Tại sao người Công giáo quỳ gối khi Kinh Tin Kính vào ngày 25 tháng 3?

21-03-2022 192 lượt xem

Giáo hội Công giáo Rôma hướng dẫn các tín hữu quỳ gối trong Kinh Tin kính vào ngày lễ Truyền tin, ngày 25 tháng Ba.

Trước Công đồng Vatican II, mọi người đều phải quỳ gối khi đọc Kinh Tin kính trong thánh lễ. Việc này diễn ra không chỉ ngày 25 tháng 3, mà còn vào các ngày Chúa nhật và lễ trọng.

Những năm sau Công đồng, Giáo hội nới rộng luật lệ, nhưng vẫn phải cúi mình sâu khi đọc Kinh Tin kính, cũng như quỳ gối vào hai ngày của lịch phụng vụ.

Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma giải thích ngắn gọn về việc này.

Kinh Tin Kính phải do vị tư tế hát hay đọc chung với giáo dân (số 68), mọi người đứng. Khi tới câu: "Bởi phép Chúa Thánh Thần..", mọi người đều cúi mình sâu; nhưng trong lễ Truyền Tin và lễ Giáng Sinh, thì mọi người quỳ gối” (số 137).

Thói quen cúi mình trước những lời trên khiến chúng ta nghĩ đến việc Nhập thể, nó thể hiện lòng tôn kính đối với mầu nhiệm Thiên Chúa mặc lấy xác phàm.

Tuy nhiên, Giáo hội muốn nhấn mạnh mầu nhiệm này hơn nữa vào hai ngày của lịch phụng vụ [Truyền Tin và lễ Giáng Sinh ] nhằm hướng về biến cố lịch sử đó.

Biểu tượng quỳ gối

Về mặt lịch sử, hành động bái gối xuất phát từ nghi thức hoàng gia, thời trung cổ, và được thực hiện khi một vị vua hay người thuộc giới quý tộc hiện diện. Đó là dấu chỉ của sự tôn trọng cũng như cam kết phục vụ.

Qua thời gian, Kitô giáo đã áp dụng phong tục này và đưa nó vào phụng vụ theo nghi lễ Rôma vào thế kỷ 16. Đầu gối bên trái luôn được dùng để bày tỏ sự tôn kính đối với vị vua, và do đó để phân biệt với cách dùng theo phong tục của kitô giáo, trong nhà thờ các tín hữu sẽ bái bằng gối phải trước mặt Thiên Chúa.

Quỳ gối khi đọc Kinh Tin kính, người Công giáo thực hiện một hành vi chạm đất, nhắc nhở họ về thực tại của mầu nhiệm Nhập thể, nơi đó Thiên Chúa “đã xuống thế” và đã bước đi giữa chúng ta.

Quỳ gối là một thực tại nhắc nhở về chân lý thiêng liêng, đánh thức tâm hồn chúng ta qua những lời mà chúng ta đang nói trong Thánh lễ.

Philip Kosloski - https://aleteia.org

G. Võ Tá Hoàng chuyển ngữ - WQN

Tại sao từ “Amen” không được đọc sau Kinh Lạy Cha trong Thánh Lễ?

Nếu lời nguyện kết thúc bằng từ “Amen” là đúng thì tại sao nó không xảy ra với Kinh Lạy Cha trong Thánh Lễ?

Từ "Amen", một trong những ngữ vựng được người kitô hữu dùng nhiều nhất, và thật sự khó để dịch cho sát ý của nó (đây là lý do tại sao nó được giữ nguyên ngữ bằng tiếng Do Thái), và luôn được sử dụng trong mối liên hệ với Thiên Chúa.

Khi đọc từ này, nghĩa là tuyên bố rằng những gì vừa nói được xem là chân thực, nhằm xác nhận một mệnh đề và kết hợp với nó hay với một lời nguyện.

Vì vậy, khi từ Amen được diễn ra nơi một nhóm trong bối cảnh phụng thờ thiêng liêng hoặc cử hành tôn giáo cũng có nghĩa là đồng ý với những gì đã nói.

Trong kinh nguyện

Từ "Amen" được dùng để kết thúc lời cầu nguyện, nhưng là lời cầu nguyện đặc biệt. Kinh Lạy Cha, khi được đọc trong Thánh Lễ không đi kèm với từ "Amen" ở cuối kinh. Tuy nhiên, ngoài Thánh Lễ từ "Amen" được đọc bình thường.

Cần nhấn mạnh rằng Kinh Lạy Cha là kinh duy nhất của Giáo Hội được thêm vào trong phụng vụ Thánh Lễ.

Vậy đâu là câu trả lời cho việc thiếu bóng dáng từ “Amen” trong Kinh Lạy Cha của Thánh Lễ? Đơn giản: bạn không đọc “Amen” bởi vì lời cầu nguyện vẫn chưa kết thúc.

Sau khi đọc Kinh Lạy Cha ở đoạn cuối "xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ", thay vì thưa "Amen" thì vị linh mục tiếp tục cầu nguyện một mình. Phụng vụ cho rằng đó là "phần giải thích lời kinh vừa đọc", tức là lời cầu nguyện mà linh mục đọc một mình tập hợp và phát triển lời cầu nguyện trước đó.

Tung hô

Vị linh mục khai triển lời cầu xin cuối cùng của Kinh Lạy Cha ("xin cứu chúng con khỏi mọi dữ") rằng:

“Lạy Chúa, xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, xin đoái thương cho những ngày chúng con đang sống được bình an, nhờ lượng từ bi Chúa nâng đỡ chúng con luôn luôn thoát khỏi tội lỗi và được an toàn khỏi mọi biến loạn, đang khi chúng con mong đợi niềm hy vọng hồng phúc ngày trở lại của Chúa Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng con”.

Và mọi người đáp lại bằng một lời tung hô rất cổ xưa, có nguồn gốc từ những thế kỷ đầu của lịch sử Giáo hội:

“Vì vương quyền, uy lực và vinh quang là của Chúa đến muôn đời”.

Bằng cách này, Kinh Lạy Cha hoàn toàn được thêm vào phụng vụ Thánh Thể, không phải như một phần bổ sung, nhưng như một phần cơ bản của phụng vụ Thánh Thể. 

José Miguel Carrera - https://it.aleteia.org

G. Võ Tá Hoàng chuyển ngữ - WQN

Tại sao phải xin linh mục chúc lành?

Thật đáng tiếc, nhiều người Công giáo đang gạt bỏ truyền thống này...

Có thể chúng ta không nhận ra rằng mình đã nhận được biết bao ân lộc từ Thiên Chúa khi có các linh mục bên cạnh mình. Vì vậy, chúng ta thường không để ý đến giá trị của phép lành mà các ngài có thể đem đến cho chúng ta, và chúng ta đang gạt bỏ truyền thống xin chúc lành này.

Thánh Gioan Maria Vianney, được Giáo hội tuyên phong làm quan thầy của các linh mục đã nói rằng: “Nếu tôi gặp một linh mục và một thiên thần, tôi sẽ chào linh mục trước khi chào thiên thần. Thiên thần là bạn của Thiên Chúa, nhưng linh mục là người chiếm giữ vị trí của Chúa”.

Thay mặt Chúa Kitô [In persona Christi]

Khi được thụ phong, các linh mục hành động thay mặt Chúa Kitô, nghĩa là, đối với chúng ta các linh mục là người đại diện chính Chúa Kitô. Vì thế, Thánh Gioan M. Vianney đã nói rằng linh mục là người “chiếm giữ” vị trí của Thiên Chúa, cho nên ngài xứng đáng được chào đón trước, trước cả thiên thần. Thêm nữa, vị linh mục đã nhận nơi Thiên Chúa quyền mang Chúa Kitô đến cho chúng ta, một chức năng mà ngay cả các thiên thần cũng không thể làm được.

Thật thế, trong nghi thức truyền chức linh mục có hai thời điểm quan trọng: việc đặt tay của Giám mục và xức dầu thánh trên tay của linh mục. Khi nhận dầu vào lòng bàn tay, vị linh mục đảm nhận 4 chiều kích quan trọng: đón tiếp, chúc lành, dâng lễ và thánh hiến.

Chiều kích thứ hai là chiều kích chúng ta đề cập hôm nay. Khi chúng ta xin phép lành của linh mục, cử chỉ đó muốn nói lên rằng chúng ta muốn tham dự vào việc xức dầu mà ngài đã lãnh nhận; chúng ta muốn trở thành một phần của phép lành này. Có một số người, thậm chí còn có thói quen hôn tay của các linh mục, bởi vì chính các ngài là người mang Chúa Kitô đến cho chúng ta, các ngài là công cụ của ơn sủng của Thiên Chúa dành cho các tín hữu.

(Ảnh: Vào năm 1966, Đức Giáo hoàng Phaolô VI đã mời Ngài Frank Duff tham dự Công Đồng Vatican II với tư cách là quan sát viên giáo dân tại Công Đồng; đây là một danh dự cho Ngài và cho Hội Legio Mariæ, qua đó Đức Phaolô VI đã thừa nhận ơn ích và khích lệ công việc tông đồ của Ngài cũng như của Legio Mariæ nói chung.)

(Ảnh: Cha Michael Toher, thuộc Tổng Giáo phận Dublin, Linh giám tiên khởi Præsidium Đức Mẹ Từ Bi đã chúc lành cho Ngài Frank Duff ngày 07 tháng 09 năm 1921, áp lễ Sinh nhật Đức Mẹ (xc. Ghi chú mở đầu Thủ Bản Legio Mariæ)

Tại sao nhiều người không xin các linh mục chúc lành?

Cha Camilo Júnior, một nhà truyền giáo thuộc Dòng Chúa Cứu Thế và là thành viên của Ủy ban giới trẻ của Đền thờ Quốc gia cảnh báo rằng, việc không xin linh mục chúc lành phản ảnh một thực tế đó là nhiều người sẽ không còn xin cha mẹ mình chúc lành nữa.

“Xin chúc lành là một thói quen được cha mẹ dạy dỗ, vừa cho chính mình và cho gia đình của mình và cho các linh mục. Luôn luôn có những bà mẹ nói với con cái của mình “con hãy xin linh mục chúc lành”, và đứa bé đưa tay ra. Người nào không xin phúc lành nơi cha mẹ thì người đó sẽ ít bận tâm đến việc hỏi thăm cha mẹ mình”.

Do đó, đừng gạt bỏ việc xin các linh mục chúc lành và tham dự vào việc xức dầu do Thiên Chúa tặng ban. Và đừng quên cầu nguyện cho cha xứ của các bạn và các linh mục mà các bạn quen biết. Các linh mục là khí cụ của Thiên Chúa giữa chúng ta, là sự phong phú mà Giáo hội ban cho chúng ta. Họ cần lời nguyện của chúng ta, và đó là cách mà chúng ta bày tỏ tấm lòng biết ơn vì các linh mục đã cống hiến cả cuộc đời mình cho dân Thiên Chúa, cho chúng ta.

Canale de Aparecida - https://it.aleteia.org

G. Võ Tá Hoàng chuyển ngữ - WQN

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.