SUY NIỆM CHÚA NHẬT 24 TN_B

11-09-2021 66 lượt xem

Lời Chúa: Is 50,5-9a; Gc 2,14-18; Mc 8,27-35

Mục Lục

ĐỨC TIN NỬA VỜI - + ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

BA BỨC CHÂN DUNG VỀ ĐỨC GIÊSU KITÔ - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

QUYẾN RŨ - Thomas Aq. Trầm Thiên Thu

THẦY LÀ AI? - Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

CĂN TÍNH CỦA CHÚA GIÊSU - Bs. Nguyễn Tiến Cảnh, MD

TIN VÀ BƯỚC THEO CHÚA KITÔ KHỔ NẠN - Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

THÁNH GIÁ VÀ CHÚNG TA - Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

ĐỨC TIN CÓ HÀNH ĐỘNG BẰNG ĐỨC TIN SỐNG ĐỘNG - Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

Thi ca: KHÓ LẮM KHÔN NHIỀU - Viễn Dzu Tử

Thi ca: THẦY LÀ ĐẤNG KITÔ - (Thế Kiên Dominic)

ĐỨC TIN NỬA VỜI

Trong xã hội, người ta hay thực hiện các cuộc thăm dò để lấy phiếu tín nhiệm về một nhân vật, hoặc để tham khảo ý kiến về một dự án, có liên quan đến công ích. Ở phương Tây, những cuộc thăm dò thường xuyên được thực hiện trên báo chí và các phương tiện truyền thông, để biết về mức độ tín nhiệm đối với các nhân vật chính trị hoặc những người nổi tiếng, xem người dân nghĩ về họ như thế nào.

Thánh Luca cho biết, Chúa Giêsu cũng thực hiện một cuộc thăm dò. Cuộc thăm dò này được cả ba tác giả Tin mừng nhất lãm ghi lại, tuy có đôi chút khác biệt. Những người được thăm dò là các môn đệ. Họ đã bỏ mọi sự mà theo Chúa được một thời gian, đã được Người huấn luyện và được Người sai đi để tiếp nối sứ vụ của Người. Nội dung của cuộc thăm dò này là hai câu hỏi:

– Người ta nói Thầy là ai?

– Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?

Xem ra các môn đệ lúng túng trong việc trả lời. Với câu hỏi thứ nhất, các ông vòng vo theo, dựa trên dư luận và lời đồn thổi. Đối với câu hỏi thứ hai, các ông im lặng, trừ một mình Phêrô trả lời: Thầy là Đấng Kitô!.

Thông thường, khi thực hiện một cuộc thăm dò, người ta công bố kết quả xem ai có câu trả lời đúng nhất. Trình thuật của thánh Mác-cô lại khác. Chúa cấm ngặt không được nói với ai về điều Phêrô vừa tuyên xưng. Không những thế, Chúa còn tiên báo cuộc khổ nạn mà Người sẽ phải chịu: “Con người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và sau ba ngày sẽ sống lại”. Phêrô, người vừa mạnh mẽ tuyên xưng thân thế và sự nghiệp của Thầy mình, cũng phải sững sờ ngạc nhiên. Ông không thể chấp nhận một Đấng Kitô chịu đau khổ. Nếu như vậy thì việc ông và các anh em theo Chúa sẽ trở nên vô nghĩa. Bởi lẽ nơi tâm trí các ông in đậm hình ảnh một Đấng Thiên sai mang màu sắc chính trị và trần tục. Phêrô đã can gián Thày mình, thậm chí đã trách Chúa. Ông đã suy nghĩ và hành động theo tư tưởng của loài người. Hành động này bị Chúa mắng là satan.

Phêrô tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô, nhưng ông không chấp nhận Người chịu đau khổ! Nhưng, một Đức Giêsu không thập giá, lại không phải là Đức Giêsu của lịch sử, lại càng không phải là Đức Giêsu cứu nhân độ thế. Vì trong chương trình của Thiên Chúa đã được thực hiện, Chúa Giêsu đã vác thập giá và đã chịu đóng đinh trên thập giá ấy.

Hôm nay, Chúa Giêsu cũng đang thực hiện một cuộc thăm dò, xem chúng ta nghĩ về Người như thế nào. Chúng ta tin Chúa, đó là điều chắc chắn, nhưng hình ảnh của chúng ta có về Chúa như thế nào. Đối với một số người tín hữu, phải chăng Chúa Giêsu chỉ là một nhân vật huyền thoại, do các tín hữu thời nguyên thuỷ tưởng tượng ra? Phải chăng Chúa Giêsu là một nhân vật lịch sử, nhưng thuần tuý chỉ là một con người uyên bác xuất chúng? Phải chăng Chúa Giêsu đã lui vào quá khứ xa xưa, không có liên hệ gì với cá nhân mỗi người tín hữu? Hiện nay, có hiện tượng những tín hữu chỉ chấp nhận một phần của Đức tin, ví dụ họ tin Chúa nhưng không tin Người hiện diện trong Bí tích Thánh Thể, hoặc không tin Người tha tội trong Bí tích Hoà Giải. Họ tin Chúa nhưng không chấp nhận cơ cấu và giáo huấn của Giáo Hội. Hiện tượng này được gọi là “đức tin nửa vời”, là “đức tin tuỳ ý chọn lựa theo sở thích”.

Đức Giêsu mà Giáo Hội rao giảng là Đức Giêsu chịu đóng đinh. Người là Người Tôi tớ đau khổ và trung thành. Bài đọc I trích sách Ngôn sứ Isaia đã diễn tả một phần cuộc khổ nạn của Chúa. Trước những vu cáo, bạo lực và gian dối của con người, vị Tôi Tớ của Chúa vẫn kiên trung và phó thác. “Tôi đã đưa lưng ra cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu”. Vị tôi tớ ấy chính là hình ảnh của Đức Giêsu. Người đã dùng cây thập giá để minh chứng tình thương bao la của Thiên Chúa đối với nhân loại.

Như thế, theo Chúa là đi trên con đường thập giá, không có lựa chọn nào khác. Chúa Giêsu đã diễn giải điều này như bài học rút ra từ sự kiện được kể trong bài Tin Mừng.

– Ai muốn theo Tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.

– Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, ai liều mạng sống mình vì Tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy.

Tin vào Chúa Giêsu mà không chấp nhận thập giá là Đức tin nửa vời.

Tin vào Chúa, tức là chấp nhận đưa mạng sống mình ra để “đánh cược”với Ngài.

Đã là người chẳng có ai tránh khỏi những thử thách. Tuy vậy, trước một khó khăn, người có Đức tin cảm thấy lối thoát nhờ Đấng Tối cao; người vô thần cảm thấy như mình đứng trước ngõ cụt. Người tin Chúa tìm thấy sức mạnh và an ủi; người vô tín thấy mình chơi vơi giữa con sóng biển đời. Đó là ý nghĩa việc Chúa Giêsu nói đến thập giá trong cuộc đời người tín hữu. Chúa Giêsu đã đến trần gian, Người không hủy bỏ thập giá nơi kiếp sống con người, nhưng Người cùng vác thập giá với họ để chia sẻ gánh nặng cuộc đời. Con người không còn đơn lẻ trong chặng đường thập giá, vì có Con Thiên Chúa vác cùng. Sau thập giá là vinh quang của phục sinh.

Bạn và tôi, chúng ta đều tin vào Chúa. Tuy vậy, Đức tin vào Chúa không phải là lời nói suông, mà phải được minh chứng bằng việc làm. Thánh Giacôbê đã khẳng định với chúng ta: Tin vào Chúa mà không hành động thì là Đức tin chết (Bài đọc II). Nơi khác, vị tông đồ còn khẳng định mạnh mẽ hơn: Ma quỷ cũng tin vào Chúa và chúng run sợ, nhưng chúng không yêu mến Chúa (x. G 2,20). Chính qua việc làm mà chúng ta chứng tỏ một Đức tin sống động và đích thực.

“Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”. Câu hỏi này vẫn đang được đặt ra cho chúng ta hôm nay. mục lục

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

BA BỨC CHÂN DUNG VỀ ĐỨC GIÊSU KITÔ

Tại Xêdarê Philipphê, Chúa Giêsu hỏi các môn đệ: “Người ta nói Thầy là ai?”. Từ từ Người dẫn đưa các ông đến câu hỏi quan trọng nhất, xác tín nhất: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?“.

Xêdarê Philípphê được xem là miền đất dân ngoại, nơi có một trung tâm rộng lớn thờ thần Baan. Tương truyền, đây là nơi “chôn rau cắt rốn” của thần Hylạp có tên là Panias, thần thiên nhiên. Vào năm 2 trước CN, chính quận vương Hêrôđê Philípphê đã xây dựng nơi ấy thành địa danh linh thiêng đối với cư dân xứ này. Trên thành đó, ông đã cho xây và đặt đầu tượng Xêda, hoàng đế Rôma mà ông xem là vị thần, để tôn thờ. Chính tại “linh địa” dân ngoại này, Chúa Giêsu đã làm một cuộc thăm dò dư luận. Ngài muốn biết, liệu đã có thể loan báo cho các môn đệ hiểu về cuộc thương khó sắp tới của Ngài chưa.

Câu hỏi đầu tiên Chúa Giêsu đặt ra là đối với dân chúng : “Người ta nói Con Người là ai ?”. Sau những lần nghe Chúa giảng dạy, chứng kiến những việc Ngài làm như chữa bệnh, trừ quỷ, hoá bánh ra nhiều…dân chúng nghĩ Chúa Giêsu là ai ? Các môn đệ đã cho Chúa biết: Kẻ thì nói là ông Gioan Tẩy Giả; kẻ thì bảo là ông Êlia; có người lại cho là ông Giêrêmia hay một trong các vị ngôn sứ.

Người ta nghĩ Chúa Giêsu là ông Gioan Tẩy giả sống lại, vì Vua Hêrôđê khi nghe những việc Chúa Giêsu đã làm, ông đã xác định đó là Gioan bị Vua chém đầu nay đã sống lại (Mt 14,1-2; Mc 6,14-16). Có người nghĩ Chúa Giêsu là ông Êlia vì trong niềm mong đợi Đấng Mêsia, dựa vào lời sách ngôn sứ Malakhi, người ta luôn mong đợi ngôn sứ Êlia sẽ trở lại để dọn đường cho Chúa đến (Ml 3, 23-24). Tại sao có người lại nghĩ Chúa Giêsu là ông Giêrêmia hay là một trong các ngôn sứ? Vì đối với dân Do Thái, một vị ngôn sứ xuất hiện là dấu chỉ niềm hy vọng: Thiên Chúa vẫn trung thành với giao ước. Ngài sắp đến viếng thăm cứu chuộc dân Ngài. Khi nghe Chúa Giêsu giảng dạy và nhìn thấy các phép lạ Ngài làm, dân chúng sửng sốt, kinh ngạc và họ đã coi Ngài là một vị ngôn sứ (x.Mt 21,46).

Sau khi thăm dò dư luận bằng lắng nghe các môn đệ kể về cảm nghĩ của dân chúng, Chúa Giêsu trắc nghiệm các môn đệ, đặt câu hỏi cho chính họ: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”.

Chúa Giêsu có thể tự giới thiệu về mình, tự nói lên căn tính của mình. Nhưng Người đã không làm thế. Chúa muốn người môn đệ phải tự khám phá ra Thầy của mình là ai. Chúa muốn lời tuyên xưng của người môn đệ phải phát xuất từ nỗ lực tìm hiểu và cảm nghiệm chân thực trong cuộc sống sinh hoạt với Người. Thánh Phêrô đã thay mặt toàn thể anh em thưa rằng: “Thầy là Đấng Kitô,Con Thiên Chúa Hằng Sống”.

Chúa Giêsu hài lòng về lời tuyên xưng ấy. Tuy nhiên khi tuyên xưng, Phêrô vẫn chưa thật sự hiểu Đấng Kitô có nghĩa là gì. Có lẽ ông còn chịu ảnh hưởng của đám đông nghĩ đến một Đấng Kitô oai nghi, vinh quang và quyền lực. Vì thế, Chúa Giêsu giải thích cho các môn đệ hiểu biết con đường của Người. Con đường thực sự mà Đấng Kitô phải đi là con đường đau khổ: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ chỗi dậy”. Đó là con đường tủi nhục, con đường khổ nạn, con đường chết chóc. Nhưng sau tủi nhục sẽ đến vinh quang. Sau khổ nạn sẽ là hạnh phúc. Sau chết chóc là phục sinh. Đó không phải là con đường vinh quang trần thế, nhưng là con đường nhỏ hẹp thiêng liêng. Đó chính là con đường dẫn đến hạnh phúc đích thực. Chúa không lừa mị, không hứa hẹn những gì dễ dãi, chóng qua. Chúa chỉ đường ngay nẻo chính và muốn những ai theo Người phải dũng mạnh, can đảm, quyết liệt. Vì thế, Chúa nói thẳng thắn với các môn đệ: “Ai muốn theo Tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo”.

“Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Đó là đức tin Kitô giáo. Từ đây phát sinh Kitô giáo vì người tin vào Đức Giêsu thành Nazareth đã tuyên xưng Người là Đức Kitô, là Cứu Chúa của họ. Lời tuyên xưng “Đức Giêsu Kitô” có hai vế: Đức Giêsu thành Nazareth và Đức Kitô. Đức Giêsu thành Nazareth là con người lịch sử đã sống, đã chết và đã phục sinh. Qua biến cố đó, nhiều người đã nhìn nhận và tuyên xưng Người là Đức Kitô. Câu tuyên xưng “Đức Giêsu Kitô” gói trọn con người lịch sử Đức Giêsu thành Nazareth và Đấng được tuyên xưng là Cứu Chúa, là Đức Kitô, Đấng được niềm tin của Kitô hữu tôn vinh.

Đối với niềm tin Kitô giáo, “Chúa Kitô hôm qua, hôm nay và mãi mãi“, là Đấng cứu độ duy nhất của nhân loại.Thánh Phaolô nói: Ai tin thì được cứu độ. Mỗi kitô hữu luôn thấm nhuần chân lý này, nên trong bất cứ nghịch cảnh nào của cuộc sống, họ luôn tuyên xưng niềm tin của mình vào Chúa Giêsu như Phêrô đã từng tuyên xưng.

“Thầy là ai?”, Ðức Giêsu là ai? Ðó là một câu hỏi được đặt ra cho mọi thời đại. Câu hỏi được đặt ra để chờ đợi một câu trả lời có ảnh hưởng quyết định trên lối sống của người trả lời. Câu hỏi này ngày nay cũng gặp được nhiều câu trả lời khác nhau, và mỗi câu trả lời kéo theo một nếp sống khác nhau.

Tuy nhiên điều quan trọng ở chỗ là mỗi người Kitô hữu đặt cho mình câu hỏi: đối với tôi, Đức Giêsu là ai? Bức chân dung nào đã điều khiển những tư tưởng, tâm tình và hoạt động của tôi? Phải làm thế nào để trình bày chân dung sống động của Đức Giêsu cho anh chị em của tôi hôm nay?

Phần tôi, rất thích ba bức chân dung về Đức Giêsu: Hài nhi trong máng cỏ, Tử tội trên thập giá và Tấm Bánh trên bàn thờ.

– Là Con Thiên Chúa, là Ngôi Hai, nhưng khi chấp nhận làm người, Đức Giêsu đã được sinh ra trong một chuồng chiên, được mẹ bọc tả đặt nằm trong máng cỏ (Lc 2,12). Ngôi Hai làm người là “một tin mừng trọng đại” cho toàn dân, lại phải “ở nhờ” nhà súc vật (Lc 2,11).

– Đức Giêsu lên ngôi vua trên Thập giá. Cái chết đau thương tủi nhục của một tử tội lại trở nên hiến tế, nguồn ơn cứu độ cho nhân loại.

– “Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (Lc 22,19). Đấng ban sự sống cho muôn loài (CV 17,25), Đấng mà vừa nghe Danh thánh thì cả trên trời dưới đất và trong âm phủ, muôn vật phải bái quỳ (Pl 2,10) đã trở nên Tấm Bánh nuôi nhân loại qua Thánh lễ mỗi ngày.

Máng cỏ là nhà Chúa sinh ra. Thập giá là ngai Chúa lên ngôi vua. Tấm bánh là Mình Thánh Chúa. Bức tranh máng cỏ – chuồng chiên là sự chiến thắng cám dỗ về của cải vật chất. Bức tranh Thập giá- Đồi Sọ mô tả chiến thắng về chức quyền. Bức tranh Tấm Bánh- Thánh Thể giải bày chiến thắng cám dỗ về danh vọng.

Thiên Chúa làm người và đã trở nên tôi tớ. Thiên Chúa đã đóng đinh mọi sức mạnh áp chế, mọi quyền lực thống trị. Người đã trở nên anh em để phục vụ và hiến dâng mạng sống cho con người.

Đấng mà chúng ta tôn thờ và yêu mến không chỉ là Đức Chúa, Đấng Tối Cao, Đấng Thánh, mà còn là Con Người, là anh em, là người trao ban sự sống dồi dào.

Trong bài đọc 2, Thánh Giacôbê nói về tương quan giữa Tin và Sống: “Đức tin không việc làm là Đức tin chết“. Tin trong lòng và tuyên xưng ngoài miệng và phải thể hiện bằng việc làm. Thánh Giacôbê cho hướng dẫn cụ thể: “Nếu có anh chị em nào không cơm ăn áo mặc, mà có kẻ trong anh chị em lại bảo rằng: ‘chúc anh chị em đi bình an, và ăn no mặc ấm’ mà anh chị em lại không cho họ những gì cần dùng cho thân xác, thì nào có ích gì?“. Việc làm đó chính là lòng bác ái, cảm thông, chia sẻ với tha nhân, nhất là với người nghèo khó, người hoạn nạn. Kitô hữu là người tin vào Đức Kitô và có Chúa Kitô trong cuộc đời, cùng với Người hướng tới tha nhân. Đó là một cuộc sống phong phú và hạnh phúc của người kitô hữu!

Lạy Chúa Giêsu, tựa như thánh Phêrô, con cũng tuyên xưng Chúa là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống. Con muốn sống với trọn con tim điều mình tuyên xưng: Chúa có vị trí quan trọng nhất trong những chọn lựa hằng ngày của con. Cùng với Chúa, xin cho con đến với tha nhân bằng một con tim rộng mở, chia sẻ và cảm thông. Amen. mục lục

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

QUYẾN RŨ

Ngôn sứ Giêrêmia thổ lộ: “Lạy Đức Chúa, Ngài đã quyến rũ con, và con đã để cho Ngài quyến rũ. Ngài mạnh hơn con, và Ngài đã thắng.” (Gr 20:7) Cách quyến rũ của Thiên Chúa rất khác lạ, không giống như cách của loài người. Trong đời thường, người ta HỨA HẸN đủ thứ bằng những lời đường mật, còn Thiên Chúa lại quyến rũ bằng cách KHÔNG HỨA “ngon lành” hoặc “béo bở” mà Ngài HẸN những thứ hoàn toàn trái ý chúng ta: Từ bỏ chính mình và vác thập giá hằng ngày.

Chính mình mà lại không được chiều chuộng, còn đau khổ không ai muốn thì lại phải chấp nhận. Ngậm trái bồ hòn mà cảm thấy vị ngọt thì đúng là quá đỗi lạ lùng, kẻ đó có lẽ “điên khùng” thật. Nhưng đối với Thiên Chúa, kẻ điên khùng đó rất đáng yêu, đặc biệt là được thưởng Nước Trời. No Cross, No Crown; No Pain, No Gain. Không thập giá thì không có triều thiên; không đau khổ thì chẳng được lợi gì.

Thế gian được ví là bể khổ, chắc chắn chẳng vui sướng gì. Thật vậy, cuộc sống luôn có nhiều vấn nạn – từ nhỏ tới lớn, từ đơn giản tới phức tạp, từ cụ thể tới trừu tượng, từ riêng tới chung. Biết cách đặt vấn đề có thể giúp chúng ta xử lý tình huống tốt hơn hoặc dễ dàng hơn. Ngược lại, không biết cách đặt vấn đề có thể khiến chúng ta lâm vào thế bí. Rắc rối. Phức tạp. Nhiêu khê. Tuy nhiên, đặt vấn đề cũng có thể là đưa ra một điều kiện nào đó: Nếu làm thế này thì sẽ được cái kia.

Thập giá là vấn đề độc đáo đã được Chúa Giêsu đặt ra cho những người muốn theo Ngài, muốn làm môn đệ của Ngài. Thập giá là chiếc cầu gồm hai nhánh kỳ diệu, nhánh dọc đưa đến Thiên Chúa, nhánh ngang dẫn tới tha nhân. Hai nhánh giao nhau ở giữa, giao điểm đó chính là “nút thánh” Đức Giêsu Kitô. Thập giá là con đường duy nhất dẫn tới hạnh phúc đích thực. Không có con đường nào khác.

Đau khổ là vấn đề chúng ta phải lập kế hoạch rõ ràng. Thập Giá là Thánh Giá, là cái GIÁ để nên THÁNH. Muốn nên thánh thì phải trả giá bằng cách đi qua Con Đường Thập Giá. Chỉ có độc đạo đó dẫn tới Thiên Chúa mà thôi.

Đau khổ Thập Giá mà Đức Giêsu Kitô phải trải qua đã được ngôn sứ Isaia tiên báo: “Đức Chúa là Chúa Thượng đã mở tai tôi, còn tôi, tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui. Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu. Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ. Có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ tôi, vì thế, tôi đã không hổ thẹn, vì thế, tôi trơ mặt ra như đá. Tôi biết mình sẽ không phải thẹn thùng.” (Is 50:5-7)

Thập Giá là nhục nhã, tang tóc, chết chóc. Nhưng Thập Giá lại tiềm ẩn sự quyến rũ lạ lùng, và đó là đại lộ dẫn tới cõi phục sinh, nơi trường sinh bất tử. Ngôn sứ Isaia đã đặt vấn đề: “Đấng tuyên bố rằng tôi công chính, Người ở kề bên. Ai tranh tụng với tôi? Cùng nhau ta hầu tòa! Ai muốn kiện cáo tôi? Cứ thử đến đây coi! Này, có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ tôi, ai còn dám kết tội?” (Is 50:8-9a)

Nếu thực sự có Thiên Chúa thì người ta không còn sợ hãi bất cứ ai hoặc điều gì: “Lòng tôi yêu mến Chúa, vì Chúa đã nghe tiếng tôi khẩn nài, Người lại lắng tai ngày tôi kêu cứu.” (Tv 114 [116]:1-2) Lòng tin ấy thật mãnh liệt, bền vững, và được kiểm chứng xác thực: “Gặp gian truân sầu khổ, tôi đã kêu cầu danh Chúa: ‘Ôi lạy Chúa, xin cứu gỡ mạng con!’ Chúa là Đấng nhân từ chính trực, Thiên Chúa chúng ta một dạ xót thương, hằng gìn giữ những ai bé mọn, tôi yếu đuối, Người đã cứu tôi.” (Tv 114 [116]:4-6)

Niềm tin được minh chứng thì niềm tin đó càng thêm vững mạnh, thế nên họ luôn tự nhủ: “Hồn tôi hỡi, thôi bình tĩnh lại, vì trên ngươi, Chúa đã xuống ơn lành; Chúa cứu gỡ mạng tôi khỏi chết, giữ mắt này chẳng còn đẫm lệ, ngăn ngừa tôi khỏi phải hụt chân. Tôi sẽ bước đi trước mặt Người trong cõi đất dành cho kẻ sống.” (Tv 114 [116]:7-9) Đức tin càng mạnh thì càng thêm trông cậy và thể hiện đức mến.

Nhưng đức tin đó phải được chứng tỏ bằng hành động cụ thể, như Thánh Giacôbê nói: “Thưa anh em, ai bảo rằng mình có đức tin mà không hành động theo đức tin thì nào có ích lợi gì? Đức tin có thể cứu người ấy được chăng? Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hằng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ: ‘Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no,’ nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần thì nào có ích lợi gì?” (Gc 2:14-16) Đó cũng là cách giải thích rõ ràng các chi tiết và rất cụ thể.

Cách lý luận của Thánh Giacôbê rất độc đáo: “Đức tin KHÔNG CÓ HÀNH ĐỘNG thì quả là ĐỨC TIN CHẾT. Đàng khác, có người sẽ bảo: ‘Bạn, bạn có đức tin; còn tôi, tôi có hành động.’ Bạn thử cho tôi thấy thế nào là tin mà không hành động, còn tôi, tôi sẽ hành động để cho bạn thấy thế nào là tin.” (Gc 2:17-18) Cách đặt vấn đề lô-gích và tuyệt vời biết bao!

Chính Chúa Giêsu đã cho ông Tôma biết bí quyết đạt được sự sống vĩnh hằng: “Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. KHÔNG AI ĐẾN VỚI CHÚA CHA MÀ KHÔNG QUA THẦY.” (Ga 14:6) Con đường đó là Con Đường Giêsu, và cũng là Con Đường Thập Giá. Không có bất cứ con đường, lối đi hoặc ngõ ngách nào khác.

Có một số vấn đề quan trọng được trình bày trong trình thuật Mc 8:27-35. Một hôm, Đức Giêsu và các môn đệ tới các làng xã vùng Xêdarê Philípphê. Dọc đường, Ngài hỏi các môn đệ: “Người ta nói Thầy là ai?” Các ông đáp: “Họ bảo Thầy là ông Gioan Tẩy Giả, có kẻ thì bảo là ông Êlia, kẻ khác lại cho là một ngôn sứ nào đó.” Ngài lại hỏi các ông: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Ông Phêrô trả lời: “Thầy là Đấng Kitô.” Lời tuyên xưng rõ ràng, chính xác, dứt khoát. Thật tuyệt vời và rất đáng khen, nhưng Ngài cấm các ông tiết lộ với người khác.

Rồi Ngài còn cho biết rằng Ngài phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và sau ba ngày, sống lại. Đây lần thứ nhất Ngài loan báo cuộc Thương Khó và Phục Sinh của Ngài. Nghe Ngài nói rõ như vậy, ông Phêrô liền kéo riêng Ngài ra và trách Ngài. Nhưng Ngài liền quở trách ông Phêrô: “Satan! lui lại đàng sau Thầy! Vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” Ông Phêrô vừa mới được khen thì lại bị trách ngay. Điều đó cho thấy rằng phàm nhân luôn biến đổi vì yếu đuối, thậm chí có lúc còn không biết mình là ai. Phàm nhân chẳng khác thời tiết thất thường, khó đoán.

Chúa Giêsu cho biết điều kiện để theo Ngài: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng thì sẽ cứu được mạng sống ấy.” Nghe chừng là nghịch lý, nhưng thực ra lại là thuận lý. Đơn giản mà nhiêu khê!

Ngụ ngôn kể về hai mẹ con loài chó. Chó con hỏi chó mẹ: “Mẹ ơi, hạnh phúc là gì vậy?” Chó mẹ giải thích: “Hạnh phúc là cái đuôi của con đấy!” Chó con liền quay lại tóm lấy cái đuôi nhưng không thể. Chó con oà khóc và hỏi: “Mẹ ơi, tại sao con không thể bắt được hạnh phúc vậy?” Chó mẹ điềm nhiên: “Con yêu, con cứ tiến về phía trước thì hạnh phúc sẽ theo sau con. Con càng muốn năm bắt hạnh phúc thì hạnh phúc càng xa con.”

Triết lý sống rất đơn giản, nhưng người ta cứ tự làm cho cuộc sống thêm phức tạp. Tại sao cứ phải đi tìm hạnh phúc trong khi hạnh phúc vẫn luôn đi theo mình? Cứ sống và cảm nhận hạnh phúc mà Thiên Chúa dành cho chúng ta giữa trần gian này. Hạnh phúc trừu tượng mà vẫn cụ thể: HẠNH PHÚC LÀ ĐƯỢC SỐNG BÊN NHỮNG NGƯỜI MÌNH YÊU THƯƠNG. Như vậy, hạnh phúc luôn gần gũi và giản dị. Đời thường mà rất diệu kỳ.

“Vác thập giá hằng ngày” vừa là lời khuyên vừa là mệnh lệnh mà Chúa Giêsu truyền, ai nỗ lực thì sẽ được sống. Hạnh phúc nào cũng có vị mặn của nước mắt, thành công nào cũng cần khổ luyện. Thánh Bernard Clairvaux (1090-1153) xác nhận: “Sự chết là cửa ngõ của sự sống.” Còn đại văn hào Victor Hugo (1802-1885) cho biết: “Hành động tốt là bản lề của Cửa Nước Trời.” Thế thì chẳng gì phải ngạc nhiên khi Chúa Giêsu bảo chúng ta phải “từ bỏ mình” và “vác thập giá” không ngừng, triền miên từ sáng tới chiều, miệt mài hết ngày này qua tháng nọ.

Tình Chúa bao la và bất biến, hãy tín thác vào Ngài, vì Ngài đã thề hứa: “Ta chẳng vui gì khi kẻ gian ác phải chết, nhưng vui khi nó thay đổi đường lối để được sống.” (Ed 33:11) Thiên Chúa rất muốn mọi người được vào Nước Trời, và đó cũng là cùng đích của chúng ta. Đây là sự khôn ngoan của Thánh Vịnh gia: “Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xoá tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy. Vâng, con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm.” (Tv 51:3-5)

Nhân vô thập toàn, ai cũng có lúc được khen và có lúc bị chê. Nhưng quan trọng là cách thức khen và chê: “Kẻ khen ta mà khen thật mới chỉ là bạn ta, kẻ chê ta mà chê thật chính là thầy ta, còn kẻ nịnh hót tâng bốc ta thì chỉ là kẻ hại ta.” (Tuân Tử, hiền triết Trung Hoa) Trong mọi mối quan hệ, sự thẳng thắn vẫn là cách quyến rũ nhất.

Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con thành tín trong mọi động thái, gia tăng can đảm để chúng con khước từ những gì không thuộc về Ngài, xin giúp chúng con chấp nhận thập giá đại dịch này để hoán cải theo Ý Ngài. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. mục lục

Thomas Aq. Trầm Thiên Thu

THẦY LÀ AI?

Trong bài Tin Mừng, Chúa hỏi các môn đệ: “Còn các con, các con bảo Thầy là ai?” cũng là câu hỏi mà Chúa đặt ra cho tôi hôm nay. Tôi xin thú nhận rằng tôi vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng. Chúa là ai trong cuộc sống? Lắm lúc tôi thấy Chúa thật gần gũi, thật dễ thương và dường như mình đã đầu phục Chúa làm chủ đời tôi rồi. Nhưng, lúc khác tôi lại cảm thấy dường như Người rất xa vắng, chẳng thấy Người đâu cả. Người hiện diện mà tôi chưa được thấy nên Người vẫn xa vắng. Tuy nhiên chỉ có một điều là tôi không dám bỏ cuộc, vẫn kiên trì tìm kiếm với niềm hy vọng một ngày nào đó tôi sẽ biết Người như Người biết tôi. Và sau khi đã trải qua gần hai phần ba hành trình của đời người, với mọi nỗ lực và cố gắng, đối diện và nhiều lần ngã gục trước các thử thách… tôi nhận ra rằng mình chưa làm được gì để chứng minh Chúa là chủ tôi… Vẫn như ngày đầu tiên… Tâm nguyện vẫn còn… Nhưng sức lực yếu dần, đèn trong nguời cũng sắp cạn hết dầu … Tôi vẫn loay hoay đi tìm câu trả lời cho câu hỏi ‘Thầy là ai?’

Ở đây cũng vậy! Số là sau phần tuyên tín của Phê-rô là lúc Đức Giêsu bộc lộ con đuờng mà Con Thiên Chúa phải đi thì ông lại ngăn cản Người. Lòng của Phêrô thật tốt, ông lo lắng và không muốn Thầy bị đau khổ. Nhưng ông đâu biết rằng ý tưởng và suy nghĩ của ông hòan tòan sai với ý định của Thiên Chúa, cho nên đã bị Chúa khiển trách "Xa-tan! lui lại đàng sau Thầy! Vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người." Không chỉ có thế, trên đường thương khó Phêrô đã chối Thầy đến ba lần…

Tuy nhiên, Phêrô cũng là người đã bộc lộ tình yêu và lòng mến dành cho Thầy… Thánh nhân cũng có nhiều tài năng để trở thành một môn đồ tốt. Ngài thẳng thắn, tự tin, chăm chỉ, không che đậy, không tính tóan hơn thiệt giống như các bạn của ông tìm cách để tìm kiếm địa vị cao hơn… và nhất là lúc nào cũng muốn và trở thành một người bạn thiết nghĩa với Thầy mình. Chính vì thế mà Chúa tín nhiệm ông. Nói khác đi, vì nhận ra mình là người còn đầy khiếm khuyết và tội lỗi nên Phê-rô quyết tâm lệ thuộc vào Chúa. Đối với Phê-rô, Chúa làm chủ đời ông.

Thưa anh chị em, còn anh chị em nói Thầy là ai?

Chúng ta có thể tìm thấy muôn vàn câu trả lời dựa trên sách vở và kiến thức về Đức Giêsu; nhưng tất cả những câu trả lời đó sẽ đem lại gì cho chúng ta! Hãy tìm câu trả lời bằng chính lối sống mình.

Có thật chúng ta tin nhận Người là Đức Ki-tô, là Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu Thế, là Đấng được Thiên Chúa sai đến để cứu độ và mở lối chỉ đuờng cho chúng ta về với Cha hay không? Và, nếu chúng ta đã hãnh diện tuyên xưng Đức Giê-su là Chúa thì trong cuộc sống chúng ta đã đầu phục vị Chúa đó hay là vẫn dùng Người như là khí cụ để phục vụ tham vọng của mình? Niềm tin và cuộc sống của những ai tin vào Chúa phải đồng nhất nên một. Không thể nào miệng tuyên xưng một đường, rồi chọn lối sống theo ngã khác. Chúng ta cứ làm như đời và đạo vẫn là hai mặt tách biệt của cuộc sống, không gắn bó và ăn nhập gì với nhau.

Vậy, Đức Giêsu là ai?

Tìm ra câu trả lời cho câu hỏi này không phải là việc dễ dàng. Có thể, trong suốt cuộc sống chúng ta cũng chỉ thấy mờ mờ mà thôi. Câu chuyện sau, xẩy ra mọi nơi, có thể giúp chúng ta phần nào.

Truyện kể như sau:

Trong một lớp giáo lý, dựa vào bài Tin Mừng hôm nay, ma-sơ hỏi các em: Còn các con nói Đức Giêsu là ai? Cả lớp nhao nhao, có cháu nói Nguời là Thiên Chúa, cháu khác lại nói là Con Thiên Chúa, Chúa Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa… v.v. Gom chung lại thì các cháu nói đúng như văn bản trong Kinh Tin Kính mà chúng ta tuyên xưng với nhau trong các Thánh Lễ Chúa Nhật.

Trong khi đó, ma-sơ để ý thấy một bé trai ngồi ở góc lớp, im lặng, mắt nhìn ra cửa sổ, đăm đăm như có chuyện gì khó giải quyết. Sơ đến gần, chăm chú nhìn cháu rồi một lần nữa rồi nhắc lại câu hỏi. Cháu thẫn thờ trả lời: Thưa sơ, con không biết! Con chỉ biết là hiện nay em con đang bị ốm, trong nhà không có tiền mua thuốc. Ba con là một quân nhân, hiện đóng quân ở một vùng rất xa. Mẹ đang chạy ngược chạy xuôi ngoài chợ… Nếu Đức Giêsu là Chúa thì sao Người không săn sóc cho em con! Mọi người đều ngạc nhiên trước câu trả lời của bạn mình. Chẳng ai biết làm gì! Sau cùng, bà sơ lấy ra một túi nhỏ, tự mình bỏ vào đó vài đồng cắc và chuyền túi đó cho cả lớp, rồi trao cho em.

Qua hành động và chứng từ như thế, chúng ta sẽ làm chứng Đức Giêsu là ai, không chỉ bằng lời nói, cho dù đó là bản kinh Tin Kính, lời tuyên xưng của Hội Thánh; nhưng đó chính là những trải nghiệm của cuộc sống. Người đến để mời gọi chúng ta hy sinh, quan tâm, yêu thuơng và thỏa mãn các nhu cầu của nhau.

Nói đến hy sinh là phải nhớ đến từ bỏ. Đây không phải là việc làm dễ dàng. Từ bỏ một nết xấu, thói quen đã khó. Thế mà, trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su mời gọi chúng ta từ bỏ mình, vác Thánh giá rồi đi theo Người, có nghĩa là khi chọn đi trên con đường của Chúa là lúc chúng ta bị thế gian loại bỏ.

Ai trong chúng ta có thể làm đuợc điều đó! Chúa mới là cội nguồn của sự việc. Chúa làm trong chúng ta. Chúa không làm thay vì Người đã ban và muốn dùng chúng ta như những khí cụ để thể hiện uy quyền của Người. Đúng thế, người tín hữu, dù được gọi sống trong bậc nào, âm thầm nhỏ bé như hạt cải văng vãi ở một góc nào trong xứ đạo hay đứng đầu một địa phận hoặc ở một vị thế cao hơn thế nữa, v.v… Cuộc sống của người môn đệ phải là mục tiêu cho những người chung quanh đặt vấn đề và họ phải tìm kiếm câu trả lời. Có nghĩa là, cuộc sống của chúng ta, bao gồm từ lời nói đến việc làm, sẽ là một câu hỏi cho những người chung quanh. Họ phải tìm hiểu xem chân tướng của chúng ta là ai? Thế gian sẽ không biết Chúa, nhưng qua cuộc sống của chúng ta thế gian sẽ có câu trả lời Chúa là ai?

Chúa là Đấng cứu chuộc. Người đã ban ơn cứu độ cho chúng ta. Người đã hoàn tất ý định và chương trình của Cha, phần còn lại là của chúng ta. Hãy đón nhận Chúa và ơn cứu độ của Người vào trong cuộc sống để ơn cứu độ trở thành hiện thực. Và đây là chứng từ. Hy vọng bạn và tôi sẽ là những nhân vật trong câu chuyện sau:

Truyện kể về một người thanh niên có cuộc sống phóng đãng, đã phung phí tài sản của gia đình vào rượu chè, ma túy, phụ nữ, cờ bạc và lãng phí cuộc đời của mình. Các nhân viên cảnh sát trong vùng đều biết mặt anh ta. Mọi người trong xóm đều nghe và biết về những hành vi đồi trụy của anh. Thậm chí, cha anh cũng không muốn nhìn nhận anh. Chán nản vì bị xua đuổi nên anh chọn cuộc sống ly hương và hứa sẽ không bao giờ quay trở lại chốn cũ.

Ngày này qua tháng nọ. Thời gian cứ trôi và không ngừng để chờ đợi anh. Mọi người trong xóm ngõ, ngay cả cha anh cũng quên sự hiện diện của anh trên cõi đời này. Duy nhất chỉ còn một người không bao giờ quên anh, đó là mẹ anh. Tính từ ngày anh ra đi đến nay đã tròn hai năm, mẹ anh sống trong buồn chán và nhớ thương cho nên đã ảnh hưởng đến sức khỏe của bà. Bà vốn là một phụ nữ yếu đuối, lại thêm buồn chán cho nên càng ngày càng tiều tụy cho đến một ngày kia khi thấy sức khỏe yếu dần bà mới ngỏ ý với chồng là muốn gặp cậu con đang trôi dạt ngoài chợ đời lần sau cùng trước khi bà chết. Chồng bà miễn cưỡng nhận lời. Tuy không biết anh đang ở nơi nào, nhưng họ cố gắng nhờ các phương tiện truyền thông đại chúng kêu gào và nói lên ý nguyện của người mẹ. Bằng cách này và cách khác, người cha cuối cùng cũng nhắn được mẫu tin báo cho anh biết về tình trạng và ước mơ của mẹ anh.

Nhận được tin, cậu vội vàng về nhà và ngay lập tức chạy vội vào phòng ngủ của mẹ và bàng hoàng khi thấy hình ảnh và dáng vóc tiều tụy của mẹ. Anh không cầm được nước mắt, nhào vào ôm choàng lấy mẹ, nức nở nghẹn ngào, vừa khóc vừa nói: “Thưa mẹ, con thật đáng chết, vì con mà mẹ phải đau khổ đến dường này, chẳng còn dáng người nữa, thà mẹ đừng sinh ra con thì hơn.” Chờ cho anh nói xong, bà mới nhấc đầu anh dậy, ôn tồn và nói: “Mẹ không hề giận hờn con, mẹ cũng có lỗi vì để con sống đầu đường xó chợ. Mẹ chưa bao giờ trách con. Mẹ luôn tha thứ cho con. Mẹ yêu thương con vô ngần và mẹ biết rằng Chúa còn yêu thương, săn sóc và giữ gìn con giúp mẹ nữa.” Nghe đến đó, mắt anh bừng sáng lên nhìn mẹ không chớp mắt. Nhìn vào cặp mắt sáng long lanh đang chăm chú nhìn bà, người mẹ nhớ câu Chúa nói “Ta là sự sáng thế gian!” Sự sáng của Chúa chiếu soi từ đôi mắt anh và bà nhận ra có một sự thay đổi trong con người anh. Bà tin rằng, những gì bà cầu xin hay khấn nguyện cho anh, nay đã được Chúa nhận lời.

Ngay lúc đó, ba của anh bước vào phòng. Bà nhìn ông và nói: “Xin ông hay đón nhận và giúp con thay đổi. Em không còn sống được bao lâu nữa. Hãy giúp em làm cho con sống tốt hơn.” Ông bất đắc dĩ nhận lời vợ để bà yên tâm ra đi, nhưng trong thâm tâm ông biết rằng cậu con trời đánh của ông sẽ chẳng bao giờ giữ lời hứa, vì cậu đã hứa bao nhiêu lần trước đây mà nó có thay đổi đâu. Nhìn thấy thái độ của ông, bà đoán biết ý nghĩ của ông, nên âm thầm nói tiếp: “Trước đây con của chúng ta đã từng hứa, và nó đã từng thất hứa. Nhưng hôm nay, con đã gặp Chúa cho nên con chúng ta sẽ thay đổi. Anh hãy giúp em nhé.”

Nói xong bà cầm tay cậu con trai đặt vào lòng bàn tay của chồng bà và nhắm mắt lìa đời. Hai người đàn ông nắm chặt tay nhau và được gắn bó bởi tình yêu của họ dành cho người phụ nữ, người vợ và người mẹ này, và trong cái chết của bà, họ đã được Thiên Chúa hòa giải từ ngày đó.

Đó là truyện kể minh họa về sự tác động của Chúa nơi những kẻ tin.

Thật ra, Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta đã giao hòa thế gian với Người và mọi người với nhau. Thánh sử Gio-an đã loan báo rằng không ai có thể gặp gỡ Con của Ngài nếu Thiên Chúa không lôi kéo họ. Thật vậy, chúng ta được qui tụ lại với nhau trong Chúa Ki-tô, Đấng Cứu Độ trần gian để trở thành anh chị em, cùng một chi thể với Đức Ki-tô là đầu của chúng ta.

Bởi thế, khi tuyên xưng Đức Giê-su là Chúa, là đầu của thân thể, là Đức Ki-tô là lúc chúng ta đầu phục vị Chúa Tể, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ, được giao hòa với Chúa và trở thành anh chị em với nhau. Cầu xin Chúa ban cho chúng ta biết dùng cả cuộc sống để đáp trả lời chất vấn của Đức Giê-su: “Còn các con, các con bảo Thầy là ai?” Amen! mục lục

Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

CĂN TÍNH CỦA CHÚA GIÊSU

Bài Tin Mừng hôm nay (Mc 8:27-35) nói về căn tính, mục đích và sứ vụ của Chúa Giêsu. Đây là trọng điểm của Tin Mừng Máccô với phép lạ Chúa chữa sáng mắt người mù ở Bethsaida.

Phép lạ chữa sáng mắt này là cơ hội để Phêrô tuyên xưng niềm tin và nhớ lại khoảnh khắc huy hoàng lúc Chúa biến hình. Bản tính của Chúa Giêsu giờ đây đang từ từ biểu lộ cho các tông đồ. Sự “tối đạ” của các ông đã được chữa lành, nhưng các ông vẫn chưa hoàn toàn hiểu hết ý nghĩa những điều các ông trông thấy. Từ đó, Máccô đã dẫn đưa đến việc Chúa bị đóng đinh trên Thập giá, chủ đích của sứ vụ Thiên Chúa.

CÁC ANH NÓI THẦY LÀ AI?

Phải chăng đây là “khúc quanh” của sứ vụ công khai của Chúa Giêsu trong câu chuyện Máccô? Theo khảo cổ, vùng Caesarea Philippi nay gọi là Paneion (Paneas/Panias) tức thần Pan Hy Lạp. Ở đây bạo động, sắc dục càng phóng đãng, tung hoành, càng tỏ lộ sự tôn vinh thần Pan Hy Lạp lên cao.

Thời Chúa Giêsu, thờ ngẫu tượng rất phồn thịnh ở một đền thờ như vầy tại biên giới phía Bắc Israel và Syria dưới chân núi Hermon. Vùng Caesare Philippi là một phần của cuộc hành trình dài của Chúa Giêsu và các môn đệ từ những vùng quen thuộc lân cận.

Vùng Caesarea Philippi được lập nên bởi Philip, thuộc chi họ Hêrôđê. Thành này đã có lúc là trại lính của quân đội La Mã. Nơi đây chính là trung tâm thờ ngẫu tượng, thờ thần Hy Lạp Pan của dân ngoại. Chính tại đây Chúa Giêsu đã hỏi các môn đệ xem dân chúng biết gì về Người, coi hành động của Người thế nào, nghĩ Người là ai? Câu hỏi của Chúa đã khiến các ông nhớ lại những lời đồn đãi, bàn tán, những câu chuyện về Chúa Giêsu được trao đổi nơi dân chúng sống quanh vùng sông hồ, giữa đám thuyền chài dọc bờ biển Galilee. Chúa Giêsu đã biết phần nào những điều đó, nhất là thái độ xúc phạm của dân thành Nazareth, quê hương Người, nhưng Người vẫn hỏi.

Để trả lời Chúa, các môn đệ đã kê ra cả danh sách những danh hiệu mà dân chúng gán cho Chúa. Những danh hiệu này nói lên những mong đợi khác nhau của họ về Chúa Giêsu. Người nói Chúa là Elijah, đang gây dựng quyền lực. Người cho Chúa là một Jeremiah hùng mạnh, đang tập trung vào cuộc sống nội tâm.

Chúa Giêsu còn đi xa hơn và hỏi trực tiếp các ông: “Còn các anh nói thầy là ai?” Phêrô liền trả lời: “Thầy là Đức Kitô”, Thiên Chúa thật và duy nhất. Chúa Giêsu chấp nhận danh hiệu ấy, nhưng Người cấm các ông không được nói với bất cứ ai để tránh hiểu lầm hoặc lẫn lộn với ý nghĩa của danh hiệu này vào thời đó. Đoạn Chúa Giêsu tiếp tục nói một cách bóng bảy về mình, là Con Người sẽ phải chịu cực hình, bị chối bỏ, chết và sẽ sống lại.

ĐẤNG THIÊN SAI TRONG DO THÁI GIÁO

Phêrô nói Chúa là Đấng “Kitô”, tức Đấng “Thiên Sai”. Quan niệm về đấng Thiên Sai trong Do Thái Giáo không phải là một quan niệm đơn giản. Ý tưởng “Đấng Thiên Sai” tức người được xức dầu là một ông vua chính thống giòng dõi David. Nhưng ở thời kỳ Maccabae (163-63 B.C.) Phúc Âm Hy Lạp của 12 tổ phụ cho thấy người ta tin tưởng vào một Đấng Thiên Sai đến từ chi họ Levi, trong đó có gia đình Macabê. Các cảo bản biển chết cho thấy có nhiều ý tưởng khác nhau về chức thiên sai trong Israel như Thiên sai tư tế và Thiên sai giáo dân, một loại thiên sai/tiên tri như Môsê (Dnl 18:18-19) cũng là một ngôi sao sáng đến từ giòng Jacob (Ds 23:15-17); cũng có Thiên Sai David. Melchizedek cũng là một nhân vật giải phóng nhưng không gọi là Thiên Sai.

Tuyên xưng Chúa Giêsu là đấng Thiên Sai tức tuyên bố một trọng tội. Đó là cớ mà kẻ thù của Chúa đang chờ đợi để có lý do hại người. Đó là một tội mà nhiều kẻ ghét Chúa ghi thêm vào danh sách trọng tội để giết Chúa. Nhưng Người không thuộc loại thiên sai chính trị ấy.

SỨ VỤ CỦA CHÚA GIÊSU TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY

Phấn đấu để xác dịnh danh tính và sứ vụ Thiên Sai của Chúa Giêsu ngày nay vẫn còn phải được tiếp tục. Có người quan niệm mỗi Kitô hữu và toàn thể Giáo Hội phải là hình ảnh của Elijah, công khai đối đầu với những chế độ, định chế và luật lệ bất công. Đọc sách Các Vua 1 chương 17 và 21 sẽ thấy sức chịu đựng của Elijah. Bạo động thường không đem lại kết quả hòa bình và công lý, nhưng không có nghĩa là chẳng làm gì cả, cứ yên lặng chấp nhận bất công xã hội. Cần phải nói và hành động trong hòa bình để chống lại đàn áp bất công. Có người nói - theo kiểu Jeremiah - những chuyện đó không phải là việc của Giáo Hội, của tôn giáo. Tin, đúng ra là chuyện cá nhân nhưng nó không thể chỉ giữ kỹ cho riêng mình. Đức Tin phải biểu lộ qua lời nói và hành động, bằng không là đức tin chết (x. Gc 2:17; 1Ga 3:17). Đèn thắp sáng phải để trên đế cao hầu soi sáng cho cả nhà và đánh tan bóng tối, không ai lại để dưới gầm giường (x. Mt 5:15-16). Kiểu nói “Tôi không làm chính trị, tôi không biết ăn nói…” là trốn tránh trách nhiệm, hèn nhát, một hình thức chủ bại, tự lừa dối mình và ru ngủ người khác. 

Chúa Giêsu đã hỏi thẳng với các môn đệ: “Còn các anh, các anh gọi thầy là ai?” Phêrô đã trả lời Chúa: “Thầy là Đấng Kitô, Con Một Thiên Chúa”. Câu trả lời bùng ra một cách mạnh dạn và cương quyết, biểu lộ một quan niệm rõ ràng liên hệ đến cả hai ý tưởng trên, vượt qua cả chính con người các ông. Phêrô đã không trả lời: Thưa thầy, con không biết hoặc con không biết ăn nói… để né tránh, chạy trốn nhiệm vụ. Mục tử thì phải dấn thân vào với xã hội, cộng đồng và cả đời sống cá nhân từng người một cách toàn diện và trọn vẹn, cân bằng giữa công và tư, không nhập nhằng giữa trái và phải, giữa công lý / sự thật và tội ác / bất công. Câu Phêrô trả lời là thước đo giá trị của người môn đệ. Mỗi người tùy địa vị, khi đến vùng Caesare Philippi đều phải trả lời câu hỏi của Chúa Giêsu: “Còn ông bà /anh chị gọi thầy là ai?”

NHỮNG DỮ KIỆN THỰC TẾ VỀ CHÚA GIÊSU

Khi chúng ta tiếp tục trả lời câu hỏi của Chúa: “Các anh gọi Thầy là ai?” thì nên nhớ lại một số dữ kiện thực tế về giáo huấn, sinh hoạt, căn tính và sứ vụ của Chúa Giêsu, vì đó là nền tảng cho một Giáo Hội trong thế giới ngày nay, thế giới tân phúc âm hóa.

1* Chúa Giêsu sinh ra thuộc chi họ chính trị ở Judah, nhưng không phải chi họ tư tế Lêvi, cũng không thuộc gia đình tư tế Zaddok. Chúa không phải là một chính trị gia.

2* Tuy nhiên, Chúa Giêsu có một ý thức chính trị rất sắc bén. Sứ vụ trần gian của Chúa không phải là chuyện cá nhân của Chúa, biệt lập và không liên quan tới chính trị.

3* Chính Chúa Giêsu đã thiết lập trung tâm sứ vụ tại Capernaum chứ không phải ở Qumran trong sa mạc hay một làng xa xôi hẻo lánh cách biệt khỏi nơi đô hội. Capernaum ở phía Tây Bắc bờ biển Galilee có một sa lộ chính đông người qua lại, giao thông nhộn nhịp, có người thu thuế, có tiếp cận sinh hoạt với các quan đội trưởng La Mã. Chúa có mặt thường xuyên tại Capernaum chứ không ở Jerusalem.

4* Chúa luôn luôn gắn bó với những người dơ dáy cùi hủi, bệnh hoạn, hấp hối, với những kẻ tội lỗi, những người sống bên lề xã hội. Chúa đem công lý Phúc Âm áp dụng vào thực tế cuộc sống của Người để tuyên bố Tám Mối Phúc Thật. Nhân đức thực là phải có nối kết, liên hệ mật thiết với những kẻ bệnh hoạn, tật nguyền, những kẻ nghèo khó đói khổ. Nhưng Người cũng không quên những người khác. Người ngồi ăn với cả những kẻ giàu sang quyền thế lẫn những kẻ nghèo hèn bị áp bức. Người làm bạn với những kẻ tội lỗi và khốn cùng, nhưng không bao giờ đồng hóa với họ, trái lại người khuyên can họ thay đổi cách sống. Người dạy chúng ta phải “hòa đồng với dân, đồng lao cộng khổ với họ” để cải hóa họ. Đoàn kết thân thiện với những kẻ dơ dáy, bất chính và tội lỗi để cải hóa họ, cứu rỗi họ.

5* Chúa Giêsu không giảng dạy về vương quốc chính trị David mà là vương quốc Thiên Chúa. Người lôi cuốn mọi người đi theo viễn kiến của người về Nước Trời. Trong suốt 30 năm ở dương thế, Người chỉ cố gắng hoàn thành hy vọng của Israel. Tin Mừng của Người tối hậu vẫn là Tình Yêu. Không như nhiều người tưởng, Chúa Giêsu không phải là nhà cách mạng xã hội. Nhưng Người lột mặt nạ mọi bất công và đối đầu với chúng bằng tình thương. Người làm nổi bật cảnh bất công qua những dụ ngôn, không phải để kết án nhưng để nói lên cái nhiệt tình, chân thật và bển gan của những người công chính để làm gương cho những ai muốn sống vì tình thương. Cũng vậy, những kẻ sống trên bất công sẽ không làm lỗi nữa nếu họ nhận biết - qua Chúa Giêsu và những kẻ theo Người - hối cải là căn bản và cần thiết cho cuộc sống công bằng và công chính.

MÔN ĐỆ CHÚA GIÊSU Ở THỜI ĐẠI NGÀY NAY

Maccô đã kết thúc bài Tin Mừng bằng lời Chúa: “Ai muốn làm môn đệ của ta hãy từ bỏ mình, vác thánh giá mình và theo ta. Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, ai liều mất mạng sống mình vì ta và vì Tin Mừng thì sẽ cứu được mạng sống ấy.” (Mc 8:34-35).

Đây là một thách đố tối hậu cho những ai tin vào trách nhiệm đích thực của người môn đệ với những cam kết từ bỏ cá nhân mình, chấp nhận đau thương khổ ải và những bất trắc của Thánh Giá, và cả chính mạng sống mình. Con đường Thánh Giá không phải cho một mình Chúa Giêsu nhưng cho tất cả những ai đã một lần tuyên xưng quyết bước theo Chúa. Có thể có những thắng lợi vinh quang hứa hẹn ở trước mặt, nhưng chỉ cho những kẻ dám đứng thẳng, vác thánh giá mà đi. Nếu Phêrô hay ai đó từ chối đòi hỏi này, thì họ đứng về phía Satan. Bám vào cuộc sống trần gian, dựa vào sung sướng vinh quang vật chất mà chối bỏ Chúa Kitô thì mọi sự sẽ trở thành vô nghĩa. Nhưng sống trong đau khổ của Chúa Kitô - dù mạng sống cát bụi, vật chất có tan nát- nhưng sẽ có đời sống vĩnh cửu và vinh quang trọn vẹn.

Câu chuyện thời sự nóng bỏng dù đã xẩy ra từ hơn 7 năm nay những vẫn còn vang vọng mãi mãi. Bà Kim Davis là thư ký tòa án quận Rowan, tiểu bang Kentucky đã từ chối không cấp giấy hôn thú cho một cặp đồng tình luyến ái, lý do vì niềm tin tôn giáo, Thiên Chúa không muốn vậy. Bà không nghe lời Tòa án tối cao, vì tòa án không phải là Thiên Chúa. Bà đã bị bỏ tù, nhưng sau một tuần lễ vì áp lực dư luận, ngày 8-9-15 quan tòa buộc phải tha bà. Bà tuyên bố: “Tôi chỉ muốn vinh danh Thiên Chúa…. I just want to give God the glory. His people have rallied and you are strong people.”

Là người Công Giáo, mang danh ngoan đạo, chúng ta nghĩ sao? mục lục

Bs. Nguyễn Tiến Cảnh, MD

TIN VÀ BƯỚC THEO CHÚA KITÔ KHỔ NẠN

Dung mạo một Vì Thiên Chúa, Đấng Mêssia dưới dáng dấp của “Người Tôi Tớ đau khổ” như Isaia mô tả được cụ thể hóa nơi Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa làm người, chịu đau khổ, chịu đóng đanh, chết vì chúng ta và đã sống lại để cứu chuộc chúng ta.

Người Tôi Tớ đau khổ

Hình ảnh “Người Tôi Tớ đau khổ” bị chống đối: “Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu. Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ” (Is 50,6). Chịu đau đớn trong thân xác như: bị đánh vào lưng, bị giật râu, vừa đau lại vừa nhục (x. 2Sm 10,4), bị khạc nhổ vào mặt (x. Ds 12,14). Tất cả như báo trước về cuộc khổ nạn của Đức Giêsu Kitô, vị ngôn sứ thành Nagiarét phải mang lấy vào thân và hiện thực nơi Người.

Đức Giêsu Kitô chính là “Người Tôi Tớ khổ đau của Thiên Chúa”, chứ không ai khác. Người là Đấng Cứu Thế được Thiên Chúa tuyển chọn, tự nguyện gánh tội trần gian, dùng chính cái chết của mình làm lễ giao hòa, hầu muôn dân được ơn tha tội. 

Bước theo Đức Kitô khổ nạn và phục sinh

Vỗn dĩ là Thiên Chúa, Đức Giêsu đã chấp nhận đau khổ và cái chết, không có nghĩa là Người tìm kiếm đau khổ cho mình. Người chịu như thế là vì vâng phục Chúa Cha, để cứu chuộc chúng ta như Thánh Phaolô đã nói: “Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta đúng như lời Kinh Thánh” (1Cr 15,3). 

Suốt ba năm công khai đi rao giảng Tin Mừng Nước Trời, Đức Giêsu đã nhiều lần báo cho các môn đệ biết trước về số phận cứu thế của mình rằng “Con Người sẽ phải chịu đau khổ nhiều, sẽ bị các kỳ lão, các trưởng tế, các luật sĩ chối bỏ, và giết đi, rồi ngày thứ ba sẽ sống lại” (Mc 8,31-33). Lần khác khi tụ họp tại Galilêa, Đức Giêsu cũng tỏ cho họ biết: “Con Người sắp bị nộp vào tay người ta và họ sẽ giết Người. Khi đã bị giết, ngày thứ ba, Người sẽ sống lại” (Mc 9,30-32). Lúc sắp lên Giêrusalem, dọc đường Đức Giêsu nói riêng với Nhóm Mười Hai: “Này chúng ta lên Giêrusalem và Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và ký lục; người ta sẽ lên án tử hình cho Người và sẽ nộp Người cho dân ngoại, và người ta sẽ nhạo báng Người, khạc nhổ trên Người, đánh đòn Người và giết đi, và ba ngày sau Người sẽ sống lại” (Mc 10,32-34).

Tất cả những gì các ngôn sứ viết về Người Tôi Tớ đau khổ, Đức Giêsu sẽ là người thực hiện. Nhưng các môn đệ đâu có hiểu, vì họ cũng như tất cả những người Do Thái thời đó đang trông chờ một Đấng Cứu Thế chính trị, nổi lên lãnh đạo dân Do thái đánh đuổi đế quốc Roma, thống trị các dân nước và khôi phục vương quốc nhà Đavít. Đức Giêsu Kitô, Đấng hoàn toàn thánh thiện và vô tội, đã tự nguyện gánh lấy mọi tội lỗi của trần gian và chấp nhận cái chết bất công hổ nhục để cứu chuộc muôn người. Tại Giêrusalem, ngày lễ Ngũ Tuần, Phêrô được đầy ơn Chúa Thánh Thần đã công khai loan báo: “Theo kế hoạch Thiên Chúa đã định và biết trước, Đức Giêsu ấy đã bị nộp, và anh em đã dùng bàn tay kẻ dữ mà đóng đinh Người vào thập giá mà giết đi. Nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại, giải thoát Người khỏi những đau khổ của cái chết” (Cv 2,23-24). Đó là Tin Mừng và là đức tin Giáo Hội tiếp tục rao giảng cho muôn dân cho đến ngày tận thế.

Tin và thực hành

Tin Mừng hôm nay mô tả một hoàn cảnh đặc biệt. Phêrô, người đã tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô “là Ðức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mc 8,29). Liền sau đó, Đức Giêsu hé mở cho các môn ông hiểu rằng “Con Người sẽ phải chịu đau khổ nhiều, sẽ bị các kỳ lão, các trưởng tế, các luật sĩ chối bỏ, và giết đi, rồi sau ba ngày sẽ sống lại” (Mc 8, 31), làm đảo lộn tâm hồn ông, Phêrô nổi loạn. Không thế được, không thế được. Làm sao Ðấng Kitô lại có thể bị đau khổ cho tới chết được? Phêrô không chấp nhận con đường ấy, nên mới: “Kéo Người lui ra mà can trách Người” (Mc 8, 32).  Ý của Phêrô là, Con sẽ theo Thầy, nhưng đừng nói đến Thánh Giá! Ðiều này không có gì liên quan với nó. Con sẽ theo Thầy với các khả năng khác, mà không có Thánh Giá.

Ngỏ lời với Hồng y đoàn trước khi khai mào sứ vụ ngai tòa Phêrô, Đức Thánh Cha Phanxicô nói: “Khi chúng ta đi mà không có Thánh Giá, khi chúng ta xây dựng mà không có Thánh Giá, và khi chúng ta tuyên xưng Ðức Kitô mà không có Thánh Giá, chúng ta không phải là môn đệ của Chúa: chúng ta thuộc về thế gian, chúng ta là Giám Mục, Linh Mục, Hồng Y, Giáo Hoàng, nhưng không phải là môn đệ của Chúa”.

Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ: “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mà theo Ta. Quả thật, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất. Còn ai chịu mất mạng sống mình vì Ta và vì Phúc Âm, thì sẽ cứu được mạng sống mình” (Mc 8, 34). Ý muốn của Thiên Chúa là chấp nhận thập giá.

Thì ra con đường của các môn đệ là theo Chúa Giêsu, Ðấng bị đóng đinh. Con đường “chịu mất chính mình”, để tìm lại được chính mình, như Đức nguyên Giáo hoàng Benedictô XVI viết: con đường “chịu mất chính mình“, là điều cần thiết đối với con người, và nếu không có điều này, thì nó không thể tìm lại được chính mình” (Ðức Giêsu thành Nagiarét 2007, 333).

Ngày nay Chúa Giêsu cũng mời gọi chúng ta: “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mà theo Ta” (Mc 8, 34). Theo Chúa khi chấp nhận thập giá của mình với lòng yêu mến. Dưới con mắt thế gian, “chịu mất mạng sống” (Mc 8, 35) là một thất bại. Nhưng khi tự nguyện chấp nhận cái chết, Ðức Giêsu mang lấy thập giá của tất cả mọi người và trở thành suối nguồn ơn thánh cứu độ cho toàn dân.

Lạy Maria, Mẹ đã sống lòng tin bằng cách trung thành theo Chúa Giêsu Con Mẹ, xin giúp chúng con bước đi trên con đường của Chúa Giêsu bằng cách quảng đại xả thân cho Chúa và cho tha nhân. Amen. mục lục

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

THÁNH GIÁ VÀ CHÚNG TA

Trong Tin Mừng hôm nay (theo thánh Marcô), sau lời tuyên tín của thánh Phêrô: "Thầy là Đấng Kitô" và sau khi mạc khải mầu nhiệm thánh giá mà chính mình tự nguyện bước vào, Chúa Giêsu mời gọi tất cả mọi người: “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Ta. Quả thật, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất. Còn ai chịu mất mạng sống mình vì Ta và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống mình”.

Nói đến thánh giá là nói đến tình yêu: Tình yêu diệu vợi của Thiên Chúa đã làm phát sinh những kết quả vô cùng từ thánh giá.

Học lấy tình yêu của Thiên Chúa nơi thánh giá Chúa Kitô, chúng ta xác tín mạnh mẽ, chỉ một mình Thiên Chúa mới là Người Yêu đích thực của chúng ta. Nhờ Người Yêu và nhờ tình yêu có một không hai ấy, con đường thánh giá trở thành con đường đẹp, tinh tuyền, xóa hết những tội lỗi, những thù nghịch để chỉ còn lại một bầu trời dung thứ, bình an, thắng vượt, nghĩa ân. 

Chúa Kitô muôn đời trở nên vì Thiên Chúa gần gũi, sống động của con người. Thánh giá Chúa Kitô mãi mãi là cây thánh giá của ơn nâng đỡ, sớt chia, ủi an dành cho từng người chúng ta.

Biết bao nhiêu tâm hồn chìm trong tội, nhận ra bầu trời trong – mát – dịu của thánh giá, can đảm tách rời khỏi quá khứ tội lỗi, làm lại cuộc đời.

Biết bao nhiêu tâm hồn suốt đời chỉ chìm trong bạo lực đã nhìn lên bóng thánh giá mà rửa mình sạch mọi dơ bẩn để trở nên hiền hòa, đức độ.

Biết bao nhiêu con người đêm ngày ngụp lặt trong bất công, xảo kế, bỗng một lần nhìn lên thánh giá, đã quay lưng với tất cả lợi lộc từ những gian xảo mang lại, để biến mình thành môn đệ Chúa Kitô.

Biết bao nhiêu những tâm hồn lồng lộn dữ dằn như những con thú hoang, bỗng một lần khám phá ánh sáng yêu thương chiếu dọi từ thánh giá, đã trở nên hiền hòa, nhân hậu, đáng mến.

Biết bao nhiêu kẻ sống ích kỷ, đêm ngày chỉ biết tư lợi, bỗng một lần nhìn lên thánh giá, đã trở thành kẻ xả kỷ, biết hiến thân và hiến dâng.

Cũng vậy: Biết bao nhiêu tâm hồn bị đày ải, khổ đau, cuộc sống như chỉ còn muốn sống cho qua ngày, đoạn tháng, bỗng được tình yêu của thánh giá chiếu rọi, trở nên bình an hơn, chấp nhận trong vui tươi hơn.

Biết bao nhiêu kẻ tử tù, trên đường đi về cái chết, đã nhìn thấy thánh giá, và thánh giá bỗng trở nên sức mạnh khiến cuộc ra đi không còn đau đớn, chỉ còn là niềm tin chiến thắng.

Biết bao nhiêu anh chị em của chúng ta thầm lặng, hoặc công khai, giữa những lúc bị bách hại, vì thánh giá, bất chấp mọi đe dọa, đêm ngày rao giảng đức tin vào tình yêu kỳ diệu của thánh giá Chúa Kitô.

Biết bao nhiêu người, nhìn cứ tưởng yếu đuối, mỏng dòn, nhưng nhờ tin vào thánh giá Chúa Kitô, họ đã có sức mạnh phi thường vượt thắng mọi thách thức mà con người, hay hoàn cảnh, hay môi trường mang lại.

Biết bao nhiêu người nghèo khổ, bệnh tật, bị bỏ rơi…, vì thánh giá Chúa Kitô, đã có thể sống trung thành với đức tin mà không gợn một chút nghi nan, một chút u uất nào.

Biết bao nhiêu tâm hồn đầy chữ nghĩa, khoa bản, hiểu biết…, nhìn lên thánh giá, đã biết học lấy bài học của khiêm tốn, sống đơn sơ, thậm chí thô sơ với mọi anh chị em dù họ thấp kém, hay sang trọng.

Ngược lại, cũng có biết bao nhiêu tâm hồn, nhờ tình yêu đối với thánh giá, và đêm ngày chỉ biết suy tư cùng thánh giá, ôm lấy thánh giá trọn đời mình, dù họ là người kém cõi, ít hiểu biết, lại trở nên khôn ngoan, thấu hiểu những chân lý cao siêu lạ thường.

Biết bao nhiêu người suốt đời chỉ biết nhìn lên thánh giá, chọn thánh giá làm lẽ sống, vì thế đời họ luôn luôn sáng rực nụ cười và gieo nụ cười ấy khắp nơi.

Biết bao nhiêu người đã có thể trải lòng mình cho mọi người ở mọi nơi, mọi lúc, nhờ kiên định trong tình yêu đối với thánh giá Chúa Kitô.

Biết bao nhiêu người bước ra từ trong đau khổ, vẫn không mất niềm bình an, bởi họ đã tin vào thánh giá Chúa Kitô.

Nhìn thân xác quằn quại trên thánh giá, một thân xác không còn hình tượng người ta, khó có ai bảo rằng đó là “Con Người” đẹp nhất trần gian.

Nhưng quả thật, đó là “Con Người” đẹp nhất trần gian! 

Loài người chỉ có thể khám phá vẻ đẹp của “Con Người”, một khi họ nhìn Ngài bằng ánh mắt của tình yêu mà Ngài đã yêu, và vẫn yêu. 

Chúa Kitô, một tình yêu kiểu mẫu, một tình yêu rực sáng, một tình yêu dòi dọi, một tình yêu vĩnh cửu, một tình yêu đại lượng. 

Chúa Kitô là người đẹp nhất bởi vì Chúa đã yêu, vẫn yêu, yêu đến cùng, yêu cả khi không nhận được tình yêu từ người mình yêu, yêu càng mãnh liệt khi bị kẻ mình yêu khước từ, chống đối, giết chết. 

Chúa là người đẹp nhất bởi tình yêu nguyên tuyền, không một chút phai, không một chút nhạt, không một chút suy suyển, dẫu Chúa chỉ nhận được những cuồng nộ, những bạo lực.

Chúa là người đẹp nhất, bởi tình yêu của Chúa đứng trên tất cả mọi tình yêu. Tình yêu của Chúa còn đứng trên cả sự tàn ác, hung bạo của những kẻ mình yêu.

Mãnh lực của tình yêu Giêsu Kitô vừa lạ lùng, vừa cuốn hút, vừa êm đềm, vừa mạnh mẽ. 

Tất cả chúng ta hãy sống, hãy tỉnh thức mà khám phá tình yêu quá đỗi ấy. Hãy bắt chước Chúa mà yêu đến cùng, yêu đến hy sinh, yêu đến mất mạng sống… cho tất cả mọi anh chị em mà Chúa dạy chúng ta phải yêu.

“Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác Thập giá mình mà theo Ta”. Đó là lời mời gọi Chúa Kitô dành cho những kẻ muốn tiếp bước đi theo Ngài, để họ nhận ra điều kiện tiên quyết là phải hy sinh. Hy sinh là chữ đầu tiên mà ta có thể sống để tháp nhập mình vào thánh giá Chúa Kitô. 

Hãy để thánh giá Chúa sống trong đời ta. Thánh giá sẽ nhắc ta trong mọi chiều kích của cuộc đời rằng: LẼ SỐNG CỦA CHÚNG TA LÀ CHÍNH CHÚA GIÊSU KITÔ. mục lục

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

ĐỨC TIN CÓ HÀNH ĐỘNG BẰNG ĐỨC TIN SỐNG ĐỘNG

Trong bài đọc hai của Chúa Nhật hôm nay, Thánh Giacô-bê Tông Đồ khẳng định rằng những ai có đức tin mà không hành động theo đức tin, thì sẽ chẳng được cứu rỗi, bởi vì đức tin không có hành động, thì chỉ là đức tin chết. Nhưng những hành động của đức tin là những hành động gì? Thưa những hành động biểu lộ một niềm tin sống động thì nhiều vô vàn vô số. Nhưng theo tôi, để có một đức tin sống động, bạn và tôi cần phải chú ý đến ít là ba điều quan trọng sau đây:

THỨ NHẤT, PHẢI ĐẶT THIÊN CHÚA LÊN TRÊN HẾT MỌI SỰ: “Ngươi phải yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi” (Mc12:30).

- Buổi sáng khi thức giấc, tôi nhớ ngay tới Chúa, tạ ơn Ngài, xin Ngài gìn giữ, che chở, ban bình an và chúc lành cho một ngày mới.

- Khi vui, lúc buồn, những lúc thành công và cả khi thất bại, hoặc trước khi làm một quyết định dù lớn hay nhỏ, tôi lập tức cầu nguyện với Chúa, chúc tụng và tạ ơn Ngài, xin Ngài soi sáng, hướng dẫn và xin ơn trợ giúp.

- Siêng năng tham dự thánh lễ, nhất là các thánh lễ Chúa Nhật, không bao giờ coi công việc làm, hay những thú vui, hoặc đồng tiền trọng hơn là việc đến thờ phượng và tạ ơn Chúa trong và qua thánh lễ.

- Thường xuyên đi xưng tội và rước lễ, bởi vì đây là việc làm biểu lộ niềm tin vào bí tích Hòa Giải và Bí Tích Thánh Thể.

THỨ HAI, PHẢI TÔN TRỌNG & BÊNH VỰC NHÂN PHẨM CỦA TẤT CẢ MỌI NGƯỜI: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ” (St 1:27).

- Không coi trọng người giàu, không khinh rẻ người nghèo, kẻ tàn tật, những người kém may mắn, không kỳ thị người khác màu da, khác văn hóa, bất đồng ngôn ngữ…bởi vì tất cả mọi người trên trái đất nàyđều được Thiên Chúa tạo dựng nên theo giống hình ảnh của Ngài (GLTYCG # 63).

- Tích cực tham gia, ủng hộ bằng vật chất cũng như tinh thần cho phong trào bảo vệ sự sống, ví dụ như trợ giúp tài chánh, đến cầu nguyện, lần Chuỗi Mân Côi… tại những trung tâm phá thai.

- Đi bầu, bỏ phiếu chống lại dự luật dùng tiền thuế của nhân dân để chi cho những việc phá thai.

- Phản đối và chống lại những dự luật hôn nhân đồng tính, trợ tử, tử hình, dùng phôi thai của người để thí nghiệm …

THỨ BA, PHẢI RỘNG RÃI, QUẢNG ĐẠI TRONG VIỆC CHIA SẺ & CHO ĐI. “Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy” (Mt 10:8b).

- Đến thăm những người yếu đau bệnh tật, bị lao tù, những người sống trong cô đơn, hiu quạnh…

- Tham gia vào các Ca Đoàn, Ban Ẩm Thực, Ban An Ninh, Ban Trang Trí, Ban Thăm Viếng Bệnh Nhân…

- Bạn đã từng đi tu, nói lưu loát tiếng Việt và tiếng Anh, đã được học Kinh Thánh, Giáo Lý, Lịch Sử Giáo Hội… xin hãy đến giúp cho chương trình Giáo Lý & Việt Ngữ nơi bạn sinh hoạt.

- Biết dọn dẹp, lau chùi, làm vệ sinh, có khiếu sắp xếp gọn gàng nhà cửa, biết cắt cỏ, tỉa cây…hãy đến giúp cho Giáo xứ để Giáo xứ được sạch sẽ, gọn gàng, và ngăn nắp.

Chúng ta cầu nguyện cho nhau, để bạn và tôi ghi nhớ lời của Thánh Gioa-an đừng bao giờ yêu thương ai nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng yêu thương một cách chân thật và bằng những việc làm thật thiết thực và cụ thể. Nhờ những hành động bác ái xuất phát từ niềm tin sống động ấy, trong ngày sau hết, bạn và tôi sẽ được đứng ở bên hữu của Vua Giê-su và nghe Ngài phán rằng: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa.Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han" (Mt 25:34-36). Tôi tin chắc như vậy! mục lục

Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

KHÓ LẮM KHÔN NHIỀU

[Niệm ý Mc 8:27-35 ≈ Mt 16:21-28; Lc 9:23-27]

Phê-rô tuyên tín rạch ròi
Con Đức Chúa Trời là chính Thầy đây
Tuyên xưng thật đúng, rất hay
Ngôi Hai Thiên Chúa là Thầy Giê-su
Nhưng khi thấy Chúa nói ra
Rằng Ngài sẽ chết, người ta giết Ngài
Phê-rô can gián Thầy ngay
Ngài liền quở trách là loài Sa-tan
Chẳng sâu ý nghĩ phàm nhân
Nghĩa là ý cạn, nghĩ gần, chẳng xa
Đầu to mà óc trái nho
Nên không thể hiểu sâu xa ý Ngài
Nói dai, ý dại, lời dài
Xin Thầy tha thứ, từ nay xin chừa
Thầy đâu làm chính trị gì
Chỉ mong nhân loại tự do, an bình
Yêu thương nhau, sống nghĩa tình
Hôm nay thương khó, phục sinh mai ngày
Nên khôn vì đã lầm sai
Khôn nhờ gặp khó, khéo xoay hơn nhiều. 
mục lục

Viễn Dzu Tử

THẦY LÀ ĐẤNG KI TÔ

(Cảm nhận và suy niệm từ Mc 8,27-35)

Trên đường công tác hướng linh
Chúa cùng môn đệ trong tình mến thương
Bỗng nhiên, Chúa hỏi giữa đường
Người ta đoán, bảoThầy thường là ai?
Thưa rằng: họ bảo là Ngài
Êlia cao trọng sống đời tiên tri
Chúa rằng chớ có hoài nghi
Luôn luôn vững dạ điều gì chẳng sai.
Các con bảo Thầy là ai?
Phêrô vội đáp: Thiên Sai cứu đời.
Chúa rằng: Hãy giữ lấy lời
Niềm tin giữ kín tới hồi thực thi.
Ngày kia Thầy bị khinh khi
Quan dân hành hạ, chết đi cứu đời
Ba ngày sống lại thảnh thơi
Thầy về nguyên vị Chúa Trời Ngôi Hai.
Nghe lời tuyên bố công khai
Phêrô kéo Chúa ra ngoài, trách luôn
Chúa rằng: chớ có khoe khôn
Satan nào biết việc hồn Cha sai.
Sau khi có cả đám người
Chúa lên tiếng dạy cho đời thiện nhân
Ai theo Ta, phải hiến thân 
Vai mang thập giá, đường trần coi khinh.
Muốn mình cứu sống đời mình
Hy sinh mạng sống, trung thành theo Ta
Theo Ta, nguồn sống chan hoà
Bình an vĩnh cửu: Nước Cha trên Trời… mục lục

(Thế Kiên Dominic)

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan