó là thứ thần quyền của một tổ chức, ngay cả tổ chức đó là Giáo hội. Sống nghèo là mệnh lệnh mà Chúa dành cho ai muốn trở thành môn đệ đích thực của Người. Với lối sống như thế thì lời rao giảng của người môn đệ sẽ trở thành Tin Vui cho mọi người. Đó đích thực là lối rao giảng của Chúa.

Trái với các điều ấy có thể là sự giàu có của Giáo hội; lòng tham lam thích vơ vét của hàng giáo sĩ; sự bủn xỉn, thiếu đại lượng, không đủ bao dung của những ai làm môn đệ… tất cả đều làm cho lời rao giảng trở nên cằn cỗi, nghèo nàn, thiếu sức thuyết phục và không đủ sức để chữa lành các vết hằn hoặc không đủ hấp lực để thu hút tâm hồn người nghe.

Tuy nhiên, có một sự thật mà chúng ta không thể chối cãi đó là thân phận mỏng dòn với muôn ngàn yếu đuối đã là nguyên nhân khiến các môn đệ của Chúa muốn tháo lui. Thật ra thân phận và ơn gọi của chúng ta, xuất phát từ Chúa, cho nên cũng sẽ bị khước từ. Trong hoàn cảnh đó, chúng ta hãy nhớ lại chính Đức Giêsu đã bị ruồng rẫy trước. Người đã bị khước từ. Nhưng không vì sự khước từ đón nhận của họ lại có thể ngăn cản Người chu toàn sứ mạng. Chúng ta, các môn đệ của Chúa cũng thế, cần được đổi mới và chính tâm tình đổi mới này sẽ là nguồn động lực giúp chúng ta tiếp tục tiến bước vượt qua mọi khó khăn, ngay cả việc chấp nhận thất bại, miễn sao sứ vụ được chu toàn.

Muốn được như vậy, người môn đệ cần sống điều mình sẽ công bố. Đức Kitô phải là tin vui cho người môn đệ trước khi họ giới thiệu và chia sẻ cho người khác. Triều đại Thiên Chúa mà Đức Giêsu đã rao giảng phải là vương quốc của người môn đệ trước khi họ ra đi loan báo cho người khác.

Đây cũng chẳng phải là điều gì mới lạ, vì chính Đức Giê-su, khi bắt đầu sứ vụ đã kêu gọi các Tông đồ và các môn đệ tham gia vào sứ mạng của Người. Lời mời gọi đó vẫn còn khẩn thiết và có thể đuợc minh hoạ trong câu chuyện sau đây.

Số là, trong cuộc chiến tại Hàn Quốc, có một ngôi làng nhỏ nằm ngay trên làn mưa đạn của các trận pháo kích. Trong làng, có một ngôi nhà thờ. Bên ngoài nhà thờ, có một bức tượng Chúa Giêsu Kitô đuợc đặt trên một cái bệ. Và, sau cuộc chiến, người ta chỉ thấy cảnh tang hoang và đổ nát. Bức tượng cũng không ngoại lệ. Nó nằm chung số phận, bị đổ xuống và vỡ thành từng mảnh vụn tung tóe trên nền nhà thờ.

Xảy ra là có một nhóm lính Mỹ đến thu dọn. Thấy cảnh tượng như thế, một cách thận trọng, họ đã thu thập các mảnh vụn rồi ráp lại thành gần như một pho tượng, chỉ thiếu đôi tay. Họ đề nghị với cha sở của họ đạo đó cho phép họ đem pho tượng về Mỹ để gắn thêm đôi tay vào cho hoàn chỉnh. Nhưng vị linh mục đó đã từ chối. Người nói: Tôi nghĩ chúng ta cứ để nguyên pho tượng thiếu hai tay như thế, rồi ghi dưới bệ của bức tượng hàng chữ “bạn ơi, làm ơn cho Tôi mượn đôi tay của bạn”. Với cách thức đó, pho tượng thiếu đôi tay của Chúa sẽ loan báo cho những ai đi qua nơi này nhớ lại rằng giờ đây Chúa đang cần đôi tay của bạn để nâng dậy những ai bị vấp ngã, những ai đang cần bạn ôm ấp để bớt cô đơn và vơi đi nỗi phiền sầu.

Không chỉ có thế, Chúa còn cần đôi chân bạn để đi tìm những ai bị lạc lối. Chúa lại cần bờ vai của bạn để làm chỗ dựa cho những ai lao đao và vất vả. Chúa cần đôi mắt của bạn để nhìn ra sự hiện diện của Thiên Chúa nơi những con người bé mọn và bị coi thuờng. Chúa cần con tim của bạn để cảm thông nỗi thất vọng của người tội lỗi. Sau cùng, Chúa rất cần mọi chi thể của bạn để nối kết những nguời mà bạn đã gặp và cùng nhau xây dựng Nước Trời, nơi đó chỉ có bình an, hoan lạc, niềm vui và tất cả những gì Chúa muốn dựng xây.

Quả thật, đó là niềm vinh dự dành cho những ai đuợc tham gia vào việc rao giảng của Đức Giê-su, kiến tạo trời mới đất mới! Và, hạnh phúc thay cho ai đã được Thiên Chúa trao ban cho nhiệm vụ cao quí như thế!

Trong tâm tình đó, hãy dâng lời ngợi khen với tâm tình cảm tạ vì lòng tín thác của Đức Giê-su, khi Người trao ban cho chúng ta được phép tham gia vào sứ mạng của Người, dù chúng ta bất xứng. Amen! mục lục

Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

KHƯỚC TỪ và GIŨ SẠCH

Trong cuộc sống có nhiều thứ cần phải biết khước từ và giũ sạch. Rất cần can đảm để có thể dứt khoát. Khước từ cái xấu là hành động tốt, khước từ cái tốt là hành động xấu. Khước từ không dứt khoát thì như giặt đồ không sạch. Đối với tâm linh cũng tương tự.

Có kiểu khước từ đáng yêu thì cũng có kiểu khước từ đáng sợ. Kinh Thánh nói: “Người tội lỗi khước từ lời khiển trách, tìm đủ lẽ để làm theo ý mình.” (Hc 32:17) Thật đáng quan ngại biết bao!

Theo Chúa đòi hỏi phải khước từ mạnh mẽ hơn – cả tinh thần và vật chất. Xét theo nghĩa đen, khước từ là giũ bỏ  cái gì đó. Muốn nhẹ mình thì phải bỏ, muốn bỏ thì phải buông, càng bám chặt thì càng nặng người, đúng như người ta thường nói: “Già lừa ưa nặng.”

Chắc rằng ai cũng có kinh nghiệm ít nhiều về sự từ bỏ, nhất là đối với chất gây nghiện như rượu bia hoặc thuốc hút. Quả thật, không dễ gì mà bỏ ngay được, có người bỏ năm lần bảy lượt vẫn chưa được. Chất gây nghiện bình thường mà còn vậy, huống chi ma túy. Người nghiện ma túy cứ tái nghiện nhiều lần, rất hiếm người bỏ được. Nghiện thứ gì thì khổ thứ đó.

Ngày nay còn thứ nghiện @ gọi là nghiện internet, internet addiction hoặc cyber addiction. Chứng nghiện này cũng gây rối loạn tâm sinh lý. Không ai có thể cứu mình, ngoại trừ chính mình. Điện thoại thông minh là điện thoại khôn, nhưng nó khiến người ta hóa khốn. Kinh Thánh nhắc nhở chí lý: “Trong mọi chuyện lớn nhỏ, đừng tỏ ra vô ý thức.” (Hc 5:15)

Nghiện là đam mê lệch lạc quá độ. Nghiện gì cũng “chết” – chết ảo và chết thật. Nhưng vì sức khỏe của chính mình, và có liên quan người khác, rất cần quyết tâm khước từ. Khước từ chất gây hại để bảo vệ hệ miễn nhiễm, nhất là trong tình trạng dịch bệnh lây lan lúc này. Chất gây hại cho thân xác còn nguy hiểm như vậy thì chất gây hại cho linh hồn càng nguy hiểm hơn bội phần. Dù xác hay hồn, có khỏe mạnh mới có thể làm việc hiệu quả. Sức khỏe thể lý có ảnh hưởng tới sức khỏe tinh thần và linh hồn.

Từ bỏ những thứ tầm thường để có thể làm những điều tốt đẹp – cho mình và cho tha nhân, đặc biệt là lợi ích cho Thiên Chúa, cụ thể là công việc chung của mọi tín nhân: Loan báo Tin Mừng. Chính Chúa Giêsu đã truyền lệnh: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.” (Mc 16:15) Đó là trọng trách Chúa Giêsu trao cho những người tin vào Đức Giêsu Kitô – Đấng Ngôi Lời.

Không hẳn “ra đi” là phải đến nơi kia, tới nơi nọ. Thánh nữ Teresa Lisieux không ra khỏi bốn bức tường dòng kín mà vẫn đến được mọi nơi trên thế giới này. Vấn đề quan trọng là tinh thần truyền giáo của Chị Thánh. Ngày nay, với internet, người ta có thể đi đến bất cứ nơi nào và biết được nhiều chuyện dù chỉ ngồi một chỗ. Đó là một lợi thế cho những ai biết tận dụng theo hướng tốt, nhưng có thể là mối nguy hiểm cho những ai tò mò, chỉ tìm hiểu những chuyện không nên biết. Lợi bất cập hại.

Ngày xưa, sau khi xung khắc, Amátgia nói với Amốt: “Này thầy chiêm ơi, mau chạy về đất Giuđa, về đó mà kiếm ăn, về đó mà tuyên sấm! Nhưng ở Bết Ên này, đừng có hòng nói tiên tri nữa, vì đây là thánh điện của quân vương, đây là đền thờ của vương triều.” (Am 7:12-13) Ông Amốt đã không được người ta tiếp nhận. Nghe lạ mà không lạ, bởi vì chính Chúa Giêsu – Ngôn sứ của mọi ngôn sứ – cũng đã bị người ta khước từ khi Ngài trở về Nadarét. (Mt 13:53-58; Mc 6:1-6; Lc 4:16-30) Một tình huống phũ phàng như vậy khó có thể tưởng tượng được!

Ông Amốt nói với Amátgia: “Tôi không phải là ngôn sứ, cũng chẳng phải là người thuộc nhóm ngôn sứ. Tôi chỉ là người chăn nuôi súc vật và chăm sóc cây sung. Chính Đức Chúa đã bắt lấy tôi khi tôi đi theo sau đàn vật, và Đức Chúa đã truyền cho tôi: “Hãy đi tuyên sấm cho Israel dân Ta.” (Am 7:14-15) Ngôn sứ Amốt không dám nhận mình là ngôn sứ nhưng ông thực sự là ngôn sứ, dù ông bị “ép buộc” làm ngôn sứ, đi rao giảng cho dân Israel.

Ngôn sứ Amốt là ai? Ông là người thuộc miền Nam Giuđê nhưng đi rao giảng ở miền Bắc Israel. Ông là người đương thời với hai ngôn sứ Hôsê và Isaia, hoạt động vào khoảng năm 750 TCN, thời vua Giêrôbôam II. Ngôn sứ Amốt qua đời năm 745 TCN.

Xưa nay đức tính được đề cao là lòng trung hiếu. Trong tác phẩm Lục Vân Tiên, cụ Đồ Chiểu đã đề cập đức trung hiếu ở ngay câu lục bát đầu tiên: “Trai thời trung hiếu làm đầu, gái thời tiết hạnh làm câu trau mình.” Nói là nói vậy, chứ nam hay nữ đều cần cả trung hiếu và tiết hạnh. Thiên Chúa cũng quý mến người trung hiếu. Thánh Vịnh gia bộc bạch: “Tôi lắng nghe điều Thiên Chúa phán, điều Chúa phán là lời chúc bình an cho dân Người, cho kẻ trung hiếu và những ai hướng lòng trí về Người. Chúa sẵn sàng ban ơn cứu độ cho ai kính sợ Chúa, để vinh quang của Người hằng chiếu toả trên đất nước chúng ta.” (Tv 85:9-10) Chắc chắn ai cũng mơ ước một đất nước “đại đồng” như vậy, nhưng có lẽ ước mơ vẫn chỉ là mơ ước đối với chúng ta trên thế gian này, càng tệ hại hơn đối với cư dân ở các quốc gia vô thần.

Dù có thế nào thì chúng ta cũng vẫn phải không ngừng ước mơ, khao khát, mong mỏi,… Nếu có Thiên Chúa thì chắc chắn điều đó sẽ đạt được. Thời kỳ “đáng mơ ước” đó thực sự đã đến với chúng ta, ngay trên thế gian này: “Tín nghĩa ân tình nay hội ngộ, hoà bình công lý đã giao duyên. Tín nghĩa mọc lên từ đất thấp, công lý nhìn xuống tự trời cao. Vâng, chính Chúa sẽ tặng ban phúc lộc và đất chúng ta trổ sinh hoa trái. Công lý đi tiền phong trước mặt Người, mở lối cho Người đặt bước chân.” (Tv 85:11-14) Nước Chúa đã đến, việc còn lại là trách nhiệm của chúng ta: Bài trừ mọi bất công và thực hiện công lý. Có công lý ắt sẽ có hòa bình. Chưa có hòa bình vì chúng ta chưa thực hiện công lý – nghĩa là chúng ta còn đàn áp nhau, áp bức kẻ yếu, đè bẹp kẻ nghèo khổ, thậm chí còn “dàn cảnh” để đàn áp dân lành. Thánh Phaolô khuyên: “Đừng để cho sự ác thắng được mình, nhưng hãy lấy thiện mà thắng ác.” (Rm 12:21)

Napoléon nói: “Thế giới phải chìm đắm trong đau khổ không vì tội ác của những kẻ xấu, mà vì sự im lặng của những người tốt.” Đúng vậy. Và có liên quan vấn đề cá nhân: “Dối trá và lừa lọc là hành động của kẻ ngu xuẩn không đủ trí óc để trung thực.” (Benjamin Franklin)

Thiên Chúa biết phàm nhân “dẻo miệng” lắm, hứa rồi quên, nhưng Ngài vẫn hết mực yêu thương và chính thức thiết lập Kế Hoạch Cứu Độ – ngay từ khi Ông Bà Nguyên Tổ phạm tội bất tuân lệnh của Thiên Chúa. Thật diễm phúc khi chúng ta có một Thiên Chúa tuyệt đối như vậy. Thảo nào Thánh Phaolô đã không thể lặng im mà phải lên tiếng: “Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Trong Đức Kitô, từ cõi trời, Người đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần. Trong Đức Kitô, Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Người.” (Ep 1:3-4)

Rõ ràng hạnh phúc chồng lên hạnh phúc, niềm vui nối kết nỗi mừng. Tại sao? Bởi vì không chỉ chúng ta được gọi Thiên Chúa là Thân Phụ, mà còn được Ngài quan tâm chăm sóc không ngừng: “Theo ý muốn và lòng nhân ái của Người, Người đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giêsu Kitô, để ta hằng ngợi khen ân sủng rạng ngời, ân sủng Người ban tặng cho ta trong Thánh Tử yêu dấu. Trong Thánh Tử, nhờ máu Thánh Tử đổ ra chúng ta được cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi theo lượng ân sủng rất phong phú của Người.” (Ep 1:5-7)

Quả thật, dành cả đời đời của tỷ tỷ người để tạ ơn Ngài cũng không đủ chứ nói chi tới một cuộc đời của mỗi chúng ta. Thánh Phaolô cho biết chi tiết: “Ân sủng này, Thiên Chúa đã rộng ban cho ta cùng với tất cả sự khôn ngoan thông hiểu. Người cho ta được biết thiên ý nhiệm mầu: thiên ý này là kế hoạch yêu thương Người đã định từ trước trong Đức Kitô. Đó là đưa thời gian tới hồi viên mãn là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô. Cũng trong Đức Kitô, Thiên Chúa là Đấng làm nên mọi sự theo quyết định và ý muốn của Người, đã tiền định cho chúng tôi đây làm cơ nghiệp riêng theo kế hoạch của Người, để chúng tôi là những người đầu tiên đặt hy vọng vào Đức Kitô, chúng tôi ngợi khen vinh quang Người.” (Ep 1:8-12)

Tất cả là hồng ân. Thật vậy, Cựu Ước đã xác định: “Lành dữ, sống chết, giàu nghèo, tất cả đều do Đức Chúa.” (Hc 11:14) Không gì ngoài Thánh Ý Chúa, nhưng trong mọi hoàn cảnh, “Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người, tức là cho những kẻ được Người kêu gọi theo như ý Người định.” (Rm 8:28) Sống theo Thánh Ý Chúa là điều quan trọng tuyệt đối. Nhận biết được như vậy là bắt đầu trưởng thành tâm linh. Nhưng muốn trưởng thành trong đời sống Kitô giáo, chúng ta cần phải có ba yếu tố quan trọng: Yêu Thương, Tha Thứ, và Chấp Nhận. Đó là tam-giác-sống như điều kiện ắt có và đủ.

Để động viên chúng ta sống tích cực, Thánh Phaolô cho biết: “Trong Đức Kitô, cả anh em nữa, anh em đã được nghe lời chân lý là Tin Mừng cứu độ anh em; vẫn trong Đức Kitô, một khi đã tin, anh em được đóng ấn Thánh Thần, Đấng Thiên Chúa đã hứa. Thánh Thần là bảo chứng phần gia nghiệp của chúng ta, chờ ngày dân riêng của Thiên Chúa được cứu chuộc, để ngợi khen vinh quang Thiên Chúa.” (Ep 1:13-14) Có tin tưởng thì mới chờ đợi, khi chờ đợi thì phải hành động, chứng tỏ bằng hành động là can đảm gặp gỡ tha nhân, muốn gặp gỡ thì phải đứng dậy và vào đời, vào đời hôm nay để vào trời ngày mai. Đức Mẹ Fatima đã đặt vấn đề: “Nếu người ta biết thế nào là đời đời thì người ta sẽ hành động bằng mọi giá.” Và có điều đặc biệt này: “Cửa Thiên Đàng rất thấp, chỉ những người hạ mình mới có thể vào được.” (Thánh Elizabeth Seton)

Trình thuật Mc 6:7-13 (≈ Mt 10:5-15; Lc 9:1-6) đề cập việc Đức Giêsu sai Nhóm Mười Hai đi loan báo Tin Mừng. Ngài sai họ đi từng đôi, từng cặp. Để cung cấp “hành trang” cho họ lên đường, Ngài ban cho họ quyền trừ quỷ. Tuy nhiên, Ngài đưa ra chỉ thị xem chừng “không giống ai” chút nào: Không được mang gì khi đi đường, chỉ trừ cây gậy; không được mang lương thực, bao bị, tiền đồng để giắt lưng; được đi dép, nhưng không được mặc hai áo. Chúa Giêsu nói rất rõ ràng, không úp mở, không bóng gió, thế mà ngày nay vẫn thấy có người làm trái ngược, xao lãng cái chính mà chú trọng cái phụ, lem nhem về chuyện tiền bạc, tìm mọi cách để có thể vơ vét...

Biết con người sợ khó, thích nhàn, mê tiền, hám lợi, thế nên Chúa Giêsu bảo các môn đệ “ra đi với đôi tay trắng,” không được dính bén vật chất, vì vật chất sẽ gây mù quáng. Ngài căn dặn rất cặn kẽ: “Bất cứ ở đâu, khi anh em đã vào nhà nào, cứ ở lại đó cho đến lúc ra đi. Còn nơi nào người ta không đón tiếp và nghe lời anh em, khi ra khỏi đó, hãy giũ bụi chân để tỏ ý phản đối họ.” (Mc 6:10-11) Người ta không tiếp nhận mình thì thôi, đi nơi khác chứ cũng không ghét bỏ ai. Tự nhiên vậy thôi, như tục ngữ Việt Nam có câu: “Tránh voi chẳng xấu mặt nào.” Chúa Giêsu luôn sống bình dân, tự nhiên và thanh thản. Ngài không muốn ai miễn cưỡng nên Ngài không bao giờ ép buộc ai.

Vâng lời Thầy Giêsu, các môn đệ ra đi rao giảng Nước Trời, kêu gọi hoán cải, trừ quỷ, xức dầu và chữa khỏi bệnh tật. Sống tốt giữa đời thường, thể hiện lòng thương xót, nhất là trong tình trạng dịch bệnh hiện nay, để nêu gương sáng. Đó là cách sẵn sàng và can đảm vào đời và sống giữa bầy sói. Khước từ tiện nghi cho mình để giũ sạch mọi thứ tham lam, tà tâm, mưu ma chước quỷ.

Lạy Thiên Chúa nhân lành, xin giúp chúng con biết khước từ chính mình để có thể thay đổi những gì cần thay đổi, biết chia sẻ những gì cần chia sẻ, dám giũ sạch mọi đam mê trần tục, biết khó với chính mình và sống nghiêm túc, để người khác có thể nhận ra Ngài là Cha giàu lòng thương xót. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. mục lục

Trầm Thiên Thu

GỌI VÀ SAI ĐI

Tin Mừng Mc 6:7-13: Chúa Giêsu lập Nhóm Mười Hai. Ngài cho các ông sống bên cạnh mình. Ngài trực tiếp huấn luyện, bằng cách cho các môn đệ được nghe những lời Ngài giảng, được xem những việc Ngài làm. Sau đó, Ngài sai các môn đệ ra đi thực tập truyền giáo.

Chúa Giêsu lập Nhóm Mười Hai. Ngài cho các ông sống bên cạnh mình. Ngài trực tiếp huấn luyện, bằng cách cho các môn đệ được nghe những lời Ngài giảng, được xem những việc Ngài làm. Sau đó, Ngài sai các môn đệ ra đi thực tập truyền giáo. Hai động từ “gọi, sai đi” diễn tả rõ rệt ơn gọi của các Tông đồ. Trước khi các học trò lên đường, Chúa Giêsu căn dặn nhiều điều như là hành trang cần thiết cho sứ vụ tông đồ. M. Quesnel ví những lời đó như “một loại thủ bản, một cẩm nang cho một nhà truyền giáo hoàn hảo” (“Comment lire un évangile?”, Seuil, trang 103).

1. Hành trang người Tông đồ

Hành trang đi đường: cây gậy, đôi dép, không mang hai áo. Ý nghĩa ở đây là những kẻ được sai đi phải là những con người thanh thoát, không cồng kềnh nặng nề với của cải vật chất để có thể luôn sẵn sàng lên đường ra đi cho sứ vụ.

Các môn đệ được tham dự vào ba chức năng tư tế, tiên tri và vương đế của Chúa Giêsu. Cây gậy của vương đế, đôi dép của tiên tri, và tấm áo của tư tế.

– Cây gậy

Cây gậy trong tay biểu trưng cho sức mạnh của Thiên Chúa thông ban cho người thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng. Ra đi với niềm tin vào năng quyền của Thiên Chúa trao ban: công bố Tin mừng cứu độ của Đức Kitô, chữa lành và thánh hoá nhằm cải thiện đời sống, xua trừ ma quỷ hầu chế ngự và đẩy lui các thế lực sự dữ.

– Đôi dép

Đôi dép là hình ảnh luôn lên đường. Truyền giáo là ra đi. Đi để mang sứ điệp Tin mừng đến với muôn dân. Sứ vụ sai đi khởi phát từ Chúa Cha “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em”.

– Tấm áo

Người ra đi mang áo là mặc lấy tâm tình Chúa Giêsu. Nhờ đó, các môn đệ làm cho cuộc đời mình trở nên của lễ hiến dâng hợp với hiến lễ Chúa Kitô.

Chúa Giêsu trao cho các ông những quyền năng Ngài có: quyền rao giảng, quyền chữa bệnh, quyền trừ quỷ. Đó là hành trang quan trọng hàng đầu. Mọi hành trang khác chỉ là phụ thuộc: một chiếc áo đang mặc, một cây gậy và đôi dép khi đi đường.Với những hành trang như thế, Chúa Giêsu muốn tỏ cho thấy sự thành công trong hoạt động tông đồ không do tài lực của con người nhưng là do quyền năng Thiên Chúa.

Phương tiện sinh sống: không được mang lương thực, bao bị, tiền bạc. Hành trình như vậy đặt các người được sai đi trong tư thế tuỳ thuộc. Không vướng víu, không “mọc rễ” bất cứ đâu để nhẹ nhàng ra đi nơi đâu Chúa muốn.

Tương lai bấp bênh. Chúa Giêsu cũng không giấu diếm họ điều gì. Con đường truyền giáo là con đường đầy chông gai, lắm gian khó. Cũng như Ngài, họ đón nhận sự rủi ro bị từ chối, bị xua đuổi. Cần phải hy sinh bản thân. Đó là thân phận kẻ được gọi, được sai đi. Ra đi mà không gì bảo đảm, ra đi mà không mảy may dính bén. Sẵn sàng đến mà cũng sẵn sàng đi. Thành công cũng không thụ hưởng mà thất bại cũng chẳng đắng cay. Bởi lẽ như lời Thánh phaolô nòi: Tôi trồng, Apollô tưới, Chúa cho mọc lên.

Người truyền giáo luôn bị cám dỗ định cư, tìm an toàn bảo đảm bản thân, an nghĩ trong những thành công tạm bợ…và không muốn ra đi. Càng gắn bó, lúc cách xa càng luyến nhớ. Sâu đậm bao nhiêu, lúc giã biệt sẽ nuối tiếc bấy nhiêu. Vì vậy, Chúa muốn các môn đệ luôn sẵn sàng ra đi. Lên đường bao giờ cũng đẹp. Hạnh phúc chỉ dành cho ai dám lên đường tìm kiếm.

2. Phương thức hoạt động: ”từng hai người một”

Khi sai đi “từng hai người một“, Chúa Giêsu mong các ông hợp tác và liên đới với nhau, khích lệ và bàn hỏi nhau khi gặp khó khăn “Hai người có giá trị hơn một, nếu họ ngã, người này đỡ người kia dậy” (Gv 4,9). Hai người làm việc chung, nâng đỡ nhau biểu lộ tình yêu thương nhau như một dấu chỉ đặc trưng của môn đệ của Chúa (x. Ga 13,35). Dấu chỉ này là một chứng từ sống động và lôi cuốn người khác.

Trong Công vụ Tông đồ, các nhà truyền giáo thường lên đường với nhau “từng hai người một”: Phêrô đi với Gioan (Cv 3,1; 4,13); Phaolô với Banabê (Cv 1 3,2); Giuđa và Sila (Cv 15,22)… Hoạt động tông đồ luôn là tạo thành nhóm. Nếp sống huynh đệ là một bài giảng về tình yêu. Chứng tá Kitô hữu phải nhắm đến một hình thức cộng đoàn trong Giáo Hội. Cuộc sống yêu thương trong cộng đoàn vừa là dấu hiệu của người môn đệ Chúa Giêsu, vừa là lời rao giảng sống động, hùng hồn nhất về Tin Mừng.

3. Tinh thần Tông đồ là ra đi

Trao “Sứ vụ” cho các môn đệ, Chúa Giêsu không bảo các ông “phải giảng điều gì”. Ngài chỉ căn dặn các ông những chi tiết “phải sống”. Đối với Chúa Giêsu, ra đi làm chứng tá bằng cuộc sống quan trọng hơn chứng tá bằng lời nói.

Suốt mấy năm ra mặt với đời để thi hành sứ vụ, Chúa Giêsu không ngừng đi rày đây mai đó. Ngài luôn ngang dọc trên mọi nẻo đường đất nước để truyền giáo. Từ hội đường này đến hội đường khác (Mt 4,23). Đôi khi ở ngoài trời, ở ngoài đường. Trên một sườn núi cũng có (Mt 5,1), bên một bờ hồ hiu quạnh cũng có (Mc 6,30-34). Có khi “mệt mỏi vì đường sá”, một mình ngồi trên thành giếng nói chuyện với người phụ nữ đến kín nước (Ga 4,6). Có lúc vì dân chúng chen lấn xung quanh đông đảo quá thì “Ngài mới lên một chiếc thuyền, thuyền của Simon và xin ông ấy chèo ra xa bờ một tí. Ngài ngồi xuống rồi từ ngoài thuyền nói vào mà giảng dạy dân chúng” (Lc 5,3). Chúa Giêsu thực hiện một cuộc hành trình liên miên. Theo ngôn ngữ của Phúc âm Marcô chương 1: Ngài bỏ Nazareth để đến gặp Gioan bên sông Giođan, rồi đến Galilê, dọc theo bờ biển Galilê, và Ngài đi rao giảng trong các hội đường khắp xứ Galilê. Trong chương 2: ít lâu sau, Ngài lại về Capharnaum… Ngài ngang qua đồng lúa… Cứ đi và đi như vậy mãi.

Chính giữa khung cảnh đường dài trời rộng thênh thang ấy mà lời giảng dạy của Chúa bao giờ cũng khởi hứng từ một hoàn cảnh cuộc sống. Các hình ảnh cuộc sống đời thường gần gũi tràn ngập trong lời rao giảng. Cánh huệ mọc ngoài đồng. Đàn chim sẻ đang bay. Một đám ruộng lúa chín vàng mở rộng đến chân trời. Một mẻ cá lớn bên biển hồ. Những hạt giống người nông phu gieo vương vãi trên đường mòn,giữa bụi gai, trên sỏi đá. Một đàn cừu người chăn lùa về buổi chiều tối. Từng tảng đá, từng hạt sạn người ta nhặt từ một đống muối để vất đi. Từng con còng người đánh cá nhặt ra bỏ lại bên bờ sau một mẻ cá…

Việc thu thập môn đệ, Ngài cũng vừa đi, vừa gọi, vừa nhận… Như các môn đệ đầu tiên (Mc 1,16-20). Chúa Giêsu không dừng lại, yên nghĩ, hưởng thụ hay cũng cố vị trí người ta dành sẵn cho mình. Sau một ngày thành công rực rỡ ở Capharnaum chẳng hạn: “Sáng đến, Ngài ra đi vào nơi hoang vắng. Dân chúng đi tìm Ngài và đến nơi Ngài,họ cố giữ Ngài lại, không để Ngài đi khỏi chỗ họ. Nhưng Ngài bảo họ: Ta còn phải đem Tin mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa” (Lc 4,42-43).

Như thế, suốt đời Chúa Giêsu đã không hề có trụ sở, không hề có nhà thờ. Ngài đi khắp mọi nẻo đường trên thế giới Ngài đang sống.

Chúa Giêsu bị bắt lúc đang cầu nguyện giữa vườn Giệtsêmani hoang vắng. Bị điệu đến Hanna rồi Caipha. Từ toà đạo qua toà đời. Hết bị điệu đến dinh Philatô lại bị gửi qua dinh Hêrôđê, rồi bị đưa trả về cho Philatô. Không đầy một ngày một đêm mà kẻ tử tù đã phải đi không biết bao nhiêu dặm đường trên con đường “công lý” của loài người.

Bị kết án thập hình. Hai tay dang rộng, bị đóng đinh trên thập giá. Tảng đá lấp cửa mồ (Mc 14,32 -15,47). “Lính canh phòng cẩn mật, niêm phong tảng đá lại” (Mt 27,62-66).Thế nhưng, Chúa Giêsu đã không dừng chân cả trong cái chết. Ngày thứ ba Ngài sống lại, vượt cái chết qua sự sống bất diệt.

Sau khi phục sinh, Ngài cũng đi nhiều nơi, đến với với các môn đệ, cũng cố lòng tin và sai họ ra đi loan báo Tin mừng.

Hoàn thành sứ mạng, “Ngài lên trời ngự bên hữu Chúa Cha” (Mc 16,19) và luôn đồng hành cùng Giáo hội “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”. (Mt 28,20).

Chúa Giêsu gọi các môn đệ và “thiết lập Nhóm Mười Hai” để họ ở với Ngài và để Ngài sai đi. Giáo hội tiếp nối sứ vụ được sai đi, ra đi đến với muôn dân. Ra đi là dấn thân đi đến gặp gỡ mọi người với tinh thần đơn sơ, từ bỏ và tự do, để loan báo tin vui và mang đến cho họ ơn cứu độ.

Cuộc đời người Kitô hữu cứ phải ra đi không ngơi nghĩ. Ra khỏi cái cũ và đi tới cái mới. Ra khỏi cái đang có để đi tới cái chưa có. Ra khỏi cái mình đang là để đi tới cái mình phải là. Như thế, hành trình xa xăm nhất lại chính là hành trình của con tim.

Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi.

Nhưng khó vì lòng người ngại núi e sông.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã ra đi từ trời cao xuống đất thấp, mang Tin mừng chiếu soi nhân trần. Xin sai chúng con ra đi nhẹ nhàng và thanh thoát, không chút cậy dựa vào khả năng bản thân hay vào những phương tiện trần thế. Xin Chúa giúp chúng con chỉ biết cậy dựa vào Chúa. Chỉ mình Chúa là đủ cho chúng con. Amen. mục lục

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

ĐƯỢC CHÚA SAI ĐI

Hôm nay, Chúa Giêsu gọi nhóm Mười Hai và sai từng hai người một đi rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Sau khi đã được ở với Chúa một thời gian, các ông đã được nghe Người giảng dạy, được học cung cách phục vụ của Người, thấy Người chữa lành bệnh tật cho những ai có lòng tin. Hôm nay, các ông sẽ đi thực tập tông đồ.

Người chỉ thị cho các ông không được mang gì đi đường, chỉ trừ cây gậy; không được mang lương thực, bao bị, tiền giắt lưng; được đi dép, nhưng không được mặc hai áo” (Mc 6, 8-9). Thoạt đầu, ta cảm thấy lo lắng khi nghe Thầy Giêsu nói đi rao giảng Tin Mừng mà chẳng mang gì phòng thân. Chỉ có cây gậy trong tay, chân mang đôi dép và một tấm áo che thân, không mang lương thực, bao bị, tiền giắt lưng. Các ông đã ra đi trong thiếu thốn hay trong sự phó thác hoàn toàn cho Thiên Chúa? Chúa Giêsu bảo các ông: “Bất cứ ở đâu, khi anh em đã vào nhà nào, thì cứ ở lại đó cho đến lúc ra đi” (Mc 6, 11). Khi vào nhà nào, các ông phải thật sự trở thành những vị khách dễ thương và là khách quý thì mới có thể trú ngụ lại lâu ngày tại nhà họ. Có lẽ, khi được ai đó đón tiếp, mời vào trú ngụ, dù gia đình ấy giàu hay nghèo thì cũng không quan trọng, điều quan trọng là ngay tại mái gia đình ấy, các ông sẽ góp phần xây dựng một bầu khí yêu thương và tôn trọng. Các ông sẽ đón nhận tất cả những gì được người ta đón tiếp với một tấm lòng biết ơn. Nếu người ta không đón tiếp thì các ông chỉ giũ bụi chân để tỏ ý phản đối họ chứ không lên án, chỉ trích hay “kêu lửa từ trời để thiêu đốt họ” (x.Lc 9, 54). Nghĩa là dù không được đối xử tốt, các ông vẫn không được dùng quyền đã được ban cho để làm hại một ai, vì các ông được sai đi là để trao ban tình yêu của Chúa cho muôn người. Chúa Giêsu sai đi từng hai người một, cả hai sẽ cùng nâng đỡ nhau trong hành trình sứ vụ, sẽ là những chứng nhân về tình yêu thương và tôn trọng nhau. Các ông sẽ không chuyển từ nhà này sang nhà khác khi thấy bầu khí gia đình đang xảy ra xung đột, các ông sẽ là những người mang lại bình an cho mọi người. Các ông cũng sẽ không chia tay nhau khi gặp mâu thuẫn nhưng cộng tác với nhau, cùng nhau lắng nghe để tìm kiếm và thi hành điều Chúa muốn. Có lúc, các ông sẽ là chiếc cầu nối nối lại mối tương quan cho những thành viên trong gia đình khi các ông nói lời của Thiên Chúa, làm những việc Người ủy thác cho các ông nhân danh Chúa Giêsu.

Là môn đệ của Chúa Giêsu, ta cũng được Người sai đi. Không phải ta tự ý ra đi nhưng là chính Chúa sai đi và ta ra đi nhân danh Chúa qua Hội dòng, cộng đoàn, giáo xứ,… Có lúc, ta thấy mình chưa đủ khả năng, chưa kịp chuẩn bị, ta chưa sẵn sàng trước một nhiệm vụ mới mẻ, đến những vùng truyền giáo đầy khó khăn. Nhưng Chúa Giêsu muốn ta lên đường mà không chần chừ. Chúa Giêsu luôn đồng hành bên ta, đừng lo lắng chi cả. Người chia sẻ cùng ta cả những khi thành công hay thất bại. Đừng lo lắng khi người ta không đón tiếp. Có nhiều người thương mến Chúa nhưng cũng có không ít kẻ muốn tra tay hại Người. Ta cũng giống Chúa thôi. Người nhắn nhủ ta, hãy bước đi cùng Người. Ở trong Chúa Giêsu ta sẽ được bình an, dù phải gặp muôn vàn khó khăn, gian khổ, bị bách hại hay bị vu khống đủ điều xấu xa. Điều quan trọng là ta có nên thánh thiện và tinh tuyền trước mặt Chúa Giêsu trong tình yêu thương hay không.

Lạy Chúa Giêsu! Cảm tạ Chúa đã chọn gọi con. Xin cho con trở nên tông đồ nhiệt thành của Chúa. Mỗi ngày, xin Chúa giúp con luôn ý thức về hồng ân Chúa ban và biết ở lại trong Chúa để được Chúa dạy dỗ; hầu khi ra đi rao giảng, con biết nói lời của Chúa và sống giống Chúa nhiều hơn. Con không chỉ là người rao giảng lời của Chúa bằng chính đời sống của con nhưng con còn phải biết sám hối mỗi ngày, từ bỏ mọi sự để theo sát Chúa hơn. Amen. mục lục

Bông hồng nhỏ

ĐƯỢC CHỌN LÀM CON ĐỂ TRỞ NÊN TINH TUYỀN THÁNH THIỆN

Thể theo lời thư của thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Êphêsô chương 1, 3-6, chúng ta thấy được ơn lớn nhất mà Thiên Chúa dành cho chúng ta là ơn gọi làm con Chúa, tức làm thánh.

Câu hỏi được đặt ra là Chúa chọn chúng ta khi nào?

Thưa: Chúa không chọn chúng ta làm con Chúa ngày hôm qua, hay hai ngàn năm trước, nhưng là, “trước khi tạo dựng thế gian”. Thiên Chúa biết rằng trong thế kỷ này có một người là tôi, mà Ngài đã nhận làm con. Trước khi tạo thành thế gian, Chúa đã chọn tôi, và việc tôi nay là người tốt hay xấu không thành vấn đề. Chúa không để ý xem tôi có xứng đáng không. Thật ra, chẳng ai trong chúng ta xứng đáng được chọn làm con Chúa. Ðáng lẽ mọi người chúng ta đều phải gánh chịu sự chết khi tổ tông loài người phạm tội. Nhưng Chúa không đành, mà lại cho chúng ta trở thành con Chúa do ân sủng: “Chiếu theo thánh ý Ngài, Ngài đã tiền định cho ta được phúc làm con nhờ Đức Giêsu Kitô” (Ep 1,5). Được làm con Chúa, chúng ta có một người Cha hằng chăm sóc, lo lắng và có quyền năng giải quyết mọi khó khăn của chúng ta. Ðiều quan trọng là chúng ta phải biết nhìn vấn đề theo con mắt đức tin, để thấy được những ơn cao trọng. Ðược Thiên Chúa nhận làm con, chúng ta có được quyền lợi cũng như trách nhiệm của người con trong gia đình Thiên Chúa. Chúng ta được quyền gọi Thiên Chúa là Cha, Abba – Cha ơi và được thừa hưởng tất cả những ơn từ Cha. Khi linh hồn lìa khỏi thể xác, chúng ta sẽ được về nhà Cha, vì là con của Ngài. Không những có người cha trên Trời, chúng ta con có anh chị em trong Hội Thánh, vì mọi người đều là con Thiên Chúa. Người ngồi cạnh chúng ta hôm nay là anh chị em của chúng ta vì có cùng một Cha trên Trời.

Chúa chọn chúng ta để làm gì?

Thưa, “để chúng ta được nên thánh thiện và tinh tuyền” (Ep 1, 4). Chữ “Thánh” có nghĩa là “tách riêng ra.” Trong thời Cựu Ước, đền thánh là nơi được giành riêng để thờ phượng Chúa; thầy tế lễ là người được tách biệt ra để lo việc thờ phượng Chúa. Cũng vậy, Chúa chọn chúng ta làm con, và tách biệt chúng ta để chúng ta thuộc về Ngài.

Ngài làm cho chúng ta nên thánh. Đúng như vậy, vì khi nhìn tôi, Thiên Chúa không còn thấy những tội lỗi của tôi nữa. Dòng máu cứu chuộc của Chúa Giêsu đã tẩy sạch tội tôi, để tôi trở nên tinh tuyền trước nhan thánh Chúa. “Ngài đã tiền định cho ta được phúc làm con nhờ Đức Giêsu Kitô, để chúng ta ca tụng vinh quang ân sủng của Ngài mà Ngài đã ban cho chúng ta được ơn cứu chuộc nhờ máu Người, được ơn tha tội theo sự phong phú của ân sủng Ngài” (Ep 1, 4).

Bài học về chức phận làm con 

Chúng ta học được gì qua những điều Phaolô nói ở đây?  

Thứ nhất, chúng ta phải sống xứng đáng với chức phận làm con Chúa. Ðời sống chúng ta phải phản ảnh được địa vị cao trọng này. Chúng ta phải càng ngày càng giống Chúa hơn.

Thứ hai, hãy vững tin vào địa vị làm con Chúa. Chúa chọn chúng ta không dựa vào những việc làm tốt chúng ta làm, để có thể “từ” chúng ta nếu chúng ta phạm tội. Nói như thế cũng không có nghĩa là chúng ta giờ đây cứ tha hồ phạm tội. Bị giam hãm trong xác thịt này, chúng ta sẽ còn phạm tội; và nếu lỡ lầm phạm tội, đừng vì thế mà đánh mất niềm tin, nghĩ rằng Chúa không còn yêu mình nữa. Chúa sẽ gìn giữ chúng ta cho đến giây phút cuối cùng.

Thứ ba, chúng ta phải khiêm nhường, vì Chúa chọn chúng ta không dựa vào công trạng chúng ta. Ngài không chọn chúng ta vì chúng ta giàu sang, hay nghèo đói, học cao hay thấp. Ngài chọn chúng ta trước khi chúng ta có thể làm một điều lành nhỏ.

Hãy đi rao giảng Tin Mừng làm chứng về Chúa

Là con, chúng ta phải làm chứng về Cha của mình với mọi người. Nhiều người cho rằng, nếu Chúa đã chọn từ lâu, thì chúng ta không cần làm chứng cho ai nữa! Nhưng nếu không có ai nói về Cha thì làm sao người khác tin được? Chúa đã chọn họ, nhưng Chúa cũng đã chọn chúng ta để nói với họ về Ngài. Nếu có một người chịu nghe lời chứng của chúng ta, ấy là Chúa đã chọn người đó để nghe chúng ta, và đã chọn chúng ta để đem Tin Mừng đến với họ. Khi chia sẻ niềm tin với một người, chúng ta phải biết rằng đằng sau khả năng yếu kém, lời nói vụng về của chúng ta là sự chọn lựa của Thiên Chúa. Chúng ta không đánh trận bằng xác thịt, dựa vào khả năng riêng của mình, nhưng dựa vào sự chọn lựa của Chúa đã có sẵn từ trước.

Lạy Chúa, xin cho chúng con ý thức được ơn gọi làm con Chúa thì phải làm chứng cho Chúa bằng lời nói cũng như việc làm trong đời sống hằng ngày của chúng con. Amen. mục lục

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

CHÚA CHỌN TÔI VÀ SAI TÔI ĐI 

Khi Chúa Giêsu chọn môn đệ và các Tông đồ, Người luôn kêu gọi với tất cả tình yêu thương đầy lòng trắc ẩn. Chúa đưa mắt nhìn với vẻ trìu mến, như thách thức họ làm một cái gì mà họ khó có thể lẩn tránh được.

Bài Phúc Âm hôm nay (x. Mc 6:7-13) nói về việc đào tạo những người sẽ đi rao giảng Tin Mừng Chúa trên khắp thế giới. Marcô coi công tác của các Tông đồ là một nối tiếp công việc của Chúa Giêsu. Lúc đầu, sứ mạng của 12 Tông đồ là “bắt cá” linh hồn người ta (x. Mc 1:16-20), sau đó Người chọn từng người một ở với Chúa để nhận quyền rao giảng và trừ ma quỉ (x. Mc 3:13-19). Họ được trao cho một sứ mạng đặc biệt là thi hành quyền lực bằng lời nói với quyền đại diện Chúa trong khi thụ huấn.

Theo Marcô, không thấy Chúa cấm không cho vào phần đất của người ngoại và các thành phố của người Samaritanô. Sự khác biệt này hẳn có một chủ ý để cho các môn đệ thích ứng với những điều kiện bên trong và bên ngoài Palestine, và gợi ý về một hoạt động sau này của Giáo Hội. Phần còn lại, Chúa Giesu yêu cầu các môn đệ hãy tin tưởng vào Thiên Chúa, đừng lo lắng cho bản thân về tiền bạc, ăn uống, quần áo và nơi ở (x. Mc 6:35-44; 8:1-9). Hãy ở lại nhà người nào tiếp đón mình đàng hoàng (x. Mc 6:10), đừng mong được thoải mái, để tránh người ta nghĩ mình đi tìm kiếm lợi lộc cho mình và đừng để chủ nhà khinh rẻ. Tại sao Chúa Giêsu lại nói các môn đệ đừng lo lắng về tiền bac, thức ăn và nơi ở? Chúa muốn các môn đệ phụ thuộc vào Thiên Chúa, Chúa sẽ lo cho từng người vì vinh quang của Chúa. Hành động “phủi bụi” khỏi chân là dấu chỉ chống lại những ai không nhận mình có tội và ăn năn  thống hối. 

GIÚP ĐỠ HAY CẢN TRỞ?

Một trong những vấn đề thường thấy trong Tin Mừng Marcô là sự “tối dạ” của các môn đệ. Chúng ta thấy các môn đệ cản trở Chúa Giêsu nhiều hơn là giúp đỡ. Họ không những chẳng hiểu lời Chúa nói mà đôi khi còn chẳng biết giúp đỡ Người thế nào. Chúa thường quở trách họ có mắt mà không nhìn, có trí mà không hiểu và lòng thì lại trai đá. Nhưng được là khi họ hiểu sai hay làm hỏng việc của Chúa thì họ cố gắng học hỏi. Họ lấy kinh nghiệm, tưởng như việc của loài người nhưng không biết đó là việc của Thiên Chúa. Họ không hiểu rằng con đường hẹp và gai góc họ cùng Chúa đang đi phải kết thúc ở thập giá. Vì vậy họ hành xử như dẫn Chúa đi vào lạc lối!

Tại sao Marcô lại nêu lên những hình ảnh xấu như vậy của các môn đệ? Độc giả của Marcô lúc đầu không chú trọng đến nghĩa đen mà để ý đến nghĩa tổng quát của biến cố. Họ tự hỏi “Các môn đệ là những nhà lãnh đạo thì phải tài ba, tại sao lại dở thế? Câu trả lời là Thiên Chúa muốn mở mắt các môn đệ, cải đổi họ - từ những người “tối dạ”chẳng hiểu gì cả, mà lại muốn thử Chúa - thành những đầy tớ xứng đáng và những nhà lãnh đạo không biết sợ. Đó là hy vọng của chúng ta! 

Là Kitô hữu, chúng ta nhận thức được mình yếu đuối và thất bại nên cần phải cảnh giác, nghĩ đến câu chuyện Tin Mừng này để làm một bài học, là phải tin tưởng Chúa Giêsu là Đấng khải hoàn trên sợ hãi, luôn luôn hiện diện giữa chúng ta.

NHÂN DANH CHÚA GIÊSU

Quyền lực và thẩm quyền nào mà Chúa muốn chúng ta thực thi nhân danh Người? Chúa Giêsu đã ban cho các Tông đồ cà quyền lực lẫn thẩm quyền để nói và hành động nhân danh Người. Chúa điều khiển các ông thi hành công tác như Người đã làm: Trừ ma quỉ, chữa lành bệnh, nói lời Chúa, Tin Mừng Phúc Âm mà họ đã thu nhận được nơi Chúa. Quyền lực và thẩm quyền của Chúa Giêsu là những thứ chưa ai nghe biết. Thẩm quyền và quyền lực của Chúa được phối hợp với tình yêu thương và khiêm tốn. Người đời tìm kiếm quyền lực cho cá nhân mình, gia đình, bạn bè, phe phái. Chúa Giêsu dạy chúng ta dùng nó vì thiện ích, làm điều tốt, giúp người, giúp tha nhân, giúp đời, giúp những người gặp hoạn nạn, nghèo khó và bị áp bức. Bước theo Chúa Giêsu là mạo hiểm, luôn luôn gặp khó khăn, như kiến tạo một cuộc sống mới, rao giảng điều thiện như Chúa Giêsu đã làm và chữa lành để rồi bị hàm oan, hoạn nạn đủ điều. 

LỀ LUẬT, TIÊN TRI VÀ KINH THÁNH

Dựa vào bài đọc sách tiên tri Amos (x. Am 7:12-15), chúng ta thử suy nghĩ về Chúa Giêsu qua lề Luật, các tiên tri và các sách Cựu Ước. Một đằng Chúa Giêsu biết rất rõ lề luật và tuân giữ tận tình. Một đằng Chúa cảm thấy hoàn toàn tự do trước lề luật. Người muốn luật lệ phải được cắt nghĩa một cách chính xác. Đi xa hơn nữa, người còn tuyên bố người là nhà làm luật mới có thẩm quyền ngang hàng với Thiên Chúa. Người là cứu cánh của luật, và để ứng nghiệm luật (Rm 10:4).

Chúa Giêsu cũng biểu lộ Người là tiếp nối đích thực của các tiên tri qua sứ điệp và đời cống của Người. Giống như các tiên tri, Người tuyên xưng niềm tin là “Thiên Chúa của Abraham, của Isaác và Giacóp” (Mt 22:32). Người bảo vệ Luật Thiên Chúa và luật người nghèo (Mt 11:20-24). Chúa cũng không ngần ngại tuyên xưng Người vĩ đại hơn tất cả các tiên tri, Người ở trên họ, không phải cùng hàng tiên tri mà còn là người thứ nhất, là khởi thủy và là suối nguồn mặc khải linh hứng cho các tiên tri.

Chúa Giêsu cũng tự nhận đã hoàn thành/ứng nghiệm văn chương khôn ngoan trong Cựu Ước. Chúa đã hoàn thành lề luật và các ngôn sứ bằng cách áp dụng cho chính mình. Người áp dụng phương cách đó và biến cải nó bằng chính việc làm của Người. Người hy sinh suốt cuộc đời, cả mạng sống mình, thay đổi tận gốc rễ những giá trị thành một tân tạo dựng nổi lên giữa một tạo dựng đang được thay đổi cực kỳ lớn lao.

Nhờ cái chết, Chúa Giêsu làm sáng tỏ sự mâu thuẫn rõ ràng giữa những giá trị đó trong văn chương khôn ngoan, và mở ra một lối đi, một con đường độc nhất cho loài người. Những ai muốn bước theo Chúa Giêsu thì phải bước theo vết chân Thiên Chúa, chịu đựng tất cả những hiểu lầm, đau khổ và cả cái chết của Người để thực sự trở thành môn đệ của Người. Chúng ta càng thăm dò chiều sâu của Kinh Thánh mà chính người đã hoàn thành bằng cuộc sống của Người thì chúng ta sẽ càng trở nên giống Người.

LỜI KẾT: KHAI TRIỂN LỜI CHÚA KÊU GỌI

Chúa kêu gọi chúng ta làm môn đệ của Người như thế nào? Bằng cách nào bạn cảm thấy Chúa Kitô kêu gọi bạn? Chúa Kitô biến cuộc sống của bạn thành đặc biệt như thế nào? Chúa kêu gọi bạn phải làm gì? Kinh nghiệm gì hay ai trong đời bạn giúp bạn đào sâu niềm tin của bạn? Khi đã thế hứa làm môn đệ Chúa, bạn có cảm thấy mình vẫn yếu đuối và dễ thất bại không? Là môn đệ Chúa Giêsu, bạn chia sẻ sứ mệnh rao giảng và chữa lành của Chúa cho mọi người như thế nào trong thế giới ngày nay? Bạn đang được sai đi để rao giảng và chữa lành cho những ai?

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD 

THIÊN CHÚA THÌ KHÁC

Thiên Chúa thì khác, khi chọn và sai Nhóm Mười - những con người “võ biền, thất học, lao động tay chân”, nhưng trao sứ vụ cao quý và nặng nề: “Loan báo Tin Mừng”. Xem ra Ân sủng Thiên Chúa sẽ biến đổi những con người hèn kém, trở nên mạnh mẽ và can đảm cho sứ vụ: “Ân sủng được xây dựng trên tự nhiên”. 

Thiên Chúa thì khác, khi chỉ thị cho Nhóm Mười Hai: Hành trang lên đường cần nhẹ nhàng, không cồng kềnh; Tâm hồn cần thanh thoát, tự do, để không gì có thể trói buộc được, đồng thời: Tin tưởng và phó thác cho sự quan phòng của Thiên Chúa. Hơn nữa, hai người thì chứng tá mới có giá trị: "Hai người có giá trị hơn một, nếu họ ngã, người này đỡ người kia dậy, nhưng khốn cho kẻ đi một mình" (Gv 4,9; x.Ds 17,6; 19,5).

Thiên Chúa thì khác, khi sai Nhóm Mười Hai đi kêu gọi người ta ăn năn sám hối- một công tác không dễ dàng chút nào. Có nhiều người dễ cảm thấy bị “tổn thương” ít nhiều, hoặc không thích “bị kêu gọi sám hối”, vì họ hài lòng về cuộc sống hiện tại của bản thân họ. Các môn đệ rao giảng sám hối như một Tin Mừng của Thiên Chúa mang lại bình an nội tâm, chứ không làm vừa lòng mọi người và, nhất là, không phải vì lợi ích của các vị: “Nếu tôi còn muốn làm đẹp lòng người đời, thì tôi không phải là tôi tớ của Đức Kitô”. (Gl 1, 10). 

Thiên Chúa thì khác, khi kêu gọi mỗi người với những “tự nhiên” - kể cả những giới hạn, thiếu sót và tội lỗi của họ, để cộng tác vào công trình Cứu Độ nhân loại- một công trình “siêu nhiên”, vì Phép Rửa Tội sát nhập họ vào Nhiệm Thể Chúa Kitô, phép Thêm Sức làm cho họ nên mạnh mẽ nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần. Ðàng khác, đức ái như là linh hồn của tất cả việc tông đồ, được chuyển thông và nuôi dưỡng nhờ các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể. Việc tông đồ được thực thi nhờ đức tin, Đức Cậy, đức ái vậy!.

Hơn nữa, “Trong Đức Ki-tô, Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Người. Theo ý muốn và lòng nhân ái của Người. Người đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giêsu Kitô” (Ep 1, 4-5)

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,

Trong tấm bánh nhỏ, Chúa trở thành “tấm bánh bẻ ra” cho nhân loại. Xin Chúa cho chúng con, khi được đón tiếp Chúa vào trong tâm hồn, thì cũng biết lên đường, đến với những người chung quanh và làm chứng cho tình yêu của Chúa. mục lục

Lm. Anphong Vũ Đức Trung, O.P.

CHÍNH và PHỤ

Bạn có biết tại sao Chúa Giê-su lại ra chỉ thị, bắt các môn đệ không đư

ợc mang lương thực, bao bị, tiền giắt lưng, không được mặc hai áo, và đã vào nhà nào, thì hãy ở lại đó cho đến lúc ra đi... không? Tôi nghĩ, có lẽ là vì hai lý do sau đây:

• Thứ nhất, khi mang theo lương thực, tiền bạc, túi bị, áo quần…thì các ông sẽ bị phân tâm, sẽ bị sao nhãng trong sứ vụ mà Ngài trao phó. Thật vậy, nếu các ông đem theo lương thực thì các ông phải lo bảo quản để

khỏi bị hư thối, mang theo tiền bạc thì dễ bị nguy hiểm đến tính mạng, bị trộm, bị cướp...Còn mang theo bao bị thì thế nào cũng lo kiếm chác bỏ vào cho đầy. Càng mang theo nhiều thử lỉnh kỉnh bao nhiêu, thì càng khó khăn trong việc di chuyển bấy nhiêu, và chắc chắn các ông sẽ không thể nào chú tâm vào những sứ vụ mà Chúa giao phó.

• Thứ hai, Ngài muốn các ông biết, công việc rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối, việc trừ quỷ, việc chữa lành cho các bệnh nhân làviệc CHÍNH còn những nhu cầu vật chất, về chuyện ăn uống chỉ là chuyện PHỤ mà thôi. Chính Chúa đã dạy các ông rằng: “Tiên vàn hãy đi tìm kiếm nước Thiên Chúa, còn mọi sự khác Ta sẽ ban cho sau!” (Mt 6:33).

Qua bài Tin Mừng của Chúa Nhật hôm nay, bạn học được gì, riêng tôi, tôi học được hai bài học rất quan trọng này:

Thứ nhất, là môn đệ của Chúa Kitô, đừng dính bén quá nhiều đến của cải vật chất. Càng có nhiều của cải vật chất bao nhiêu, thì tôi càng lo lắng, càng sợ hãi và tâm hồn càng bất an nhiều bấy nhiêu. Tệ hơn nữa, tôi sẽ không thể nào chu toàn những trách nhiệm bổn phận mà Chúa đã giao phó cho tôi, và tôi sẽ không thể nào hướng nhìn lên thượng giới, nơi Đức Giê-su ngự trị được, bởi vì Chúa Giê-su đã cảnh báo: “Kho tàng của anh em ở đâu thì lòng anh em ở đó!” (Lc 12:34) 

Thứ hai, tôi phải có khả năng phân biệt được cái gì là CHÍNH, và cái gì là Phụ. Trong thực tế, có nhiều người, kể cả hàng giáo sĩ chúng tôi nữa, không phân biệt được đâu là cái chính và đâu là cái phụ. Ví dụ:

• Đối với những môn đệ được Chúa tuyển chọn, thì VIỆC CHÍNH là đọc kinh Thần Vụ, cầu nguyện, Chầu Thánh Thể, suy niệm lời Chúa, đọc sách thiêng liêng, học hỏi, nghiên cứu Kinh Thánh, soạn bài giảng, giải tội, xức dầu bệnh nhân... Còn tiệc tùng, giải trí, chơi tennis, đánh golf, đi câu, làm MC cho các buổi tiệc gây quỹ, đi chạy show trình diễn văn nghệ, đi làm linh hướng cho các đoàn hành hương…CHỈ LÀ PHỤ thôi!

Đối với cha mẹ Công Giáo, việc CHÍNH là chăm lo cho phần linh hồn của con cái mình được no thỏa, đưa chúng đi dự lễ, học Giáo Lý, lãnh nhận các phép bí tích, sống đạo đức, siêng năng đọc kinh cầu nguyện. Còn những việc như lo cho con cái trở thành ông này bà nọ, có bằng, có cấp, có địa vị cao trong xã hội, trở thành bác sĩ, dược sĩ, nha sĩ, luật sư...chỉ là PHỤ! 

• Là những Kitô hữu, thì chu toàn bổn phận tham dự thánh lễ ngày Chúa Nhật là việc CHÍNH. Còn tiệc sinh nhật, tiệc kỷ niệm hôn phối, giỗ chạp, đi camping, di du thuyền, đi du lịch, coi super bowl, world cup, đi câu cá, đi hiking… tất cả chỉ là PHỤ! 

Hy vọng bây giờ bạn đã hiểu tại sao Chúa Giê-su lại ra chỉ thị, bắt các môn đệ không được mang lương thực, bao bị, tiền giắt lưng, không được mặc hai áo, và đã vào nhà nào, thì hãy ở lại đó cho đến lúc ra đi... rồi! Nếu bạn hiểu, thì xin bạn cầu nguyện thật nhiều cho các môn đệ của Chúa Kitô, nhất là cầu nguyện cho hàng Giáo Phẩm và hàng Giáo Sĩ, những người đã được Chúa tuyển chọn và sai đi rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối, trừ quỷ, chữa bệnh ... 

• Xin cầu nguyện cho chúng tôi, những người được Chúa mời gọi sống đời thánh hiến được ơn trung thành, và xin cho chúng tôi đừng ai đam mê, ham hố tiền tài, danh vọng, chức quyền; không lo tìm kiếm những lời khen tặng & những sự tán dương của người đời, nhưng chỉ đi tìm kiếm lời khen tặng của Thiên Chúa mà thôi.

• Xin cầu nguyện cho các bậc làm cha mẹ, xin Chúa ban cho họ ơn khôn ngoan, để họ có khả năng phân biệt được cái gì chính và cái gì là phụ. Nhờ vậy, họ mới có thể hướng dẫn và giáo dục con cái của họ chú tâm vào những cái chính, những gì có lợi cho phần linh hồn của chúng.

• Cầu nguyện xin Chúa gìn giữ bạn và tôi, cùng tất cả mọi Kitô hữu, để chúng mình không bị của cải, danh vọng, chức quyền và địa vị lôi kéo chúng mình ra khỏi quỹ đạo yêu thương của Thiên Chúa. Nhưng luôn biết chú tâm vào việc CHÍNH, đó là tôn thờ Chúa trên hết mọi sự, và làm mọi cách để cho phần linh hồn của chúng mình được no thỏa ân tình của Chúa.

Xin Chúa ban cho bạn những ơn cần thiết, để bạn biết tin tưởng, phó thác, được thoát khỏi những lo âu trong cuộc sống hằng ngày, biết phân biệt giữa cái chính và phụ, chú tâm lo cho đời sau qua việc siêng năng tham dự thánh lễ, xưng tội, rước Mình Thánh Chúa, quảng đại và hăng hái làm việc bác ái bố thí.

Cầu chúc bạn một tuần lễ mới tràn ngập niềm vui, sự bình an, luôn là môn đệ trung tín của Chúa. mục lục

Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

TRÚT BỎ 

Đúng nghĩa của cắm trại, nhất là trại huấn luyện, là hòa hợp cùng thiên nhiên, sống hết mình cho thụ tạo, thở hơi thở của hoang dã, sống sức sống của ngàn xanh, đi vào lòng tự nhiên khám phá siêu nhiên, đắm mình với tự nhiên để vươn hồn tới siêu nhiên, gọi về lòng biết ơn thụ tạo đã cho nhau sự sống và dâng muôn muôn lời cảm tạ Tạo Hóa ân ban cho muôn loài sự sống… 

Cắm trại đồng nghĩa với trút bỏ một cách tự nguyện mọi ràng buộc không cần thiết. Càng trút bỏ bao nhiêu có thể và giữ lại những gì cần thiết đúng mức, người ta càng thanh thoát, nhẹ nhõm, không vướng bận, lo toan điều gì. 

Hành trang trại viên càng nhẹ, tinh thần khiêm nhường, nghèo khó càng lớn, ta càng dễ hết mình với phút hiện tại, với không gian, thời gian… Nhất là dễ hòa với tự nhiên, dễ trở về Nguồn Cội Vĩnh Cửu, Đấng tác sinh mọi loài. 

Hiểu “trút bỏ” cần cho trại sinh, ta sẽ hiểu hơn mệnh lệnh lên đường Chúa Giêsu trao cho môn đệ. Mệnh lệnh ấy cũng đồng thời với mệnh lệnh trút bỏ. 

Còn hơn sự “trút bỏ” của trại sinh, môn đệ của Chúa phải trút bỏ đến trở nên nghèo khó, một cái nghèo đúng mức, nghèo trọn nghĩa: “Ngài truyền cho các ông lên đường, đừng mang gì ngoài cây gậy, không mang bị mang bánh, không mang tiền trong túi, nhưng chân đi dép và đừng mặc hai áo”. 

Tin Mừng của Chúa Giêsu là Tin Mừng cho người nghèo, Tin Mừng của người nghèo. Do đó chỉ có người nghèo mới có thể nên chứng nhân cho Tin Mừng ấy, mới có thể loan báo Tin Mừng ấy hữu hiệu. 

Chúa Giêsu không dạy gì mà Chúa đã không sống lời dạy ấy. Cả cuộc đời trần thế của Chúa là bài học lớn cho người môn đệ về sự nghèo khó. 

Chúa Giêsu trút bỏ hoàn toàn. Sự trút bỏ đúng nghĩa (nghĩa đen lẫn nghĩa bóng). Chúa không tự dành riêng điều gì: Mang phận Thiên Chúa, nhưng trở nên người phàm, một sự trút bỏ không thể tưởng tượng. Vậy mà Đấng Thiên Chúa làm người lại chấp nhận sống nghèo, nghèo đến không còn gì. 

Chúng ta không giàu, nhưng khi sinh ra, chắc không sinh nơi chuồng thú, nằm trên rơm rạ xót xa. Dẫu nghèo, ta vẫn còn mái nhà ấm áp, chiếc nôi xinh… Nếu mai này, ta có chết, chắc cũng chết trong điều kiện tươm tất. 

Nhưng Chúa Giêsu, cả một đời, từ lúc bắt đầu sinh ra tới khi trưởng thành, chối từ sự sang giàu đã vậy, đến lúc sinh thì, ngay đến manh áo cuối cùng cũng không có, chết trần treo giữa trời giữa đất, chết chung với kẻ trộm cướp, cùng chịu một hình khổ ngang hàng với kẻ trộm cướp... 

Chúa Giêsu trút bỏ hoàn toàn. Trút bỏ cả cuộc đời, trút bỏ cả mạng sống vẫn chưa làm đủ. Đến khi trao hơi thở sau cùng, Chúa lại còn tiếp tục trao dâng cả đến giọt máu cuối cùng. 

Trái Tim của Thiên Chúa làm người không đòi cho mình bất cứ điều gì, bây giờ lại thuộc về chúng ta tất cả. Chúa Kitô, nhà truyền giáo đại tài, đã trút bỏ để Tin Mừng Tình yêu lớn lên. Chúa chính là bài học lớn lao cho những ai là môn đệ của Chúa.

“Đừng mang gì ngoài cây gậy, không mang bị mang bánh, không mang tiền trong túi, nhưng chân đi dép và đừng mặc hai áo”. Hôm nay khi nghe lại lời dạy ấy của Chúa Giêsu, bạn và tôi nghĩ gì? 

Chúa cũng đang mời gọi ta trút bỏ những gì cồng kềnh, cản trở, khiến lời rao giảng Tin Mừng thiếu chứng tá, công cuộc rao giảng bị khựng lại. 

Như người cắm trại, trút bỏ mọi cái không cần thiết, họ sống hết mình cho ý nghĩa cắm trại. Cũng vậy, người gieo Lời Chúa, để Lời cắm sâu trong lòng người, càng phải trút bỏ mọi vướng bận để việc phục vụ Lời đạt kết quả. 

Bởi thế, Chúa sai chúng ta ra đi, nhưng hành trang của người môn đệ không là gì khác ngoài đức tin dâng hiến và lòng phó thác. Dâng hiến đến trút bỏ hoàn toàn. Phó thác đến mức trở nên nghèo khó, đến không còn gì. 

Chỉ có thế, người rao giảng Lời mới trở nên chứng tá cho Lời. Vì chứng tá cho Lời quan trọng hơn nói về Lời. Chỉ có một lối đường duy nhất là sự trút bỏ: mặc lấy tinh thần nghèo khó, sống lối sống nghèo của Chúa Kitô, chúng ta mới hy vọng nên chứng tá gieo Lời đạt kết quả.

Thánh Phaolô đã có lần đúc kết bài học trút bỏ của người môn đệ Chúa Kitô bằng những lời rất chân thành và lạc quan: “Bị coi là bịp bợm nhưng kỳ thực chúng tôi chân thành; bị coi là vô danh tiểu tốt, nhưng kỳ thực chúng tôi bị mọi người biết đến; bị coi là sắp chết, nhưng kỳ thực chúng tôi vẫn sống; coi như bị trừng phạt, nhưng kỳ thực không bị giết chết; coi như phải ưu phiền, nhưng kỳ thực chúng tôi luôn vui vẻ; coi như nghèo túng, nhưng kỳ thực chúng tôi làm cho bao người trở nên giàu có; coi như không có gì, nhưng kỳ thực chúng tôi có tất cả” (2Cr 7, 8 – 10). 

Nếu đồng cảm với thánh Phaolô, ta cũng sẽ hiểu rằng trút bỏ là đánh mất, nhưng kỳ thực, không hề mất mát bất cứ điều gì. mục lục

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

LỰA

[Niệm ý Mt 10:16-23 ≈ Mc 13:9-13; Lc 21:12-19]

Ki-tô hữu luôn bị người đời ghét
Thời đại nào người ta cũng chẳng ưa
Chỉ khác kiểu ngày nay và ngày xưa
Dù kiểu nào thì cũng là bách hại.
 
Khi xét xử, người ta chê Chúa dại
Ai theo Ngài cũng bị chê vậy thôi
Vì danh Chúa, tín nhân thua ở đời
Đã có nhiều vị tử đạo rồi đấy.
 
Như con chiên vào giữa bầy lang sói
Phải khéo léo như con rắn khôn ngoan
Phải đơn sơ như bồ câu ngoan hiền
Phải coi chừng người đời luôn xảo quyệt.
 
Chúa Giê-su đã nói cho biết trước
Đi theo Ngài chẳng có được an nhàn
Mà phải chịu khổ cực và mệt thân
Nhưng vẫn phải công bình và chính trực.
 
Trong gia đình có khi cũng xung khắc
Vì quan niệm mỗi người đều khác nhau
Không giống nhau cách thể hiện tin yêu
Chuyện đơn giản mà hóa thành phức tạp.
 
Theo ý Chúa thì bị mọi người ghét
Thế nhưng ai bền chí đến tận cùng
Thì mới là người theo Chúa kiên cường
Và tất nhiên kẻ ấy được cứu thoát.
 
Xin ban ơn để chúng con cương quyết
Biết khôn ngoan kiểu rắn và bồ câu
Biết lựa gió mà che chắn cho nhau
Vì đời này ma quỷ tinh ranh lắm. mục lục

Viễn Dzu Tử

ĐƯỢC SAI ĐI

(Cảm nhận từ Mc 6,7-13)

Tông đồ đủ số mười hai
Từng hai người một, Chúa sai lên đường
Ra đi rao giảng Tình Thương
Theo Thầy căn dặn lẽ thường thực thi
Trên đường chớ mang theo gì
Tay cầm cây gậy, chân đi dép mòn
Mình thì mặc một áo đơn
Không tiền, không bánh, cậy ơn quan phòng
Đến đâu, tiếp xúc cảm thông
Nhà nào ưng thuận hợp lòng lắng nghe
Ở luôn đến lúc ra đi
Nhà nào từ chối, chẳng nề: phủi chân…
Các ông chẳng có phân vân
Vâng theo Ý Chúa, mọi phần sáng tươi
Giảng rao: cảm hoá lòng đời
Diệt trừ chước quỷ, chữa người yếu đau
Tông đồ sứ vụ trước sau
Khuôn vàng thước ngọc in sâu đáy lòng. mục lục

(Thế Kiên Dominic)

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan