CÚI XUỐNG VÀ CHẠM ĐẾN

12-08-2021 178 lượt xem

(ƠN GỌI HIỆN DIỆN CỦA NGƯỜI TU SĨ TRONG ĐẠI DỊCH COVID)

Cuộc sống mỗi con người là tập hợp những mối quan hệ đa dạng, bởi vì “không ai là một hòn đảo” [1]. Người này luôn có mối liên hệ với người kia, dù không quen biết hoặc xa cách nhau hàng ngàn cây số. Hình ảnh phong phú và sâu xa nhất để nói lên mối liên hệ đó chính là hình ảnh của một thân thể. Mỗi cơ quan hay bộ phận dù có chức năng nhỏ đến đâu đi nữa thì đều liên hệ và gây ảnh hưởng toàn thân khi có một chấn động. Biến cố đại dịch covid toàn cầu cho ta cảm nghiệm cách sâu sắc về điều này. Thật thế, mỗi một con người ra đi bởi đại dịch đều khiến ta cảm thấy mất mát và đau lòng. Thật thấm thía biết bao khi ngẫm lại những lời thơ của John Donne:

Mỗi cái chết đều khiến tôi hao hụt
Bởi tôi là một phần của loài người
[2].

Vâng, những lời thơ của John Donne phần nào diễn tả cũng như nói lên lòng trắc ẩn và cảm thông sâu xa của bao người đối với những nạn nhân, những gia đình đang đau khổ vì sự cách xa hay mất mát người thân trong cơn đại dịch Covid. Dịch bệnh hoành hành làm cho xã hội bất ổn, kinh tế đình trệ, nhiều gia đình, nhiều người rơi vào tình cảnh khốn khổ, chênh vênh không lối thoát. Giữa nỗi khốn cực ấy thế giới đã làm gì, mỗi người đã làm gì và tôi đã làm gì để đẩy lui dịch bệnh và xoa dịu nỗi đau của bao người?

Hòa nhịp với nỗi đau của nhân loại, biết bao tâm hồn đã quảng đại chia sẻ về của cải vật chất cũng như tinh thần qua các việc bác ái từ thiện hay những lời động viên, khích lệ, an ủi... Họ hướng về những con người đau khổ với lòng trắc ẩn và cảm thông sâu xa. Bên cạnh đó có những con người dám xả thân đi vào những nơi dịch bệnh bùng phát, những khu cách ly để phục vụ với những đôi mắt thâm quầng, những gò má hằn sâu, những dấu lằn khẩu trang in trên khuôn mặt, có những người bị lây nhiễm và đau đớn thay có những người đã không có cơ hội để gặp lại người thân vì họ bị lây nhiễm và đã ra đi, đó là một hy sinh cao cả, một nghĩa cử cao đẹp của những tâm hồn quảng đại.

Bởi đâu mà họ có thể can đảm như thế, điều gì đã khiến họ luôn kiên cường không lùi bước trước sự hủy diệt đáng sợ của con virus corona này? Thiết nghĩ chẳng có gì có thể lý giải được điều này ngoài tình yêu. Thật xác đáng, bởi vì con người đã được tạo dựng bởi tình yêu Thiên Chúa và tình yêu này chính là lý do hiện hữu của con người. Những con người này đã mang vũ khí tình yêu để xông vào cuộc chiến mà quên cả nhọc nhằn, chẳng sợ hiểm nguy, thậm chí họ quên cả bản thân mình. Tình yêu là hành vi cao cả nhất của tâm hồn, là một huyền nhiệm, là chất liệu ngọt ngào êm dịu nuôi dưỡng liên kết thúc đẩy con người biết sống cho nhau. Chỉ có tình yêu mới có thể thôi thúc con người dấn thân trong sự hiện diện đầy ý nghĩa và cao đẹp mang đậm tình Chúa và tình người như vậy.

Hiện diện là một điều quan trọng biết bao; vì khi hiện diện là ta đang phục vụ hết tình, dấn thân hết mình trong từng công việc, trong từng giây phút, với từng con người, trong từng hoàn cảnh với tất cả tình yêu. Có những lúc ta hiện hữu nhưng không hiện diện, hiện diện nhưng không hiện thực toàn tâm toàn ý với cả con tim. Và như thế, cho dù có phục vụ ta cũng chỉ cảm thấy trơ trọi với chính mình, cảm thấy hụt hẫng và nặng nề trong từng bước chân, sợ hãi và bất an. Thậm chí ta còn mang đến cho người khác nỗi cô đơn, trống vắng và tuyệt vọng khôn cùng khi họ không tìm thấy nơi ta ánh mắt của sự cảm thông và yêu thương chân thành.

Giữa biên giới tử biệt sinh ly họ cần biết bao…!

- Cần một bàn tay chạm đến để lấp đầy nỗi cô đơn vì không có người thân bên cạnh.
- Cần một ánh mắt chia sẻ để làm vơi đi nỗi trống vắng và tuyệt vọng.
- Cần một lời kinh, một lời cầu nguyện, một lời giã biệt trong nước mắt để họ cảm thấy nhẹ nhàng và bình an khi đối mặt với một giai đoạn quan trọng trong cuộc đời đó là cái chết…

Hơn ai hết người tu sĩ phải là người sống và thể hiện trọn vẹn ơn gọi hiện diện này. Quả thật, có biết bao linh mục và tu sĩ đã sống ơn gọi này một cách một cách tròn đầy trong sự chia sẻ, lắng nghe, cảm thông và nâng đỡ bằng chính tình yêu và tâm tình của Đức Kitô, như thánh nữ Têrêxa Avila đã nói: “Hôm nay Đức Kitô nhìn người khác bằng mắt chúng ta, yêu người khác bằng trái tim chúng ta, đến với người khác bằng đôi chân chúng ta và phục vụ người khác bằng đôi tay của chúng ta”. Sự hiện diện của các tu sĩ tại những nơi dịch bệnh bùng phát chính là dấu chỉ để mọi người nhận biết Thiên Chúa là Tình Yêu và Chúa Giêsu đã "yêu đến cùng" thế nào.

Nữ tu Anna Maria Marconi, dòng Con Đức Mẹ Hài Nhi kể lại rằng: “Những đôi mắt nhìn chằm chằm vào tôi, nhưng gương mặt lại đang cố gắng tìm một tí không khí để sống. Tuy không thể nói, nhưng qua ánh nhìn, các bệnh nhân giúp tôi hiểu là tôi phải cầu nguyện cho họ và tôi hoàn toàn tin chắc rằng họ đã gặp gỡ tình yêu phụ tử của Thiên Chúa, Đấng đã hứa sẽ không bỏ rơi chúng ta.”

Với Cha Aquilino Apassiti, giây phút đau khổ nhất đối với cha là khi làm phép các quan tài mà không có người thân của người qua đời, vì họ đang bị cách ly. Cha kể: “Ngày hôm trước, một phụ nữ không thể từ biệt người chồng đã qua đời của bà đã yêu cầu tôi làm cử chỉ này. Tôi làm phép quan tài của người chồng, rồi cầu nguyện và rồi cả hai chúng tôi bật khóc trên điện thoại. Chúng ta sống đau khổ trong khổ đau. Đây là thời khắc thử thách nặng nề.”…

Vâng, đó là những hình ảnh, những tâm tình khiến ta không thể không xúc động và xót xa. Vì thế, ta hãy sống hết mình với những ai đang cần đến ta. Nếu ta không đủ sức khỏe hay không có cơ hội để đi vào các vùng dịch bệnh để phục vụ thì hãy hiện diện với những con người đau khổ trong lời cầu nguyện cách liên lỉ và thống thiết trong từng giây phút, trong từng hơi thở. Hãy nên một với những nỗi đau và những nỗi thống khổ của họ; hãy cưu mang họ bằng lời cầu nguyện không ngưng nghỉ trong tình bác ái Kitô giáo.

Cuộc sống ta vẫn bình an; vâng hãy tạ ơn Chúa và hãy nhớ đến những con người đang cảm thấy sợ hãi và bất an khi họ đang cố gắng tìm một tí không khí để thở để sống. Mỗi sáng mai được thức dậy với một ngày mới, hãy tạ ơn Chúa và hãy nhớ đến những con người không còn cơ hội đón chào một ngày sống mới vì họ đã giã biệt cuộc đời. Khi còn có nơi ăn chốn ở ổn định ta hãy tạ ơn Chúa và tha thiết dâng lên Người những con người không cửa không nhà, bữa đói bữa chưa no, vỉa hè hầm cầu là nơi để họ gối đầu. Gia đình ta vẫn được bình an vô sự, hãy tạ ơn Chúa và hãy nhớ đến những cảnh đời khốn khổ vì mất cha mất mẹ, mất vợ mất chồng, mất con cái. Mỗi ngày ta được cùng với chị em ca tụng Chúa, được rước Chúa mỗi ngày, hãy tạ ơn Chúa và hãy nhớ đến những tâm hồn đang khao khát đến với Chúa, được thờ phượng Chúa, được rước Chúa nhưng chẳng có cơ hội... vẫn còn đó biết bao cảnh đời khốn khổ mà ta không thể kể xiết, vẫn còn đó bao cảnh đời đau thương mà không thể diễn tả hết bằng lời.

Hôm nay, Đức Kitô vẫn cần lắm những tâm hồn dấn thân trong ơn gọi hiện diện để lấp đầy sự hiện diện của Người nơi những con người đang đau khổ. Ước mong rằng tình yêu và lòng trắc ẩn của Người luôn ở và lớn mãi trong ta để ta luôn biết cúi xuống chạm đến những mảnh đời cần đến sự cảm thông, chia sẻ và nâng đỡ của ta.

-----------------------------------------------------

[1] Đây là một câu đầu trong bài thơ suy niệm thứ 17 (Meditation 17) của thi sĩ John Donne (thế kỷ 17: No man is an island
[2] Nguyên ngữ hai câu thơ cũng của bài thơ trên: Any man's death diminishes me, Because I am involved in mankind…

Nữ tu Anna Kim Oanh

HỌC ĐƯỢC BÌNH AN TỪ TRẠI PHONG BẾN SẮN

Trại phong Bến Sắn được thành lập từ năm 1959. Kể từ ngày đầu thành lập, trại phong Bến Sắn đã được trao cho các nữ tu tu hội Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn coi sóc và phục vụ. Từ sau năm 1975, các nữ tu chỉ còn là người phục vụ như nhiều cán bộ công nhân viên khác của trại. 

Hơn nửa thế kỷ, gần cả một đời người, nơi đây đã lưu dấu bao nhiêu bước chân con người đi qua. Có thể họ là những người phục vụ với tư cách là y bác sĩ; có thể họ là những người mang lý tưởng tình yêu Chúa Kitô như các nữ tu và nhiều thành viên thiện nguyện khác; có thể họ là những ân nhân một lần đến thăm rồi từ đó gắn bó với trại phong; cũng có thể đó là những người tình cờ hay tò mò muốn biết bệnh nhân phong là thế nào, rồi khi chứng kiến, đã ghi dấu ấn hình ảnh những con người bất hạnh tận tâm khảm đời mình; và trên hết, thành phần chủ yếu của trại phong là tất cả bệnh nhân phong. Chính vì họ mà trại phong Bến Sắn có lý do tồn tại và hiện diện trong nhiều chục năm qua.

Cách đây nhiều năm, như một tuyên úy cho trại phong Bến Sắn, hằng ngày đến dâng thánh lễ, nhiều lần rửa tội, giải tội, xức dầu, cử hành các nghi thức tẩm liệm, an táng… cho những anh chị em bệnh nhân ở đây, chúng tôi cảm nhận họ thực là tấm gương của ơn bình an, ơn biết tín thác vào bàn tay Thiên Chúa.

Nay đang trong thời cách ly nghiêm ngặt, phải tự giam mình nhiều tháng trời, nhớ lại cảnh anh chị em bệnh nhân phong phải tật nguyền, có người suốt đời ngồi xe lăn, có người suốt đời gắn mình trên giường bệnh, có người chân tay, mắt mũi, hình hài không còn nguyên vẹn..., không đi đâu và cũng không thể tự mình đi bất cứ nơi đâu, đúng hơn, họ chấp nhận sự tự giam mình trong bốn bức tường của khu vực điều trị một các vui vẻ, thoải mái và hạnh phúc, chúng tôi càng tự xấu hổ, càng thương họ vô cùng...

Bản thân, từ nhỏ đã đầy đủ mọi bộ phận trên cơ thể, muốn đi là đi, muốn về là về. hạnh phúc đến độ, ở cạnh người bất hạnh hơn mình bao nhiêu thời gian mà vẫn chưa một lần nhận ra, chưa một lần tự đặt mình vào hoàn cảnh của họ.

Đến nay, chỉ mới một thời gian không thể bước chân khỏi nhà, đã cảm thấy bực bội, cảm thấy muốn nổi loạn. Bây giờ, nhìn anh chị em của mình, cảm nghiệm sự bình an chấp nhận nếp sống phẳng lặng trôi đi từng ngày của họ mà tôi rút ra nhiều bài học quý báu cho đức tin, cho lòng yêu mến Chúa, cho đời sống phục vụ của mình trong thời gian "trói chân" này.

Chúng tôi đã thấm thía lời Chúa Giêsu trong nhà tiệc ly trước khi chia tay các môn đệ của Người: “Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con. Thầy ban cho các con không như thế gian ban tặng” (Ga 14, 27). Lời ban bình an này được thực hiện ngay giữa cơn thử thách đang đè nặng trên tông đồ đoàn, vì Chúa sắp bước vào thụ nạn.

Vì ơn bình an mà bản thân cảm nghiệm từ ngôi trại thân thương này, chúng tôi thấy mình được mà không hề mất, ngược lại chúng tôi đã nhận nơi họ quá nhiều. Đúng hơn, anh chị em trong trại phong là món quà, không thể có món quà nào quý hơn, Chúa trao tặng chúng tôi. 

Làm sao mà những con người, tưởng chừng xấu số ấy, vẫn có thể nở nụ cười trên môi, dẫu nhiều khi vì bệnh tật, nụ cười đã dị dạng. 

Làm sao mà những con người, tưởng chừng không còn niềm tin, lại có thể tin vào Chúa là tình yêu, khi mà cả một đời gắn chặt trên giường bệnh, hay trên những chiếc xe lăn oan nghiệt. 

Làm sao mà những con người tưởng chừng bị mất hy vọng dường ấy lại có thể nhìn nhận Thiên Chúa là Cha từ ái, và suốt đời ôm ấp lòng mến yêu, sự cậy trông tha thiết đối với Thiên Chúa đến vậy.

Làm sao mà những con người đáng thương ấy lại có thể cất lên tiếng “cha” niềm nỡ với các linh mục, hay tiếng “dì”, tiếng “thầy” thân thương với các tu sĩ. 

Làm sao mà những con người bạc phận ấy lại có thể can đảm níu kéo cuộc sống của mình từng ngày trong căn bệnh quái ác đã từng gây đau nhức đến nỗi chỉ muốn chết, chỉ có thể chết mà thôi. 

Làm sao những con người đáng thương ấy lại có thể chấp nhận bản thân mình, trong khi bị chính những người thân nhất đời mình như cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, con cháu… chối bỏ, thậm chí bị khước từ, bị khinh bỉ như một kẻ dơ bẩn, xấu xa, hèn mạc. 

Làm sao mà những con người, cứ tưởng là bi đát, lại có thể chìa đôi tay không còn nguyên vẹn của mình để làm cho đứng dậy những ai muốn gục ngã trong đời.

Làm sao mà những con người khó đứng vững trên đôi chân mình, lại có thể làm điểm tựa vững chắc cho những ai đang sầu thương trên đường đời. Bởi nhiều khi vấp phải những khủng hoảng trong đời sống, chúng tôi đã chiêm ngưỡng những anh chị em  tưởng chừng bi thương ấy, để lấy lại thăng bằng cho đời hiến dâng của mình.

Làm sao mà những con người, cứ tưởng là bất hạnh ấy, lại giàu nghị lực, giàu lòng can đảm chịu đựng bệnh tật, chịu đựng hoàn cảnh thiếu tình thương của người thân, thiếu sự ấm áp của một mái gia đình đúng nghĩa, lại có thể chấp nhận một gia đình mà trong đó, toàn là người xa lạ, đến từ nhiều nơi, với nhiều cách nghĩ, cách sống lắm lúc quá chênh lệch, quá khác nhau…

Làm sao mà những con người tưởng như chỉ còn màn đen phủ trọn kiếp sống, lại có thể quả cảm đến mức lạ thường, khi phải chấp nhận hoàn cảnh của mình, hoàn cảnh của những người cùng chung sống, hoàn cảnh của những người phục vụ mình, hoàn cảnh của tất cả những ai có trách nhiệm, có liên can, mà nhiều khi vì hoàn cảnh riêng ấy, đã không mang lại nụ cười, hay đã không thể mang lại nụ cười, nhưng chỉ là nước mắt, là khổ đau cho mình…

Làm sao mà những con người như thế, lại có thể vỹ đại đến vậy. Đáng yêu quá! Đáng quý quá! Đáng trân trọng quá!... 

Biết bao nhiêu tiếng “làm sao…” đã nhảy múa trong đầu chúng tôi, trong tim chúng tôi, trong những ngày tháng chúng tôi được chứng kiến. Biết bao nhiêu tiếng “làm sao…” nghẹn ứ trong cổ họng, đã không thể bật thành lời, mà thành những dòng cảm động rót đầy vào hồn chúng tôi. Biết bao nhiêu tiếng “làm sao…” đổ dồn trong cõi riêng tư, khiến chúng tôi càng yêu quá đỗi, càng trân quý quá đỗi những ân huệ lớn lao của Thiên Chúa ban tặng trong cuộc đời mình. 

Không thể trả lời cho xiết những tiếng “làm sao…”. Bởi nếu đi tìm câu trả lời bằng suy nghĩ của phàm nhân, sẽ thất bại. 

Chỉ có lời Thiên Chúa mới mong lý giải đến tận cùng những tiếng “làm sao…” ấy. Càng nhìn thấy những hoàn cảnh, những xác thân bệnh đau, tật nguyền của anh chị em, nhưng vẫn muốn sống, vẫn tiếp tục sống và tha thiết với sự sống, chúng tôi càng thấm thía lời ban bình an của Chúa chúng ta, lời đã được thốt lên ngay trước giờ thụ nạn, giờ đau khổ nhất trong cuộc đời dương thế của Người: “Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con. Thầy ban cho các con không như thế gian ban tặng” (Ga 14, 27).

Hóa ra LÒNG NGƯỜI ĐÃ TRỔ SINH BÌNH AN CỦA THẦY.

Chính “BÌNH AN CỦA THẦY”, đó là bình an giữa những vây bũa bởi những thách thức, những rúng động (chứ không phải thứ bình an êm ái nhưng giả tạo của thế gian, hay của bất cứ ai khác), mới có thể làm tăng sức, làm mạnh mẽ, làm cao cả, làm mãnh lực, làm cứng cáp… những gì yếu đuối nhất, mềm mại nhất, đơn côi nhất, thiếu thốn nhất…

Chính vì được “Thầy để lại”, được “Thầy ban” cho mình “BÌNH AN CỦA THẦY” mà những con người đầy khiếm khuyết trên thân xác, lại có thể sống tích cực, sống dồi dào đức tin, lòng mền, niềm cậy trông, sống dồi dào tình yêu cho nhau, và cho đời đến vậy.

Chính “BÌNH AN CỦA THẦY”, bình an trong sự vâng phục Thánh Ý đến tận cùng mà Chúa Giêsu rót vào hồn những kẻ đang bước đi cùng Người trên con đường thánh giá, mới làm cho họ vững vàng, chấp nhận, chịu đựng, và biết hiến dâng đến vậy.

Chính “BÌNH AN CỦA THẦY” đã làm cho mọi bệnh nhân nơi đây, dẫu còn đó những khó khăn, những thiếu thốn, vẫn yêu và ra sức xây dựng nơi mình sống, xây dựng môi trường bệnh viện thành ngôi nhà chung cho tất cả những ai đồng cảnh ngộ, cho tất cả những ai muốn tìm về để có chốn nương thân.

“BÌNH AN CỦA THẦY” một khi được trao ban cho con người, cứ y như dấu lạ mà chính Thầy đã từng thực hiện trong Tin Mừng, nay lại tiếp tục để chữa lành, để xoa dịu, để ủi an, để tăng nghị lực, để lấp đầy những trống vắng, để tha thứ, để đón nhận… mọi con người. 

Hay nói cách khác, giờ đây Thầy đang hiện diện bằng chính “BÌNH AN CỦA THẦY”, để những gì mà ngày xưa Thầy đã từng thực hiện nơi những trang Tin Mừng, vẫn tiếp tục thực hiện bằng chính những dấu lạ hôm nay, ngay trên chốn này. Chính Thầy đã làm cho lòng người hôm nay trổ sinh bình an của Thầy.

Cảm nghiệm “BÌNH AN CỦA THẦY” trổ sinh trong lòng người như chạm tới được, chúng tôi bàng hoàng. Đã có lúc chúng tôi sợ hãi, vì nhận ra, đôi lần mình còn sống hình thức, chưa dám dấn thân, chưa dám hòa mình trọn vẹn với anh chị em. Chúng tôi nguyện xin Chúa Giêsu, người Thầy của ơn bình an, tha thứ cho những dại khờ, những lơ đễnh, những hời hợt của chúng tôi. Xin Chúa tha thứ cho những lần chúng tôi chưa đặt hết tâm của mình trong việc phục vụ. Xin Chúa tha thứ cho chúng tôi vì chúng tôi đã không làm đầy thêm, không vun bồi thêm khuôn mặt từ ái yêu thương của Chúa nơi tất cả những anh chị em đang đau khổ, vì sự xa tránh, sự thiếu chân thật, thiếu tấm lòng, thiếu sự cảm thông… của chúng tôi.

Nguyện xin Chúa Giêsu tác giả của ơn bình an, ban cho chúng tôi, ban cho mọi người có nhiệm vụ phục vụ, và ban cho mọi bệnh nhân bình an của Chúa, để nhờ ơn bình an ấy, cuộc sống nơi đây ngày càng đẹp hơn, thắm thiết hơn, trào tràn yêu thương hơn.

Xin lỗi Chúa bao nhiêu, chúng tôi càng phải mang ơn anh chị em trại phong này bấy nhiêu. Anh chị em là ngọn lửa thắp lên niềm an ủi, thắp lên sức mạnh tình thần, sức mạnh của nghị lực khi chúng tôi vấp phải những chán chường, bạc nhược mà đôi lần vì bản thân, vì giới hạn của con người, vì những hoàn cảnh khác nhau có thể gây ra. Chính anh chị em làm cho chúng tôi vui hơn, tươi hơn, đáng sống hơn, dám đương đầu hơn…

Chính trong nỗi bất hạnh của mình, anh chị em là nét đẹp của cuộc đời, là ánh nắng pha trong u tối, là cơn mưa nhẹ xua đi những oi nồng trong lòng chúng tôi, mỗi khi chúng tôi gặp phải những cản trở nào đó trên đường phục vụ và mục vụ. Từ nay, cứ nhìn anh chị em, chúng tôi không còn dám than thân trách phận, không còn dám nghĩ suy ích kỹ cho riêng mình, không còn dám bỏ qua những tiện ích, những khả năng mà Chúa ban cho mình, không còn dám “đem chôn dấu nén bạc” của Chúa, mà không tìm ích lợi hồn xác cho mình, cho đời.

Ngàn vạn lần cám ơn anh chị em. Chúng tôi đã nhận từ anh chị em quá nhiều. Chúng tôi kính phục anh chị em. Anh chị em đã cho chúng tôi không phải vật chất, mà là cho tất cả con người, cho cả đời sống, cho cả những khiếm khuyết trên thân thể của anh chị em, để chúng tôi càng nhận ra hồng ân sự sống cao quý biết chừng nào. 

Anh chị em là quà tặng của sự sống chúng tôi. Anh chị em muốn sống, muốn vươn cao hơn nữa trong đời sống, dù vẫn còn đó trên thân thể bệnh tật của mình, thì chúng tôi càng phải sống, và sống cho có ý nghĩa, sống cho tích cực, sống vì lợi ích thiêng liêng của mình, vì lợi ích thiêng liêng của chính anh em và của muôn người mà chúng tôi có nhiệm vụ phục vụ.

Xin cúi mình kính chào anh chị em. Xin được hôn lên mọi đau khổ của anh chị em. 

Xin Chúa tuôn đổ bình an của Chúa trên tất cả chúng ta.

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Đau khổ, bệnh tật có phải do sự trừng phạt của Thiên Chúa?

Những điều ác được đưa ra nhằm chống lại chúng ta liệu chúng có ảnh hưởng gì trên chúng ta không?

DOCTOR

Có nhiều người nghĩ rằng sự ác vật lý hay luân lý là sự trừng phạt của Thiên Chúa, nhưng thực ra không phải vậy, bài viết này sẽ làm sáng tỏ điều này.

Theo định nghĩa triết học, chúng ta nói rằng sự ác hiện hữu là do thiếu vắng sự thiện tất yếu. Sự dữ không hiện hữu, mà phát sinh từ việc thiếu một thứ mà lẽ ra phải hiện hữu, mà lại không hiện hữu, hay hiện hữu nhưng lại thiếu ở một thời điểm nào đó. Vậy cho nên bóng tối chỉ có thể được nhận thấy khi không có ánh sáng, bệnh tật xuất hiện khi sức khỏe kém, sức lực sa sút. Không phải sự thiếu vắng nào cũng tiêu cực: cây cối không có mắt không phải là xấu (vì nó không cần thiết), nhưng trong sự sống con người thì nó cần thiết.

Sự ác có thể là vật lý hoặc luân lý. Là sự ác vật lý khi nó thiếu chất thể (bệnh tật, khổ cực, thiên tai...); sự ác luân lý phát xuất từ việc đi lệch với trật tự đúng đắn trong cách ứng xử của con người, sinh vật duy nhất chịu trách nhiệm trước các hành vi của mình, khi gây ra những tệ nạn, tội lỗi và những thiếu sót... Trong cả hai trường hợp, sự ác bắt nguồn từ thụ tạo: trên bình diện vật lý, sự ác phát xuất từ chính bản chất tự nhiên của hữu thể (ví dụ núi lửa), về bình diện luân lý sự ác phát sinh từ sự lạm dụng tự do của con người (ví dụ ủng hộ việc phá thai).

Tại sao Chúa không ngăn chặn?

Và ở đây phát sinh một vấn đề quan trọng: có phải Thiên Chúa là tác giả của sự ác? Tại sao Ngài không ngăn cản nó? Triết học và thần học trả lời rằng Thiên Chúa – hoàn hảo, tuyệt đối, vĩnh cửu – không thể là tác nhân trực tiếp hoặc gián tiếp của sự dữ. Điều này luôn phát xuất từ thụ tạo, bất toàn, tương đối và tạm thời. Thiên Chúa có thể ngăn chặn mọi điều ác, nhưng Ngài không muốn làm điều đó để không phải can thiệp cách nhân tạo vào các quy luật tự nhiên. Theo thánh Augustinô (Enchiridion, 38), Thiên Chúa sẽ không để cho sự ác xảy ra nếu không lôi kéo được những điều tốt hơn nó. Thật vậy, mọi đau khổ, dù rất đáng thương và không thể hiểu được, là trường học cho sự trưởng thành nhân bản và tâm linh đối với những ai biết tận dụng nó (xem Richard Gräff. Kitô giáo và khổ đau. S. Paulo : Quadrante, 2007).

Một số người cho rằng: Nếu Thiên Chúa không trừng phạt, tại sao Cựu ước có nhiều đoạn khác nhau khiến chúng ta hiểu ngược lại? Bởi vì, trong suy nghĩ chung chung thời bấy giờ, người ta không phân biệt những gì Thiên Chúa đã làm hay chỉ cho phép nó xảy ra. Vì muốn ca ngợi Thiên Chúa (không giống như một số người ngày nay muốn coi thường Ngài) họ đã biến Ngài thành tác giả của tất cả mọi sự, kể cả sự ác. Tuy nhiên, điều này không đúng, như được hiểu trong khoa sư phạm tiệm tiến và khôn ngoan của sách Khải huyền (xem E. Bettencourt, OSB. Khám phá Cựu ước. Rio de Janeiro: Mẹ Giáo hội, 2005, trang 101-112). Sự ác vật lý hay luân lý phát xuất từ những sai lầm của các sinh vật có giới hạn.

Những điều ác được phô bày nhằm chống lại chúng ta liệu chúng có ảnh hưởng gì không?

Tuy nhiên, con người có thể tự trừng phạt mình do bởi những thiếu sót của mình. Đây có thể là trường hợp của người thích hút thuốc dù vẫn biết những nguy hiểm nó mang lại cho sức khỏe. Chẳng phải ung thư, hay thũng phổi là do việc hút thuốc sao? Chẳng phải sự mất cân bằng môi trường là phản vệ tự nhiên dành cho những công kích mà nó phải chịu sao? Có một câu ngạn ngữ nói rằng “Thiên Chúa luôn tha thứ nhưng thiên nhiên không bao giờ tha thứ cho con người”. Điều này giúp chúng ta hiểu rõ hơn tại sao một số - không phải là tất cả - điều ác luôn tái diễn.

Bất chấp tất cả những điều trên, vẫn có người nghĩ rằng bệnh tật hay các vấn đề khác là sự trừng phạt do tội lỗi của một người hay tổ tiên họ mắc phải. Tin mừng bác bỏ ý tưởng này: đứng trước người mù từ khi mới sinh, người ta hỏi Chúa Giêsu có phải do tội lỗi của anh ta hay của cha mẹ khiến anh bị mù như vậy. Chúa Giêsu nói rằng “không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội”. Nhưng đúng hơn: để sự ác đó (mù lòa) được biến đổi thành điều thiện (là để công trình của Thiên Chúa được thể hiện nơi anh (x. Ga 9,1-2).

Và những điều ác được phô bày nhằm chống lại chúng ta liệu chúng có ảnh hưởng gì không? Không. Chúng có thể tấn công những người sợ hãi chúng, vì họ không có sức mạnh nơi bản thân, không có quyền lực gì, vì họ bị ảnh hưởng và tin rằng điều ác mạnh hơn cả Thiên Chúa. Đây là tội lỗi. Không có gì có thể đánh bại được Thiên Chúa, vì vậy hãy can đảm lên! Các bạn đừng làm điều gì xấu, hãy nghĩ điều thiện, hãy tin tưởng và không có gì có thể tấn công được bạn. Đó là điều mà Thiên Chúa đã hứa qua Lời của Ngài (x. Rm 8, 31-37).

Vanderlei de Lima - https://it.aleteia.org
G. Võ Tá Hoàng chuyển ngữ - WQN

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan