Bài giáo lý về Thánh Giuse: Thánh Giuse quan thầy Giáo hội hoàn vũ

18-11-2021 1,313 lượt xem

Bài Giáo lý hằng tuần của Đức Thánh Cha Phanxicô

Mục Lục

Bài 12: Thánh Giuse quan thầy Giáo hội hoàn vũ

Bài 11. Thánh Giuse bảo trợ kẻ chết lành

Bài 10: Thánh Giuse và sự hiệp thông của các thánh

Bài 9. Thánh Giuse, người của “giấc mộng”

Bài 8: Thánh Giuse, người cha hiền dịu

Bài 7: Thánh Giuse, người thợ mộc

Bài 6: Thánh Giuse, cha nuôi của Chúa Giêsu

Bài 5: Thánh Giuse, Di dân bị Bách hại và Can đảm

Bài 4: Thánh Giuse, con người thinh lặng

Bài 3: Giuse người công chính và là hôn phu của Đức Maria

Bài 2: Thánh Cả Giuse trong lịch sử cứu độ

Bài 1: Thánh Giuse và môi trường Ngài sống

Bài 12. Thánh Giuse quan thầy Giáo hội hoàn vũ

+ ĐTC. Phanxicô

Trong bài giáo lý cuối cùng về Thánh Giuse, sáng thứ Tư ngày 16/02/2022, Đức Giáo hoàng Phanxicô giải thích tước hiệu "Thánh Giuse quan thầy của Giáo hội". Việc Thánh Giuse có nhiệm vụ bảo vệ Chúa Giêsu và Mẹ Maria là sự kiện nổi bật. Thiên Chúa đã trao cho Thánh Giuse, như đã thực hiện với Đức Maria, qua đó Thiên Chúa đã nhìn thấy nơi ngài một người chồng yêu thương và kính trọng, luôn chăm sóc Mẹ và Hài Nhi. Theo nghĩa này “Thánh Giuse không thể không là người bảo vệ của Giáo hội, bởi vì Giáo hội là Nhiệm thể nối dài của Chúa Kitô trong lịch sử.

Anh chị em thân mến,

Hôm nay chúng ta kết thúc loạt bài giáo lý về Thánh Giuse. Những bài giáo lý này bổ sung cho Tông thư Patris Corde, được viết nhân kỷ niệm 150 năm, ngày Chân phước Piô IX tuyên bố Thánh Giuse là quan thầy của Giáo hội Công giáo. Nhưng tước hiệu này có ý nghĩa như thế nào? Thánh Giuse là “quan thầy Giáo hội” nghĩa là làm sao? Hôm nay tôi muốn cùng anh chị em suy tư về vấn đề này.

Trong trường hợp này các Tin mừng cung cấp cho chúng ta chìa khóa để đọc chính xác hơn những tước hiệu trên. Thực ra, ở cuối mỗi biến cố chúng ta thấy Thánh Giuse như là nhân vật chính, Tin mừng ghi nhận việc ngài mang Hài Nhi và Mẹ của Người đi theo và thực hiện điều mà Thiên Chúa đã truyền lệnh cho ngài (x. Mt 1,24; 2,14.21). Cho nên, việc Thánh Giuse có nhiệm vụ bảo vệ Chúa Giêsu và Mẹ Maria là sự kiện nổi bật. Ngài là người bảo vệ chính của các đấng: “thật vậy, Chúa Giêsu và Đức Maria là kho tàng quý giá nhất của đức tin chúng ta” (Tông thư Patris corde, 5), và kho tàng này được Thánh Giuse gìn giữ.

Trong kế hoạch cứu rỗi người Con không thể tách rời khỏi Mẹ, khỏi đấng “đang tiến bước trong cuộc lữ hành đức tin và trung thành lưu giữ sự kết hợp của mình với Con cho đến trên thập giá” (LG, 58), như Công đồng Vatican II đã nhắc nhở chúng ta.

Theo một nghĩa nào đó, Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Giuse là tế bào nguyên thủy của Giáo hội. Chúa Giêsu vừa là Người vừa là Thiên Chúa, Đức Maria là đồ đệ đầu tiên và là Mẹ; và Thánh Giuse là người bảo vệ. Cả chúng ta nữa “chúng ta luôn phải tự hỏi mình, liệu chúng ta có dùng hết sức lực để bảo vệ Chúa Giêsu và Mẹ Maria, những người được giao phó cách mầu nhiệm cho trách nhiệm chăm sóc và bảo vệ của chúng ta không” (Patris corde, 5). Ở đây có một dấu vết rất tuyệt vời của ơn gọi kitô hữu: đó là bảo vệ. Bảo vệ sự sống, bảo vệ sự phát triển nhân loại, bảo vệ khối óc và con tim con người, bảo vệ công việc con người. Chúng ta có thể nói rằng, người tín hữu giống như Thánh Giuse: phải bảo vệ. Là người kitô hữu không chỉ lãnh nhận đức tin, tuyên xưng đức tin mà còn bảo vệ sự sống, sự sống của chính mình, của người khác, sự sống của Giáo hội. Con của Đấng Tối Cao đã xuống trần gian trong thân phận của người yếu đuối nhất: Chúa Giêsu đã sinh ra như vậy, rất nhỏ bé, yếu đuối. Ngài cũng cần được bảo vệ, che chở, chăm sóc. Thiên Chúa đã trao cho Thánh Giuse, như đã thực hiện với Đức Maria, qua đó Thiên Chúa đã nhìn thấy nơi ngài một người chồng yêu thương và kính trọng, luôn chăm sóc Mẹ và Hài Nhi. Theo nghĩa này “Thánh Giuse không thể không là người bảo vệ của Giáo hội, bởi vì Giáo hội là Nhiệm thể nối dài của Chúa Kitô trong lịch sử và đồng thời trong tư cách làm mẹ Giáo hội đã phác họa tình mẫu tử của Đức Maria. Thánh Giuse vẫn tiếp tục bảo vệ Giáo hội, tiếp tục bảo vệ Hài Nhi và Mẹ của Người, và cả chúng ta nữa, khi yêu mến Giáo hội là chúng ta tiếp tục yêu mến Hài nhi Giêsu và mẹ Người” (Patris corde số 5).

Hài Nhi này là Đấng sẽ nói: “mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40). Vì thế, những người đói khát, ngoại kiều, người di cư, không quần áo, đau yếu, tù đày là “Hài Nhi” mà Thánh Giuse chăm sóc. Chúng ta được mời gọi để chăm sóc những người này, là anh chị em của chúng ta, như Thánh Giuse đã làm. Cho nên, Thánh Giuse được khẩn cầu như người bảo vệ cho tất cả mọi người túng thiếu, lưu vong, đau khổ và thậm chí những người sắp qua đời – như đã nói trong bài giáo lý thứ tư tuần trước. Và chúng ta cũng phải học từ Thánh Giuse để “bảo vệ” những tài sản này: yêu mến Hài Nhi và Mẹ của Người; yêu mến các Bí tích và dân của Thiên Chúa; yêu mến những người nghèo và giáo xứ của chúng ta. Mỗi thực tại này luôn là Hài Nhi và Mẹ của Người (x. Patris corde, số 5). Chúng ta phải bảo vệ, vì qua điều này chúng ta bảo vệ Chúa Giêsu, như Thánh Giuse đã làm.

Thời đại ngày nay, người ta chỉ trích Giáo hội, nhấn mạnh những điểm mâu thuẫn của nó - có rất nhiều -, đó là chuyện thường tình, nhấn mạnh những tội lỗi, mà trong thực tế đó là những mâu thuẫn của chúng ta, những tội lỗi của chúng ta, bởi vì từ lâu Giáo hội đã là dân tội lỗi, gặp được lòng thương xót của Thiên Chúa. Chúng ta hãy tự hỏi lòng mình, chúng ta có yêu mến Giáo hội như Giáo hội là không. Dân Thiên Chúa trong cuộc lữ hành với nhiều giới hạn, nhưng cũng với khát khao phục vụ và yêu mến Thiên Chúa. Thật vậy, chỉ có tình yêu mới đem lại cho chúng ta khả năng nói lên sự thật toàn vẹn, bằng cách không thiên vị; nói ra những điều không đúng, nhưng cũng để nhận ra tất cả những gì tốt lành và thánh thiện đang hiện hữu trong Giáo hội, bắt đầu từ Chúa Giêsu và Mẹ Maria.

Yêu mến Giáo hội, bảo vệ Giáo hội và cùng bước đi với Giáo hội. Nhưng Giáo hội không phải là một nhóm nhỏ gần gũi với linh mục và điều khiển tất cả mọi người. Không! Giáo hội gồm tất cả chúng ta, tất cả mọi người.

Trên cuộc hành trình, hãy bảo vệ lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau. Sau đây là một câu hỏi hay: Khi tôi có vấn đề với ai đó, tôi cố gắng bảo vệ người đó hay lập tức tôi lên án họ, nói xấu họ, hủy diệt họ? Chúng ta phải luôn bảo vệ!

Anh chị em thân mến, tôi khuyến khích anh chị em hãy nài xin sự chuyển cầu của Thánh Giuse trong những lúc khó khăn nhất của cuộc đời mình và cộng đoàn của mình.

Ở nơi mà mọi lỗi lầm của chúng ta trở thành gương mù, chúng ta hãy xin Thánh Giuse lòng can đảm để thực thi chân lý, để cầu xin sự tha thứ và để khiêm tốn bắt đầu lại.

Ở nơi mà sự bách hại ngăn cản việc loan báo Tin mừng, chúng ta hãy cầu xin Thánh Giuse ban thêm sức mạnh, sự kiên nhẫn để có thể chịu đựng sự hành hạ và đau khổ vì tình yêu Tin Mừng.

Ở nơi thiếu thốn phương tiện vật chất và nhân lực khiến cho chúng ta cảm thấy nghèo khó, nhất là khi chúng ta được kêu mời phục vụ cho người yếu hèn nhất, không được bảo vệ, cho kẻ mồ côi, cho người đau yếu, người bị bỏ rơi trong xã hội, chúng ta hãy cầu nguyện với Thánh Giuse để ngài trở thành sự Quan Phòng cho chúng ta. Biết bao nhiêu vị thánh đã hướng về ngài! Trong lịch sử của Giáo hội, biết bao nhiêu người đã tìm đến ngài như một vị thánh quan thầy, một người bảo vệ, một người cha.

Chúng ta hãy bắt chước họ, và vì vậy, tất cả chúng ta, hôm nay cùng cầu nguyện; chúng ta nguyện xin Thánh Giuse bằng lời kinh mà tôi đề nghị ở cuối Tông thư Patris corde, bằng cách phó dâng cho ngài những ý định của chúng ta, cách đặc biệt là Giáo Hội đang đau khổ và đang bị thử thách. Và bây giờ, anh chị em đã có trong tay kinh này bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, tôi nghĩ là có bốn ngôn ngữ, và tôi tin rằng nó cũng sẽ được chiếu trên màn hình để đọc chung, mỗi người bằng ngôn ngữ của mình, có thể cầu nguyện với Thánh Giuse.

Kính chào Đấng Gìn giữ Đấng Cứu Thế,

Bạn hôn phu của Đức Trinh Nữ Maria.
Chúa đã trao Con Một của Chúa cho ngài;
Mẹ Maria đã tin tưởng vào ngài;
Chúa Kitô đã lớn lên thành người cùng với ngài.
Lạy Thánh Giuse diễm phúc,
xin cũng hãy tỏ ra ngài là cha của chúng con
và hướng dẫn chúng con đi trên đường đời.
Xin giúp chúng con đón nhận ân sủng, lòng thương xót và lòng can đảm,
và xin bảo vệ chúng con khỏi mọi sự dữ. Amen.
mục lục.

Bài 11: Thánh Giuse bảo trợ kẻ chết lành

+ ĐTC. Phanxicô

Anh chị em thân mến,

Được thêm khích lệ từ hình ảnh của Thánh Giuse, trong bài giáo lý trước chúng ta đã suy tư về ý nghĩa sự hiệp thông của các thánh. Và bắt đầu từ đó, hôm nay tôi muốn đào sâu lòng sùng mến đặc biệt mà người kitô hữu luôn dành cho Thánh Giuse như vị bảo trợ kẻ chết lành. Một lòng sùng mến nảy sinh từ suy nghĩ rằng Thánh Giuse đã chết với sự giúp đỡ của Đức Trinh nữ Maria và của Chúa Giêsu trước khi Chúa rời khỏi gia đình Nazarét. Không có nhiều sử liệu, nhưng vì chúng ta không nhìn thấy Thánh Giuse trong cuộc sống công khai nên người ta cho rằng ngài đã chết ở Nazarét, cùng với gia đình của mình. Chúa Giêsu và Đức Maria cùng ở bên cạnh ngài cho đến lúc qua đời.

Một thế kỷ trước, Đức Bênêđíctô XV đã viết rằng: “Qua Thánh Giuse, chúng ta trực tiếp đến với Mẹ Maria, và nhờ Mẹ Maria, chúng ta hướng đến cội nguồn của mọi sự thánh thiện là Chúa Giêsu”. Thánh Giuse và Mẹ Maria giúp chúng ta đến với Chúa Giêsu. Khi cổ vũ các thực hành đạo đức để tôn vinh Thánh Giuse, Đức Bênêđictô XV đặc biệt đề nghị một điều và ngài nói như sau: “Bởi vì Thánh Giuse xứng đáng được coi như người bảo vệ hữu hiệu nhất cho những người hấp hối, đã trút hơi thở trước sự hiện diện của Chúa Giêsu và Đức Maria, nên mối quan tâm của các Mục tử thiêng liêng sẽ khắc ghi và ưu ái [...] các hiệp hội đạo đức đã được thành lập để cầu xin Thánh Giuse nâng đỡ những người hấp hối, chẳng hạn như hội “người chết lành”, hội “qua đời của thánh Giuse” và hội cầu cho “những người hấp hối” (Tự sắc Bonum sane , 25 tháng 7 năm 1920): là những hiệp hội thời bấy giờ.

Anh chị em thân mến, có thể một số người nghĩ rằng ngôn ngữ này và chủ đề này chỉ là di sản của quá khứ, nhưng thực ra mối tương quan của chúng ta với cái chết không bao giờ là quá khứ cả, nó luôn là hiện tại. Vài ngày trước đây, khi nói về bản thân, Đức Giáo hoàng Bênêđictô nói rằng ngài “đang đứng trước cánh cửa tối tăm của sự chết”. Chân thành cám ơn Đức Thánh cha Bênêđictô, ở tuổi 95 còn sáng suốt để nói cho chúng ta biết điều này: “Tôi đang ở trước sự khó hiểu của cái chết, ở trước cánh cổng tối tăm của sự chết”. Một lời khuyên tuyệt vời ngài đã để lại cho chúng ta.

Cái gọi là văn hóa “an lạc” đang tìm cách xóa bỏ thực tại về cái chết, nhưng đại dịch coronavirus đã đưa nó nổi bật trở lại cách bi thương. Thật sự khủng khiếp: cái chết ở khắp mọi nơi và rất nhiều người đã mất đi người thân yêu mà không thể ở cạnh họ, và điều này khiến cái chết càng khó chấp nhận được và khó xử lý hơn. Một cô y tá nói với tôi rằng, có một cụ bà sắp chết vì bị covid đã nói với cô ta rằng: “Tôi muốn từ biệt người thân của tôi trước khi ra đi”. Và cô y tá dũng cảm, đã lấy điện thoại ra để liên lạc với họ. Một sự dịu dàng cho lời từ biệt đó.

Tuy nhiên, mặc dù người ta cố gắng bằng mọi cách để loại bỏ suy nghĩ về tính hữu hạn của chúng ta, tự dối lòng khi tin rằng chúng ta có thể loại bỏ quyền lực sự chết và xua tan nỗi sợ hãi. Nhưng niềm tin Kitô giáo không phải là cách để xua đuổi nỗi sợ chết, mà nó giúp chúng ta đối mặt với sự chết. Trước hay sau rồi tất cả chúng ta đều đi đến cánh cửa sự chết.

Ánh sáng đích thực soi sáng cho mầu nhiệm sự chết đến từ sự phục sinh của Chúa Kitô. Đây là ánh sáng. Và Thánh Phaolô viết: “Giờ đây nếu chúng tôi rao giảng rằng Đức Kitô đã từ cõi chết trỗi dậy, thì sao trong anh em có người lại nói: không có chuyện kẻ chết sống lại? Nếu kẻ chết không sống lại, thì Đức Kitô đã không trỗi dậy. Mà nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng”( 1Cr 15 , 12-14). Có một điều chắc chắn: Chúa Kitô đã phục sinh, Chúa Kitô đã sống lại, Chúa Kitô đang sống giữa chúng ta. Và đây là ánh sáng đang chờ đợi chúng ta phía sau cánh cửa tối tăm của sự chết.

Anh chị em thân mến, nhờ đức tin vào sự sống lại mà chúng ta có thể đối mặt với vực thẳm của sự chết mà không bị choáng ngợp bởi nỗi sợ hãi. Không chỉ vậy: chúng ta có thể trả lại cho cái chết một vai trò tích cực. Thật vậy, khi nghĩ về cái chết, được soi sáng bởi mầu nhiệm Chúa Kitô, giúp chúng ta nhìn toàn bộ cuộc sống dưới cái nhìn mới. Tôi chưa bao giờ thấy một chiếc xe tải dọn nhà đi sau một chiếc xe tang! Đằng sau chiếc xe tang tôi chưa bao giờ nhìn thấy nó. Chúng ta sẽ đến đó một mình, không có gì trong túi vải liệm của chúng ta: không có gì. Bởi vì tấm vải liệm không có cái túi nào. Sự đơn độc này nơi cái chết là có thật. Tôi chưa bao giờ thấy đi sau chiếc xe tang là xe tải dọn nhà. Gom góp rồi chẳng được gì nếu một ngày chúng ta chết. Điều mà chúng ta phải gom góp đó là đức ái, khả năng biết chia sẻ, khả năng không thờ ơ trước những nhu cầu của người khác. Hoặc tranh cãi với anh chị em, với bạn bè với người thân trong gia đình, với anh chị em đồng đạo thì có ích gì nếu một ngày chúng ta không còn nữa? Nổi nóng, giận dữ với người khác nào có ích chi. Đứng trước cái chết nhiều vấn đề được chỉnh đốn lại. Thật tuyệt vời khi chết mà được hòa giải, không còn hận thù, không còn hối tiếc. Tôi muốn nói lên sự thật đó là: tất cả chúng ta đều đang tiến về cánh cửa đó.

Tin Mừng cho chúng ta biết rằng cái chết đến như kẻ trộm, vì vậy Chúa Giêsu nói: nó đến như kẻ trộm, và dù chúng ta cố gắng kiểm soát nó bao nhiêu đi nữa thì có lẽ cần phải lên kế hoạch cho chính cái chết của mình, nó vẫn là một sự kiện mà chúng ta phải tính đến và đứng trước nó chúng ta phải đưa ra những chọn lựa.

Có hai điều cần cân nhắc đối với chúng ta là những người tín hữu.

Trước hết, chúng ta không thể thoát khỏi cái chết, và vì thế, sau khi đã làm mọi cách có thể để chữa trị cho người bệnh, rõ ràng theo đuổi việc chữa trị vô ích trở nên trái đạo đức (x. GLCG số 2278). Câu nói của người tín hữu, của những người đơn sơ: “Hãy để họ ra đi trong bình an”, “hãy giúp họ chết bình an”: thật sự khôn khéo.

Cân nhắc thứ hai liên quan đến phẩm chất của chính cái chết, của nỗi đau và đau khổ. Thật ra, chúng ta phải biết ơn mọi trợ giúp mà nền y học đang cố gắng đem lại, để qua điều được gọi là “giúp giảm đau đớn”, mỗi người đang ở giai đoạn cuối đời có thể làm như vậy theo cách nhân đạo hết sức có thể. Tuy nhiên, chúng ta phải hết sức cẩn thận để không nhầm lẫn sự trợ giúp này với những chuyển hóa không thể chấp nhận được khi nó dẫn đến việc giết người. Chúng ta phải đồng hành cùng cái chết, nhưng không được gây ra cái chết hoặc trợ tử dưới bất kỳ hình thức nào.

Tôi nhắc lại, quyền được quan tâm và chăm sóc dành cho tất cả mọi người luôn là đặc quyền, để nhờ đó những người yếu đuối nhất, đặc biệt những người già yếu và bệnh đau không bao giờ bị loại bỏ. Sự sống là một quyền, chứ không phải chết, là thứ phải được đón nhận chứ không phải thứ được ban phát. Nguyên tắc đạo đức này liên quan đến tất cả mọi người, không phải chỉ dành cho người kitô hữu.

Tôi muốn nhấn mạnh ở đây một vấn đề xã hội, nhưng có thực. Đó là “kế hoạch hóa” – tôi không biết phải dùng từ nào cho đúng – nhưng lại làm tăng nhanh cái chết cho những người già. Nhiều khi người ta thấy trong một tầng lớp xã hội nhất định, người già vì không có phương tiện, được cấp ít thuốc hơn mức họ cần, điều này thật vô nhân đạo: nó không giúp ích được gì cho họ mà còn đẩy họ vào chỗ chết nhiều hơn, mau hơn. Đây không phải là nhân đạo, không là kitô hữu. Người cao tuổi phải được chăm sóc như một báu vật của nhân loại. Họ là sự khôn ngoan của chúng ta. Ngay cả khi họ không nói, và nếu họ không còn ý nghĩa gì nữa thì họ vẫn là biểu tượng khôn ngoan của nhân loại. Họ là những người đi trước chúng ta và đã để lại cho chúng ta biết bao điều tốt đẹp, biết bao kỷ niệm và khôn ngoan. Làm ơn đừng cách ly người già, đừng đẩy nhanh sự chết cho người già. Ôm ấp một người già cũng có niềm hy vọng giống như ôm ấp một đứa trẻ, bởi vì khởi đầu và kết thúc cuộc sống luôn là một mầu nhiệm, cần được trân trọng, đồng hành, chăm sóc và yêu thương.

Xin Thánh Cả Giuse giúp chúng ta biết sống mầu nhiệm sự chết cách tốt nhất có thể. Đối với người tín hữu, chết lành là một kinh nghiệm của lòng thương xót của Thiên Chúa, Đấng luôn gần gũi chúng ta ngay cả trong giờ lâm tử. Cũng như trong kinh Kính Mừng Maria, chúng ta cầu xin Mẹ luôn ở cạnh chúng ta “trong giờ lâm tử”. Chính vì thế, tôi muốn kết thúc bài giáo lý này, cùng với tất cả mọi người, chúng ta cầu xin Mẹ cho những người đang hấp hối, những người đang trải qua giây phút vượt qua cánh cửa tối tăm và cho những người thân trong gia đình đang trong cảnh tang chế.

Chúng ta cùng đọc chung kinh Kính Mừng Maria. mục lục.

Bài 10: Thánh Giuse và sự hiệp thông của các thánh

+ ĐTC. Phanxicô

Anh chị em thân mến,

Trong những tuần gần đây, chúng ta đã đào sâu hình ảnh của Thánh Giuse, bằng cách để cho mình được hướng dẫn bởi một số thông tin quan trọng mà các Tin mừng đã đưa ra, và một số khía cạnh về nhân cách của thánh nhân đã được Giáo hội đề cao qua nhiều thế kỷ qua lời cầu nguyện và lòng mộ mến. Bắt đầu từ “cảm nhận chung” này mà lịch sử của Giáo hội đã đi cùng với hình ảnh của Thánh Giuse. Hôm nay tôi muốn tập trung vào một đề tài quan trọng của đức tin có thể làm phong phú cho đời sống kitô hữu của chúng ta và cũng có thể thiết lập mối tương quan của chúng ta với các thánh và với những người thân yêu đã qua đời của chúng ta: tôi nói về sự hiệp thông với các thánh. Nhiều lần chúng ta tuyên xưng trong Kinh Tin kính “tôi tin các thánh thông công”. Nhưng nếu được hỏi sự thông hiệp với các thánh là gì, tôi nhớ khi còn nhỏ, tôi đã trả lời tức khắc: “là những vị thánh lên rước lễ”. Đó là điều mà chúng ta không hiểu chúng ta nói gì. Sự hiệp thông của các thánh là gì? Không phải là những vị thánh lên rước lễ, không phải thế: là một điều khác.

Ngay cả đạo Kitô giáo đôi khi cũng có thể rơi vào hình thức sùng kính mà dường như nó phản ánh một tâm thức ngoại giáo hơn là Kitô giáo. Sự khác biệt căn bản ở nơi lời cầu nguyện của chúng ta và lòng sùng kính của chúng ta đối với những người tín trung, trong trường hợp này, không dựa trên sự tin tưởng vào một con người, hay vào một hình ảnh, một sự vật, cũng như khi chúng ta biết rằng chúng là những thứ thiêng liêng. Ngôn sứ Giêrêmia nhắc nhở chúng ta : “khốn cho ai tin cậy ở người đời, […] phúc cho người tin tưởng vào Thiên Chúa” (17,5-7). Ngay cả khi chúng ta hoàn toàn phó thác cho sự chuyển cầu của một vị thánh, hay hơn thế nữa, cho sự chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria, thì sự tin cậy của chúng ta chỉ có giá trị trong mối tương quan với Chúa Kitô. Như thể con đường hướng đến vị thánh này hay Đức Mẹ không kết thúc ở đó: không. Nó hướng đến các thánh, nhưng trong tương quan với Chúa Kitô. Chúa Kitô là mối dây liên kết chúng ta với Ngài và giữa chúng ta đều có cái tên cụ thể: mối liên quan này kết hiệp tất cả chúng ta, giữa chúng ta với nhau và với Chúa Kitô gọi là “sự hiệp thông của các thánh”. Không phải là những vị thánh làm nhiều phép lạ. Không! hay vị thánh này rất kỳ diệu….”: không. Các thánh không làm phép lạ đâu, nhưng chỉ nhờ ân sủng của Thiên Chúa hoạt động qua họ. Các phép lạ đều do Thiên Chúa thực hiện, ân sủng của Thiên Chúa hoạt động qua một con người thánh thiện, công chính. Điều này phải được làm rõ. Có người nói rằng: “Tôi không tin vào Chúa, nhưng tôi tin vào vị thánh này”. Đừng, đó là sai lầm. Thánh là người chuyển cầu, người cầu nguyện cho chúng ta và chúng ta cầu nguyện cho họ, họ cầu nguyện cho chúng ta và Thiên Chúa ban cho chúng ta ân sủng: Thiên Chúa hành động qua một vị thánh.

Vậy thì “sự hiệp thông của các thánh nghĩa là gì? Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo khẳng định: “Sự hiệp thông giữa các thánh chính là Giáo hội” (số 946). Hãy nhìn xem đó là một định nghĩa hay! “Sự hiệp thông giữa các thánh chính là Giáo hội”. Ý nghĩa của nó là gì? Phải chăng Giáo hội được dành cho những người hoàn hảo? Không. Nó có nghĩa là cộng đoàn những người tội lỗi được cứu chuộc. Giáo hội là cộng đoàn những người tội lỗi được cứu chuộc. Thật tuyệt vời với định nghĩa này. Không ai có thể bị loại trừ khỏi Giáo hội, tất cả mọi người chúng ta là những kẻ tội lỗi được cứu chuộc. Sự thánh thiện của chúng ta là hoa trái của tình yêu Thiên Chúa được tỏ bày nơi Chúa Kitô, Đấng thánh hoá chúng ta bằng cách yêu thương chúng ta trong sự cơ cùng của chúng ta và cứu chuộc chúng ta nhờ Giáo hội. Thánh Phaolô nói, nhờ Người mà chúng ta được tạo nên một thân thể, trong đó Chúa Giêsu là đầu và chúng ta là chi thể (1Cr 12, 12). Hình ảnh về thân mình của Chúa Kitô khiến chúng ta hiểu ngay ý nghĩa của việc chúng ta được liên kết với nhau trong sự hiệp thông là gì. Thánh Phaolô viết: “Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau. Nếu một bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng vui chung. Vậy anh em, anh em là thân thể Đức Kitô, và mỗi người là một bộ phận” (1Cr 12,26-27). Thánh Phaolô nói điều này: Tất cả chúng ta là một thân thể, tất cả đều hiệp nhất nhờ đức tin, nhờ phép rửa, tất cả đều trong sự hiệp thông: được kết hiệp với Chúa Giêsu Kitô. Đây là sự hiệp thông giữa các thánh.

Anh chị em thân mến,

Niềm vui và đau khổ chạm đến cuộc sống tôi ảnh hưởng đến tất cả mọi người, vì vậy niềm vui và đau khổ chạm đến cuộc sống của anh chị em bên cạnh tôi thế nào thì cũng ảnh hưởng đến tôi như vậy. Tôi không thể sống thờ ơ với người khác bởi vì tất cả chúng ta đều là một thành phần trong một thân thể, trong sự hiệp thông. Theo nghĩa này, ngay cả tội lỗi của riêng một người cũng luôn ảnh hưởng đến tất cả mọi người, và mỗi thành viên trong Giáo hội được nối kết với tôi cách sâu xa. Chúng ta được nối kết lẫn nhau cách sâu xa và sự nối kết này bền chặt đến mức không bị phá vỡ ngay cả cái chết. Vì vậy, sự hiệp thông các thánh không chỉ liên quan đến anh chị em ở xung quanh tôi trong khoảnh khắc lịch sử này mà còn liên quan đến những người đã kết thúc hành trình trần thế của họ và họ đã bước qua ngưỡng cửa của sự chết, họ cũng đang hiệp thông với chúng ta.

Anh chị em thân mến,

Anh chị em hãy nhớ rằng: trong Chúa Kitô, không ai có thể tách chúng ta ra khỏi những người chúng ta yêu thương bởi vì đây là mối dây liên kết hiện sinh, một mối liên kết bền chặt tồn tại trong chính bản tính của chúng ta; chỉ thay đổi cách sống giữa mọi người với nhau thôi, nhưng không ai và không có gì có thể phá vỡ mối dây liên kết này. “Thưa Cha, chúng ta hãy nghĩ đến những người đã chối bỏ đức tin, những người bội giáo, những người bắt bớ Giáo hội, những người từ chối phép rửa của họ: họ cũng là người một nhà sao? Vâng, kể cả những người này, cả những người hay chửi rủa, tất cả mọi người. Chúng ta là anh chị em với nhau: đây là sự hiệp thông các thánh. Sự hiệp thông của các thánh liên kết với cộng đoàn các tín hữu ở trần gian và trên thiên quốc.

Theo nghĩa này, tôi có thể xây dựng mối tương quan bạn hữu với anh chị em xung quanh tôi, tôi có thể thiết lập mối tương quan đó với anh chị em tôi ở trên trời. Các thánh là những người bạn mà chúng ta thường xây dựng tình thân với họ. Điều mà chúng ta gọi lòng sùng mến đối với một vị thánh – tôi rất sùng mến vì thánh này vì thánh kia – điều mà chúng ta gọi là lòng sùng mến thực ra là một cách thể hiện tình yêu khởi đi từ chính mối dây liên kết này, một mối dây hiệp nhất chúng ta. Ngay cả trong cuộc sống của tất cả mọi người hôm nay, có thể người ta nói rằng: “Con người này có lòng hiếu kính cha mẹ già của mình”: không, đó là cách của tình yêu, một sự diễn tả về tình yêu. Và tất cả chúng ta biết rằng chúng ta luôn có thể hướng đến một người bạn, nhất là khi chúng ta gặp khó khăn, khi chúng ta cần sự giúp đỡ. Và chúng ta có những người bạn ở trên trời. Tất cả chúng ta đều cần bạn bè; tất cả chúng ta đều cần những mối quan hệ có ý nghĩa để giúp chúng ta đương đầu với cuộc sống. Chúa Giêsu cũng có những người bạn của mình và Ngài hướng về họ trong những thời điểm quyết định nhất của kiếp sống nhân sinh.

Trong lịch sử của Giáo hội có vô số những người đồng hành với cộng đoàn tín hữu : trước hết là tình cảm cao vời và mối tương quan mạnh mẽ nhất mà Giáo hội luôn cảm nhận được đối với Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ chúng ta. Nhưng đó cũng là vinh dự và tình cảm đặc biệt mà Giáo hội đã dành cho thánh Giuse. Sau cùng Thiên Chúa uỷ thác cho thánh nhân những gì quí giá nhất mà Ngài có: Chúa Giêsu, Con của Ngài và Đức Trinh nữ Maria. Nhờ sự thông hiệp của các thánh nam nữ mà chúng ta luôn cảm thấy các ngài gần gũi chúng ta, là những vị thánh bảo trợ của chúng ta, chẳng hạn nhờ danh thánh mà chúng ta mang, nhờ Giáo hội mà chúng ta thuộc về, nhờ nơi chúng ta đang sống, cũng như nhờ lòng sùng mến một người. Và niềm tin cậy này phải luôn thúc đẩy chúng ta yêu mến các thánh trong những khoảnh khắc quyết định của cuộc sống chúng ta. Nó chẳng phải là cái gì đó thần diệu, không phải là mê tín, nhưng là lòng sùng mến các thánh; đơn giản là nói chuyện với anh chị em đang ở trước mặt Thiên Chúa, đã trải qua một cuộc đời công chính, cuộc sống thánh thiện, gương mẫu và giờ đây họ đang ở trước mặt Chúa.

Chính vì lý do này, tôi muốn kết thúc bài giáo lý bằng một lời nguyện với Thánh Giuse mà tôi đặc biệt gắn bó và tôi đã đọc mỗi ngày trong hơn 40 năm. Đó là lời cầu nguyện mà tôi tìm thấy trong một tập sách cầu nguyện của các nữ tu dòng Chúa Giêsu và Mẹ Maria, từ những năm 1700, cuối thế kỷ 18. Lời kinh rất hay, hơn cả một lời kinh, nó còn là một thử thách cho người bạn này, người cha này, cho vị thánh quan thầy của chúng ta là Thánh Giuse. 

Sẽ rất tốt cho anh chị em nếu học được lời kinh này và anh chị em có thể lặp lại. Tôi đọc trước:

“Lạy Thánh phụ Giuse vinh hiển,
nhờ quyền năng ngài biết biến những điều không thể thành có thể,
Xin đến giúp con trong cảnh gian nan khốn khó này.
Xin nhận lấy những tình cảnh rất trầm trọng và khó khăn mà con phó dâng, dưới sự che chở của cha, để chúng có được một kết quả tốt đẹp.
Lạy cha dấu yêu, mọi tin tưởng của con đặt ở nơi cha.
Xin đừng để thiên hạ nói rằng con đã cầu khẩn cha cách uổng công, vì ở bên Chúa Giêsu và Mẹ Maria cha có thể làm được mọi việc,
Xin hãy tỏ cho con biết lòng nhân hậu của cha cũng thật cao cả như quyền năng của cha”. Amen.

Và lời kinh kết thúc bằng một thử thách, đây là thử thách Thánh Giuse: ‘Vì ở bên Chúa Giêsu và Mẹ Maria, cha có thể làm được mọi việc, xin hãy tỏ cho con biết lòng nhân hậu của cha cũng thật cao cả như quyền năng của cha’.

Tôi phó dâng cho Thánh Giuse mỗi ngày qua lời kinh này đã hơn 40 năm : đây là một kinh cổ xưa.

Nào hãy tiến lên, hãy can đảm, trong sự hiệp thông với tất cả các thánh mà chúng ta có ở trên trời và dưới đất: Thiên Chúa sẽ không bỏ rơi chúng ta. Mục Lục.

Bài 9: Thánh Giuse, người của “giấc mộng”

+ ĐTC. Phanxicô

Trong bài giáo lý về Thánh Giuse hôm nay, ĐTC đã khai triển về sự kiên định của thánh Giuse trong việc lắng nghe tiếng Chúa. Nhờ lắng nghe tiếng Chúa và để Chúa hướng dẫn, Thánh Giuse đã vượt qua được những thử thách cách anh hùng. ĐTC mời gọi mọi người, đặc biệt các bậc làm cha mẹ bắt chước Thánh Giuse biết nhận ra tiếng Chúa giữa những âm thanh khác nhau trong cuộc sống. Thiên Chúa không bao giờ cho phép một vấn đề nào xảy ra mà không cho chúng ta một sự giúp đỡ cần thiết để đối mặt.

Anh chị em thân mến,

Hôm nay tôi muốn tập trung vào hình ảnh Thánh Giuse như một người của giấc mộng. Theo Kinh Thánh, cũng như trong nền văn hóa của các dân tộc cổ đại, giấc mộng được coi là phương tiện qua đó Thiên Chúa tự mạc khải mình [*]. Giấc mộng tượng trưng cho đời sống thiêng liêng của mỗi người chúng ta, đó là không gian nội tâm mà mỗi người được kêu gọi để vun trồng và bảo vệ, là nơi Thiên tỏ mình và thường xuyên nói chuyện với chúng ta. Nhưng chúng ta cũng phải nói rằng bên trong mỗi người không chỉ có tiếng nói của Chúa mà còn có nhiều tiếng nói khác nữa. Ví dụ, tiếng nói của những nỗi sợ hãi, tiếng nói của những kinh nghiệm trong quá khứ, tiếng nói của hy vọng, và còn có cả tiếng nói của những kẻ xấu muốn lừa gạt chúng ta và làm cho chúng ta hoang mang.

Do đó, điều quan trọng là có thể nhận ra tiếng Chúa giữa những âm thanh khác nhau. Thánh Giuse chứng tỏ rằng ngài biết cách trau dồi sự thinh lặng cần thiết, và nhất là đưa ra những quyết định đúng trước Lời Chúa đang nói với ngài trong lòng. Hôm nay, sẽ rất tốt cho chúng ta nếu biết đọc lại 4 giấc mộng được trình bày trong Tin mừng, mà Thánh Giuse là nhân vật chính, để hiểu cách đặt mình trước mặc khải của Thiên Chúa. Tin mừng đã kể cho chúng ta bốn giấc mộng của thánh Giuse.

Trong giấc mộng đầu tiên (X. Mt 1,18-25), sứ thần giúp Thánh Giuse giải quyết bi kịch đang tấn công ngài khi được biết Đức Maria mang thai: “Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: "Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ" (câu 20-21). Và lập tức Thánh Giuse đáp lại bằng cách: “Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà” (c.24).

Cuộc sống nhiều khi đặt chúng ta trước những hoàn cảnh mà chúng ta không hiểu và dường như không có cách giải quyết. Trong những lúc như vậy, hãy cầu nguyện, nghĩa là hãy để cho Thiên Chúa chỉ cho chúng ta biết phải làm điều gì. Thực vậy, lời cầu nguyện thường xuyên làm nảy sinh trong chúng ta trực giác về lối thoát, về cách giải quyết hoàn cảnh đó như thế nào.

Anh chị em thân mến,

Thiên Chúa không bao giờ cho phép một vấn đề nào xảy ra cho chúng ta mà không ban cho chúng ta sự trợ giúp cần thiết để đương đầu với nó. Ngài không ném chúng ta vào lò lửa một mình. Ngài không bỏ chúng ta giữa các thú dữ. Không. Khi Thiên Chúa cho chúng ta thấy một vấn đề hoặc tiết lộ một vấn đề gì, Ngài luôn ban cho chúng ta trực giác, sự giúp đỡ, sự hiện diện của Ngài, để thoát ra khỏi đó và để giải quyết vấn đề.

Giấc mộng mạc khải thứ hai của Thánh Giuse xuất hiện khi tính mạng của Hài nhi Giêsu gặp nguy hiểm. Một thông điệp rất rõ ràng: “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai cập, và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, vì vua Hêrôđê sắp tìm giết Hài Nhi đấy!” (Mt 2,13). Thánh Giuse, không do dự, ngài đã vâng phục: “Ông Giuse liền trỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai cập. Ông ở đó cho đến khi vua Hêrôđê băng hà, để ứng nghiệm lời Chúa phán xưa qua miệng ngôn sứ: Ta đã gọi con Ta ra khỏi Ai cập" (câu 14-15).

Trong cuộc sống, tất cả chúng ta đều trải qua những nguy hiểm vốn đe dọa sự sống của mình hoặc của những người chúng ta yêu thương. Trong tình cảnh này, việc cầu nguyện có nghĩa là lắng nghe Lời có thể mang lại cho chúng ta lòng can đảm như Thánh Giuse, để đối diện với những khó khăn mà không chịu khuất phục.

Ở Ai Cập, Thánh Giuse đợi chờ tín hiệu từ Thiên Chúa để có thể hồi hương; và ở đây chính là nội dung của giấc mơ thứ ba. Thiên thần tiết lộ cho Thánh Giuse biết rằng những kẻ muốn giết hài nhi đã chết và truyền cho thánh nhân lên đường hồi hương cùng với Đức Maria và Chúa Giêsu (x. Mt 2,19-20). Thánh Giuse “đã trỗi dậy, đem hai nhi và Mẹ Người về đất Israel” (c. 21). Nhưng chính trong chuyến trở về “vì nghe biết Áckhêlao đã kế vị vua cha là Hêrôđê, cai trị miền Giuđê, nên ông sợ không dám về đó” (c.22). Và đây là mặc khải thứ tư: “Rồi sau khi được báo mộng, ông lui về miền Galilê và đến ở tại một thành kia gọi là Nadarét, để ứng nghiệm lời đã phán qua miệng các ngôn sứ rằng: Người sẽ được gọi là người Nadarét”.

Sợ hãi cũng là một phần của cuộc sống và nó cũng cần lời cầu nguyện của chúng ta. Thiên Chúa không hứa với chúng ta rằng chúng ta sẽ không bao giờ biết sợ, nhưng với sự giúp đỡ của Ngài, nỗi sợ sẽ không là tiêu chí cho các quyết định của chúng ta. Thánh Giuse đã trải qua những sợ hãi nhưng Thiên Chúa cũng hướng dẫn ngài vượt qua nó. Sức mạnh của lời cầu nguyện mang lại ánh sáng cho chúng ta trong những tình cảnh tăm tối.

Tôi nghĩ đến khoảnh khắc lo sợ này của nhiều người, vốn đang bị đè bẹp bởi gánh nặng của cuộc sống và không còn có thể hy vọng hay cầu nguyện thêm nữa. Thánh Giuse sẽ có thể giúp đỡ họ biết mở ra cuộc đối thoại với Thiên Chúa, để tìm lại ánh sáng, sức mạnh và bình an.

Tôi cũng nghĩ đến các bậc cha mẹ đang gặp những vấn đề về con cái của mình. Những đứa con mang nhiều bệnh tật, đau yếu, thậm chí là mắc bệnh vĩnh viễn: biết bao nỗi đau ở nơi đó. Các bậc cha mẹ nhận thấy những khuynh hướng tình dục khác nhau nơi con cái, rồi suy nghĩ làm thế nào để giải quyết chuyện này và làm sao để đồng hành với con cái chứ không trốn tránh trong một thái độ lên án. Các bậc cha mẹ chứng kiến con của mình ra đi, khuất bóng, vì bệnh tật và – càng buồn hơn, khi chúng ta đọc thấy trên các tạp chí hằng ngày – những thiếu niên nghịch ngợm rồi cuối cùng kết liễu trong vụ tai nạn xe hơi. Những bậc cha mẹ thấy con cái của mình không đi học và không biết phải làm gì... rất nhiều vấn đề đối với các bậc làm cha mẹ. Chúng ta hãy nghĩ cách để giúp họ. Và tôi xin nói với các bậc cha mẹ này rằng: anh chị em đừng sợ. Vâng, có đau thật. Rất nhiều. Nhưng anh chị em hãy nghĩ cách giải quyết như Thánh Giuse đã giải quyết những vấn đề và anh chị em hãy cầu xin ngài giúp đỡ mình. Đừng bao giờ lên án con cái.

Điều khiến tôi thấy động lòng - từng xảy ra cho tôi ở Buenos Aires – khi tôi lên xe bus và đi ngang qua một nhà tù: có những người đang xếp hàng dài để vào thăm các tù nhân. Có nhiều bà mẹ ở đó khiến cho tôi thấy động lòng: trước vấn đề của những đứa con lầm lạc, bị vào tù, họ không bỏ mặc con mình, họ cắm mặt vào đó và đồng hành cùng con. Đây là lòng dũng cảm; lòng dũng cảm của người cha, người mẹ luôn đồng hành với con cái. Chúng ta cầu xin Chúa ban cho tất cả người cha, người mẹ lòng dũng cảm này, như đã ban cho Thánh Giuse. Và rồi hãy cầu nguyện xin Chúa giúp chúng ta trong những khoảnh khắc này.

Tuy nhiên, cầu nguyện không bao giờ là cử chỉ trừu tượng hoặc thuần túy nội tâm, giống như các phong trào duy linh mang tính ngộ đạo hơn là Kitô giáo. Không, nó không phải vậy. Cầu nguyện luôn gắn liền mật thiết với đức ái. Chỉ khi kết hợp tình yêu với cầu nguyện, tình yêu dành cho con cái như trường hợp mà tôi vừa kể hay tình yêu dành cho tha nhân thì chúng ta mới có thể hiểu được sứ điệp của Chúa. Thánh Giuse đã cầu nguyện, lao động và yêu thương – là ba điều tuyệt đẹp đối với các bậc cha mẹ: Cầu nguyện, lao động và yêu thương – và vì lý do này mà Thánh Giuse luôn nhận được thứ cần thiết để đối phó với những thử thách của cuộc sống. Chúng ta hãy phó thác cho thánh Giuse, cho sự chuyển cầu của Ngài.

Lạy Thánh Cả Giuse, ngài là người của giấc mộng,
xin dạy chúng con biết phục hồi đời sống thiêng liêng
là không gian nội tâm, nơi Chúa tự mạc khải và cứu rỗi chúng con.
Xin hãy loại bỏ khỏi chúng con suy nghĩ rằng cầu nguyện là vô ích.
Xin giúp mỗi người chúng con biết đáp lại những gì Thiên Chúa chỉ cho chúng con.
Xin cho những lý lẽ của chúng con được ánh sáng của Chúa Thánh Thần chiếu rọi.
cho tâm hồn của chúng con được dũng mạnh nhờ sức mạnh của Ngài,
và những nỗi sợ của chúng con được cứu rỗi nhờ lòng thương xót của Ngài. Amen. 
Mục Lục.

[*] xc. Sáng thế 20,3; 28,12; 31.11.24; 40,8; 41,1-32; Nm 12,6; 1 Sm 3,3-10; Đn 2; 4; Gb 33,15.

Bài 8: Thánh Giuse, người cha hiền dịu

+ ĐTC. Phanxicô

Trong bài Giáo lý về Thánh Giuse sáng thứ Tư ngày 19/01/2022, Đức Thánh cha Phanxicô cho thấy Thánh Giuse đã ảnh hưởng rất nhiều trên cuộc đời của Chúa Giêsu. Như Thiên Chúa đã làm với Israel, Thánh Giuse cũng đã làm với Chúa Giêsu: “ngài dạy bước đi, cầm lấy tay; đối xử như một người cha nâng đứa trẻ lên tận má mình, cúi xuống và cho ăn” (x. Hs 11,3-4) (Patris corde, 2). Qua Thánh Giuse, cho chúng ta thấy được hình ảnh của Thiên Chúa là Cha, là Đấng yêu thương. Ngài không sợ tội lỗi của chúng ta, những sai lầm của chúng ta. Thiên Chúa chỉ sợ chúng ta khép cánh cửa tâm hồn, mãi mãi xa lìa Ngài.

Anh chị em thân mến!

Hôm nay tôi muốn đào sâu hình ảnh của Thánh Giuse như một người cha hiền dịu.

Trong Tông thư Patris corde (ngày 8 tháng 12 năm 2020), tôi đã có cơ hội suy tư về khía cạnh hiền dịu này, một khía cạnh thuộc nhân cách của Thánh Giuse. Thực ra, dù các Tin mừng không cho chúng ta biết bất kỳ chi tiết nào về cách mà thánh nhân thực thi tình phụ tử của mình, tuy vậy, chúng ta có thể tin chắc rằng việc Thánh Giuse là người “công chính” cũng đã được diễn tả qua nền giáo dục mà ngài đã dành cho Chúa Giêsu. Tin mừng kể: Thánh Giuse đã chứng kiến Chúa Giêsu lớn lên từng ngày “về khôn ngoan, vóc dạng và ân sủng, trước mặt Thiên Chúa và trước mặt người ta” (Lc 2,52). Như Thiên Chúa đã làm với Israel, Thánh Giuse cũng đã làm với Chúa Giêsu: “ngài dạy bước đi, cầm lấy tay; đối xử như một người cha nâng đứa trẻ lên tận má mình, cúi xuống và cho ăn” (x. Hs 11,3-4) (Patris corde, 2). Định nghĩa này trong Kinh thánh thật hay, nó khiến ta thấy được mối tương quan giữa Thiên Chúa với dân tộc Israel. Và chúng ta nghĩ rằng mối tương quan đó cũng chính là mối tương quan giữa Thánh Giuse với Chúa Giêsu.

Các sách Tin mừng xác nhận rằng Chúa Giêsu luôn dùng từ “cha” để nói về Thiên Chúa và về tình yêu của Ngài. Rất nhiều dụ ngôn có nhân vật chính như hình ảnh của một người cha. Trong số những hình ảnh nổi tiếng đó chắc chắn có hình ảnh người Cha nhân hậu, được thánh sử Luca kể lại (x. Lc 15, 11-32). Trong chính dụ ngôn này không chỉ nhấn mạnh kinh nghiệm về tội lỗi và về người cha, mà còn nhấn mạnh đến cách thức mà qua đó sự tha thứ đến với người sai lỗi. Bản văn kể: “Anh ta còn ở đằng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để” (c. 20). Người con mong đợi một sự trừng phạt, công bằng mà nói có thể trao cho anh vị trí của một người tôi tớ, nhưng rồi anh thấy mình được bao bọc trong vòng tay của cha. Sự hiền dịu là một cái gì đó rất tuyệt vời so với logic của thế giới. Đó là một cách thực thi công lý đầy bất ngờ. Cho nên chúng ta đừng bao giờ quên rằng Thiên Chúa không khiếp sợ những lỗi tội của chúng ta, Ngài là Đấng rộng lượng hơn tội lỗi của chúng ta: Ngài là người Cha, là Đấng yêu thương, là sự dịu dàng. Ngài không sợ tội lỗi của chúng ta, lỗi lầm của chúng ta, những sa ngã của chúng ta, nhưng Ngài sợ con tim khép kín của chúng ta – đúng thế, điều này khiến Ngài đau khổ - Ngài sợ chúng ta thiếu niềm tin vào tình yêu của Ngài. Có một sự dịu dàng lớn lao trong kinh nghiệm về tình yêu của Thiên Chúa. Và thật tuyệt vời khi nghĩ rằng người đầu tiên truyền lại thực tế này cho Chúa Giêsu chính là Thánh Giuse. Thực vậy, những gì của Thiên Chúa luôn đến với chúng ta qua trung gian là kinh nghiệm nhân loại.

Cách đây một thời gian – không biết tôi đã kể chuyện này chưa – một nhóm các bạn trẻ biểu diễn nghệ thuật sân khấu, một nhóm nhạc pop trẻ bị đánh động bởi dụ ngôn về người cha nhân hậu này và đã quyết định diễn vỡ nhạc kịch về chủ đề này, với câu chuyện này. Họ đã trình bày rất tốt. Toàn bộ vỡ diễn, ở đoạn cuối, một người bạn nghe người con rời bỏ nhà cha mình tâm sự rằng, anh muốn trở về nhà nhưng lo sợ cha sẽ đuổi anh ra ngoài và trừng phạt anh. Người bạn nói với anh ta, qua vỡ opera nhạc pop: “Hãy gửi một sứ giả và nói rằng bạn muốn về nhà, và nếu cha đón nhận bạn thì cha hãy treo chiếc khăn tay trên cửa sổ, chiếc khăn mà bạn sẽ được nhìn thấy khi vừa di chuyển đoạn đường cuối”. Vậy là điều đó được thực hiện. Và vỡ opera, với những bài ca, điệu vũ tiếp tục cho đến giây phút người con rẽ vào con đường cuối cùng và đã nhìn thấy ngôi nhà. Khi anh ngước mắt lên nhìn thấy ngôi nhà đầy những chiếc khăn màu trắng. Không phải một chiếc mà là 3-4 chiếc trên mỗi cánh cửa. Lòng thương xót của Thiên Chúa là như thế. Ngài không sợ quá khứ, không sợ những điều tồi tệ của chúng ta: Ngài chỉ sợ chúng ta khép lòng mình. Tất cả chúng ta đều có thể tính sổ; nhưng tính sổ đối với Chúa là một điều rất tuyệt vời, bởi vì chúng ta lại bắt đầu nói chuyện và Ngài ôm ấp chúng ta. Đó là sự hiền dịu.

Giờ đây chúng ta có thể tự hỏi rằng nếu bản thân chúng ta đã từng trải nghiệm được sự hiền dịu này, vậy liệu đến lượt mình chúng ta có trở thành những chứng nhân hay không. Thực vậy, sự hiền dịu trước hết không phải là vấn đề tình cảm hay cảm xúc: đó là kinh nghiệm qua việc cảm nhận mình được yêu thương và đón nhận một cách thực sự trong sự nghèo khó và khốn khổ của mình, và vì vậy được tình yêu của Thiên Chúa biến đổi.

Thiên Chúa không chỉ tin cậy dựa trên những tài năng của chúng ta, nhưng còn dựa trên những yếu đuối được cứu chuộc của chúng ta. Chẳng hạn điều này đã khiến thánh Phaolô nói rằng cũng có một kế hoạch thực hiện qua sự yếu đuối của con người. Thực vậy, thánh Phaolô đã viết cho cộng đoàn Côrintô: “Và để tôi khỏi tự cao tự đại vì những mặc khải phi thường tôi đã nhận được, thân xác tôi như đã bị một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của Satan được sai đến vả mặt tôi, để tôi khỏi tự cao tự đại. Đã ba lần tôi xin Chúa cho thoát khỏi nỗi khổ này. Nhưng Người quả quyết với tôi: "Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (2Cor 12, 7-9). Thiên Chúa không lấy đi mọi yếu đuối của chúng ta, nhưng giúp chúng ta bước đi cùng với những yếu đuối, bằng cách nắm tay chúng ta. Ngài nắm lấy những yếu đuối của chúng ta và ở bên cạnh chúng ta. Đây là sự hiền dịu.

Kinh nghiệm về sự hiền dịu cốt ở chỗ nhìn thấy được quyền năng của Thiên Chúa thể hiện chính xác qua điều khiến chúng ta trở nên mong manh nhất; tuy nhiên, với điều kiện là chúng ta hoán cải tránh xa cái nhìn của Kẻ Ác, là kẻ “khiến chúng ta nhìn thấy và lên án sự yếu đuối của mình”, trong khi Chúa Thánh Thần “đem nó ra ánh sáng bằng sự hiền dịu”. (Patris corde, 2). “Sự hiền dịu là cách tốt nhất để chạm vào sự yếu đuối bên trong chúng ta. […] Anh chị em hãy nhìn cách mà các y tá chạm vào những vết thương của các bệnh nhân: với sự nhẹ nhàng không làm cho họ đau đớn thêm. Và cũng vậy, Thiên Chúa chạm vào những vết thương bằng sự hiền dịu của Ngài. Đó là lý do tại sao việc gặp gỡ lòng thương xót của Thiên Chúa, đặc biệt là trong bí tích Hòa giải, trong lời cầu nguyện riêng tư với Chúa, khiến chúng ta cảm nghiệm được sự thật và sự dịu dàng của Ngài là điều rất quan trọng. Nghịch lý thay, Kẻ Ác cũng có thể nói sự thật với chúng ta: nó là kẻ lừa dối, nhưng cố dàn xếp để nói cho chúng ta sự thật ngõ hầu đưa chúng ta đến sự dối trá; nhưng nó làm vậy là để kết án chúng ta. Trái lại, Chúa nói cho chúng ta sự thật và đưa tay cứu độ chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng Sự thật đến từ Thiên Chúa không để lên án chúng ta, nhưng đón nhận, ôm ấp, nâng đỡ và tha thứ cho chúng ta” (Patris corde, 2). Thiên Chúa luôn tha thứ: Chúng ta là những người mệt mỏi cầu xin ơn tha thứ nhưng Ngài luôn tha thứ, ngay cả những điều tồi tệ nhất.

Thật tuyệt vời cho chúng ta khi so chiếu mình với tình phụ tử của Thánh Giuse, là tấm gương phản chiếu tình phụ tử của Thiên Chúa, và chúng ta tự hỏi xem liệu chúng ta có để cho Chúa yêu thương bằng sự hiền dịu của Ngài, có để cho Ngài biến đổi mỗi người chúng ta thành những con người có khả năng yêu thương theo cách này hay không. Nếu không có “cuộc cách mạng về sự hiền dịu” này, - cần một cuộc cách mạng về sự hiền dịu! - chúng ta có nguy cơ bị giam cầm trong một công lý không cho phép chúng ta dễ dàng trỗi dậy và nó gây nhầm lẫn giữa sự cứu chuộc với trừng phạt. Vì thế, cách đặc biệt, hôm nay tôi muốn tưởng nhớ đến các anh chị em của chúng ta đang ở trong tù. Họ đúng là những người đã làm sai nên phải trả giá cho lỗi lầm của mình, nhưng thực sự những người đã làm sai cũng có thể chuộc lại lỗi lầm của mình. Chúng ta không thể là những người lên án mà không có những cánh cửa hy vọng. Bất kỳ sự lên án nào cũng luôn có cánh cửa hy vọng. Chúng ta hãy nghĩ đến những anh chị em của mình đang bị cầm tù, và hãy nghĩ đến sự dịu dàng của Thiên Chúa dành cho họ và cầu nguyện cho họ, để họ có thể tìm thấy nơi cánh cửa hy vọng đó một lối thoát để hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Chúng ta kết thúc bài giáo lý hôm nay bằng lời nguyện này:

Lạy Thánh Giuse, người cha hiền dịu,

xin dạy chúng con biết chấp nhận rằng chúng con được yêu thương ngay trong chính sự yếu đuối nhất của chúng con.
Xin đừng để chúng con đặt ra trở ngại nào giữa sự nghèo khổ của chúng con và tình yêu vĩ đại của Thiên Chúa.
Xin khơi dậy trong lòng chúng con khát khao đến với Bí tích Hòa giải,
để chúng con được tha thứ và cũng có khả năng yêu thương dịu dàng
những anh chị em nghèo khổ của chúng con.
Xin gần gũi những người lầm lạc và đang phải trả giá cho điều đó;
Xin giúp họ tìm thấy công lý cùng với sự dịu dàng để họ có thể bắt đầu lại.
Và xin dạy cho họ biết rằng cách đầu tiên để bắt đầu lại là chân thành xin ơn tha thứ, để cảm nghiệm sự hiền dịu của Chúa Cha. Amen. 
mục lục

Bài 7: Thánh Giuse, người thợ mộc

+ ĐTC. Phanxicô

Anh chị em thân mến,

Thánh sử Mátthêu và Máccô xác định Thánh Giuse là “thợ mộc” hay “thợ gỗ”. Ít phút trước chúng ta đã nghe dân làng Nazareth, sau khi nghe Chúa Giêsu nói, đã tự vấn: “người này chẳng phải là con của bác thợ mộc sao?” (Mt 13,55; Mc 6,3). Chúa Giêsu làm nghề của cha mình. 

Thuật từ Tekton, trong tiếng Hy Lạp, được dùng để ám chỉ đến công việc của Thánh Giuse, được dịch theo nhiều nghĩa khác nhau. Các giáo phụ Latinh của Giáo hội đã dịch nó theo nghĩa “thợ mộc”. Nhưng chúng ta nên nhớ rằng ở Palestine vào thời Chúa Giêsu, gỗ không chỉ được dùng để làm cày và các đồ nội thất khác nhau, nó còn đùng để xây nhà, có khung bằng gỗ và mái bậc thang làm bằng xà, rầm được đan kết với nhánh cây và đất. 

Do đó, “thợ gỗ” hay “thợ mộc” là chung một nghề, ám chỉ cả thợ mộc và thợ thủ công tham gia vào các hoạt động liên quan đến xây dựng. Một công việc khá vất vả, phải làm việc với các vật liệu nặng như gỗ, đá và sắt. Xét về khía cạnh kinh tế thì việc này không bảo đảm cho thu nhập cao, như có thể suy ra từ sự kiện Đức Maria và Thánh Giuse, khi dâng Chúa Giêsu trong đền thờ, chỉ dâng một đôi chim gáy hoặc cặp bồ câu (x Lc 2,24), như Luật đã qui định cho người nghèo (x. Lv 12:8).

Vì vậy, cậu bé Giêsu đã học nghề này từ cha mình. Cho nên, khi lớn lên, lúc Ngài bắt đầu rao giảng, những người dân trong làng đã kinh ngạc và tự hỏi: "Bởi đâu ông ta được khôn ngoan và làm được những phép lạ như thế?” (xem câu 53), và họ đã vấp ngã vì Ngài (v. 57), bởi vì ông ta là con bác thợ mộc nhưng lại ăn nói như một tiến sĩ luật, và họ đã vấp ngã vì điều này.

Sự kiện liên quan đến tiểu sử của Thánh Giuse và Chúa Giêsu khiến tôi liên tưởng đến tất cả những người lao động trên thế giới, đặc biệt những người đang làm việc vất vả trong hầm mỏ và trong một số nhà máy; những người bị bóc lột khi làm việc chui; những nạn nhân lao động; những đứa trẻ buộc phải làm việc như lục lọi trong các bãi rác mong tìm thứ gì đó còn dùng được để đổi chác... Cho phép tôi nhắc lại điều mà tôi đã nói: các công nhân giấu mặt, những công nhân làm việc vất vả trong các hầm mỏ, trong các nhà máy nào đó : chúng ta hãy nghĩ đến họ. Đối với những người bị bóc lột bằng lao động chui, những người được trả lương lậu, giấu mặt, không có lương hưu, không có gì hết. Nếu không làm việc, bạn, không được an toàn. Lao động chui ngày nay rất nhiều. 

Chúng ta hãy nghĩ đến những nạn nhân lao động, vì tai nạn lao động; Với các trẻ em bị buộc phải làm việc: điều này thật khủng khiếp. Các em trong độ tuổi vui chơi lẽ ra chúng phải chơi, thay vào đó chúng buộc phải làm việc như người lớn. Chúng ta hãy nghĩ đến các trẻ em này, thật tội nghiệp, phải lục tung trong các bãi rác mong tìm được cái gì đó hữu dụng để đổi chác. Tất cả những người này là anh chị em của chúng ta, họ kiếm sống bằng cách này cách khác, bằng những công việc vốn không nhìn nhận phẩm giá của họ. Chúng ta hãy nghĩ đến điều này. Nó đang xảy ra trong thế giới hôm nay! 

Tôi cũng nghĩ đến những người không có việc làm: biết bao nhiêu người đã đến gõ cửa các nhà máy, hãng xưởng: “Ở đây có gì để làm không?” _  “không, không có, không có”. Thiếu việc làm!

Tôi cũng nghĩ đến những người cảm thấy nhân phẩm của mình bị tổn thương, bởi vì họ không tìm được việc làm. Họ về nhà: “Bạn tìm được việc gì không” – “Không, không có... tôi đã đến Caritas và lấy một cái bánh mì”. Điều mang lại phẩm giá cho bạn không phải là mang cái bánh mì về nhà. Bạn có thể nhận nó từ Caritas: không, điều này không đem lại phẩm giá cho bạn. Điều đem lại cho bạn phẩm giá đó là tìm kiếm được của ăn, và nếu chúng ta không ban phát cho dân của mình, những người nam nữ, khả năng tìm được của ăn, đó là một sự bất công xã hội tại nơi đó, ở quốc gia đó, lục địa đó. Các nhà cầm quyền phải cung cấp cho mọi người khả năng kiếm được của ăn, bởi vì khả năng tìm kiếm này đem lại phẩm giá cho họ. 

Nhiều người trẻ, nhiều bậc cha mẹ trải qua thử thách không có việc làm vốn cho phép họ sống yên ổn, sống qua ngày. Nhiều khi tìm kiếm việc làm trở nên gây cấn đến mức khiến họ mất hết hy vọng và khát vọng sống. Trong thời gian đại dịch này nhiều người mất việc – chúng ta biết điều đó – một số người bị nghiền nát bởi sức ép không thể chịu nổi, đến mức tự kết liễu đời mình. 

Hôm nay tôi muốn tưởng nhớ đến từng người trong số họ và gia đình của họ. Chúng ta thinh lặng một chút để nhớ đến những người đang tuyệt vọng vì không tìm được việc làm.

Chưa nói đến một thực tế rằng công việc là thành phần thiết yếu trong đời sống con người, và cả trong con đường nên thánh. Công việc không chỉ là phương tiện để kiếm sống: đó còn là nơi chúng ta thể hiện bản thân, cảm thấy mình có ích, và chúng ta học được bài học lớn về tính cụ thể, giúp cho đời sống tinh thần không trở thành chủ nghĩa duy linh. Tuy nhiên, thật không may, lao động thường trở thành con tin của bất công xã hội và thay vì là một phương tiện nhân bản nó lại trở thành một thực thể ngoại vi. Nhiều khi tôi tự hỏi: Chúng ta làm công việc hàng ngày với tinh thần nào? Làm thế nào để chúng ta đối phó với mệt nhọc? Chúng ta có thấy công việc của mình chỉ liên quan đến vận mệnh của chính mình hay với vận mệnh của người khác không? Trên thực tế, công việc là một cách thể hiện nhân cách của chúng ta, bản chất của nó là mối liên hệ. Làm việc cũng là cách thể hiện tính sáng tạo của chúng ta: mỗi người đều làm việc theo cách của mình, với phong cách của mình; cùng một công việc nhưng với một phong cách khác.

Thật tuyệt khi nghĩ rằng chính Chúa Giêsu đã làm việc và học nghề này từ chính Thánh Giuse. Hôm nay chúng ta phải tự hỏi mình rằng chúng ta có thể làm gì để phục hồi giá trị của công việc; và với tư cách là Giáo hội, chúng ta có thể đóng góp gì để nó được giải phóng khỏi cái logic của lợi nhuận đơn thuần và có thể được sống như một quyền và nghĩa vụ cơ bản của con người, vốn thể hiện và nâng cao phẩm giá của mình.

Anh chị em thân mến, về tất cả những điều này, hôm nay tôi muốn cùng anh chị em đọc lại lời cầu nguyện mà Thánh Phaolô VI đã dâng lên Thánh Giuse vào ngày 01 tháng 5 năm 1969:

Lạy thánh Cả Giuse
Quan thầy của Giáo hội
ngài đã ở bên cạnh Ngôi Lời Nhập Thể,
đã làm việc mỗi ngày để kiếm của ăn
và kín múc từ Ngôi Lời sức mạnh để sống và làm việc chăm chỉ;
ngài đã trải qua nỗi lo lắng cho tương lai,
sự cay đắng của nghèo đói, sự bấp bênh của công việc:
Ngày nay, ngài chiếu tỏa gương sáng của ngài,
khiêm hạ trước mặt người đời
nhưng cao trọng trước mặt Thiên Chúa:
xin gìn giữ những người lao động trong cuộc sống khó khăn hằng ngày của họ,
bảo vệ họ khỏi bị ngã lòng,
khỏi nổi loạn cách tiêu cực,
và khỏi bị cám dỗ yêu thích khoái lạc;
và xin giữ hòa bình trên thế giới,
hòa bình mà chỉ nó mới có thể bảo đảm sự phát triển của các dân tộc. Amen.
mục lục

Bài 6: Thánh Giuse, cha nuôi của Chúa Giêsu

+ ĐTC. Phanxicô

Anh chị em thân mến,

Hôm nay chúng ta sẽ suy gẫm về Thánh Giuse là cha của Chúa Giêsu. Các thánh sử Mátthêu và Luca trình bày Thánh Giuse như người cha nuôi của Chúa Giêsu chứ không phải là cha ruột. Thánh Mátthêu xác định rõ, bằng cách tránh dùng công thức “sinh ra”, được sử dụng cho tất cả tổ tiên của Chúa Giêsu trong gia phả; ngài xác định Giuse là “chồng bà Maria, là người sinh ra Chúa Giêsu được gọi là Đấng Kitô” (1,16). Trong khi Luca khẳng định rằng Thánh Giuse là cha của Chúa Giêsu “như thiên hạ nghĩ” (x. Lc 3,23), tức ngài xuất hiện với tư cách là một người cha.

Để hiểu được mối quan hệ cha con hợp pháp hay theo luật của Thánh Giuse, cần phải nhớ rằng vào thời cổ đại, ở Đông Phương, thể chế qui định nhận con nuôi rất thường xuyên, nhiều hơn so với thời đại của chúng ta. Chúng ta hãy nghĩ đến trường hợp phổ biến ở Israel được trình bày trong sách Đệ Nhị Luật: “Khi có những anh em ở chung với nhau, và một trong những người đó chết mà không có con trai, thì vợ của người chết không được lấy một người xa lạ, ngoài gia đình; một người anh em chồng sẽ đến với nàng, lấy nàng làm vợ và chu toàn bổn phận của một người anh em chồng đối với nàng. Đứa con đầu lòng nàng sinh ra sẽ duy trì tên của người anh em đã chết; như vậy tên của người chết sẽ không bị xoá khỏi Israel” (Đnl 25,5-6). Nói cách khác, cha mẹ của đứa trẻ này là anh rể, nhưng người cha hợp pháp vẫn là người đã khuất, là người cho đứa trẻ mới sinh thừa hưởng mọi di truyền. Mục đích của luật này gồm hai mặt: đảm bảo cho dòng dõi người đã khuất và bảo tồn tài sản.

Với tư cách là người cha chính thức của Chúa Giêsu, Thánh Giuse thực hiện quyền đặt tên cho con trai mình, công nhận đứa trẻ về mặt pháp lý. Ngài là cha về mặt pháp lý, nhưng cách chung không phải là người đã sinh ra Chúa Giêsu.

Trong thời cổ đại, cái tên là bản trích yếu danh tính của một người. Thay đổi tên có nghĩa là thay đổi chính mình, như trong trường hợp của Ápram, được Thiên Chúa đổi tên thành “Abraham”, nghĩa là “cha của mọi người”, “bởi vì – như sách Sáng thế nói – ông sẽ là cha của nhiều dân tộc” (17,5). Cũng vậy đối với Giacóp, người được gọi là “Israel”, nghĩa là “người vật lộn với Chúa”, bởi vì ông đã chiến đấu với Chúa để buộc Người phải chúc lành cho ông (x. St 32,29; 35,10).

Nhưng trên hết, đặt tên cho một người hay cho cái gì đó có nghĩa là khẳng định chủ quyền trên những gì được đặt tên, như Ađam đã làm khi đặt tên cho muôn vật (x. St 2,19-20).

Thánh Giuse đã biết rằng, đối với người con của Maria, Thiên Chúa đã chuẩn bị sẵn một cái tên – tên Giêsu do người cha đích thực của Chúa Giêsu là Thiên Chúa đặt cho – tên Giêsu, nghĩa là “Thiên Chúa cứu độ”, như Sứ thần giải thích “vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi mọi tội lỗi” (Mt 1,21). Khía cạnh đặc biệt này liên quan đến hình ảnh của Thánh Giuse cho phép chúng ta hôm nay suy tư về tình phụ tử và mẫu tử. Và tôi nghĩ rằng điều này rất quan trọng: hôm nay hãy nghĩ về tình phụ tử. Bởi vì chúng ta đang sống trong thời đại nổi danh mồ côi. Thật lạ lùng: nền văn minh của chúng ta là một nền văn minh mồ côi, và chúng ta cảm thấy đây là trại mồ côi. Hình ảnh của Thánh Giuse giúp chúng ta hiểu được cách giải quyết cảm giác là một cô nhi mà ngày nay đang khiến chúng ta đau khổ rất nhiều.

Sinh một người con vào lòng thế giới để được gọi là cha mẹ của nó vẫn chưa đủ. “Những người cha không được sinh ra, nhưng họ được trở thành cha. Và họ không trở thành cha chỉ vì sinh ra một đứa con trong thế gian, nhưng vì họ là người đảm nhận trách nhiệm chăm sóc đứa trẻ ấy. Bất cứ khi nào một người nhận trách nhiệm về cuộc sống của người khác, theo một nghĩa nào đó, họ trở thành cha của người ấy" (Tông thư Patris corde). Tôi nghĩ cách riêng đối với tất cả những người mở lòng đón nhận sự sống qua con đường nhận con nuôi, đó là một thái độ thật quảng đại và cao đẹp. Thánh Giuse cho chúng ta biết rằng mối dây liên kết kiểu này không phải là thứ yếu, không phải là tạm bợ. Kiểu chọn lựa này là một trong những hình thức cao nhất của tình yêu, của tình phụ-mẫu. Biết bao đứa trẻ trên thế giới đang đợi ai đó chăm sóc chúng! Và biết bao đôi vợ chồng mong ước được làm cha làm mẹ nhưng không thành vì lý do sinh học; hoặc dù đã có con nhưng họ vẫn muốn chia sẻ tình cảm gia đình với những người không có được nó. Đừng sợ khi chọn con đường nhận con nuôi, là con đường chấp nhận “rủi ro”. Và ngày nay, cũng có một sự ích kỷ nào đó đối với thân phận mồ côi. Hôm trước, tôi đã nói về mùa đông nhân khẩu đang có ở thời đại này: nhiều người không muốn có con, hay chỉ duy nhất một đứa thôi. Nhiều cặp vợ chồng không sinh con vì họ không muốn hay chỉ muốn sinh một đứa vì họ không muốn có thêm nữa, thế nhưng họ có hai con chó, hai con mèo... Đúng vậy, chó và mèo thế chỗ của con cái. Thật buồn cười, tôi hiểu, nhưng đó là sự thật. Và việc từ bỏ thiên chức làm cha mẹ làm giảm giá trị và lấy đi nhân tính của chúng ta. Một nền văn minh như thế trở nên quá già cỗi và không có nhân văn, vì sự phong phú của tình phụ mẫu bị mất đi. Và tổ quốc đau khổ vì không có con cái – như có người đã từng nói hơi hài hước “và ai sẽ trả thuế cho tiền hưu của tôi, khi mà không có con cái? Ai sẽ chăm sóc cho tôi đây?”, người đó cười, nhưng đây là sự thật. Tôi cầu xin Thánh Giuse ơn thức tỉnh lương tâm và suy nghĩ về điều này: về việc sinh con cái. Tình phụ mẫu là sự viên mãn của cuộc sống con người. Anh chị em hãy nghĩ điều này. Thực vậy, có tình phụ mẫu thiêng liêng đối với những người dâng hiến cho Thiên Chúa; nhưng những người sống giữa đời và lập gia đình phải nghĩ đến chuyện sinh con, sinh ra cuộc sống, vì chúng sẽ là những người vuốt mắt bạn, sẽ bận tâm đến tương lai của bạn. Và thậm chí nếu không thể sinh con, anh chị em hãy nghĩ đến việc nhận con nuôi. Đó là một rủi ro, đúng: có một đứa con luôn là một rủi ro, con đẻ và kể cả con nuôi. Nhưng rủi ro hơn khi không có đứa con nào. Sẽ rủi ro hơn khi phủ nhận tình phụ mẫu, tình phụ mẫu thực và thiêng liêng. Hai người nam nữ tự ý không phát triển ý thức về tình phụ mẫu thì họ đang thiếu cái gì đó chính yếu và quan trọng.

Anh chị em hãy suy nghĩ về điều này. Tôi mong rằng các thể chế luôn sẵn sàng trợ giúp việc nhận con nuôi, bằng cách quan tâm hết sức nhưng cũng phải đơn giản hóa tiến trình cần thiết để biến giấc mơ cần có một gia đình của nhiều trẻ nhỏ trở thành hiện thực, và nhiều đôi vợ chồng mong ước dấn thân cho tình yêu.

Cách đây không lâu, tôi đã nghe được lời chứng của một người, một bác sĩ, hai vợ chồng không có con nên họ quyết định nhận con nuôi. Đến thời điểm nhận con, họ trao cho gia đình ông một đứa trẻ và nói: “chúng tôi không biết sức khỏe của đứa trẻ này như thế nào. Dường như nó có bệnh”. Và khi đã nhìn thấy đứa trẻ ông ấy nói: “Nếu bạn hỏi tôi điều này trước khi vào đây, có lẽ tôi nói không. Nhưng tôi đã gặp được nó: tôi sẽ đưa nó theo”. Đây là ước muốn được làm cha, làm mẹ cho dù là con nuôi. Anh chị em đừng sợ điều này.

Tôi cầu nguyện để không một ai cảm thấy thiếu thốn tình cảm cha con, và cho những người đau yếu trong cảnh mồ côi tiếp tục tiến bước mà không có cảm giác tồi tệ như vậy. Nguyện xin Thánh Giuse thực thi việc che chở và giúp đỡ của ngài cho các cô nhi; và xin thánh Giuse chuyển cầu cho các cặp vợ chồng đang mong được sinh con. Vì lý do này chúng ta cùng cầu nguyện:

Lạy Thánh Cả Giuse,

Ngài đã yêu thương Chúa Giêsu bằng tình yêu hiền phụ
xin ở bên những đứa trẻ không có gia đình
và đang mong ước có được cha mẹ.
Xin nâng đỡ các đôi vợ chồng không thể có con
giúp họ khám phá ra một chương trình rộng lớn hơn qua nỗi đau này.
Xin đừng để một ai thiếu gia đình, thiếu tình cảm,
thiếu người chăm sóc họ;
và xin cứu chữa lòng ích kỷ của những người khép mình với cuộc sống
để họ mở rộng tâm hồn cho tình yêu. 
mục lục

Bài 5: THÁNH GIUSE, DI DÂN BỊ BÁCH HẠI VÀ CAN ĐẢM

+ ĐTC. Phanxicô

Anh chị em thân mến, chào anh chị em buổi sáng!

Hôm nay, tôi muốn trình bầy với anh chị em Thánh Giuse như một di dân bị bách hại và can đảm. Thánh sử Matthêu mô tả về ngài như thế. Biến cố đặc thù trong cuộc đời của Chúa Giêsu cũng liên quan đến Thánh Giuse và Mẹ Maria, theo truyền thống, được gọi là “cuộc chạy trốn sang Ai Cập” (x. Mt 2:13-23). Gia đình Nadarét đã phải chịu nỗi nhục nhã ấy và trực tiếp trải qua sự bấp bênh, sợ hãi và đau đớn khi phải rời bỏ quê hương. Ngày nay, rất nhiều anh chị em của chúng ta vẫn đang bị buộc phải trải qua cùng những bất công và đau khổ như vậy. Nguyên nhân thì hầu như luôn luôn là sự cao ngạo và bạo lực của kẻ quyền thế. Đây cũng là trường hợp của Chúa Giêsu.

Vua Hêrôđê biết được từ các đạo sĩ về sự ra đời của “Vua dân Do Thái”, và tin này làm ông chấn động. Ông cảm thấy bất an, ông cảm thấy quyền lực của mình đang bị đe dọa. Vì vậy, ông ta tập hợp tất cả những người lãnh đạo của Giêrusalem lại để tìm ra nơi Chúa Giêsu sinh ra, và yêu cầu các đạo sĩ thông báo cho ông ta những chi tiết chính xác, để - ông ta nói một cách giả dối - ông ta cũng sẽ đến và thờ lạy Người. Nhưng khi nhận ra các đạo sĩ đã trở về theo hướng khác, ông ta đã lên một kế hoạch độc ác: giết tất cả những đứa trẻ dưới hai tuổi ở Bêlem, đó là khoảng thời gian, theo tính toán của các Đạo sĩ, trong đó Chúa Giêsu đã sinh ra.

Trong lúc đó, một thiên sứ ra lệnh cho Thánh Giuse: “Hãy trỗi dậy, đem con trẻ và mẹ em chạy sang Ai Cập, và ở đó cho đến khi ta nói cho ông hay; vì Hêrôđê sắp tìm con trẻ để tiêu diệt em” (Mt 2:13). Ngày nay, anh chị em hãy nghĩ đến nhiều người cũng cảm thấy bị thôi thúc ở trong lòng: "Hãy chạy trốn, hãy chạy trốn, bởi vì có nguy hiểm ở đây". Kế hoạch của Hêrôđê gợi ta nhớ đến kế hoạch của Pharaô đã ném tất cả trẻ trai của dân Do Thái xuống sông Nile (x. Xh 1:22). Việc lánh nạn sang Ai Cập gợi nhớ toàn bộ lịch sử của Dân Do Thái bắt đầu với Ápraham, người cũng đã trú ngụ ở đó (xem St 12:10); với Giuse, con Giacóp, bị anh em mình bán (xem St 37:36) trước khi trở thành “người cai trị lãnh thổ” (xem St 41: 37-57); và với Môsê, người đã giải phóng dân tộc mình khỏi ách nô lệ của người Ai Cập (x. Xh 1:18).

Chuyến lánh nạn của Thánh Gia sang Ai Cập đã cứu Chúa Giêsu, nhưng tiếc là nó không ngăn cản được Hêrôđê thực hiện vụ thảm sát của ông ta. Do đó, chúng ta phải đối đầu với hai nhân cách đối lập nhau: một mặt là Vua Hêrôđê với sự hung dữ, mặt khác là Thánh Giuse với sự quan tâm và lòng can đảm. Vua Hêrôđê muốn bảo vệ quyền lực của mình, chính làn da của mình, bằng sự tàn nhẫn không nương tay, như được chứng thực bằng việc hành quyết một trong những người vợ, một số con cái của ông ta và hàng trăm đối thủ. Ông ta là một người tàn nhẫn: để giải quyết vấn đề, ông ta chỉ có một giải pháp: giết. Ông ta là biểu tượng của nhiều bạo chúa trong quá khứ và ngày nay. Và đối với chúng, đối với những bạo chúa này, người dân không đáng kể; quyền lực mới đáng kể, và nếu họ cần có chỗ cho quyền lực, họ sẽ tiêu diệt người dân. Và điều này cũng đang xảy ra hôm nay: chúng ta không cần nhìn vào lịch sử cổ thời, nó đang xảy ra hôm nay. Ông ta là người đã trở thành "sói" cho những người khác. Lịch sử đầy rẫy những nhân vật như thế, những người sống với nhiều nỗi sợ hãi của họ, cố gắng chinh phục chúng bằng cách thực thi quyền lực một cách chuyên quyền và thực hiện các hành động bạo lực vô nhân đạo. Nhưng chúng ta không nên nghĩ rằng chúng ta chỉ sống theo quan điểm của Hêrôđê khi chúng ta trở thành bạo chúa, không; thật vậy, đó là một thái độ mà tất cả chúng ta đều có thể sa vào, mỗi khi chúng ta cố gắng xua tan nỗi sợ hãi bằng sự cao ngạo, dù chỉ bằng lời nói, hoặc tạo ra các hành vi lạm dụng nho nhỏ nhằm hành hạ những người thân cận của chúng ta. Chúng ta cũng có trong lòng khả thể trở thành những Hêrôđê nho nhỏ.

Thánh Giuse đối lập với Hêrôđê: trước hết, ngài là “người công chính” (Mt 1:19), còn Hêrôđê là một người độc tài. Hơn nữa, ngài chứng tỏ ngài can đảm làm theo mệnh lệnh của Thiên thần. Người ta có thể hình dung ra những thăng trầm ngài phải đối diện trong cuộc hành trình lâu dài và nguy hiểm và những khó khăn liên quan đến việc ở lại một đất nước xa lạ, với một ngôn ngữ khác: rất nhiều khó khăn. Lòng can đảm của ngài cũng bộc lộ trong lúc ngài hồi hương, khi được Thiên Thần trấn an, ngài vượt qua nỗi sợ hãi có thể hiểu được của mình và cùng với Đức Maria và Chúa Giêsu định cư ở Nadarét (x. Mt 2:19-23). Hêrôđê và thánh Giuse là hai nhân vật đối lập nhau, phản ảnh hai bộ mặt muôn thuở của nhân loại. Một quan niệm sai lầm phổ biến là coi lòng can đảm là đức tính riêng của người anh hùng. Trong thực tế, cuộc sống hàng ngày của mỗi người đều đòi hỏi lòng can đảm. Cách sống của chúng ta - của anh chị em, của tôi, của mọi người: người ta không thể sống mà không có lòng can đảm, lòng can đảm để đối đầu với các khó khăn hàng ngày. Trong mọi thời đại và mọi nền văn hóa, chúng ta đều thấy những người đàn ông và đàn bà can đảm, những người, để nhất quán với các niềm tin của họ, đã vượt qua mọi khó khăn, và chịu đựng bất công, kết án và thậm chí cả cái chết nữa. Lòng can đảm đồng nghĩa với lòng dũng cảm, một đức tính cùng với sự công bằng, khôn ngoan và tiết độ là một phần của nhóm các nhân đức nhân bản vốn được gọi là “các nhân đức chính”.

Bài học mà Thánh Giuse để lại cho chúng ta hôm nay là: cuộc sống luôn có sẵn cho chúng ta những nghịch cảnh, điều này đúng, khi đứng trước chúng, chúng ta cũng có thể cảm thấy bị đe dọa và sợ hãi. Nhưng không phải bằng cách biểu lộ điều tồi tệ nhất của bản thân, như Hêrôđê, chúng ta có thể vượt qua những khoảnh khắc nhất định, nhưng bằng cách hành động giống như Thánh Giuse, vị thánh đã phản ứng chống nỗi sợ hãi bằng lòng can đảm tin cậy vào sự Quan phòng của Thiên Chúa. Hôm nay tôi nghĩ chúng ta cần một lời cầu nguyện cho tất cả những người di cư; những người di cư và tất cả những người bị bách hại, và tất cả những ai là nạn nhân của những nghịch cảnh bất lợi: chúng có thể là hoàn cảnh chính trị, lịch sử hoặc bản thân. Nhưng, chúng ta hãy nghĩ đến rất nhiều người là nạn nhân của các cuộc chiến tranh, những người muốn chạy trốn khỏi quê hương của họ nhưng không thể chạy trốn; chúng ta hãy nghĩ đến những người di cư đã lên đường để được tự do, rất nhiều người trong số họ đã kết thúc trên đường phố hoặc trên biển cả; Chúng ta hãy nghĩ đến Chúa Giêsu trong vòng tay của Thánh Giuse và Mẹ Maria, đang chạy trốn, và chúng ta hãy nhìn thấy nơi Người từng người trong số những người di cư của ngày hôm nay. Di cư ngày nay là một thực tại mà chúng ta không thể nhắm mắt. Đó là một tai tiếng xã hội của nhân loại.

Lạy Thánh Giuse,
ngài là người đã trải qua sự đau khổ của những người phải chạy trốn
ngài là người đã bị buộc phải chạy trốn
để cứu mạng của những người thân yêu nhất của ngài,
xin bảo vệ tất cả những người đang chạy trốn vì chiến tranh, hận thù, đói khát.
Xin trợ giúp họ trong các khó khăn của họ,
Xin củng cố họ trong hy vọng, và để họ tìm được sự chào đón và liên đới.
Xin hướng dẫn các bước đi của họ và mở rộng trái tim của những người có thể giúp họ. Amen. mục lục

Bài 4: THÁNH GIUSE, CON NGƯỜI THINH LẶNG

+ ĐTC. Phanxicô

Anh chị em thân mến,

Chúng ta tiếp tục hành trình suy tư về Thánh Giuse. Sau khi đã minh họa môi trường nơi ngài đã sống, vai trò của ngài trong lịch sử cứu rỗi, đời sống công chính của ngài và là hôn phu của Đức Maria, hôm nay tôi muốn xem xét đến một khía cạnh quan trọng khác về hình ảnh của ngài: sự thinh lặng. Ngày nay, chúng ta rất cần sự thinh lặng. Sự thinh lặng rất quan trọng, tôi bị ấn tượng bởi một đoạn trong sách Khôn Ngoan mà tôi đã đọc đang khi nghĩ về lễ Giáng sinh: “Khi màn đêm chìm sâu trong thinh lặng, từ trời cao lời của Chúa đã ngự xuống trần gian”. Thời điểm im lặng nhất thì Thiên Chúa đã hiển hiện. Điều quan trọng là nghĩ về thinh lặng trong thời đại này, một thời đại mà dường như nó không còn nhiều giá trị.

Các sách Phúc âm không kể lại lời nào của Giuse thành Nazareth, không có lời nào, ngài không bao giờ nói lời nào. Điều này không có nghĩa là ngài kiệm lời, không phải vậy, có một lý do sâu xa hơn. Với sự thinh lặng của mình, Thánh Giuse xác minh điều mà thánh Augustinô đã viết : “Trong chừng mực – Ngôi Lời đã lớn lên trong chúng ta – Ngôi lời đã làm người – lời nói thì giảm lại” [1]. Trong chừng mực Chúa Giêsu – lời thiêng liêng – lớn lên, lời nói thì giảm lại. Điều này chúng ta có thể diễn tả như “chủ nghĩa con vẹc” nói như những con vẹc, nói liên tục, hãy bớt đi một chút. Chính thánh Gioan Tẩy giả, “là tiếng kêu trong sa mạc: Hãy dọn đường cho Chúa” (Mt 3,1), đã so sánh với Ngôi Lời: “Ngài phải lớn lên còn tôi phải nhỏ lại” (Ga 3,30). Điều đó có nghĩa là Ngài phải nói còn tôi phải im tiếng và qua sự thinh lặng của mình, Thánh Giuse mời gọi chúng ta hãy nhường chỗ cho sự hiện diện của Ngôi Lời nhập thể, là Chúa Giêsu.

Sự thinh lặng của Thánh Giuse không phải là câm nín đó là một sự thinh lặng đầy lắng nghe, tích cực, một sự thinh lặng bộc lộ nội tâm cao quý của ngài. “Chúa Cha đã nói một lời, và đó là Con của Ngài – Thánh Gioan Thánh Giá chú giải, - và Ngài luôn nói trong sự thinh lặng vĩnh cửu, trong sự thinh lặng Lời phải được linh hồn lắng nghe” [2].

Chúa Giêsu đã trưởng thành nơi “mái trường” này, trong gia đình Nazareth, với mẫu gương thường ngày của Mẹ Maria và Thánh Giuse. Và không có gì ngạc nhiên khi thấy Chúa tìm những khoảng lặng trong ngày sống của Ngài (x. Mt 14,23) và Ngài yêu cầu các môn đệ của mình hãy thực hành kinh nghiệm này, chẳng hạn “Các con hãy lánh sang một bên, tìm nơi thanh vắng để nghỉ ngơi một chút” (Mc 6,31).

Tuyệt vời biết bao nếu mỗi người chúng ta biết theo gương Thánh Giuse, có khả năng phục hồi lại chiều kích chiêm niệm của cuộc sống, được mở ra bằng chính sự thinh lặng. Nhưng kinh nghiệm cho chúng ta thấy điều đó không dễ: im lặng một chút thôi khiến chúng ta sợ hãi, bởi vì nói đòi hỏi chúng ta phải rút sâu vào bản thân và gặp gỡ phần chân thật nhất của mình. Và rất nhiều người sợ im lặng, họ phải nói, nói và nói, hoặc là nghe radio, xem tivi... không thể chấp nhận im lặng được vì họ sợ. Triết gia Pascal nhận định rằng “tất cả những bất hạnh của con người xuất phát từ một điều duy nhất: từ việc không biết cách giữ yên tĩnh trong phòng riêng của mình” [3].

Anh chị em thân mến,

Chúng ta hãy học nơi Thánh Giuse biết trau dồi những khoảng lặng, để sao cho một Lời khác hiển hiện, là Chúa Giêsu, Ngôi Lời: qua đó Chúa Thánh Thần ngự trong chúng ta và mang Chúa Giêsu đến cho chúng ta. Không dễ để nhận ra được Tiếng Chúa, thường bị nhầm lẫn với muôn ngàn âm thanh của những cám dỗ, khát vọng, hy vọng đang tồn tại trong chúng ta; nhưng nếu không có sự huấn luyện chính xác từ việc thực hành thinh lặng này, thì ngay cả chuyện nói của chúng ta có thể trở nên ốm yếu. Không thực hành thinh lặng thì lời nói của chúng ta sẽ bị ốm liệt. Thay vì làm cho chân lý trở nên tỏa sáng thì nó có thể trở thành vũ khí nguy hiểm. Thực vậy, những lời nói của chúng ta có thể trở thành những lời xu nịnh, hư vọng, dối trá, nói xấu, vu khống. Đó là một kinh nghiệm thực tế, như sách Huấn Ca nhắc nhở chúng ta: “Có nhiều kẻ gục ngã vì lưỡi kiếm, nhưng làm sao sánh được với những kẻ gục ngã vì lưỡi người?” (28,18). Chúa Giêsu đã nói rõ điều đó: ai nói xấu anh chị em mình, vu khống người thân cận, là kẻ sát nhân (x. Mt 5,21-22). Giết người bằng lưỡi. Chúng ta không tin điều này nhưng đó là sự thật. Hãy nghĩ lại một chút về những lần chúng ta đã giết người bằng lưỡi thì chúng ta sẽ thấy xấu hổ! Nhưng nó sẽ tốt cho chúng ta, tốt hơn rất nhiều.

Sự khôn ngoan thánh kinh khẳng định rằng: “Sống hay chết đều do cái lưỡi, ai yêu chuộng nó, sẽ lãnh nhận hậu quả. vội vàng đứng ra bênh vực họ” (Kn 18,21). Và Thánh Giacôbê Tông đồ, trong thư của ngài, đã khai triển chủ đề cổ xưa về uy quyền, mặt tích cực và tiêu cực, của từ này bằng những ví dụ nổi bật, ngài nói: “Nếu một người không mắc lỗi trong lời nói thì người đó hoàn hảo, có khả năng kiềm chế toàn thể thân xác […] Cái lưỡi cũng vậy: nó là một bộ phận nhỏ bé của thân thể, mà lại huênh hoang làm được những chuyện to lớn […] Ta dùng lưỡi mà chúc tụng Chúa là Cha chúng ta, ta cũng dùng lưỡi mà nguyền rủa những con người đã được làm ra theo hình ảnh Thiên Chúa. Từ cùng một cái miệng, phát xuất lời chúc tụng và lời nguyền rủa” (Gc 3,2-10).

Đây là lý do tại sao chúng ta phải học nơi Thánh Giuse tu dưỡng sự thinh lặng: đó là thinh lặng nội tâm trong đời sống hằng ngày, nơi đó chúng ta có thể để cho Chúa Thánh Thần tái tạo, an ủi và sửa chữa chúng ta. Tôi không nói là rơi vào chứng câm nín, không, nhưng là để tu dưỡng sự thinh lặng. Mỗi người hãy nhìn vào trong con người mình: nhiều lần khi chúng ta kết thúc một công việc đang làm thì chúng ta lại tìm điện thoại để thực hiện cuộc gọi khác ngay, chúng ta luôn làm như vậy. Điều này không giúp được gì, nó khiến chúng ta rơi vào tình trạng hời hợt. Chiều sâu của tâm hồn lớn lên cùng với thinh lặng, thinh lặng chứ không phải là chứng lặng câm, như tôi đã nói, nhưng là để nhường chỗ cho sự khôn ngoan, cho suy tư và cho Chúa Thánh Thần. Đôi khi chúng ta sợ những giây phút thinh lặng. Nhưng chúng ta không cần phải sợ như vậy! Im lặng sẽ giúp chúng ta ổn định hơn. Và lợi ích cho tâm hồn mà chúng ta có được chữa lành ngay cả miệng lưỡi chúng ta, lời nói của chúng ta và nhất là sự lựa chọn của chúng ta. Thật vậy, Thánh Giuse đã kết hợp im lặng với hành động. Ngài không nói, nhưng ngài làm, và điều đó thể hiện vào ngày Chúa Giêsu nói với các môn đệ của mình: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: "Lạy Chúa! lạy Chúa! " là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi” (Mt 7,21). Im lặng, nói đúng, thỉnh thoảng cắn lưỡi một chút, sẽ tốt hơn thay vì nói những điều vô nghĩa.

Chúng ta kết thúc bằng một lời cầu nguyện:

Lạy Thánh Cả Giuse, người im lặng,
Trong Tin mừng ngài đã không thốt ra một lời nào,
Xin dạy chúng con biết tiết chế những lời vô ích
để tái khám phá giá trị của những lời nói nhằm xây dựng, khích lệ, an ủi và nâng đỡ.
Xin hãy gần gũi những người bị lời nói làm tổn thương, như vu khống và nói xấu,
Và xin giúp chúng con luôn biết kết hiệp lời nói và hành động. Amen. mục lục
----------------------------------------------------------
[1] Diễn văn 288, 5: PL 38, 1307.
[2] Dichos de luz y amor , BAC, Madrid, 417, n. 99.
[3] Những tư tưởng, 139.

Bài 3: Giuse người công chính và là hôn phu của Đức Maria

+ ĐTC. Phanxicô

Anh chị em thân mến,

Chúng ta tiếp tục hành trình suy tư về hình ảnh của Thánh Giuse. Hôm nay tôi muốn đào sâu hơn về hình ảnh người công chính và là hôn phu của Đức Maria, rồi từ đó đưa ra một thông điệp cho tất cả các cặp đôi đã đính hôn và cả những đôi vợ chồng mới cưới. Trong các trình thuật của Phúc âm ngụy thư đầy dẫy những câu chuyện liên quan đến thánh Giuse, tức là những sách không thuộc qui điển, cũng đã ảnh hưởng đến nghệ thuật và nhiều địa điểm thờ phượng khác nhau. Các tác phẩm không có trong Kinh thánh này - là những câu chuyện do người Kitô hữu thời đó viết ra - đáp ứng cho khát vọng lấp đầy khoảng trống của các trình thuật Tin mừng thuộc qui điển, những sách có trong Kinh thánh, cung cấp cho chúng ta tất cả những điều cơ bản về đức tin và đời sống Kitô giáo.

Thánh sử Mátthêu - Đây là điều quan trọng - Tin mừng nói gì về Thánh Giuse? Không phải những gì mà các phúc âm ngụy thư này nói đều là cái gì đó xấu xa hay tồi tệ; chúng là điều tốt, nhưng chúng không phải là Lời Chúa. Thay vào đó các Tin mừng, các sách thuộc Kinh thánh, là Lời Chúa. Trong số các thánh sử thì Matthêu xác định Thánh Giuse là người “công chính”. Chúng ta hãy lắng nghe câu chuyện của ngài: “Sau đây là gốc tích Đức Giêsu Kitô: bà Maria, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giuse. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Ông Giuse, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo” (Mt 1,18-19). Vì khi người bạn gái của mình không chung thủy hay mang thai thì những bạn trai phải tố giác người ấy. Và những người nữ vào thời đó bị ném đá. Nhưng Thánh Giuse là người công chính. Ngài nói: “Không, tôi sẽ không làm điều này. Tôi giữ im lặng”.

Để hiểu được cách cư xử của thánh Giuse với Đức Maria, thật hữu ích khi nhớ lại các phong tục hôn nhân của dân Israel. Cuộc hôn nhân bao gồm hai giai đoạn được xác định rõ ràng. Lần thứ nhất giống như một cuộc đính hôn chính thức, bao gồm cả một tình huống mới: cách riêng với người nữ, trong khi vẫn còn sống ở nhà cha mẹ ruột thêm một năm nữa, nhưng thực ra người nữ đó được xem là “vợ” của người đã hứa hôn với cô. Dù họ không sống chung với nhau, nhưng người nữ ấy như thể là vợ của anh ta. Hành động thứ hai là rước dâu từ nhà gái về nhà chồng. Điều này được diễn ra với đoàn đưa dâu, kết thúc lễ cưới. Và những người bạn của cô dâu đã tháp tùng cô đến đó. Dựa vào phong tục này, sự kiện “trước khi về chung sống với nhau, Maria đã mang thai”, đã vạch trần người Trinh nữ về tội gian dâm. Và tội này, theo luật xưa, phải bị trừng phạt bằng ném đá (x. Đnl 22,20-21). Tuy nhiên, một cách giải thích ôn hòa hơn đã được áp dụng trong cách thực hành của người Do Thái sau này, vốn chỉ yêu cầu hành động từ chối với các hậu quả dân sự và hình sự đối với người phụ nữ chứ không phải ném đá.

Tin mừng nói rằng Thánh Giuse là người “công chính” bởi vì ngài phải tuân giữ lề luật như bao nhiêu người Israel ngoan đạo khác. Nhưng tự trong lòng ngài, tình yêu và sự tin tưởng dành cho Đức Maria đã gợi lên một cách để ngài vừa tuân giữ lề luật vừa cứu lấy danh dự của người bạn đời: ngài quyết định từ chối trong âm thầm, không gây ồn ào, không để cho Đức Maria phải chịu sỉ nhục trước công chúng. Ngài chọn con đường kín đáo, không kiện cáo hay trả thù. Thánh Giuse thánh khiết biết bao! Còn chúng ta, khi vừa có một chút thông tin về chuyện tầm phào hay điều gì xấu về người khác chúng ta liền đi rêu rao ngay lập tức. Trái lại, Thánh Giuse im lặng.

Nhưng ngay sau đó thánh sử Mátthêu liền thêm vào: "Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: “Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,20-21). Tiếng nói của Thiên Chúa can thiệp vào trong sự phân định của Giuse qua một giấc mơ, mở ra cho thánh nhân thấy một ý nghĩa quan trọng hơn so với sự công chính của ngài.

Và thật quan trọng đối với mọi người chúng ta khi biết vun trồng một cuộc đời công chính và đồng thời luôn cảm thấy mình cần sự giúp đỡ của Thiên Chúa, để có thể mở rộng tầm nhìn của chúng ta và xem xét các hoàn cảnh của cuộc sống từ một quan điểm khác, rộng lớn hơn. Nhiều lần chúng ta cảm thấy mình như những tù nhân đối với những gì đã xảy ra cho chúng ta: “Hãy nhìn xem điều gì đã xảy ra cho tôi vậy”, và chúng ta vẫn là những tù nhân của những điều tồi tệ, vốn đã xảy ra cho chúng ta; nhưng thực sự khi đối mặt với một số hoàn cảnh của cuộc sống, mà thoạt đầu có vẻ bi thảm, nhưng một ơn Quan Phòng ẩn giấu sẽ được hình thành theo thời gian và soi sáng ý nghĩa cũng như đau khổ vốn đã chạm vào chúng ta. Sự cám dỗ đó là khép mình trong nỗi đau, trong suy nghĩ rằng những điều tốt đẹp không bao giờ xảy ra cho chúng ta. Và điều này thật sự không ổn. Điều này dẫn đến buồn bực và cay đắng. Tâm hồn cay đắng thì thật tệ.

Tôi muốn mọi người dừng lại và suy gẫm về một chi tiết của câu chuyện được Tin mừng kể lại mà chúng ta thường bỏ qua. Đức Maria và Thánh Giuse là cặp đôi đã đính hôn, có lẽ họ đã ấp ủ những ước mơ và kỳ vọng cho cuộc sống và tương lai của mình. Thật bất ngờ, Chúa dường như đã tự chen mình vào cuộc sống của họ và dẫu cho lúc đầu điều đó gây khó khăn cho họ, cả hai đều mở rộng trái tim cho thực tại đang diễn ra trước mắt họ.

Anh chị em thân mến, 

Nhiều khi cuộc sống của chúng ta thường không như chúng ta tưởng. Nhất là trong các mối quan hệ yêu đương, tình cảm, chúng ta khó có thể chuyển từ cái luận lý si tình sang tình yêu trưởng thành. Và chúng ta cần phải chuyển từ sự si tình sang tình yêu trưởng thành. Những đôi vợ chồng mới cưới, các bạn hãy suy nghĩ kỹ về điều này. Giai đoạn đầu luôn được ghi dấu bằng một thứ mê hoặc nào đó, vốn làm cho cuộc sống ngập chìm trong hư ảo thường không tương xứng với thực tại của các sự việc. Nhưng chỉ khi nào sự si mê với những mong đợi của nó xem ra kết thúc, thì ở đó tình yêu thực sự mới có thể bắt đầu.

Thực vậy, tình yêu không phải là mong người kia hay đợi cuộc sống tương hợp với trí tưởng tượng của chúng ta; đúng hơn có nghĩa đó là chọn lựa hoàn toàn tự do để chịu trách nhiệm về cuộc sống như nó đã được trao tặng cho chúng ta. Đây là lý do Thánh Giuse đã đưa ra cho chúng ta một bài học quan trọng, ngài chọn Đức Maria với “đôi mắt rộng mở”. Và chúng ta có thể nói "với mọi rủi ro". Anh chị em nghĩ xem, trong Tin mừng Gioan, những lời khiển trách mà các tiến sĩ luật dành cho Chúa Giêsu là: “Chúng tôi không phải là những đứa con xuất thân từ đó”, ám chỉ đến việc mại dâm. Nhưng vì họ biết Đức Maria mang thai như thế nào và họ muốn làm nhơ bẩn mẹ của Chúa Giêsu. Đối với tôi, đây là đoạn dơ bẩn nhất, ma quỷ nhất trong Tin mừng. Và sự liều lĩnh của Thánh Giuse dạy cho chúng ta bài học này: cuộc sống đến thế nào thì hãy đón lấy như vậy. Thiên Chúa có can thiệp vào đó không? Tôi sẽ nhận lấy nó. Và Thánh Giuse đã làm theo lời sứ thần truyền: “Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà. Ông không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai, và ông đặt tên cho con trẻ là Giêsu” (Mt 1,24-25).

Các cặp đôi Kitô giáo sắp cưới được kêu mời làm chứng cho một tình yêu như vậy, một tình yêu có đủ can đảm để chuyển từ sự trạng thái si tình sang tình yêu trưởng thành. Và đây là một lựa chọn khắc khe, thay vì giam cầm cuộc sống thì có thể củng cố tình yêu để nó được bền vững trước những thử thách của thời đại. Tình yêu lứa đôi cứ thế tiếp diễn trong cuộc sống và trưởng thành từng ngày. Tình yêu thời gian đính hôn là một tình yêu - cho phép tôi dùng chữ này - có chút lãng mạn. Anh chị em đều trải qua điều này, nhưng rồi tình yêu trưởng thành bắt đầu, rồi từng ngày, công việc, con cái sẽ đến, vì vậy đôi khi sự lãng mạn cũng bị phai nhạt dần. Nhưng đó không phải là tình yêu đúng không? Phải, nhưng tình yêu trưởng thành. “Nhưng cha có biết nhiều lần chúng con cãi nhau…”. Điều này xảy ra từ thời ông Ađam và Eva cho đến hôm nay: Các đôi vợ chồng cãi nhau là chuyện thường như cơm bữa. “Nhưng không cần phải cãi nhau sao?” À có thể chứ. “Và thưa cha, đôi khi chúng con to tiếng nữa” - “điều đó đã xảy ra”. “Ngay cả nhiều lần chén đĩa cũng bay theo”. Nhưng làm sao để điều này không phá hỏng đời sống hôn nhân? Các bạn hãy nghe cho kỹ: đừng bao giờ để một ngày kết thúc mà không làm hòa. Chúng ta đã cãi nhau. Tôi đã nói với bạn những lời nói không hay, nói những điều tồi tệ. Nhưng giờ đây một ngày đang kết thúc: tôi phải làm hòa. Anh chị em biết tại sao không? Bởi vì chiến tranh lạnh sau ngày đó thì thật là nguy hiểm. Đừng để xảy ra chiến tranh ngày sau đó. Vì thế cần phải làm hòa trước khi đi ngủ. Anh chị em hãy luôn nhớ: đừng để một ngày kết thúc mà không có bình an. Và điều này sẽ giúp cho đời sống hôn nhân của anh chị em. Con đường từ si mê đến tình yêu trưởng thành là một lựa chọn thật khắt khe, nhưng chúng ta phải đi theo con đường đó.

Và lần này chúng ta cũng kết thúc bằng lời nguyện với Thánh Giuse:

Lạy Thánh Giuse
người đã yêu mến Mẹ Maria bằng sự tự do
đã chọn từ bỏ ảo tưởng của mình để nhường chỗ cho sự thật,
xin giúp mỗi người chúng con biết ngạc nhiên trước Thiên Chúa
và chấp nhận cuộc sống không phải là một điều gì đó không lường trước được để tự bảo vệ mình,
nhưng như một mầu nhiệm che giấu bí quyết của niềm vui thực sự.
Xin cho các cặp đôi Kitô giáo sắp cưới có được niềm vui và biết dấn thân,
đồng thời luôn ý thức rằng chỉ có lòng xót thương và tha thứ thực sự mới có thể đem lại tình yêu. Amen. 
mục lục

Bài 2: Thánh Cả Giuse trong lịch sử cứu độ

+ ĐTC. Phanxicô

Trong buổi tiếp kiến chung sáng thứ Tư 24/11/2021 tại Vatican, Đức Thánh cha Phanxicô tiếp tục loạt bài giáo lý về Thánh Giuse. Hôm nay ĐTC nhấn mạnh đến vai trò của Thánh Giuse, mặc dù không được chú ý nhiều, nhưng ngài đã đóng vai trò quan trọng trong lịch sử cứu rỗi.

Anh chị em thân mến,

Thứ Tư tuần trước chúng ta đã bắt đầu chu kỳ những bài giáo lý về Thánh Giuse – năm dành cho ngài sắp kết thúc -. Hôm nay chúng ta tiếp tục lộ trình này bằng cách tập trung vào vai trò của ngài trong lịch sử cứu rỗi.

Các Tin mừng đã chỉ rõ Chúa Giêsu là “con của ông Giuse” (Lc 3,23; 4,22; Ga 1,45; 6,42) và “con của bác thợ mộc” (Mt 13,55; Mc 6,3). Khi kể về thời thơ ấu của Chúa Giêsu, các thánh sử Matthêô và Luca dành không gian cho vai trò của Thánh Giuse. Cả hai đều tạo ra một “gia phả” nhằm làm nổi bật tính lịch sử của Chúa Giêsu. Trước hết, thánh sử Matthêô nói cho người Do thái theo Kitô giáo, bắt đầu từ Abram cho đến Giuse, được cho là “chồng của bà Maria, là mẹ của Chúa Giêsu cũng được gọi là Đấng Kitô” (Mt 1,16). Trong khi thánh sử Luca bắt đầu trực tiếp từ Chúa Giêsu, “là con của ông Giuse”, đi ngược lên đến Ađam, nhưng xác định: “coi Người là con ông Giuse” (Lc 3,23). Vì thế, cả hai thánh sử đều trình bày Thánh Giuse không phải là cha ruột, nhưng dù sao ngài được xem như là người cha chính thức của Chúa Giêsu. Qua Thánh Giuse, Chúa Giêsu hoàn tất lịch sử giao ước và cứu rỗi diễn ra giữa Thiên Chúa và loài người. Đối với Matthêô, lịch sử này bắt đầu với Abraham, với Luca lịch sử bắt đầu từ chính nguồn gốc của nhân loại, tức là với Ađam.

Thánh sử Mátthêu giúp chúng ta hiểu rằng nhân vật Giuse, mặc dù có vẻ ngoài lề, kín đáo, thuộc hàng thứ yếu, nhưng được trình bày như một phần chính yếu trong lịch sử cứu rỗi. Thánh Giuse sống vai chính của mình mà không bao giờ muốn chiếm sân khấu. Nếu chúng ta nghĩ về điều đó, “cuộc sống của chúng ta được đan dệt và nâng đỡ bởi những người bình thường – thường bị lãng quên – là những người không xuất hiện trên các tiêu đề của các tờ báo và tạp chí [...]. Biết bao bậc cha mẹ, ông bà, thầy cô chỉ dạy cho con cái chúng ta, bằng những hành động nhỏ nhặt, những cử chỉ thường ngày, cách đối mặt và vượt qua khủng hoảng bằng cách điều chỉnh những thói quen, bằng cách nhìn về phía trước và khuyến khích cầu nguyện. Có biết bao người đang cầu nguyện, hy sinh và chuyển cầu vì thiện ích của tất cả mọi người” (Tông thư Patris Corde, 1). Và vì vậy, ai cũng có thể nhìn thấy nơi Thánh Giuse, con người không được nhận biết, con người của hiện diện hằng ngày, hiện diện trong chừng mực và kín đáo, một người chuyển cầu, nâng đỡ và hướng dẫn trong những lúc khó khăn. Ngài nhắc nhở chúng ta biết rằng tất cả những người xem ra âm thầm hay thuộc “hàng thứ yếu” đều là những nhân vật chính vô song trong lịch sử cứu rỗi. Thế giới cần những con người như vậy: những người thuộc hàng thứ yếu, nhưng lại là những người hỗ trợ cho sự phát triển của cuộc sống chúng ta, của mỗi người chúng ta, là những người bằng lời cầu nguyện, bằng gương sáng, bằng lời chỉ dạy của họ, nâng đỡ chúng ta trên nẻo đường của cuộc sống.

Trong Tin mừng Luca, Thánh Giuse xuất hiện với tư cách là người trông nom Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Và vì lý do này, ngài ta cũng là “Người trông nom Giáo hội”: nhưng nếu đã là người trông giữ của Chúa Giêsu và Mẹ Maria, thì giờ đây, ở trên trời, ngài làm việc và vẫn tiếp tục làm người trông coi, trong trường hợp này của Giáo hội; bởi vì Giáo hội là Nhiệm thể nối dài của Chúa Kitô trong lịch sử, và đồng thời tình mẫu tử của Giáo hội cũng được phản chiếu trong tình mẫu tử của Mẹ Maria. Thánh Giuse, vẫn tiếp tục bảo vệ Giáo hội – anh chị em đừng quên điều này: ngày nay, Thánh Giuse vẫn tiếp tục bảo vệ Giáo hội – tiếp tục bảo vệ Hài nhi và Mẹ của Ngài” (x. ibid số 5) Khía cạnh bảo vệ này của Thánh Giuse là câu trả lời tuyệt vời cho trình thuật Sáng thế. Khi Chúa yêu cầu Cain giải trình về mạng sống của Abel, anh ta trả lời : “Tôi có phải là người canh giữ anh tôi đâu?” (St 4,9). Với cuộc đời của ngài, dường như thánh Giuse muốn nói với chúng ta rằng chúng ta luôn được mời gọi để cảm thấy mình là người bảo vệ anh chị em của mình, bảo vệ những người thân cận, những người Thiên Chúa giao phó cho chúng ta qua nhiều hoàn cảnh của cuộc sống.

Một xã hội chẳng hạn như của chúng ta, được xem như là “chất lỏng”, bởi vì dường như nó không chắc chắn. Tôi sẽ sửa lại định nghĩa nhà triết học đã đặt ra và tôi sẽ nói: nó còn hơn chất lỏng, là chất khí, một xã hội chất khí đúng nghĩa. Xã hội lỏng và khí này tìm thấy trong câu chuyện của thánh Giuse một dấu hiệu rõ ràng về tầm quan trọng của các mối tương quan nhân loại. Thực vậy, Tin mừng kể cho chúng ta về gia phả của Chúa Giêsu, không chỉ vì lý do thần học, mà còn để nhắc nhở mỗi người chúng ta biết rằng cuộc sống của chúng ta được tạo nên từ những mối dây liên kết đi trước và đồng hành với chúng ta. Con của Thiên Chúa, khi đến trần gian, Ngài đã chọn con đường của những mối dây ràng buộc, con đường lịch sử: Ngài không bước vào trần gian cách thần diệu, không. Ngài đã thực hiện con đường lịch sử mà tất cả chúng ta đang thực hiện.

Anh chi em thân mến, tôi nghĩ đến nhiều người đang gặp khó khăn để tìm lại những mối quan hệ có ý nghĩa trong cuộc sống của họ, vì vậy mà họ cảm thấy cô độc, không có sức mạnh và dũng khí để tiếp tục tiến tới. Tôi muốn kết thúc bài giáo lý bằng lời cầu nguyện để giúp họ và giúp tất cả chúng ta tìm thấy nơi Thánh Giuse một đồng minh, một người bạn và một người bảo trợ.  

Lạy Thánh Cả Giuse, 

Ngài đã gìn giữ mối dây liên kết với Mẹ Maria và Chúa Giêsu,
xin giúp chúng con biết chăm sóc các mối dây liên kết trong cuộc sống của chúng con.
Xin đừng để ai phải trải qua cảm giác bị bỏ rơi
bắt nguồn từ sự cô đơn.
Xin cho mọi người được hòa giải với lịch sử của riêng mình,
với những người đi trước,
và biết nhận ra những sai lỗi đã phạm
để qua đó việc Chúa Quan phòng được thành tựu,
và điều ác không có lời cuối cùng.
Xin hãy tỏ ra như người bạn với những người đang gặp khó khăn nhất,
như ngài đã nâng đỡ Mẹ Maria và Chúa Giêsu trong những lúc khó khăn,
xin cũng nâng đỡ chúng con trên hành trình của mình. Amen.

Tóm tắt lời của Đức Thánh Cha:

Anh chị em thân mến,

Trong bài giáo lý tiếp theo về Thánh Giuse, giờ đây chúng ta xem xét vai trò quan trọng của ngài trong lịch sử cứu rỗi. Gia phả trong các Tin mừng Matthêô và Luca trình bày Chúa Giêsu là “con ông Giuse” (Lc 3:23), và khẳng định rằng, mặc dù không phải là cha ruột, nhưng thánh Giuse vẫn thực hiện vai trò của một người cha đích thực. Thánh sử Matthêô cho thấy rằng Thánh Giuse, mặc dù là một nhân vật có vẻ ngoài lề, nhưng thực tế lại đóng vai trò trung tâm trong việc mở ra lịch sử cứu độ và thực hiện các lời hứa của Thiên Chúa. Điều này nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta cũng được kêu gọi đóng góp vai trò nhỏ bé của mình trong việc rao truyền sứ điệp cứu độ của Tin Mừng. 

Thánh sử Luca mô tả Thánh Giuse là người bảo vệ Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Ngài cũng đảm nhận vai trò này với tư cách là người bảo vệ Giáo hội hoàn vũ, sự nối dài Nhiệm thể của Chúa Kitô trong lịch sử. Gia phả của Thánh Giuse cũng nhắc nhở thế giới thường bị rạn nứt của chúng ta hiểu hơn về tầm quan trọng của các tương quan nhân loại đi trước và theo sau chúng ta. Khi tìm cách củng cố những mối quan hệ đó và bảo vệ những anh chị em dễ bị tổn thương của mình qua các công việc bác ái huynh đệ, chúng ta hãy tin tưởng vào lời cầu nguyện của Thánh Giuse, noi gương khiêm nhường và trung thành của ngài trong chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa. mục lục

Bài 1: THÁNH GIUSE VÀ MÔI TRƯỜNG NGÀI SỐNG

+ ĐTC. Phanxicô

Anh chị em thân mến,

Ngày 08 tháng 12 năm 1870, Chân phước Piô IX tuyên bố Thánh Giuse là bổn mạng của Giáo hội hoàn vũ. 150 năm sau biến cố đó, chúng ta đang trải qua một năm đặc biệt dành riêng cho Thánh Giuse, và trong Tông thư Patris corde, tôi đã tuyển chọn được một số suy tư về hình ảnh của ngài. Chưa có bao giờ như hôm nay, trong thời điểm được đánh dấu bởi một cuộc khủng hoảng toàn cầu với nhiều thành phần khác nhau, Thánh Giuse có thể là người hỗ trợ chúng ta, an ủi và hướng dẫn chúng ta. Vì vậy, tôi đã quyết định dành loạt bài giáo lý về ngài, điều mà tôi hy vọng rằng sẽ giúp chúng ta nhiều hơn để chúng ta được soi sáng nhờ mẫu gương và chứng tá của ngài. Chúng ta sẽ nói về thánh Giuse trong vài tuần.

Trong Kinh thánh có hơn mười nhân vật mang tên Giuse. Người quan trọng nhất trong số đó là con trai của Giacóp và Rachel, là người mà qua nhiều thăng trầm khác nhau, từ một nô lệ trở thành người quan trọng thứ hai ở Ai Cập sau Pharaô (x. St 37-50). Tên Giuse trong tiếng Do Thái có nghĩa là "Chúa gia tăng, Chúa làm cho lớn mạnh". Đó là một điềm tốt, một phúc lành được thiết lập dựa trên sự tin tưởng vào sự quan phòng và đặc biệt liên quan đến sự khả năng sinh sản và nuôi dạy con cái. Thật vậy, chính cái tên mạc khải cho chúng ta một khía cạnh cốt yếu nơi nhân cách của thánh Giuse thành Nazarét. Ngài là người tràn đầy niềm tin vào sự quan phòng : ngài tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa, ngài có niềm tin vào Thiên Chúa quan phòng. Mọi hành động của ngài, như Tin mừng kể lại, được đòi buộc từ sự chắc chắn rằng Thiên Chúa “làm cho lớn lên”, làm cho “gia tăng”, Chúa “thêm vào”, nghĩa là Thiên Chúa cung cấp để tiếp tục thực hiện chương trình cứu độ của Ngài. Và ở đây, thánh Giuse thành Nazaret rất giống với Giuse ở Ai Cập.

Ngay cả những tham chiếu địa lý chính yếu liên quan đến Giuse: Bêlem và Nazarét, cũng đóng một vai trò quan trọng để hiểu về gương mặt của ngài.

Trong Cựu Ước, thành phố Bêlem được gọi với cái tên Beth Lechem , tức là "Ngôi nhà bánh", hay còn gọi là Ephratha, theo tên bộ tộc định cư nơi vùng đất đó. Tuy nhiên trong tiếng ARập, tên này có nghĩa là “Ngôi nhà thịt”, có thể là vì số lượng lớn chiên và dê nằm trong khu vực. Thực vậy, không phải ngẫu nhiên mà khi Chúa Giêsu ra đời, các mục đồng là những nhân chứng đầu tiên của biến cố (Lc 2, 8-20). Dưới ánh sáng của sự kiện về Chúa Giêsu, những lời ám chỉ về bánh và thịt dẫn đến mầu nhiệm Thánh Thể: Chúa Giêsu là bánh hằng sống từ trời xuống (x. Ga 6, 51). Chính Ngài đã nói về mình: “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta sẽ có sự sống đời đời (Ga 6, 54).

Bêlem được nhắc đến nhiều lần trong Kinh thánh, bắt đầu từ sách Sáng thế. Bêlem cũng được liên kết với câu chuyện của bà Rút và Naômi, được thuật lại ngắn gọn trong sách Rút nhưng rất tuyệt vời. Rút sinh một người con trai gọi là Obed, rồi đến lượt ông sinh ra Jesse, cha của vua Đavít. Và chính từ dòng dõi của Đavít mà Giuse sinh ra, là cha nuôi của Chúa Giêsu. Và rồi tiên tri Mikha đã tiên báo những điều vĩ đại về Bêlem: “Phần ngươi, hỡi Bêlem Ephratha, ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giuđa, từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị có sứ mạng thống lãnh Israel” (Mk 5, 1). Thánh sử Matthêu sẽ lấy lại lời tiên tri này và kết nối nó với câu chuyện về Chúa Giêsu như một sự ứng nghiệm hiển nhiên.

Thực ra, Con Thiên Chúa không chọn Giêrusalem làm nơi nhập thể của mình, mà là Bêlem và Nazarét, hai làng ngoại biên, cách xa những tiếng ồn ào thời sự và quyền lực của thời đại. Tuy nhiên, Giêrusalem lại là thành phố được Chúa yêu thương (x. Is 62,1-12), là “thành thánh” ( Đn 3,28), được Chúa chọn làm nơi cư ngụ (x. Zac 3,2; Tv 132,13) ). Thực ra, đây là nơi ở của các tiến sĩ luật, kinh sư và người Pharisêu, thủ lãnh các thượng tế và các kỳ lão trong dân ( xem Lc 2,46; Mt 15,1; Mc 3,22; Ga 1,19; Mt 26,3).

Đây là lý do tại sao việc chọn Bêlem và Nazarét cho chúng ta biết rằng vùng ngoại biên và bên lề xã hội đều được Thiên Chúa ưu ái. Chúa Giêsu không sinh ra ở Giêrusalem, trong cung điện, không, Ngài ra đời ở vùng ngoại biên, đã trải qua cuộc đời mình ở đó cho đến năm 30 tuổi. Ở vùng ngoại biên đó ngài làm thợ mộc, giống như thánh Giuse. Đối với chúa Giêsu, những vùng ngoại biên và ngoài lề xã hội thì được ưu ái hơn. Không coi trọng kiện này tương đương với việc không coi trọng Tin mừng và công trình của Thiên Chúa, Đấng tiếp tục tỏ mình nơi các vùng ngoại biên địa lý và hiện sinh. Chúa luôn hành động một cách kín đáo nơi các vùng ngoại biên, kể cả trong linh hồn chúng ta, nơi vùng ngoại biên của tâm hồn, của những cảm giác, có lẽ là những cảm giác mà chúng ta xấu hổ; nhưng Chúa ở đó để giúp chúng ta tiến tới. Thiên Chúa tiếp tục tỏ mình nơi các vùng ngoại biên, vừa địa lý và vừa hiện sinh. Cụ thể, Chúa Giêsu đi tìm các tội nhân, vào nhà của họ, nói chuyện với họ, kêu mời họi hoán cải. Và Ngài cũng bị khiển trách vì điều này: “Nhưng hãy nhìn xem, Thầy này – các tiến sĩ luật nói – hãy nhìn xem này: ông ấy ăn uống với những người tội lỗi, bẩn thỉu”. Ngài cũng đi tìm những người dù không làm điều gì ác cả nhưng đã chịu đựng: những người ốm đau, nghèo đói, nhỏ hèn. Chúa Giêsu luôn hướng về các vùng ngoại biên. Và điều này phải đem lại cho chúng ta nhiều xác tín hơn, vì Chúa biết vùng ngoại biên của tâm hồn chúng ta, của con tim chúng ta, vùng ngoại biên của xã hội, thành phố, gia đình chúng ta, tức là phần u tối một chút mà chúng ta không thể hiện ra ngoài, có lẽ là xấu hổ.

Về mặt này, xã hội thời đó không khác chúng ta là mấy. Ngày nay cũng vậy, vẫn còn có một trung tâm và một vùng ngoại biên. Và Giáo hội biết rằng mình được kêu gọi để loan báo Tin mừng bắt đầu từ ngoại biên. Thánh Giuse là thợ mộc thành Nazarét và ngài là người tin tưởng vào chương trình của Thiên Chúa dành cho vị hôn thê trẻ tuổi của mình và cho chính mình, ngài nhắc nhở Giáo hội lưu ý đến điều mà thế giới cố tình phớt lờ. Hôm nay thánh Giuse dạy cho chúng ta điều này: “Đừng quá nhìn vào những gì thế gian ca tụng, hãy nhìn vào những góc khuất, những bóng tối, những vùng ngoại biên, những thứ mà thế giới không muốn”. Ngài nhắc nhở mỗi người trong chúng ta hãy quí trọng những gì người khác bỏ đi. Theo nghĩa này, thánh Giuse thực sự là một bậc thầy về điều cốt yếu: Ngài nhắc nhở chúng ta rằng điều thực sự có giá trị không thu hút sự chú ý của chúng ta, nhưng đòi hỏi sự phân định kiên nhẫn để được khám phá và đánh giá. Khám phá giá trị của nó. Chúng ta nguyện xin thánh Giuse cầu bầu, để toàn thể Giáo hội phục hồi được cái nhìn này, khả năng biện phân này, khả năng đánh giá điều cốt yếu này. Chúng ta cùng bắt đầu lại từ Bêlem, từ Nadarét.  

Hôm nay tôi muốn gửi một sứ điệp đến tất cả mọi người đang sống ở vùng ngoại biên địa lý bị thế giới lãng quên hay đang sống trong hoàn cảnh bị gạt bên lề cuộc sống. Mong sao anh chị em có thể tìm thấy nơi thánh Giuse chứng từ và hãy nhìn lên người bảo vệ ấy. Chúng ta có thể dâng lên ngài lời cầu nguyện này, một lời nguyện “tự làm ở nhà”, nhưng xuất phát từ cõi lòng:

Lạy Thánh Cả Giuse,
là người luôn tín thác vào Thiên Chúa
và đưa ra những chọn lựa theo sự hướng dẫn của Chúa quan phòng
xin dạy chúng con biết đừng trông cậy quá nhiều vào những dự tính của mình,
nhưng vào chương trình của tình yêu của Chúa.

Ngài đến từ vùng ngoại biên,
xin giúp chúng con biết biến đổi cách nhìn của MÌNH
và yêu thích điều mà thế giới loại bỏ và bị gạt bên lề xã hội.

Xin an ủi những người cảm thấy cô đơn
và giúp đỡ những người đang dấn thân trong âm thầm
để bảo vệ cuộc sống và phẩm giá con người. Amen. 
mục lục

G. Võ Tá Hoàng chuyển ngữ - WQN

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.