CHÚA NHẬT 18 THƯỜNG NIÊN_B

30-07-2021 190 lượt xem

Xh 16,2-4.12-15 / Ep 4,17.20-24 / Ga 6,24-35

Mục Lục

BÁNH TRƯỜNG SINH + ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

BÁNH TRƯỜNG SINH LÀ CHÍNH ĐỨC GIÊSULm. Anphong Vũ Đức Trung, O.P.

LƯƠNG THỰC ĐỜI ĐỜIThomas Aq. Trầm Thiên Thu

MUỐN SỐNG MUÔN ĐỜI, HÃY TIN VÀ LÀM THEO Ý CHÚALm. Antôn Nguyễn Văn Độ

XIN BAN CHO CHÚNG CON BÁNH CHÚA - Bs. Nguyễn Tiến Cảnh, MD

MÔSÊ, NGƯỜI LÃNH ĐẠO LÀ TÔI TỚ CỦA DÂNLm. Giuse Nguyễn Hữu An

BÁNH ĐÍCH THỰC, BÁNH BAN SỰ SỐNGLm. Dominic Dieu Tran, SDD.

CHÚA LÀ CỦA ĂN NUÔI SỐNG CHÚNG TALm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

XIN ĐỪNG “ĐÓNG ĐINH” - Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Thơ NHU YẾU PHẨM - Viễn Dzu Tử

Thơ: TIN CHÚA, ĐẾN VỚI CHÚA(Thế Kiên Dominic)

---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

BÁNH TRƯỜNG SINH

Báo cáo về Tình trạng An ninh Lương thực và Dinh dưỡng trên thế giới được thực hiện tháng 7-2020, ước tính có khoảng 690 triệu người rơi vào tình trạng thiếu ăn trong năm 2019 – tăng thêm 10 triệu người so với năm 2018 và thêm gần 60 triệu người trong vòng 5 năm. Với đại dịch Covid-19, tình hình thiếu đói lương thực còn nghiêm trọng hơn, nhất là ở những quốc gia châu Phi và châu Á. Lương thực là một trong những nỗi lo căn bản của con người. Nó cũng là nguyên nhân gây xung đột ở nhiều cấp độ: thế giới, quốc gia, vùng miền và cá nhân.

Cùng với nạn đói lương thực, con người cũng đang trải qua những nạn đói khác. Đó là đói khát Chân lý và Tình thương. Con người hiện hữu trên trần gian luôn mong muốn tìm về cội nguồn của mình. Con người cũng luôn mong muốn được yêu thương. Những nhu cầu về bánh ăn, mặc dù rất cần thiết để tồn tại, không làm cho con người thoả mãn trọn vẹn. Cùng với nhu cầu về cơm bánh, con người còn có như cầu tìm về Chân Lý. Đức Giêsu đến trần gian để khẳng định với chúng ta: điều mà nhân loại đang tìm kiếm, đó là Chúa Cha, là Thượng Đế, là Ông Trời, là Tạo Hoá. Chính bản thân Người là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Người dẫn chúng ta đến gặp Chúa Cha, là Cha chung của gia đình nhân loại và là nguồn mạch của mọi sự thiện hảo. Được gặp gỡ Chúa, con người sẽ thoả mãn những ước vọng thâm sâu của mình.

Tác giả sách Xuất hành kể lại một sự kiện trong hành trình sa mạc của người Do Thái để về Đất Hứa. Trước những nhu cầu cấp thiết của họ, Thiên Chúa đã làm mưa manna và cho chim cút bay đến, làm lương thực và thực phẩm cho dân. Nhờ quyền năng của Thiên Chúa và tình yêu thương của Ngài, trong bốn mươi năm hành trình sa mạc, dân Do Thái không cày cấy, không canh tác và trồng tỉa mà vẫn có đủ lương thực và thực phẩm để nuôi sống phần xác. Qua đó, Chúa thể hiện lòng trung tín với dân mà Ngài đã dẫn đưa họ ra khỏi ách nô lệ Ai Cập.

Nếu Thiên Chúa đã thể hiện quyền năng và tình thương của Ngài trong lịch sử qua hành động cung cấp manna và chim cút, thì nay, Ngài lại tiếp tục thực hiện những điều lạ lùng qua Chúa Giêsu Kitô. Bài Tin Mừng hôm nay kể lại cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và người Do Thái, có liên quan đến đề tài Bánh. Sau khi Chúa làm phép lạ hoá bánh ra nhiều, những người Do Thái chỉ nhìn phép lạ ấy với cái nhìn trần tục, họ mong nhận được bánh mỗi ngày để khỏi phải lao động. Chúa Giêsu muốn nói với họ về Bánh Trường Sinh mà Người ban tặng cho thế gian. Bánh ấy không đơn thuần là vật chất, mà là chính Thịt và Máu Người. Bánh này là lương thực thiêng liêng để nuôi sống con người, biến đổi làm cho họ được trở nên thần linh. Nhờ ăn bánh này mà con người được chia sẻ sự sống của Đấng Tối cao. Khi nhắc lại sự kiện manna trong Cựu Ước, Chúa Giêsu nối kết quá khứ với hiện tại, như hành động có tính liên tục của Thiên Chúa, mặc dù ở bình diện và cấp độ khác. Thiên Chúa, Đấng đã nuôi dưỡng tổ tiên người Do Thái trong sa mạc bằng manna, giờ đây tiếp nối hành động yêu thương ấy qua chính Con Một của Ngài. Thiên Chúa, Đấng ban manna thời ông Môisen và Thiên Chúa Cha của Đức Giêsu là một. Cuộc tranh luận với người Do Thái trong Tin Mừng Thánh Gioan (chương 6) cũng là mạc khải từng bước giúp chúng ta hiểu ý nghĩa của Bí tích Thánh Thể. “Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ”. Đây vừa là lời khích lệ, vừa là lời hứa cho những ai thành tâm đón nhận lương thực thiêng liêng trong đức tin chân thành và tâm tình yêu mến.

Con người hôm nay không chỉ đói lương thực, nhưng còn đói khát kiến thức, văn hóa, và nhất là đói khát tình thương. Điều nghịch lý là trong khi của cải càng ngày càng phong phú, kỹ nghệ máy móc càng ngày càng tinh vi, thì tình người càng ngày càng nghèo đi. Sự nghèo về tình người dẫn đến nghèo về cơm bánh, vì khi người ta sống ích kỷ thì không có sự chia sẻ giúp đỡ nhau. Giáo Hội luôn kêu mời và cổ võ những hoạt động thiết thực nhằm giải phóng con người khỏi đói nghèo, dốt nát và hận thù. Sống màu nhiệm Thánh Thể cách đích thực là cảm thông chia sẻ với người nghèo đói, để họ được sống theo đúng phẩm giá con người và phẩm giá của con Thiên Chúa. Qua Giáo Hội và qua mỗi Kitô hữu, Thiên Chúa vẫn đang đến cứu giúp những người nghèo khó bất hạnh, để nâng đỡ họ và giúp họ vững bước trong đường đời.

Như dân Do Thái xưa trong hành trình sa mạc, chúng ta đang sống trong cuộc lữ hành trần gian. Cuộc sống đan xen những vui buồn, và đầy những gian nan trắc trở. Giữa những buồn vui trắc trở ấy, chúng ta cần được Chúa dưỡng nuôi thêm sức. Bánh trường sinh mà Chúa Giêsu đã hứa, chính là bản thân Người, tự hiến để nên của ăn của uống thiêng liêng cho chúng ta. Thánh Phaolô khuyên chúng ta, một khi lãnh nhận của ăn thiêng liêng là Mình và Máu Chúa, cuộc đời của chúng ta phải được biến đổi: “Anh em hãy cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em và mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện”. Con người mới mà Thánh Phaolô nói tới, chính là con người được thần linh hóa nhờ việc kết hợp với Chúa Giêsu Thánh Thể, nhờ vậy, chúng ta nên một với Người và hình ảnh của Người tỏa sáng nơi cuộc đời chúng ta.

Mỗi khi dâng thánh lễ và rước Thánh Thể, chúng ta được đón nhận Mình và Máu Chúa Giêsu. Thịt Máu Chúa trở nên máu thịt của chúng ta để nuôi dưỡng và biến đổi chúng ta nên giống như Người. Đó là tác động kỳ diệu của Thánh Thể nơi cuộc đời người tín hữu. Đây là Bí tích của Đức tin. Chỉ có Đức tin mới giúp chúng ta nhận ra sự hiện diện nhiệm màu. Vâng, Đức Giêsu hiện diện trong Thánh Thể để ở với chúng ta mỗi ngày cho đến tận thế, như lời Người đã hứa.

Như trên đã nói, số người nghèo đói trên thế giới hiện nay có nguy cơ tăng thêm. Tuy vậy, một trong những nguyên nhân dẫn tới sự nghèo đói là do phân phối tài sản không đồng đều. Nếu con người bớt ích kỷ, nếu người giàu biết chia sẻ cho người nghèo, nếu những quốc gia phát triển văn minh biết quan tâm đến các dân tộc còn lạc hậu và nghèo nàn, thì nạn đói sẽ bị xoá sạch và thế giới sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Nói đến chuyện thế giới thì xa xôi, mỗi chúng ta, hôm nay và ở địa vị cụ thể mình đang sống, hãy làm một điều gì có thể để nâng đỡ những người nghèo khó xung quanh, đang có nhu cầu cấp thiết trong đời sống. Trong thời gian dịch Covid-19, chúng ta được chứng kiến tấm lòng quảng đại của người dân Việt: những bữa cơm miễn phí, những dịch vụ “không đồng” là những chia sẻ tuyệt vời, bất kể nhân danh tôn giáo nào, cũng là những hành động nhân văn đầy tình người. Đối với người tín hữu, những nghĩa cử bác ái với tha nhân là những chứng từ sống động cho thấy chúng ta là con cái của Cha trên trời. Chúng ta hãy cầu nguyện với Thánh Augustinô:

Con yêu mến Ngài, lạy Chúa là Tình Yêu tràn đầy và là sự ý thức chắc chắn của con. Với Lời của Chúa, Chúa đã gặp gỡ trái tim con và con trở thành người yêu của Chúa. Nhưng cũng như bầu trời, trái đất và tất cả những gì chất đầy nơi chúng, tất cả đều nói với con rằng, con cần phải yêu mến Chúa. mục lục

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

BÁNH TRƯỜNG SINH LÀ CHÍNH ĐỨC GIÊSU

Ít lâu, sau khi được ăn bánh và cá no nê trong hoang mạc, dân chúng đi tìm Đức Giêsu, vì họ nhận thấy Người đáp ứng được nhu cầu thể lý căn bản của họ. Họ muốn Người tiếp tục cho họ ăn. Xem ra họ quá thực dụng và chỉ quan tâm đến nhu cầu ăn uống cho thể xác! 

Nhưng Đức Giêsu mời gọi họ “vượt lên trên”: “Hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh” (Ga 6, 27). Người quan tâm đến nhu cầu tâm linh hơn: Đói khát Tình yêu, Công chính, và Sự Sống vĩnh cửu: 

- Khi con người không được yêu thương tôn trọng, không được chấp nhận như chính bản thân họ, họ sẽ sống lẻ loi, cô đơn và cả tuyệt vọng, Tình yêu đích thực sẽ chữa lành họ; 

- Khi con người ngụp lặn, chìm sâu trong tội lỗi, Ân sủng và ơn tha thứ của Thiên Chúa sẽ phục hồi và dẫn họ đến sự công chính; 

- Khi tâm hồn con người khao khát Thiên Chúa, Lời Đức Giêsu “Chính tôi là Bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; Ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ” sẽ an ủi họ, và chính Người sẽ thỏa mãn cơn đói khát tâm linh này, đồng thời dẫn họ đến sự sống vĩnh cửu.

Chuyện kể rằng: Từ ngày vợ qua đời, người chồng khốn khổ sống đau buồn, suy sụp. Hàng ngày, ông đến nghĩa trang, ngồi hàng giờ bên mộ người quá cố, nói chuyện với bà như một người còn đang sống…Các bạn hữu thường an ủi, khích lệ ông quên đi tất cả để làm lại từ đầu, và nhất là không cần thiết đến nghĩa trang mỗi ngày như thế. Sau một thời gian không đến mộ vợ, ông cảm thấy trống vắng, thiếu thốn.., và rồi mọi sự trở lại như cũ vì ông nói: “Bà ấy là Bánh của tôi”. Hẳn là ông không thể tiếp tục sống thiếu thứ bánh tâm linh này? Hẳn là người vợ là thành phần thiết yếu, quan trọng, không thể thay thế được của ông?!

Thiên Chúa đã tạo dựng con người để sống hạnh phúc mãi mãi với Người. Nhưng quỷ dữ đã lôi kéo, gây tai họa, làm con người đánh mất hạnh phúc này. Đức Giêsu đến trong trần gian để chuộc lại hạnh phúc này cho con người, với điều kiện: “Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến”: Tin Bánh Trường sinh là chính Đức Giêsu, Đấng từ trời xuống, đem lại sự sống cho thế gian. 

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,

Xin cho sức mạnh Chúa tung hoành trong chúng con, và chúng con sẽ mạnh dạn tiến công, nhận sứ mạng Chúa trao là đổi mới trái đất này. Chúa ngự trong cuộc sống chúng con, và ban cho cuộc sống chúng con có ý nghĩa đích thực hơn. mục lục

Lm. Anphong Vũ Đức Trung, O.P.

LƯƠNG THỰC ĐỜI ĐỜI

Lương thực là sản phẩm được thu hoạch từ các loại cây chủ yếu dùng làm thực phẩm. Do đó, thực phẩm là tất cả những thứ con người (hoặc động vật) có thể ăn hoặc uống để hấp thụ dinh dưỡng – gọi chung là ẩm thực. Bốn loại cây lương thực chính của Việt Nam – đất nước nông nghiệp – là lúa, bắp, sắn, và khoai lang. Bánh mì không là thực phẩm chính của dân Việt nhưng là thực phẩm chính của người Tây phương, vả lại nó được làm từ lúa mì, lúa mạch, lúa miến,…

Nhưng trớ trêu thay, có quan chức ở Việt Nam lại cho rằng bánh mì và bắp không phải là lương thực hay thực phẩm. Ai cũng biết chữ “thực” nghĩa là ăn, lương thực và thực phẩm là những thứ ăn được, có thể nuôi sống con người, nhất là trong lúc dịch bệnh thế này. Nếu đồ ăn đó không là lương thực hay thực phẩm thì là cái gì?

Ngày xưa có “đặc sản” Manna hoặc Mana, nhìn trắng như sương muối, rơi xuống từ trời vào ban đêm, trong như pha lê hoặc giọt sương. Nhưng nó sẽ cứng dần và dính, biến thành màu trắng, vàng, hoặc hơi nâu, giàu chất carbohydrates (chất cần thiết để cơ thể hoạt động), và sẽ tan biến khi nắng lên.

Từ ngữ manna được sách Xuất Hành đề cập 5 lần, (Xh 16:26-35) và được Kinh Koran đề cập 3 lần. Một số học giả cho rằng manna do tiếng Ai Cập là mennu, nghĩa là “đồ ăn.” Theo Kinh Thánh, manna là “man hu,” nghĩa là “cái gì đây?” – tương tự Anh ngữ là “what is it?” hoặc Pháp ngữ là “qu'est-ce que c'est?” Nhưng cũng có người cho rằng chữ “man hu” có thể có từ nguyên là tiếng Aram chứ không phải là tiếng Do Thái. Đó là chuyên môn, chúng ta chỉ cần hiểu manna là đặc sản duy nhất Chúa cho dân ăn suốt 40 năm khi tiến về Đất Hứa. Thế thôi!

Chúng ta được biết qua trình thuật Xh 16:2-4, 12-15 thế này: Trong sa mạc, toàn thể cộng đồng con cái Israel kêu trách ông Môsê và ông Aharon: “Phải chi chúng tôi chết bởi tay Đức Chúa trên đất Ai Cập, khi còn ngồi bên nồi thịt và ăn bánh thoả thuê. Nhưng không, các ông lại đưa chúng tôi ra khỏi đó mà vào sa mạc này, để bắt chúng tôi phải chết đói cả lũ ở đây.” Khổ gì thì khổ, chứ khổ vì đói khát thì khổ lắm. Với bản năng sinh tồn, người ta có thể dám làm bất cứ điều gì, thậm chí còn liều bán rẻ danh dự hoặc lương tâm. Bất chấp! Vì miếng ăn mà xảy ra tranh chấp, chiến tranh, ngay cả tình thân cũng có thể cắt đứt. Có miếng ăn vinh, có miếng ăn nhục!

Thi sĩ ngụ ngôn La Fontain (1621-1695, Pháp) thẳng thắn: “Cái bụng đói không thể lắng nghe.” Khi bụng đói cồn cào, thằng Bờm không cần thứ gì quý giá mà không thể ăn ngay, chỉ cần nắm xôi ăn ngay được. Thực tế vậy thôi! Danh y Anthony xác định: “Thực phẩm là cội rễ của vạn vật. Chính thực phẩm và chỉ có thực phẩm mới là thuốc chữa bách bệnh.” Ăn không chỉ để no bụng mà còn để duy trì sức khỏe. Chế độ ăn uống tốt khả dĩ ngăn ngừa bệnh tật. Sức khỏe tinh thần cũng ảnh hưởng lẫn nhau – hồn an, xác mạnh.

Thực sự Thiên Chúa thực tế hơn người ta tưởng. Ngài thấu hiểu nỗi khổ của dân nên phán với ông Môsê: “Này, Ta sẽ làm cho bánh từ trời mưa xuống cho các ngươi ăn. Dân sẽ ra lượm lấy khẩu phần cho mình, ngày nào cho ngày đó; Ta muốn thử lòng chúng như vậy xem chúng có tuân theo Luật của Ta hay không.” Ngài cũng cho biết: “Ta đã nghe tiếng con cái Israel kêu trách. Vậy, ngươi hãy bảo chúng rằng: Vào buổi chiều, các ngươi sẽ được ăn thịt, và ban sáng, các ngươi sẽ được ăn bánh thoả thuê, và các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi.” Ngài trừng trị nhưng Ngài “xót xa” lắm. Chúng ta có thể cảm nhận qua tình cha mẹ đối với con cái: Con đau một, cha mẹ xót mười.

Thiên Chúa hứa gì thì làm ngay. Chiều hôm đó, chim cút bay đến rợp cả trại. Buổi sáng có lớp sương phủ quanh trại. Rồi khi sương tan đi, trên mặt hoang địa có một thứ gì nho nhỏ mịn màng, nho nhỏ như sương muối phủ mặt đất. Khi con cái Israel thấy thế, họ liền hỏi nhau: “Man hu? – Cái gì đây.” Ông Môsê bảo họ: “Đó là bánh Đức Chúa ban cho anh em làm của ăn.” Sự thật chứ không là chiêm bao. Đỡ khổ, khỏi lo đói khát nữa, vì đã có thịt chim cút và bánh hiên thần để no thỏa. Thật tuyệt vời!

Không phải là Thiên Chúa không biết nên mới “dò sóng” và thử thách chúng ta. Ngài thấu suốt mọi sự, biết trước cả những gì chúng ta chưa nghĩ tới. Ngài muốn dùng sự thử thách để tôi luyện chúng ta. Đại dịch cúm Tàu đang hoành hành, nhưng nó giúp chúng ta nhận biết Thiên Chúa và thân phận mỏng manh của chúng ta. Khi nhận ra phép lạ của Thiên Chúa thì người ta không thể lặng im: “Điều chúng tôi đã từng nghe biết do cha ông kể lại cho mình, chúng tôi chẳng giấu gì con cháu cả, sẽ tường thuật cho thế hệ mai sau: sự nghiệp lẫy lừng, quyền uy của Chúa, với những kỳ công Chúa đã làm.” (Tv 78:3-4)

Tất cả chỉ là “chuyện nhỏ” đối với Thiên Chúa. Ngài tuyên phán một lời thì liền có cả trời đất và muôn loài trong đó, nói chi chuyện rẽ nước cho dân Israel băng qua và vùi lấp quân Ai Cập trong biển nước. (Xh 14:15-31) Manna và chim cút cũng chỉ là “hạt bụi trong hạt cát” mà thôi: “Chúa hạ lệnh cho mây tầng cao thẳm, lại truyền mở rộng cánh thiên môn; Người khiến manna tựa hồ mưa đổ xuống, và ban bánh bởi trời nuôi dưỡng họ. Kẻ phàm nhân được ăn bánh thiên thần, Chúa gửi đến cho họ dồi dào lương thực.” (Tv 78:23-25) Manna được gọi là “bánh thiên thần,” nhắc chúng ta nhớ tới Thánh Thể – bánh thiên thần đặc biệt mà chúng ta được tận hưởng mà dân xưa không được biết đến. Chúng ta hạnh phúc hơn họ mà lại không biết tạ ơn Thiên Chúa sao?

Lời khuyên Thánh Phaolô dành cho dân Êphêsô ngày xưa nhưng vẫn đầy tính thời sự đối với chúng ta ngày nay: “Đây là điều tôi nói với anh em, và có Chúa chứng giám, tôi khuyên anh em: đừng ăn ở như dân ngoại nữa, vì họ sống theo những tư tưởng phù phiếm của họ.” (Ep 4:17) Quả thật, chúng ta vẫn chưa bỏ được thói ảo tưởng trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống – cả đời và đạo: Nói hay, muốn nhiều, mà làm chẳng bao nhiêu. Đòi lấy, chứ không muốn cho.

Sự thật thì hay mất lòng và thường phũ phàng lắm. Thánh Phaolô cảnh báo: “Còn anh em đã chẳng học biết về Đức Kitô như vậy đâu; ấy là nếu anh em đã được nghe nói về Đức Giêsu và được dạy dỗ theo tinh thần của Người, đúng như sự thật ở nơi Đức Giêsu. Vì thế, anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện.” (Ep 4:20-24) Con người chúng ta mê muội, ù lì, viện nhiều cớ nên vẫn giậm chân tại chỗ – đôi khi còn thụt lùi mới đáng sợ.

Thật vậy, đã bao Mùa Vọng, Mùa Chay, tĩnh tâm, xưng tội, quyết tâm,... cứ theo nhau qua đi, con người cũ vẫn chẳng đổi mới được bao nhiêu. Rất chí lý với cách ví von của tiền nhân: “Chó đen giữ mực. Cốt khỉ hoàn cốt khỉ.” Chắc hẳn đã nhiều lần chúng ta tự nhủ: “Tại sao vậy?” Lý do thực tế và đơn giản lắm, bởi vì “chiến thắng một đạo quân còn dễ hơn chiến thắng chính mình.” (Đại đế Napoléon) Đặc biệt là đối lập: “Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm.” (Rm 7:19) Thật khốn nạn cho chính tôi!

Dân Israel rất ngạc nhiên khi thấy manna. Chưa hề thấy bao giờ. Và họ hỏi nhau: “Cái gì vậy?” Tương tự, khi thấy người lạ, người ta thường hỏi: “Ai đây?” Còn nhiều câu hỏi tương tự như vậy trong cuộc sống đời thường. Thắc mắc không chỉ vì tò mò mà để tìm hiểu. Thắc mắc đúng đắn sẽ dẫn tới sự khôn ngoan. Thắc mắc vì ham lạ sẽ bất lợi, thậm chí là tác hại.

Ngày xưa, dân chúng không thấy Chúa Giêsu và các môn đệ, họ đi tìm Ngài. Khi thấy Ngài ở bên kia Biển Hồ, họ nói: “Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy?” (Ga 6:25) Ngài trả lời nhưng có ý trách họ: “Tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê.” (Ga 6:26) Rất “sốc” nhưng không oan chút nào. Và Ngài khuyên: “Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận.” (Ga 6:27)

Ngày nay, chúng ta cũng chẳng khác. Những lúc cầu nguyện, chúng ta thường chỉ muốn XIN là chính, nhất là muốn “xin như ý mình,” muốn XIN thì phải ĐƯỢC, gọi là xin-cho, nhưng khi được rồi lại quên tạ ơn Ngài. Rất phũ phàng!

Sau khi dân chúng nghe Chúa Giêsu nói vậy thì hỏi ngay: “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn?” (Ga 6:28) Thật lòng mà hỏi như vậy thì tốt, vì muốn vâng ý Chúa chứ không theo ý mình. Chúa Giêsu trả lời: “Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm là tin vào Đấng Người đã sai đến.” (Ga 6:29) Thế nhưng họ lại hỏi: “Vậy chính ông, ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông? Ông sẽ làm gì đây? Tổ tiên chúng tôi đã ăn manna trong sa mạc, như có lời chép: Người đã cho họ ăn bánh bởi trời.” (Ga 6:30-31) Thì ra họ không thành tâm, chỉ muốn “bắt bẻ” Chúa Giêsu mà thôi. Dốt mà chảnh, ngu mà kiêu. Chúng ta cũng vậy thôi.

Nhưng Chúa Giêsu vẫn thản nhiên và thẳng thắn: “Thật, tôi bảo thật các ông, không phải ông Môsê đã cho các ông ăn bánh bởi trời đâu, mà chính là Cha tôi cho các ông ăn bánh bởi trời, bánh đích thực, vì bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian.” (Ga 6:32-33) Có lẽ lúc này họ mới “sáng mắt” nên vội xin Ngài cho họ được ăn mãi thứ bánh ấy. Biết xin như vậy là tốt, biết phục thiện. Chúa Giêsu nói: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!” (Ga 6:35) Nghe vậy thì họ lại xì xầm với nhau, cho rằng Chúa Giêsu nói những lời “khó lọt lỗ tai.” Bướng bỉnh tột đỉnh!

Sự thật đích thực thì mãi mãi là sự thật, trường tồn và bất biến. Chúng ta may mắn hơn dân xưa vì được thừa hưởng di sản vô giá: Đức tin Công giáo, đức tin tông truyền, đức tin duy nhất, đặc biệt nhất là Thánh Thể Chúa Giêsu Kitô.

Thánh Thomas More (luật sư, triết gia, chính khách, 1478-1535, Anh quốc) chia sẻ: “Nếu tôi xao lãng, việc hiệp lễ sẽ giúp tôi tịnh tâm trở lại. Nếu hằng ngày có những dịp xảy đến xúi giục tôi xúc phạm đến Thiên Chúa, tôi sẽ tự trang bị cho cuộc chiến mỗi ngày bằng việc lãnh nhận Thánh Thể. Nếu tôi đặc biệt cần đến ánh sáng và sự khôn ngoan để thực thi các phận sự nặng nề của tôi, tôi sẽ đến bên Đấng Cứu Độ, mong tìm được lời khuyên và ánh sáng của Người.”

Lạy Thiên Chúa hằng hữu, xin ban những ơn cần thiết để chúng con đủ sức biến đổi theo ý Ngài, cụ thể là trải nghiệm hoàn cảnh khó khăn vì đại dịch thế này. Xin cho chúng con được no thỏa Thánh Ân và Thánh Thể, và cho chúng con được hưởng sự sống đời đời. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. mục lục

Thomas Aq. Trầm Thiên Thu

MUỐN SỐNG MUÔN ĐỜI, HÃY TIN VÀ LÀM THEO Ý CHÚA

Chúng ta đang chứng kiến cảnh con người trên thế giới giành giật sự sống trước cái chết do đại dịch Covid gây ra.

Cộng đoàn con cái Israel trước cái đói thể lý. Đói không có gì ăn thì sẽ chết. Họ sợ chết chết, nên họ kêu trách Môsê và Aaron: “Thà chúng tôi chết trong đất Ai-cập do tay Chúa, khi chúng tôi ngồi kề bên nồi thịt và ăn no nê. Tại sao các ông dẫn chúng tôi lên sa mạc này, để cả lũ phải chết đói?” (Xh 16,2-4)

Dân chúng thời Chúa Giêsu, vì cái bụng, hay cụ thể hơn họ cũng sợ chết đói nên đi tìm bánh để ăn chứ không tìm Đấng Cứu Thế. Chính Chúa Giêsu nói : “Các ngươi tìm Ta, không phải vì các ngươi đã thấy những dấu lạ, nhưng vì các ngươi đã được ăn bánh no nê” (Ga 6,26).

Từ cái bụng rỗng không có gì, tức đói thể xác, Thiên Chúa đã cho “cho bánh từ trời rơi xuống như mưa”, nhưng cũng để thử coi dân có tuân giữ lề luật của chúa hay không (x. Xh 16…..). Từ của ăn phần xác, Chúa Giêsu khơi dậy sự khao khát của ăn đích thực cho sự sống đời đời nơi lòng họ. Tìm kiếm bánh để ăn no nên thật cần thiết, nhưng vun trồng mối quan hệ với Chúa Giêsu, củng cố niềm tin vào Người, Ðấng là bánh sự sống, đã đến để giải cơn đói chân lý, cơn đói công bình, tình yêu còn quan trọng và cần hơn thế nữa. Để có được thì ngay hôm nay phải ra công làm việc, việc đó chính là: “Tin vào Chúa Giêsu là Đấng mà Chúa Cha sai đến” (Ga 6,29).

Con người đã, đang và sẽ làm mọi cách để có được sự sống đời đời bằng nỗ lực của chính mình. Nhưng dù y họ có tiến bộ đến đâu đi chăng nữa, hứa hẹn tăng tuổi thọ cho con người, thì những nỗ lực đó không mang lại sự sống đời đời. Chỉ mình Thiên Chúa mới có thể cho chúng ta sự sống đời đời, vì Chúa là “Sự Sống”. Chúa hứa sẽ “tiêu diệt sự chết đến muôn đời” và ban sự sống vĩnh cửu cho những ai trung thành với Chúa (x. Is  25,8; 1 Ga 2,25). Tất cả những ai vâng lời Thiên Chúa đều có cơ hội sống đời đời, “nhưng bất cứ nơi dân tộc nào, ai kính sợ Người và làm lành thì đều được Người vui lòng chiếu nhận” (x. Cv 10,34, 35). Câu hỏi: Làm sao để được sống đời đời là vấn nạn con người ở mọi nơi mọi thời đặt ra. Thánh Gioan cho ta câu trả lời: “Kẻ làm theo ý Thiên Chúa thì lưu tồn vạn đại” (x. 1 Ga 2,17).

Đọc Tin Mừng Ga 6,24-35, chúng ta thấy của ăn để sống đời tạm này cần phải kiếm tìm thế nào, thì của ăn cho sự sống đời đời càng phải ra công tìm kiếm hơn. Chúa Giêsu mời gọi dân chúng: “Các ngươi hãy ra công làm việc không phải vì của ăn hay hư nát, nhưng vì của ăn tồn tại cho đến cuộc sống muôn đời, là của ăn Con Người sẽ ban cho các ngươi. Người là Đấng mà Thiên Chúa Cha đã ghi dấu” (Ga 6,26-27). Chính Chúa Giêsu là bánh sự sống thật (x. Ga 6,35), Người đến xoa dịu không chỉ cơn đói thể xác nhưng cả cơn đói của linh hồn khi ban lương thực thiêng liêng có thể thỏa mãn cơn đói sâu thẳm nhất. Vì vậy Người mời gọi đám đông đừng tìm kiếm lương thực hư nát, nhưng hãy tìm thứ lương thực tồn tại cho sự sống vĩnh cửu (x. Ga 6,27). Ðó là lương thực mà Chúa Giêsu ban cho chúng ta mỗi ngày: Lời của Người, Mình Người, Máu Người.

Sự khao khát và tò mò nổi lên trong họ, khiến họ thưa rằng: “Chúng tôi phải làm gì để gọi là làm việc của Thiên Chúa?” Chúa Giêsu đáp: “Đây là công việc của Thiên Chúa là các ngươi hãy tin vào Đấng Ngài sai đến” (Ga 6,..).

Quả thật, tin vào Chúa Giêsu và làm theo ý Chúa là chìa khóa để có đượ sự sống đời đời. “Tin” vào Ðấng Chúa Cha sai đến; nghĩa là niềm tin vào Chúa Giêsu giúp chúng ta thực hiện những việc làm của Thiên Chúa. Nếu chúng ta để cho mình tham dự vào mối tương quan tình yêu và tin tưởng với Chúa Giêsu, chúng ta sẽ có thể thực hiện những việc tốt lành tỏa hương thơm của Tin mừng, vì thiện ích và nhu cầu của anh chị em.

Trong lời nguyện hiến tế, Chúa Giêsu đã nói rõ: “Sự sống đời đời tức là: chúng nhận biết Cha, Thiên Chúa độc nhất và chân thật, và Ðấng Cha đã sai, là Đức Giêsu Kitô” (Ga 17,3). Sách Công vụ Tông đồ khẳng định: “Không có ơn cứu độ nơi một người nào khác nữa. Vì dưới gầm trời này, không có một Danh nào khác đã được ban xuống cho nhân loại để phải nhờ vào đó mà chúng ta trông được cứu thoát” (Cv 4,12).

Có phải chỉ cần tin Chúa Giêsu là chúng ta sẽ được cứu không?

Chúng ta phải tin Chúa Giêsu để được cứu, nhưng tin thôi thì chưa đủ (x. Cv 16,30, 31). Vì: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2,26). Nên tin phải đi đôi với thực và vâng giữ các điều răn của Thiên Chúa (x. Lc 6,46; 1 Ga 2.17). Trước khi giải thoát dân Israel khỏi ách nô lệ Ai Cập, Thiên Chúa đã ban truyền những lễ luật mà dân phải tuân giữ. Có tin thì mới tuân giữ, còn khi họ hồ nghi thì họ vi phạm thánh chỉ của Chúa. Có lúc Thiên Chúa “thử coi dân có tuân giữ lề luật của Ta hay không”. Chúa Giêsu từng nói: “Không phải người nào nói “Lạy Chúa” thì sẽ được cứu nhưng chỉ ai “làm theo ý muốn của Thiên Chúa” (x. Mt 7,21). Trung thành với niềm tin cũng thật cần thiết như Chúa Giêsu nói: “Ai bền chí chịu đựng cho đến cuối cùng thì sẽ được cứu” (Mt 24,13. Chúa Giêsu cứu những người trung thành bằng cách hiến mạng sống mình làm giá chuộc (x. Mt 20,28). Vì Người là “Đấng Cứu Độ thế gian” (1 Ga 4,14). mục lục

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

XIN BAN CHO CHÚNG CON BÁNH CHÚA

Đọc bài đọc 1 sách Xuất Hành (Xh 16,2-4.12-15) ai cũng thấy Thiên Chúa bực mình với dân Israel. Thiên Chúa đã giải thoát họ khỏi cảnh nô lệ và đưa đến đất hứa, nhưng vừa vượt qua biển đỏ và ăn mừng chiến thắng thì tại Sinai lại xẩy ra cảnh than trách Chúa, nào là không có nước uống, không có thức ăn (Xh 15,22-27). Họ nhớ đến Ai Cập vì ở đây ăn uống không được no đủ và ngon miệng.

Đáp trả cảnh vô ơn đó, Thiên Chúa cho bánh manna từ trời xuống và chim cút hàng đàn để làm thức ăn. Đoạn sách xuất hành này nói lên hai cảnh trái ngược nhau, giữa những kẻ không tin và những kẻ tin. Những kẻ không tin cho rằng manna và chim cút không phải là của ăn nuôi dưỡng, và những kẻ tin thì coi những thức ăn đó là tặng vật quí giá mà Chúa ban cho những ai đói khát.

HAI LOẠI THỨC ĂN KHÁC NHAU

Trong bài Tin Mừng Gioan (Ga 6:24-35) Chúa Giêsu nói với đám đông đi kiếm Người: “Ta nói thật, các ngươi đi tìm ta không phải vì những dấu lạ, nhưng vì được ăn uống no nê. Đừng hành động vì thức ăn mau hư, nhưng hãy hành động vì thức ăn không hề bị hư nát và có ích cho đời sống vĩnh cửu mà Con Thiên Chúa sẽ ban cho các ngươi” (Ga 6:26-27).

Họ đã không hiểu lời Chúa nói nên bắt đầu bàn tán và hỏi Người: “Vậy chúng tôi phải làm gì để gọi là làm theo Lời Chúa?” Chúa trả lời: Đây là công việc của Thiên Chúa, hãy tin vào Đấng mà Thiên Chúa sai đến”(Ga 6:29). Tin là tin vào Con Người, Đấng ban phát của ăn không bao giờ hư thối. Không tin vào Người là đấng mà Cha người sai đến thì không thể nhận biết và chấp nhận tặng vật này. 

Những kẻ chứng kiến phép lạ Chúa hóa bánh ra nhiều đã không đáp ứng đúng ý nghĩa của bánh. Họ hỏi Chúa: “Vậy ông sẽ làm cái gì để chúng tôi thể tin? Cha ông chúng tôi đã ăn manna trong sa mạc, như có lời chép ‘Người đã cho họ ăn bánh bởi trời’ (Ga 6:30-31). Các môn đệ lúc đó mong có dấu lạ như manna mà tổ tiên họ đã được ăn. Nhưng Chúa Giêsu nói với họ hãy chờ mong một loại thức ăn đặc biệt khác với manna, và, “Không phải Maisen đã cho bánh từ trời, nhưng Cha ta đã cho một loại bánh hằng sống đến từ trời có thể ban sự sống cho toàn thể nhân loại” (Ga 6:32-33).

“Ăn của ăn bình thường thì rồi ta sẽ đói trở lại, nhưng ăn của ăn do ta ban thì không còn đói và khát nữa”. Đó là đói khát sự sống, sự vĩnh cửu, thèm nhớ Thiên Chúa. Cơm gạo như bánh manna không biểu hiện con người Chúa Giêsu, là Đấng thỏa mãn đói khát sự sống, sự vĩnh cửu bằng một loại “bánh hằng sống”, nuôi sống cho cả nhân loại.

Điều đặc biệt là trong lúc nói truyện với dân chúng, Chúa Giêsu không tuyên xưng mình như một Maisen hay một sứ giả trong hàng tiên tri. Ban bánh hằng sống này không phải là loại bánh bình thường để nuôi sống thân xác nhưng là bánh là Lời của Chúa. Lời đó không bao giờ qua đi. Nó sẽ nuôi dưỡng và ban sự sống vĩnh hằng. Chúa Giêsu là bánh. Người chia sẻ bánh đó cho chúng ta, Người kêu gọi chúng ta phải tin vào Người.

Chúa mời gọi chúng ta “đến với Người”, “tin vào Người”, “nhìn lên Người”, “ép đầu vào lòng Người”, “lắng nghe Người”, “học hỏi về Người”. Tất cả những hành động đó thúc dục chúng ta đáp ứng tích cực bằng niềm tin của chúng ta (Ga 6:35,37,40,45). Lời Chúa chính là của ăn nuôi dưỡng niềm tin đó.

Những ai lắng nghe Chúa Giêsu thì sẽ xin Người hoàn thành điều mà bánh manna đã mang lại: “Lạy Chúa, xin hãy ban cho chúng con bánh đó” (Ga 6:34). Một đòi hỏi hùng thật hùng hồn và thắm thiết! Một hoàn thành quảng đại và kỳ diệu biết mấy! “Ta là bánh hằng sống, ai đến với ta và tin vào ta sẽ không bao giờ đói và khát.”

THỰC TẾ VÀ LÝ TƯỞNG

Đối với những người nghe Chúa lúc bấy giờ, ngay cả các môn đệ cũng khó có thể hiểu được sự mầu nhiệm của bánh trường sinh nuôi dưỡng đời sống vĩnh cửu biểu hiệu qua bánh ăn hằng ngày. Đối với chúng ta hiểu được mầu nhiệm đó cũng không phải dễ!

Đôi khi chúng ta cũng hay phê phán về Thánh Thể và Giáo Hội giống như dân Israel xưa ở trong sa mạc. Những chuyện lôi thôi về hành chánh và chính trị của Giáo Hội cũng ảnh hưởng đến Thánh Thể, có lúc làm chúng ta nghi hoặc, coi như Chúa vắng mặt hoặc không có.

Chầu Thánh Thể không phải như ở Massah và Meribah, những nơi có cảnh càu nhàu than trách. Chúng ta thường bị lôi cuốn vào những cuộc tranh luận giữa tôn kính và phụng vụ, giữa bác ái và công bằng khi tôn kính bị coi là kẻ thù của phụng vụ và bác ái là phản bội công bằng, hoặc coi phụng vụ là chuyện cá nhân và công bằng công lý không phải là cấu trúc của Tin Mừng Phúc Âm. 

TÔN THỜ VÀ ĐẠO ĐỨC

Lấy một thí dụ để làm sáng tỏ vấn đề phụng vụ và đạo đức. Nhiều người nhất là những vị lớn tuổi đã nhìn việc tôn thờ và lòng đạo đức của giới trẻ một cách tiêu cực.

ĐGH Biển Đức XVI đã nhấn mạnh đặc biệt về sự tôn thờ và lòng đạo đức trong đời sống Công Giáo. Chúng ta đã không nhìn ra là việc thờ phượng chung có liên hệ khá mật thiết với sự tôn thờ, có thể coi là một. Mộ đạo và đạo đức có thể là bước đầu giúp cho niềm tin trưởng thành. Mỗi khi chúng ta tụ họp nhau lại để chầu Thánh Thể với tư cách cộng đồng Kitô hữu là chúng ta cùng nhau tuyên xưng-với toàn thể Giáo Hội-niềm tin của chúng ta vào Chúa Kitô Thánh Thể, trong Chúa Kitô là bánh hằng sống và là bánh đời sống.

Tại Hội Nghị Thánh Thể Thế Giới thứ 49 ở Quebec năm 2008, Đức giám mục Louis Antonio Tagle đã cho một bài học giáo lý rất đặc biệt với một kết luận rất thâm sâu về ý nghĩa Thờ Phượng Mình Thánh Chúa (http://www.zenit.org/article-22964?l=english).

Ngài nói: “Trong Thánh Thể, Giáo Hội nối kết Chúa Giêsu với việc thờ phượng Thiên Chúa. Thực hành việc tôn thờ Thánh Thể sẽ làm cho một số hình ảnh thờ phượng trở nên sống động. Chúng ta tin rằng sự hiện diện của Chúa Kitô trong phép Thánh Thể còn vượt quá cả phụng vụ. Tôn thờ Bí Tích Thánh Thể bao hàm một hiện diện, ở tại và chứng kiến. Trong tôn thờ, chúng ta hiện diện với Chúa Giêsu và sự hy sinh của người luôn luôn hiện hữu giữa chúng ta. Ở trong Người, chúng ta được đồng hóa mật thiết với sự tự hiến của Người. Chứng kiến Chúa Giêsu, chúng ta nhận và được biến đổi bởi mầu nhiệm chúng ta tôn thờ. Tôn thờ phép Thánh Thể giống như đứng dưới chân Thánh giá của Chúa Giêsu, chứng kiến Người hy sinh mạng sống của Người và nhờ đó chúng ta được đổi mới. Thờ lạy đời sống thiêng liêng hay sự hy sinh của Chúa Giêsu trên thập giá là một hành động tột đỉnh của tôn thờ.”

SUY NIỆM

Chúng ta thử tự hỏi mình: Sự hiện diện của Chúa Giêsu trong phép Thánh Thể có ý nghĩa gì đối với chúng ta? Tham dự tiệc Chúa hằng tuần hay mỗi ngày của chúng ta có biến đổi chúng ta thành người biết ơn, tử tế và công chính không? Hãy để ý đến những đòi hỏi của Chúa khi chúng ta tham dự tiệc Thánh Thể. Thánh Thể biểu hiện đời sống của chúng ta bằng cách nào và đời sống của chúng ta biểu hiện phép Thánh Thể như thế nào? Chúng ta chứng tỏ lòng biết ơn của chúng ta ra sao? 

Chớ gì việc tôn thờ phép Thánh Thể tiếp tục biến đổi cộng đồng giáo xứ chúng ta và xã hội quanh ta thành một văn minh tình yêu. Chớ gì phép Thánh Thể nuôi dưỡng chúng ta là những kẻ đói khát sự công chính. Chớ gì lòng khao khát Thánh Thể của chúng ta giúp chúng ta luôn luôn biết nhẫn nại và tử tế với nhau. Chúng ta hãy cầu xin để hoàn thành trách nhiệm chúng ta phải có khi nhận Mình và Máu thánh Chúa.

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

MÔSÊ, NGƯỜI LÃNH ĐẠO LÀ TÔI TỚ CỦA DÂN

Trong bối cảnh gian truân tư bề của những ngày ôn dịch, hôm 23-7, Ông Lâm Minh Thành, chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang nói những câu được nhiều người khen tặng và bình luận: “Đi chợ mua đồ ăn, thức uống, đi chợ nào, mua cái gì là quyền của dân. Một bó rau, một mớ hành cũng phải để cho dân chở đi bán”; "Việc đi chợ nào, mua cái gì, mua bao nhiêu là quyền của người dân. Họ phải ăn, uống mới sống được. Đâu phải chợ nào cũng giống chợ nào. Có chợ ở phường này, xã này bán thứ này, chỗ khác bán thứ khác, cho nên không được cứng nhắc khi áp dụng, mà phải linh động, phải hiểu nhu cầu thực tế của người dân. Ở vùng sâu, vùng xa, người ta đất ít, trồng ít được 1 bó rau, mớ hành cũng phải để cho dân chở đi bán, để ở nhà 2, 3 ngày rau cải hư hỏng hết. Người có nông sản bán được thì người mua mới có để mà mua. Mình chống dịch chặt chẽ, nhưng không được ngăn sông cấm chợ"…

Ông Thành được khen là: con người công vụ gần Dân, hiểu Dân và làm việc vì Dân…Từ khi "gà chưa biết gáy" đến...bi giờ, mới nghe được một vị lãnh đạo có lời nói đứng về phía Dân…Trong lúc này, lãnh đạo nào mà sống gần Dân, hiểu Dân, cống hiến vì Dân, thì họ là Thánh trong lòng Dân…

Bài trích sách Xuất hành ngày Chúa nhật hôm nay nói về Môsê một nhà lãnh đạo vì Dân, yêu thương Dân.

Tôi đã đọc đâu đó câu này: “Cần một ngày để đưa dân Do thái ra khỏi Ai cập, nhưng cần bốn mươi năm để đưa Ai cập ra khỏi người Do thái”.

Tại sao phải mất 40 năm để đưa Ai cập ra khỏi người Do thái? Bài đọc 1 hôm nay nêu lý do. Dân Do thái than vãn với Môsê: “Phải chi chúng tôi chết bởi tay Đức Chúa trên đất Aicập, khi còn ngồi bên nồi thịt và ăn bánh thoả thuê. Nhưng không, các ông lại đưa chúng tôi ra khỏi đó mà vào sa mạc này, để bắt chúng tôi phải chết đói cả lũ ở đây!” (Xh 16,3). 

Dân Do thái đã buông ra những lời trách móc nặng nề ông Môsê và ông Aharon. Nhiều lần dân đã trách móc, xỉa xói và tỏ thái độ vô ơn bạc nghĩa đối với ông Môsê, vị đại ân nhân của họ.

Hành trình sa mạc với nhiều thử thách là dịp thanh luyện dân tuyển chọn khỏi nổi nhớ “thịt béo, củ hành củ tỏi Ai cập”. Suốt 40 năm, họ được thử thách, tinh luyện để vào đất hứa. Đó là thời gian giáo dục để trở thành một dân tộc, một cuộc giáo dục từ từ, dạy họ tin tưởng vào quyền năng Thiên Chúa bằng cách thi thố những phép lạ, dạy họ tín nhiệm vào sự quan phòng của Thiên Chúa bằng cách ban manna, chim cút và nước vọt ra từ tảng đá. Sự hiện diện của Thiên Chúa giữa dân Người trong sa mạc là một sự hiện diện đầy yêu thương. Môsê vị lãnh đạo là khuôn mặt nổi bật nhất suốt chặng đường gian truân này.

Môsê, người của Thiên Chúa luôn sống liên đới với dân.

Môsê nhà lãnh đạo đã dành cả đời lo cho dân. Ông đã trải qua biết bao đau khổ, sợ hãi và lo lắng để chăm sóc cho dân. Nhưng dân lại trách móc, than phiền và mắng nhiếc ông. Dân đối xử tệ bạc với Môsê. Họ xem ông như chính là thủ phạm gây ra những đau khổ và bất hạnh cho họ và gia đình họ vậy. Thật bất công!  

Vậy mà cả đời Môsê vẫn một mực yêu thương liên đới với dân, sống chết với dân trong lời táo bạo với Chúa mà thấm đượm lòng thương dân:“Tôi không muốn một mình sống hạnh phúc bên cạnh Chúa, nếu ở đó tôi không có Dân của tôi!”.

Từ ngày được Thiên Chúa gọi để lãnh đạo Dân Chúa (Xh 3,10), Môsê dần dần thấu hiểu và thâm tín rằng: vị tư tế ở giữa dân Chúa không những phải sống hoàn toàn liên đới với Thiên Chúa, mà còn phải hoàn toàn liên đới với dân Chúa.

Môsê luôn là người tôi tớ trung thành của Thiên Chúa và là vị lãnh đạo quảng đại, đầy lòng xót thương, liên đới với dân cho dù dân ‘cứng cổ’, tội lỗi, bất trung.

Môsê, người của Thiên Chúa

Là tư tế, Môsê tường trình mọi việc của dân chúng ‘lên Thiên Chúa’ (Xh 18,19). Ông đàm đạo và nhận chỉ thị của Thiên Chúa trong Trướng tao phùng (Xh 33,9); ông thể hiện vai trò trung gian của vị tư tế, môi giới giữa Thiên Chúa và dân, nối kết hai bên bằng máu giao ước (Xh 24,6-8); ông còn chọn Aharôn và con cái Aharôn để sung vào chức tư tế (Xh 28,1), cũng như thay mặt Thiên Chúa để tác thánh họ (Xh 29,1-46). Chính việc tiếp xúc thường xuyên với ‘lãnh vực thánh’ đã dần dần khiến ông đi sâu về phía Thiên Chúa, đến độ Kinh Thánh đã không ngần ngại gọi ông là ‘người của Thiên Chúa’ (Tl 33,1; Yôs 14,6).

Môsê có những lúc tiếp xúc tiếp xúc thân mật với Thiên Chúa, được chan hoà sự hiện diện của Người, mặt ông đã rạng sáng lên, dọi chiếu lại vinh quang của Thiên Chúa, vinh quang mà không một người phàm nào có thể nhìn thẳng được: “Aharon và toàn thể con cái Israel trông thấy Môsê và này da mặt ông chói lọi và họ sợ không dám tiến lại với ông” (Xh 34,30). Khi ông vào Trướng tao phùng đàm đạo với Thiên Chúa, toàn dân phủ phục (Xh 33,7-11). Ở đó, Thiên Chúa nói chuyện với ông như nói chuyện với một người bạn thân ‘diện đối diện’ (Xh 33,11). Ông thật sự trở nên con người mà Thiên Chúa ‘biết’ đích danh và không ngần ngại đồng hành với ông (Xh 33,12-17). Môsê táo bạo thỉnh cầu được nhìn thấy dung nhan Thiên Chúa (Xh 33,18-23).Thiên Chúa đã nhượng bộ cho ông nhìn thấy Người… Nhưng từ phía sau lưng: “… Ta sẽ cất bàn tay Ta đi và Ngươi sẽ nhìn thấy phía sau Ta, nhưng Nhan Ta, người ta sẽ không nhìn thấy được” (Xh 33,23).

Môsê, người liên đới với dân Chúa

Môsê được sống bên cạnh, thân mật với Thiên Chúa, và tâm trí ông luôn hướng về dân Chúa: “Nếu quả tôi được nghĩa với Người, xin Chúa tôi khấng đi làm một với chúng tôi, vì đó là một dân cứng cổ và Người sẽ tha thứ tội lỗi chúng tôi và cho chúng tôi làm cơ nghiệp của Người” (Xh 34,9).Từ ngữ ‘chúng tôi’ ở đây thật cảm động! Môsê đã không đặt mình trên dân, cũng không ở ngoài dân; nhưng hoàn toàn liên đới đến đồng hoá với dân, ngay cả nhận lãnh trách nhiệm về tội lỗi của dân. 

Môsê bị phạt vì chính tội của dân, vì ông muốn liên đới với tội của dân: “Giavê đã phẫn nộ với cả ta nữa vì cớ các ngươi, mà rằng: cả ngươi nữa, ngươi cũng sẽ không vào!” (Tl 1,37). Hình phạt này đối với Môsê thật nặng nề và đau khổ. Môsê đã phải nằm xuống trên núi Nêbô, tại vùng đất Môab. Môsê chia sẻ hoàn toàn số phận của dân và dường như ông còn muốn ôm vào lòng cả thế hệ xuất Ai cập, thế hệ mà ông đã lãnh đạo, đã cầm tay đưa đến gặp gỡ Thiên Chúa tại Sinai, đã yêu thương cũng như đã chịu đựng… Thế hệ đó đã nằm xuống trong sa mạc. Môsê vì thế cũng ‘không muốn’ vào Hứa Địa một mình khi vắng bóng dân! 

Môsê đã đau khổ cùng dân và cho dân! Môsê đã chết với dân và cho dân! Khuôn mặt và đời sống của Môsê đã in đậm nét trong lịch sử dân Chúa.

Môsê luôn luôn bênh đỡ, cầu bầu cho dân trước mặt Thiên Chúa: “Phải! Dân này đã phạm một tội rất lớn… Nhưng bây giờ, ước gì Người miễn chấp tội chúng; bằng không, xin Người hãy xoá tôi đi khỏi sách Người đã viết…” (Xh 32,30-32).

Lòng yêu thương, tình liên đới, thái độ bầu chữa, bênh vực dân của Môsê xuyên suốt trong quá trình ông lãnh đạo dân. Môsê gắn bó cả cuộc đời và mạng sống mình với dân tộc Israel. 

Môsê là hình bóng của Đức Giêsu Kitô.

Môsê là vị cứu tinh, là vị trung gian giữa Thiên Chúa và dân. Môsê là ngôn sứ nói với dân về Đấng Cứu Độ một lời danh tiếng được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Đó là: Đức Chúa sẽ cho xuất hiện “một ngôn sứ như tôi, anh em hãy nghe lời vị ấy” (Tl 18,15). Sau này, Têphanô vị tử đạo đầu tiên đã nhắc lại lời tiên tri đó (Cv 7,37); thánh Phêrô đã thấy thực hiện nơi Đức Kitô (Cv 3,22). Chính Môsê đã làm chứng về "Vị Tiên Tri" đó (Lc 24,27; Ga 5,46).

Là trung gian làm nhịp cầu giao ước giữa Thiên Chúa và dân Israel, Môsê tiên báo Đức Kitô, Đấng trung gian cho một Giao Ước mới hoàn hảo hơn. Dọc dài lịch sử cứu độ, Thiên Chúa đã thiết lập hai giao ước chính thức. Giao ước thứ nhất với Môsê trên núi Sinai. Giao ước thứ hai với Đức Kitô trên núi bát phúc và được bảo chứng trên Núi Sọ. Đây là Giao Ước Mới và là Giao Ước Vĩnh Cửu.

Đức Kitô, là Môsê mới đã hoàn thành tất cả những điều đã được ghi chép trong Lề Luật: "Những lời này, Ta đã nói cùng các ngươi, khi Ta còn ở với các ngươi, là phải nên trọn mọi điều đã viết về Ta trong luật của Môsê và các tiên tri cùng Thánh Vịnh" (Lc 24,44).

Môsê đã đưa dân Israel nô lệ ở Ai cập, xuyên qua sa mạc về Đất Hứa. Đó là hình bóng và là tiên báo Chúa Cứu Thế, Đấng là Đường, là Ánh Sáng đưa Israel mới đi qua cuộc đời trần thế mà tiến về Đất Hứa, là thành Giêrusalem trên trời.

Đức Kitô là Môsê mới của Dân Chúa. Tác giả thư Do thái quả quyết: “Trong mọi sự, Ngài đã nên giống các anh em Ngài, để trở thành vị Thượng tế lo việc Thiên Chúa, vừa biết xót thương, vừa trung tín, cốt để lo tạ tội cho dân” (Dt 2,17). Chính Người đã đón nhận lời mời gọi của Thiên Chúa để trở nên Vị Thượng Tế tuyệt đối trung tín với Thiên Chúa, đứng về phía Thiên Chúa (Dt 5,5-6), đồng thời Người cũng đã thể hiện một cách trọn vẹn sự liên đới với mọi người, đầy lòng xót thương đối với mọi người (Dt 5,9) qua hành động tự nguyện dâng hiến con người của mình làm lễ tế để kéo tình thương tha thứ của Thiên Chúa cho dân Chúa (Dt 5,8). Để đền tội cho dân và đem ơn cứu độ đến cho mọi người, Đức Giêsu Nazaret đã dùng chính máu mình để thiết lập Giao Ước Mới, một lần nữa nối kết Thiên Chúa với con người (Mc 14,24; Mt 26,28; Lc 22,20; 1C 11,25; cf Xh 24,8) và dùng cái chết tự nguyện đau thương trên thập giá, bị liệt vào hàng tội nhân (Mc 15,22-37; Mt 27,39-50; Lc 23,33-46; Ga 19,17-30; Rm 8,3; cf Tl 34,5-6) để đáp lại lời thách đố của Môsê? Từ đó, qua Đức Giêsu Kitô Cứu Thế, chắc hẳn Môsê sẽ được chứng kiến và nghe lại lời này: “Tôi muốn sống hạnh phúc bên cạnh Đức Chúa, và ở đó có cả dân của tôi nữa!” (x.Môsê, vị lãnh đạo của Dân Chúa: trung tín và liên đới, ĐGM Giuse Võ Đức Minh, WHĐ).

Môsê là một tấm gương lãnh đạo vì dân, mẫu gương người lãnh đạo là tôi tớ của dân. Ông được Thiên Chúa tuyển chọn ngay từ lúc còn rất nhỏ. Sau này, ông xác tín, lãnh trách nhiệm dẫn dắt Dân Chúa ra khỏi Ai Cập, vào miền Ðất Hứa. Cuộc đời của ông là gương mẫu cho những nhà lãnh đạo chân chính, thiện chí, phục vụ vì Dân vì Nước. Ông tu thân và thường xuyên gặp gỡ, đàm đạo với Thiên Chúa. Ông trình bày với Ngài về tình trạng của dân và xin ơn tha thứ. Rồi ông đón nhận Thánh Ý Ngài, cụ thể là Mười Giới răn, ghi khắc vào bia đá, truyền đạt lại cho dân. Dân chỉ tin người lãnh đạo, khi người lãnh đạo gặp Thiên Chúa và truyền đạt cho họ ý của Ngài.

Chúa Giêsu, người lãnh đạo đem lại cho dân sự sống đời đời.

Sau phép lạ bánh hoá nhiều, Chúa Giêsu biết dân chúng đi tìm mình chỉ vì đã được ăn bánh no nê. Có lẽ họ hy vọng sẽ được những bữa ăn tương tự. Chúa Giêsu muốn họ tìm đến lương thực thường tồn: “Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực trường tồn đem lại hạnh phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận". Bánh của Thiên Chúa chính là Đấng từ trời xuống và ban cho loài người, không chỉ sự no đủ về phương diện thể lý mà còn là sự sống đời đời: "Chính tôi là Bánh Hằng Sống. Ai đến với Tôi, không hề phải đói; Ai tin vào Tôi, chẳng khát bao giờ”. Chúa Giêsu là Bánh Bởi Trời, là lương thực chân thật cho những kẻ đói khát. Lời, sứ vụ và cuộc sống của Chúa Giêsu đều là bánh nuôi dưỡng linh hồn nhân loại đang đói khát thiêng liêng. Chúa Giêsu là sự khôn ngoan của Thiên Chúa và là Bánh Hằng Sống. Chúa Giêsu chính là Môsê mới cung cấp bánh ăn và giáo huấn khôn ngoan cho nhân loại. Chỉ có Chúa Giêsu mới làm thỏa mãn cơn đói đời đời.

Chúa Giêsu dạy cho các môn đệ con đường trở nên lớn lao thật sự. Đó là con đường phục vụ. Con đường phục vụ thay thế cho tham vọng thống trị. Giúp đỡ tha nhân thay cho tham vọng bắt người khác phục vụ chính mình. Chức quyền là để phục vụ lợi ích của mọi người. Địa vị chỉ là sự phân công hợp lý. Mỗi người một việc vì lợi ích của tập thể. Người lớn nhất, người đứng đầu là người phục vụ hết mình. Chức tước, chức vụ, chức vị, chức quyền chỉ là phương tiện để phục vụ. Ai sống tinh thần phục vụ đó là người lớn nhất. Ai không biết phục vụ thì là người nhỏ nhất. Giá trị của một con người không do địa vị chức tước mà tuỳ vào khả năng phục vụ và mức độ hữu ích của người đó. Chúa Giêsu mở ra một nền văn minh mới. Người lớn nhất không dùng quyền để lãnh đạo, nhưng dùng khả năng để phục vụ. Người lớn nhất không dùng sức mạnh để chỉ huy, nhưng dùng trái tim để yêu thương. mục lục

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

BÁNH ĐÍCH THỰC, BÁNH BAN SỰ SỐNG

Chuyện xảy ra tại thành phố Lanciano, nước Ý. Khoảng năm 750, một linh mục dòng thánh Basilio cử hành thánh lễ tại nhà thờ GX Saint Legonzano. Đang khi dâng lễ, cha cứ thắc mắc và hoài nghi về sự hiện diện thực sự của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể. Thế nên, lúc đọc lời truyền phép bánh và rượu, một sự lạ liền xảy ra ngay trong tay vị linh mục ấy: bánh trở nên miếng thịt sống và rượu trở nên máu tươi, rồi đông đặc lại thành 5 cục to nhỏ.  

Cho đến hôm nay, phép lạ ấy đã trải qua trên 1300 năm: đầu tháng 11/2015, khi có dịp đi tour cùng nhóm 68 giáo dân Hành Trình Đức Tin đến tham quan nhà thờ này, tôi thấy rõ miếng bánh đã biến thành thịt này có màu hơi nâu được đặt trong mặt nhật quý giá. Riêng năm cục máu thì có màu vàng nghệ được đặt trong một chén thánh bằng kính, trưng bày trên nơi trang trọng của nhà thờ Lanciano.

Một chuyện lạ khác cũng xảy ra khoảng năm trăm năm sau đó: năm 1263, một linh mục đi từ Prague, Tiệp Khắc hành hương tới Roma để xin Thiên Chúa gia tăng đức tin cho ngài đang lung lay về ơn gọi. Trên đường đi, cha ghé ngang một thị xã cách Roma 70 miles về phía Bắc. Ở đó, khi dâng lễ đến phần truyền phép, cha nâng cao bánh lễ lên, tấm bánh tự nhiên trở nên Thịt và bắt đầu chảy máu. Những giọt máu ấy chảy xuống trên tấm khăn thánh nhỏ màu trắng trên bàn thờ.

Liên tiếp trong nhiều trường hợp khác nữa, phép lạ Mình Máu Thánh vẫn không ngớt xảy ra tại nhiều nơi khác nhau. Thiên Chúa muốn tỏ hiện cho ta thấy: Đức Giêsu Kitô chính là Bánh Thánh Thể, bánh trường sinh, bánh nuôi dưỡng chúng ta khi chúng ta ăn Thịt của Người trong bí tích Thánh Thể. 

* Khi ăn bánh thông thường, chúng ta tiêu hóa và đồng hóa bánh, còn khi chúng ta ăn bánh trường sinh (là Mình Thánh Chúa Kitô) thì chính bánh này đồng hóa chúng ta. 

* Nơi Bánh Thánh Thể, Chúa Kitô biến đổi chúng ta, ban cho chúng ta sự sống của Người và kết hợp chúng ta vào đời sống của Người. “Kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống” (Ga 6:57).

Quả thật: Đức Giêsu Kitô là tấm bánh được bẻ ra cho muôn người. Ai đến với Chúa sẽ không hề đói & ai tin vào Chúa, chẳng khát bao giờ (Ga 6:35). Bánh Thánh Thể là lương thực nuôi linh hồn chúng ta, lương thực thần linh, thần lương cứu độ. Bánh ấy là bánh đích thực, bánh đem sự sống cho thế gian.

Ta cùng suy niệm:           

1. Tấm bánh duy trì sự sống.                                           

2. Tấm bánh thánh ban sức sống lạ thường.

3. Tin kính, tôn thờ, say mê Bánh Thánh Thể Chúa.

A. Tấm bánh duy trì sự sống.

Tháng 12/1987, một trận động đất kinh khủng đã xảy ra tại xứ Armênia. Trong số hàng ngàn nạn nhân bị vùi lấp dưới đống gạch, người ta tìm ra được hai mẹ con bà Susanna may mắn còn sống sót. Giữa đống gạch ngổn ngang, con gái bà bổng khát nước. Tìm đâu ra nước khi hai mẹ con không có lối ra, tình mẫu tử thôi thúc bà rạch ngón tay mình chảy máu để cho con mút. “Lúc ấy tôi biết thế nào tôi sẽ phải chết nhưng tôi muốn con tôi được sống”, người mẹ tâm sự sau đó. Cuối cùng, đứa bé đỡ khát nhờ máu người mẹ và nó đã sống cho đến khi cả hai mẹ con được cấp cứu.

* Giọt Máu người mẹ, chính là tấm bánh duy trì sự sống cho em bé được kéo dài theo thời gian.

Tìm trong Kinh Thánh, ta cũng thấy khá nhiều lần con người đã vui sống nhờ được tiếp tế Bánh.

1. Trời nóng nực, Abraham ngồi ngoài cửa lều tại cụm sồi Mam-rê. Bất chợt ba người của Chúa đến ghé thăm, ông vội vã cùng bà Sara lấy ba thúng tinh bột mà nhồi làm bánh (St 18:6) giúp các khách quý được no lòng chắc dạ, trước khi tiếp tục đi xa.

2. Đi lang thang trong sa mạc lâu ngày, dân Israel kêu than đói lả: Thiên Chúa đã cho mưa manna bánh từ trời xuống, giúp dân có khẩu phần ăn mỗi ngày duy trì sự sống nơi hoang địa (Xh 16).

3. Trên đường lẩn trốn hoàng hậu I-de-ven truy bắt, tiên tri Êlia chạy vất vả đến nơi cây kim tước. Một thiên sứ mang bánh và nước đến giúp ông (I V 19:5-7) được ăn no, đi đến núi Khô-rép.

4. Giữa thời hạn hán suối cạn khô, bà góa và con trai bà vùng Sarepta gặp cơn đói lả. Nhờ chia sẻ lương thực cho tiên tri Êlia, hũ bột nhà bà không vơi và vò dầu gia đình cũng không cạn: bà may mắn có dư dả nhiên vật liệu để tiếp tục làm bánh ăn (I V 17:7-16) kéo dài sự sống.  

5. Nhà Vua chiêu đãi tiệc cưới cho hoàng tử: cỗ bàn thật to, bò tơ và thú béo đã hạ rồi (Mt 22:4), đủ lương thực tươi tốt cho thực khách dùng dư dả, lan tỏa niềm vui lai rai. 6. Dân chúng đi nghe Chúa giảng, quên chuẩn bị dự trữ lương thực đi đường. Chạnh lòng thương xót, Chúa cho 5 bánh và 2 cá hóa ra nhiều (Ga 6:1-15) giúp họ ăn no nê sống dồi dào.

Ta còn nhớ câu chuyện Mẹ Têrêsa Calcutta mang 10 kg gạo cứu trợ cho một gia đình đang túng thiếu. Nhận được lương thực cứu tế ấy, bà chủ nhà vội vào nhà san sẻ 5 kg gạo mang sang gia đình bên cạnh cũng đang túng thiếu như gia đình bà. Trong khốn khổ, họ đã biết nhớ đến nhau, giúp nhau phần lương thực cứu đói để duy trì sự sống qua ngày.

Tấm bánh thánh ban sức sống lạ thường.

Tại một nhà thờ ở Torino (Ý Đại Lợi) người ta thấy có người đàn ông sáng nào cũng sốt sắng đi dự lễ. Ông là một công nhân thợ dệt, luôn giữ thói quen đi dâng lễ và rước lễ mỗi ngày trước khi đến sở làm. Được biết xưa kia, ông là người ưa say xỉn lai rai, tật xấu ấy khiến ông bị tàn tạ sức khỏe, tiêu tan tài sản, gia đình tan tác. Ông nghe lời cha xứ răn bảo “muốn từ bỏ được tính xấu ấy, phải năng đi rước Chúa”. Về nhà, ông đã thực hành lời dạy khôn ngoan ấy và giờ đây, ông đã thấy mình khác hẳn.  

* Bánh Thánh Thể, bánh ban sự sống linh hồn, đã cải hóa cuộc sống đời thường ông công nhân.  

Với niềm tin Công Giáo, kitô hữu tin thật Đức Giêsu Kitô có hiện diện thực sự trong Bánh Thánh Thể. Và chính Chúa đã thực hiện nhiều việc lạ cả thể giúp gia tăng và củng cố đức tin cho người đón nhận Mình Thánh Chúa. Đời sống họ bổng lạ thường khi có Thánh Thể Chúa ngự vào tâm hồn thanh sạch.  

  • Năm 1868, Louis Lateau, một cô gái người Bỉ yếu ớt, được Chúa ban phúc in Năm Dấu Thánh trên người. Suốt bảy năm trường sau đó, cô không ăn uống gì thêm ngoài việc lãnh nhận Mình Thánh Chúa mỗi ngày. => Cô sống lâu dài nhờ ăn Bánh Thánh Thể.

  • Khoảng thế kỷ XIII, bọn lính hung dữ đến tấn công thành phố Assisi, đe dọa mạng sống các nữ tu dòng kín Clara. Nhiều chị em hoảng sợ, dọn mình rước Thánh Thể, phó thác mọi sự trong Chúa. Lúc ấy, dù đang ốm nặng, Chị Thánh Clara quỳ trước cổng đan viện, tay nâng cao Mặt Nhật MTC, khấn nguyện “Lạy Chúa! Xin hãy giữ gìn các nữ tu mà con không thể nào bảo vệ nổi”. Bổng dưng sau đó, họ như nghe có tiếng trả lời: “Ta sẽ luôn gìn giữ họ”. =>Quân lính đi đến nơi, thấy hiện tượng ấy, tự nhiên chúng vô cùng sợ hãi, bỏ chạy tán loạn.

  • Cô Floripes de Jesus, quen gọi là Lola sinh năm 1913 tại Brazil. Năm 16 tuổi, bất ngờ chị bị té từ cây cao xuống, khiến Lola liệt nửa người. Từ hôm đó trở đi, toàn thân cô bổng nhiên thay đổi không cảm thấy đói, khát hay buồn ngủ nữa. Mỗi ngày Lola tự nuôi bản thân mình chỉ với một Bánh Thánh. Cô sống nhờ Thánh Thể Chúa suốt nhiều năm cho đến tháng 4/1999 mới qua đời.

  • Chị Marthe Robin người Pháp chào đời năm 1902. Vừa được 2 tuổi chị đau yếu liên miên cho đến năm 28 tuổi bị tê liệt toàn thân phải nằm liệt giường. Không thể ăn được gì, các bác sĩ cố gắng ép chị uống nước nhưng nước lại trào ra trên mũi. Cuối cùng, chỉ còn một lương thực duy nhất mà chị có thể tiếp nhận được là Thánh Thể Chúa từ năm 1930. Chúa Giêsu đã hiện ra với chị và sau đó chị nhận được Năm Dấu Thánh trên người. Thánh Thể Chúa là của ăn nuôi sống chị cho đến khi chị qua đời năm 1981, việc ấy kéo dài 51 năm.

Rõ ràng các chứng nhân kể trên được vinh phúc sống an hòa lâu dài tháng ngày nhờ Thánh Thể Chúa, bánh ban sự sống. Kinh nghiệm về bí tích Thánh Thể giúp họ cam chịu hy sinh với bệnh tật, sẵn lòng “dâng những đau khổ trong sự kết hiệp mật thiết với Chúa bằng lời cầu nguyện và lòng mến”. Càng đắm chìm trong suy niệm về cuộc Khổ Nạn của Chúa, họ càng mong “tận hiến trọn vẹn cuộc đời mình cho Chúa”. Quả thật, Chúa chính là niềm vui, là lẽ sống, là hạnh phúc tột cùng trong cuộc đời họ.

C. Tin kính, tôn thờ, say mê Bánh Thánh Thể Chúa.   

Jacques Loew là người phu khuân vác ở bến tàu Thụy Sĩ. Thấy nhiều người Công Giáo trong đó có cả những bậc vị vọng: bác sĩ, kỹ sư, nhà khoa học.. tin “một Thiên Chúa” ở trong tấm bánh nhỏ, anh nảy ý định thử tìm hiểu xem điều mà họ tin có thật chăng? Anh tìm đến một đan viện, cùng nói rõ mục đích  của mình với Cha Tu Viện Trưởng. Ngài đồng ý cho phép anh được vào quan sát những người đang dự thánh lễ trong nhà nguyện. Họ đứng, quỳ nghiêm trang, đi lên đi xuống nhận Mình Thánh  cách sốt sắng. Anh liền vào gặp Cha Bề Trên nêu thắc mắc về phép Thánh Thể. Anh thấy có nhiều anh chị em trước đó gặp ở ngoài đường thì dửng dưng như người xa lạ, nhưng trên bàn tiệc thánh, họ lại gần gũi với nhau như “con cái chung một Cha trên trời”. Jacques Loew đã “nhận ra Chúa lúc bẻ bánh” và quyết tâm đi tu làm linh mục. Sau đó, Cha hoạt động rất tốt trong phong trào linh mục thợ ở Âu Châu.

* Sự tìm hiểu chân thành đã thúc đẩy một đảng viên của đảng Lao Động Thụy Sĩ tin vào Bí tích Thánh Thể, khiến anh say mê lý tưởng LM “tiếp nối công cuộc cứu độ của Chúa ở trần gian”.

Niềm tin “có Chúa Giêsu ngự trong Phép Mình Thánh” thôi thúc đông đảo kitô hữu khắp nơi thể hiện lòng Tin Kính, Tôn Thờ, Say Mê Bánh Thánh Thể Chúa cách miên trường.

  • Carlo Acutis, một thiếu niên Italy, tin kính tôn sùng Chúa Giêsu Thánh Thể rất đặc biệt. Được rước lễ lần đầu xong, cậu không bỏ lễ ngày nào, lần hạt Mân Côi và chầu Thánh Thể sốt sắng. Có biệt tài về điện toán, Carlo gầy dựng một trang web sưu tầm tất cả phép lạ Thánh Thể khắp thế giới. Cậu cho biết, thật hạnh phúc vì đã cố gắng sống không làm mất lòng Chúa, không phí phạm thời gian trong ngày và luôn tìm cách kết hợp với Chúa. Giáo Hội đã phong Chân Phước.

  • Giuliano Eymard là một cậu bé có lòng say mê Thánh Thể từ thuở nhỏ. Lúc 5 tuổi, người chị đi tìm em khắp nơi thì nhìn thấy bé đang ở trong nhà thờ, đứng trên cầu thang sau bàn thờ, ghé tai sát vào Nhà Chầu, mong được nghe Chúa nói rõ hơn. Ngày Rước lễ lần đầu, Eymard đã xin ơn trở thành linh mục. Làm cha xứ, ngài thường tổ chức các cuộc rước kiệu Thánh Thể long trọng. Năm 1856, Cha lập dòng Thánh Thể, dâng hiến cả cuộc đời để tôn thờ Chúa Giêsu Thánh Thể.

  • Một biến cố xảy ra ngày Chúa Nhật 27/6/2021 vừa qua, tại thành phố Beloit, bang Wisconsin. Trên đường đi về nhà, một cô gái có lòng say mê Thánh Thể ghé ngang nhà thờ GX Thánh Gioan Tẩy Giả để viếng Chúa. Bất ngờ cô nhìn thấy khói do ai đó mới đốt cháy, liền chạy ra khỏi nhà thờ, tri hô to cho người khác đến tiếp cứu. Những cư dân lân cận vội mang nhiều bình chữa cháy đến dập tắt ngọn lửa trước khi sở cứu hỏa đến. Tạ ơn Chúa, nhà thờ bị thiệt hại nhẹ.

Lời Chúa hôm nay: “Hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát nhưng để có của ăn thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông” (Ga 6:27). Lương thực Chúa muốn nói ở đây là gì? Xin thưa: chính là Thánh Thể Chúa, Đức Giêsu Kitô trở thành Bánh nuôi sống các tín hữu, khi họ có lòng tin vào Ngài.

Vì vậy, khi đến viếng Thánh Thể Chúa nơi nhà Chầu trong các thánh đường Công Giáo, ta hãy: 

* Tin kính thực sự: “Đức Giêsu, Con Thiên Chúa đang ngự thật trong hình Bánh nơi Nhà Chầu”. 

* Tôn thờ cung kính: cúi mình thờ lạy, tâm sự với Chúa, lặng lẽ lắng nghe, nâng cao lòng mến… 

* Say mê sốt sắng: chiêm ngắm và phó thác, khát khao rước Chúa thiêng liêng, xin Chúa ở cùng.

  • Lời Nguyện kết thúc.

Lạy Chúa là Đấng toàn năng và nhân ái! Xưa trong hoang địa, Chúa đã ban cho dân Do Thái một thức ăn rơi từ trời xuống, đó là bánh manna. Nay trên dương thế, Chúa cũng ban cho nhân loại một quà tặng từ trời xuống là Đức Giêsu Kitô.  Chính Ngài là Bánh Thánh Thể, bánh trường sinh, bánh đem lại cho chúng con sự sống đời đời.  Xin giúp mỗi kitô hữu chúng con luôn nâng cao lòng tin để Tin Nhận và Tôn Thờ Chúa mỗi ngày. AMEN. mục lục

Lm. Dominic Dieu Tran, SDD.

CHÚA LÀ CỦA ĂN NUÔI SỐNG CHÚNG TA

Kính thưa anh chị em,

Có câu nói rằng: “Thiên Chúa chỉ cần một ngày để đưa dân Do Thái ra khỏi Ai Cập; nhưng Ngài lại dùng đến bốn mươi năm để đưa sinh hoạt, văn hoá, và lối sống của người Ai Cập ra khỏi người Do Thái.” Ý nghĩa của câu nói trên là đoạn đường về đất hứa tuy ngắn, nhưng Thiên Chúa cần bốn mươi năm để thanh luyện và giáo dục họ thoát khỏi các tập tục, lề thói mà họ đã bị nhiễm bên Ai Cập mà trở về với đặc tính dân riêng của Thiên Chúa và nhận ra sự chăm sóc của Ngài. Chúng ta cũng thế, Thiên Chúa luôn kiên nhẫn chờ đợi và hiện diện với chúng ta trong mọi tình huống của cuộc sống để giáo dục và giúp chúng ta nhận ra Chúa là Tình Yêu, là của ăn nuôi sống con người.

Hôm nay trong bài đọc thứ nhất, chúng ta nhận ra tính hờn dỗi và hay kêu trách của dân Do Thái. Cái gì cũng muốn. Họ chỉ muốn Thiên Chúa làm theo ý của họ. Khi còn bị làm nô dịch bên Ai Cập thì cầu xin Thiên Chúa giải thoát họ, đến khi đối diện với cơn đói khát trong sa mạc thì lại kêu trách, chẳng thà chết no bên nồi thịt tại xứ Ai Cập còn hơn là chết đói ở nơi hoang vu này.

Tâm tình đó dường như cũng xuất hiện trong bài Tin Mừng hôm nay. Sau khi được chứng kiến dấu lạ Chúa làm và bụng được no nê, đám đông bèn đi tìm Người. Khi tìm thấy Người và nghe qua cuộc đối thoại giữa Đức Giê-su và họ, chúng ta mới thấy rõ lý do thầm kín bên trong cuộc săn tìm này. Họ tìm Chúa không phải để ca tụng vinh quang và quyền năng của Thiên Chúa qua việc Người vừa làm. Họ tìm Người vì nhu cầu được thỏa mãn, vì bụng được no nê. Họ chỉ dán mắt vào của ăn vật chất cần cho thân xác, cho nên đã không nhận ra tình yêu của Thiên Chúa qua dấu lạ Bánh hóa nhiều mà chúng ta mới nghe tuần trước. Thiên Chúa đã ban bánh cho họ để nuôi dưỡng thân xác thể lý của họ, nhưng nhu cầu của thân xác không phải là tất cả những gì họ và chúng ta cần quan tâm; còn một điều cao quí hơn, đó chính là tình thương của Thiên Chúa dành cho chúng ta qua từng biến cố của cuộc sống.

Phần Đức Giê-su, tuy Người đã chạnh lòng, tâm hồn Người rối bời trước cảnh tất bật, lang thang trong cuộc tìm kiếm người chăn chiên của đám đông. Nhưng, không vì thế mà Người chiều theo các yêu cầu vật chất của họ. Người có thể làm thêm vài phép lạ ‘bánh hoá nhiều’ khiến họ khỏi đói. Rồi sau này họ sẽ ra sao! Bánh ăn rồi sẽ phải đói. Nuôi ăn một vài bữa chứ ai nuôi cả đời. Vì thế, Đức Giê-su muốn dậy họ nhớ rằng thay vì tìm bánh nuôi ăn tạm thời thì hãy nỗ lực tìm bánh hằng sống, đó chính là Đức Giê-su. Người đến để thực hiện ý định của Cha Người. Ý của Cha Người là qua Đức Giê-su, Thiên Chúa muốn họ tìm những gì sâu xa và trường tồn hơn. Người nói: “Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến.”

Thưa anh chị em,

Như thế, điều duy nhất mà Đức Giê-su muốn là chúng ta hãy tin vào Người. Tin ở đây không chỉ tóm gọn như một nhân đức hay là chấp nhận một số tín điều nào đó trong Hội Thánh. Nhưng niềm tin cần được thể hiện bằng công việc mà Thiên Chúa muốn chúng ta làm.

Tin Đức Giê-su là Đấng nuôi sống chúng ta. Tin vào Lời Người phán hôm nay rằng ‘ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!’ Vì chính Người là Bánh trường sinh, là nguồn sống cho chúng ta đến với nhau. Muốn đến với nhau thì chúng ta cần đến với Chúa truớc. Đến với Chúa là một hành động của niềm tin. Tin rằng Chúa ở trong ta. Tin rằng việc siêng năng đón nhận ‘Mình Thánh Chúa’ không làm cho mình thánh thiện hơn, mà là trở nên giống Chúa, nên một với Chúa. Nên một với Chúa không phải để cho mình trọn hảo, nhưng đó là nguồn động lực thúc đẩy chúng ta đến với nhau như là anh chị em một nhà, cùng chia sẻ một niềm tin, cùng đến và trao cho nhau một lòng mến. Có như thế, chúng ta mới đủ can đảm và dũng mạnh chia sẻ cuộc đời mình cho nhau.

Nhưng, nhìn vào thực tế và với lòng can đảm chúng ta phải nhận định rằng đã có bao nhiêu người sống đúng lời mời gọi của Chúa hôm nay! Đến với Chúa qua việc siêng năng đón nhận ‘Mình Thánh Chúa’ thì nhiều, nhưng mấy ai trong chúng ta đã để cho ‘Bánh’ mà chúng ta lĩnh nhận biến đổi chúng ta giống Chúa Ki-tô, để trở thành của lễ hiến dâng cho Thiên Chúa và san sẻ cuộc đời cho nhau và cho thế giới; hay là chúng ta lại hành xử giống như người Do Thái, chỉ biết đến với Người nhằm thỏa mãn nhu cầu riêng của mình. Thậm chí, có một số người lập ra các bảng thông kê, những bó hoa thiêng ghi lại bao nhiêu lần họ đã rước lễ để báo cáo thành tích và cùng tôn vinh nhau. Như vậy, liệu chúng ta có khác người Do Thái cùng thời với Đức Giê-su hay không?

Tuy nhiên, không vì các hiện tượng tiêu cực đó mà chúng ta quên đi các giá trị cao siêu mà Mình Thánh Chúa đã đem lại cho chúng ta. Tôi vô cùng ngưỡng mộ và kính phục thái độ của một số người khi đón nhận Thánh Thể Chúa. Chúng ta không cần biết họ là ai? Quá khứ họ ra sao? Nhưng chỉ nhìn thái độ cung kính với lòng mến yêu khi đón nhận, chúng ta cũng nhận ra sức mạnh của Đức Ki-tô trong tấm bánh đã tác động và ảnh hưởng trong cuộc sống họ ra sao.

Đó là chưa kể đến một số trường hơp ngoại lệ mà tôi nghe đuợc trong các trại cải tạo. Cho dù vẫn biết rằng việc cử hành và đón nhận Thánh Thể Chúa sẽ đem lại thêm nhiều nguy hiểm cho anh chị em đang bị giam cầm tại các nơi đó. Nhưng nếu họ không nhận ra đó là nguồn sống đích thật thì mấy ai trong anh chị em có đủ can đảm để làm những việc liều lĩnh như thế. Tôi luôn dành cho họ lòng mến yêu và cảm phục.

Thật vậy, cùng với họ, chúng ta tin Đức Giê-su, Đấng không chỉ làm ra bánh nuôi chúng ta, nhưng chính Người là của ăn đích thật, không chỉ bẻ ra một lần mà từng giây từng phút đã trở thành mảnh vụn nuôi sống và hoà tan vào trong cuộc sống của những người môn đệ, những kẻ đặt trọn niềm tin và cuộc sống vào tay Người cho tha nhân.

Khi xưa, Đức Giê-su đã dùng cả cuộc đời để chỉ dâng một Thánh Lễ! Hôm nay, từng giây từng phút trong lòng Hội Thánh đang có hiến lễ được dâng. Vì vậy, anh chị em hãy tin rằng, trong từng hơi thở sống động của Hội Thánh, hoà chung với mọi diễn biến xẩy ra trong vũ trụ này, ngay cả sự bấp bênh mà chúng ta đang phải đối diện trong thời đại dịch, Đức Giệ-su đang dùng và biến chúng ta thành những miếng bánh, do chính Người bẻ ra, để nuôi sống nhau, đặc biệt cho những ai tin Người là Bánh trường sinh, là Đấng ban sự sống. Amen. mục lục

Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

XIN ĐỪNG “ĐÓNG ĐINH” 

Vào một đêm, Nã Phá Luân nói chuyện với một người bạn. Lúc đó trời đã khuya. Những ngôi sao trên bầu trời nhỏ như những cái chấm sáng. Nã Phá Luân vẫn còn tỉnh, nhưng bạn của anh thì đã buồn ngủ nhiều. Nã Phá Luân đưa tay chỉ lên trời: “Anh có thấy những ngôi sao không?”. Người bạn đáp: “Tôi chẳng thấy gì”. Nã Phá Luân nói: “Tôi thì thấy, đó là chỗ khác nhau giữa tôi và anh”. 

Cùng một ánh sao trên bầu trời, có người nhận ra, lại có người chẳng thấy gì. Nhưng không chỉ là một ánh sao, những vấn đề từ đơn giản nhất đến phức tạp nhất cũng sẽ có không biết bao nhiêu cách nghĩ, cách hành động, hoặc có khi người ta nhận ra nhiều ý kiến, nhiều bài học, còn tôi chẳng nhận thấy gì. 

Cũng vậy liên quan đến cuộc sống, đến vận mạng của đời người, liên quan đến tôn giáo, đến đức tin, đến những gì là chiều cao, hay sâu thẳm thuộc về thế giới của tâm hồn, không phải ai cũng có thể lãnh hội, hay lãnh hội cùng một cấp độ như nhau. 

Vì thế càng suy nghĩ, tôi càng nhận thấy lời của thánh Gioan Kim Khẩu dù đã xưa nhưng vẫn cứ mới: “Loài người vốn bị đóng đinh vào những việc thuộc về trần thế”. Dĩ nhiên “đónh đinh” ở đây không mang nghĩa đau khổ, nhưng chỉ muốn nói tới thái độ tự chôn mình sâu thẳm trong thế giới vật chất. 

Bị “đóng đinh” chặt vào trần thế, từ xưa, dân của Chúa, dẫu đã nhìn thấy rất nhiều dấu lạ do Thiên Chúa thực hiện để cứu họ, họ thừa biết Thiên Chúa quyền năng, không biết bao nhiêu lần đã dùng bàn tay mạnh, cánh tay hùng để gìn giữ, để che chở, thậm chí bênh vực họ, nhưng họ vẫn cứ là những kẻ hay quên. Quên đến mức phụ bạc cả tình thương của Chúa. Quên đến mức rất nhiều lần họ tỏ ra vong ân. 

Không những dân Chúa đã tự để mình đóng đinh vào trần thế, họ còn tự đóng đinh rất chặt vào đó. Quay trở về với cuộc vượt qua vĩ đại của người Do Thái, ta sẽ nhận thấy. 

Ngày ấy, Thiên Chúa nhìn thấy dân phải lầm than nô lệ Aicập, triền miên bị người Aicập xúc phạm và làm cho ô nhục. Hằng ngày không biết bao nhiêu hình khổ người Aicập giáng xuống trên họ. Vì thế, Thiên Chúa thấu nỗi đau của dân. Chúa sai ông Môisen đến cứu dân. Chính lòng yêu thương của Chúa đã giải phóng họ. 

Lễ vượt qua đầu tiên ấy đã đưa họ vượt qua tình trạng nô lệ bước vào đời sống tự do. Nhưng bất cứ điều gì cũng phải có giá của nó. Trước khi vào miền đất tự do, dân cần phải được tôi luyện lòng trung thành với Chúa của mình. 

Bởi đó, bốn mươi năm đằng đẳng trong sa mạc, đói, khát, thiếu thốn… đã làm cho họ không ít ngã lòng. Thay vì ghi sâu lòng biết ơn Đấng giải thoát mình, họ đã mất kiên nhẫn. Không biết bao nhiêu lần, họ phàn nàn, oán trách Chúa. 

Bài đọc I, trích sách Xuất Hành là một bằng chứng về điều này. Họ không ngừng kêu trách ông Môisen và ông Aaron (phụ tá của ông Môisen), là những người được Chúa cắt đặt lãnh đạo họ: “Thà chúng tôi chết trong đất Ai-cập do tay Chúa khi chúng tôi ngồi kề bên nồi thịt và ăn no nê. Tại sao các ông dẫn chúng tôi lên sa mạc này, để cả lũ phải chết đói như vậy?". 

Và còn nữa những lời trách móc tương tự như thế. Không chỉ là những lời trách móc động đến Môisen, nhưng còn động đến cả Thiên Chúa. 

Để cho mình đóng đinh vào trần thế, họ không thể nhìn thấy những thực tại thiêng liêng, cụ thể là lòng thương xót của Chúa. Dính bén quá nhiều với vật chất, con người chỉ thấy cái trước mặt, coi trọng hiện tại và quyên mất mọi giá trị siêu nhiên. 

Vẫn chưa hết. Tôi lại thấy trong bài Tin Mừng, thái độ đóng đinh rất chắc chắn của đám dân đi theo Chúa. 

Nếu Chúa nhật lần trước, thánh Gioan biết Chúa Giêsu làm một phép lạ cả thể nuôi sống một số lượng dân chúng rất đông (chỉ tính riêng đàn ông đã có khoảng 5.000 người), thì ngay sau đó, họ muốn tôn Chúa làm vua. 

Cứ tưởng, nhờ chứng kiến phép lạ, họ tin Chúa, muốn theo Chúa, muốn học nơi Chúa giáo lý mới, muốn mãi mãi thuộc về Chúa… nên đặt Chúa làm vua của lòng mình. 

Không phải thế! Bài Tin Mừng hôm nay là phần nối tiếp của bài Tin Mừng tuần trước, cho thấy sự cứng rắn của Chúa Giêsu: Người nói thẳng vào thái độ bất chính của họ: “Các ngươi tìm Ta không phải vì các ngươi đã thấy những dấu lạ, nhưng vì các ngươi đã được ăn bánh no nê. Các ngươi hãy ra công làm việc không phải vì của ăn hay hư  nát, nhưng vì của ăn tồn tại cho đến cuộc sống muôn đời…”. 

Đóng đinh chính mình một cách quá chặt vào thế giới vật chất, người ta đã biến mình thành nô lệ vật chất, nô lệ những gì tầm thường và dễ đi xa mọi giá trị thánh thiêng, đi xa những giá trị làm nên ý nghĩa của đời người. 

Để lòng đầy ham hố, người ta quên biết ơn Thiên Chúa, người ta cũng không đủ sáng suốt để thấy rằng, mọi điều xuất phát từ nơi Chúa Giêsu,  từ lời dạy đến phép lạ của Chúa đều dẫn đến chân trời của sự thánh thiện, của đức tin, của ơn cứu rỗi, nhất là của ơn hiệp thông hoàn hảo với Thiên Chúa, nên một với Con của Ngài là chính Chúa Giêsu. 

Và khi muốn đặt Thiên Chúa làm vua chỉ để no cái bụng, người ta đã tục hóa hình ảnh Thiên Chúa của mình, nếu không muốn nói thái độ ấy đã vô tình biến Thiên Chúa thành con rối để điều khiển Ngài theo nhu cầu của mình. 

Đó là bài học cho tôi và cho bạn. Bài học của sự chìm sâu trong trần thế, của thái độ đóng đinh chính mình trong cái nhìn thực dụng và đầy mưu toan tính toán… 

Bạn và tôi có đức tin và luôn biết mình là con Thiên Chúa. Nhưng chỉ mới biết thôi, chưa đủ. Điều quan trọng là làm sao đi từ nhận thức ấy, đưa ta đến một cái nhìn về phía bên trong để thoát khỏi não trạng thực dụng, nhờ đó không còn thái độ dính bén của vật chất, của tiện nghi, của ma lực trần thế… Nhưng là khám phá tình yêu của Chúa, khám phá những chiều kích thâm sâu làm nên ý nghĩa của đời người, làm nên chiều kích thánh thiêng của kiếp người trần thế. 

Nói thì dễ, nhưng để sống, đòi ta phải nỗ lực không chỉ rất lớn mà còn bền bỉ. Đối với Thiên Chúa, tự bản thân, để biết Ngài, để khám phá tình yêu của Ngài, khám phá những giá trị thánh thiêng mà Ngài ban cho ta, đã là một việc làm quá sức người, vậy mà bên cạnh những người thành tâm tìm về Đấng là cội nguồn của mình, có biết bao nhiêu người bịt mắt, bịt tai để khỏi nhận ra Ngài, thậm chí không những dứt khoát chối từ mà còn chủ trương và dạy người khác nhận cội nguồn của mình từ cái rất tầm thường: vật chất. 

Cũng giống như câu chuyện về Nã Phá Luân và người bạn của ông: Cùng một ánh sao, nhưng ông nhìn thấy, còn bạn ông thì không. Chỉ có ai thành tâm, chỉ có ai biết trút bỏ mọi kiêu căng, không để mình đóng đinh vào thế giới tục hoá này, người ấy mới có thể đến với chân trời vĩnh cửu là chính Thiên Chúa, Cha chúng ta.  

Lm. JB. NGUYỄN MINH HÙNG

NHU YẾU PHẨM

[Niệm ý Ga 6:24-35]

Ngày xưa chỉ có man-na
Bốn mươi năm chẳng có gì khác đâu
Có thêm chim cút về sau
Ăn cho đỡ ngán vì nhiều man-na
Loại nhu yếu phẩm lạ kỳ
Là đồ cần thiết, đồ vô cùng cần
Man-na đặc sản Chúa ban
Duy trì sự sống ngày đêm lữ hành
Man-na là bánh ân tình
Ăn đủ sống, cấm để dành hôm sau
Ngày nay đại dịch khổ đau
Phần ăn từ thiện được trao nhiều người
Chúa ban qua những người đời
Nuôi người nghèo khó khắp nơi, khắp miền
Phần lương thực để nuôi thân
Lương thần Thánh Thể nuôi hồn ngày đêm
Đó là thực phẩm rất cần
Để hồn có thể hưởng phần trường sinh
Chúa Giê-su – Đấng Cứu Tinh
Là nguồn lương thực thần linh muôn đời
Ngài ban sự sống tuyệt vời
Tin tưởng vào Ngài, chẳng đói khát đâu. mục lục
Viễn Dzu Tử
 

TIN CHÚA, ĐẾN VỚI CHÚA

Suy Lời Chúa hôm nay, sau phép lạ
Bánh hoá nhiều; cứu đói cả ngàn dân
Chúa dạy rằng: hỡi khách chốn gian trần
Hãy cố gắng chăm lo cho cuộc sống.
 
Sống phần xác: sống theo đời lao động
Sống phần hồn: sâu thẳm tự thâm tâm
Nhưng không là: cứ nuôi dưỡng âm thầm
Phải hoạt động theo ơn Chúa kêu gọi…
 
Tin vào Chúa, với tấm lòng phấn khởi
Đến với Ngài: không đói khát bao giờ
Ý lời này: mầu nhiệm việc tôn thờ
Phép Thánh Thể dưỡng nuôi dân thánh Chúa.
 
Người tín hữu, luôn nghe lời Chúa hứa,
Sống trần gian trông cậy sức thiêng liêng
Do quyền năng cao cả ban ơn riêng
Đời lữ khách mong về nơi Quê Thật. mục lục
(Thế Kiên Dominic)

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan