SUY NIỆM CHÚA NHẬT 2 THƯỜNG NIÊN_C

14-01-2022 291 lượt xem

Lời Chúa: Is 62,1-5; 1 Cr 12,4-11; Ga 2,1-11

Mục lục

NHẠY BÉN TRƯỚC NHỮNG NHU CẦU CỦA THA NHÂN+ ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm

VỮNG TIN VÀO CHÚA - + ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

HỌ HẾT RƯỢU RỒI - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

ĐÁM CƯỚI Ở CANA - Phêrô Phạm Văn Trung,                        

NGƯỜI ĐỔI THAY TẤT CẢ - Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

TIỆC CƯỚI CANA và GIỜ CỦA CHÚA - Bs. Nguyễn Tiến Cảnh, MD

MẸ ƠI CON HẾT RƯỢU RỒI! - Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

HẾT HAY CÒN - Thomas Aq. Trầm Thiên Thu

ĐỨC MẸ và TIỆC CƯỚI CANA - Lm. Ed Broom, OMV

RƯỢU TÌNH YÊU - Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

HÔN ƯỚC - Jorathe Nắng Tím

HẠNH PHÚC CỦA HÔN NHÂN CÔNG GIÁO - NHỜ ĐÂU? - Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Thơ: CANA DIỆU KỲ - Viễn Dzu Tử

Thơ: PHÉP LẠ ĐẦU TIÊN TẠI CANA - (Thế Kiên Dominic)

-----------------------------------------------------------------------------------------------------

NHẠY BÉN TRƯỚC NHỮNG NHU CẦU CỦA THA NHÂN

+ ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm

VỮNG TIN VÀO CHÚA

Sau lễ Hiển Linh và lễ Chúa Giêsu chịu phép Rửa, hôm nay, Phụng vụ lại giới thiệu với chúng ta một cuộc “thần hiện” thứ ba: đó là dấu lạ tại tiệc cưới Cana. Quả vậy, khi thực hiện phép lạ này, Chúa Giêsu diễn tả quyền năng thiên linh của Người, và vinh quang Thiên Chúa cũng được thể hiện qua biến cố đó. Chính tác giả Gioan đã nhận định về phép lạ đầu tiên này như sự tỏ bày vinh quang của Thiên Chúa, và nhờ đó mà các môn đệ tin vào Người. “Các môn đệ”, trong đó tất nhiên có Gioan, người kể lại sự việc, đồng thời cũng là chứng nhân về sự việc ấy.

Thánh Gioan là tác giả duy nhất kể lại dấu lạ Cana. Khởi đi từ lời tuyên bố: Ngôi Lời đã làm người và ở với chúng ta. Qua việc Đức Giêsu đến dự tiệc cưới, ông muốn diễn tả hình ảnh một Đức Giêsu đến trần gian để sống giữa mọi người. Người chia sẻ niềm vui và nỗi buồn của cuộc đời nhân thế. Người hiện diện giữa họ để đem cho họ niềm vui. Chúa hiện diện trong những đám cưới, đám tang là những sự kiện rất đỗi thường tình của cuộc sống. Người đến tiệc cưới để chúc lành và làm cho niềm vui của cô dâu chú rể nên trọn vẹn. Giáo Hội dựa trên sự kiện này để dạy chúng ta về việc Chúa thiết lập Bí tích hôn phối. Khi đôi bạn nam nữ tiến đến bàn thờ để thề hứa chung thuỷ với nhau trọn đời, Thiên Chúa sẽ chúc phúc cho tình yêu hôn nhân của họ. Bí tích hôn nhân là mối dây yêu thương ràng buộc hai người suốt đời, đồng thời ban ơn nâng đỡ để đôi bạn vượt lên những khó khăn của đời sống gia đình.

Trở lại với Bài đọc thứ nhất, trích ngôn sứ Isaia, tác giả chiêm ngưỡng một tương lai huy hoàng, hân hoan vui mừng như một tiệc cưới. Dân Israel sẽ hết thời khổ nhục và tang chế. Không ai còn khinh bỉ dân tộc này, vì Chúa ra tay cứu giúp. Ngài sẽ can thiệp và biến đổi đau thương của dân tộc thành niềm vui bất tận. “Như trai tài sánh duyên cùng thục nữ, Đấng tác tạo ngươi sẽ cưới ngươi về. Như cô dâu là niềm vui cho chú rể, ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ”. Đức tin Kitô giáo nhận ra trong lời ngôn sứ trên đây lời tiên báo về thời Thiên sai. Đức Giêsu Kitô đã đến khai mở thời thiên sai muôn dân mong đợi. Người được sánh như chú rể trong tiệc cưới. Tiệc cưới cũng là hình ảnh diễn tả mối liên hệ thân thiết giữa Thiên Chúa và nhân loại. Thời đại cũ đã qua, thời Thiên sai đã khai mở. Thời đại cũ vô vị như nước lã, thời đại mới nồng nàn như rượu thơm. Dấu lạ Canna vừa đem niềm vui cho cô dâu chú rể, vừa làm vui lòng thực khách là chính thế giới này.

Ý niệm về Chúa Giêsu như một “chàng rể” cũng được nhắc tới trong các Tin Mừng, nhất là trong Tin Mừng Thánh Gioan. Chúa Giêsu là Đấng muôn dân mong đợi. Người đến trần gian để nối kết con người với Thiên Chúa. Thánh Gioan Tẩy giả, khi nói về Chúa Giêsu, cũng dùng hình ảnh chàng rể, và ông khiêm tốn nhận mình là người phù rể (x. Ga 3,25-30). Chúa Giêsu là Thiên Chúa, nhân loại được mời gọi đón chờ Người như chờ đón chàng rể của hôn lễ (x. Dụ ngôn mười trinh nữ; Mt 25,1-13). Đây cũng là viễn cảnh tương lai, khi lịch sử nhân loại đến hồi kết thúc, nhường chỗ cho trời mới đất mới, được diễn tả như tiệc cưới của Chiên Con, lúc đó, vinh quang Chúa sẽ bao trùm tất cả, niềm hân hoan sẽ tràn ngập vũ trụ (x. Kh 19,1-7).

Trình thuật của thánh Gioan làm nổi bật vai trò và sự tinh tế của Đức Trinh nữ Maria. Phép lạ xảy đến do quyền năng của Thiên Chúa và với sự cộng tác của những gia nhân. Những người này đã nghe lời khuyên của Đức Maria: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”. Ngày hôm nay, Đức Trinh nữ vẫn hiện diện giữa chúng ta, để can thiệp và cứu giúp chúng ta với tâm tình hiền mẫu. Đức Mẹ luôn hướng dẫn và giúp chúng ta thực thi Lời Chúa, như xưa Đức Mẹ luôn ghi nhớ và suy niệm Lời Chúa trong lòng. Vâng lời Chúa và làm theo huấn lệnh của Người, đó chính là bí quyết để làm nên những điều lạ lùng trong cuộc sống.

Nếu Đức Giêsu đã đến thiết lập kỷ nguyên mới, thì Chúa Thánh Thần lại là mối giây nối kết tình hiệp nhất trong Giáo Hội. Thánh Phaolô diễn tả Chúa Thánh Thần như nguyên lý của mọi đặc sủng. Dù có nhiều đặc sủng, nhưng chỉ có một Thánh Thần. Ơn của Ngài được ban cho các tín hữu rất dồi dào phong phú, hầu xây dựng Giáo Hội là thân thể huyền nhiệm của Chúa Giêsu. Hôm nay Chúa Thánh Thần vẫn đang tiếp tục thổi hơi thần thiêng của Ngài nơi các cộng đoàn tín hữu. Nhờ Ngài mà Giáo Hội luôn vững vàng trước phong ba bão tố của thời gian.

Khi đọc Kinh Mân côi, thứ hai mùa Sáng, chúng ta suy niệm dấu lạ Chúa Giêsu đã thực hiện tại Canna, đồng thời chúng ta cầu xin cho được “noi gương Đức Mẹ và vững tin vào Chúa”. Đức Mẹ là người có phúc vì Mẹ đã tin rằng những gì Chúa phán sẽ thành hiện thực. Xin Mẹ cầu bầu cho chúng ta. Amen. mục lục

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

HỌ HẾT RƯỢU RỒI

Trong Tin Mừng, chỉ có bảy lời của Đức Maria (x. Lc 1,26-34; Lc 1,35-38; Lc 1,39-45; Lc 1,46-56; Lc 2,41-52; Ga 2,1-4; Ga 2,5-11). Lời thứ sáu “Họ hết rượu rồi” là lời ngắn nhất trong các lời Đức Maria nói lên giữa cuộc sống bên cạnh Ngôi Lời làm người. Lời ngắn nhưng có thể hiểu ở nhiều cấp độ khác nhau, bổ sung cho nhau nêu lên chân dung một người Mẹ tuyệt vời, gắn bó mật thiết với hạnh phúc của các gia đình.

1. “Họ hết rượu rồi”: một lời thông tin

Theo Tin Mừng Gioan thì hành động đầu tiên của Chúa Giêsu sau khi chịu phép rửa là quy tụ các môn đệ. Hành động thứ hai là đi dự tiệc cưới. Có lẽ đây là tiệc cưới của người bà con nên cả Đức Mẹ, Chúa Giêsu và các môn đệ cùng đi dự. Có thể là một đám cưới nhà nghèo nên thiếu rượu nữa chừng.

Tại Palestina, tiệc cưới kéo dài hơn một ngày, lễ cưới chính thức cử hành vào buổi xế chiều sau khi dự tiệc. Sau buổi tiệc, đôi tân hôn được đưa về nhà mới. Bấy giờ trời đã tối, họ được đưa đi qua các con đường càng dài càng tốt để có thể gặp được nhiều người chúc mừng. Vợ chồng mới cưới không đi hưởng tuần trăng mật. Họ ở tại nhà, mở cửa suốt tuần để tiếp khách. Họ đội vương miện và mặc y phục hôn lễ. Nếu suốt đời người ta phải sống cơ cực vất vả, thì nay được một tuần tiệc tùng, vui vẻ, đây là cơ hội đặc biệt trong đời người. Như vậy, theo tập tục Do Thái, đám cưới kéo dài suốt bảy ngày.

Đám cưới Cana này mới đến ngày thứ ba thì đã hết rượu rồi. Một tai hoạ bất ngờ, chủ tiệc bối rối, khó xử. Các Rápbi vẫn nói: Không rượu thì không vui. Người Việt nói: Vô tửu bất thành lễ. Không phải vì mọi người nghiện rượu, nhưng ở Đông Phương, món rượu rất quan trọng. Say rượu là một điều thật xấu hổ, nên họ uống rượu pha, hai phần rượu và ba phần nước lã. Lúc nào thiếu thức ăn, thức uống là có vấn đề, vì ở Đông Phương tiếp khách là một nhiệm vụ thiêng liêng; thiếu thức ăn thức uống trong một tiệc cưới là điều hổ thẹn cho cả cô dâu lẫn chú rể.

Không ai hay, kể cả chủ tiệc; không ai để ý, kể cả tân lang. Vả lại khi đã ngà ngà hoa mắt rồi, khách có để ý đi nữa cũng chẳng thấy. Thế mà trong số khách hôm ấy có người đã để ý và đã thấy. Người ấy nhẹ nhàng nói với Chúa Giêsu: “họ hết rượu rồi”.

2. “Họ hết rượu rồi”: một lời thông cảm

Người khách đặc biệt ấy chính là một phụ nữ thật tinh ý và có tấm lòng trắc ẩn sẵn sàng giúp đỡ người khác. Với trái tim nhảy cảm, với tấm lòng từ mẫu, Mẹ tự mình can đảm vào cuộc. Mẹ coi việc đám cưới là việc nhà mình và coi chuyện hết rượu là chuyện của chính mình. Từ đó Mẹ tận tụy chẳng quản ngại gì nữa, đi lại giữa một đàng là con mình và đàng khác là các gia nhân, dàn xếp và chuẩn bị tinh thần sẵn sàng, miễn sao mọi người đều vui. Sở dĩ Mẹ nhận thấy tình hình khó khăn của gia chủ, theo Đức Thánh cha Phaolô VI là vì Mẹ là người biết lắng nghe, một trinh nữ lắng nghe. Để có thể nói lời thông cảm, chắc chắn Mẹ phải rất tinh tế để nghe được nỗi xôn xao trong gia đình, những bước chân vội vã đi tìm rượu và Mẹ còn nghĩ đến những gì sẽ xảy ra sau khi tiệc tan cho nên Mẹ dặn dò các gia nhân: “Ngài bảo gì, các anh hãy làm theo”.

3. “Họ hết rượu rồi”: một lời chuyển cầu

Lời “họ hết rượu rồi” trong cấp độ khách quan chỉ là lời thông tin của một thực khách tinh ý, và trong cấp độ tình cảm lại là lòng trắc ẩn của trái tim người nữ sẵn sàng dấn thân đảm đang công việc, nhưng chính trong cấp độ đồng hành thiêng liêng, người ta mới thấy lời ấy quả là một lời nhiệm mầu của Mẹ Đức Giêsu mở vào tấm lòng của Đấng Cứu Thế con mình, và đồng thời mở ra ân sủng thánh hóa những giá trị trần đời. Người thực khách tinh ý và giàu lòng trắc ẩn chính là “thân mẫu Chúa Giêsu”.

Khi thấy đám cưới hết rượu, Đức Maria không đi tìm rượu ở chỗ khác nhưng lại đến thẳng chỗ con mình và nói lên niềm tin tưởng trọn vẹn của Mẹ. Đây là một lời thỉnh cầu kín đáo và tin tưởng Đức Maria bày tỏ với Con. Ở trường hợp khó khăn như thế này, người duy nhất làm thay đổi tình thế không phải là ai khác ngoài Chúa Giêsu, dẫu cho tới lúc đi ăn cưới, Mẹ chưa thấy Chúa Giêsu thực hiện một phép lạ nào ở quê hương Nazarét hay ở nơi đâu khác. Như vậy, tại Cana, Đức Maria đã bày tỏ thêm lần nữa tâm tình tín thác đã có từ ba mươi năm trước khi thưa tiếng xin vâng. Nếu ngày truyền tin, Đức Maria đã tin vào Chúa Giêsu trước khi thấy Người bằng xương bằng thịt, nên đã xin vâng dẫn đến việc thụ thai trinh khiết, thì ở Cana, khi tin tưởng vào quyền năng chưa được tỏ lộ của con mình, Mẹ đã xin vâng mở đường dẫn đến “dấu lạ đầu tiên” của Chúa Giêsu biến nước lã thành rượu ngon, vun bồi lòng tin cho các môn đệ.

Như vậy, lời “họ hết rượu rồi” bên ngoài xem ra thật ngắn ngủi, nhưng bên trong lại ẩn chứa cả một kho tàng phong phú của một tấm lòng vừa tuyệt đối tin tưởng vừa chan chứa yêu thương. Tin tưởng hoàn toàn nơi Chúa Giêsu dù giờ Người chưa đến và yêu thương tận tụy dành cho đám cưới cũng như dành cho các môn đệ đầu tiên mới dò bước theo Thầy.

Chính vì thế, lời thứ sáu của Đức Maria “họ hết rượu rồi” dẫn tới lời đáp của Chúa Giêsu “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi? Giờ của tôi chưa đến” để có kết thúc là phép lạ ngoạn mục, vẫn được nhắc đến như hình mẫu sự hợp tác của Mẹ Maria vào chương trình cứu chuộc của con mình, dẫu đó là một sự hợp tác vượt lên vai trò làm mẹ tự nhiên để bước sang lãnh vực của niềm tin và của hy vọng.

Lời thứ sáu này còn được ghi nhớ như một lời chuyển cầu đầy hiệu quả của Đức Maria bên cạnh Chúa Giêsu, để hôm qua ở Cana chúc lành cho một gia đình và hôm nay tiếp tục chúc lành cho mọi gia đình khác biết mình đang trong tình trạng thiếu rượu tình yêu và hạnh phúc. Qua tiệc cưới Cana, với con tim trắc ẩn, với câu nói ân cần và với bàn tay nhân lành, Mẹ đích thực là Mẹ hằng cứu giúp, không ở trên cao mất công cúi xuống, cũng không ở ngoài xa mất giờ đến gần, mà như người trong cuộc tận lực tận tình cứu giúp, để cuộc sống gia đình vốn như nước lã nhạt phèo đã được thánh hóa nên rượu thơm nồng nàn hạnh phúc. Đức Maria chính là Mẹ của các gia đình (x. Bảy lời của Đức Maria, ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống).

4. Hãy đến với Mẹ Maria

Chúa Giêsu đã thực hiện phép lạ đầu tiên tại Cana. Ngài biến nước lã thành rượu hảo hạng. Tiệc đang vui vẻ mà rượu gần cạn. Gia đình lo lắng, sợ mất mặt với khách dự tiệc… Mẹ Maria quan tâm đặc biệt. Mẹ ngỏ ý với Chúa: “Họ hết rượu rồi”. Mẹ nói với gia nhân: “Ngài bảo gì, các anh hãy làm theo”. Chúa Giêsu nói với gia nhân: “Hãy đổ nước đầy chum”. Họ đổ tới miệng chum. Và Chúa bảo họ: “Bây giờ hãy múc nước đem cho người quản tiệc”. Nước đã biến thành rượu ngon. Người quản tiệc bỡ ngỡ, thực khách vui mừng.

Sự kín đáo của Mẹ được thể hiện qua việc không nêu danh Giêsu trong câu nói, để Chúa Giêsu tự do biểu lộ mình theo cách của Ngài và đúng lúc “hữu xạ tự nhiên hương”, qua việc Chúa làm, dân chúng sẽ nhận biết Ngài. Sự kín đáo ấy còn thể hiện qua việc Mẹ nhẹ nhàng rút lui khỏi hiện trường dành sáng kiến cho Chúa Giêsu dùng lời Ngài mà đến với mọi tâm hồn. Vài trò trung gian của Mẹ là dẫn người ta đến gặp Chúa Giêsu, mà một khi người ta đã đến được rồi, Mẹ trở lại phong thái muôn thuở là “ghi nhớ và suy niệm trong lòng”.

Phép lạ Cana do Chúa thực hiện, nhưng Đức Mẹ cũng đóng vai trò quan trọng. Sự can thiệp của một người mẹ nhạy cảm và từ ái góp phần làm nên phép lạ hoá nước thành rượu.

Tin Mừng Gioan nhắc đến Đức Mẹ hai lần: lần đầu ở Cana và lần cuối ở Núi Sọ. Mẹ chứng kiến cái chết của con, và từ đây Mẹ trở nên Mẹ của các tín hữu (Ga 19, 25-27). Cả hai trình thuật nối kết với nhau chặt chẽ và giải nghĩa lẫn nhau. Sự hiện diện của thân mẫu Đức Giêsu, cách xưng hô, giờ chưa đến và giờ đã đến là những yếu tố nối kết hiển nhiên. Mẹ đã hiện diện ở tiệc vui Cana, Mẹ cũng hiện diện ở núi Sọ buồn. Mẹ đã đi từ bước đầu cho đến cao điểm của sứ vụ Chúa Giêsu. Mẹ vẫn đi mãi, đồng hành với Giáo Hội, với mỗi người chúng ta trong cuộc lữ hành trần thế. Mẹ vẫn chia sẻ niềm vui và âu lo, nâng đỡ và ban ơn cho mỗi con người trong cuộc đời này.

Ngày kết hôn ai cũng ao ước được duyên thắm chỉ hồng mãi mãi được vuông tròn, trăm năm hạnh phúc, tình yêu mãi được tươi đẹp và chỉ có một mối tình duy nhất: tình yêu vợ chồng bền chặt. Rồi dọc dài theo năm tháng, hôn nhân không phải lúc nào cũng màu hồng tươi thắm, mà còn có những trắc trở, lúng túng, khó khăn. Cuộc sống không hiếm lúc hết rượu, cạn nguồn vui, bế tắc nẻo đường dẫn đến hạnh phúc. Cũng không ít những tình thế bất trắc chứa đầy lo âu, hệt như hoàn cảnh của chủ tiệc lúc hết rượu. Nào xung đột, bất hoà, nào hiềm khích, mâu thuẫn chỉ vì một sự cố ngoài tiên liệu. Hãy noi gương Mẹ, nói với nhau lời thông tin trong sự thật và bác ái, nói với nhau lời thông cảm và cùng nhau nói lời thỉnh cầu lên Chúa xin Ngài ban ơn nâng đỡ.

Hãy đến với Mẹ. Lời cầu bầu của Mẹ có giá trị lớn lao trước Nhan Thánh Chúa. Mẹ vẫn thường nói với Chúa Giêsu: “Họ hết rượu rồi” và Mẹ cũng hay nói với mỗi người chúng ta: “Hãy làm mọi điều Chúa bảo…”. Hãy làm theo lời Chúa, để rượu tình thương không bao giờ cạn vơi trong gia đình chúng ta. Khi các gia đình gặp khó khăn thử thách, hãy tin tưởng chạy đến với Mẹ. Khi tình yêu trong gia đình trở nên lạnh lẽo, hãy cậy nhờ Mẹ can thiệp trước nhan Chúa, để nước lã những sinh hoạt tẻ nhạt mỗi ngày được biến thành rượu ngon, khó khăn được giải quyết, tình yêu được tuôn tràn và đổi mới. Tình yêu hôn nhân đã được chính Chúa thiết lập và thánh hóa. Ân sủng bí tích hôn nhân giúp các cặp vợ chồng trung thành và yêu thương nhau suốt đời.

Bên cạnh những nỗ lực để cải thiện đời sống gia đình, hãy khiêm tốn khẩn nài với Đức Maria, để Chúa Giêsu tiếp tục thực hiện phép lạ Cana, nhờ đó các gia đình không bao giờ bị thiếu rượu an vui, nhưng luôn chan chứa tình yêu do Thiên Chúa rộng ban.

Mầu nhiệm Năm Sự Sáng: Thứ Hai thì ngắm: Đức Chúa Giêsu làm phép tại tiệc cưới Cana. Ta hãy xin cho được noi gương Đức Mẹ mà vững tin vào Chúa. Hàng ngày, mỗi gia đình hãy xin cho được noi gương Đức Mẹ mà vững tin vào Chúa. mục lục

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

ĐÁM CƯỚI Ở CANA

Tại Cana, miền Galilê, Chúa Giêsu cùng với các môn đồ và mẹ ngài tham dự một đám cưới. Vì thiếu rượu, nên Chúa Giêsu, không để cho các khách mời và cô dâu chú rể biết, đã yêu cầu gia nhân đồ nước đầy các bình đựng, và nước này trở thành rượu rất ngon, với số lượng lớn. Đây là “dấu chỉ” hoặc “công trình” đầu tiên (đây là những từ mà Gioan đặt cho các phép lạ) của Chúa Giêsu.

Đám cưới tại Cana: vị trí địa lý.

Cana, từ tiếng Do Thái qaneh , nghĩa là “cây sậy”. Là một địa phương nhỏ của miền Galilê, vị trí của Cana vẫn chưa được xác định chắc chắn, một số người đặt nó ở Kafr Kanna 8 km về phía bắc Nazareth, nhưng có vẻ phù hợp hơn khi đặt nó 14 km về phía bắc Nazareth, ở Khirbet Qana trong  môi trường đầm lầy, vì điều này có thể biện minh cho nguồn gốc của tên gọi “cây sậy” của nó.

Đám cưới tại Cana: ý nghĩa của bản văn.

Lễ cưới Cana này có ý nghĩa gì khi Chúa Giêsu chịu làm theo lời yêu cầu của Mẹ Ngài, vì trong một bối cảnh khác, càng làm theo lời yêu cầu này, thì càng không đáng, vì điều đó có nguy cơ khiến cho khách mời say xỉn?

Qua một hành động mang tính biểu tượng, việc Thiên Chúa tỏ lộ đã thành hiển hiện, sẽ mang lai sự gắn bó của những kẻ ngoan cố sau cùng vốn đang bị nhốt chặt trong những nghi ngờ của họ: phép lạ Cana kết thúc cùng với sự gắn kết của các môn đệ, những người “tin vào Ngài”.

Tại Cana này, Chúa Giêsu không dạy bằng lời nói, mà bằng hành động. Ngài biểu lộ sức mạnh thần linh. Tất cả sức mạnh của trình thuật này nằm ở cử chỉ, kèm theo một vài lời nói.

Đoạn văn nói về Cana là một thời gian lễ hội, trong đó Chúa Giêsu làm biến đổi nước thành rất nhiều rượu. Đó thực sự là một lễ cưới, trong đó một biến cố quan trọng diễn ra, ở dây là việc Thiên Chúa tỏ mình ra, giống khi Chúa chịu phép Rửa hoặc khi Chúa hiển dung trên núi Tabor.

Đằng sau khía cạnh vật chất của nước và rượu, toàn bộ điều cơ bản đã được trình bày ở đây. Đầu tiên, chúng ta quan sát phản ứng của Chúa Giêsu trước lời thỉnh cầu của Mẹ Ngài, nói theo cách loài người, dường như  hơi quá một chút. Thật vậy, Mẹ thúc giục Ngài phải cho Mẹ thấy điều mà dường như Ngài không muốn thực hiện, ít nhất là không thực hiện sớm như vậy.

Môsê, để thuyết phục Pharaoh cho dân Israel ra khỏi Ai cập, đã khiến nước sông Nile thành máu (Xh 7,14-25). Ở đây, Chúa Giêsu được trình bày như một Môsê mới.

Một khía cạnh khác của rượu nho đáng được đề cập đến là khía cạnh bữa tiệc. Quả thực không thể có lễ kỷ niệm mà không có rượu nho.

“Hãy rót nước vào rượu của bạn” là câu nói ngày xưa người ta thường nói với nhau khi cùng uống rượu. Trong thời cổ đại, rượu nho là một sản phẩm xa xỉ. Trong thực tế bấy giờ, những chiếc máy ép nho không phải là thứ mà chúng đã trở thành như ngày nay với việc cơ giới hóa. Những người thợ ép nho bận rộn suốt ngày đêm để chiết xuất nước ép từ những trái nho bị nghiền nát. Sau thời gian lên men, nước ép nho, có chất tanin tạo vị chát hay không là tùy ý, được đóng vào trong các chum, như vậy: người ta có thể hiểu tại sao, trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu lại cho thêm nước vào rượu của Ngài. Đó không chỉ là một biểu tượng. Đó còn là một khía cạnh thực tế: rượu không thể uống được mà không cần thêm nước. Rượu do các nhà làm rượu thời xưa sản xuất có độ cồn cực cao, có tính chất sát trùng mạnh, như người ta thấy trong dụ ngôn người Samaritanô nhân lành: “Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại” (Lc 10, 30-35). Ngày nay không còn như vậy nữa!

Trong Cựu Ước, đặc biệt là nơi các tiên tri, chúng ta tìm thấy rượu nho trong bữa tiệc của Đấng Mêsia: “Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc: tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon, thịt béo ngậy, rượu ngon tinh chế” (Isaia 25: 6) hoặc trong các mô tả cánh chung “Ngày ấy, núi non sẽ tiết ra nước nho, đồi nương sẽ chảy sữa tràn trề” (Giôen 4:18).

Vậy ý nghĩa của loại rượu chảy tràn trề đánh dấu bữa tiệc này là gì, ý nghĩa của niềm vui này là gì và ý nghĩa của các cuộc đoàn tụ vốn đã được chờ đợi từ lâu này là gì?

Sự tràn trề được đề cập trong các bản văn  kinh Thánh nhắc lại những ân huệ của Thiên Chúa. Tất cả sự tràn trề tìm thấy nguồn gốc của nó trong ân huệ mà Thiên Chúa thực hiện cho con người.

Qua một cử chỉ có vẻ rất bình thường, chính Chúa Kitô đã tỏ mình là Con Thiên Chúa. Dấu hiệu đầu tiên này của Chúa Giêsu kết hợp hai chất liệu riêng biệt thành một để làm phát sinh một phép lạ: nước biến thành rượu. Dấu hiệu này được đặt ở đầu cuộc đời công khai của Chúa Kitô đã gợi lên mầu nhiệm tột cùng của Chúa Giêsu Kitô trong bữa ăn cuối cùng trước khi Ngài bị đóng đinh, nơi Ngài biến rượu thành máu.

Phép lạ này song song với phép lạ hóa bánh ra nhiều, đó là hình ảnh tiên trưng cho Bí tích Thánh Thể và một chuỗi các biến cố dẫn đến việc công nhận Chúa Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa.

Đám cưới ở Cana: các nhân vật chính

Chúa Giêsu Kitô

Trong cuộc hành trình qua miền Galilê và miền Giuđê, Chúa Giêsu được mời đến dự một đám cưới tại Cana thuộc xứ Galilê, vào ngày thứ ba sau khi Ngài hứa với Nathanael, một môn đệ quê Cana, rằng ông sẽ thấy những điều tuyệt vời xảy ra nếu ông bước đi theo Ngài: “Chúa Giêsu đáp: "Vì tôi nói với anh là tôi đã thấy anh ở dưới cây vả, nên anh tin! Anh sẽ còn được thấy những điều lớn lao hơn thế nữa” (Gioan 1:50).

Bữa tiệc này ở Cana khai mở cái được gọi là “cuộc đời công khai của Chúa Giêsu”. Vượt xa câu chuyện của ngày hôm nay, Gioan mời gọi chúng ta hiểu ra rằng cuộc sống của mỗi ngày như cuộc hôn nhân giữa Thiên Chúa và nhân loại.

Mẹ Maria, Mẹ của Chúa Giêsu

Được mời đến tiệc cưới, Mẹ hành động như thể Mẹ đang lo lắng bởi sự vô tổ chức của tiệc cưới. Vì vậy, Mẹ khuyến khích con trai mình hành động, dù vào một lúc chưa phải là lúc Thiên Chúa đã chọn để bày tỏ Đấng Kitô là Thiên Chúa Cứu độ, nhưng thẳm sâu trong lòng, Mẹ biết rằng con có thể can thiệp.

Chúa Giêsu bày tỏ sự khác biệt tồn tại giữa Ngài, là Con Thiên Chúa và Mẹ Maria. Chắc chắn, Mẹ là mẹ của Ngài, nhưng Mẹ không có mệnh lệnh nào phải đưa ra cho Chúa Giêsu hoặc can thiệp vào sứ vụ của Ngài. Chúa Giêsu không thiếu sự tôn trọng đối với Mẹ, nhưng Ngài cho Mẹ hiểu rằng Ngài hành động độc lập, chỉ dựa trên quyền năng của mình, và rằng khi thực hiện sứ mệnh của mình, Ngài không phụ thuộc vào bất cứ mối liên hệ tự nhiên nào.

Chú rể và cô dâu

Bằng cách tự mình đưa rượu cho khách, Chúa Giêsu thế chỗ chàng rể, vốn khá im lặng. Lời nhận xét của người chủ tiệc đối với chú rể, mà ông ta cho rằng có công giữ được thứ rượu ngon nhất đến phút cuối, dường như cho thấy rằng chính chú rể là người có trách nhiệm nhất định đối với chất lượng của rượu!

Ngoài ra, không thấy nói gì đến cô dâu. Khi chúng ta hỏi cô dâu đang ở đâu trong khung cảnh làng quê Cana này, thật khó mà trả lời ... Gioan không mô tả cô ấy, không cho biết sự hiện diện của cô ấy. Manh mối này mời gọi chúng ta tìm kiếm chiều kích tâm linh mà Gioan muốn đưa vào câu chuyện của mình.

Người chủ tiệc, người quản lý

Điều đó gợi lại phong tục tổ chức bữa tiệc bằng cách chọn ra một người chịu trách nhiệm tính giờ để đưa ra thứ rượu kém ngon sau khi vị giác của thực khách bị giảm đi phần nào bởi những chén rượu đầu tiên. Nhưng ở đây, người chủ tiệc này nhầm lẫn khi cho rằng chính chú rể phải chịu trách nhiệm về chất lượng rượu được phục vụ cho đến lúc đó! Cũng chính người chủ tiệc này, vì không hay biết gì về “sự cố xui xẻo” và diễn tiến dẫn đến kết thúc êm thắm của vụ việc, nên lời nhận xét của ông là hoàn toàn khách quan và đáng tin: “Còn anh, anh lại giữ rượu ngon mãi cho đến bây giờ” (Gioan 2:10). Thiên Chúa, qua Chúa Giêsu Kitô, “vẫn luôn có thể rút ra những điều tốt lành từ những sự dữ” (Thánh Tôma Aquinô). 

Những người hầu

Là những người khiêm tốn nhất trên sân khấu, là các nhân chứng trực tiếp chứng kiến nước thay đổi thành rượu, là những diễn viên tham gia vào công việc đổ nước vào sáu chiếc bình đầy tới miệng, những người hầu làm theo lệnh của một bà khách bảo họ làm những gì một ông khách khác sẽ ra lệnh cho họ. Không thấy nói gì về đức tin của họ vào Chúa Giêsu Kitô rốt cuộc như thế nào. Dù sao đi nữa,  những người hầu này, bất chấp sự bất thường của tình huống, vẫn tin tưởng làm theo và kín tiếng sau khi dấu chỉ nhiệm mầu được biểu lộ. 

Các môn đệ

Với thánh sử Gioan, dấu chỉ được biểu lộ thường là điểm khởi đầu đức tin của các môn đệ Chúa Kitô. Chúa Giêsu vừa tiết lộ căn tính của Ngài cho họ. Các môn đệ bắt đầu bước vào đức tin: 

“Chúa Giêsu đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Cana miền Galilê và bày tỏ vinh quang của Ngài. Các môn đệ đã tin vào Ngài” (Gioan 2:11). mục lục

Phêrô Phạm Văn Trung, 

phỏng theo https://www.chretiensaujourdhui.com

NGƯỜI ĐỔI THAY TẤT CẢ

Trong một nhà máy nọ tại Ru-ma-ni -câu chuyện này đã xảy ra cách đây hơn ba thập niên- trước hàng ngàn công nhân tập trung trong hội trường, một diễn giả vô thần đang hùng hồn chứng minh sự huyền hoặc của Tin Mừng và sự dối trá của Chúa Giê-su. Ông tuyên bố: “Các bạn biết, phép lạ tiệc cưới Ca-na chỉ là thứ trò rẻ tiền của một tay ảo thuật. Tôi có thể làm lại việc ông Giê-su đã làm. Xem đây!” Thế rồi diễn giả huơ huơ tay trên một ly nước đã để sẵn trên bàn. Trong lúc mọi người chăm chú nhìn bàn tay của ông, thì một viên hóa chất bé tí từ trong tay áo ông rơi nhẹ vào ly và nước hóa nên đỏ thẫm. Vài kẻ vỗ tay. Diễn giả đắc chí nói: “Các bạn thấy chưa? Giê-su có hơn gì nào! Ông ta chỉ lợi dụng lúc các gia nhân không để ý mà ném vào chum một chất nào đó và thế là nước hóa thành rượu!” Bấy giờ một công nhân lên tiếng: “Thưa giáo sư, xin giáo sư vui lòng uống ly rượu này!” - “Không thể được! Đây là một chất độc! Uống vào chết ngay!” Anh công nhân liền mạnh dạn nói: “Với rượu của Người, Chúa Giê-su đã cho chúng tôi hơn 2.000 năm hoan lạc! Còn với rượu của các ông, các ông đã đầu độc chúng tôi!”   

Đúng thế, trình thuật tiệc cưới được Gio-an, một chứng nhân trực tiếp, kể lại hôm nay không chỉ là một phép lạ nhỏ bé trong một đám cưới thôn quê bình thường. Được suy niệm lâu dài trong 50 hoặc 60 năm, sự kiện lịch sử đối với nhà thần học này đã trở nên cơ hội để trình bày cho chúng ta về mầu nhiệm thân thế Đức Giê-su cũng như ý nghĩa sâu xa ẩn chứa trong sự nghiệp của Người. Sự kiện này là một “dấu chỉ”.           

1. “Nước” trở thành “rượu” tình yêu.

Mở đầu câu chuyện, Gio-an giới thiệu sơ qua khung cảnh và các nhân vật. Trong các nhân vật đó, ngoài Chúa Giê-su, Đức Ma-ri-a đóng một vai trò đặc biệt. Trong Tin Mừng của mình, Gio-an chỉ nhắc đến bà ở đầu, nơi trình thuật Ca-na này, và ở cuối, dưới chân thập giá (x. Ga 19,25-27). Tuy nhiên, thánh sử không nêu tên Ma-ri-a, chỉ định nghĩa bà trong tương quan với Đức Giê-su: đó là “thân mẫu Người”!          

Nhạy cảm đối với nhu cầu cấp thời của đôi tân hôn, thân mẫu Đức Giê-su nhận thấy ngay thế kẹt của họ. Coi mình ở trong cuộc như người nhà, bà đã xin Con mình can thiệp giúp. Nhưng “Đức Giê-su đáp: “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi? Giờ tôi chưa đến”. “Giờ Đức Giê-su” là một thành ngữ liên quan tới cuộc Vượt qua (x. Ga 7,30; 8,20; 13,1; 16,25; 16,32). Giờ duy nhất này, chính là giờ Người được vinh hiển: “Lạy Cha, giờ đã đến! Xin Cha tôn vinh Con Cha… xin ban cho con vinh quang mà con vẫn được hưởng bên Cha trước khi có thế gian” (Ga 17,1.5). Giờ vinh quang đó diễn ra theo ba giai đoạn: đó là Thập giá, việc Người “được nâng lên” khỏi đất… đó là Phục sinh, việc Người “được nâng lên” bên hữu Chúa Cha… và đó là Hiện xuống, việc Người tuôn đổ Thánh Thần cho tín hữu… (x. Ga 3,14; 7,39; 8,28; 12,32). Như thế, anh thợ mộc làng Na-da-rét, được mời đến dự tiệc cưới ở một làng bên, đã để cho chúng ta khám phá, qua lời nói cử chỉ, “hữu thể” sâu xa của mình. Người gợi cho thấy “giờ của Người”, giờ ban “rượu của Giao ước mới” (x. Mt 26,27) còn chưa đến. Tuy nhiên, ít ra Người cũng làm một dấu lạ tượng trưng và tiên báo việc ban thứ rượu mới này.

Trực giác của phụ nữ, của người mẹ cho thân mẫu Đức Giê-su thấy là Người sắp can thiệp: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”. Có lắm hoàn cảnh trong đó chúng ta “không còn làm chi được nữa”, cạn kiệt giải pháp ở mức độ con người… lúc đó phải nại vào một kẻ khác, vào Đấng Toàn Tha, Đấng duy nhất có thể cứu rỗi. Đức Giê-su quyết định hành động, nên ra lệnh cho gia nhân đổ đầy nước vào sáu chum đá và biến nước thành rượu. Không một chi tiết nào ở đây là tình cờ! “Sáu chum nước dùng vào việc thanh tẩy theo thói tục của người Do-thái…”: nước này là dấu chỉ của một tình trạng lỗi thời, những thói tục tôn giáo giờ phải bị vượt qua. Đức Giê-su đến để thay đổi, hoàn tất Do-thái giáo. Nước trở thành rượu! Rượu tượng trưng cho trật tự mới, nhiệm cục mới; nước chỉ những nghi thức của đạo Do-thái thuộc nhiệm cục cũ.

Tôn giáo của người Do-thái đã trở thành quá tỉ mỉ, vụ hình thức. Bệnh của mọi đạo! Người ta rốt cục tưởng rằng để làm đẹp lòng Thiên Chúa, chỉ cần chẻ các câu văn, hoàn thành mọi nghi tiết, cứu vãn những vẻ bên ngoài. Đức Giê-su đổi thay tất cả. Đạo của Đức Giê-su đổi thay tất cả: đó là rượu say nồng của tình yêu. Chúng ta làm đẹp lòng Thiên Chúa nếu các nghi thức của chúng ta là dấu chỉ và là nguồn lực của việc chúng ta hiến thân cho kẻ khác, nếu chúng ta biến nỗi khổ của một người anh em thành niềm vui hay ít nhất một sự dịu lòng. ĐGS mang đến khả năng tuyệt diệu này: từ nay, mọi sự đều có thể trở thành tình yêu, tình yêu phong phú.

Và đó là ý nghĩa của chi tiết tiếp theo: “Họ đổ đầy tới miệng”: 600 lít rượu ban trong “dấu chỉ” đầu tiên này nói lên sự phong phú dư tràn các ân huệ của Thời Cứu thế. Trữ lượng quá mức đó đủ để say sưa cả một thôn làng! “Rượu nho” cũng là một biểu tượng Thánh Kinh cổ điển (x. Tl 9,13; Tv 104,15 v..v…). Nó là một trong những sản phẩm được ưa chuộng nhất vì tỏa niềm vui, gây sảng khoái, “khiến hoan hỉ lòng người”. Thời tiên sai đã được loan báo bằng những hình ảnh tiệc tùng trong đó chan hòa rượu chảy: “Ngày ấy, trên núi này, Đức Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc: tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon!” (Is 25,6. Xem Am 9,14; Hs 2,16; Ge 4,18; Gr 31,12).

2. Nhân loại trở thành “hôn thê” của Thiên Chúa.

Thế nhưng khi gia nhân trình rượu phép lạ cho quản tiệc thì đã có một sự hiểu lầm, một sự hiểu lầm rất ý nghĩa: quản tiệc nhầm Đức Giê-su với tân lang! Trong một vài câu nữa của Tin Mừng mình, Gio-an sẽ minh nhiên nói rằng Đức Giê-su chính là “Tân lang” đích thực (x. Ga 3,29). Đây là chìa khóa giải thích ý nghĩa chủ yếu của dấu chỉ Ca-na. Nó tiên báo cái lúc Đức Giê-su sẽ nói: “Nầy là rượu tiệc cưới mới, là chén Giao ước mới trong máu Thầy”.

Như ta biết, Cựu Ước đã có một truyền thống lâu dài và tuyệt diệu là trình bày Thiên Chúa như Hôn phu của nhân loại. I-sai-a, trong bài đọc thứ nhất Chúa nhật này, vừa đưa ra lại với chúng ta “tuyên ngôn tình yêu” cháy bỏng đam mê của Thiên Chúa: “Chẳng còn ai réo tên ngươi: “Đồ bị ruồng bỏ!” Xứ sở ngươi hết bị tiếng là “Phận bạc duyên đơn”. Nhưng ngươi được gọi: “Ái khanh lòng Ta hỡi!” Xứ sở ngươi nức tiếng là “Duyên thắm chỉ hồng”… Như trai tài sánh duyên cùng thục nữ, Đấng tác tạo ngươi sẽ cưới ngươi về. Như cô dâu là niềm vui cho chú rể, ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ” (Is 62,1-5; x. Hs 2,21; Ed 16,8). Hình ảnh hôn ước này sẽ được tất cả Tân Ước lấy lại (x. 2Cr 11,2; Ep 5,25; Kh 21,2; 22,17 v.v…).

Ngoài ra, như ta có thể nhận thấy, ở tiệc cưới Ca-na, cô dâu chẳng được đề cập. Kỳ lạ quá phải không! Chúng ta đâu có tham dự bữa tiệc cưới bình thường! Nếu chú rể đích thực là Đức Giê-su thì cô dâu đích thực chính là nhân vật mà Người gọi bằng cái tên mang ý nghĩa tượng trưng đặc biệt: “Hỡi Bà!” (dịch sát: “Hỡi người phụ nữ”). Hôn thê của Thiên Chúa chính là Ít-ra-en đang mong đợi “Giao ước mới” khi công nhận “họ hết rượu rồi”. Ít-ra-en ấy, dân được Thiên Chúa cưới trong Giao ước mới ấy, rồi đây sẽ là Giáo Hội. Và Đức Ma-ri-a tượng trưng cho cả hai: bà là “thiếu nữ Sion” và “hình ảnh Giáo Hội”. Như thế, Hôn thê không được nêu danh trong tiệc cưới này chính là chúng ta: Thiên Chúa yêu thương bạn… Thiên Chúa đã cưới nhân loại trong Đức Giê-su Ki-tô… để cùng chung vui buồn sướng khổ!

Chúng ta đang sống trong một thời đại mà hôn nhân gặp khủng hoảng trầm trọng: tình yêu xem ra mất phương hướng, người ta cổ vũ luyến ái tự do, sống chung chẳng làm lễ cưới, chẳng mừng tình yêu, chẳng mang trách nhiệm, đối với nhau cũng như đối với con cái của mình, thậm chí cổ vũ cả hôn nhân đồng tính… Biết bao cuộc tình phù du, mới đầu thật tươi nở, sau đó đã trở nên lạt lẽo tầm thường, như nước lã không mùi vị!

Trong bầu khí ấy, những đôi lứa vững chắc nhất đôi khi cũng không thoát khỏi nhận xét bi thảm: “Họ hết rượu rồi!” Tình yêu họ như mất đi. Ai là người có thể ban lại? Chính là Đấng đang cứu vãn tiệc cưới! Hiệp thông vào chén của Đức Giê-su, uống “rượu” của Người, đó là uống tận nguồn “tình yêu đã hiến trao tất cả, ban tặng đến cùng” (x. Ga 13,1).

Trong bao thế kỷ, các nhà thần học đã bàn cãi xem cái gì cao cả hơn: “hôn nhân” hay “độc thân”. Dẫu sao cũng chớ quên hình ảnh “Thiên Chúa-Hôn phu” của Kinh Thánh. Hãy để sự âu yếm của Thiên Chúa tràn ngập mình. Nếu kết hôn, hai bạn là “dấu chỉ”, nghĩa là “bí tích”, “biểu hiện” của Tình yêu Thiên Chúa. Nếu độc thân, bạn chẳng phải là “không có mối tình”, vì bạn cũng được kết hôn với Tình yêu cao cả nhất! Nhưng vấn đề là bạn sống cuộc hôn nhân hay sự độc thân của bạn ra sao? mục lục

Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

TIỆC CƯỚI CANA và GIỜ CỦA CHÚA

Chúa Nhật tuần trước, chúng ta suy niệm về ý nghĩa Chúa Giêsu chịu phép rửa và những cam kết của chúng ta khi lãnh nhận phép rửa. Chúa nhật tuần này, chúng ta tìm hiểu về tiệc cưới Cana. Tiệc cưới Cana (x. Ga 2:1-11) là dấu tỏ vinh quang của Thiên Chúa, tiếp nối ý nghĩa lễ Hiển Linh và Phép Thanh Tẩy của Chúa. Ta có thể gọi là lễ khánh thành sứ mạng của Chúa Giêsu ở trần thế.

Trong bản kinh chiều ngày lễ Hiển Linh nêu ra ba mầu nhiệm thánh: “Hôm nay ngôi sao dẫn đường cho ba nhà đạo sĩ đến viếng Hài nhi Kitô. Hôm nay nước biến thành rượu trong tiệc cưới. Hôm nay Chúa Giêsu muốn ông Gioan làm phép rửa cho Chúa ở sông Jordan để mang ơn cứu độ cho muôn dân.” Mỗi biến cố đều có dấu chỉ riêng, cho chúng ta thấy có sự can thiệp của Thiên Chúa: Ba Vua, Ánh Sáng chiếu rọi, Ngôi sao, Nước hoá Rượu, Tiếng Nói phát ra từ trời và hình Chim Bồ Câu.

Tiệc cưới ở Cana là một biến cố có thực, đã được thánh sử Gioan tả lại trong một khung cảnh với một cấu trúc lớp lang rất tượng hình. Nước trở thành rượu. Vật bình thường trở thành phi thường. Phép lạ tại Cana khởi đầu thời đại ngôn sứ. Phép lạ nói trước cho mọi người biết cách thức Chúa Giêsu sẽ hoàn thành sứ mạng của Người là đổ máu chết trên thập giá.

Ý NGHĨA CÂU CHUYỆN TIỆC CƯỚI

Tiệc cưới Cana là câu chuyện được kể lại duy nhất bởi thánh Gioan, không thấy trong các phúc âm thư khác. Gioan dùng từ “dấu lạ” (semeion) có nghĩa là hành động phi thường của Chúa Giêsu, đồng thời muốn nói: Thiên Chúa can thiệp vào lịch sử loài người bằng một phương thức mới qua đức Giêsu. Ở Cana, biểu tượng và sự thật gặp nhau. Tiệc cưới của đôi trẻ là dịp để nói về cuộc hôn nhân giữa Chúa Kitô và Giáo Hội sẽ được thực hiện trong “giờ của Người” trên Thập giá. Ở tiệc cưới Cana, Chúa Giêsu chứng tỏ vinh quang của Chúa để các môn đệ thấy mà tin theo. 

MẸ CHÚA GIÊSU

Khách chính trong tiệc cưới này không phải chỉ có một mình Chúa Giêsu mà có cả Mẹ Người là Đức Maria và các môn đệ (x. Ga 2:1-2). Ở đây, trong Tin Mừng Gioan, Chúa Giêsu không gọi Đức Maria là mẹ, mà dùng danh từ “Bà”, một cách nói bình thường và lịch sự, nhưng không ám chỉ mẹ của một ai cả. Tuy nhiên ở Ga 19:26 ta thấy Chúa Giêsu dùng tiếng Bà để chỉ Đức Maria là Mẹ.

Đức Maria luôn luôn là một biểu tượng. Nhiệm vụ của Mẹ là hoàn tất ơn gọi của các môn đệ. Mẹ là trung gian, dấu chỉ để cho các môn đệ thấy mà tin. Lời Mẹ nói với những người giúp việc trong tiệc cưới: “Hãy làm theo những gì Người bảo” (Ga 2:5) là yêu cầu tất cả mọi người hãy trở nên dân mới của Thiên Chúa. Ở Cana cũng như ở trên đồi Calvary -theo thánh sử Gioan- Mẹ Maria không chỉ là hiện thân của một hiền mẫu và liên hệ huyết thống mẹ con với Chúa Giêsu, mà còn đóng vai trò biểu tượng cao quí của một “Bà và Mẹ” của thần dân Thiên Chúa.

Trả lời yêu cầu của Mẹ Maria, Chúa Giêsu đáp: “Giờ của con chưa đến”. Nói một cách khác là giờ biểu lộ vinh quang của Người chưa đến. Giờ đó sẽ xảy ra trên Thập giá ở đồi Calvary. Nhưng lời nói đó không chỉ hiểu theo nghĩa đen trong câu chuyện rượu và nước, mà còn phải hiểu một cách khác nữa. Phép lạ biến nước thành rượu có nghĩa là giao ước cũ giữa Trời và Đất sẽ hoàn toàn đổi mới. Lời Mẹ Maria nói với Con Mẹ đã biến đổi cảnh buồn thành vui. Lời Chúa Giêsu nói với những người giúp việc trong tiệc cưới đã thực sự trở thành phép lạ. 

“GIỜ” CỦA CHÚA LÀ GÌ - CHRONOS VÀ KAIROS

Tiếng “GIỜ” trong tiệc cưới ở Cana có một ý nghĩa quan trọng và đặc biệt. Trong Tân Ước, chúng ta thường thấy tiếng “giờ” được dùng như: “Giờ đã đến và chính lúc này là giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha…” (Ga 4:23-24) và khá nhiều trong những câu chuyện nói về những việc lạ lùng và phi thường như chữa lành bệnh hiểm nghèo, và trong những trường hợp như vậy thì thường được đổi thành “ngay tức thì”. “Giờ” mà Chúa Giêsu nói ở tiệc cưới Cana là giờ khổ nạn, giờ Chúa chịu chết, sống lại và lên trời (Ga 13:1). 

Chữ “Giờ” là “hora”, tiếng Hy Lạp thường có nghĩa là kairos hơn là chronos. Chronos là thời gian chỉ những việc xẩy ra bình thường, đôi khi không chính xác, nhưng ta có thể sửa đổi được. Còn kairos nói lên sự đứt đoạn khi bị trở ngại bất ngờ khiến ta phải thay đổi chương trình cho thích hợp. Giờ của Chúa Giêsu là giờ Chúa đã định tức kairos lại xảy ra ngoài dự định hoặc trước khi Người muốn. Dĩ nhiên chương trình của Chúa thì Chúa đã biết, nhưng hoàn cảnh thay đổi buộc Chúa phải đi theo một lối khác.

TIỆC CƯỚI CANA

Có nhiều cách cắt nghĩa các biểu tượng trong câu chuyện tiệc cưới. Một là coi câu chuyện có hai cảnh đối nghịch nhau giữa việc Chúa Giêsu làm và sự bất toàn của Do Thái giáo. Theo quan niệm này, thì Do Thái giáo tự nó đã dần dần tàn rụi và hết ý nghĩa rồi. Kitô giáo tức rượu ngon phải thay thế Do Thái giáo là nước lã.

Cách cắt nghĩa thứ hai là nỗi vui mừng vì vương quốc Thiên Chúa xuất hiện đã được Chúa Giêsu nhân dịp tiệc vui này loan báo cho mọi người biết. Việc tỏ lộ của Chúa biến thành cuộc vui trong cuộc vui, liên hoan trong liên hoan, hôn nhân trong hôn nhân. Viễn cảnh này dựa vào truyền thống Do Thái coi tiệc cưới là thời gian thánh. Bài đọc I (x. Is 62) bắt đầu bằng một ẩn dụ lễ cưới. Thánh ý Chúa đã nhất định là đất Judah không còn là nơi hoang vu, bị bỏ rơi, vì Judah sẽ là hôn thê thánh thiêng của Israel, không phải của riêng ai cả.

Cách diễn nghĩa thứ ba có lẽ là hay và sâu sa nhất cho thấy cách thức thời gian “chronos” đứt đoạn thế nào để trở thành thời gian “kairos”. Chúa Giêsu đã tính trước và chờ đợi giờ của Người để Người có thể xác định và điều khiển. Thay vào đó, “giờ” của Chúa lại đến với Chúa một cách bất ngờ, ngoài dự tính, đặt Người vào những cảnh huống khó sử, ngay cả do chính Mẹ Người!

Chúa Giêsu đã tạo bộ mặt mới cho buổi tiệc cưới ở Cana này. Người không cung cấp rượu ngon khi tiệc bắt đầu lúc khách còn tỉnh táo, nhưng lại cho vào lúc mọi người đã say ngất ngư. Chúa Giêsu đã để dành rượu tốt vào giờ chót thì vinh quang của Người mới tỏ lộ rõ ràng (x. Ga 2:10). Đây là một biểu lộ giống như Lễ Hiển Linh mà Giáo Hội mừng trọng thể vào ngày 06 tháng Giêng hằng năm. 

NHỮNG GIÂY PHÚT ĐỘT PHÁ

Trong những công tác mục vụ cũng như công việc cá nhân hằng ngày, chúng ta thường để dây dưa ngày này qua ngày khác, sống với nỗi niềm vô vọng, đều đều và phẳng lặng, nặng nề và uể oải. Chúng ta bị khóa chặt vào thời gian “chronos”, không thể nghe thấy tiếng Chúa mời gọi chúng ta vượt thoát khỏi những giây phút tầm thường khốn khổ ấy để bước vào cuộc sống mới khác thường và đặc biệt. Thiên Chúa muốn chúng ta để cho Người đổ tràn đầy tâm trí chúng ta loại rượu mới tức sự hiện diện của Thiên Chúa. Một khi chúng ta lắng nghe tiếng Chúa kêu gọi và làm bất cứ điều gì Chúa biểu, thì những cái tầm thường trong cuộc sống chúng ta tức khắc biến thành đặc biệt và phi thường. Bình không và bình nước lã sẽ đầy tràn rượu mới ngon lành. Chúng ta trở thành ngày lễ hội thực sự.

Đoạn Tin Mừng tiệc cưới Cana đã chỉ cho đôi tân lang cách tránh đừng để rơi vào tình trạng bê bết hết rượu nửa vời. Hãy mời Chúa Giêsu đến dự tiệc cưới của bạn! Điều xảy ra ở tiệc cưới Cana cũng có thể xảy ra ở bất cứ một đám cưới nào khác. Bắt đầu là những tiếng cười rộn ràng thoải mái, biểu tượng của rượu nồng. Nhưng đừng để cuộc vui sơ khởi ấy qua đi và tàn lụi với lo âu hối tiếc, khi mà tình yêu không còn, rượu đã cạn, niềm vui đã hết, chỉ thấy buồn tẻ với ưu phiền trống rỗng. Về tình trạng gia đình, nếu không cẩn thận sẽ giống như đám mây chiều buồn thảm lờ lững cô đơn trước cơn bão tố sắp tới vì đủ thứ bất trắc gian nan trong đời. Với những cặp vợ chồng như vậy thì đúng là đám cưới của họ không còn rượu nữa. Nên nhớ: Lễ cưới chỉ có một hoặc hai ba ngày, nhưng hôn nhân là cả một đời người. 

LỜI KẾT

Câu chuyện Tin Mừng đầy ánh sáng chan hòa rực rỡ này không có chủ đích nói về việc Mẹ Maria can thiệp vào tiệc cưới, cũng không phải lời Chúa Giêsu trách Mẹ Maria. Kết cục câu chuyện có chủ đích biểu lộ tình trạng lễ hội của một gia đình bình thường có Con Một Thiên Chúa là Đức Giêsu hiện diện. Nó không phải là cuộc chè chén say sưa như những tiệc cưới của người Do Thái, cũng không phải là những tiêu chuẩn hay nguyên tắc phải theo, phong tục và luật lệ trong cuộc sống gia đình hay những chuẩn mực về hôn nhân, cũng không phải Do Thái giáo thì suy tàn mà Kitô giáo thì phát triển sung mãn.

Câu chuyện tiệc cưới Cana có mục đích kêu gọi chúng ta suy nghĩ xem lệnh của Chúa “Hãy đổ đầy nước vào những bình này” có làm cho cuộc sống của chúng ta trở nên mới không. Giờ của Người đến -tức giờ kairos- là lúc những kế hoạch bị hỏng và sự hiện diện của Thiên Chúa giao thoa nhau. Đây là lúc bắt buộc chúng ta phải nắm lấy cơ hội và chọn lựa rồi hành động như chọn giữa thiện và ác. Cana cho chúng ta thấy Chúa Giêsu đã phải điều chỉnh chương trình của Người khi có biến cố bất ngờ xảy ra. Câu chuyện xảy ra cho Chúa trong tiệc Cana nói lên tính uyển chuyển của đời sống tu đức. Giờ “chronos” của chúng ta phải biến đổi thế nào để thành “kairos”, một khoảnh khắc của đột phá và hy vọng, của thề hứa và khả dĩ?

Chúng ta hãy cầu khẩn Chúa và Mẹ Maria biến chúng ta thành những tôi tớ trung thành, sẵn sàng làm bất cứ điều gì Chúa biểu, và hăng say chia sẻ với tha nhân rượu nồng Chúa đã cung cấp cho chúng ta. Khi biết lắng nghe tiếng Chúa và làm theo lời Chúa thì những điều bình thường trong cuộc sống sẽ trở thành phi thường, những bình không hoặc bình nước lã sẽ tràn đầy rượu mới ngon nồng, những giây phút chronos sẽ biến thành kairos, và chúng ta trở nên những ngày hội thực sự của nhau và cho nhau.

Đừng ngần ngại, đừng sợ gian khổ, đừng tránh né viện cớ này cớ nọ để không nghe tiếng gọi lương tâm là tiếng Chúa gọi. Công bằng, Công lý, Tự do Tôn Giáo…. thì trong bất cứ hoàn cảnh nào, an bình hoặc chiến tranh, bảo vệ hay đàn áp, truy nã thì ý nghĩa của nó cũng không bao giờ thay đổi. Nó là ông THIỆN. Kẻ nào đi ngược lại, chống lại nó là KẺ ÁC. Chúng ta phải chọn Thiện, chống lại Ác. Leo lên mái nhà mà nói sự thật. Đừng sợ (x. Mt 10: 26-28).

Khi mà Thiện Ác giao thoa thì đó là giờ Kairos xuất hiện, giờ của Chúa. Ta phải chọn Thiện đánh Ác. mục lục

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

MẸ ƠI CON HẾT RƯỢU RỒI!

Chúa yêu loài người

Thiên Chúa yêu thương con người bằng một tình yêu hào phóng. Ngài đã dùng nhiều hình ảnh như tình phụ tử, tình mẫu tử, nhất là tình phu thê để diễn tả tình yêu của Ngài đối với con người, giúp con người hiểu được phần nào mà sống trung thành và đáp đền cho xứng như đoạn trích Sách Tiên tri Isaia hôm nay.

Thiên Chúa yêu con người, cụ thể là dân Israel như người chồng yêu vợ mình. Tình vợ tình chồng có lúc thăng lúc trầm: say mê tươi mát cái thuở ban đầu, niềm vui ngày cưới, nhưng có lúc tưởng như dứt nghĩa đoạn tình. Đây Thiên Chúa "tỏ tình" với con người. Chúa nói : "Như trai tài sánh duyên cùng thục nữ, Đấng tác tạo ngươi sẽ cưới ngươi về. Như cô dâu là niềm vui cho chú rể, ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ" (Is 62,5).

Nhìn về quá khứ, Isaia hiểu rằng lưu đày là hình phạt xứng đáng đối với tội bất trung của dân. Nhưng với phút hiện tại, tác giả cảm nhận được tình yêu nồng nàn của Chúa dành cho dân, dù dân đã bội nghĩa bất trung nhưng Chúa vẫn một lòng yêu thương gắn bó. Ngài đã cứu họ khỏi cảnh khốn cùng : "Chẳng còn ai réo tên ngươi là ‘đồ bị ruồng bỏ’, xứ sở ngươi hết bị tiếng là ‘phận bác duyên đơn’” (Is 62,3). Chẳng những thế, Chúa còn yêu đem lòng sủng ái dân : "Ta đã một thời ngoảnh mặt chẳng nhìn ngươi, nhưng vì tình nghĩa ngàn đời, Ta lại chạnh lòng thương xót" (Is 54,8).

Thánh hóa mối tình của họ

Khi ấy có Tiệc cưới tại Cana. Đức Mẹ và Chúa Giêsu cũng được mời. Tiệc đang vui thì hết rượu. Đức Mẹ ghé tai nói nhỏ với Chúa Giêsu rằng: "Họ hết rượu rồi" (Ga 2,3). Nhưng Chúa Giêsu trả lời ngay: Thưa Bà "Việc đó đâu có liên can gì đến Bà và Con, Giờ Con chưa đến".

Rõ ràng và quyết liệt như thế, bình thường, người nghe đã nản, hết hy vọng, thấy mình lỡ lời, sao lại can thiệp vào việc của người ta! Nhưng ơn Chúa Thánh Thần và đức Bác ái thúc đẩy, Đức Mẹ không nói nước đôi: Nếu Người bảo gì, hoặc: Có thể Người bảo gì, nhưng Mẹ nói xác quyết với niềm tin mạnh mẽ, Đức Mẹ nói với các người giúp việc: "Hễ Người bảo gì, thì phải làm theo" (Ga 2,5). Và Phép lạ lẫy lừng chưa từng có, đã xẩy ra ngay.  Nước rửa tay bình thường của Cựu ước đã trở thành Rượu hảo hạng của Tân Ước. Lý do là dâu rể đã mời Đức Mẹ và Chúa Giêsu đến dự tiệc cưới. "Có Mẹ mọi lẽ đều xuôi".

Thời nay đang có một cuộc khủng hoảng về gia đình: số người lập gia đình rồi ly hôn ngày càng gia tăng; nhiều người trẻ không muốn lập gia đình; một số người chủ trương nếu thích nhau thì cứ sống chung với nhau, đến khi nào không thích nhau nữa thì chia tay, cần gì mà phải cam kết chung sống chung trọn đời.

Cuộc sống gia đình quả là rất khó khăn: Ngày mới cưới, tình yêu vợ chồng thắm nồng như ly rượu tân hôn. Nhưng chẳng bao lâu sau, rượu nhạt tình phai, thậm chí còn thiếu rượu. Tình yêu thủy chung, luôn cho đi mà không hề mệt mõi, không ngừng nhường nhịn và tha thứ cho nhau. Một tình yêu như thế ở thời nay quả là một phép lạ.

Ở Cana, Chúa Giêsu đã làm phép lạ như thế: khi người ta thiếu rượu, Người đã làm cho có rượu dồi dào; và rượu ấy Người đã làm ra từ những chum nước lã. Phép lạ này ngày nay Chúa vẫn tiếp tục làm, cho những ai thực lòng cầu xin. Tại sao những đôi vợ chồng đang gặp khó khăn không cầu xin phép lạ ấy? Tại sao anh chị em không nhờ Đức Mẹ chuyển lời cầu xin?

Có Mẹ mọi nhẽ sẽ xuôi

Có Đức Mẹ mọi nhẽ sẽ xuôi là xá tín của những người hết lòng trông cậy vào tình mẫu tử của Đức Mẹ. Ngay từ khởi đầu, lịch sử Hội Thánh đã cho chúng ta thấy những ai biết chạy đến nương nhờ vào tình thương của Mẹ, núp dưới bóng Mẹ và tà áo của Mẹ đã trọ giúp, chở che trong mọi hoàn cảnh. Chúng ta hãy dâng những kế hoạch, dự tính tương lai cho Mẹ. Hãy đến với Mẹ bằng niềm xác tín “có Mẹ mọi nhẽ sẽ xuôi”.

Noi gương gia đình Cana, khi hết rượu, nghĩa là tình gia đình nhạt phai, giảm đằm thắm, hãy mời Đức Mẹ đến nhà, trình bày cho Mẹ những bất hòa của chúng ta. Khi chúng ta ở trong những tình cảnh khó khăn, gặp khó khăn mà chúng ta không biết cách giải quyết, hay khi chúng ta lo lắng đau khổ, hoặc thiếu niềm vui, hãy đến với Mẹ Maria và thưa: "Mẹ ơi, chúng con hết rượu rồi, con biết làm sao đây, xin Mẹ giúp con với". Hãy thưa với Mẹ. Chắc chắn Mẹ sẽ đến với Chúa Giêsu và nói: "Con ơi, nhìn xem người kia kìa, họ hết rượu rồi". Và Mẹ sẽ trở lại và nói với chúng ta: "Hễ Người bảo gì, thì phải làm theo" (Ga 2,5).

Với lòng từ mẫu hay thương, Mẹ sẽ ngỏ lời cùng Chúa Giêsu, Con yêu dấu của Mẹ, miễn sao chúng ta hãy hết lòng tin tưởng chạy đến cùng Mẹ, để Mẹ làm chủ tình cảnh thiếu thốn của cuộc đời ta. Ở đâu có Mẹ thì ở đó mọi nhẽ sẽ xuôi. mục lục

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

HẾT HAY CÒN

Phú quý sinh lễ nghĩa. Bần cùng sinh đạo tặc. Giàu hay nghèo cũng đều rắc rối. Ngày xưa, ông A-gua nhận là ngu dốt và cho biết lý do: “Quả tôi ngu dốt hơn mọi người, không có chút thông minh của con người. Tôi đã không được học hỏi về sự khôn ngoan, không hiểu biết chi về Đấng Thánh.” (Cn 30:2-3) Biết mình, đó là người khôn ngoan; biết người, đó là người sáng suốt. Và ông cầu nguyện: “Xin đừng để con túng nghèo, cũng đừng cho con giàu có; chỉ xin cho con cơm bánh cần dùng, kẻo được quá đầy dư, con sẽ khước từ Ngài mà nói: ‘Đức Chúa là ai vậy?’ hay nếu phải túng nghèo, con sinh ra trộm cắp, làm ô danh Thiên Chúa của con.” (Cn 30:7)

Vì “phú quý sinh lễ nghĩa” nên người ta càng ngày càng bày vẽ đủ thứ, chỉ là bề nổi chứ chẳng có chiều sâu. Nhưng rồi dịch bệnh xảy ra, người ta khó khăn về nhiều thứ, điều đó khiến người ta giảm bớt hình thức. Bài học vô giá Chúa dạy rất cụ thể.

Có những thứ tưởng hết mà còn, có những thứ ngỡ còn mà hết. Nhận thức nhưng vẫn cần ý thức, nếu không thì vô ích. Tinh tế là khả năng cần tôi luyện để phân định những tình huống trải nghiệm cuộc sống vốn dĩ nhiêu khê ngày nay. Người tinh tế có thể cảm nhận cảm xúc của người khác qua ánh mắt, thái độ, lời nói hoặc hành động, để rồi mình tác động một cách hợp lý nhất.

Thánh Phaolô khuyên: “Hãy thận trọng trong mọi sự.” (2 Tm 4:5) Và Franklin so sánh: “Thiếu thận trọng còn tai hại hơn thiếu hiểu biết.” Sự tế nhị cũng là một đức tính đối nhân xử thế, là loại ngôn-ngữ-không-lời mà ai cũng hiểu được, không cần được thông dịch hoặc phiên dịch. Chỉ số EQ (Emotion Quotient – chỉ số xúc cảm) quan trọng hơn IQ (Intelligence Quotient – chỉ số thông minh).

Cách giao tiếp liên quan nhiều vấn đề. Cách giao tiếp lịch sự và tế nhị của phụ nữ Sunêm và ông Êlisa được đề cập trong trình thuật 2 V 4:8-37.

Khi ông Êlisa đi qua miền Sunêm, nơi có một phụ nữ giàu sang, bà này giữ ông lại dùng bữa. Từ đó, mỗi lần đi qua, ông đều ghé vào và dùng bữa. Bà ấy nói với chồng: “Này ông! Tôi biết người thường ghé vào nhà chúng ta là một thánh nhân của Thiên Chúa. Mình phải làm cho ông một căn phòng nhỏ trên lầu có tường có vách, rồi kê ở đó một cái giường, đặt bàn ghế và để một cái đèn cho ông dùng. Như thế, khi nào đến nhà mình, ông sẽ lui vào đó.” Phụ nữ này như có “thiên nhãn” vậy, loại “con mắt thứ ba” rất tinh tường, hơn cả thầy tướng số, tử vi hay bói toán, bởi vì bà chỉ nhìn dáng người mà biết được Ê-li-sa là thánh nhân của Thiên Chúa. Rất tinh tế!

Có lần đến nơi ấy, ông lên phòng trên lầu và nghỉ ở đó. Ông bảo tiểu đồng Giêkhadi đi gọi bà Sunêm và dặn nó nói với bà ấy đừng quá lo lắng bận rộn vì thầy trò ông, và hỏi bà xem phải làm gì cho bà, có cần phải nói một lời với đức vua hay với tướng chỉ huy quân đội cho bà hay không. Bà khiêm nhường nói rằng bà vẫn sống yên hàn. Ông Êlisa hỏi tiểu đồng nên làm gì cho bà ấy. Giêkhadi nói: “Tội nghiệp, bà ấy không có con trai, mà chồng thì đã già.” Ông Êlisa bảo tiểu đồng đi gọi bà ấy. Nó đi gọi bà và bà ấy đến. Ông Êlisa nói: “Vào thời kỳ này, vào độ này sang năm, bà sẽ được bế con trai.” Bà quan ngại: “Không, thưa ngài, người của Thiên Chúa, xin đừng lừa dối nữ tỳ ngài!” Thế nhưng sau đó bà ấy có thai, và đúng năm sau, cũng vào độ mà ông Êlisa đã nói, bà sinh một con trai. Cuộc giao tiếp thận trọng và đầy tính nhân bản, vì đôi bên đều biết mình phải làm gì.

Đứa trẻ lớn khôn theo thời gian. Một hôm, khi nó đi kiếm cha giữa những người thợ gặt, nó nói với cha: “Ôi, cái đầu con! Cái đầu con!” Người cha bảo đầy tớ bồng nó về cho mẹ nó. Người mẹ ôm con tới trưa thì nó chết. Bà đem nó lên đặt trên giường dành cho người của Thiên Chúa, đóng cửa lại. Bà đi gọi chồng và bảo chồng sai đầy tớ với một con lừa cái đến với bà, bà sẽ chạy đến người của Thiên Chúa, rồi sẽ về. Người chồng hỏi tại sao bà lại đi gặp ngài vào hôm đó, vì chưa tới ngày đầu tháng, cũng chẳng là ngày sa-bát. Bà bảo ông cứ yên tâm.

Anh đầy tớ đưa bà đi, chỉ dừng xe khi bà bảo. Bà đến với người của Thiên Chúa ở núi Các-men. Vừa thấy bà từ xa, người của Thiên Chúa nói với tiểu đồng ra đón bà, hỏi ông bà và cậu bé có được mạnh khoẻ không. Bà bình tĩnh và tế nhị trả lời: “Vâng, mạnh khoẻ cả.” Nhưng khi đến gần người của Thiên Chúa ở trên núi, bà ôm lấy chân ông. Giê-kha-di tiến tới, đẩy bà ra, nhưng người của Thiên Chúa bảo: “Để yên cho bà ấy, vì tâm hồn bà đang phải cay đắng. Đức Chúa đã giấu ta điều ấy, Người không cho ta biết.” Bà nói: “Nào tôi có xin ngài cho tôi được đứa con đâu? Tôi đã chẳng nói là xin đừng đánh lừa tôi đó sao?” Khoảng buồn khôn tả!

Tuy nhiên, ông Êlisa bảo Giêkhadi thắt lưng và lấy gậy của ông mà đi, gặp ai thì đừng có chào, ai chào thì đừng đáp lại, rồi đặt gậy của ông trên mặt cậu bé. Người mẹ nói: “Có Đức Chúa hằng sống và có ngài đang sống đây, tôi xin thề sẽ không rời xa ngài.” Ông trỗi dậy và đi theo bà. Giêkhadi đã đi trước hai người và đặt gậy trên mặt cậu bé; nhưng không nghe thấy tiếng, không thấy động đậy. Anh ta quay lại đón ông Êlisa và nói: “Cậu bé đã không thức dậy.” Khi ông Êlisa tới nhà thì cậu bé đã chết trên giường của ông. Ông đi vào, đóng cửa lại, chỉ có hai người ở bên trong, rồi cầu nguyện với Đức Chúa. Sau đó, ông làm động tác “kỳ lạ” lắm: Ông lên giường nằm lên trên đứa trẻ, kề miệng ông trên miệng nó, kề mắt ông trên mắt nó, đặt bàn tay ông trên bàn tay nó. Ông cứ nằm trên đứa trẻ, và rồi da thịt nó dần nóng lên. Ông đi đi lại lại trong nhà, rồi lại lên nằm trên nó. Nó hắt hơi bảy lần và mở mắt ra. Thật kỳ diệu, cậu bé đã hồi sinh!

Ông Êlisa bảo Giêkhadi gọi ngừi mẹ. Đây là lần thứ ba nó làm theo lời ông Êlisa. Nó đi gọi bà. Bà đến. Ông nói: “Bà hãy đem con đi!” Bà đi vào, quỳ dưới chân ông, rồi sụp xuống đất lạy ông. Sau đó, bà bế con trai đi. Phép lạ nhãn tiền. Và chỉ có Thiên Chúa làm được như vậy!

Sau sự kiện lạ lùng này, chúng ta còn được biết thêm về vụ “nồi cháo độc” ở Ghin-gan. (x. 2 V 4:38-44) Quả thật, ông Êlisa là “người của Thiên Chúa” như phụ nữ Sunêm đã nói. Nồi cháo đầy độc tố hóa thành “nồi cháo ngon” vì mọi người ăn mà không chết. Chất độc kia lại là “gia vị” lạ lùng và ngon vô cùng!

Không hạnh phúc nào mà vắng bóng gian khổ, không thành công nào mà không có thất bại. Vinh quang có được là nhờ dày công khổ luyện. Đó là hệ lụy tất yếu. Ngôn sứ Isaia xác định: “Vì lòng mến Sion, tôi sẽ không nín lặng, vì lòng mến Giêrusalem, tôi nghỉ yên sao đành, tới ngày đức công chính xuất hiện tựa hừng đông, ơn cứu độ của thành rực lên như ngọn đuốc. Rồi muôn dân sẽ được chiêm ngưỡng đức công chính của ngươi, mọi đế vương sẽ được ngắm nhìn vinh quang ngươi tỏ rạng. Người ta sẽ gọi ngươi bằng tên mới, chính là tên miệng Đức Chúa đặt cho.” (Is 62:1-2) Tất cả gian khó đã qua, tủi nhục đã hết: “Ngươi sẽ là ngọc miện huy hoàng trong lòng bàn tay Đức Chúa, sẽ là mũ triều thiên vương giả Thiên Chúa ngươi cầm ở tay.” (Is 62:3)

Và từ nay, chẳng ai còn réo tên mà mỉa mai là “đồ bị ruồng bỏ” hoặc mang tiếng là “phận bạc duyên đơn,” nhưng được trìu mến gọi là “ái khanh,” là “duyên thắm chỉ hồng.” Tại sao? Vì được Đức Chúa đem lòng sủng ái và lập hôn ước. Hoàn toàn thuộc về Chúa, hạnh phúc biết bao! Kinh Thánh so sánh: “Như tài trai sánh duyên cùng thục nữ, Đấng tác tạo ngươi sẽ cưới ngươi về; như cô dâu là niềm vui cho chú rể, ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ.” (Is 62:5)

Đó cũng là hình bóng của chúng ta, những người đã được Đức Giêsu Kitô cứu chuộc bằng Giá Bửu Huyết vô giá của Ngài. Vì thế, chúng ta phải dành trọn cả cuộc đời mà nức tiếng xưng tụng Thiên Chúa, đồng thời còn phải mời gọi người khác cùng hợp lời tán dương.

Ngày xưa, Thánh Vịnh gia không thể cầm lòng nên đã phải thốt lên: “Hãy đến đây ta reo hò mừng Chúa, tung hô Người là Núi Đá độ trì ta, vào trước Thánh Nhan dâng lời cảm tạ, cùng tung hô theo điệu hát cung đàn. Bởi Đức Chúa là Chúa Trời cao cả, là Đại Vương trổi vượt chư thần. Bởi chính Người là Thiên Chúa ta thờ, còn ta là dân Người lãnh đạo, là đoàn chiên tay Người dẫn dắt. Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa!” (Tv 95:1-3) Nhưng chúng ta cứ nói rồi thôi, hứa rồi quên. Bản chất phàm nhân là thế, và hầu như ai cũng có máu của dòng tộc “họ hứa.”

Thiên Chúa biết rõ như vậy nhưng Ngài vẫn làm thinh, chờ chúng ta sám hối. Ngày xưa, chính Ngài đã cảnh cáo dân, và ngày nay Ngài cũng đang cảnh báo đối với mỗi chúng ta: “Các ngươi chớ cứng lòng như tại Mơriva, như ngày ở Maxa trong sa mạc, nơi tổ phụ các ngươi đã từng thách thức và dám thử thách Ta, dù đã thấy những việc Ta làm. Suốt bốn mươi năm, dòng giống này làm Ta chán ngán.” (Tv 95:8-10)

Có nhiều đặc sủng nhưng chỉ xuất phát từ một gốc là Thiên Chúa. Ngôn sứ Gioan Tẩy Giả đã minh định: “Chẳng ai có thể nhận được gì mà không do Trời ban.” (Ga 3:27) Đó là chân lý muôn thuở, bất biến. Thánh Phaolô phân tích: “Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người. Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung.” (1 Cr 12:4-7)

Để rõ ràng hơn, Thánh Phaolô lý giải: “Người thì được Thần Khí ban cho ơn khôn ngoan để giảng dạy, người thì được Thần Khí ban cho ơn hiểu biết để trình bày. Kẻ thì được Thần Khí ban cho lòng tin; kẻ thì cũng được chính Thần Khí duy nhất ấy ban cho những đặc sủng để chữa bệnh. Người thì được ơn làm phép lạ, người thì được ơn nói tiên tri; kẻ thì được ơn phân định thần khí; kẻ khác thì được ơn nói các thứ tiếng lạ; kẻ khác nữa lại được ơn giải thích các tiếng lạ. Nhưng chính Thần Khí duy nhất ấy làm ra tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách, tuỳ theo ý của Người.” (1 Cr 12:8-11) Người khác thế nọ, bạn thế kia, còn tôi thế này. Không ai giống ai. Đừng tưởng tôi “ngon” hơn người mà khoe mẽ, vênh vang tự đắc. Được ơn mà không làm vinh danh Chúa và không sinh lợi thì còn khốn hơn người khác. Sự khác nhau không phải để khen chê nhau, mà là để bổ túc lẫn nhau, đặc biệt là để nâng đỡ nhau.

Sự kiện tiệc cưới tại Cana (Ga 2:1-12) là trình thuật Tin Mừng rất quen thuộc. Qua đó, chúng ta thấy Đức Mẹ rất tinh tế đối với người khác, đặc biệt là tình huống khó xử của đôi tân hôn. Rượu cũng là vấn đề quan trọng với ý nghĩa “men tình yêu” trong đời sống hôn nhân gia đình.

Hôm đó, Đức Mẹ và Đức Giêsu cùng với các môn đệ được mời dự một tiệc cưới tại Cana, miền Galilê. Tiệc vui đang lúc cao trào thì có “sự cố” ngoài dự tính của gia chủ: Hết rượu. Đức Mẹ rất tinh ý nên biết gia chủ đang khó xử vì thiếu rượu. Hiểu ý, Đức Mẹ nói nhỏ với Đức Giêsu: “Họ hết rượu rồi.” Thế nhưng Đức Giêsu lại thản nhiên: “Mẹ ơi, chuyện đó can gì đến Mẹ và Con? Giờ của Con chưa đến.” Mặc dù nghe Con Trai nói vậy, Đức Mẹ vẫn nói với gia nhân: “Hễ Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Đức Mẹ biết rõ Chúa Giêsu sẽ hành động, và Đức Mẹ cũng biết mình làm điều hợp lý.

Ở đó có sáu chum đá dùng vào việc thanh tẩy theo tục lệ Do Thái, mỗi chum chứa được khoảng 80 – 120 lít nước. Tính đổ đồng mỗi chum chứa 100 lít nước, vậy là 600 lít. Người ta có uống nhiều lắm thì cũng chỉ trăm lít thôi. Hết rượu hóa thành còn rượu, thậm chí là thừa rượu.

Người ta đổ đầy nước vào các chum theo lời Chúa Giêsu nói, vì đã được Đức Maria dặn trước rồi. Họ đổ nước vào các chum rồi, Ngài bảo họ múc và đem cho ông quản tiệc. Ông này nếm thử thì thấy rượu hảo hạng mà không biết từ đâu ra mà nhanh và ngon như vậy. Người quản tiệc nói với tân lang: “Ai cũng thết rượu ngon trước, và khi khách đã ngà ngà mới đãi rượu xoàng hơn. Còn anh, anh lại giữ rượu ngon mãi cho đến bây giờ.” Chú rể cũng ngạc nhiên vì không hiểu gì, cười trừ thôi. Chắc chắn chú rể là người hạnh phúc nhất, gấp không thể diễn tả bằng lời.

Rượu hết lại có. Tình yêu hôn nhân gia đình cũng vậy. Cuộc sống khó khăn có thể làm cho tình yêu cằn cỗi, khô dần, nhưng không thể cạn kiệt. Tình yêu là chất men làm dậy men cả thúng bột hôn nhân và thúng bột gia đình. Chỉ cần có chút men tình yêu thì phép lạ sẽ xảy ra. Thiên Chúa không muốn hành động một mình, Ngài muốn con người cộng tác với Ngài để cùng xây dựng tổ ấm như Thiên Đàng ngay trên trần gian này vậy. Rượu tình càng ngon thì hôn nhân và gia đình càng say đắm trong Đức Giêsu Kitô, Đấng là tình yêu – như Thánh Gioan đã định nghĩa. (1 Ga 4:8 và 16)

Thánh Gioan cho biết rằng phép lạ tại tiệc cưới Cana là dấu lạ đầu tiên Đức Giêsu đã thực hiện khi công khai sứ vụ. Cana chỉ là ngôi làng nhỏ bé nhưng đã được nhiều người biết đến, bởi vì được Chúa Giêsu chọn làm nơi vinh danh Thiên Chúa. Thấy dấu lạ nhãn tiền, các môn đệ đã tin vào Ngài và can đảm đi theo Ngài tới cùng.

Lạy Thiên Chúa từ bi nhân hậu, xin tạo men yêu nơi chúng con để chúng con luôn tin yêu Ngài qua tha nhân, đủ sức vượt qua mọi nghịch cảnh. Xin giúp chúng con biết đồng cảm với mọi người như Đức Mẹ đã thể hiện. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. mục lục

Thomas Aq. Trầm Thiên Thu

ĐỨC MẸ và TIỆC CƯỚI CANA

Hãy tưởng tượng bạn đang có mặt tại Cana, cùng dự tiệc cưới với Chúa Giêsu, Đức Mẹ và các Tông đồ.

Khung cảnh nhộn nhịp, vui mừng, và an bình như bạn cảm thấy tại các đám cưới. Đôi tân hôn yêu thương nhau, hy vọng và cầu nguyện cho tương lai lứa đôi. Họ biết Đức Mẹ, Chúa Giêsu, và một số môn đệ của Chúa Giêsu, chúng ta có thể tưởng tượng họ đang ở đó để chia sẻ niềm vui với chú rể và cô dâu.

Tiệc cưới đang vui thì có vấn đề. Rượu là thứ quan trọng trong tiệc cưới, nhưng rượu không đủ vì lý do nào đó. Điều này thực sự gây lúng túng cho những người đến dự tiệc, rất khó xử đối với đôi tân hôn và nhà đám.

Biết rõ tình huống bất ngờ như vậy, Đức Mẹ đã giúp đỡ họ. Đức Mẹ muốn mọi người vui vẻ và hạnh phúc nên đã bảo toàn niềm vui cho họ. Đức Mẹ quay sang Chúa Giêsu và nói rằng họ không còn rượu nữa. Chúa Giêsu nói rằng giờ của Ngài chưa đến. Đức Mẹ và Chúa Giêsu kết hợp mọi lúc và trong mọi trường hợp, kết hợp cả con tim và tâm hồn. Rồi Đức Mẹ lặng lẽ đi căn dặn những người phục vụ: “Con Trai tôi bảo gì thì cứ làm theo nhé!” Chúng ta có thể nói rằng lời nói của Đức Mẹ chứa đựng lời khuyên tốt nhất trong thế giới này. Đức Mẹ nói với những người phục vụ cũng như nói với thế giới rằng HÃY VÂNG LỜI CHÚA GIÊSU TRONG MỌI SỰ!

Phép lạ thứ nhất này rất có ý nghĩa đối với mỗi chúng ta. Nhờ Đức Mẹ nguyện giúp cầu thay, Chúa Giêsu đã làm phép lạ công khai tại tiệc cưới Cana, ngăn chặn tình huống khó xử ngay trong ngày cưới của đôi trẻ.

Các Tông đồ đã chứng kiến phép lạ này, nhờ đó họ tăng thêm niềm tin vào Chúa Giêsu. Chúng ta cũng hãy đi sâu vào phép lạ này của Chúa Giêsu, nhờ lời chuyển cầu của Đức Mẹ, và cũng hãy để Thiên Chúa nói với chúng ta trong tâm trí và linh hồn của chúng ta.

Hãy cầu xin ơn nhận biết Chúa Giêsu, yêu mến Ngài và theo Ngài qua sự hiện diện và cầu bầu của Đức Mẹ, Thánh Mẫu Thiên Chúa. Đây là 5 điều kỳ diệu:

1. ĐỨC MẸ DẪN CHÚNG TA TỚI CHÚA GIÊSU

Bài học rõ ràng chúng ta học được tại tiệc cưới Cana: Đức Mẹ dẫn chúng ta tới gặp Chúa Giêsu. Không bao giờ có ai gần gũi Chúa Giêsu bằng Đức Mẹ. Do đó, nếu muốn đến gần Chúa Giêsu để biết Ngài hơn, yêu mến Ngài hơn và theo sát Ngài hơn, chúng ta nên nhờ Đức Mẹ. Hãy nói với Đức Mẹ với lòng yêu mến và tin tưởng, cầu xin Đức Mẹ ban ơn nhận biết Chúa Giêsu nhiều hơn. Đức Mẹ đã giúp đỡ và hướng dẫn người khác nghe lời Chúa Giêsu để họ có thể tiếp tục tận hưởng niềm vui ngày cưới.

2. ĐỨC MẸ TRAO NIỀM VUI CHO CHÚNG TA

Tiệc cưới là dịp vui mừng và Đức Mẹ có mặt ở đó. Đức Mẹ cũng muốn bạn vui sống cuộc đời này và mãi mãi vui sống trên Nước Trời. Niềm vui đích thực nhờ biết chia sẻ cuộc sống với Chúa Giêsu và Đức Mẹ. Mọi người trên thế giới này đều muốn hạnh phúc, nhưng nhiều người không hạnh phúc bởi vì họ tìm kiếm hạnh phúc không đúng chỗ – thường là trong tội lỗi, xa cách Chúa Giêsu và Đức Mẹ.

3. ĐỨC MẸ GIÚP CHÚNG TA GIẢI QUYẾT KHÓ KHĂN

Tại tiệc cưới Cana đã xảy ra vấn đề căng thẳng: hết rượu. Nhờ sự can thiệp của Đức Mẹ mà vấn đề được giải quyết dễ dàng và mau chóng. Cuộc sống của chúng ta cũng đầy những kkhn, từ đầu cho đến cuối. Chúng ta thường cố gắng tự giải quyết các vấn đề của mình, nhưng vấn đề càng tồi tệ hơn, và chúng ta càng rối trí hơn.

Một trong các tước hiệu của Đức Mẹ là Người Gỡ Rối (Undoer of Knots). Các “nút thắt” ở đây là các vấn nạn của chúng ta. Ai cũng có những cái rắc rối của cuộc đời. Đức Mẹ có thể giúp chúng ta, Đức Mẹ rất muốn giúp chúng ta, nhưng Đức Mẹ còn chờ chúng ta cầu xin Mẹ. Chúng ta có những điều rắc rối nào? Nhiều lắm! Một số có thể là của chính mình: rắc rối với cha mẹ, rắc rối với anh chị em, rắc rối với bạn bè, rắc rối với hàng xóm, rắc rối về sức khỏe, rắc rối về tiền bạc, rắc rối về công việc,... Hãy kiểm tra và cầu xin Đức Mẹ gỡ rối “nút to nhất” mà bạn đang cố gắng xử lý nó. Hãy nói với Đức Mẹ về điều đó. Nhờ Đức Mẹ can thiệp, Chúa Giêsu đã biến nước thành rượu tại tiệc cưới Cana. Đức Mẹ cũng sẽ can thiệp giúp chúng ta trước khi Chúa Giêsu biến nước (sự khó khăn của chúng ta) thành rượu (giải quyết vấn đề).

4. PHÉP LẠ CÓ THỂ XẢY RA

Đây là phép lạ đầu tiên được Chúa Giêsu làm qua lời cầu xin và sự hiện diện của Đức Mẹ. Chính nhờ phép lạ này, các tông đồ được củng cố niềm tin vào Chúa Giêsu. Hãy cầu xin Đức Mẹ củng cố đức tin của chúng ta. Tin hay không tin là chấp nhận hay từ chối điều mình không nhìn thấy. Hãy cầu nguyện để đức tin gia tăng hàng ngày và không bị mất niềm tin. Hãy xin ơn biết chia sẻ đức tin với người khác – những người lung lay đức tin, mất đức tin, hoặc chưa có đức tin. Một trong cách tốt để duy trì và phát triển đức tin là chia sẻ đức tin với người khác.

5. THỜI GIAN TÌM HIỂU VÀ HÔN NHÂN

Phép lạ này xảy ra trong bối cảnh đám cưới. Cơ hội tốt là khi bạn được mời gọi sống đời hôn nhân. Nếu bạn có ơn gọi hôn nhân, rất quan trọng để bạn cầu xin Chúa giúp bạn chọn đúng người có thể chia sẻ cuộc sống và cùng nhau tiến vào Nước Trời. Đó là quyết định rất quan trọng cho cả cuộc đời bạn. Hãy tưởng tượng bạn đang ngồi đối diện với Chúa Giêsu và Đức Mẹ tại tiệc cưới tuyệt vời này. Hãy ngắm nhìn đôi mắt, khuôn mặt, nét đẹp của Chúa Giêsu và Đức Mẹ. Hãy cầu xin các Ngài ban ơn nhận biết ơn gọi của bạn trong cuộc đời này và trung thành với ơn gọi đó cho đến hơi thở cuối cùng, và bình an tiến về Quê Trời. mục lục

Lm. Ed Broom, OMV - https://catholicexchange.com

Thomas Aq. Trầm Thiên Thu chuyển ngữ

RƯỢU TÌNH YÊU

Chẳng phải chỉ có riêng dân An-Nam nhà mình cảm thấy nhục nhã và xấu hổ, bẽ mặt với bà con lối xóm, với họ hàng thân thích, với bạn bè…mỗi khi đãi tiệc mà lại bị thiếu hụt thức ăn đồ uống đâu! Dân Á Đông nói chung và đặc biệt là dân Do Thái đều như vậy cả! Đối với họ, thiếu rượu, thiếu thịt trong những bữa tiệc cưới là một điều tối kị, bởi vì đó là một điều xấu hổ, nhục nhã cho cả cô dâu, chú rể và cho cả họ hàng đôi bên nữa.

Bây giờ! Giả như trong bữa tiệc cưới của bạn, bữa tiệc đang được tổ chức tại nhà, bị lâm vào tình trạng bị thiếu rượu, thiếu thức ăn, đồ uống…thì bạn sẽ phải làm gì và xoay sở ra sao? Tôi nghĩ bạn chẳng làm gì được cả, vô phương! Chỉ còn mỗi một cách là nhờ ai đó nhanh chân, lẹ tay, giỏi ngoại giao để họ bằng mọi giá, và bằng mọi cách cấp tốc đi mua cho bằng được thức ăn, rượu bia về để khỏi bị…mất mặt, mang tai, mang tiếng, mất danh dự…với thực khách mà thôi! Đúng không?

Trường hợp của đám cưới ở Cana ngày xưa cũng vậy! Họ cũng tái xanh mặt mũi và hoảng hồn hoảng vía khi phát hiện ra rượu bia bị thiếu. Thế nhưng nhờ họ đã mời Đức Mẹ, Chúa Giê-su và các môn đệ của Chúa đến dự tiệc cưới của họ, cho nên khi họ lâm nạn, khi bị thiếu rượu, họ đã được các Ngài ghé mắt nhìn đến và ra tay cứu giúp.

Chuyện gì sẽ xảy ra nếu như chú rể và cô dâu không mời Đức Mẹ, không mời Chúa Giê-su và các môn đệ tới dự tiệc cưới? Chắc chắn, họ sẽ bị hàng xóm chê cười, và tai tiếng sẽ để đời chứ chẳng chơi, vì cái chuyện thiếu rượu!

Có bao giờ bạn lâm vào tình cảnh bị THIẾU RƯỢU giống như cô dâu chú rể ở Cana hay không? Tôi nghĩ không ít thì nhiều, gia đình của bạn và gia đình của tôi cũng đã, và đang bị THIẾU RUỢU đấy! Ví dụ:

• Khi trẻ với già, khi bề trên với bề dưới xung khắc với nhau, thiếu quan tâm đến nhau, thiếu lịch sự với nhau, thiếu tế nhị với nhau, thiếu bác ái với nhau… thì lúc ấy người ta đang lâm vào cảnh THIẾU RƯỢU YÊU THƯƠNG!

• Khi chồng với vợ, khi cha mẹ với con cái, khi linh mục, tu sĩ với giáo dân… thiếu sự kính trọng lẫn nhau, thiếu sự nâng đỡ, thông cảm và tha thứ cho nhau thì lúc đó, họ đang bị THIẾU RƯỢU THƯƠNG YÊU rồi!

• Khi chồng thất tín với vợ, khi vợ thất tiết cùng chồng, khi ông ăn chả bà ăn nem, khi vợ chồng ăn nói đốp chát, mạt sát, xỉ vả, thượng cảng chân, hạ cẳng tay với nhau…thì rõ như ban ngày, đó là dấu chỉ của THIẾU RƯỢU TÌNH YÊU một cách nghiêm trọng!

Bạn thân mến, nếu hôm nay bạn và tôi nhận ra rằng gia đình hay dòng tu của chúng mình đang lâm vào tình trạng bất an, bối rối, túng quẫn và nguy hiểm bởi vì đang THIẾU RƯỢU TÌNH YÊU thì bạn và tôi hãy mau mau bắt chước sự khôn ngoan của cô dâu và chú rể ở Cana:

• Hãy mời Đức Mẹ, Chúa Giê-su và các môn đệ đến gia đình của chúng mình. Có Chúa, có Mẹ, có các thánh tông đồ ở trong nhà chúng mình là bảo đảm RƯỢU TÌNH YÊU sẽ không bao giờ cạn và không bao giờ bị thiếu hụt cả.

• Khi phát hiện ra THIẾU RƯỢU trong gia đình thì chúng mình hãy chạy ngay đến thưa với Đức Mẹ, qua những tràng Chuỗi Mân Côi, qua những tuần Cửu Nhật, hãy thưa rằng: “RƯỢU YÊU THƯƠNG của chúng con đang bị thiếu, đang bị bốc hơi hết tron rồi Mẹ ơi! Xin Mẹ nói dùm với Con của Mẹ để Ngài làm phép lạ giúp chúng con mau đi!”

• Xin hãy LẮNG NGHE & THI HÀNH những lời Chúa Giê-su chỉ dạy: “Người bảo gì, chúng con cứ việc làm theo” (Ga 2:5) qua việc ĐỌC, SUY NIỆM & HỌC HỎI Lời Chúa thường xuyên..

Bạn đừng bao giờ quên nếu không có Thầy, các con không làm được gì cả! (Ga 15:5). Sự hiện diện của Chúa Giê-su, Đức Mẹ và các thánh tông đồ ở trong gia đình của chúng mình vô cùng cần thiết và cực kỳ quan trọng. Hãy bắt chước đôi vợ chồng mới cưới ở Cana, ngay từ hôm nay, làm hết sức có thể để mời cho bằng được thân mẫu Đức Giê-su. Đức Giê-su và các môn đệ” (Ga 2:1- 2) đến nhà và ở lại với chúng mình; hãy mạnh dạn mở miệng cầu xin với Chúa qua Đức Mẹ và chịu khó kiên nhẫn lắng nghe cũng như thực hành Lời của Chúa thì bảo đảm là tất cả mọi sự lo âu, bồn chồn, bất an, đau khổ, tủi nhục, bất hòa…sẽ không có cơ hội len lỏi vào trong gia đình của chúng mình nữa đâu!

Có sự hiện diện của Chúa và Mẹ trong gia đình mình thì RƯỢU TÌNH YÊU sẽ không bao giờ thiếu, chẳng khi nào cạn được! Bạn tin không? Tùy bạn!

Cầu chúc bạn và gia đình bạn được bình an và không bao giờ thiếu rượu yêu thương. Xin Chúa che chở và gìn giữ bạn và những người thân của bạn khỏi những nguy hiểm của dịch bệnh. mục lục

Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

HÔN ƯỚC

Trên thế gian và trong thế giới loài người, không có giao ước nào lãng mạn nhưng sâu sắc; thiết thân, gần gũi, nhưng cao qúy, tuyệt vời; chân chất, giản dị nhưng mầu nhiệm, thần thánh bằng giao ước hôn nhân, khế ước tình yêu giữa người nam và người nữ thề nguyền nhận nhau làm vợ chồng và đoan hứa  chung thủy, trung thành sống chết với nhau đến hết cuộc đời.

Để diễn tả tình yêu chung thủy, cũng là tình yêu vô cùng và đến cùng của Thiên Chúa đối với con người, Đức Giêsu đã chọn tiệc cưới ở làng Cana để làm phép lạ đầu tiên cho sáu chum nước hoá thành rượu ngon, khi tiệc cưới hết rượu đang lúc sôi nổi, rộn rã.

Khi chọn tiệc cưới Cana để ra mắt quần chúng như Đấng Cứu Thế, nhất là để các môn đệ tin vào Ngài, Đức Giêsu đã muốn tỏ cho mọi người liên đới thiết thân, tình nghiã son sắt, và tương quan bất khả phân ly  giữa Thiên Chúa và con người  được đóng ấn bởi Giao Ước Tình Yêu giữa Thiên Chúa và con người  được Cựu Ước loan báo hàng ngàn năm trước: “Chẳng ai còn réo tên ngươi : “Đồ bị ruồng bỏ!” Xứ sở ngươi hết bị tiếng  là “Phận bạc duyên đơn”. Nhưng ngươi được gọi: “Ái khanh lòng Ta hỡi!” Xứ sở ngươi nức tiếng là “Duyên thắm chỉ hồng”. Vì ngươi sẽ được Đức Chúa đem lòng sủng ái, và Chúa lập hôn ước cùng xứ sở ngươi. Như tài trai sánh duyên cùng thục nữ, Đấng tác tạo ngươi sẽ cưới ngươi về. Như cô dâu là niềm vui cho chú rể, ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ” (Is 62,4-5).

Khi chọn hôn lễ Cana để làm phép lạ đầu tiên đem đến niềm vui trọn vẹn và viên mãn cho cô dâu chú rể và hai họ, Đức Giêsu đã tỏ cho chúng ta: chính Ngài là Đấng  gìn giữ Giao Ước yêu thương giữa chúng ta với Thiên Chúa; chính Ngài làm cho cuộc tình chung thủy của chúng ta với Thiên Chúa mãi là niềm vui vô tận; cũng chính Ngài là Đấng bảo đảm hạnh phúc đời đời, và sự sống vĩnh cửu của Hôn Ước giữa chúng ta với Thiên Chúa, không chỉ qua chén rượu của ngày cưới, mà còn qua chén máu cứu độ của Ngài sẽ đổ ra cho mọi người được tha tội là điều kiện tất yếu để được sống hạnh phúc trong Thiên Chúa (x. Lc 22,20).

Nhưng điều quan trọng Đức Giêsu muốn mặc khải cho chúng ta, những người đi theo Ngài, đó là chúng ta phải cởi bỏ con người cũ, từ bỏ nếp sống cũ, bỏ lại sau lưng lề luật cũ là “những chum nước lã” nhạt nhẽo, vô vị chỉ dùng để thanh tẩy bên ngoài, mà không đụng chạm được tâm hồn bên trong; chỉ rửa sạch  tay chân, mà không rửa được trái tim, linh hồn, trong khi “rượu ngon” như dấu chỉ của tình yêu nồng nàn, như dấu ấn của tình yêu chung thủy, như biểu chứng của niềm vui dạt dào sâu lắng, như biểu tượng của dấu ái hiến dâng, mà Ngài tha thiết  mời gọi chúng ta trở nên mỗi ngày trong tương quan với Ngài.

Và để trở nên xứng đáng hơn mỗi ngày với Hôn Ước tình yêu đã ký kết với Thiên Chúa, chúng ta không được mời gọi làm gì khác hơn là “cứ việc  làm theo những gì Đức Giêsu bảo”, như  Đức Mẹ đã căn dặn gia nhân: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga 2,5).

Cứ việc làm theo những gì Ngài bảo với tình yêu tín thác, như tân lang và giai nhân, vì tin và yêu nhau đã không từ chối nhau điều gì vì mong ước hạnh phúc cho nhau, và muốn làm vui lòng nhau, chúng ta sẽ được Chúa “xóa bỏ hết lỗi lầm, ban cho một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho nên chung thủy, và tràn đầy niềm vui được Ngài thương yêu, cứu độ” (x. Tv 50,11.12.14). mục lục

Jorathe Nắng Tím

HẠNH PHÚC CỦA HÔN NHÂN CÔNG GIÁO - NHỜ ĐÂU?

Từ ngàn xưa, trong quan niệm của dân Chúa, Đức Chúa mà họ tôn thờ phải là Đấng cao cả vô song, Đấng mà con người không thể đến gần, không thể diện đối diện, không thể sống sót nếu Ngài không cho phép.

1. Chúa Giêsu, hình tượng Thiên Chúa giữa loài người.

Từ ngàn xưa, con người chỉ có thể nhìn thấy Thiên Chúa từ phía sau, bởi: "Ngươi không thể xem thấy tôn nhan Ta, vì con người không thể thấy Ta mà vẫn sống". Hoặc uy quyền dữ dội của Thiên Chúa có thể nhận thấy ngay trước mắt: "Ông Utda giơ tay ra về phía Hòm Bia Thiên Chúa và giữ lại, vì bò trượt chân. Đức Chúa nổi cơn thịnh nộ với ông Utda, và Thiên Chúa đánh phạt ông tại chỗ vì lầm lỗi đó. Ông chết tại đó, bên Hòm Bia Thiên Chúa" (2Sm 6, 6).

Vậy mà hôm nay, Chúa Giêsu, Đấng vừa là Thiên Chúa, vừa đại diện cho Thiên Chúa, lại có thể đến và tham dự ở một đám cưới. Đó là hình ảnh vô cùng mới mẻ, xem ra có phần táo bạo. 

Tuy nhiên, đó cũng là một diễn tả mới mẻ về vẻ đẹp của tình yêu mà Thiên Chúa trao tặng loài người: Thiên Chúa chấp nhận đồng hóa mình với loài người. Qua sự hiện diện đầy gần gũi, một sự hiện diện bất chấp mọi ràng buộc, bất chấp mọi ranh giới, Thiên Chúa cho thấy, Ngài là Đấng không hề xa cách nhưng dấn thân nơi mọi biến cố vui buồn của cuộc sống. Vì tình yêu xóa mọi khoảng cách ấy, qua đám cưới làng Cana, Thiên Chúa nâng hôn nhân lên hàng bí tích. Ngài chính thức ban phúc lành và thánh hóa mọi mối dây hôn nhân của loài người.

Với hình ảnh Chúa Giêsu hiện diện giữa loài người, Thiên Chúa thực sự bước vào đời sống trần thế. Thiên Chúa trở nên gần gũi và cảm thông cho thân phận mỏng giòn của chúng ta. Thiên Chúa không vô cảm đứng bên ngoài quan sát, nhưng đã nên một trong chúng ta.

2. Người Nữ bảo vệ hôn nhân Công giáo.

Tôi biết Ông Bà Cố từ lâu lắm. Ông Bà nay đã tám mươi và ngoài tám mươi. Ông Bà có năm người con, thì người con cả và con út đã là linh mục. Vì hoàn cảnh, ba người con còn lại đều ở riêng. Dù đông con, Ông Bà trở nên côi cút trong căn nhà của mình. 

Chỉ có các giờ lễ, giờ kinh nguyện làm niềm vui của tuổi già. Nơi Ông Bà làm góc cầu nguyện, luôn luôn có tượng Đức Mẹ Phatima. Trong các giờ kinh nguyện, không thể thiếu việc lần chuỗi Mân côi và bên cạnh tượng Đức Mẹ là cây nến sáng lung linh. 

Khi còn khỏe, Ông Bà phải lặn lội, bươn chải, buôn bán ở chợ để có thể nuôi các con ăn học, vì thế cũng chẳng có nhiều thời gian bên cạnh các con. Đàng khác, Ông Bà không phải là người có nhiều kiến thức, chắc chắn việc giáo dục các con cũng không thể tròn trịa, đầy đặn.

Nhưng cho đến hiện tại, các con của Ông Bà đều thành nhân, thành thân. Trong những lần thăm và chuyện trò, tôi thấy nơi Ông Bà toát lên niềm hạnh phúc của hoàng hôn đời người. 

Vì đâu sự thành công đến với Ông Bà và gia đình Ông Bà? Hoàn toàn không hề do tiền của hay quyền thế ở đời này. Bởi Ông Bà hoàn toàn thiếu thốn những điều ấy.

Chắc chắn ngoài sự nỗ lực để sống trọn ơn gọi hôn nhân, sống trọn lề luật của Chúa và Hội Thánh, sống chuyên chăm không một phút giây lơ lỏng trong cầu nguyện, hình ảnh của Mẹ Thiên Chúa không bao giờ thiếu vắng.

Trong trình thuật của mình, thánh Gioan cho thấy Đức Mẹ chỉ nói có hai câu: “Họ hết rượu rồi” với Chúa Giêsu và “Hễ Người bảo gì, thì phải làm theo” với các gia nhân, nhưng là hai câu cần thiết vô cùng, quan trọng vô cùng, đúng thời điểm vô cùng. 

Có thể nói mà không sợ nói ngoa rằng: Vì Đức Mẹ, bữa tiệc tiếp tục, niềm vui tiếp tục, hạnh phúc của lứa đôi tiếp tục. 

Quan trọng trên hết mọi điều quan trọng: Vì Đức Mẹ, phúc lành của Chúa trên đời sống hôn nhân càng chan chứa, càng tràn đầy. Phúc lành đó không dừng cho ngôi nhà và đôi tân hôn của làng Cana ngày ấy rồi thôi, nhưng tiếp tục sống và triển nở trong mọi hôn nhân, mọi ngôi nhà qua mọi thời đại, nếu mọi con người trong từng ngôi nhà, từng mối dây hôn nhân biết trân trọng, biết giữ gìn.

Mặt khác, thánh ý Chúa muốn ngày thành lập BÍ TÍCH HÔN NHÂN có sự hiện diện và chuyển cầu của Đức Mẹ, càng cho thấy chỗ đứng của Đức Mẹ trong đời hôn nhân và gia đình của nhân loại: CHÚA ĐẶT ĐỨC MẸ LÀM NGƯỜI GÌN GIỮ VÀ BẢO VỆ HÔN NHÂN CÔNG GIÁO.

Chúa biết không gia đình nào là không đối diện cùng thử thách. Chúa biết, thánh giá mà gia đình của Chúa xưa phải chấp nhận, cũng sẽ là thánh giá của mọi gia đình. Vì thế, Chúa đặt Đức Mẹ làm bổn mạng của mọi gia đình. 

Hãy luôn níu lấy Đức Mẹ. Hãy để Đức Mẹ giáo dục, hãy theo học ngôi trường của Đức Mẹ, hãy ghi nhớ luôn luôn lời Đức Mẹ dạy: “Người bảo gì, thì phải làm theo”, nhờ đó, gia đình sẽ luôn thấm đẫm tình yêu của Chúa và tràn ngập lòng thương yêu dành cho nhau. mục lục

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

CANA DIỆU KỲ

[Niệm ý Ga 2:1-12]

Ca-na tiệc cưới lạ lùng
Buồn hóa ra mừng nhờ Chúa Giê-su
Cũng nhờ Mẹ Ma-ri-a
Cầu thay nguyện giúp những khi rối bời
Đẹp thay Đức Mẹ mỉm cười
Chúa liền hóa phép giúp người ta ngay
Cuộc đời lắm lúc khó xoay
Cầu xin Đức Mẹ ra tay giúp liền. mục lục

Viễn Dzu Tử

PHÉP LẠ ĐẦU TIÊN TẠI CANA

(Cảm nhận và suy niệm Ga 2,1-12)

Chúa và Mẹ tham gia tiệc cưới
Tại Cana cùng với môn đồ
Xảy ra một chuyện bất ngờ
Nửa chừng tiệc cưới rượu nho hết rồi.
Ý Mẹ muốn Ngôi Lời rạng vẻ
Chúa bỏ qua, nhưng Mẹ ép nài
Gọi người giúp việc tới ngay
Chúa đành ra lệnh chất đầy sáu chum.
Chúa lại bảo ngôi trùm giúp việc
Múc rượu đưa quản tiệc tiếp tân
Bất ngờ, quản tiệc phân vân
Rượu ngon sao để cuối phần tiệc vui ???
Thánh sử chép: đây là “dấu lạ”
Lần đầu tiên Chúa đã thực thi
Vâng theo ý Mẹ từ bi
Dạy người môn đệ kiên trì tín trung. mục lục

(Thế Kiên Dominic)

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan