SUY NIỆM CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG - NĂM C

17-12-2021 371 lượt xem

“Thăm viếng các gia đình đã trở thành một hoạt động tông đồ truyền thống được ưa thích của Legio Mariæ. Đây là một hoạt động đặc thù diễn ra ở khắp mọi nơi và cũng là con đường đem lại nhiều ơn phúc nhất. Nó là đặc tính của Legio Mariæ” (TB 37,388).

Mk 5: 1-4a; Dt 10:5-10; Lc 1:39-45

Mục Lục

NIỀM VUI CỦA HAI NGƯỜI MẸ - + ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

VUI VÌ ĐƯỢC CHÚA THĂM VIẾNG - Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ 

TIN BÁO LẠ LÙNG - Thomas Aq. Trầm Thiên Thu

TÂM SỰ NGƯỜI CÔNG CHÍNH - Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

HIỆN TƯỢNG MARIA VÀ ELIZABETH - Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

NOI GƯƠNG MẸ MARIA: QUAN TÂM TỚI THA NHÂN - Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

ĐẤNG CỨU TINH CỦA NHỮNG NGƯỜI KHIÊM HẠ - Phêrô Phạm Văn Trung

THĂM VIẾNG: DẤU CHỈ TÌNH THƯƠNG - Lm. Guse Mai Văn Thịnh, DCCT

LAN TỎA NIỀM VUI CHÚA Ở CÙNG - Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Thơ: CHIA SẺ - Viễn Dzu Tử

Thơ: TUNG HÔ MẸ THIÊN CHÚA - (Thế Kiên Dominic)

---------------------------------------------------------------------------------------------------

NIỀM VUI CỦA HAI NGƯỜI MẸ

Đối với người phụ nữ, được làm mẹ là một hạnh phúc tuyệt vời. Những người phụ nữ không may son sẻ, phải mang nỗi niềm đau khổ suốt đời. Phụng vụ Chúa nhật 4 Mùa Vọng nói với chúng ta niềm vui của hai người mẹ, đó là Đức Trinh nữ Maria và bà Elisabet. Cả hai bà mẹ đều đang mang thai. Cuộc gặp gỡ của hai người mẹ, cũng là cuộc gặp gỡ của hai người con. Niềm vui của hai bà mẹ, cũng là niềm vui của hai hài nhi. Bởi thế mà bà Elisabet cảm nhận rõ hài nhi nhảy mừng trong lòng mình. Cuộc gặp gỡ này để lại ấn tượng sâu đậm nơi Đức Trinh nữ, và đoạn Tin Mừng này chắc chắn là do Trinh nữ thuật lại với tác giả Luca. Trước đó vài ngày, sứ thần Gabrien đã cho Đức Trinh nữ biết, bà Elisabet là chị họ của Trinh nữ đã mang thai được sáu tháng dù ở tuổi cao niên. Sau cuộc gặp gỡ, Trinh nữ Maria đã vội vã lên đường để thăm người chị, và cũng để kể cho chị nghe những điều kỳ diệu Thiên Chúa sắp thực hiện cho dân tộc mình.

Hai người mẹ cảm nhận được những kinh nghiệm rất đặc biệt. Cả hai người đều khám phá qua hài nhi còn trong lòng dạ mình ánh sáng sâu thẳm đến từ Thiên Chúa. Trinh nữ Maria  cảm nhận sâu sắc rằng hài nhi trong lòng là ánh sáng của quyền năng trên cao, lan toả và tác động nơi những người đến gần mình. Sự nhảy mừng của Gioan Tiền hô đã chứng minh điều đó. “Khi bà Elisabet nghe lời chào của Maria, thì hài nhi liền nhảy mừng trong lòng bà. Bà Elisabet được ơn Chúa Thánh Thần và thốt lên: Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa đến viếng thăm?”. Đó là tiếng kêu ngạc nhiên vui mừng. Đó cũng là lời ca tụng tán dương quyền năng cao cả của Thiên Chúa.

Trinh nữ Maria và bà Elisabet, hai người phụ nữ đều cùng sống niềm hy vọng của dân tộc mình. Như những người tín hữu đạo hạnh, họ ngày đêm mong đợi Đấng Cứu thế đến để giải thoát dân tộc khỏi đau khổ lầm than. Trinh nữ Maria và bà Elisabet, hai người phụ nữ đều đang chuẩn bị sinh con và đang nóng lòng chờ đón con mình chào đời. Chúng ta, những tín hữu cũng đang chuẩn bị mừng lễ Giáng Sinh, kỷ niệm ngày Ngôi Hai ra đời. Hai người phụ nữ là gương mẫu cho chúng ta trong tâm thế chờ đợi Chúa. Việc đón Chúa đến trong đời không còn chỉ là dựa vào những lời sấm xa xưa, nhưng phải được thực hiện với tâm tình yêu mến và với trái tim rộng mở. Chúa Giêsu không đến với hình hài bé thơ như cách đây hơn hai ngàn năm, nhưng Người đang đến với chúng ta qua anh chị em, qua những biến cố vui buồn của cuộc sống và nhất là qua các cử hành Phụng vụ.

Ngôi Lời giáng trần là một sự kiện lịch sử. Chúa Giêsu xuống thế làm người có một quê hương và một gia đình. Nơi Người sinh hạ là thành phố bé nhỏ có tên là Belem, thuộc xứ Ephata như lời Ngôn sứ Mika đã tuyên sấm (Bài đọc I). Gia đình của Chúa là Thánh Giuse, người cha nuôi, và Đức Trinh nữ Maria, người mẹ hiền. Sự sinh hạ và cuộc sống của Chúa gắn liền với những địa danh và những nhân vật của thời đại Người. Chúa Giêsu không phải là một nhân vật của huyền thoại, nhưng là nhân vật lịch sử. Sự sinh hạ của Người là một mốc son trong lịch sử loài người. Tác giả thư Do Thái đã chiêm ngắm và suy tư Đức Giêsu ở khía cạnh tư tế. Người là Thượng tế vĩnh viễn, đã dâng trọn vẹn con người của mình làm của lễ hy sinh dâng lên Chúa Cha. Hiệu quả của hy lễ ấy là ơn thánh hoá mà nhân loại mọi nơi mọi thời đều được hưởng. Hôm nay, Người vẫn tiếp tục dâng hy lễ lên Chúa Cha. Nói rõ hơn, mỗi khi thừa tác viên của Giáo Hội cử hành Bí tích Thánh Thể, thì làm cho hy lễ thập giá năm xưa trở thành hiện tại, nên suối nguồn ân phúc cho những ai tham dự. Như thế, cung kính đón nhận Thánh Thể  cũng là một điều kiện quan trọng để mừng lễ Giáng Sinh.

Đấng Cứu độ đã hoá thân làm người, và đang ở giữa chúng ta. Người là Đấng Emmanuel. Mừng lễ Giáng sinh, chúng ta hãy ý thức về sự hiện diện của Chúa Giêsu trong tâm hồn và trong cuộc sống, nhờ đó, chúng ta luôn có trái tim mở rộng, chân thành đón tiếp Người. Như Mẹ Maria, chúng ta có bổn phận phải đem Chúa đến với mọi người, để niềm vui lan toả mọi nẻo đường của cuộc sống và ơn cứu độ đến với trần gian. mục lục

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

VUI VÌ ĐƯỢC CHÚA THĂM VIẾNG

Lễ Giáng Sinh, lễ của tình yêu, niềm vui và chia sẻ, lễ kỷ niệm Thiên Chúa viếng thăm dân Người.

Lời của ngôn sứ Mikha lôi kéo chúng ta hướng nhìn về Belem và chung niềm vui với họ. Bởi Belem, châu thành bé nhỏ của nước Giuđa, một biến cố vĩ đại xảy ra không chỉ làm cho Israel nhảy mừng, mà cả thế giới mừng vui: “Hỡi Bêlem Ephrata, ngươi nhỏ nhất trong trăm ngàn phần đất Giuđa, nhưng nơi ngươi sẽ xuất hiện một Đấng thống trị Israel, và nguồn gốc Người có từ nguyên thuỷ, từ muôn đời” (Mk 5,1). Không mừng vui sao được, vì nói đến Belem, là người ta nghĩ ngay đến một thành nhỏ cách Giêrusalem chừng 30 dặm về phía Nam. Ðavít đại vương, tổ tiên của Đấng Mêsia đã sinh ra tại đây từ ngàn năm trước Chúa Kitô giáng sinh, chứng tỏ Thiên Chúa yêu thương, tha thứ và đem niềm vui cho Israel.

Niềm vui, tình yêu và sự sẻ chia ấy được cụ thể hóa nơi Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa giáng sinh làm người tại Belem. Tin Mừng thánh Luca thuật lại rằng, Chúa Giêsu đã sinh ra tại Belem bởi vì ông Giuse, chồng của bà Maria, “thuộc dòng dõi Ðavít” phải trở về nơi ấy để kiểm tra dân số, và chính vào lúc đó Maria đã hạ sinh Hài Nhi Giêsu (x. Lc 2,1-7).

Cứ sự thường, để chọn nơi chốn cho con mình sinh ra, người cha sẽ chọn Giêrusalem, một kinh thành có đầy đủ tiện nghi và nổi tiếng. Thiên Chúa thì khác, Ngài đã chọn Giuđa một thị tộc nhỏ bé nhất Ephratha, giống như chọn Đavid là đứa con nhỏ nhất trong gia đình của Giêse, để làm vua thay Saul.

Cách trích dẫn có tính lịch sử của Malaki giúp ta hình dung ra ngày Chúa đến gặp dân Ngài. Khi phải sống lưu đày xa Thiên Chúa, con người cảm thấy đau khổ. Nay “tiết đông giá lạnh đã qua, mùa mưa đã dứt” (Dc 2,11). Thiên Chúa chuẩn bị viếng thăm và ra tay cứu thoát.

Cuộc viếng thăm của Đức Mẹ nơi gia đình Dacaria cho thấy, Thiên Chúa đã đến gần. Tin Mừng ghi lại: “Maria chỗi dậy, vội vã ra đi tiến lên miền núi, đến một thành xứ Giuđêa. Bà vào nhà ông Dacaria và chào bà Êlisabeth” (Lc 1,39-40), cuộc viếng thăm tưởng như là cuộc thăm viếng giữa người với người; nhưng thực tế, đây là cuộc thăm viếng lịch sử, Thiên Chúa viếng thăm dân Ngài. Thiên Chúa đã chuẩn bị biến cố này từ lúc con người sa ngã trong vườn Địa Đàng. Từ đó, con người khao khát Thiên Chúa viếng thăm; vì nhờ Chúa viếng thăm, con người được Thiên Chúa đổi vận mạng: từ chỗ bị lưu đày đến chỗ được vào Đất Hứa, từ chỗ phải xa cách Thiên Chúa đến chỗ được đoàn tụ với Ngài muôn đời, từ chỗ phải chết đến chỗ sống muôn đời.

Bà Elisabeth đại diện cho Dân Chúa đón nhận niềm vui Chúa ban: Thứ nhất, Bà đang chịu cảnh góa bụa đau khổ và mang tiếng là không con; nhưng Thiên Chúa đã thay đổi cuộc đời Bà, cho Bà được cưu mang và sinh hạ Gioan Tẩy Giả trong lúc ông đã già, bà đã lão. Thứ hai, Bà được Mẹ Thiên Chúa tới viếng thăm, vì Người Con Mẹ Maria sắp sửa sinh ra sẽ mang lại ơn cứu độ cho Bà và cho muôn người.

Nhờ Chúa Thánh Thần soi sáng, bà Elisabeth nhận ra Người Con Đức Maria đang cưu mang là Đấng Cứu Thế, bà kêu lên: “Bà được chúc phúc giữa các người phụ nữ, và Con lòng Bà được chúc phúc! Bởi đâu tôi được Mẹ Chúa tôi đến viếng thăm tôi? Vì này, tai tôi vừa nghe lời Bà chào, hài nhi liền nhảy mừng trong lòng tôi. Phúc cho Bà là kẻ đã tin rằng lời Chúa phán cùng Bà sẽ được thực” (Lc 1, 42-45) Bà Elisabeth và Gioan Tẩy Giả tượng trưng cho gia đình nhân loại trong Cựu Ước, vui mừng khi được Đấng Thiên Sai đến viếng thăm. Bà Elisabeth biết rõ lý do tại sao Đức Mẹ thật có phúc: “vì đã tin rằng Chúa phán cũng Bà sẽ được thực hiện” (Lc 1,45). Ông Dacaria, chồng bà Elisabeth, người đã nghi ngờ, không tin nơi lời hứa của Thiên Thần và vì thế ông bị câm cho đến khi Gioan sinh ra.

Đức Maria có phúc vì đã tin, ông Dacaria không tin nên đã bị câm điếc. Ðức tin được nuôi dưỡng trong đức ái. Đức Maria chỗi dậy và vội vã lên đường đến gặp bà Elisabeth. “Chỗi dậy” là một cử chỉ đầy ân cần. Lẽ ra Ðức Maria có thể ở lại nhà để chuẩn bị sinh con, nhưng trái lại Mẹ chăm lo cho những người khác trước khi lo cho bản thân. Qua những cử chỉ đó Đức Maria chứng tỏ mình đã là môn đệ của Đấng mà Mẹ mang trong lòng. Biến cố Chúa Giêsu sinh ra bắt đầu như thế, với một cử chỉ bác ái đơn sơ là viếng thăm, chia sẻ niềm vui, mang lại hy vọng cho gia đình Dacaria và Elisabeth.

Lễ Giáng Sinh đã gần kề, cuộc viếng thăm của Đức Maria nơi bà Elisabeth giúp chúng ta chuẩn bị sống tốt đẹp lễ Giáng Sinh, thông truyền cho chúng ta năng động của đức tin và đức ái nhờ tác động của Chúa Thánh Thần như ta thấy trong cuộc gặp gỡ giữa hai bà mẹ, tất cả là một bài ca vui mừng hân hoan trong Chúa, Ðấng thực hiện những điều cao cả nơi những người bé nhỏ tín thác nơi Ngài.

Lạy Mẹ Maria, xin giúp cho chúng con hướng về Chúa Giêsu Hài Nhi đang dang tay ra cần sự trợ giúp, ám chỉ tha nhân cần đến chúng con. Như thế chúng con mới có thể dành chỗ cho Ðấng là Tình Thương, ngày hôm nay muốn nhập thể và đến ở giữa chúng ta. mục lục

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

TIN BÁO LẠ LÙNG

Ngày nay không còn như ngày xưa, vì tin tức cập nhật hằng ngày – thậm chí từng phút. Dù là đưa tin bằng thư từ cũng không trở ngại, bởi vì việc đi lại cũng dễ dàng hơn rất nhiều.

Có quá nhiều thông tin hằng ngày nên rất cần khôn ngoan để phân định kẻo bị “mê hoặc” vì tin giả, tin rác. Việt ngữ gọi là tin tức thật chí lý, vì có những tin đọc xong rồi thấy tức anh ách, nếu tin cái tin đó thì càng tức hơn nữa. Nguyên nhân là do thiếu lý trí, bởi nhẹ dạ cả tin.

Hằng ngày, có những tin bình thường – thậm chí vớ vẩn mà người ta lại chú ý thái quá, còn những tin cần thiết (về phương diện nào đó) thì người ta lại coi thường. Chọn tin tức cũng là một nghệ thuật, và cũng cần có trình độ nhất định, bởi vì nó có thể giúp người ta hiểu biết và khôn ngoan hơn hoặc ngược lại. Tùy cách chọn tin tức mà người ta có thêm kiến thức cần thiết.

Đáng quan ngại vẫn là tin đồn. Có những tin người ta tạo ra, gọi là tin giả, với độ “giật gân” khiến người ta như bị điện giật, hoang mang, lo sợ,... Nhưng có những tin đồn có tính thời sự và giật gân thực sự, đặc biệt là các tin liên quan tâm linh – như trường hợp truyền tin cho Đức Mẹ, tin báo bà lão Êlidabét có thai, tin báo mộng cho Đức Giuse, tin báo cho các mục đồng, cho các đạo sĩ,... Đối với các loại đặc tín này, ai BIẾT và DÁM TIN thì thực sự là người can đảm, không ảo tưởng. Đó là một dạng hạnh phúc mà người đời khó hiểu hoặc không thể hiểu nổi. Thế nên Chúa Giêsu dạy chúng ta đừng tin vào bất cứ phàm nhân nào mà chỉ tin vào Ngài mà thôi.

Đức tin rất quan trọng, trừu tượng mà cụ thể, bởi vì đức tin cần phải có hành động rõ ràng. (x. Gc 2:14-26) Thánh Don Bosco cho biết rằng “chính đức tin hoàn thành tất cả mọi sự.” Thánh TS Teresa Avila xác định: “Tất cả tội lỗi đều do thiếu đức tin mà ra.” Còn Thánh TS Thomas Aquino lý luận: “Công hiệu của năng lực cầu nguyện đến từ đức ái, nhưng năng lực để cầu nguyện cho được hiệu quả là do đức tin và đức cậy.”

Từ ngàn xưa, ngôn sứ Mikha đã tin tưởng mà công bố lời Chúa: “Hỡi Bêlem Épratha, ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giuđa, từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị có sứ mạng thống lãnh Israel. Nguồn gốc của Người có từ thời trước, từ thuở xa xưa. Vì thế, Đức Chúa sẽ bỏ mặc Israel cho đến thời một phụ nữ sinh con. Bấy giờ những anh em sống sót của người con đó sẽ trở về với con cái Israel.” (Mk 5:1-2)

Ở đâu cũng có ngọc quý và rác rưởi. Nhân tài có thể xuất thân từ một nơi bình thường, không nhất thiết xuất thân từ danh gia vọng tộc, giàu sang phú quý, con ông cháu cha, hoặc nơi này hay nơi nọ. Không, thậm chí còn ngược lại. Xưa nay đã cho chúng ta thấy rõ điều đó. Tài năng có thể lóe lên bất cứ lúc nào hoặc bất cứ nơi nào. Hiển nhiên nhất là từ Bêlem bé nhỏ, nghèo hèn, vậy mà lại là nơi xuất hiện Đấng Cứu Thế – Con Thiên Chúa.

Ngôn sứ Mikha cho biết về Đấng đó: “Người sẽ dựa vào quyền lực Đức Chúa, vào uy danh Đức Chúa, Thiên Chúa của Người mà đứng lên chăn dắt họ. Họ sẽ được an cư lạc nghiệp, vì bấy giờ quyền lực Người sẽ trải rộng ra đến tận cùng cõi đất.” (Mk 5:3-5) Vô cùng kỳ diệu, quá đỗi lạ lùng!

Tôn Danh Ngài vượt trên mọi danh hiệu, đến nỗi khi nghe đến Danh Ngài thì mọi loài đều nể phục, ngay cả ma quỷ cũng phải khiếp run. Những người tin vào Ngài đều thành tâm khấn nguyện: “Lạy Mục Tử nhà Israel, Ngài là Đấng chăn giữ nhà Giuse như chăn giữ chiên cừu, xin hãy lắng tai nghe! Ngài là Đấng ngự trên các thần hộ giá, xin giãi sáng hiển linh cho dòng dõi Épraim, Bengiamin và Mơnase được thấy. Xin khơi dậy uy dũng của Ngài, đến cùng chúng con và thương cứu độ.” (Tv 80:2-3)

Ngài đã đến, đang đến, và sẽ đến. Ngài đến để giao hòa đất với trời, đến để cứu nhân độ thế. Chúng ta luôn ngưỡng vọng Ngài, không chỉ trong Mùa Vọng mà suốt cả đời, và không ngừng nài xin Ngài xót thương: “Lạy Chúa Tể càn khôn, xin trở lại, tự cõi trời, xin ngó xuống mà xem, xin Ngài thăm nom vườn nho cũ, bảo vệ cây tay hữu Chúa đã trồng, và chồi non được Ngài ban sức mạnh” (Tv 80:15-16)

Chúa Giêsu đã hứa chắc rằng cứ xin sẽ được, tìm sẽ thấy, gõ sẽ mở. (Mt 7:7; Lc 11:9) Vấn đề còn lại là chúng ta phải kiên trì, tin tưởng, đồng thời phải quyết tâm thành tín: “Xin giơ tay bênh vực Đấng đang ngồi bên hữu là con người được Chúa ban sức mạnh. Chúng con nguyền chẳng xa Chúa nữa đâu, cúi xin Ngài ban cho được sống, để chúng con xưng tụng danh Ngài.” (Tv 80:18-19) Lời thề hứa thật đẹp, giữ trọn lời hứa còn tuyệt vời hơn nữa.

Cầu nguyện và cầu xin không giống nhau. Có lẽ đa số chúng ta thường cầu xin, ít khi cầu nguyện. Lời cầu nguyện tiêu chuẩn là Kinh Lạy Cha, trong đó xin nhiều thứ nhưng chỉ một câu xin có lương thực hằng ngày. Thánh Bonaventura khuyên: “Khi chúng ta cầu nguyện, lời từ con tim phải được lắng nghe nhiều hơn là lời từ miệng lưỡi.” Thiên Chúa là Thánh Phụ giàu lòng thương xót, muốn tha thứ chứ không muốn trừng phạt. Nếu bị phạt là tại mình cố chấp. Lòng thương xót của Thiên Chúa lớn hơn mọi tội lỗi của cả thế gian này, chẳng có tội gì mà Ngài không tha, điều kiện đơn giản chỉ là sám hối và tin tưởng.

Với cách giải thích và phân tích ngắn gọn, Thánh Phaolô nói: “Khi vào trần gian, Đức Kitô nói: Chúa đã KHÔNG ƯA hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. Chúa cũng CHẲNG THÍCH lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để THỰC THI Ý NGÀI, như Sách Thánh đã chép về con.” (Dt 10:5-7) Thiên Chúa có mọi sự, Ngài không cần gì cả, Ngài chỉ muốn chúng ta “xin vâng” trong mọi sự – vui buồn, sướng khổ, vừa ý hoặc trái ý – để “ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.” Chỉ cần như thế mà thôi.

Dâng lễ vật là cách thể hiện lòng sùng kính, tôn thờ, nhưng quan trọng vẫn là dâng chính mình. Thánh Phaolô cho biết: “Trước hết, Đức Kitô nói: Hy lễ và hiến tế, lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa đã chẳng ưa, chẳng thích, mà đó chính là những thứ của lễ được dâng tiến theo Lề Luật truyền. Rồi Người nói: Này con đây, con đến để thực thi ý Ngài. Thế là Người BÃI BỎ các lễ tế cũ mà THIẾT LẬP lễ tế mới. Theo ý đó, chúng ta được thánh hóa nhờ Đức Giêsu Kitô đã hiến dâng thân mình làm lễ tế, chỉ một lần là đủ.” (Dt 10:8-10) Chúa Giêsu luôn có cách lạ, khác hẳn thế nhân nhưng rạch ròi. Người ta không thể hiểu nên đôi khi cảm thấy khó chấp nhận, thế nên các tư tế, kinh sư, thông luật, nhóm Sađốc và Pharisêu đều “dị ứng” với Ngài.

Một tin báo lạ lùng được đề cập trong trình thuật Lc 1:39-45, đề cao lòng tin của Đức Maria. Thánh Luca kể:

Hồi ấy, sau khi được Sứ Thần Gáprien truyền tin và báo tin người chị cũng vừa thụ thai cách lạ lùng, Đức Maria vội vã lên đường, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giuđa. Đức Maria vào nhà ông Dacaria và chào bà Êlidabét. Vừa nghe tiếng Đức Maria chào thì đứa con trong bụng bà Êlidabét nhảy lên, bà được đầy Thánh Thần nên kêu lớn tiếng và nói: “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này? Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng. Em thật có phúc, vì đã TIN rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em.” (Lc 1:42-45)

Nghe Sứ Thần nói, Đức Maria tin ngay, và liền đi thăm bà chị họ – không đắn đo, không tính toán, dù đường xa cách trở. Đức Maria đi thăm bà chị để chia vui và giúp đỡ bà chị, đặc biệt là đưa Chúa Giêsu đến với gia đình bà chị. Khi đó, Hài Nhi Gioan “gặp” Thánh Nhi Giêsu, quá vui nên Gioan đã nhảy mừng trong lòng mẹ. Bà Êlidabét cũng không thể giấu niềm hạnh phúc khi gặp Em Maria với tin vui trở thành Mẹ Thiên Chúa.

Hai phụ nữ diễm phúc vì một người là Mẹ của “người mở đường” cho Đấng Cứu Thế, một người là Mẹ của Đấng Cứu Thế, Đấng đem bình an và công lý đến cho nhân loại, đồng thời giao hòa đất với trời. Ngài cũng dạy cách chọn lựa và phân định đúng – sai, có thể trở nên người báo tin tốt lành cho người khác giữa thời đại này và trong hoàn cảnh dịch bệnh này.

Lạy Thiên Chúa, Đấng quan phòng và tiền định mọi sự, tạ ơn Ngài đã chuẩn bị cho chúng con mọi thứ để chúng con an tâm tôn thờ Ngài. Xin gia tăng ân sủng cần thiết cho chúng con, xin giúp chúng con sống trọn Mùa Vọng theo Thánh Ý Ngài, sẵn sàng chia sẻ với tha nhân những gì cần thiết. Xin Đức Mẹ giúp chúng con biết tín thác tuyệt đối vào Thiên Chúa và xứng đáng đón Ngôi Lời giáng sinh. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. mục lục

Thomas Aq. Trầm Thiên Thu

TÂM SỰ NGƯỜI CÔNG CHÍNH

 Văn bản Thánh Kinh:

“Sau đây là gốc tích Đức Giêsu Kitô: bà Maria, Mẹ Người, đã thành hôn với ông Giuse. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Ông Giuse, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: “Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai, và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân mình khỏi tội lỗi của họ”. Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa đã phán qua miêng ngôn sứ: “Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”. Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà”.

Chú giải:

Nếu ai đã từng xem bộ phim “Đức Giê-su thành Nadarét” của đạo diễn Franco Zeffirelli (1977) chắc còn nhớ phân cảnh Thánh Giu-se nằm mơ thấy Đức Ma-ri-a bị ném đá chết vì tội “ngoại tình”. Nếu không thì hẳn cũng đã có lần được xem một vở kịch diễn lại bài Tin Mừng hôm nay, trong đó có cảnh Thánh Giu-se khắc khoải, lo âu, dằn vặt, thậm chí xấu hổ hay phẫn nộ trước sự kiện Đức Ma-ri-a mang thai mà ngài chẳng biết nguyên cớ từ đâu và ai là tác giả. Đó là những tình tiết lâm ly bi đát, đầy kịch tính, làm khán thính giả bồi hồi xúc động, nhưng có lẽ không nằm trong nhãn giới của tác giả Tin Mừng. Cái đó, theo các nhà chú giải hiện nay, là do cách dịch chưa đúng về một vài từ Hy-lạp trong văn bản.

1. Khúc mắc tâm tư.

Lúc mở đầu bản văn bằng câu: “Đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô” và bằng chi tiết: “Trước khi hai ông bà về chung sống, Ma-ri-a đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần”, Mát-thêu muốn chứng minh cho độc giả Do-thái của mình thấy làm sao Đấng Cứu Thế sinh ra thiếu cha trần gian mà vẫn thuộc về dòng dõi Do-thái và con cháu Đa-vít được (trong lúc Lc 1,26-38 thì trình bày mầu nhiệm cưu mang đồng trinh cho độc giả lương dân). Việc lạ lùng này, chắc hẳn Đức Ma-ri-a đã tỏ lộ cho người bạn đời yêu quý (bà chị họ Ê-li-sa-bét mà còn được biết nữa là, vả lại sứ thần đâu có cấm: x. Lc 1,39-45). Với hai lý do: một là cho Thánh Giu-se chia sẻ niềm vui và vinh dự bà được chọn làm mẹ Con Đấng Tối Cao, hai là để Thánh nhân khỏi nghĩ dông dài, nhất là rồi đây Đức Ma-ri-a sẽ vắng nhà nhiều tháng. Việc Mát-thêu nêu sự kiện lạ lùng ngay từ đầu bản văn cũng ngầm ý như vậy. Thế nhưng việc tỏ lộ này đặt Thánh Giu-se vào một hoàn cảnh khó xử.

Theo nhiều nhà chú giải Công giáo hiện đại, khi kết hôn với nhau, hai ông bà chắc dự tính sẽ có con với nhau một cách bình thường (Cựu Ước luôn cho hôn nhân là tốt đẹp và con cái là hồng ân cao cả, còn vô sinh vô hậu là tủi nhục lớn lao), đồng thời cầu mong con họ sẽ được Thiên Chúa chọn làm Đấng Thiên Sai như bao mộng ước của mọi gia đình Do-thái thời đó. Thế nhưng, đang lúc chưa chung sống, Đức Ma-ri-a đã được sứ thần báo tin cho biết Thiên Chúa đã chọn bà làm mẹ Đấng Thiên Sai nhưng bà sẽ sinh con một cách nhiệm lạ -do quyền năng Chúa Thánh Thần- vì người con đó chính là Con Thiên Chúa. Đây là điều mà Cựu Ước cũng như hai ông bà không thể ngờ nổi!

Đứng trước mầu nhiệm cao cả này, Thánh Giu-se đâm băn khoăn. Từ nay, Thiên Chúa đã can thiệp vào mối dây liên hệ của đôi bạn, đã sử dụng Đức Ma-ri-a như phương tiện để thực hiện kế hoạch lớn lao của Người. Từ nay Đức Ma-ri-a đã trở thành một vật thánh, thuộc quyền sở hữu của Đấng Tối Cao. Thánh Giu-se tự nghĩ mình không có quyền động đến nàng nữa. Và dù không động đến nhưng nếu tiếp tục chung sống trong một nhà, tới lúc con nàng sinh ra, chắc thiên hạ sẽ nói là con của đôi bạn. Để cho ai nấy lầm tưởng như thế là một sự bất công với Thiên Chúa vì hài nhi là Con của Người. Công bố chuyện này cho thiên hạ ư? Ai mà tin nổi! Có dấu chứng nào? Vả lại Thiên Chúa đâu đã tỏ ý định hãy loan truyền cho bá tánh ! Thế là Thánh Giu-se dự tính ra đi, bỏ mặc cho Thiên Chúa đích thân giải quyết mọi chuyện…Ngài xử sự như bao người công chính trong Cựu Ước là run khiếp trước sự hiện diện của Đức Chúa (Mô-sê cởi giày trước bụi gai rực cháy, I-sai-a khiếp đảm trước sự xuất hiện của vị Thiên Chúa thánh ba lần), nên không dám đoạt lấy một thành quả bởi tay Người. Ngoài ra, công chính, công bình -hay just, juste trong tiếng Anh tiếng Pháp- theo nghĩa thông thường và đơn giản nhất là của ai thì trả cho người ấy, không vi phạm quyền lợi tha nhân. Chính cách dịch mới: “Giu-se là người công chính và không muốn tiết lộ chuyện bà” hoàn toàn hỗ trợ cho lối giải thích vừa nói trên đây. Từ Hy-lạp “deigmatisai/deigmatizô”, chỉ xuất hiện chỗ này trong Tin Mừng Nhất Lãm, mà người ta thường dịch là “tố giác, bêu nhục”, không bao hàm ý nghĩa xấu mà chỉ có nghĩa là “tiết lộ, bày tỏ”, theo hai Giáo phụ Origène cùng Eusèbe và một số nhà chú giải hiện đại trong đó có Linh mục Dòng Tên Paul Joüon, thành viên Học viện Kinh thánh Giáo hoàng, tác giả cuốn L'Évangile de Notre-Seigneur Jésus-Christ, traduction et commentaire du texte grec tenant compte du substrat sémitique (Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô, dịch và chú giải bản văn Hy-lạp, có lưu ý tới ảnh hưởng tiếng Xê-mít).

2. Gỡ mối tơ vò.

“Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông”. Thiên Chúa cuối cùng đã can thiệp: “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón Ma-ri-a vợ ông về”. Đến đây, các nhà chú giải hiện nay đề nghị cách dịch khác cho từ Hy-lạp gar mà xưa nay vẫn chỉ dịch là “vì” (“Vì người con bà cưu mang...”) và cho từ Hy-lạp dé mà xưa nay vẫn chỉ dịch là “và” (“và ông phải đặt tên...”). Từ “gar” còn có nghĩa: “vì quả thật, tất nhiên, phải” và thường gặp trong Tân Ước (x. Mt 18,7; 1Cr 9,19; 1Tx 2,20...); từ “dé” cũng còn có nghĩa “nhưng” : “Vì quả thật người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai, nhưng ông phải đặt tên con trẻ”. Từ “quả thật” nói lên một sự thực mà Giu-se đã rõ (nên đây không có vấn đề mặc khải mầu nhiệm cưu mang đồng trinh). Như vậy, lời sứ thần là một luận cứ xác nhận khác cho lối dịch “tiết lộ” nói trên. Đức Ma-ri-a sẽ sinh con “nhưng” Thánh Giu-se sẽ đặt tên cho con trẻ : đặt tên (quyền của người cha) là thừa nhận kẻ được đặt tên như con của mình. Theo phong tục Do-thái, con đẻ hay con nuôi đều có giá trị như nhau trước pháp luật, nghĩa là con nuôi cũng hoàn toàn thuộc về dòng dõi cha nuôi với mọi quyền lợi và nghĩa vụ y như con đẻ. Cách giải quyết của Thiên Chúa thật tài tình: lợi dụng một điều khoản trong luật pháp Do-thái (con nuôi # con đẻ, mà chắc Người đã xui khiến cho có), Thiên Chúa hoàn tất lời Thánh Kinh: Đấng Thiên Sai sẽ thuộc dòng dõi Đa-vít dù là con của một Trinh nữ, có cha là chính Thiên Chúa.

Còn một lý do thực tế: cần phải tạm thời che giấu mầu nhiệm Ngôi Hai nhập thể (khó chấp nhận khi chưa có ngôn hành xác quyết của chính Đức Giê-su) bằng cách để thiên hạ lầm tưởng Giu-se là cha đẻ của Người. Sự hiện diện của Thánh Giu-se trong ngôi nhà Na-da-rét còn cần thiết để bảo vệ thanh danh Đức Trinh Nữ cũng như để chăm sóc nuôi dưỡng Ấu Chúa và Mẹ Người. mục lục

----------------------------------------

Tham khảo: Nil Guillemette SJ, Notes exégétiques pour servir à l’étude des péricopes liturgiques selon Saint Matthew. Tài liệu ronéo. Giáo hoàng Học viện Piô X Đà Lạt xuất bản trước năm 1975.

Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

HIỆN TƯỢNG MARIA VÀ ELIZABETH

Cuộc viếng thăm Elizabeth của Maria cũng là cuộc trùng phùng của Chúa Giêsu và Gioan Tẩy Giả. Luca đã diễn tả tuổi thơ của Gioan Tẩy Giả và của Chúa Giêsu rất hồi hộp và cảm động trong một bối cảnh kinh thánh khá quen thuộc.

Đây không chỉ là câu chuyện cho thấy hoạt động của Gioan Tẩy Giả bắt đầu trước Chúa Giêsu (Lc 1:5-24) mà còn cho biết Gioan Tẩy Giả sinh ra trước Chúa Giesu (Lc 1:26-38). Sứ thần Thiên Chúa báo tin cho Maria biết sẽ sinh Chúa Giêsu (Lc 1:39-45) cùng lúc với hai ông bà Zechariah và Elizabeth là sẽ sinh Gioan Tẩy Giả.

Trong hai biến cố này, sứ thần Gabriel đã làm cho cả Zechariah và Maria rất bối rối trước một viễn tượng to lớn và lạ lùng khó hiểu (Lc 1:11-12, 26-29). Nhưng sứ thần đã trấn an họ là đừng sợ (Lc 1:13,30). Khi nghe tin thì cả hai đều thắc mắc vì điều đó khó có thể xảy ra: Zechariah đã già, vợ ông cũng già và lại hiếm muộn. Maria thì vừa đính hôn, không biết đến việc vợ chồng (Lc 1:18, 34). Để trấn an, sứ thần liền xác nhận việc Chúa muốn thì không gì là không thể làm được. Đặc biệt nữa, sứ thần còn cho biết Chúa Giêsu là Con vua Đavít (Lc 1:32-33) và là Con Thiên Chúa (Lc 1:32,35).

Trước khi Maria đi thăm Elizabeth thì Gioan và Giêsu đều không biết nhau, nhưng khi Maria bước vào nhà, vừa cất tiếng chào Elizabeth thì Gioan đã vui mừng nhảy múa trong bụng mẹ, vì nhận ra được trong bụng Maria có sự hiện diện của Thiên Chúa và Đấng Thiên Sai.

Cả hai ra đời đều được chào mừng bằng hai bài thánh ca tuyệt vời: Một bài là bài ca CHÚC TỤNG / BENEDICTUS được Zechariah, cha của Gioan Tẩy Giả hát (Lc 1:68-79) và một bài là bài ca AN BÌNH RA ĐI / NUNC DIMITTIS được Simon, một người đạo hạnh và công chính cất giọng ca lớn trong đền thánh Jerusalem, khi ông bế Hài Nhi Giêsu trong vòng tay (Lc 2:22-35).

Cả Maria lẫn Elizabeth đều nhận ra những dấu chỉ đặc biệt của Thiên Chúa. Điều sứ thần Gabriel cho Maria biết về Elizabeth cũng không khác gì mấy về điều Maria là người trinh thai (mang thai nhưng vẫn còn trinh): “Hãy coi kìa, bà Elizabeth, bà con họ hàng với bà, tuy đã già, lại hiếm muộn, mà nay đã có thai được 6 tháng, vì đối với Thiên Chúa không có gì là không thể làm được (Lc 1:36-37). Elizabeth lúc đó cũng cảm thấy con trẻ trong bụng Maria đến thăm mình là cả một biến cố đặc biệt khác thường. “Tôi là ai mà mẹ Thiên Chúa lại đến với tôi?” (Lc 1:43). Đúng vậy, mỗi người đều cảm thấy trong đời đã có lúc mình sống những điều mà người đời khó có thể tưởng tượng được. Làm được điều không thể làm được.  

TIN TƯỞNG NƠI THIÊN CHÚA

Việc Maria đi thăm Elizabeth đã trở thành việc Chúa đến thăm bà Elizabeth. Hòm bia Giao Ước/Thiên Chúa không mang đến tai họa nhưng mang lại ơn phúc khi nó đến nhà Obed-edom (1Samuel 6:9-11). Không giống như Sarah đã cười khi nghe Chúa phán bà và Abraham sẽ có con trai nối giòng khi cả hai ông bà đã quá già (St 18:12) và, không giống như Zechariah bị ngọng không nói nên lời vì thắc mắc về quyền năng của Chúa (Lc 1:8-20). Riêng Elizabeth thì dâng lời tạ ơn Thiên Chúa và tin tưởng vào sự quan phòng của Người: “Thiên Chúa đã làm cho tôi như thế lúc đó khi Người cất bỏ nỗi ô nhục khỏi tôi trước mặt mọi người” (Lc 1:25). Về phần Maria, mẹ xứng đáng được Elizabeth reo mừng:“Em thật có phúc vì đã tin tưởng rằng Lời Chúa nói với em đã được ứng nghiệm” (Lc1:45).

Dù Maria được làm Mẹ Thiên Chúa và, vì tin, Mẹ hành sử như là tôi tớ Chúa trong ca vịnh ngợi khen. Bài ca Ngợi Khen / Magnificat tung hô những kỳ công của Thiên Chúa đã làm cho con người, không phải chỉ nơi các bà trong mùa Vọng mà tất cả mọi người mà “Đấng Toàn Năng đã làm những việc vĩ đại cho họ” (Lc 1:49).

Chúng ta hãy để ý đến hai khía cạnh của cuộc viếng thăm lịch sử này. Đầu tiên, không kể chuyện thăm viếng có tính riêng tư giữa hai người, cả Maria lẫn Elizabeth đều có lý do để bận rộn vì chuyện thai nghén và những việc cần làm cho cuộc sống mới này. Cả hai cũng có quyền chăm lo cho chính mình một chút để điều chỉnh lại cuộc sống thường nhật và sắp xếp một chương trình mới.

Maria tính gọi Elizabeth đến giúp mình, đồng thời cũng giúp đỡ Elizabeth. Đây là hai nữ lưu lớn trong Kinh Thánh muốn an ủi giúp đỡ nhau, chia sẻ với nhau câu chuyện đặc biệt của đời mình và tặng nhau kỷ vật của chính mình trong cuộc sống mới mà các bà đã trải nghiệm: Elizabeth, sau những năm dài hiếm muộn, nay bất thần có thai. Maria thì, với cuộc hôn nhân “bất thường”, “không hề biết đến người nam”, khi gặp sứ thần Thiên Chúa thì lại mang thai.

Điểm thứ hai cần để ý là Maria đã nhanh chóng trả lời sứ thần Thiên Chúa và hành động ngay. Thánh Luca kể rằng Mẹ đã “vội vã” lên đường thăm Elizabeth, đi từ Nazareth đến một làng quê hẻo lánh ở miền núi xứ Judea (Lc 1:39). Mẹ biết rõ ràng điều Mẹ đã muốn thì không muốn bất cứ ai hay cái gì cản trở.

Khi bình luận Phúc Âm thánh Luca, thánh Ambrose thành Milan đã diễn tả sự vội vàng này của Mẹ Maria bằng một câu Latinh: “nescit tarda molimina Spiritus Santi gratia” lược dịch là: “Hồng ân Chúa Thánh Thần không biết đến những cố gắng bị trì trệ” hoặc “Những cố gắng bị trì trệ thì xa lạ đối với hồng ân của Chúa Thánh Thần” hoặc “hồng ân Chúa Thánh Thần không muốn những cố gắng bị trì trệ”. Theo tôi, dịch cho xuôi tiếng Việt thì nên dịch là ‘Hồng ân Chúa Thánh Thần không để cho những cố gắng (của Mẹ) bị trì trệ’. Tại sao thánh Ambrose lại phải cầu kỳ để ý đến mấy chữ vội vàng lên đường? Có lẽ ngài muốn nói là Mẹ Maria đã tự do lựa chọn, quyết định rồi hành động ngay. 

TRÌ HOÃN

Áp dụng vào cuộc sống đạo đức, chúng ta nên tự hỏi có bao nhiêu điều chúng ta muốn làm mà chẳng bao giờ làm? Có bao nhiêu lá thư đã được viết, bao nhiêu ước mơ đã được thực hiện, bao nhiêu tình nghĩa không được bày tỏ, bao nhiêu tình cảm chẳng bao giờ được biểu lộ, bao nhiêu lời nói đã nói ra, v..v…? Trì hoãn và trì trệ đã đè nặng trên vai chúng ta, kéo chúng ta xuống và làm chúng ta nản chí. Chúng đã gặm nhấm chúng ta dần dần. Thánh Ambrose đã diễn tả thái độ vội vã của Mẹ Maria thật là chính xác: Thần Linh Chúa đã hoàn toàn làm chủ người trinh nữ thành Nazareth và thúc dục Mẹ hành động.

Câu chuyện Maria đi thăm Elizabeth đã cho chúng ta một bài học tuyệt vời. Khi chúa Kitô lớn lên trong chúng ta, chúng ta sẽ được dẫn đưa đến với những người, những nơi, những tình huống mà chúng ta không bao giờ nghĩ tới. Chúng ta sẽ nhận được an ủi và hy vọng không phải do chúng ta. Chính lúc chúng ta an ủi người, thì chúng ta cũng được người ủi an. Khi chúng ta để cho tâm hồn lắng đọng thì chúng ta mới có thể có những suy tư và hành động chính xác và hợp lý, bởi vì chúng ta biết rằng, dù cho cuộc sống của chúng ta và những kết quả của nó chẳng ra gì đi nữa thì Chúa Kitô cũng đã ở trong ta.

Những người phụ nữ trong Phúc Âm hôm nay chứng tỏ cho chúng ta thấy rằng chúng ta có thể vượt qua khỏi những chương trình nhỏ bé và riêng tư của chúng ta để làm công tác mục vụ và phục vụ trong Giáo Hội. Công tác mục vụ và phục vụ không đơn giản là làm việc cho tha nhân. Những thừa tác viên Kitô giáo chính thức và những người gọi là đầy tớ đã tự cho phép mình phục vụ và được phục vụ, được giảng dạy, được săn sóc, được an ủi và yêu thương. Những lúc như vậy, chúng ta sẽ đưọc giải thoát và chúng ta có thể hát bài ca Ngợi Khen / Magnificat trên suốt cuộc hành trình đời sống của chúng ta và ca tụng những công trình vĩ đại mà Thiên Chúa làm cho chúng ta và dân ngài. 

ĐÔI LỜI KẾT

Để kết thúc, xin mượn lời của Thánh Têrêsa thành Calcutta (1910-1997) – người gặp Chúa nơi người nghèo và đau khổ làm đề tài suy niệm:

“Trong công tác mục vụ Báo Tin và Thăm Viếng, Mẹ Maria chính là khuôn mẫu của đời sống mà chúng ta phải noi theo. Trước tiên Mẹ chào đón Chúa Giêsu trong đời sống của Mẹ; đoạn Mẹ chia sẻ tất cả những gì Mẹ nhận được. Mỗi khi chúng ta nhận Mình Thánh Chúa là chính chúa Giêsu trở thành máu thịt thực sự trong ta. Đó là tặng phẩm của Thiên Chúa ban cho chúng ta ngay lập tức lúc đó, tuyệt mỹ, âu yếm và độc nhất.

“Vậy, đây là phép Thánh Thể đầu tiên: Con Mẹ chính là của lễ của Mẹ Maria, trong đó Thiên Chúa đã lập một bàn thờ đầu tiên. Và Maria là người duy nhất xác nhận lễ vật đó với lòng tin cậy tuyệt đối: “Đây là Mình Ta”. Ngay từ lúc đó, chính thân xác Mẹ đã được hiến dâng để làm nên thân xác Chúa Kitô”. mục lục

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

NOI GƯƠNG MẸ MARIA: QUAN TÂM TỚI THA NHÂN

Trong bài Tin Mừng của Chúa Nhật thứ IV mùa Vọng hôm nay, thánh sử Luca tường thuật lại rằng: “Bà Maria đã vội vã lên đường, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giu-đa…” (Lc 1:39). “Tại sao Đức Maria lại phải vội vã lên đường như vậy?” Câu trả lời rất đơn giản, là vì Đức Maria là người biết để ý và quan tâm tới những nhu cầu của người khác.

• Phúc Âm của thánh Gioan tường thuật rằng, tại tiệc cưới Ca-na, khi thấy chú rể & cô dâu lâm vào cảnh khốn khó vì bị thiếu rượu, Mẹ Maria đã mau mắn can thiệp, và đã giúp cho gia đình hai họ khỏi bị xấu hổ, khỏi bị mang tai mang tiếng vì tiệc cưới chưa tàn mà rượu đã hết (Ga 2:1-12).

• Và hôm nay, Tin Mừng của Thánh Luca ghi lại rằng, sau khi nghe Sứ Thần Gabriel cho hay bà Ê-li-sa-bét đang mang thai trong lúc tuổi già, thì Đức Maria đã nghĩ ngay đến những sự vất vả, và những sự khó nhọc của một người đang mang thai, cho nên Mẹ đã vội vã lên đường để đến thăm viếng và giúp đỡ cho bà chị của mình.

Bạn thân mến, Giáng Sinh là ngày mà toàn thế giới mừng Sinh Nhật của Con Một Thiên Chúa. Ngày mà Thiên Chúa đã biểu lộ tình thương yêu vô biên của Ngài cho nhân loại, qua việc trao tặng cho nhân loại món quà vô cùng quý giá, đó là chính Người Con Một rất yêu dấu của Ngài. “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban chính con Một của Ngài cho thế gian” (Ga 3:16).

Để ngày mừng Sinh Nhật của Con Thiên Chúa được tràn ngập tình yêu, vui tươi, hạnh phúc, bình an và mang đầy đủ ý nghĩa, chúng mình hãy cố gắng noi gương bắt chước Đức Maria, hãy có một trái tim nhạy cảm, biết quan tâm đến những người chung quanh, bắt đầu từ những người ở trong gia đình của mình. Ví dụ:

• Khi thấy ông bà, cha mẹ chuẩn bị ra đón xe bus đi nhà thờ, đi chợ, đi thăm bạn bè, đi bác sĩ … xin bạn mau mắn thưa với các ngài: “Trời lạnh lắm, nếu ông bà, ba má đứng đón xe bus thì sẽ bị bịnh, trời mưa ướt át trơn trượt, lỡ bị té thì sẽ khổ lắm… để con đưa ông, bà, ba má … đi nha!”

• Khi thấy vợ mệt mỏi sau một ngày làm việc vất vả …chồng hãy tươi cười hỏi han: “Em ngồi nghỉ một chút đi, để anh phụ cho một tay.” Rồi mau mắn dọn dẹp, nấu ăn, đổ rác, lau nhà, dọn bàn…giúp vợ!

• Khi nghe các cha, hay Hội Đồng Giáo Xứ…kêu gọi phụ giúp tỉa cây, cắt cỏ, làm vệ sinh nhà thờ, lau lá gói bánh chưng, làm tiệc gây quỹ…giáo dân hãy mau mắn hưởng ứng, đóng góp tài năng và công sức cho giáo xứ, cho cộng đoàn, cho công việc chung được hoàn thành một cách mau chóng và tốt đẹp.

• Khi nghe tin anh A đau yếu bệnh tật, chị B bị tai nạn nằm bệnh viện, cô C bị thất nghiệp…xin bạn hãy dâng lên Chúa một lời cầu nguyện cho họ được ơn chữa lành, hãy gọi phone hỏi thăm, động viên và nếu họ không ngại, bạn hãy đến thăm viếng và an ủi họ.

Khi động lòng trắc ẩn, biết quan tâm tới tha nhân, và biết đưa tay ra để trợ giúp, xoa dịu những đau khổ, hoặc làm vơi nhẹ đi những gánh nặng của những người xung quanh…thì khi đó, bạn và tôi mới thực sự xứng đáng được gọi là con của Mẹ Maria, và mới là những môn đệ đích thực của Đức Giê-su Kitô. Chưa hết, khi biết quan tâm và biết đưa tay ra trợ giúp cho tha nhân, là khi đó bạn và tôi đang làm lợi cho chính mình, bởi vì Chúa Giê-su đã phán: “Anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đong bằng đấu ấy cho anh em!” (Mt 7:2).

Thật vậy, nếu chúng mình có lòng thương xót, và biết quan tâm giúp đỡ cho tha nhân, thì trong những ngày bạn và tôi lâm vào cảnh khốn cực đau thương, những người chung quanh, và chính Chúa sẽ quan tâm, tỏ lòng thương xót và sẽ ban ợn trợ giúp cho chúng mình!

Trong không khí hân hoan, vui mừng và náo nhiệt của những ngày cuối mùa Vọng, và nhân dịp kỷ niệm mừng ngày sinh nhật của Đức Giêsu Kitô, tôi cầu chúc bạn và gia đình bạn một đêm Giáng Sinh thật vui vẻ, bình an và nhờ lời chuyển cầu của thánh cả Giuse, qua tay hiền mẫu Maria, xin Chúa chúc lành và ban cho mỗi cá nhân, cho các Hội đoàn, cho mỗi gia đình một năm mới an khang thịnh vượng. Tôi cũng cầu chúc bạn và mọi người trong gia đình của bạn luôn có một trái tim của Mẹ Maria, biết quan tâm đến những nhu cầu của tha nhân và ra tay trợ giúp cho họ. Merry Christmas - 聖 誔 快 樂 - Feliz Navidad - Fröhliche Weihnachten – Joyeux Noël. mục lục

Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

ĐẤNG CỨU TINH CỦA NHỮNG NGƯỜI KHIÊM HẠ

“Hồi ấy, bà Maria vội vã lên đường, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giuđa. Bà vào nhà ông Dacaria và chào hỏi bà Êlisabét” (Lc 1:39)

I/ Kế hoạch tình thương cứu độ của Thiên Chúa.

Hai người phụ nữ chào nhau: một già, một trẻ; và cùng nhau, họ đúc kết toàn bộ lịch sử thánh: đằng sau bà Êlisabét già nua là bóng tối của hàng thế kỷ chuẩn bị lâu dài, và phía trước là Đức Maria, rạng rỡ, không vết nhăn, loan báo Dân mới của Thiên Chúa sẽ được Chúa Giêsu thiết lập. Họ có điểm chung là niềm hy vọng và tình thương của người mẹ, là những thứ giúp con người trọn vẹn của họ đi vào kế hoạch của Thiên Chúa. Bà Êlisabét hiếm muộn, còn Cô Maria quyết định sống đồng trinh. Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, Thiên Chúa tỏ mình ra là người dễ bị tổn thương như vậy, khi so sánh với Thiên Chúa trong Cựu Ước, là “Yahweh Sabaoth - Chúa các đạo binh” (Is 6:2-3), từ này  xuất hiện 279 lần trong Cựu ước. “Dân sai người đi Silô; từ đó họ mang về Hòm Bia Giao Ước của Thiên Chúa các Đạo Binh, Đấng ngự trên các thần hộ giá” (1 Sm 4:4). Thiên Chúa các đạo binh là “Trang Chiến Binh hùng mạnh” như trong sách Xuất hành mô tả:

“Xa mã Pharaô, Ngài xô xuống lòng biển,
tướng dũng với binh hùng chết chìm trong Biển Sậy.
Vực thẳm vùi lấp chúng, chúng chìm xuống nước sâu
chẳng khác nào hòn đá.
Lạy Chúa, tay hữu Ngài đã biểu dương sức mạnh.
Tay hữu Ngài, lạy Chúa, đã nghiền nát địch quân.
Lấy dũng lực oai hùng, Chúa quật ngã đối phương;
Ngài nổi cơn thịnh nộ, thiêu chúng cháy như rơm” (Xh 15:3-7).

Thiên Chúa sẽ cứu dân Israel bằng cánh tay quyền lực: “Chính Ta đã làm nên cõi đất, con người và súc vật trên mặt đất, nhờ sức mạnh lớn lao và cánh tay uy quyền của Ta” (Gr 27:5), đánh bại các kẻ thù ghét hãm hại dân Ngài, “Vì khi Thiên Chúa các đạo binh đã quyết định, ai có thể cản ngăn, cánh tay Người đã giơ ra, ai có thể làm cho rút lại?” (Is 14:27). Thế mà giờ đây, Thiên Chúa thực hiện kế hoạch của Ngài qua hai người phụ nữ không ai biết tới, bất lực và yếu đuối. Chính từ hai người phụ nữ này mà Thiên Chúa đã cho hạ sinh hai người con, một con trẻ được chính người cha của mình, là Dacaria, nói đến trong bài ca “Benedictus – Chúc Tụng” bất hủ: “Hài Nhi hỡi, con sẽ mang tước hiệu là ngôn sứ của Đấng Tối Cao: con sẽ đi trước Chúa, mở lối cho Ngài” (Lc 1,76); và được chính Chúa Giêsu ca tụng là “Một vị ngôn sứ chăng? Đúng thế đó; mà tôi nói cho anh em biết, đây còn hơn cả ngôn sứ nữa. Chính ông là người Kinh Thánh đã nói tới khi chép rằng: "Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con đến” (Mt 11:9-11). Còn trẻ kia được nhà tiên tri vĩ đại Isaia tiên báo 750 năm trước đó: “Vì một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta, một người con đã được ban tặng cho ta. Ngài gánh vác quyền bính trên vai, danh hiệu của Ngài là Cố Vấn kỳ diệu, Thần Linh dũng mãnh, người Cha muôn thuở, Thủ Lãnh hoà bình” (Is 9:5).

Cũng vị tư tế Dacaria, cha của Gioan Tẩy Giả, được đầy Thánh Thần, đã ví trẻ thơ này như là Vầng Đông, trong Bài Ca Benedictus đó: “Thiên Chúa ta đầy lòng trắc ẩn, cho Vầng Đông tự chốn cao vời viếng thăm ta, soi sáng những ai ngồi nơi tăm tối và trong bóng tử thần, dẫn ta bước vào đường nẻo bình an” (Lc 1,78-79). Thực ra chính Thiên Chúa đã lên kế hoạch cứu độ loài người, qua trẻ thơ này, ngay từ buổi đầu tiên, khi hai ông bà nguyên tổ chọn cách sống bất tuân và bất cần Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa phán: “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó” (St 3,15). Trẻ thơ này chính là Ngôi Lời Thiên Chúa: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu, Ngài vẫn hướng về Thiên Chúa. Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Ngài, thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành ở nơi Ngài là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại” (Ga 1:1-4). Tác giả Tin Mừng thứ tư cũng đã suy niệm và viết tiếp: “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người… Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Ngài, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Ngài, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật. Ông Gioan làm chứng về Ngài, ông tuyên bố: "Đây là Đấng mà tôi đã nói: Ngài đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi” (Ga 1:9-15).

II/ Những tâm hồn khiêm hạ đón nhận Thiên Chúa.

Hai người phụ nữ khiêm hạ, chỉ biết cậy dựa vào Thiên Chúa, đã được Ngài tuyển chọn vào công trình cứu độ của Ngài: “Bà Êlisabét vừa nghe tiếng bà Maria chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên, và bà được đầy tràn Thánh Thần, liền kêu lớn tiếng và nói rằng: "Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này?” (Lc 1:40-43). Bà Êlisabét không biết gì về mầu nhiệm của Mẹ Maria! Bây giờ bà đang đứng trước mầu nhiệm đó. Bây giờ bà biết rằng Mẹ Maria là Nữ tử Sion, là người mang trong mình Con của Cha Vĩnh Cửu, Đấng Cứu Độ của bà. 

Chính nhờ Lời Chúa mà chúng ta, cũng như bà Êlisabét, tiến tới đón nhận Chúa Giêsu trong máng cỏ cõi lòng của mình. Như xưa máng cỏ khiêm tốn hang bò lừa Bêlem đón nhận và tỏ hiện trẻ thơ Giêsu, thì nay máng cỏ cõi lòng hèn kém của chúng ta đón nhận Bí tích Thánh Thể được Chúa Kitô cử hành và trao ban. Trẻ thơ Giêsu vốn là Ngôi Lời trong mầu nhiệm thẳm sâu của Thiên Chúa đã lên tiếng khi xưa với trần thế, qua tiếng ca của các thiên thần: 

“Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” (Lc 2:14).

Thì nay Chúa Kitô cầm lấy bánh và rượu trần gian để làm nên sự hiện diện thường xuyên và mãi mãi của Ngài giữa con cái loài người, và trao ban chính Mình và Máu của Ngài để phàm nhân trở nên giống Thiên Chúa, như Thánh Gioan Kim Khầu nói: “Con Thiên Chúa đã trở nên con của loài người để làm cho con người trở nên con Thiên Chúa.” Trong thư thứ 2 của mình, thánh Phêrô coi đó là món quà quý giá lớn lao: “Thiên Chúa đã ban tặng chúng ta những gì rất quý báu và trọng đại Ngài đã hứa, để nhờ đó, anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa…” (2 Pr 1:4). Tình thương của Thiên Chúa dành cho loài người không bao giờ vắng mặt, như Đức Bênêđictô XVI nói: “Người luôn luôn tìm đến chúng ta – qua những con người mà Ngài soi sáng; qua Lời của Ngài, trong các bí tích, đặc biệt là Bí tích Thánh Thể”. [1]

Ơn cứu độ của chúng ta không phải chỉ là một biểu hiện tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta, mà còn là một sự bày tỏ vinh quang của Ngài. Chính khi Thiên Chúa biểu lộ tình thương của Ngài cho loài người, qua mầu nhiệm Nhập thể khi xưa và mầu nhiệm Thánh Thể hôm nay, thì Ngài đang tỏ lộ vinh quang từ muôn thuở của Ngài cho họ. Chính khi chúng ta đáp lại tình thương của Thiên Chúa, chúng ta đang làm vinh danh Ngài, là điều mà chúng ta cần phải khát khao thực hiện: “Xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển” (Mt 6:9). Mà tình yêu nơi Thiên Chúa thì vô cùng vô tận, bởi chính “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4:16), thì vinh quang của Ngài sẽ không bao giờ vơi bớt. Nếu chúng ta muốn vui hưởng vinh quang bất diệt của Thiên Chúa, không có một lựa chọn nào khác là chúng ta yêu mến Ngài “hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn” (Mt 22:37) bởi vì Thiên Chúa mãi muôn đời xứng với vinh quang:

“Thiên Chúa ta thờ là Đấng cứu độ,
Đấng vinh hiển uy quyền!...
Đức Chúa là Thiên Chúa Toàn Năng
đã lên ngôi hiển trị.
Nào ta hãy vui mừng hoan hỷ
dâng Chúa lời tôn vinh” (Kh 9:1,6).

Vinh quang của Thiên Chúa được tỏ hiện khi Mẹ Maria, đang cưu mang Con Đấng Tối Cao, cất tiếng chào bà Êlisabét: thai nhi, vốn được cầu khẩn bởi hai bậc cha mẹ cao niên hiếm muộn, bỗng nhảy mừng trong cung lòng son sẻ của bà Êlisabét. Bấy giờ, bà Êlisabét được tràn đầy Chúa Thánh Thần và cất tiếng ngợi ca rằng: “Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng” (Lc 1:44-45). Hai bà mẹ khiêm nhường mặt đối mặt khắc ghi cuộc gặp gỡ thánh thiêng vô hình của hai trẻ thơ. 

Chúa Giêsu khoác cho mẹ Ngài phẩm giá Mẹ Thiên Chúa, một phẩm giá được Giáo hội mừng trọng thể bẩy ngày sau Lễ Giáng Sinh, ngày bắt đầu một Năm Mới, một khoảng thời gian mới của nhân sinh, nhưng vẫn là thời gian Thiên Chúa cứu độ qua Người Con của Ngài theo thần tính, cũng là Người Con của Mẹ Maria theo nhân tính. Chúa Giêsu cũng khoác cho mẹ Ngài phẩm giá Nữ Vương, một phẩm giá được Giáo hội mừng kính bẩy ngày sau Lễ Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Với tư cách là Mẹ của Con Thiên Chúa và Mẹ của Đấng Cứu Độ, Mẹ Maria cũng tham dự vào địa vị của Người Con của Mẹ là Chúa Kitô Vua Vũ Trụ. Mẹ dự phần trong cuộc chiến thắng của Chúa Giêsu Kitô trên tội lỗi, trên sự chết, trên Satan, và Mẹ cũng chính là Đấng Chiến Thắng nhờ vào chiến thắng của Con Mẹ trên những quyền lực chống lại Thiên Chúa.

Còn Gioan thức tỉnh mẹ mình về những mầu nhiệm của Thiên Chúa, cũng là để thông báo với trần thế và với mỗi người con được người phụ nữ sinh ra rằng sự bất hạnh của người phụ nữ đầu tiên của nhân loại, bà tổ Eva, đã bị vượt qua, đã trở thành hậu cảnh dĩ vãng, đã trở thành “O Felix culpa”. Ngày nay Giáo hội hân hoan xướng lên “Ôi, Tội Hồng Phúc” trong đêm Phục Sinh, trong ánh sáng linh thiêng huy hoàng, thành lời ca mừng chiến thắng khải hoàn của Chúa Kitô, là niềm vui của nhân loại được giải thoát khỏi ách nguyên tội, như bài ca Exultet – Mừng Vui Lên diễn tả: “Tội Ađam quả là cần thiết, tội được xóa bỏ nhờ cái chết của Chúa Kitô. Ôi, tội đã hóa thành hồng phúc, nhờ tội chúng con mới có được Đấng Cứu Tinh cao cả dường này!” 

Cuộc đối thoại đầu tiên về niềm hy vọng của trần thế là của hai người phụ nữ mang thai, là hình ảnh của niềm mong đợi và hạnh phúc. Chính Thiên Chúa muốn có và tạo nên cuộc đối thoại ấy. Ngôi Ba Thiên Chúa, Chúa Thánh Thần, Đấng đầu tiên bao trùm Đức Maria: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà” (Lc 1:35), cũng bao bọc bà Êlisabét: “Và bà được đầy tràn Thánh Thần” (Lc 1:41). Giáo hội, giống như Mẹ Maria, mang trong mình mầu nhiệm của Chúa Giêsu, trao ban mầu nhiệm đó cho trần thế qua các bí tích, giống như Mẹ Maria biếu tặng mẩu nhiệm Nhập Thể cho bà Êlisabét. Đối với Giáo Hội mầu nhiệm đó là Quà tặng thực sự của Thiên Chúa, một Ân Huệ mà Giáo Hội luôn sống trong đó. Nhờ Bí tích Rửa tội, Mẹ Hội Thánh sinh ra những con cái mới của Thiên Chúa. Nhờ bí tích Thánh Thể, Mẹ Hội Thánh ban cho những con cái ấy Mình và Máu Chúa Giêsu, mầu nhiệm sự sống của Chúa Kitô Phục sinh.

III/ Phúc cho những ai tin nhận và tuân giữ Lời Chúa.

Mối phúc của Đức Maria bắt nguồn từ đức tin: “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Ngài đã nói với em” (Lc 1:44-45). Chúa Giêsu sẽ công bố điều đó một cách long trọng khi một người phụ nữ cất tiếng nói với Ngài: “Phúc cho dạ đã cưu mang Thầy và vú đã cho Thầy bú!” (Lc 11:27). Ngài đáp lại: “Đúng hơn phải nói rằng: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa” (Lc 11:28). Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu sẽ ban phúc cho những ai đón nhận và tuân giữ Lời của Chúa! Thiên Chúa qua Thần sứ Gabriel mặc khải cho Mẹ Maria ơn phúc mà Mẹ chưa từng nghĩ tới: “Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. Ngài sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Ngài ngai vàng vua Đavít, tổ tiên Ngài. Ngài sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại của Ngài sẽ vô cùng vô tận” (Lc 1:31-33). Mẹ không mảy may nghi ngờ quyền năng của Thiên Chúa, không như vị tư tế Dacaria khi nghe báo tin mình sẽ có con nối dõi trong tuổi già: “Này ông Dacaria, đừng sợ, vì Thiên Chúa đã nhận lời ông cầu xin: bà Êlisabét vợ ông sẽ sinh cho ông một đứa con trai, và ông phải đặt tên cho con là Gioan…” (Lc 1:13) ông đã đặt vấn đề với thiên sứ “Dựa vào đâu mà tôi biết được điều ấy? Vì tôi đã già, và nhà tôi cũng đã lớn tuổi” (Lc 1:18). Chính vì yếu tin nên Dacaria phải lãnh chịu lời phán xử của Thiên Chúa: “Tôi là Gabriel, hằng đứng chầu trước mặt Thiên Chúa, tôi được sai đến nói với ông và loan báo tin mừng ấy cho ông. Và này đây ông sẽ bị câm, không nói được, cho đến ngày các điều ấy xảy ra, bởi vì ông đã không tin lời tôi, là những lời sẽ được ứng nghiệm đúng thời đúng buổi” (Lc 1:19-20). Còn Mẹ Maria, Mẹ tin vào Lời Thiên Chúa, Mẹ chỉ xin Sứ thần chỉ bảo cho biết việc thụ thai sẽ xảy ra bằng cách nào, vì Mẹ đã khấn hứa sống đời khiết trinh: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng” (Lc 1:34). Chính vì thế “Sứ thần đáp: "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. Kìa bà Êlisabét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng. Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1:35-37). Mẹ liền thưa: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1:38).

Và sau khi đón nhận “đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng” (Lc 1:28), Mẹ Maria tỏ lộ Chúa Giêsu, trao tặng Ngài cho bà Êlisabét, như Lời Chúa hôm nay mặc khải cho chúng ta biết: “Bà vào nhà ông Dacaria và chào hỏi bà Êlisabét” (Lc 1:39). Chính Mẹ là người mang mầu nhiệm về Thiên Chúa hằng sống đến với thế trần. Khi Thiên Chúa mặc khải cho Mẹ Maria mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, thì Ngài cũng mạc khải cho Mẹ mầu nhiệm về Ngôi Con trong ngôi vị con người. Khi Chúa Thánh Thần bao phủ Mẹ bằng bóng của Ngài, Đức Maria khám phá ra mình là con gái bé bỏng của Chúa Cha, và Mẹ sẽ cưu mang Người Con của Chúa Cha. Mẹ phát hiện ra Người Con duy nhất của Chúa Cha được ban tặng cho Mẹ trở thành  người con bé bỏng của chính mình. Đó không phải là ý niệm, nhưng trước nhất đó là một cảm nghiệm, dù chúng ta vẫn cần phải suy niệm về những “sự việc - sự kiện” này để đi vào mầu nhiệm Giáng sinh. Mẹ Maria mang trong mình mầu nhiệm kép, đó là mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi và mầu nhiệm Nhập thể, và Mẹ đã dẫn đưa người chị họ của mình là Êlidabét vào mầu nhiệm đó. Bây giờ mỗi người chúng ta có thể tham dự vào việc chiêm ngắm mầu nhiệm kép này: Ngôi Lời Nhập Thể -  Thiên Chúa Làm Người. [2]

Chương đầu tiên của sách Gioan cho chúng ta biết rằng Ngôi Lời đã đến với người nhà của Ngài và người nhà của Ngài đã không đón nhận Ngài: “Ngài đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận.” (Ga 1:9). Dù cũng có một số người ngoại lệ được tái sinh bất ngờ, đón nhận Thiên Chúa và trở thành con cái của Thiên Chúa nhưng nhân vật hôm nay trong Kinh Thánh thì lại vượt ra khỏi điểm xuất phát bình thường của con người: đó là Mẹ Maria. Mẹ đúc kết và trổi vượt hơn tất cả những người đã đón nhận Thiên Chúa. Bằng cách đón nhận Thiên Chúa, trong tin tưởng, yêu mến và phó thác, tất cả một cách trọn vẹn, Mẹ vừa trở nên con Thiên Chúa, giống như Thiên Chúa, vừa trở thành mẹ của Con Thiên Chúa theo nhân tính. Đây là hiệu quả của niềm tin vào Thiên Chúa ở mức độ cao nhất, của Đức tin Kitô giáo. 

IV/ Cùng Mẹ Maria hát bài Magnificat.

Những gì Mẹ Maria sống tròn đầy, chúng ta cũng sống như thế theo tầm mức của chúng ta: đức tin của chúng ta giúp chúng ta đón nhận Thiên Chúa và qua đức tin, chúng ta đem Thiên Chúa vào trần thế, chúng ta để cho Ngài tiếp cận với nhân giới của chúng ta. Vì vậy, Thiên Chúa đặt mình trong tay loài người và chúng ta biết điều đó sẽ đi đến đâu. Mẹ Maria là Con gái của Thiên Chúa, mẹ của Chúa Kitô, vốn là Thiên Chúa, là Đấng tự làm cho mình nên rất nhỏ bé. Mẹ Maria vốn dĩ đã sống tinh thần thơ bé thì nay Mẹ lại càng tự nguyện trở nên nhỏ bé hơn trong kế hoạch của Thiên Chúa, một kế hoạch lớn lao nức lòng trời đất. Mẹ cảm biết niềm hân hoan của sự thành toàn đang dần được hoàn thành nơi trần thế, qua Mẹ: Mẹ là nhân tính thành toàn, được nâng lên hàng đầu bởi vì Mẹ đã tự biến mình thành nữ tỳ trong đức tin khiêm hạ của Mẹ.

Đây là những gì bài ca Magnificat – Ngợi khen nhắc lại với chúng ta. 

“Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa,
thần trí tôi hớn hở vui mừng
vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi.
Phận nữ tỳ hèn mọn,
Ngài đoái thương nhìn tới;
từ nay, hết mọi đời
sẽ khen tôi diễm phúc.
Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi
biết bao điều cao cả,
danh Ngài thật chí thánh chí tôn!
Đời nọ tới đời kia,
Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Ngài.
Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh,
dẹp tan phường lòng trí kiêu căng.
Chúa hạ bệ những ai quyền thế,
Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.
Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư,
người giàu có, lại đuổi về tay trắng.
Chúa độ trì Israel, tôi tớ của Ngài,
như đã hứa cùng cha ông chúng ta,
vì Ngài nhớ lại lòng thương xót
dành cho tổ phụ Abraham
và cho con cháu đến muôn đời” (Lc 1:46-65).

Bài ca Magnificat là những gì xảy ra cho Mẹ Maria và cũng là những gì sẽ xảy ra cho tất cả những người khiêm hạ, cho tất cả những người đón nhậnThiên Chúa cách đơn sơ thành tâm, cho tất cả những người đói khát sự công chính. Một lần nữa, chúng ta thấy rằng những gì xảy ra với Mẹ Maria là hình ảnh báo trước những gì sẽ xảy ra với tất cả chúng ta nếu chúng ta biết nói “Xin vâng” với Thiên Chúa. Magnificat vừa là một bài ca cá nhân vừa là bài ca của Hội Thánh. Magnificat là một cầu nối giữa Cựu và Tân Ước, giữa Israel và Hội Thánh, như Mẹ Maria là đỉnh cao của Giao ước giữa Thiên Chúa với dân riêng của Ngài và khai mở một dân mới. Đây là bài ca của dân mới, tức Hội Thánh, được cất lên trên môi miệng của Mẹ Maria và qua đó con cái của Hội Thánh, cũng là con cái của Mẹ, hợp tiếng của mình với tiếng của Mẹ Chúa Giêsu, không ngừng lặp lại trong dòng thời gian, vì Mẹ là hình ảnh của nhân loại thành toàn. [3]

Xin Mẹ Maria, Mẹ chúng ta, dạy cho chúng ta sự thinh lặng của cõi lòng để chiêm ngắm Kế hoạch Tình Thương Cứu Độ mà Thiên Chúa mong muốn qua Ngôi Lời Nhập Thể. 

Chúng ta cầu xin ơn đổi mới trong đức tin, niềm trông cậy và lòng mến của chúng ta, để nhờ Mẹ Maria, chúng ta đến cùng Con của Mẹ là Chúa Kitô Giêsu, và nhờ Chúa Kitô Giêsu, chúng ta đến cùng Thiên Chúa Cha là nguồn sự sống, nguồn ánh sáng và Ơn Cứu Độ muôn đời. mục lục

Phêrô Phạm Văn Trung biên tập.

Chú thích:

[1] Đức Bênêđictô, Thông điệp Deus caritas est, 25.12.2005, số 17. 
[2] pere-gibert-adam.org
[3] croire.la-croix.com

THĂM VIẾNG: DẤU CHỈ TÌNH THƯƠNG

Trong nhà dòng tôi ở, có một linh mục có tài kể truyện. Truyện của Ngài làm say mê lòng người. Câu chuyện nào cũng có sức lôi cuốn và thu hút người nghe. Khi kể truyện Ngài có pha các tình tiết làm cho người nghe vui, nhưng không vì thế làm giảm đi ý nghĩa của sứ điệp mà cha muốn truyền đạt. Có một lần anh em trong nhà xin Ngài bớt chút cường điệu hay cử chỉ khi kể truyện. Nhưng kết quả vẫn như nguyên.

Phần tôi không có năng khiếu kể truyện. Tôi đã cố gắng, nhưng vẫn thấy lối kể truyện của mình thật vô duyên. Nhiều lúc, sau khi kể truyện tôi cũng chẳng biết đầu đuôi hay tình tiết của câu chuyện mình đã thuật lại nữa. Tuy nhiên, tôi vẫn biết rằng dùng câu chuyện để truyền tải sứ điệp thì ích lợi hơn cho người nghe. Do đó, xin bắt đầu bằng một câu chuyện và truyện kể như sau.

Trong xóm đạo kia có một chàng thanh niên, khôi ngô tuấn tú, diện mạo khá bảnh bao mà nhiều người hằng ngưỡng mộ. Chúng ta gọi tên anh là Thi nhé. Thi có tài ca hát. Thêm vào đó, anh ngoan và siêng năng trong mọi công tác của xứ đạo. Nói chung, anh là mẫu mực mà nhiều người thán phục.

Vào một ngày kia, anh phải đối diện với một biến cố thật kinh hoàng. Anh là nạn nhân trong một tai nạn xe cộ. Tuy thoát chết, nhưng đôi chân anh bị cưa. Nghịch cảnh đã tiêu hủy mọi ước mơ của anh. Những người trước đây ngưỡng mộ anh thì bây giờ họ nhìn anh bằng cặp mắt thương hại và tội nghiệp. Cuộc đời anh xem như đã xong. Người ta dần dần quên đi sự hiện diện của anh. Đó là nguyên nhân khiến anh bị trầm cảm kinh niên. Đôi khi anh có ý nghĩ chẳng thà bị trẻ con chọc ghẹo và coi thường còn hơn là bị quên lãng. Anh chỉ muốn chết!

Vào một ngày kia, anh nhận được tin người bà con, tuy không phải ruột thịt, từ Mỹ về thăm quê nhà, nghe kể về hoàn cảnh của Thi nên muốn đến thăm. Thi chẳng bận tâm hay có kỳ vọng nào trong chuyện thăm viếng này. Lần viếng thăm này rồi cũng giống như bao lần thăm viếng trước đây. Lại thêm một cử chỉ tội nghiệp và vài lời khuyên nhủ. Cuối cùng, anh vẫn là người cụt hai chân.

Trong lúc hai người trò chuyện với nhau. Bỗng nhiên anh nghe ông anh họ hỏi anh rằng: “Cậu có muốn đi đứng lại được không?” Thi không tin vào đôi tai của mình, nên đã hỏi lại: “Anh đùa để chọc tôi phải không?” Ông anh họ đáp: “Không tôi nói thật, tôi có thể tặng cậu đôi chân nhân tạo.” Thi đáp: “Đêm nào tôi cũng mơ đến điều kỳ diệu này! Nhưng hoàn cảnh thiếu thốn của gia đình đã khiến tôi bỏ qua ý nghĩ này. Như anh biết, kể từ ngày bị tai nạn đến nay, trong nhà còn gì thì cũng đã bán hết để lo thuốc men cho tôi. Giờ này, cơm lo từng ngày còn chưa đủ no, nói chi đến việc đi đứng!” Ông anh họ từ tốn nói: “Tôi sẽ biếu cậu, hãy coi cặp chân này như món quà Giáng Sinh sớm của gia đình chúng tôi tặng cậu.”

Thế là mọi sự đã xẩy ra. Giáng Sinh năm đó Thi đã có đôi chân để đi. Lòng tự tin của anh được phục hồi. Sau này, anh còn tìm được việc trong chức vụ cố vấn của một trung tâm thể dục thẩm mỹ. Cuộc sống gia đình ổn định hơn. Thi rất hài lòng với những gì anh đang có. Tất cả được bắt đầu qua lần thăm viếng của ông anh họ. Và, tuy việc này xẩy ra đã lâu, nhưng Thi không bao giờ quên cuộc viếng thăm của ông anh họ năm nào.

Câu chuyện nói trên có thể minh họa phần nào ý nghĩa của bài Tin Mừng mà chúng ta suy tư trong tuần này, đó là cuộc viếng thăm của Mẹ Maria dành cho người chị họ mình, bà Ê-li-sa-bét.

Kính thưa anh chị em,

Thăm viếng là dấu chỉ của tình thương. Đó có thể là khởi điểm của một mối tình hay là bước đầu của một dự án. Chúng ta thường đến thăm những người chúng ta yêu thương. Tình yêu cần được nhìn thấy, chứ không thể khư khư, giữ kín và ôm lấy cho riêng mình. Một thứ tình yêu âm thầm, chỉ dựa vào ngôn từ mà không được biểu lộ thành hành động thì không phải là tình yêu chân chính và đích thực. Đây là kinh nghiệm vô cùng quí giá của những ai đang yêu. Họ tìm mọi cách để thăm nhau. Và thường thì mỗi lần như thế họ để lại trong nhau các trải nghiệm khó phai mờ.

Không chỉ có thế, thăm viếng là một trong các điều vô cùng cần thiết trong xã hội mà khuynh hướng tôn sùng chủ nghĩa cá nhân được cổ võ và phát triển như hiện nay.

Ngày xưa, con người đến với nhau để giao tiếp. Hôm nay, lệ thuộc vào sự tiến bộ của truyền thông, con người bỗng trở nên lười biếng hơn, chưa kể đến việc lạm dụng các phương tiện văn minh kỹ thuật để bớt gặp nhau hơn. Có ai ngờ được hiện tượng của những con người sống chung trong một mái nhà mà lại phải dùng điện thoại để nhắn tin hay gọi nhau xuống ăn cơm tối. Tiện lợi vô cùng, nhưng hiểm họa ngay bên! Lối sống mỗi người là một ốc đảo càng ngày càng hiện rõ trong các sinh hoạt của gia đình và đương nhiên sẽ lan tràn như bệnh dịch sang môi trường mình sinh sống.

Ngày xưa, trong các tuần đại phúc, nghĩa là trong các lần giảng tĩnh tâm tại các Giáo xứ, chúng tôi thường dành mấy tuần đầu cho chương trình, ban ngày đi thăm viếng buổi tối họp nhóm. Công việc này giúp chúng tôi và giáo dân trong xứ hiểu nhau hơn, nhìn thấy nhu cầu của nhau mà quan tâm… rồi từ đó các bài giảng thuyết được chuẩn bị hầu đáp ứng đúng nhu cầu của bà con trong giáo xứ.

Vì sao mà được như thế? Tất cả nhờ vào công tác thăm viếng. Qua đó, chúng ta dễ dàng tiếp cận và hiểu nhau hơn. Ngày nay, vì nhiều nguyên do khác nhau, dù lòng chúng ta muốn áp dụng cách thức này; nhưng thực tế cũng không cho phép. Con người quá bận rộn! Nhu cầu thăm viếng, đến với nhau càng ngày càng thấy hiếm. Chính vì thế, bài học trong bài Tin Mừng hôm nay nên được chúng ta ôn lại.

Quả thật, đây cũng không phải là điều gì mới lạ. Lần giở sách Kinh Thánh, chúng ta nhận ra chuỗi dài của việc viếng thăm mà Thiên Chúa đã thực hiện trong dân Ngài. Qua các sứ giả của Thiên Chúa, mà cụ thể là việc Thiên Thần đến với E-li-sa-bét và Đức Maria trong các trình thuật truyền tin; rồi qua môi miệng và chứng từ của các ngôn sứ, như lời tụng ca của Dacaria “Chúc tụng Đức Chúa là Thiên Chúa Ít-ra-en đã viếng thăm cứu chuộc dân Người.”

Trong sách Tin Mừng theo Thánh Lu-ca, chúng ta có thể liệt kê vô số các lần thăm viếng và đồng bàn với dân chúng của Đức Giê-su. Và nhiều điều kỳ diệu đã xẩy ra trong và sau những lần thăm viếng đó. Cụ thể như việc Đức Giê-su chữa lành cho người đầy tớ của viên Đại Đội Trưởng trong lần Người ghé thăm Ca-pha-na-um; qua lần ghé Nain, Người đã làm cho cậu con trai duy nhất của bà goá được sống lại. Với việc đến thăm và làm bạn với những người tội lỗi khiến cho mấy ông bà tưởng mình đạo đức phật lòng… Nhưng lần thăm Giê-ru-sa-lem sau cùng, tuy được đón tiếp trọng thể như một quân vương, nhưng lại không có kết quả tốt. Người đã bị từ khước và cuối cùng là hành trình khổ nạn và Thập Giá; nhưng đàng sau của Thập Giá là vinh quang của sống lại mà ngày nay con cháu của Người được thừa hưởng sự hy sinh đó.

Trong bối cảnh đó, giờ đây chúng ta cùng suy gẫm cuộc thăm viếng của Đức Maria và bà Ê-li-sa-bét.

Sau khi để cho ý định của Thiên Chúa được thành sự trong cung lòng của Ngài, Đức Maria vội vã ra đi lên miền sơn cuớc để thăm bà Ê-li-sa-bét, chị họ Ngài. Trình thuật này thường được suy gẫm trong Kinh mân côi để ca tụng nhân đức thương người, luôn quan tâm đến nhu cầu của kẻ khác nơi Mẹ. Tất cả đều là những bài học thật quí giá mà Mẹ đã để lại cho chúng ta học hỏi và noi gương.

Tuy nhiên, hôm nay tôi xin dựa vào một yếu tố khác. Đây là hậu quả dưạ trên các kinh nghiệm thật sâu xa của các bà mẹ đang mang thai đã chia sẻ với nhau mà tôi nghe đuợc. Nhờ đó, chúng ta khám phá ra một điều là trình thuật diễn tả việc Đức Maria thăm viếng bà Ê-li-sa-bét mang tính nhân bản, nói lên cách xử sự thật con người của Mẹ.

Trước tiên, việc mang thai là niềm vui khôn tả, là nguồn sức mạnh của tất cả các người mẹ. Mẹ Maria cũng thế. Trong niềm vui được Thiên Chúa đoái thương viếng thăm, Mẹ được thúc đẩy để lên đường, chia sẻ niềm vui và điều kỳ diệu đang xẩy ra trong cung lòng của Mẹ cho người khác. Và ai là người có thể đồng cảm với Mẹ trong giai đoạn này? Người đó chính là chị họ Mẹ, người cùng cảnh ngộ và đang mang thai như Mẹ, bà Ê-li-sa-bét. Niềm vui không chỉ được trao đổi giữa hai người mẹ: Đức Maria và bà Ê-li-sa-bét mà thôi, nó còn được lan tỏa qua hai người con. Vừa nghe lời Mẹ chào thì Gio-an Tẩy giả, tuy là một thai nhi nhưng cũng đã nhẩy lên để diễn tả niềm vui khi được Mẹ và Chúa đến viếng thăm.

Như vậy, mỗi lần chúng ta gặp nhau, dù là tình cờ hay đã định trước, đều là cơ hội để chúng ta có thể đem tin vui đến cho nhau, hỗ trợ nhau trong nỗi đau, củng cố và giúp nhau đối diện với cơn buồn phiền rồi hướng dẫn nhau vuợt qua tình trạng bối rối để hướng về cùng đích của Nuớc Trời. Chính qua các cử chỉ đó, chúng ta làm cho mầu nhiệm hy tế của Đức Giê-su mà chúng ta đang cử hành trong các Thánh Lễ trở thành hiện thực và sống động hơn bởi cuộc sống dấn thân và phục vụ mà chúng ta dành cho nhau.

Uớc mong Chúa vừa là hành trang vừa là quà tặng mà chúng ta mỗi lần thăm viếng đem đến cho nhau trong cuộc sống, cụ thể trong Mùa Giáng Sinh này. Bởi vì, chúng ta tin rằng: mỗi lần gặp gỡ là một cơ hội mà chúng ta đem Chúa đến cho nhau để niềm vui mà chúng ta trao cho nhau trong Chúa được trở nên trọn vẹn hơn. Amen! mục lục.

Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

LAN TỎA NIỀM VUI CHÚA Ở CÙNG

Từ xa xưa, Thiên Chúa đã cho biết: "Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng các ngươi, đường lối các ngươi không phải đường lối của Ta" (Is 55,8).

Theo dòng lịch sử, Chúa luôn luôn thể hiện thánh ý ấy. Chẳng hạn, Tổ phụ Abraham già nua, hiếm muộn lại được tuyển chọn làm cha của cả một dân Thánh; Ông Môsê vừa ngọng, vừa đớt lại trở thành nhà giải phóng dân tộc lừng danh; vua Salomon, đứa con ngoại hôn lại được đặt làm vua, ngồi trên chính ngai vàng của Đavít, cha mình...

Trong cùng đường lối thánh thiện siêu phàm của Thiên Chúa, Đức Maria trở thành kiệt tác Thiên Chúa ban tặng loài người. Và cùng Đức Mẹ, bà Isave trở thành một trong những khuôn mặt không thể thiếu của lịch sử cứu độ.

Chính trong tư tưởng và đường lối nhiệm mầu của Thiên Chúa mà một Tring nữ trẻ - Đức Maria và một cụ già - bà Isave đều là lần đầu tiên và lần cuối cùng mang thai và sinh con.

Hôm nay, trong sự thánh thiện và đường lối không ngoan lạ thường ấy, Thiên Chúa làm cho cuộc thăm viếng mà Đức Mẹ dành cho chị Isave của mình trở thành cuộc giao thoa của niềm vui nhiệm lạ, hạnh phúc và đầy ơn thánh.

Có ai ngờ, cuộc gặp gỡ của hai người mẹ lại trở thành cuộc gặp gỡ lịch sử và là cuộc gặp gỡ khởi đầu của trang sử mới tân ước. Mạnh hơn, đó chính là cuộc gặp gỡ giữa hai người con phía bên trong lòng dạ của hai người mẹ. Đó còn là cuộc gặp gỡ của ơn giải thoát mà Người Con trong lòng Đức Mẹ ban tặng người con trong lòng bà Isave. 

Đàng khác, từng cặp: Bà Isave - Đức Maria; thánh Gioan Tẩy giả - Chúa Giêsu còn nói lên sự giao thoa giữa hai giao ước cũ và mới. Đó cũng là sự chuyển giao từ giao ước cũ sang giáo ước mới.

Trong những giao thoa và gặp gỡ ấy, còn là sự tuôn chảy tràn trề của ơn Thánh: 

- Đức Mẹ đem niềm vui có Chúa ở cùng san sớt, hiến tặng gia đình chị họ.

- Người chị họ, trong ơn Thánh Thần, bỗng chốc ca tụng và tuyên xưng đức tin vào người em khi gọi người em ấy là "Mẹ của Chúa tôi".

- Con trẻ Gioan trong lòng bà Isave nhảy mừng vì vui sướng, bởi phút chốc được thánh hóa, được giải thoát khỏi tội lỗi, được dự liệu để tiền hô cho chính Đấng giải thoát và thánh hóa mình.

- Kể từ đây, triều đại của tân ước bắt đầu. Giao ước mới do chính Người Con trong lòng Đức Trinh Nữ thực hiện sẽ là giao ước vĩnh cửu, khai mở một triều đại của ánh sáng nhờ tình yêu và ân sủng mà chính Người Con ấy mang lại.

Hằng ngày Chúa vẫn đến viếng thăm và gặp gỡ ta trong từng thánh lễ, trong mọi cử hành bí tích,nhất là bí tích Thánh Thể. Chúa còn hiện diện với ta trong các giờ kinh, giờ cầu nguyện của từng cá nhân hay cộng đoàn. Chúa hiện diện và gặp gỡ khi ta sống bác ái, sốngliên đới với anh chị em...

Vì thế, mỗi phút giây, dù ở giữa đời hay trong nhà thờ, dù đang miệt mài trong công tác trần thế hay trong tư cách là người tín hữu gắn bó với Chúa, dù trong khi làm việc hay nghỉ ngơi, dù ở một mình hay đang có những tiếp xúc với người bên cạnh, dù đang làm việc cho chính mình hay đang thi hành nghĩa vụ bác ái..., ta hãy ý thức Chúa đang hiện diện, đang đồng hành với mình. Hãy luôn đặt mình sống dưới bàn tay và ánh mắt của Chúa. Hãy phó thác mọi tư tưởng, đường lối, sự sống, hiện tại, tương lai... của mình trong tay Chúa...

Như Đức Mẹ, một khi đặt Chúa làm trung tâm đời mình và sống như có Chúa luôn ở với mình, đúng hơn, khi đã có một tâm hồn sẵn sàng mở ra đón nhận Chúa đến, ta cũng sẽ trở thành người lên đường mang tin vui có Chúa ở cùng, mang hạnh phúc vì được làm một với Chúa để đến với anh chị em.

Ta cứ mạnh dạn lên đường, phần còn lại sẽ có Chúa lo liệu để người anh em của ta cũng được Chúa phủ đầy tình yêu và ơn thánh như đã phủ trên ta.

Ước gì ta cũng làm được điều mà Đức Mẹ đã làm. Đó là lan tỏa niềm vui Chúa ở cùng, để qua ta, anh chị em cũng tràn đầy ân phúc, tràn đầy sức sống, tràn đầy phúc lành và sự cứu độ của Chúa như bà Isave và bào thai Gioan Tẩy giả. mục lục

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

CHIA SẺ

[Niệm ý Lc 1:39-45]

Ðức Mẹ Ma-ri-a
Ví như Giao Ước mới
Xưa nơi hòm bia tới
Dân Chúa chiến thắng ngay.
Mẹ mang Đấng Ngôi Lời
Như mang Giao Ước mới
Mẹ vội vã đi tới
Thăm Chị Y-sa-ve.
Mẹ mang Chúa Giêsu
Đấng ban Ơn Cứu Độ
Gio-an vui mừng quá
Nên đã phải nhảy lên.
Cả gia đình hân hoan
Được chính Mẹ Thiên Chúa
Đến thăm và chia sẻ
Tình Thiên Chúa nhiệm mầu. mục lục

Viễn Dzu Tử

TUNG HÔ MẸ THIÊN CHÚA

(Cảm nhận và suy niệm từ Lc 1,39-45)

Sau ngày ấy - ngày Mẹ vâng ý Chúa (Mẹ Maria)
Chịu thai Thánh Tử, nguyên vẹn đức đồng trinh
Lại được tin, lão bà trong họ mình, (Bà Isave)
Đã sáu tháng, mang thai an mạnh đủ.
Mẹ vội vã lên đường mong phục vụ
Vừa tới nơi, lão phụ nghe lời chào
Thai hài nhi, trong lòng nhảy lao xao
Bà lên tiếng, xưng hô Mẹ Thiên Chúa…
Ôi! Mầu nhiệm Thiên Sai từ muôn thuở
Ai ngẫm suy, thấu được những chứng minh
Lịch sử ghi lại những sự tích rành rành
Luôn chứng nhận Chúa Ngôi Hai giáng thế. mục lục

(Thế Kiên Dominic)

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan