SUY NIỆM CHÚA NHẬT LỄ HIỂN LINH - C

31-12-2021 331 lượt xem

[Is 60:1-6; Ep 3:2-3a,5-6; Mt 2:1-12]

Mục Lục

LẮNG NGHE LỜI MỜI GỌI CỦA THIÊN CHÚA & LÊN ĐƯỜNG - ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm,

“HÃY BỪNG SÁNG!” - + ĐTGM Giuse Vũ Văn Thiên

CHỈ CÓ THIỆN TÂM... - Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

THÁNH GIUSE VÀ CHUYẾN THĂM CỦA BA VUA TỚI BÊLEM - Phêrô Phạm Văn Trung

LỐI VỀ HÂN HOAN - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

LỄ BA VUA HAY LỄ HIỂN LINH - Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

HÀNH TRANG TRÊN HÀNH TRÌNH TÌM CHÚA: SỰ ĐƠN SƠ! - Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

KHOẢNG XA KHOẢNG GẦN - Thomas Aq. Trầm Thiên Thu

HÃY ĐỂ THIÊN CHÚA TỎ MÌNH! - Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

NIỀM VUI CHO DÂN NGOẠI - Thiên San

Thơ: NOI GƯƠNG ĐẠO SĨ - Viễn Dzu Tử

Thơ: ÁNH SAO NHIỆM MẦU - (Thế Kiên Dominic)

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------

LẮNG NGHE LỜI MỜI GỌI CỦA THIÊN CHÚA & LÊN ĐƯỜNG

ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm

“HÃY BỪNG SÁNG!”

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay mở đầu bằng một lời hiệu triệu rất long trọng, qua lời ngôn sứ Isaia: “Hãy đứng lên, bừng sáng lên, Giêrusalem”. Nội dung của bài sách thánh thứ nhất cho ta thấy một bầu khí sôi động, hùng hồn như lệnh triệu tập của một đại lễ, hay một cuộc tổng động viên. Giêrusalem không còn vẻ tĩnh lặng đơn điệu của ngày thường, mà trở nên điểm quy tụ của cả thế giới. Mọi vương quyền trên thế giới đều đến đây để phủ phục tôn thờ Đấng Tối Cao. Mọi sản vật quý hiếm từ mọi miền đều được chuyển tải về đây để dâng tiến Thiên Chúa, Đấng tạo dựng muôn loài. Những đoàn lạc đà nhiều chưa từng thấy, đến nỗi che rợp đất. Lạc đà là phương tiện giao thông của thời đó. Khi nói đến số lạc đà nhiều như vậy, có nghĩa là khách thập phương đông vô kể, từ muôn phương đang tiến về thành Thánh. Giêrusalem chói ngời, rạng rỡ, như cô dâu được trang điểm kỹ lưỡng, toả hào quang đến mọi miền xung quanh.

Vì lý do gì mà Giêrusalem bừng sáng đến thế? Đó là vì Đấng Cứu thế đã xuất hiện. Lời ngôn sứ Isaia bảy trăm năm trước đó đã được ứng nghiệm. Đấng Cứu thế đã hạ sinh. Người là Vua các vua và là Chúa các chúa. Thánh lễ hôm nay được gọi là lễ Hiển Linh. Từ này thường được dùng trong Kinh Thánh Cựu ước để diễn tả việc Thiên Chúa xuất hiện. Mỗi khi Ngài xuất hiện, hoặc để tỏ quyền năng tuyệt đối của Ngài, hoặc để cứu giúp dân Do Thái đang gặp tai ương hoạn nạn. Việc Thiên Chúa hiển linh cũng nói lên sự quan tâm chăm sóc đối với Dân được tuyển chọn. Trong lịch sử Cứu độ, nhiều lần Chúa đã hiển linh để cứu giúp dân Do Thái. Như thế, lễ Hiển Linh giới thiệu với chúng ta: Đức Giêsu là Vua của các vua. Người là Đấng muôn dân mong đợi. Ba nhà đạo sĩ, mà chúng ta quen gọi là ba vua, đã từ phương xa đến để chào kính và tôn thờ vị Vua mới sinh. Ba loại lễ phẩm: vàng, nhũ hương, mộc dược cho thấy ba vị này đến từ ba miền khác nhau của phương Đông. Các nhà chú giải Kinh Thánh giải thích: vàng là lễ vật tặng các vua chúa ; nhũ hương là lễ vật dâng tiến các thần linh ; mộc dược là thuốc thơm để tẩm liệm thi hài người quá cố, như một lời tiên báo Chúa Giêsu sẽ chịu chết để cứu độ nhân loại.

Khi mừng lễ Hiển Linh, Giáo hội cũng giới thiệu cho chúng ta: Đức Giêsu là Đấng Cứu độ toàn thể nhân loại. Người cũng là Vua vũ trụ. Vương quốc của Người là vương quốc tình yêu, công bình và bác ái. Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng vụ, chúng ta đã suy tư về tước vị Vua của Chúa Giêsu. Qua Chúa Giêsu và nhờ Chúa Giêsu, ơn Cứu độ được đề nghị cho toàn thể thế giới, chứ không giới hạn nơi dân tộc Do Thái như quan niệm của Cựu ước. Thực tế hôm nay đã chứng minh: trên khắp hoàn cầu, mọi quốc gia và lãnh thổ, Đức tin vào Chúa Giêsu được tuyên xưng và loan truyền. Hệ thống tổ chức của Giáo hội như các Giáo phận, các Dòng tu, các Giáo xứ, các Cộng đoàn đã chứng minh có Chúa hiện diện và điều khiển Giáo hội. Giáo hội của Chúa bao gồm mọi màu da, mọi ngôn ngữ, mọi văn hoá, mọi truyền thống. Giáo hội như một vườn hoa mênh mông với ngàn hương sắc khác nhau. Tất cả đều có chung một Phép rửa, một Đức tin, một Phụng vụ. Chất men Tin Mừng đã thấm nhập nơi mọi nền văn hoá và mọi dân tộc. Thánh Phaolô đã diễn tả trong thư gửi giáo dân Êphêsô như sau: « Trong Đức Giêsu Kitô và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại cùng được thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa muốn » (Bài đọc II).

Thánh vịnh 71 được hát lên trong phần Đáp ca đã diễn tả tình thương bao la hải hà của Thiên Chúa: « Người giải thoát bần dân kêu khổ, và kẻ khốn cùng không chỗ tựa nương, chạnh lòng thương ai bé nhỏ khó nghèo… Mạng sống dân nghèo, Ngài ra tay tế độ”. Tác giả Thánh vịnh cũng ca ngợi vinh quang sáng ngời của vị Tân Vương: Triều đại Người, đua nở hoa công lý, và thái bình thịnh trị. Người làm bá chủ từ biển này qua biển nọ, từ Sông Cả đến tận cùng trái đất ». Đức tin Kitô giáo đã nhận ra vị Tân Vương này là Hài nhi Giêsu sinh hạ tại Bêlem năm xưa.

Nếu ơn Cứu độ của Thiên Chúa qua Đức Giêsu Kitô có tính phổ quát, thì bất kể ai, nếu thành tâm thiện chí thì đều được Thiên Chúa đón nhận vào gia đình của Ngài. Dưới cái nhìn của người Do Thái, ba nhà đạo sĩ được coi là những « người ngoại », nhưng họ có trái tim chân thành và thiện chí đi tìm Chân lý. Các ông đã vượt qua đường trường với bao nguy hiểm, để tìm cho bằng được vị Vua mới sinh. Những khó khăn không làm các ông nhụt chí và bỏ cuộc, kể cả khi không nhìn thấy ngôi sao dẫn đường. Cuộc tìm kiếm của ba nhà đạo sĩ phần nào phác họa đời sống đức tin của người Kitô hữu chúng ta. Bởi lẽ tin là một cuộc lên đường tìm kiếm liên lỉ, là một chuỗi liên tục những khám phá bất ngờ. Những ai nỗ lực tìm kiếm Chúa sẽ gặp được Ngài. Đức tin trước hết đòi chúng ta phải biết chấp nhận những hy sinh. Các nhà đạo sĩ là những người trí thức uyên thâm. Họ đã chấp nhận rời bỏ quê hương lên đường vì nhận ra thông điệp của ngôi sao lạ. Trong đời sống đức tin, muốn được gặp Chúa, chúng ta cũng phải chấp nhận từ bỏ lối sống không phù hợp với giá trị Tin Mừng. Khi các nhà đạo sĩ không còn nhìn thấy ngôi sao, họ không nản lòng, nhưng kiên trì tìm hiểu để thấy hướng đi cho mình. Mục đích được gặp vị Vua mới sinh đã cho các ông quyết tâm vượt qua mọi khó khăn gian khổ. Các ông nêu gương cho chúng ta về sự kiên nhẫn và hy vọng. Quả thế, trong hành trình tìm kiếm Chúa, có những lúc chúng ta cảm thấy nản chí vì những thử thách gian nan. Sự kiên trì và cậy trông chắc chắn sẽ giúp ta tìm thấy Chúa và gặp gỡ Ngài.

Khi các nhà đạo sĩ cảm thấy đứng trước ngõ cụt của hành trình tìm kiếm vị Vua mới sinh, các ông đã vào Giêrusalem. Ở đây, các chuyên gia đã khảo cứu Kinh Thánh và tìm được lời giải đáp. Nhờ hướng dẫn trong lời ngôn sứ Mika (x. Mk 5,1), các ông tiếp tục lên đường và cuối cùng đạt được điều nguyện ước của mình. Ngày hôm nay, Chúa vẫn đang ngỏ lời với chúng ta trong Kinh Thánh. Nội dung Kinh Thánh là một câu chuyện tình giữa Thiên Chúa và con người. Muốn tìm kiếm Chúa, ta phải chuyên tâm học hỏi và suy niệm Lời Chúa được ghi lại trong Kinh Thánh. Lời Chúa là ánh sáng chỉ đường cho chúng ta trên bước đường đời. Chuyên tâm suy niệm và sống Lời Chúa sẽ giúp ta sống thánh thiện trọn lành.

“Hãy bừng sáng!”. Đây là lời mời gọi ngôn sứ Isaia gửi đến thành thánh Giêrusalem. Đây cũng là lời nhắn nhủ mà Giáo Hội gửi đến các tín hữu nhân dịp lễ Hiển Linh hôm nay. Đức Kitô là Ánh sáng muôn dân. Thiên Chúa đã phán qua lời ngôn sứ Isaia: « Này đây Ta đặt con làm ánh sáng muôn dân, để con đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất » (Is 49,6). Lời này đã được thực hiện nơi Đức Giêsu Kitô. Người là ánh sáng trần gian. Người đến để dẫn dắt nhân loại bước ra khỏi u tối của tội lỗi và của quyền lực sự chết. Nhờ Bí tích Thanh tẩy, mỗi Kitô hữu tiếp nhận ánh sáng của Đức Kitô, để rồi trong cuộc sống thường ngày, họ trở nên ánh sáng, phản ánh sự thánh thiện của Thiên Chúa giữa cuộc đời còn nhiều tăm tối. Trở nên ánh sáng để soi sáng cho bản thân. Trở nên ánh sáng cũng để giúp người khác từ bỏ tội lỗi, nên con người hoàn thiện nhờ thấm nhuần giáo huấn của Chúa Giêsu. Ba nhà đạo sĩ đã nhờ ánh sao soi đường để đến thờ lạy Hài nhi Giêsu, Vua muôn dân. Ơn gọi của người tín hữu là trở nên ngôi sao toả sáng trong cuộc đời. Chúng ta đang sống trong Giáo Hội, tức là sống trong thành thánh Giêrusalem mới. Nếu cá nhân mỗi tín hữu toả sáng, thì Giáo hội của Chúa cũng sẽ toả sáng và làm điểm quy tụ cho muôn dân hướng về.

Thưa anh chị em, như ba nhà đạo sĩ, chúng ta hãy đến thờ lạy Chúa Giêsu, tôn vinh Người là lý tưởng của cuộc đời chúng ta. Nhờ lòng yêu mến và chuyên tâm tuân giữ Lời Chúa Giêsu, chúng ta sẽ trở nên giống như Người. Đó là vinh dự, đồng thời cũng là bổn phận của người Kitô hữu trong bối cảnh cuộc đời hôm nay. mục lục

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

CHỈ CÓ THIỆN TÂM...

Nhà bác học Newton, sau khi làm ra kính viễn vọng, sau khi quan sát vũ trụ và sau khi nhìn thấy mọi huy hoàng rực rỡ vẻ đẹp diệu kỳ của muôn thụ tạo, đã thốt lên: Tôi thấy Thiên Chúa ở đầu kính viễn vọng của tôi.

Ông là một người thông thái. Ông làm khoa học, nhưng khoa học của ông là khoa học của đức tin. Khác một số người, bởi khi nghiêng cứu khoa học, họ chối từ đức tin, chối bỏ Thiên Chúa, Đấng là nguồn cội của mình, của mọi loài thụ tạo.

Câu chuyện của Newton có phần giống câu chuyện của ba nhà đạo sĩ mà Tin Mừng lễ Hiển Linh giới thiệu nhằm giúp chúng ta suy niệm. Thánh Mathêô cho biết, ba nhà Đạo Sĩ lần theo ánh sao lạ trên bầu trời để tìm gặp Chúa. Khi đến thủ đô Giêrusalem, họ dừng lại tại đền vua Hêrôđê vì ngỡ, Thiên Chúa làm người phải sinh ra ở nơi sang trọng, đài các.

Nhưng không, Thiên Chúa làm người mà Hêrôđê sợ Ngài tranh giành ngôi vua của mình, chẳng màn chi đến vinh hoa trần thế, chẳng thèm một chút bã phù phiếm thế gian. 

Hêrôđê, kẻ có quyền trong dân Chúa, kẻ nắm giữ kho tàng mạc khải, kẻ thuộc nằm lòng truyền thống đức tin. Xung quanh ông có quá nhiều những cố vấn. Dù họ sẵn sàng giúp ông thấu hiểu Kinh Thánh và Lề Luật của Thiên Chúa, nhưng lòng ông không hề có Chúa mà chỉ có mọi thứ đam mê trần thế thống trị.

Cả những thượng tế, kinh sư thông hiểu Thánh Kinh, họ giảng giải thật hay cho Hêrôđê, nhưng chỉ là lý thuyết. Họ tìm Đấng Cứu Thế trong sách vở, nhưng không tin Thiên Chúa hiện diện giữa cõi đời.  

Còn các Luật sĩ chỉ thao thức về lề luật. Các Thượng tế chỉ nhạy bén về đền thờ. Tất cả họ cùng chung những điểm giống nhau, đó là: Hiểu biết về luật Chúa, về Kinh Thánh, gìn giữ đền thờ là nơi thờ phượng Thiên Chúa, được dân chúng kính trọng, được hưởng lợi lộc từ tôn giáo… nhưng thật trớ trêu, thật nghịc lý: Tất cả họ đều xa cách Thiên Chúa, giuột mất ơn cứu độ.

Lòng Hêrôđê và cả hoàng triều của ông chỉ đầy thủ đoạn, độc ác, tranh giành, say sưa trong vinh quang trần thế. Đến muôn đời, Hêrôđê không bao giờ gặp được Đấng mà lẽ ra mình phải tôn thờ, phải thần phục. Cả hoàng triều của ông sẽ chẳng bao giờ gặp được Đấng Thiên Chúa làm người, mặc dù Đấng ấy giáng trần sát cạnh hoàng triều của ông.

Còn các Đạo Sĩ, dù thuộc thành phần dân ngoại và rất xa xôi về mặt địa lý cũng như sự hiểu biết mạc khải, lại mặc lấy đức tin trong nghiên cứu khoa học của mình. Họ đã lên đường đi tìm, không chỉ hiện tượng thiên nhiên, nhưng qua hiện tượng thiên nhiên, họ tìm kiếm Đấng Minh Quân của lòng mình và của trần thế. Họ tin tưởng Ngài là Đấng Cứu Chuộc. Lòng thành đã đưa họ đến với Chúa Hài Nhi.

Đối với kẻ kiêu ngạo, tự phụ, ngôi sao chỉ là ngôi sao, nhưng đối với người khôn ngoan, khiêm tốn, đó là một dấu chỉ để nhận ra Thiên Chúa. Dù ngôi sao có sáng, nhưng lòng các đạo sĩ còn sáng hơn ánh sao. Họ đã lên đường, đã vượt qua bao nhiêu gian lao, đã đối mặt bao nhiêu mạo hiểm. Họ đã đến hang Bêlem, đã quỳ trên nệm rơm mà khấu đầu thờ lạy Thiên Chúa làm người trong thân phận mong manh của một hài nhi. 

Ánh sáng của tâm hồn, ánh sáng của lòng tin đã cho họ gặp Chúa. Họ đã chiêm ngắm một trẻ sơ sinh chưa thể hỏi han hay đối đáp điều gì. Nhưng họ tin, đó là Đấng Cứu Chúa của mình. Họ tiến dâng Ngài tặng phẩm và tâm hồn để chứng tỏ sự thần phục của thế gian. Tặng phẩm là vàng, nhũ hương, mộc dược. Vàng, vì Hài Nhi là vua. Nhũ hương, vì Ngài là Tư Tế. Mộc dược, Ngài sẽ chết như mọi người. 

Thời nay cũng thế, đầy dẫy những người học rộng, nghiêng cứu giỏi, hoạt bát, tinh ranh… Thế giới không thiếu gì những triết gia lý luận sắc bén, những người vô thần có quyền to lộng đẹp, những chánh trị gia lãnh nhiều chức tước tha hồ thao túng trong bàn tay sắt, nhiều nhà khoa học tài giỏi, nhiều người thành đạt trong nhung lụa, nhiều người đỗ đạt hết bằng cấp này đến bằng cấp khác… Họ được thế gian coi là xuất chúng, uyên thâm... 

Nhưng họ thuộc nòi giống Hêrôđê. Có mấy ai trong họ đã nhìn thấy ánh sáng từ trời cao chiếu soi cõi lòng người. Có mấy ai trong họ đã nhìn thấy bất cứ một ánh sáng nào của lòng tin, của con đường về hạnh phúc trường cửu... 

Dòng dõi của Hêrôđê kiêu ngạo, cho tới muôn đời vẫn không tìm thấy Thiên Chúa, vẫn sống trong u tối, vẫn là những kẻ ngu dốt dù họ đầy những tri thức thực nghệm…

Mừng lễ Hiển Linh, suy niệm lại việc Chúa tỏ mình cho dân ngoại qua những đại diện là các Đạo Sĩ, chúng ta học lấy bài học khiêm nhường. Xin Chúa ban cho chúng ta một tình yêu nồng nàn, một đức tin đơn sơ, một cõi lòng mềm dẻo sẵn sàng để Chúa uốn nắn thành những con người biết tha thiết đi tìm Chúa qua tất cả mọi thời gian sống, nơi mọi hoàn cảnh, mọi biến cố của đời mình.

Thiên Chúa chỉ là Thiên Chúa của tất cả mọi người đơn sơ, tâm thành, hướng thiện mà thôi. Ba Đạo Sĩ đã cúi mình bước vào hang đá để kính thờ Hài Nhi không ngai vàng, không quyền lực, nghèo đến nỗi phải sinh ra nơi hang lừa, máng cỏ… Các Đạo Sĩ có tình yêu, có lòng sốt mến, có sự chân thành. Họ đã gặp Đấng là Thiên Chúa của lòng họ.

Chỉ có thiện tâm mới có thể gặp Thiên Chúa, Chân Lý trường tồn của đời người...! mục lục

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

THÁNH GIUSE VÀ CHUYẾN THĂM CỦA BA VUA TỚI BÊLEM

“Khi đã đến ngày lễ thanh tẩy của các ngài theo luật Môsê, bà Maria và ông Giuse đem con lên Giêrusalem, để tiến dâng cho Chúa, như đã chép trong Luật Chúa rằng: "Mọi con trai đầu lòng phải được gọi là của thánh, dành cho Chúa"… Khi hai ông bà đã làm xong mọi việc như Luật Chúa truyền, thì trở về nơi cư ngụ là thành Nadarét, miền Galilê” (Lc 2:22-23,39). 

Tuy nhiên, rất có thể, Thánh Gia lại hành trình đến Bêlem với ý định ở lại đó vĩnh viễn. Vì không phải Bêlem thực sự là nơi sinh và quê hương của Chúa Giêsu đó sao? Hơn nữa, Bêlem nằm gần Giêrusalem, một điều kiện có lợi cho Thánh Gia về nhiều mặt. Hơn nữa, khi trở về từ Ai Cập, Thánh Giuse một lần nữa có ý định định cư tại Bêlem.

Thánh Gia có lẽ đã ở Bêlem khoảng một năm thì khá bất ngờ có những người lạ đến Giêrusalem, những bậc Hiền Sĩ từ Phương Đông. Với câu hỏi thẳng thắn: “Đức Vua dân Do thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Ngài xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Ngài” (Mt 2:2), những bậc Hiền Sĩ từ Phương Đông đã đưa Hêrôđê và tất cả thành Giêrusalem vào một cơn “bối rối và xôn xao” (Mt 2:3). Hêrôđê, lão già bạo chúa khát máu, trong pháo đài của Đavít, không tìm thấy giải pháp nào tốt hơn hơn là hỏi Tòa Công luận về nơi sinh của Đấng Mêsia, trong sự kích động gian trá và xảo quyệt của mình. Ông đã truyền đạt câu trả lời cho những Bậc Hiền Sĩ, rằng Bêlem là mục tiêu của cuộc tìm kiếm của họ, và bảo họ đi tìm Chúa Hài đồng: “Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Ngài. Nghe nhà vua nói thế, họ ra đi. Bấy giờ ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông…” (Mt 2:8), vốn là niềm vui sướng chân thành của họ, “lại dẫn đường cho họ” (Mt 2:9), và dưới sự hướng dẫn của ánh sao ấy, các đạo sĩ đã đến được Bêlem.

Đất nước của Những Bậc Hiền Nhân này nằm ở phía đông Giuđê. Họ là những nhà quý tộc, Magi, những người cai trị bộ tộc vốn có thể có được những cuốn sách thánh thiêng. Điều đó đã giúp có mối tương quan mật thiết với trời cao, đến nỗi, khi một vị thần sáng chói lạ thường xuất hiện trên bầu trời, họ sẽ rời nhà của họ ra đi nhằm bày tỏ tấm lòng tôn kính đối với vị Vua và Đấng Mêsia mới sinh. Trên thực tế, ngôi sao đã xuất hiện vào thời điểm Đấng Cứu Độ sinh ra hoặc ít lâu sau đó, và họ coi việc làm theo hướng dẫn do Trời Cao gửi đến là nỗ lực chính trong cuộc đời của họ. Ít nhất, sự xuất hiện của ngôi sao trên máng cỏ của Đấng Cứu Độ khiến chúng ta suy niệm về mục đích sâu xa nhất của họ. Vì vậy, họ đến Bêlem và tìm thấy nơi ở của Trẻ thơ được ngôi sao chỉ ra cho họ, như thể ánh sao đó là một người đầy kinh nghiệm sành sõi chì vẽ cho họ.

Cùng với những người hầu cậnvà những con vật chuyên chở đồ đạc của họ, họ có thể đã đến trú tại một quán trọ của thị trấn, và sau đó gửi người đến Thánh Gia để hỏi xem liệu họ có thể được phép đến thăm Thánh Gia hay không, vì họ đã đến theo sự hướng dẫn của một ngôi sao để tôn thờ Trẻ thơ. Thánh Giuse đã đón tiếp các người hầu cận theo cách ân cần của mình. Và giờ đây chính các vị vua xuất hiện cùng với những người hầu cận của họ, những người đi theo sau mang theo những món quà quý giá mà họ đã lấy ra từ trong những chiếc rương và từ trong những chiếc túi bên yên ngựa; vì ở Phương Đông, có tục lệ là không ai được đến trước mặt một vị hoàng tử với tay không. Mẹ Maria, theo cách đơn giản và thuận tiện của mình, đã chuẩn bị cho cuộc đón tiếp các bậc Hiền Nhân, Mẹ ôm Chúa Hài Đồng trong lòng mình trên vạt áo. Khi nhìn thấy Trẻ thơ thánh, các vị vua đã xếp thành một vòng tròn phủ phục trước mặt Ngài; và với đức tin sâu sắc, với sự tôn kính và sự khiêm cung, cùng với tình yêu và niềm vui sâu thẳm trong trái tim của họ, họ đã tôn thờ Ngài và dâng lên Ngài cả bản thân và mọi thần dân của họ.

Sở hữu một tinh thần cao quý, sáng suốt và cõi lòng thực sự của hoàng tộc vương giả, họ không bị xao xuyến trước sự việc bất bình thường là Giêrusalem không biết gì về Chúa Hài Đồng, hoặc trước nơi cư ngụ đơn sơ và nghèo khó của Chúa Hài Đồng và của cha mẹ của Ngài. Họ không mấy quan tâm đến những biểu hiện bên ngoài và chỉ làm theo những chỉ bảo của trái tim đơn sơ và đức tin của họ như Chúa đã dạy họ. Vì thế, trong tinh thần đó, họ lấy ra những lễ vật mà những người hầu cận đã sắp xếp trong các tráp quý giá đang để trên thảm, và dâng lên Chúa Hài đồng - vàng, nhũ hương và mộc dược. Những món quà vốn mang trong mình sự huyền bí, tượng trưng cho sự sẵn sàng, đức tin, tình yêu và sự tôn thờ của họ, và tiêu biểu cho thần tính, vương quyền và sứ vụ Cứu Thế của Trẻ thơ bé. 

Đấng Cứu Độ thơ bé thần thánh nhìn cảnh tượng trước mặt Ngài một cách hiền từ, biết rõ ý nghĩa của những món quà, và trả lại tất cả cho họ và cho thần dân của họ cùng với mọi ơn phúc tràn đầy, xem họ như những người lính canh tuyến trước và là hoa trái đầu tiên của Dân ngoại. Rất có thể sau đó các đạo sĩ đã ngồi xuống hàn huyên với Mẹ Thiên Chúa và Thánh Giuse. Hai Đấng khoản đãi họ bằng một sự giản dị đáng ngưỡng mộ bằng cách kể cho họ nghe những hoàn cảnh thân tình hơn về việc Đấng Cứu Độ đến như thế nào. Đây là dịp đầu tiên Mẹ Thiên Chúa hướng dẫn thế giới dân ngoại, và Thánh Cả Giuse đã chia sẻ trong bài huấn từ đó. Các đạo sĩ trở thành Kitô hữu và mang Đức tin chân chính về đất nước của họ.

Vì vậy, họ đã rời khỏi Hài Nhi, Mẹ Maria và Thánh Giuse với lòng biết ơn mãnh liệt, sự hài lòng và vui mừng chân thành. Tuy nhiên, họ đã không quay trở lại Giêrusalem. Trong một giấc mơ, họ nhận được lệnh thánh thiêng phải tránh Giêrusalem trên đường trở về nhà, vì Hêrôđê đã quyết tâm hủy diệt Trẻ thơ. Và vì vậy, ngay trong đêm đó, các đạo sĩ cùng với những người tùy tùng hướng về phía nam dọc theo con đường dẫn qua sông Gioócđan. Những gì họ đã thấy, đã học và đã trải qua đáng công khó họ đã bỏ ra. Họ đã hoàn thành nhiệm vụ của cuộc đời mình.

Mẹ Maria và Thánh Giuse vô cùng vui mừng trước chuyến viếng thăm đáng chú ý này của Những Bậc Hiền Nhân. Thánh Giuse rất thích thú và vui mừng trước những người thánh thiện có tính cách rất giống Ngài. Trước hết, Ngài vui mừng vì điều đó sinh ích lợi cho Mẹ Maria và người Con yêu dấu của Ngài. Vinh dự lớn lao đã được tỏ lộ cho các Ngài. Lẽ khôn ngoan của Đông Phương đã đến để tỏ lòng tôn kính đối với trí khôn thần thánh của Trẻ thơ không lời này. Vương quyền của Trẻ thơ có vẻ như yếu đuối này đã tỏ lộ một cách vinh quang biết bao! Ngay vừa sinh ra và bắt đầu trị vì, mặc dù nghèo khó, thì Ngài đã có được vàng bạc, của cải và đã kêu mời được các tôi tớ và những người tôn thờ Ngài từ những vùng đất xa xôi; Trời và đất vâng lời Ngài, và sự giáng trần của Ngài gây kinh hoàng cho những kẻ thù của Ngài.

Sự kiện này là đỉnh núi Tabor trong thời thơ ấu của Chúa Kitô. Chẳng phải Thánh Giuse đã vui mừng ngất ngây và cất tiếng nói theo lời của Thánh Phêrô: “Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều” (Mt 17:4) sao? Hơn nữa, chẳng lẽ không người nào có thể phân biệt được mầu nhiệm ơn gọi này của dân ngoại vốn ám chỉ một cách thức Thánh Giuse được mời gọi làm quan thầy cho các sứ vụ dành cho dân ngoại sao?

Vị trí cao quý mà Thánh Giuse đã nắm giữ trong mầu nhiệm này, mà bản thân mầu nhiệm đó là một dấu chỉ báo trước về sự tôn vinh Ngài trong tương lai của Giáo hội Dân ngoại, được thể hiện một cách tinh tế và thành công nhất trong một bức tranh khảm thế kỷ mười ba tại Nhà thờ Đức Bà ở Paris, trong đó thánh Giuse được mô tả. trong một khu vực riêng dưới mái hiên, đứng tựa trên cây trượng của mình với thái độ chiêm niệm và dường như sẵn sàng đón nhận sự tôn kính thích hợp của riêng mình từ những vị Hiền Sĩ. Một họa sĩ sau này thuộc trường phái ấn tượng, Fra Angelico, đã vẽ chân dung Thánh Giuse thực sự đã tham dự vào cuộc hàn huyên thân tình với một trong những vị vua và có ý định hướng dẫn vị vua này về Đức tin một cách nghiêm cẩn. 

Trong một bức tranh khác của cùng nghệ sĩ tài năng thiên phú đó, Thánh Giuse, hân hoan với sự quí giá của món quà vương giả, được cho thấy đang mở một trong những chiếc tráp chứa món quà đó, mà Ngài có thể dâng cho Hài Nhi Thánh như một biểu hiện của niềm tin tưởng của toàn thế giới dân ngoại đặt cọc trước nơi Đấng Cứu Độ Thơ Bé, vì Thánh Giuse là bổn mạng của họ. mục lục

Lm. Maurice Meschler - https://catholicexchange.com

Phêrô Phạm Văn Trung chuyển ngữ

Cha Maurice Meschler là một tu sĩ Dòng Tên người Đức sống vào thế kỷ XIX và XX. Ngài được biết đến với những bài viết về các thánh và cuộc đời của Chúa Kitô.

LỐI VỀ HÂN HOAN

Cách đây hơn hai ngàn năm, Thiên Chúa đã tỏ mình cho muôn dân qua sự dẫn dắt của một ngôi sao lạ: “Khi Đức Giêsu ra đời tại Bêlem miền Giuđê thời Vua Hêrôđê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giêrusalem và hỏi: Đức Vua dân Do thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người” (Mt 2,1-2). Các nhà chiêm tinh đi tìm Đấng Cứu Thế, nhờ nhìn thấy ngôi sao. Ngày xưa người ta tin rằng: khi một ngôi sao lạ xuất hiện là có một đấng vị vọng ra đời. Vua Alexandre của Hy lạp hay vua Caesar của Rôma sinh ra, ngườt ta cũng nói có sao lạ xuất hiện. Người Hy lạp gọi những người nổi tiếng là sao. Ngày nay cũng vậy, các tài tử nổi tiếng gọi là “minh tinh màn bạc”, các cầu thủ giỏi gọi là “siêu sao”. Trong nghề bói toán, người ta cũng xem “sao chiếu mệnh” để biết vận mạng con người. Người Do thái cũng vậy, nên sách Dân Số có lời sấm của Bilơam: “Một vì sao xuất hiện từ Giacóp, một vương trượng chỗi dậy từ Itraen” (Ds 24,17).

Các nhà chiêm tinh theo ánh sao lên đường. Ngôi sao lạ không đưa họ tới Belem mà đưa tới Giêrusalem.

Giêrusalem được coi là thành thánh, bởi ở đó xưa kia tổ phụ Abraham đã đem con trai Isaác để sát tế cho Thiên Chúa. Chính nơi đây, vua Salomon đã xây dựng đền thờ nguy nga bằng gỗ quý từ Libăng đem về. Vào thời vua Hêrôđê, ngôi đền thờ ấy đã được xây dựng lại, một công trình vĩ đại, phải mất 46 năm mới hoàn tất. Vì là thành thánh và là nơi có đền thờ, nên không lạ gì khi các nhà chiêm tinh đi tìm vua dân Do thái mới sinh lại không dừng chân nơi này.

Tới Giêrusalem, họ hỏi vua Hêrôđê: “Đức vua dân Do thái mới sinh hiện ở đâu?”. Ba nhà chiêm tinh đã đem đến một tin làm chấn động cả dân thành, khiến từ vua chúa quan quyền cho đến bậc thứ dân đều sửng sốt hoang mang. Nhà vua liền triệu tập các học giả vốn được coi là những người đoán biết được mệnh trời.Vua hỏi các thượng tế và kinh sư. Họ trả lời : “Tại Bêlem, miền Giuđê”. Nhưng thật đáng ngạc nhiên, nhà vua cùng các bậc học giả uyên thâm đó, chẳng một ai nghĩ là chính mình cần phải đi tìm vị tân vương. Họ chỉ hướng cho ba nhà chiêm tinh đi Bêlem.

Các nhà chiêm tinh Đông phương lại nhìn thấy ngôi sao xuất hiện và lên đường theo ánh sao. Họ đã tìm ra Hài Nhi mới sinh nằm trong máng cỏ hang lừa. Đó chính là vị Cứu tinh mà Israel từ lâu mong đợi. Vị Cứu tinh chào đời tại Bêlem như lời Ngôn sứ Mikha đã loan báo “Phần ngươi, hỡi Bêlem Epratha, ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giuđa, từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị lãnh tụ chăn dắt dân Israel” (Mk 5,1). Các nhà chiêm tinh vui mừng tôn kính dâng lễ vật bái thờ Người.

Ngôi sao xuất hiện ở phương Đông được ông Bilơam tiên báo: “Một Vì Sao xuất hiện từ Giacóp, một vương trượng trỗi dậy từ Israel” (Ds 24,17). Các nhà chiêm tinh đến từ vùng đất phương Đông, quê hương của Bilơam. Ngôi sao họ nhìn thấy vốn là dấu hiệu chỉ vương quyền. Ngôi sao nhắc lại lời sấm chúc phúc của Bilơam thuở xưa nói về triều đại Đavít và về chính Đấng Mêsia. Một ngôi sao lạ ở phương Đông xuất hiện trên bầu trời đầy sao.Các nhà chiêm tinh nhận ra ngôi sao lạ. Họ tin rằng có một vị vua mới sinh ra ở đất Do thái. Họ lập tức khởi hành, lên đường tìm kiếm. Con đường đi của họ dẫn qua sa mạc, bụi bặm, nóng bức và giá lạnh. Ðó là một con đường đầy chông gai khó khăn, vất vả và nguy hiểm.

Họ ra đi “Bấy giờ ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở mới dừng lại”. Họ mừng rỡ vô cùng. Họ gặp Hài Nhi, liền sấp mình bái lạy, với lòng thành họ dâng tiến lễ vật vàng, nhũ hương và mộc dược.

Câu chuyện Phúc âm tuyệt đẹp. Ba nhà chiêm tinh đi tìm Đấng Cứu Thế theo ánh sao lạ. Nếu Thiên Chúa đã dùng cột mây lửa để dẫn dân Do thái đi trong hoang địa về Đất hứa thì Người cũng có thể dùng ngôi sao lạ để dẫn đường cho các nhà chiêm tinh đến Bêlem để gặp Đấng Cứu Tinh. Nhưng sự thật vô cùng trớ trêu là khi vị Cứu tinh xuất hiện sau bao thế kỷ chờ đợi thì dân Do thái lại thờ ơ lãnh đạm. Các thượng tế, các kinh sư có thái độ dửng dưng thụ động. Họ rành rẽ Kinh Thánh và biết rõ nơi sinh của Đấng Cứu Thế nhưng họ chẳng cất bước đến Bêlem. Còn Hêrôđê thì hốt hoảng bối rối, sợ ngai vàng bị lung lay nên tìm cách loại trừ với mưu mô cạm bẫy.

Tấn bi kịch cuộc đời Hài Nhi bắt đầu, bị người đồng hương từ khước, bị tẩy chay, bị giết chết. Chỉ có các nhà chiêm tinh hăng hái lên đường lao vào cuộc phiêu lưu tìm kiếm. Họ đã làm tất cả miễn sao gặp được Đấng Cứu Tinh. Cho dù Đấng ấy chẳng uy nghi ngự trong lâu đài điện ngọc nhưng họ vẫn vui mừng đón nhận, xin được bái kiến và dâng lễ vật quý giá với cả tấm lòng thành.

Phụng vụ đọc câu chuyện tuyệt đẹp này trong ngày Lễ Hiển Linh “Thiên Chúa tỏ mình ra cho dân ngoại”. Các nhà chiêm tinh là dân ngoại, họ đại diện cho mọi dân tộc, họ khao khát tìm kiếm ơn cứu độ. Sau này Chúa Giêsu đã xác định: “từ phương đông phương tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng tổ phụ Abraham, Isaac, Giacop trong Nước Trời” (Mt 8,11). Các thượng tế và các kinh sư thông hiểu Thánh Kinh, họ giảng giải thật hay cho Hêrôđê, nhưng chỉ là lý thuyết. Họ tìm Đấng Cứu Thế trong sách vở nhưng không nhận ra Người trong thực tế vì Người không phù hợp với những quan điểm cố định của họ. Những người chuyên nghiên cứu sách vở đầy sự uyên bác thông thái, nếu không lên đường, không thao thức tìm kiếm thì chẳng bao giờ gặp được Thiên Chúa.Trái lại, những tâm hồn đơn sơ, khó nghèo như các mục đồng, hay cởi mở và khao khát chân lý như các nhà chiêm tinh lại được diễm phúc gặp gỡ Người vì họ đã dám mạo hiểm lên đường tìm kiếm, bước đi theo các dấu chỉ.

Thiên Chúa vẫn luôn tỏ mình ra cho nhân loại qua những dấu chỉ tự nhiên của trời đất, qua từng biến cố lịch sử, qua Lời Người trong Thánh Kinh, qua sự hiện diện của Dân Chúa là Giáo Hội, qua các Bí tích. Muốn gặp được Thiên Chúa, nhất thiết phải nổ lực tìm kiếm. Cho dầu có những thử thách, cam go, những hiểm nguy cạm bẫy, vẫn luôn kiên trì trong đức tin, bền đổ trong lòng mến.

Hôm nay, không có ngôi sao Đông phương nào xuất hiện trên bầu trời để soi đường cho chúng ta đi tìm Chúa. Chúng ta có một ánh sáng khác rực rỡ hơn giúp tìm gặp Người. Đó là ánh sáng của Lời Chúa: “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi”. Bước đi trong ánh sáng Lời Chúa, chúng ta sẽ trở nên ngôi sao dẫn đường cho nhiều người tìm đến Thiên Chúa. Thánh Phaolô mời gọi : “Anh em hãy chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời”(Pl 2,15).Tại sao các Kitô hữu được gọi là các vì sao ? Thánh Gioan giải thích : “Thiên Chúa chưa ai thấy bao giờ. Nếu chúng ta yêu thương nhau thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta”(1Ga 4,12). Nói cách khác, Thiên Chúa của chúng ta là một vị “Thiên Chúa ẩn mình”, nhưng Người muốn tỏ mình ra cho người ta thấy qua cách sống yêu thương của chúng ta. Nói cách khác nữa, khi chúng ta yêu thương nhau thì Thiên Chúa ở trong chúng ta, bởi vì “Thiên Chúa là tình yêu”(1Ga 4,18). Cho nên cách sống yêu thương của người Kitô hữu làm cho người ta nhìn thấy và nhận biết được Thiên Chúa tình yêu. Chính vì thế mà thánh Phaolô đã so sánh thế gian như vòm trời tăm tối, và khuyến khích các Kitô hữu hãy sống yêu thương để có thể thành những vì sao chiếu sáng trên vòm trời ấy.

Thời nay, Mẹ thánh Têrêxa Calcutta với tấm lòng yêu thương bao lao là một vì sao chiếu sáng trên vòm trời. Chúa muốn chúng ta là ánh sáng chiếu tỏa cho mọi người chung quanh: “Các con là ánh sáng cho trần gian” (Mt 5,14). Kitô hữu trở nên ánh sao tình yêu, ánh sao tha thứ, ánh sao hy vọng, ánh sao công bình, ánh sao bác ái, ánh sao đạo đức, góp phần dẫn đường cho người khác đến với Chúa. Ngôi sao Đông phương dẫn các nhà chiêm tinh đến gặp Chúa Hài Nhi rồi tiến dâng lễ vật. Chúng ta nhờ ánh sáng Lời Chúa soi dẫn trên hành trình cuộc đời. Lời Chúa là ánh sao chiếu soi tâm hồn giúp chúng ta sáng lên niềm tin. “Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa” (Lc,11,28), Chúa Giêsu chỉ cho thấy sự cao cả đích thực của Đức Maria, như thế mở ra cho mỗi người chúng ta khả năng sống mối phúc phát sinh từ Lời được lắng nghe và đem ra thực hành. (x.Verbum Domini, số 124).

Tin Mừng hôm nay kết thúc bằng ghi nhận, các nhà chiêm tinh trở về bằng một lối đi hân hoan: “Sau đó, họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình”. Khi đã được gặp gỡ Thiên Chúa, con người phải có một quyết định thay đổi đời sống. Họ không thể sống theo con đường cũ, mà phải đi một con đường khác: con đường của niềm tin, con đường của ánh sáng. Một khi đã gặp được Thiên Chúa, con người sẽ được biến đổi. Khi đã có Chúa, các nhà chiêm tinh không đi theo con đường tăm tối trước đây nữa, nhưng đi theo một lối đi mới. Con đường này sẽ đưa các ông bước vào một hành trình mới đó là hành trình sống và loan báo cho mọi người về những gì các ông đã thấy, về đức tin các ông đã lãnh nhận, về niềm vui và hy vọng mà các ông đang được hưởng.

Khi gặp được Chúa rồi, các nhà chiêm tinh đã được biến đổi trong đời sống nên các ông lên đường trở về theo lối khác. Cuộc gặp gỡ Hài Nhi, gặp gỡ Thiên Chúa đã đem lại cho các ông một cuộc đời mới. Đời họ đã chuyển sang một hướng khác. Họ không đi về hướng cũ có sự truy lùng của Hêrôđê. Họ đã không về với con đường đầy hận thù, chia rẽ, quyền lực, danh vọng...Nhưng họ đi về với một con đường khác.Con đường có sự hiện diện của Thiên Chúa, con đường của niềm vui và bình an sâu thẳm trong tâm hồn. Một lối về hân hoan.

Thiên Chúa vẫn tiếp tục tỏ mình cho thế giới qua các dấu chỉ tự nhiên của trời đất, của lịch sử, qua Thánh kinh, qua Giáo hội, qua các Bí tích, qua cuộc sống hàng ngày. Ðể gặp Ngài, chúng ta cần có Lời Chúa soi dẫn và Đức Tin nâng đỡ. Nhờ sự gặp gỡ này, mỗi người sẽ trở nên ánh sao dẫn đường cho nhiều người nhận biết và yêu mến Chúa để đi vào đường lối Tin Mừng. mục lục

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

LỄ BA VUA HAY LỄ HIỂN LINH

Lễ BA VUA là tên gọi cũ. Hiện nay gọi là LỄ HIỂN LINH, tức lễ kỷ niệm ba nhà đạo sĩ đến thờ lạy Chúa Hài Đồng Giêsu, cũng được hiểu là lễ Chúa Tỏ Mình Cho Dân Ngoại. Chúa tỏ mình cho dân ngoại thế nào? Làm sao để nhận ra Chúa?

CHÚA SINH RA THEO CỰU ƯỚC 

Nghe các bài đọc về phụng vụ trong lễ Ba Vua ai cũng cảm động vì cảnh tráng lệ huy hoàng nơi thị thành, ánh sáng chan hòa chiếu tỏa khắp phố phường, muôn nhà muôn nơi như tiên tri Isaiah mô tả. “Hỡi Jerusalem, hãy vùng dậy trong huy hoàng. Ánh sáng của ngươi đã đến, vinh quang Thiên Chúa chiếu rọi trên ngươi. Hãy trông kìa, bóng tối bao phủ tràn lan mặt đất, mây mù bao phủ muôn dân. Nhưng Thiên Chúa chiếu sáng trên ngươi và trên ngươi là vinh quang Thiên Chúa…” (Is 60:1-6). Các dân ngoại từ những phương trời xa xôi đã đến nhờ ánh sáng chiếu toả trên thành Jerusalem hướng dẫn. Họ mang theo tặng vật cùng với con trai con gái của Thị Trấn Thánh! Mặc dù bóng tối bao phủ muôn dân, nhưng vinh quang Thiên Chúa đã bừng sáng chiếu tỏa như ánh bình minh ban mai. Làm sao chúng ta có thể diễn tả đầy đủ và đúng mức nỗi vui mừng hân hoan của chúng ta khi đón chào Thiên Chúa Ra Đời!

CHÚA GIÁNG SINH THEO TÂN ƯỚC 

Câu chuyện Tin Mừng thánh Mátthêu kể về Ba Vua được sao trời dẫn đường đến thờ lạy Chúa Hài Đồng (Mt 2:1-12) chúng ta phải nghĩ đến một cuộc phấn đấu căm go đang lấp ló khi mà Thiên Chúa tỏ mình cho muôn dân qua Chúa Kitô. Đọc câu chuyện thật cẩn thận và để ý một chút, chúng ta sẽ thấy câu chuyện không đơn thuần chỉ nói về một hài nhi, mà là câu chuyện khá bi thảm của một người lớn. Chiến trận đã đề ra và quân đội đã sẵn sàng. Một hài nhi vô tội vừa chào đời thì đồng thời cũng phải đối đầu với chết chóc do quyền lực thế gian. Chúa Giêsu đã là mối đe dọa đối với Hêrôđê và mọi thế quyền. Một đàng là ngai vàng của một ông vua trần thế, một đàng là vương quyền tôn giáo của nhiều người..….

CUỘC HÀNH TRÌNH CỦA BA VUA ĐI TÌM CHÚA 

Tại quê hương xa vời, ở những miền đất xa lạ, ba nhà đạo sĩ có thể bình thản sống hưởng thụ cảnh vua chúa quan quyền một cách thoải mái, nhưng họ băn khoăn cảm thấy bồn chồn trong lòng như thiếu thốn một cái gì. Thế là họ bằng mọi cách chấp nhận mọi khó khăn hiểm nguy lên đường làm cuộc hành trình viễn xứ để tìm cho ra chân lý sự sống. Môt viễn tượng đầy hứa hẹn. Ba nhà đạo sĩ đã làm một cuộc hành trình dài, phải đối diện với biết bao nghịch cảnh trên đường tìm kiếm lý tưởng. Khác với những kẻ chăn chiên nghèo hèn ở ngay tại chỗ. Nhưng chúng cũng gặp những nghịch cảnh, những phương tiện giúp chúng chuẩn bị tâm hồn đón nhận sứ điệp của các thiên thần. Chúng đã phải vượt qua mọi sợ hãi tiến bước về Bethlehem để gặp Chúa Hài Đồng.

Đối với ba vua, cuộc hành trình đi về Bethlehem khó khăn hơn nhiều vì đường xá xa xôi hiểm trở. Không phải là một cuộc hành hương du lịch vui chơi, có tính lãng mạng mà chúng ta thường thấy nơi quang cảnh hang đá máng cỏ ngày nay. Ba vua không là những người mộng tưởng hay những nhân vật, biểu tượng bất thường về tôn giáo. Các ngài là những người thực tâm quyết định hy sinh cả tiền bạc, thời giờ, nghị lực và, có thể cả mạng sống mình để tìm cho ra được chân lý, người có thể đem lại hòa bình đích thực.

CỰU ƯỚC, JERUSALEM LÀ DẤU CHỈ DÂN NGOẠI NHẬN BIẾT CHÚA 

Ba vua đã không bị lạc trên đường tới Jerusalem. Thị trấn hoa lệ này cũng không làm cho cuộc hành trình của các ông bị ngưng trệ. Nhưng, từ Jerusalem, có sao trời hướng dẫn, họ đã đổi hướng đi Bethlehem. Những nhân vật này từ phương Đông, là những người ngoại quốc, họ được hướng dẫn không phải do sự khôn ngoan và hiểu biết về thiên văn nhờ các vì sao, mà còn được chỉ bảo bởi Cựu Ước. Ý nghĩa của cựu ước rất quan trọng. Chúa Kitô đã kêu gọi muôn dân của mọi quốc gia, dân ngoại cũng như Do Thái là phải theo Người. Có thể nói rằng Jerusalem và Cựu Ước chính là điểm mốc khởi hành đối với dân ngoại trên đường hành hương đi tìm Niềm Tin vào chúa Giêsu Kitô. Dân chúng trong thị trấn vĩ đại này, ngay cả chính vua Hêrôđê cũng đã là dụng cụ chỉ đường cho ba nhà đạo sĩ tìm đến với Chúa Kitô.

ĐIỂM KHỞI HÀNH CỦA CHÚNG TA ĐI TÌM CHÚA 

Việc này có ý nghĩa gì đối với cuộc hành hương đi tìm sự thật, Chúa Giêsu Kitô của chúng ta ngày nay? Dĩ nhiên Cựu Ước phải là trung tâm điểm của cuộc hành trình của chúng ta. Phải chăng những thị trấn của chính chúng ta, tâm hồn chúng ta với những hỗn loạn và nghi hoặc, lại không được dùng làm điểm khởi hành đi tìm niềm tin của chúng ta hay sao? 

Trung tâm điểm của toàn thể câu chuyện Tin Mừng với những tương phản ở ngay chính Hài Nhi Giêsu ở Bethlehem. Đó là Niềm Vui. Hêrôđê e ngại, sợ dân chúng “quá vui”. Anh em đừng sợ, tôi báo tin mừng trọng đại cho anh em, cũng là tin mừng cho muôn dân. (Lc 2:10). Theo Tin Mừng thánh Mátthêu thì chúng ta không biết cái gì đã xẩy ra cho ba vua khi họ trở về xứ sở họ, có thể chắc chắn rằng họ đã thay đổi đường đi. Họ thay đổi tâm hồn, vì họ đã khám phá ra Sự Thật. Họ thấy ở Jerusalem và Bethlehem không có một Chúa cho riêng nước này hay nước nọ, cũng không có một tiên tri mới, nhưng là một Thiên Chúa, đấng Cứu Chuộc nhân loại đã hiện hình làm người bằng xương bằng thịt. Đấng Cứu Thế, Niềm Vui của nhân loại. 

Cuối cùng, ba vua đã đi theo con đường riêng của mình trở về nước, bởi vì họ không còn bị mê hoặc hồ nghi nữa. Họ cảm thấy ngỡ ngàng vì nỗi vui mừng quá lớn, và ngôi sao dẫn đường cho họ lại hiện ra tiếp tục dẫn lối cho họ đi. Đây không phải chỉ là dấu hiệu của thời đại Chúa Giêsu sinh ra, mà còn là dấu chỉ của thời đại ngày nay cho chúng ta. Khi chúng ta tìm được niềm vui lâu bền giữa vòng tròn quanh quẩn với những buồn rầu, nghi hoặc, thất vọng, dửng dưng và vô nghĩa…thì cách duy nhất phải làm là chúng ta quỳ gối và tôn thờ Chúa Kitô.

Lạy Ba Vua (Gaspar, Melchior và Balthasar), xin hãy chúc bình an và ban lòng khiêm tốn tràn đầy tâm hồn chúng tôi, gia đình chúng tôi! Khi chúng tôi nghe thấy tiếng gọi của tử thần, của sợ hãi và nghi hoặc, chớ gì chúng tôi có được can đảm tiếp tục đi theo con đường của chúng tôi….và vui mừng, bởi vì chúng tôi đã thấy và đã kinh qua sự huy hoàng cao cả của Thiên Chúa.

ĐÔI LỜI KẾT 

Để kết thúc, xin muợn lời Thánh nữ Têrêsa Bênêđícta Thánh giá làm lời suy niệm về mầu nhiệm Chúa Giáng Sinh:

“Quì gối chung quanh hang đá là hình ảnh của Ánh Sáng: Những đứa trẻ đơn sơ dịu dàng, những mục đồng đầy tin tưởng, những ông vua khiêm cung, Stephen, môn đệ nhiệt tình, và Gioan, môn đệ của tình yêu, tất cả những người đã nghe theo tiếng gọi của Chúa. Họ là kẻ thù của đêm tối cố chấp và mù quáng: các thánh sử là những người thực sự biết đấng Cứu Chuộc nhân loại sinh ra ở đâu và lúc nào, nhưng các ngài sẽ không đưa ra kết luận là: ‘Chúng ta hãy về Bethlehem,’ Vua Herod là người muốn giết Chúa. Con đường tỏa đi từ Chúa Hài Đồng nơi máng cỏ…..” 

Có người chọn con đường đi đến Sự Sống, có người chọn con đường đi đến Sự Chết. Ngày nay khi chúng ta rời xa máng cỏ Chúa Hài Đồng là Vua, xin hãy hy sinh hiến mình cho lý tưởng của cuộc sống là trung tâm điểm của niềm vui Giáng Sinh. Nhất quyết đi theo con đường LÝ TƯỞNG, con đường của NIỀM TIN vào Chúa Kitô đã sinh ra làm người và chịu chết trên thập giá, không để cho thế quyền lung lạc chạy theo thế quyền và bả vinh hoa bội phản Chúa. mục lục

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

HÀNH TRANG TRÊN HÀNH TRÌNH TÌM CHÚA: SỰ ĐƠN SƠ!

Đọc bài Phúc Âm của Chúa Nhật Lễ Hiển Linh xong, tôi cứ thắc mắc là tại sao những nhà chiêm tinh, những khoa học gia, những nhà thiên văn học người Do Thái ở gần ngay Bethlehem lại không khám phá ra sự xuất hiện của ngôi sao lạ, mà chỉ có ba nhà chiêm tinh ở tận bên Phương Đông thấy mà thôi?

Có phải những nhà chiêm tinh ở Phương Đông thông minh, nhạy bén và tinh mắt hơn những chiêm tinh gia và những nhà thiên văn học người Do Thái chăng? Tôi không nghĩ như vậy!

Thế nhưng sau khi đọc qua đoạn Kinh Thánh của thánh Mátthêu kể về cuộc hành trình của ba nhà chiêm tinh tới Bethlehem thì tôi mới khám phá ra một lý do khiến Thiên Chúa chỉ tỏ mình ra cho ba nhà chiêm tinh ngoại giáo tận bên phương Đông: Đó là sự ĐƠN SƠ của các ngài. Thánh sử Mát-thêu chỉ ra ba điểm đơn sơ của các ngài!

• Khi thấy ánh sao chỉ đường biến mất, thì họ đã đi vào hoàng cung để hỏi vua Hê-rô-đê đang trị vì rằng:“Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu?” (Mt 2:2). Hỏi như vậy thì có khác nào nói với Hê-rô-đê rằng Hài Nhi kia mới là vua đích thực của dân Do Thái, còn ông là vua...giả mạo!

• Khi nghe vua Hê-rô-đê dặn dò “Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người" (Mt 2:8), thì ba vị chiêm tinh gia lập tức tin vào lời của nhà vua. Nếu thiên thần không báo mộng rằng“tìm lối khác mà về xứ của mình” (Mt 2:12) thì ba ông chiêm tinh này chắc chắn sẽ quay về báo cho nhà vua biết nơi Hài Nhi Giê-su đang ở.Chưa hết, khi họ đến gặp Hài Nhi nằm trong máng cỏ, họ không thắc mắc, cũng chẳng đặt vấn đề tại sao vua dân Do Thái lại ở một nơi lạnh lẽo và nghèo hèn như vậy? Nhưng đã “sấp mình thờ lạy Người… mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến [Hài Nhi]” (Mt 2:11).

Bạn thân mến, rõ ràng là Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho ba nhà chiêm tinh, là vì họ là những người rất đơn sơ. Chính Chúa Giê-su cũng đã khẳng định, chỉ những ai có tấm lòng đơn sơ, hiền hậu và khiêm hạ thì mới được Ngài mạc khải cho biết những màu nhiệm nước Trời mà thôi! “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn” (Lc 10:21). Khi bạn và tôi sống đơn sơ, thành tâm và trung tín trong việc đi tìm Chúa thì chắc chắn Ngài sẽ tỏ mình ra cho tôi và bạn thấy rõ sự hiện diện của Ngài trong từng biến cố vui buồn của cuộc đời.

Thế nhưng, thú thật với bạn, sống một đời sống đơn sơ giữa một thế giới đầy dẫy những phức tạp và đảo điên này thì không phải là chuyện dễ dàng! Người ta sẽ cười nhạo, chê bai chúng mình là khờ khạo, khinh thường và nhìn chúng mình bằng những ánh mắt không mấy thân thiện.

Thế nhưng xin bạn đừng quên, những người sống đơn sơ và khiêm nhu là những người hạnh phúc, họ sẽ gặp nhiều sự lành lắm. Thật đấy! Người có tâm hồn đơn sơ thì...

• Ít có kẻ thù. Bạn cứ nghĩ mà xem, ai mà lại chấp nhất mấy người sống đơn sơ và bị coi là khờ khờ chứ?

• Sống trong an vui và hạnh phúc bởi vì người có tâm hồn đơn sơ không phải mệt óc lo cho những chuyện trả thù, trả đũa và chẳng để bụng giận dỗi ai cả, hễ nằm xuống là...ngủ.

• Được Thiên Chúa yêu thương và ban cho khả năng nhận ra sự hiện diện của Ngài trong những biến cố vui buồn, trong những thăng trầm khổ ải và cả trong những biến đổi đau thương của cuộc sống.

Xin hãy cố gắng sống thật đơn sơ, càng đơn sơ bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu:

• Đừng thêm đừng bớt, đừng bịa đặt thêm mắm thêm muối, đừng cho thiên hạ ăn bánh vẽ với thịt lừa nhưng “hễ có thì phải nói có, không thì phải nói không” (Mt 5:37).

• Đừng khoe khoang, đừng vênh váo trong những lúc thành công, khi được người khác khen ngợi, tán tụng... nhưng hãy thưa với Chúa một cách thật đơn sơ: “Lạy Chúa, con chỉ là đầy tớ vô duyên, chỉ làm việc bổn phận của con mà thôi!” (Lc 17:10).

• Khi phạm lỗi, khi làm sai, xin hãy chân thành nói: “XIN LỖI.” Khi phạm tội, hãy chạy ngay đến với Chúa qua bí tích Giải Tội và thưa với Ngài: "Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha” (Lc 15:18).

Cầu chúc bạn thành công trong việc tập luyện sống một đời sống đơn sơ. Nếu chúng mình cậy trông vào ơn Chúa và cố gắng luyện tập thì chắc chắn sự đơn sơ sẽ ở với chúng mình bởi vì con người do Thiên Chúa làm nên, vốn rất đơn sơ và ngay thẳng (GV 7:29). Xin Chúa chúc lành và ban cho bạn niềm vui, sự hạnh phúc trong tuần lễ của năm mới 2022 này. mục lục

Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

KHOẢNG XA KHOẢNG GẦN

Sao Thiêng Dẫn Đường Tới Hang Đá
Đạo Sĩ Theo Hướng Tìm Thánh Nhi.

Khoảng cách xa hay gần là một khái niệm, không nhất thiết giống nhau – dù nghĩa đen hay nghĩa bóng. Về không gian, chỉ vài km có khi người ta lại cảm thấy xa hơn cả ngàn km. Cụ thể như giữa năm 2021, khi dịch bệnh lên tới đỉnh cao, cả hàng chục ngàn người phải tháo chạy khỏi Saigon mà người ta không hề ngần ngại, mặc dù đường đi cách trở – có người đi trăm km, có người đi cả ngàn km; có người phải lội bộ, có người đi xe đạp hoặc chiếc xe máy “cùi” mà thôi.

Thấy mà ngán ngẩm, nhưng với họ cũng chỉ là “chuyện nhỏ.” Cái khó ló cái khôn. Khi xác định vấn đề và quyết tâm, người ta không e ngại hoặc lo sợ gì nữa, nhất là khi bản năng sinh tồn thức dậy. Khi muốn thì người ta tìm ra phương tiện, khi không muốn thì người ta tìm ra đủ lý do để thoái thác và biện hộ.

Điều đó đã được chứng minh. Ngày xưa, có những con người khôn ngoan thông thái đã thực sự quyết tâm khi nhận ra một ánh sao rất lạ lùng. Chúng ta quen gọi họ là ba vua, nhưng thật ra không chỉ có ba người mà nhiều người, họ không phải là những quốc vương mà là các đạo sĩ, chiêm tinh gia, người khôn ngoan,… ở các nơi khác nhau từ Đông phương xa xôi. Họ đã phát hiện và theo dấu Ánh Sao Lạ đến diện kiến Vương Nhi Giêsu cùng với Song Thân của Ngài tại hang đá Belem đơn nghèo.

Họ đã làm những gì cần làm: quên mình và tiến dâng những gì quý giá nhất. Người ta thông tuệ nhờ tìm hiểu và học hỏi để biết những gì cần thiết, không cần biết những gì không cần thiết. Khôn và dại đôi khi bị hiểu lẫn lộn. Triết gia La Rochefoucauld nói: “Có ba thứ ngu dốt: không biết điều phải biết, biết không rõ ràng điều đáng biết, và biết điều không nên biết.”

Hiểu và biết “gần” nhau mà khác nhau. Hiểu nhưng có thực hiện hay không, đó mới thực sự là vấn đề. Tốt hay xấu là nguyên do bởi chính mình. Dựa vào Phúc Âm thứ nhất – Tin Mừng theo Thánh sử Mátthêu, và các nghiên cứu về lịch sử tôn giáo, có các chi tiết và các điểm khác biệt từ câu chuyện về các đạo sĩ. Có 4 điểm chính cần biết để hiểu: [1] Họ là người Ba Tư đến từ vùng đất bán thần thoại Shir – liên quan Trung quốc cổ đại. [2] Không chỉ ba mà cả chục đạo sĩ đến viếng thăm Hài Nhi Giêsu. [3] Ba đạo sĩ được mô tả là hậu duệ của Seth, con trai thứ ba của Ông Tổ Adam. Theo quy ước, người ta đồng ý gọi tên họ là Balthasar, Gaspar và Melchior. [4] Họ thuộc một giáo phái có niềm tin vào việc cầu nguyện thầm lặng nên đã chờ đợi rất lâu để có thể nhận thấy Ngôi Sao Lạ xuất hiện, và họ tin đó là dấu hiệu báo về một vị Thiên Tử.

Lịch sử là lịch sử. Sự thật là sự thật. Vấn đề quan trọng là TIN NHẬN Hài Nhi là Thiên Chúa, là Chúa Tể càn khôn, một trẻ sơ sinh nhưng là Đấng tạo dựng muôn loài và chính mình – dù chúng ta đã già nua rồi. Như Gioan Tẩy Giả xác định: “Người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi.” (Ga 1:15 và 30)

I. ĐẾN NƠI CẦN ĐẾN

Thiên Chúa đã hứa ban Ngôi Con từ ngàn xưa, và giờ đây Ngôi Hai xuất hiện. Lời hứa ứng nghiệm tỏ tường. Là tội nhân, nhưng chúng ta được Đức Giêsu tháo gỡ gông cùm tội lỗi và phục hồi cương vị là con cái Chúa. Ngôn sứ Isaia kêu gọi: “Đứng lên, bừng sáng lên! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi. Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa trên ngươi. Kìa bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân; còn trên ngươi, Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa, vinh quang Người xuất hiện trên ngươi.” (Is 60:1-2) Thế thì thật hạnh phúc – đối với cả nhân loại và riêng từng người. Niềm vui khôn tả!

Không chỉ vậy, tội nhân chúng ta còn được Ngài quan tâm đặc biệt: “Con trai từ phương xa tới, con gái được ẵm bên hông.” (Is 60:4) Hài Nhi sinh ra nơi hang chiên lừa hôi tanh trong đêm tối ở cánh đồng hoang vu Belem kia lại chính là Vương Nhi, là Thái Tử của Thiên Hoàng, là Đấng Cứu Thế. Ngài đến để giao hòa đất trời, đồng thời cũng để “xét xử dân Ngài theo công lý, và bênh vực quyền lợi kẻ nghèo hèn.” (Tv 72:6)

Các vua chúa trần gian được tiền hô hậu ủng, nhưng Thiên Vương Giêsu lại ĐẾN ĐỂ PHỤC VỤ chứ không được phục vụ. Ngài đến KÊU GỌI tội nhân sám hối ăn năn, (Lc 5:32) TÌM và CỨU những gì đã mất, (Lc 19:9) và BAN SỰ SỐNG dồi dào cho mọi người. (Ga 10:10) Nhân loại không thể hiểu cách Ngài thực hiện nhưng đó là sự thật minh nhiên, vả lại tư tưởng của Thiên Chúa không phải là tư tưởng của phàm nhân, đường lối của chúng ta không phải là đường lối của Ngài. (Is 55:8)

Chính Hài Nhi bé nhỏ nơi máng cỏ kia là Tạo Hóa, triều đại Ngài rực rỡ những đóa công lý và thái bình thịnh trị vĩnh viễn, (Tv 72:7) mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng, muôn dân nước phụng sự Ngài. (Tv 72:11) Ngài toàn năng nhưng rất nhân từ, luôn theo sát đồng bào, tận tụy với đám dân nghèo, công lý và sự thật được bảo vệ tới cùng, để “giải thoát bần dân kêu khổ và kẻ khốn cùng không chỗ tựa nương, chạnh lòng thương ai bé nhỏ khó nghèo. Mạng sống dân nghèo, Ngài ra tay tế độ.” (Tv 72:12-13) Ngài là Vua các vua, là Chúa các chúa.

Các hiền triết nhận biết có một “dị nhân” vừa xuất hiện, họ không quản ngại đường xa, mau mắn và quyết tâm lên đường tìm kiếm. Chính ánh sao đã dẫn đường và dừng lại trên một hang chiên lừa xơ xác. Không ai có thể ngờ được, nhưng họ đã tin thật đó là Đấng họ muốn tìm kiếm.

Chúng ta thật may mắn, không phải đoán già đoán non vì đã được biết đó là mầu nhiệm. Thánh Phaolô cho biết: “Về kế hoạch ân sủng mà Thiên Chúa đã uỷ thác cho tôi, liên quan đến anh em. Người đã mặc khải để tôi được biết mầu nhiệm Đức Kitô.” (Ep 3:2-3) Thật đặc biệt, vì “Thiên Chúa đã không cho những người thuộc các thế hệ trước được biết mầu nhiệm này, nhưng nay Người đã dùng Thần Khí mà mặc khải cho các thánh tông đồ và ngôn sứ của Người.” (Ep 3:5) Và mầu nhiệm đó là: trong Đức Kitô Giêsu và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa. (Ep 3:5-6) Một lần nữa, chúng ta lại thật may mắn và hạnh phúc vì được thừa kế gia nghiệp của Thiên Chúa, nên một thân thể và cùng chia sẻ với Ngài.

Khắp nơi ánh sáng tỏa lan Ánh Sáng Ngôi Lời. Ngôn sứ Isaia hân hoan mời gọi: “Đứng lên, bừng sáng lên! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi. Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu toả trên ngươi. Kìa bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân; còn trên ngươi Đức Chúa như bình minh chiếu toả, vinh quang Người xuất hiện trên ngươi.” (Is 60:1-2) Ánh bình minh xua tan bóng đêm đen, ánh sáng tiêu diệt bóng tối. Điều đó chỉ có thể là ánh sáng vĩnh cửu, ánh sáng đến từ Thiên Chúa.

II. LÀM VIỆC PHẢI LÀM

Thời đó là lúc vua Hêrôđê trị vì miền Giuđê. Các đạo sĩ đến Giêrusalem và hỏi: “Đức Vua dân Do Thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người.” (Mt 2:1-2) Nghe vậy, vua Hêrôđê kinh ngạc, cả thành Giêrusalem cũng xôn xao. Là vua nên Hêrôđê sợ có kẻ nổi loạn để tiếm ngôi, ông liền triệu tập tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân lại, rồi hỏi cho biết Đấng Kitô phải sinh ra ở đâu. Họ trả lời: “Tại Bêlem, miền Giuđê, vì trong sách ngôn sứ, có nói về miền đất Giuđa, nơi vị lãnh tụ chăn dắt Israel sẽ ra đời.” (Mt 2:6) Thế là vua Hêrôđê bí mật vời các đạo sĩ và hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện, rồi ra vẻ tốt lành: “Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy thì về báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người.” (Mt 2:8) Nghe nhà vua nói thế, họ an tâm ra đi mà không hề biết vua Hêrôđê có mưu đồ đen tối.

Họ không chỉ là những người thông thái mà còn giàu có. Họ thấy Hài Nhi Giêsu nơi máng cỏ, bên cạnh chỉ có hai người nghèo và lũ chiên lừa mà họ vẫn không thất vọng, vẫn thực sự mãn nguyện. Y như truyện cổ tích vậy. Tuy nhiên, đó là sự thật minh nhiên. Và rồi họ đã dâng những lễ vật cao quý nhất mà họ đã chuẩn bị sẵn sàng. Sau đó, họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa, nên họ đã đi lối khác mà về xứ mình.

Họ đã nỗ lực tìm kiếm Chúa Giêsu, gặp và tin, can đảm vào đời, tìm cách tránh “ác nhân” Hêrôđê, nỗ lực hành động tích cực và sống tốt lành. Sống tốt không chỉ là “làm lành, lánh dữ” mà còn phải tích cực hành động để bảo vệ công lý cho tha nhân – và cho chính mình. Kinh Thánh cho biết: “Một ánh sáng rạng ngời sẽ chiếu soi khắp mười phương đất; từ viễn xứ, người trăm họ kéo đến với ngươi. Và dân cư tận chân trời góc biển sẽ tới hát mừng danh thánh Chúa, tay bưng lễ vật dâng tiến Vua Trời. Muôn thế hệ sẽ làm cho ngươi hoan hỷ, và tên ngươi, thành được Chúa chọn, sẽ lưu truyền hậu thế đến ngàn năm.” (Tb 13:13)

Belem bé nhỏ nhưng chợt hóa thành nơi tràn ngập ánh sáng kỳ diệu – ánh sáng của Hồng Ân, của Đức Tin, của Yêu Thương, của Lòng Thương Xót, của Hòa Bình, của Chân Lý, của Hạnh Phúc, của Sự Sống, của Vĩnh Cửu, của Công Lý, của Tự Do,... Belem bé nhỏ mà vĩ đại vì là nơi Thiên Chúa chọn để Đấng Thiên Sai giáng sinh làm người và thực hiện kỳ công cứu độ của Ngài.

Thực sự vô cùng nguy hiểm đối với kẻ vừa ngu ngốc vừa thâm độc mà lại có quyền hành nữa. Hêrôđê mưu mô vì sợ người khác “chạm” đến cái ngai vàng của mình, vì cái ghế đó liên quan quyền lực và lợi lộc. Thời nay cũng chẳng thiếu những dạng người hoặc bóng dáng như Hêrôđê. Họ là những kẻ có mặt người mà dạ thú, chỉ sợ mất chức, mất quyền, tìm mọi cách “cố thủ” để bảo vệ “chiếc ghế” chứ chẳng có ý tốt lành gì, cố ý giữ phần tư lợi chứ chẳng là phục vụ người khác. Loại người Hêrôđê ngày nay còn độc ác và nguy hiểm hơn chính Hêrôđê ngày xưa. Biết mà làm như không biết đối với những kẻ khoác lác thì đó là khôn ngoan thực sự.

Các đạo sĩ không chỉ khôn ngoan, thông thái, mà họ còn thành tín với tầm nhìn đức tin rất sáng chói và sâu xa, bởi vì họ thực sự tin nhận Hài Nhi Giêsu là Ánh Sáng Thật, Nguồn Sống Thật, Thiên Chúa Thật. Đúng vậy, Hài Nhi Giêsu là Vị Cứu Tinh duy nhất của nhân loại. Với niềm xác tín, Thánh Piô Năm Dấu đã cầu nguyện: “Xin Chúa đến tái sinh trong linh hồn con và ở lại mãi mãi.”

Lạy Thiên Chúa nhân lành và toàn năng, xin ban tầm nhìn tâm linh cho chúng con, để chúng con thấy Ngài nơi mọi người, nhất là nơi những con người đau khổ; xin giúp chúng con theo chân các đạo sĩ đi tìm Chúa và hành động cụ thể; xin thanh lọc tâm trí chúng con để không lây nhiễm mọi sự dữ, biết phân định đúng ý Ngài. Lạy Mẹ Maria và Thánh Giuse, xin nguyện giúp cầu thay suốt chặng đường đời lữ hành. Chúng con cầu xin nhân danh Chúa Giêsu Hài Đồng, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. mục lục

Thomas Aq. Trầm Thiên Thu

HÃY ĐỂ THIÊN CHÚA TỎ MÌNH!

Trình thuật Tin Mừng hôm nay kể lại việc tìm kiếm của các nhà khôn ngoan thông thái, còn được gọi là các chiêm tinh gia. Họ chuyên nghiên cứu sao trời và tin rằng mỗi người chúng ta có một ngôi sao chiếu mệnh. Và vào đúng lúc Đức Giê-su sinh ra thì họ đã nhìn thấy một ngôi sao lạ xuất hiện trên bầu trời và theo kinh nghiệm dựa trên sự hiểu biết của họ thì ngôi sao đó ám chỉ một con người sẽ làm thay đổi bộ mặt thế giới mới được sinh ra. Họ đã theo dấu ngôi sao lên đường tìm kiếm và thờ lậy.

Như những người tìm kiếm, chúng ta cảm phục sự hy sinh, lòng can đảm, vượt qua bao gian khổ trên hành trình tìm kiếm của các nhà chiêm tinh. Nhưng thật ra, điều mà chúng ta cần để ý là qua biến cố này chúng ta nhận ra việc Thiên Chúa tỏ mình cho muôn dân, chứ không còn chỉ riêng cho dân Do Thái mà thôi. Nguồn ơn cứu độ được ban cho mọi người.

Như vậy, thưa anh chị em.

Biến cố tỏ mình của Đức Giê-su cho muôn dân hôm nay giúp chúng ta nhận ra chiều kích tràn đầy của Mầu Nhiệm Giáng Sinh. Giáng Sinh dù thế nào vẫn chỉ là cuộc viếng thăm của Thiên Chúa dành cho dân Israel, dân riêng của Ngài. Với Lễ Hiển Linh, mầu nhiệm đó đạt đến mức toàn diện. Thiên Chúa sinh ra làm người và tỏ mình cho muôn dân muôn nuớc, bao gồm cả chúng ta. Việc tỏ mình là sáng kiến của Thiên Chúa, không ai có thể yêu cầu hay buộc Ngài phải làm chuyện đó. Nhưng, nếu chúng ta không nhận biết, không đón nhận và không loan báo cho nhau thì quả là một điều thiếu sót. Như thế, biến cố này còn đóng một vai trò thật quan trọng trong hành trình niềm tin và cách sống đạo của chúng ta.

Hành trình tìm kiếm của các nhà chiêm tinh không dễ dàng. Dù có ngôi sao dẫn đuờng, nhưng ngôi sao lúc ẩn lúc hiện. Cũng có lúc các ông bị mất dấu; không phải do các ông đi lạc; nhưng ngôi sao không xuất hiện thì biết lối nào để đi. Trong hoàn cảnh đó, họ không hề thất vọng; tiếp tục tìm kiếm bằng cách dò hỏi những ai đã được tiên báo về sự xuất hiện của con trẻ Giê-su. Họ đã hỏi các thượng tế và kinh sư về thời gian và nơi chốn của vị lãnh tụ, đấng chăn dắt dân Thiên Chúa sẽ ra đời.

Với chi tiết này chúng ta thấy rằng các nhà lãnh đạo tôn giáo thời đó cũng là những người khôn ngoan thông thái. Họ còn hiểu biết đạo Chúa. Thế mà, những điều họ biết là cái biết của lý trí, dựa theo kinh điển mà không hề cất bước đi tìm cho nên cái khôn ngoan của họ, những điều họ biết cũng chẳng giúp gì cho họ. Còn Vua Hê-rô-đê cũng biết; nhưng điều nhà vua biết không đem vua lại gần Chúa; trái lại cái biết đó lại là nguyên nhân khiến cho vua lo sợ. Phát sinh từ nỗi sợ hãi hoang tưởng, sợ mất quyền hành; vua đã tìm cách tiêu diệt và giết hết những ai là mầm mống đe doạ sẽ lật đổ ngai vàng của ông. Cho dù như thế, nhưng Thiên Chúa vẫn dùng họ như dụng cụ khai lối chỉ đường cho người khác. Thiên Chúa luôn soi sáng cho những ai tha thiết tìm ơn cứu độ, cho dù trên hành trình tìm kiếm, nhiều lúc chúng ta cảm thấy ánh sáng khi ẩn, khi hiện, đường đi không rõ và tương lai lại mịt mù.

Ngoài ra, sự việc tỏ mình của Thiên Chúa trong thân phận của trẻ thơ Giê-su hôm nay chỉ trọn vẹn khi Người đã cho đi tận cùng cuộc sống của mình. Chính việc cho đi và tự hiến sau cùng của Đức Giê-su mới là cuộc tỏ mình huy hoàng nhất về chân tuớng đích thật của Người qua biến cố Phục Sinh. Vào ngày đó, con người của Đức Giêsu được bao phủ trọn vẹn thần tính của Thiên Chúa. Và cũng chính nhờ ơn Phục Sinh mà chúng ta nhận ra thần tính của Đức Chúa. Các môn đệ là nhân chứng về cuộc Hiển Linh Phục Sinh. Niềm tin của chúng ta hôm nay cũng dựa vào lời chứng của các tín hữu tiên khởi; đó chính là: Thiên Chúa đã tỏ mình trong thân phận con người của Đức Giêsu, Người đã ở giữa chúng tôi và chúng tôi đã thấy vinh quang của Người từ Chúa Cha mà đến.

Như vậy, với trình thuật Hiển Linh, Thiên Chúa tỏ mình cho mọi người biết rằng: trong Chúa không ai là người ngoài cuộc hết. Tất cả đều được mời gọi đón nhận và làm chứng về ơn cứu độ. Ai ai cũng đựợc diễm phúc làm con của Ngài. Ai ai cũng được mời gọi sống để tỏ bầy sự hiện diện của Thiên Chúa. Đây chính là hồng ân và sứ mạng mà Thiên Chúa đã trao ban cho chúng ta.

Thưa anh chị em,

Thiên Chúa đã làm người, đã tỏ chân tướng đích thật của Ngài cho chúng ta nhận biết. Nhưng chúng ta đã làm gì để tỏ ra cho người khác nhận biết sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc sống mình? Cũng có lúc chúng ta cảm thấy Chúa rất gần gũi, Người đang ở sát bên mình và thúc giục chúng ta ra đi để chu toàn sứ mạng. Với ý ngay lành chúng ta tuởng như là Chúa rất cần chúng ta để làm cho Danh Người cả sáng. Nhưng thực tế lại khác, có những giây phút buồn chán khi đối diện với muôn ngàn khó khăn khiến chúng ta dễ có khuynh hướng buông xuôi và bỏ cuộc… Trong hoàn cảnh như thế, chúng ta lại gán cho Chúa ý nghĩ của mình là Chúa bỏ rơi con. Thật ra, Thiên Chúa không chán nản, không hề thất vọng về ta. Ngài luôn luôn dùng đủ mọi cách thức để bộc lộ, lôi kéo và hướng dẫn chúng ta.

Vì thế, giống như hành trình tìm kiếm của các nhà chiêm tinh, trong cuộc sống chúng ta cũng nhận ra dấu của ngôi sao, các dấu chỉ thời đại mà Chúa dùng để soi sáng và mời gọi chúng ta. Tất cả đều là ánh sáng của Chúa. Ngay cả có những lúc ánh sao bị biến mất thì Chúa lại dùng đường lối khác, như những con người giống Hê-rô-đê và những vị học giả thông thái am tường đạo Chúa. Thiên Chúa vẫn dùng họ, không chừa một ai, để hỗ trợ, động viên, nhắn gửi cho các nhà chiêm tinh và mỗi người chúng ta một sứ điệp là ta vẫn đáng tin, đừng chán nản, hãy tiếp tục lên đuờng và căng buồm ra khơi.

Như vậy, sứ mạng làm cho người khác nhận ra Thiên Chúa nơi mình không nằm xa và ở ngoài khả năng của chúng ta. Nó nằm ngay trong bản thân, giữa gia đình, qua mối dây liên hệ giữa vợ chồng và con cái, giữa các kẻ tin và người không tin, giữa những ai đủ can đảm để cho Mầu Nhiệm Nhập Thể của Thiên Chúa tỏ mình qua các việc làm như:

Trao cho nhau nụ cuời, dành cho nhau các câu nói cảm thông hơn là trách móc, ghen tỵ và oán than nhau.

Đến với nhau bằng trái tim biết rung động để khoan hồng, dung thứ và đón nhận những thiếu sót và bất toàn của nhau.

Mở rộng đôi tay nhân ái để đón tiếp hơn là loại bỏ, hất hủi và xua đuổi nhau.

Nói chung, đó là các việc nói lên hành trình tìm kiếm và thực thi Lời Chúa bằng chính cuộc sống mình. Tất cả đều là lời mời gọi, là các cơ hội để Thiên Chúa được tỏ mình qua lối sống chứng nhân, tuy bình thường nhưng lại chứa đựng quyền năng và sức mạnh của Thiên Chúa nơi mình.

Cầu xin cho mọi người có lối sống nêu trên để qua đó, chúng ta có nhiều cơ hội bộc lộ thân thế và nguồn ơn cứu độ của Người cho muôn dân. Amen! mục lục

Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

NIỀM VUI CHO DÂN NGOẠI

“Đức Vua dân Do thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người.” Câu hỏi của các nhà chiêm tinh đến từ phương Đông đã làm náo động cả thành Giêrusalem và nhất là làm náo động tâm hồn vua Hêrôđê. Các ông đã theo dấu của “ngôi sao lạ” để thực hiện một hành trình dài. Cuối cùng, “ngôi sao lạ” dẫn họ đế tận nơi Hài Nhi ở. Họ liền sấp mình thờ lạy Người (x. Mt 2,1-12).

Qua sự kiện các nhà chiêm tinh từ phương Đông tìm đến bái lạy vị vua mới sinh, chúng ta có thể thấy rằng, Tin Mừng Giáng Sinh là tin mừng dành cho dân ngoại. Hành trình của họ quả gặp nhiều khó khăn. Chỉ một dấu từ “ngôi sao lạ”, họ mạnh dạn thực hiện một cuộc hành trình dài. Điều gì đã thôi thúc họ làm điều đó? Họ vào hoàng cung để hỏi tin tức. Dĩ nhiên, sự thường thì vua chúa phải sinh ra trong cung điện, đền đài của vua. Điều đó thật dễ hiểu. Tưởng chừng như họ có thể gặp được Vị Vua mới sinh nhưng họ đã không tìm thấy vị vua ấy nơi cung điện của vua chúa. “Xin quý ngài đi dò hỏi tưởng tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi để tôi cũng đến bái lạy Người” (Mt 2,8). Sau khi được vua Hêrôđê ngỏ lời như vậy, họ liền ra đi. Họ tiếp tục đi dưới sự dẫn đường của “ngôi sao lạ”, lòng mừng rỡ vô cùng (x. Mt 2,10).

Không tìm thấy Vị Vua mới sinh ở đền đài vua chúa, các ông lại được gặp một Hài Nhi mới sinh nơi máng cỏ nghèo hèn. Thật khó tin, Vua mà lại sinh nơi nghèo hèn đến thế. Vừa bước vào cửa, mùi ẩm mốc, mùi của các súc vật, rơm rạ bốc lên. Không một chút do dự, họ liền tiến đến và bái lạy Người. Chúng ta có thể hình dung được khung cảnh lạ lùng này không? Họ mở bảo tráp lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến (Mt 2,11). Không biết, đã bao lần họ thực hiện chuyến đi tương tự. Có thể, mỗi lần nhìn thấy một “ngôi sao lạ” xuất hiện, họ đều thực hiện một chuyến đi như thế. Nhưng chuyến đi lần này thật đặc biệt. Đặc biệt về nơi chốn và cách thức vị vua được sinh ra. Sau đó, họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa nên đã đi lối khác mà về xứ mình.

Khi theo dõi hành trình của ba nhà chiêm tinh, chúng ta như được hòa mình vào niềm vui của họ. Con Một Thiên Chúa, Vị Vua mới hạ sinh tỏ mình ra cách đơn sơ nghèo hèn nơi máng cỏ Bêlem. Chúng ta được mời gọi đi sâu hơn vào kinh nghiệm gặp gỡ với Vị Vua ấy trong biến cố Giáng sinh để cảm nhận được tình yêu bao la Ngài dành cho mỗi người chúng ta. Tình yêu ấy không chỉ dành cho một ít người, một vài dân tộc nhưng dành cho cả nhân loại. Thiên Chúa nhân từ đến trần gian nhưng sự thật là Ngài đã bị từ chối. Như lời thánh Gioan đã từng nói: “Người đã đến nhà mình nhưng ngời nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1,11). Trong hoàn cảnh này, có thể nói, các nhà chiêm tinh đã an ủi Thiên Chúa của chúng ta biết dường nào khi họ diễn tả được lòng yêu mến, ái mộ của mình qua một chuyến đi đầy vất vả. Thiên Chúa đã đến với dân ngoại và phải chăng Người đã được họ đón nhận?

Chúng ta tiếp tục được mời gọi nhìn về hành trình cuộc đời của mình. Chúng ta có đang hăm hở đến với Thiên Chúa mỗi ngày? Ngài vẫn luôn đến với mỗi người chúng ta qua nhiều cách thức khác nhau. Thỉnh thoảng, Ngài dùng các dấu lạ để hướng dẫn chúng ta hệt như “ngôi sao lạ” đã dẫn các nhà chiêm tinh vậy. Có khi, Ngài âm thầm, đơn sơ nhỏ bé, khiêm tốn đến với chúng ta qua bí tích Thánh Thể. Chúng ta có đang khao khát đi đến để được đón rước Người mỗi ngày? Mỗi khi không nhận đợc một “dấu lạ” nào của Ngài, chúng ta có kiên trì để tiếp tục cuộc hành trình như các nhà chiêm tinh? Khi đã gặp được Ngài, chúng ta đừng ngần ngại, hãy dâng lên Ngài những gì mình có. Ngài sẽ thương đón nhận của lễ mọn hèn của chúng ta. Bởi chúng ta cũng là dân ngoại được Thiên Chúa đoái thương, là “ôliu dại đã được tháp nhập vào đó và cùng được hưởng sự sống dồi dào từ rễ cây ôliu chính” (x. Rm 11,17). mục lục

Thiên San

NOI GƯƠNG ĐẠO SĨ

Noi gương các đạo sĩ xưa
Gian khó chẳng nề, quyết đến tận nơi
Đi tìm Thiên Chúa Ngôi Lời
Cầu xin sự sống cho người trần gian.
Bởi vì thần chết ở gần
Loài vi-rút quỷ phá tan cõi đời
Tín nhân xin được gặp Ngài
Xin dâng lễ vật là đời tin yêu.
Khi vừa cất tiếng kêu cầu
Chúa liền đáp lại và trao Lời Ngài [1]
Kêu xin, Chúa đáp lại ngay
Ngặt nghèo sầu khổ có Ngài cứu nguy. [2]
Xin thương, lạy Đấng Từ Bi
Ban cho năm mới thoát nguy dịch này
Được an tâm kính thờ Ngài
Đêm suy Lời Chúa để ngày thực thi.
Noi gương các đạo sĩ xưa
Gian khó chẳng nề, quyết đến tận nơi
Khôn ngoan sống trọn cuộc đời
Thờ một mình Ngài, yêu mến tha nhân. mục lục

Viễn Dzu Tử

[1] Tv 3:5; [2] Tv 91:15.

ÁNH SAO NHIỆM MẦU

Ba nhà đạo sĩ tại Đông Phương
Theo ánh sao tua gọi, chỉ đường
Tới được Bêlem thờ lạy Chúa 
Dâng vàng, mộc dược…nhận tình thương…
Suy mầu nhiệm ánh sao mùa Sinh Nhật
Kẻ lạc xa được ơn gọi lạ lùng
Là thiện nhân hằng chờ đợi ước mong
Theo ánh sáng chỉ đường vào Chính Đạo.
Kitô hữu: là ánh sao truyền giáo
Nếp sống thiêng theo ánh sáng Tin Mừng
Nguyện quyết tâm thể hiện cuộc sống chung
Luôn mong ước: đồng hành vào Nước Chúa.
Chiên Giáo Hội; hằng hằng tăng nhân số
Sống tình yêu mầu nhiệm: Chúa xót thương
Được bình an mạnh sức cùng lên đường
Vào Vương Quốc trường sinh Vua Cứu Thế… mục lục

(Thế Kiên Dominic)

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan