SUY NIỆM CHÚA NHẬT LỄ LÁ_C 2022

09-04-2022 211 lượt xem

Lời Chúa: Is 50,4-7; Pl 2,6-11; Lc 22,14 – 23,56

Mục Lục

ĐƯỜNG THẬP GIÁ GIẢI THOÁT ĐẾ QUỐC SATAN - ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm

CHÚC TỤNG ĐẤNG NGỰ ĐẾN NHÂN DANH CHÚA - + ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

BỨC TRANH “BA THẬP GIÁ” - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

THEO CHÚA TRÊN ĐƯỜNG THẬP GIÁ - Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

THÁNH GIÁ, ĐƯỜNG YÊU THƯƠNG - Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, CSsR

VINH QUANG VÀ KHỔ NHỤC - Jorathe Nắng Tím

THÁNH GIÁ - TÌNH YÊU - Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

ĐI VÀO CÕI KHỔ - Thomas Aq. Trầm Thiên Thu

BÌNH THẢN VÀ NHÂN ÁI - Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

ĐỨC VUA CỦA NGƯƠI ĐANG ĐẾN - Thiên San

BA ĐỪNG! - Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

BƯỚC THEO CHÚA GIÊSU KHỔ NẠN VÀ PHỤC SINH - Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Thi ca: ƯỚC MONG TUẦN THÁNH - Viễn Dzu Tử

Thi ca: SỐNG ĐẠO TUẦN THÁNH - (Thế Kiên Dominic)

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

ĐƯỜNG THẬP GIÁ GIẢI THOÁT ĐẾ QUỐC SATAN

+ ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm

CHÚC TỤNG ĐẤNG NGỰ ĐẾN NHÂN DANH CHÚA

Cùng với tất cả các Kitô hữu trên toàn thế giới, chúng ta bước vào Tuần Thánh. Chúa nhật này, chúng ta kính nhớ việc Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem. Cuộc hành trình của Người đã khởi đầu từ Galilêa và nay sắp đến hồi kết thúc. Giêrusalem là chặng cuối cùng. Nơi đây, những bi kịch đau thương sẽ diễn ra. Đó là cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, cuộc khổ nạn sinh ơn cứu độ cho nhân loại, mọi nơi và mọi thời.

Đọc Kinh Thánh Tân Ước, chúng ta thấy cho đến nay, sứ mạng của Đấng Thiên Sai vẫn được giữ kín. Nhưng hôm nay, Người muốn tiến vào thành thánh và vào đền thờ. Chúa muốn tỏ bày sứ mạng đích thực của Người như mục tử mới của dân Ít-ra-en, vị Mục tử Nhân lành sẵn sàng hiến mạng sống mình vì đàn chiên. Người không tiến vào thành trên một chiến xa như các thủ lãnh giải phóng thường làm, nhưng trên một con lừa con. Điều này vừa nhằm diễn tả lời ngôn sứ của Cựu ước, vừa cho thấy Đức Giêsu đến giải phóng con người bằng sự khiêm nhường và bằng cái chết của người. Khái niệm “giải phóng” qua cuộc khổ nạn và phục sinh của Đức Giêsu phải được hiểu hoàn toàn khác với quan niệm trần gian. Khi long trọng tiến vào thành, Người được dân chúng hoan hô, những cành lá ôliu được trải ra trên con đường Người đi như một tấm thảm chào mừng chiến thắng. Dân chúng hân hoan vui mừng và hô lớn tiến “Hosana, chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa”. “Hôsana” trong tiếng Do Thái vừa là một lời tung hô, đồng thời cũng có nghĩa là “xin cứu giúp chúng tôi”. Chắc chắn những người Do Thái có mặt hôm đó đều liên tưởng đến Đavít khi ông chiến thắng người Philitinh trở về trong tiếng hoan hô chúc tụng của dân chúng.

Ngày hôm nay, Đức Giêsu – Đấng đã long trọng vào thành Giêrusalem năm xưa – cũng đang đi vào các thành phố và làng mạc của chúng ta. Người muốn gặp gỡ để khích lệ chúng ta giữa cuộc sống đầy những khó khăn và gian nan thử thách này. Người đến với chúng ta như một Đấng duy nhất có thể giải thoát chúng ta khỏi ách nô lệ của tội lỗi và thù hận. Người là Đấng duy nhất có thể giúp chúng ta đạt tới một cuộc sống nhân bản và liên đới với nhau hơn. Dung mạo của Chúa Giêsu trong cuộc đời hôm nay không giống như một vị tướng hùng mạnh chinh đông dẹp bắc, nhưng Người mang gương mặt hiền lành và khiêm nhường. Vài ngày sau biến cố tiến vào thành Giêrusalem, Đức Giêsu là người bị người ta đóng đinh và phỉ nhổ. Vòng triều thiên được đặt trên đầu Chúa là một vòng đầy những gai nhọn. Dưới cái nhìn của nhiều người, cái chết của Chúa được coi như một thất bại thảm hại. Thực ra, đó là một chiến thắng vĩ đại, chiến thắng của tình yêu vượt lên sự chết.

Cuộc thương khó của Chúa vẫn đang diễn ra nơi những người đau khổ, nghèo hèn, bệnh tật, bị áp bức và thiệt thòi bất công trong xã hội của chúng ta hôm nay. Chúa đang đi qua cuộc đời này. Có những người đón tiếp Chúa, nhưng cũng có những người dửng dưng trước việc Chúa đi ngang qua cuộc đời họ. Tiếng gọi của Chúa là tiếng gọi khiêm tốn, đôi khi bị lấn át bởi biết bao âm thanh hỗn tạp của “biển đời” đầy bon chen và giành giật. Vì thế, để lắng nghe lời của Người, chúng ta phải trút bớt khỏi tâm hồn những toan tính, tham vọng. Chúa thường tâm sự với những ai biết chuyên tâm cầu nguyện và những tâm hồn thích sống trong lắng đọng nội tâm.

Sau khi tham dự Thánh Lễ Lá, chúng ta sẽ trở về nhà mang theo một vài cành lá đã được làm phép. Cành lá này nhắc lại điều chúng ta đã hát: “Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa”. Cành lá này cũng nhắc chúng ta rằng Chúa Giêsu đang cần đến chúng ta. Trong cơn đau đớn dưới bóng những cây ôliu tại vườn Cây Dầu, Người đã muốn được các môn đệ ở bên. Ngày hôm nay, Người cũng mời gọi chúng ta như thế. Người muốn chúng ta hãy là chứng nhân loan báo sự chết và phục sinh của Người cho đến tận cùng thế giới. Người muốn mỗi chúng ta cũng biết hy sinh cho nhau, để cuộc sống này trở nên nhân ái và công bình hơn. Người còn muốn chúng ta hãy tiếp nối sứ mạng của Người xây dựng Nước Trời, một công trình được thực hiện ngay ở đời này và sẽ hoành thành khi Người lại đến trong vinh quang. Vì thế, cành lá chúng ta mang về nhà cũng là bằng chứng những cam kết trung thành dấn thân theo Chúa. Trong suốt Tuần Thánh này, chúng ta được mời gọi liên kết mật thiết với Chúa trong lời cầu nguyện.

Khi cử hành Hy lễ Tạ ơn, chúng ta được đón nhận những hoa trái của cuộc thương khó Đức Giêsu. Người ban cho chúng ta không chỉ mình và máu Người, mà còn sự kết hợp mật thiết với Chúa Cha. Người đã khởi đầu nơi chúng ta một cuộc sống quảng đại và sự liên kết tiến tới sự thân tình trọn vẹn với Thiên Chúa là Cha của Người.

Lạy Chúa, xin củng cố Đức tin của chúng, hầu chúng con mãi mãi trở thành những chứng nhân trung thành của Chúa. Amen. mục lục

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

BỨC TRANH “BA THẬP GIÁ”

Một trong những bức tranh nổi tiếng nhất của danh họa Rembrandt, người Hoà Lan, sống vào thế kỷ 17, đó là bức tranh "ba thập giá". Nhìn vào tác phẩm, ai cũng bị thu hút ngay vào trung tâm: giữa thập giá của hai người bất lương, thập giá của Chúa Giêsu nổi bật lung linh trong mầu nhiệm đau thương và cứu độ. Dưới chân thập giá là cả một đám đông, gương mặt nào cũng biểu lộ hận thù oán ghét...giữa nét đau khổ của hai tử tội, hận thù của đám đông là dung mạo Đấng Chịu Đóng Đinh hiền hòa chan chứa tình thương.

Tuần Thánh bắt đầu từ Chúa nhật Lễ Lá. Cử hành phụng vụ hôm nay khởi sự bằng việc làm phép lá và đi kiệu lá. Cộng đoàn đi kiệu để tưởng niệm việc Chúa Cứu Thế khải hoàn tiến vào thành Giêrusalem. Ngay sau đó là Thánh Lễ tưởng niệm cuộc Khổ nạn, đặc biệt với việc đọc Bài Thương khó. Việc cử hành hôm nay với hai nhịp tương phản, mang hai sắc thái nghịch nhau : người Do thái tung hô Chúa Cứu Thế, ngập tràn tiếng reo vui, sau đó họ đòi lên án tử hình Người và cuộc thương khó đầy máu nước mắt.

Ôi nhân tình thế thái, sao mau đổi trắng thay đen!

Màu đen sự dữ, màu trắng tinh khôi bàng bạc trong bức tranh “ba thập giá” và cuộc thương khó.

1. Sắc đen sự dữ

Chìa khóa để đọc tất cả những sự vô lý, bất công, phi đạo đức trong vụ bắt và xét xử Chúa Giêsu là: quyền lực của tối tăm. Bốn sách Tin Mừng đều kể rằng Chúa Giêsu bị bắt ban đêm. Matthêu, Maccô và Gioan kể một đám người mang gươm giáo gậy gộc do các thượng tế, kỳ mục, Pharisêu sai đến. Thánh Luca lại nói có cả các thượng tế, lãnh binh Đền Thờ và kỳ mục ở trong bọn người mang gươm giáo gậy gộc. Trong đêm tối, đang khi Chúa Giêsu cầu nguyện thì giới lãnh đạo cao nhất của dân Do thái đã hội họp tại nhà thủ lãnh của họ, sai thuộc hạ đi bắt Chúa Giêsu theo sự hướng dẫn của Giuđa, người môn đệ phản Thầy. Họ ngồi chờ để kết án ngay trong đêm.Phiên họp ban đêm này do chính Caipha, chủ tịch Thuợng Hội Đồng chủ sự. Thánh Matthêu kể: “Các thượng tế và toàn thể Thượng Hội Đồng tìm chứng gian buộc tội Đức Giêsu để lên án tử hình” (Mt 26,59). Họ dùng chứng gian vu khống và xuyên tạc chụp mũ để kết án tử hình Đức Giêsu (Mt 26,60-61; Mc 14,59).

Trong bộ phim 12 giờ cuối cùng của Chúa Giêsu, nhà đạo diễn đã hoạ lại hình ảnh của đêm tối vườn Cây Dầu. Đó là đêm tối của đức tin và cũng là đêm tối của lòng người.

Bộ phim bắt đầu với cảnh Chúa Giêsu đưa các môn đệ lên núi cầu nguyện vào một đêm đen như bao đêm khác.Thế nhưng, đêm nay khác hẳn mọi đêm. Bóng tối của sự dữ phủ kín, bóng đêm của quyền lực Satan bao trùm. Đêm nay, bóng tối của sự dữ hoành hành. Đêm nay, quyền lực của Satan như muốn thống lãnh thế gian. Con người đã toa rập với Satan để giết hại Con Thiên Chúa. Đêm tối vườn Cây Dầu chỉ còn lại một mình Chúa cô đơn.

“Giuđa tới đó, dẫn một toán quân cùng đám thuộc hạ của các Thượng tế và nhóm Pharisiêu; họ mang theo đèn đuốc khí giới…” (Ga 18,3). Người ta phải sử dụng đèn, đuốc…chứng tỏ họ đang ở trong bóng tối. Họ sử dụng khí giới tức là tựa vào sức mạnh và quyền lực thế gian. Với những từ ngữ này, Thánh Gioan giới thiệu họ như là biểu tượng của sức mạnh thế gian và quyền lực bóng tối. Giữa bóng đêm của vườn Cây Dầu thấp thoáng những khuôn mặt hung tợn với gươm giáo gậy gộc, xâu xé tấm thân đơn độc của Chúa Giêsu. Bóng tối như tiếp tay cho những hành động lén lút, bắt giữ bất minh. Màn đêm đó cũng che kín lý trí của những người tham dự phiên tòa bóng tối. Tất cả mọi chứng cứ kết án đều nằm trong vòng tròn gian dối. Mọi sự vật lúc này như nhuốm một màu đen đồng lõa cho sự dữ. Màu đen của những tâm hồn đen tối che lấp luôn cả màu đen của bóng đêm âm u. Đây là đêm của hận thù. Đây là giờ của bóng tối. Đây là thời điểm của xấu xa ngự trị. Không ai còn có thể nhận ra được ánh sáng chân lý trong màu đen của ác tâm.

Và trong các giờ kế tiếp, bóng tối càng bao trùm. Chúa Giêsu càng lẻ loi cô độc hơn.

Kể từ khi Giuđa bước ra khỏi phòng Tiệc Ly thì trời tối đen. Giuđa lẩn vào bóng đêm với đôi tay đen đúa nhận lấy những đồng bạc là giá máu của Thầy mình. Thánh Gioan trình bày, Giuđa rõ ràng thực hiện công việc này dưới tác động của Satan. Khi Giuđa rời phòng Tiệc Ly, “lúc đó, trời đã tối” (Ga 13,30). Trời tối bên ngoài chưa quan trọng. Ở đây, trời tối trong tâm hồn Giuđa. Đối với Gioan, Giuđa trong hành động nộp Chúa Giêsu đã thật sự là hiện thân của quyền lực bóng tối, đối lại với Chúa Giêsu là ánh sáng tinh tuyền.

Giuđa khoác lên trái tim màu đen của tội lỗi qua nụ hôn phản bội.Từ đó, bóng tối của sự dữ đã bao trùm lên Thượng Hội Đồng từ Thượng tế Caipha đến các Luật sĩ và Kỳ mục. Bóng tối như đồng lõa và biện minh cho mọi âm mưu thâm độc của những người đại diện cho lề luật.

Những mảng đen được tô đậm lên trên bức tranh Tình Yêu Giêsu, không phải bằng những nét vẽ dịu dàng, những nét chấm phá đặc sắc nhưng là những vết màu ngoằn nghèo, vô lối. Tình Yêu Giêsu lúc này đang bị tàn phá theo từng vết đen xấu xa của đám đông. Bóng tối đã làm tất cả mờ ảo trong điên cuồng. Mọi âm mưu đã được trù tính cẩn mật. Mọi lý lẽ độc dữ đã được hoạch định. Mọi hành vi được thực hiện ngay trong bóng tối của thần chết. Cứ thế, từng mảng đen tội lỗi như được dịp trút hẳn xuống Đức Giêsu, như muốn nhuộm đen toàn bộ cuộc đời và tình yêu của Ngài bằng mọi cách và mọi phương tiện. Ngài bị cho là đồ mê ăn uống, là phường tội lỗi. Ngài bị liệt vào hàng trộm cướp, hàng nô lệ cùng đinh. Ngài bị xem là phường gian dối, tiên tri giả. Ngài bị kết án là quân nói lộng ngôn, phạm thượng. Ngài bị xử tử vì bị gán cho việc kích động phản loạn. Đám đông dân chúng, từ những tên đầy tớ mạt hạng đến những bậc vị vọng, từ những người quen biết đến cả khách thập phương không từ chối điều gì để bôi đen con người Đức Giêsu. Ngài đã bị nhúng xuống bùn nhơ của sự khinh miệt, phỉ báng. Ngài đã bị đày đọa tận cùng của kiếp làm người.(x. Cuộc khổ nạn của Đức Giêsu qua tấm khăn liệm Turin, trang 252-253).Tình Yêu Giêsu đã bị tội lỗi nhân loại nhuộm đen màu tăm tối. Cuộc đời Chúa Giêsu đã bị dã tâm con người hủy hoại trong bóng đêm của sự bêu riếu, sỉ nhục và cái chết trần trụi thương đau. Nào ai có thể tin vào con người tàn tạ như thế! Còn ai có thể trông cậy vào con người yếu đuối bất lực này!!!

2. Sắc trắng thanh khiết

Tưởng chừng như bức tranh cuộc đời của Đức Giêsu chỉ là một vệt đen khiếp đảm với những ẩn tình vô lối mà nhân loại áp đặt lên chân dung Ngài. Nhưng thật nhẹ nhàng và linh động, Tình Yêu Giêsu như ngọn bút tài hoa đã gợi mở những nét vẽ thật diễm tuyệt. Tình Yêu sáng lên một màu trắng tinh khôi và mênh mang huyền ảo của trái tim thanh khiết trao ban đến tận cùng.

Tình Yêu ấy không mang một chút bợn nhơ của hận thù chia cắt nhưng lóng lánh sắc màu hồng tươi của Tình Yêu phục hồi và giải thoát. Tình Yêu ấy chấp nhận tất, dâng hiến tất cả để xóa đi mặc cảm tội lỗi của con người, cho con người cái nhìn mới của Thần Khí, cái nhìn của Thiên Chúa trong một tổng thể toàn vẹn và đưa con người đến với Tình Yêu sung mãn tuyệt hảo của Thiên Chúa. (x. Cuộc khổ nạn của Đức Giêsu qua tấm khăn liệm Turin, trang 254-255).

Màu đen sắc tối của con người đã được Tình Yêu Giêsu làm cho trắng tinh và trả lại sự trong sáng trong Sự Thật. Ngài đã đáp trả lại tất cả mọi bất công và hận thù bằng lòng bao dung tha thứ. Khổ đau của Thập Giá Đức Kitô không bao giờ là nỗi đau của hận thù, oán ghét mà luôn mang dáng đứng của tình yêu và sự khoan dung tha thứ. Trên thập giá, Chúa Giêsu đã cầu nguyện cùng Chúa Cha: “Xin Cha tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm”. Hơn thế nữa, Ngài công bố ơn cứu độ của Thiên Chúa ngay trên thập giá, lúc mà thế trần nhìn thấy Ngài trần trụi và yếu đuối nhất, khi Ngài ôm trọn con người tội lỗi trần gian qua hình ảnh tên gian phi biết cúi mình nhận ra Chân Lý: "Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng" (Lc 23,43). Đức Giêsu đã xóa màu đen ghê tởm của sự dữ trong lòng con người qua việc phục hồi giá trị của mỗi nhân vị và đưa nhân loại đến với Thiên Chúa qua Tình Yêu toàn tha của Ngài. Đức Giêsu đã dùng cạn hết mọi dấu chỉ của thế trần để biểu lộ Tình Yêu thâm sâu của Ngài cho chúng ta. Đó là màu trắng thanh khiết nhất và là ánh sáng đẹp nhất mà nhân trần này có thể chiêm ngưỡng.

3. Trắng đen trong lòng người.

Tiến bước theo Chúa Giêsu trong cuộc thương khó, chứng kiến sự thay đổi nhanh chóng của lòng người, thấy sự tráo trở thay lòng đổi dạ, đổi trắng thay đen của nhân tình thế thái, chúng ta thấy bàng bạc một màu đen của những ý đồ xấu xa, những manh tâm gian ác và những hành vi tội lỗi thấp hèn và thấy sáng lên tình yêu thanh khiết của Đấng Cứu Độ.

Cuộc đời hôm nay vẫn còn đó những sắc tối của lòng người. Dòng đời hôm nay vẫn còn đó những con người công chính, lương thiện lại là nạn nhân của bất công, gian dối và tham lam. Biết bao người đã để cho bóng tối của lòng tham nổi loạn đến nổi sẵn sàng chà đạp và lường gạt nhau. Biết bao người vì lòng tham, vì tính ghen tương đố kỵ,vì thói tự mãn kiêu căng vẫn đang tìm cách làm khổ nhau và làm hại đời nhau. Bao lâu lòng người còn chất chưa những ý đồ bất chính, những thủ đoạn lừa lọc, những ích kỷ nhỏ nhen, bấy lâu vẫn còn đó những con người lương thiện bị đe doạ, bị hành hạ và bị loại trừ.

Con người thời nay vẫn nhân danh hạnh phúc của riêng mình để kết án tử cho người khác, nhất là các thai nhi vô tội. Họ giết người vô tội không cần bản án, không cần thẩm phán hay quan toà. Tử tội thai nhi đã bị giết, chỉ vì một bà mẹ không muốn sinh con. Cả xã hội từ ông bà, cha mẹ, họ hàng và các người hành nghề lương y đã sẵn sàng giết chết sự sống của một sinh linh không có khả năng tự vệ. Biết bao cha mẹ đã viện ra nhiều lý do để loại trừ những đứa con của mình cách dửng dưng vô cảm.

Điều ác và sự thiện cũng chỉ là sự khác biệt của hành động rút gươm “hãy xỏ gươm vào bao, vì tất cả những ai dùng gươm sẽ chết vì gươm” (Mt 26,52). Khi tất cả mọi lưỡi gươm được cất vào vỏ, sự thiện và thiên đàng đang ở giữa lòng thế giới. Khi thanh gươm được rút khỏi bao, nhân loại đang đắm chìm trong hỏa ngục của chính mình. Con người luôn muốn hành xử tất cả theo lối quyền uy và bạo lực của bóng tối. Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã dùng một phương cách kỳ lạ để cho con người thấy đâu là sự thật nhân loại cần hướng về. Qua Ngài, những cơn cuồng nộ của sự dữ, những bão táp của nhục hình, những tiếng thét hận thù như bị cuốn vào một lực hút vô hình của Tình Yêu thanh khiết. Sức của của tình yêu nơi Chúa Giêsu đã thâu tóm mọi sự xấu xa độc dữ của nhân loại và hóa giải tất cả để biến nên những giá trị mới của hiền lành, khiêm nhường và khoan dung.(x. Cuộc khổ nạn của Đức Giêsu qua tấm khăn liệm Turin, trang 258-260).

Chúa Giêsu không quỵ lụy, không riên xiết trong cuộc khổ nạn, nhưng Ngài luôn kiên cường và nhẫn nại để mời gọi và mở ra cho nhân loại một cái nhìn về chân lý, về tình yêu, về một Thiên Chúa yêu thương đến cùng. Chúa Giêsu không oán trách hay hận thù ai, Ngài vượt lên trên tất cả bằng tình thương tha thứ. Chúa Giêsu đã biểu lộ sức mạnh của tình yêu, sức mạnh của niềm tin và phó thác trọn vẹn cho Thiên Chúa. Chính sức mạnh tình yêu đã làm mọi chia rẽ được hàn gắn, mọi hận thù được xóa bỏ và mọi xa cách được nên hiệp nhất. Chúa Giêsu đã hợp nhất nhân loại trong trái tim rộng mở của Ngài, trái tim chỉ có tình yêu thanh khiết. Ngài nâng con người lên giá trị cao hơn trong sự kết hiệp với tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu Nguyên Tuyền.

Ánh Sáng Tình Yêu chính là Ánh Sáng Phục Sinh. Ánh Sáng ấy không làm mờ đi bóng cây thập giá nhưng lại mang một ý nghĩa và sắc màu huyền diệu lung linh. Tin và bước theo Chúa Giêsu, chúng ta được tháp nhập vào tình yêu thanh khiết của Ngài, nhờ đó cuộc sống luôn có niềm vui bình an và hạnh phúc. Thánh Gioan đã đi trọn cuộc khổ nạn cùng với Chúa Giêsu và đã viết những lời thật đẹp, thật ý vị về Tình Yêu Chúa Giêsu: “Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta. Anh em thân mến, nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế, chúng ta cũng phải yêu thương nhau.Thiên Chúa chưa ai được chiêm ngưỡng bao giờ.Nếu chúng ta yêu thương nhau, thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, và tình yêu của Người nơi chúng ta mới nên hoàn hảo” (1 Ga 4,10-12). mục lục

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

THEO CHÚA TRÊN ĐƯỜNG THẬP GIÁ

Chúa Nhật Lễ Lá có hai phần: Phần làm phép lá và phần đọc Tin Mừng thánh Luca diễn lại cuộc khổ nạn của chúa Giêsu. Tiêp theo việc dân chúng tung hô Chúa Giêsu là vua lúc Người đi vào Jerusalem (xc. Lc 19:28-21:38) là khởi đầu một giai đoạn mới của Tin Mừng về mục vụ chúa Giêsu làm ở Jerusalem trước khi Chúa chịu chết và sống lại.

Dân chúng reo hò, tay cầm cành lá vẫy chào, tung hô vạn tuế Chúa Giêsu ngồi trên lưng lừa đang đi vào thị trấn: “Vạn tuế đấng Vua nhân danh Thiên Chúa mà đến” (c.38). Câu tung hô này chỉ thấy ở trong Tin Mừng thánh Luca và Chúa Giêsu đã đương nhiên được tặng danh hiệu này khi Người khải hoàn đi vào thành Jerusalem. Thánh Luca đã cài danh hiệu này vào những lời thánh vịnh 118:26 báo trước đoàn người hành hương sẽ đến và đi vào đền thờ trong thị trấn thánh.

Do đó Chúa Giêsu đã được tung hô, vinh danh là Vua và là Người Đến (Malachi 3:1; Lc 7:19). Câu ca hoan của các môn đệ “Bình an trên thiên đàng và vinh danh trên trời cao” như âm vang lời các thiên thần thông báo ngày Chúa Giêsu giáng trần (Lc 2:14). Bình an mà Chúa Giêsu mang lại thì gắn liền với ơn cứu độ được hoàn thành ở Jerusalem. Phải chăng có một liên hợp nội tại giữa Hài Nhi và câu chuyện Khổ Nạn mà thánh sử Luca đã kể trong Tin Mừng.

Thánh Luca đã dựa vào thánh Marcô để viết câu chuyện khổ nạn của Chúa Giêsu (22:14-23:56), nhưng ngài cũng có nhiều kiến thức riêng của ngài về tập tục và truyền thống. Câu chuyện khổ nạn của Chúa Giêsu được thánh Luca kể lại với những biến cố đặc biệt xẩy ra rất nhịp nhàng như sau: 1-Chúa Giêsu lập phép Thánh Thể (22:15-20). 2-Chúa nói lời từ giã mọi người (22:21-38). 3-Đám đông hạch hỏi và cười nhạo Chúa (22:63-71). 4-Chúa đứng trước Herodê và trở lại với Philatô lần thứ hai (23:6-16). 5-Chúa Giêsu nói với những người đàn bà theo Người trên đường thánh giá (23: 27-32). 6-Chúa nói với tên trộm có lòng ăn năn thống hối (23:39-41). 7-Chúa Giêsu trút hơi thở sau cùng (23:46, 47b-49).

BAO DUNG THA THỨ VÀ LỜI SỈ NHỤC 

Cung cách hòa dịu của Chúa Giêsu vượt hẳn lên trên thái độ hung hăng, thù nghịch và giận dữ của đám đông trong lúc xét xử Chúa. Chúa Giêsu chính là mẫu mực thực sự của sự hòa giải, hòa bình, tha thứ và bao dung. Chính lúc Chúa bị xét sử và hấp hối đã giúp chúng ta nhận ra được ý nghĩa sâu xa của cuộc khổ nạn của Chúa là đoàn kết và yêu thương. Người đã nối kết Philatô và Herodê lại với nhau thành bạn bè dù trước kia họ chẳng ưa gì nhau (Lc 23:12). Từ thập giá, thánh Luca đã cho thấy Chúa Giêsu đầy lòng khoan dung tha thứ cho những kẻ truy tố Người (23:34), và lúc hấp hối Chúa còn cho tên ăn trộm vào hưởng nước Trời! (23:43).

Xuyên suốt câu chuyện, thánh Luca luôn luôn nhấn mạnh đến việc Chúa Giêsu vô tội (23:4, 14-15, 22), Người chỉ là nạn nhân của quyền lực ác quỉ (22:3, 31, 53) và, Người chịu chết để hoàn thành Ý Muốn của Cha Người (22:42, 46). Thánh Luca cũng nhấn mạnh đến lòng khoan dung tha thứ, nỗi trắc ẩn cảm thông và quyền năng chữa lành của chúa Giêsu (22:51; 23:43). Người không chết cô đơn và bị bỏ rơi nhưng có nhiều người theo Người trên đường thập giá (23:26-31,49).

Câu chuyện thánh Luca kể với những biến cố chuyển động từ những cành lá vạn tuế, những lời tung hô Chúa Giêsu là Vua tới Thập Giá khổ nạn không có gì là nghịch lý cả. Nó là trung tâm điểm của mầu nhiệm mà chúng ta tuyên xưng, suy niệm trong Tuần Thánh này. Chúa Giêsu đã tự nguyện hy sinh chịu nạn. Người đã không bị đè bẹp bởi những quyền lực trần thế xem ra có vẻ mạnh mẽ hơn Người. Người hoàn toàn tự do chịu đóng đanh chết. Nhưng là cái chết trong khải hoàn để cứu chuộc nhân loại!

MỘT MẪU MỰC

Đường Thánh Giá chính là biểu tượng mẫu mực cho cuộc sống hàng ngày của chúng ta, là cách sống theo Chúa Giêsu trên hành trình hướng về ngày sống lại. Trong khi họ dẫn Chúa Giêsu từ dinh Tổng Trấn đến hầm đá ở bên ngoài cổng thị trấn là nơi sẽ diễn ra tòa án nhân dân, họ đã bắt một người bộ hành tên Simon đang đứng ở đó để vác Thánh Giá cho Chúa (23:26). Ông Simon vác thánh giá, -theo thánh Luca- chính là hình ảnh người môn đệ “vác thánh giá theo chúa Giêsu”.

Câu này cũng không khác gì lời giáo huấn của chúa Giêsu về tình nghĩa môn đệ: “Bất cứ ai không vác thánh giá mình mà theo ta thì không thể là môn đệ ta được” (Lc 14:27). Những ai muốn sống theo cách sống của Chúa thì phải biết hy sinh mình vì tha nhân. Chuyện vác thánh giá tự nó không phải là điều quan trọng. Ở đời ai cũng có những gánh nặng, cá nhân hay gia đình, mỗi hoàn cảnh đều nặng chĩu trên vai mối ưu tư đau khổ của mình, có khi còn kinh khủng ít ai tưởng tượng nổi. Nhưng để có ý nghĩa là “vác thánh giá theo chúa Giêsu”, cuộc hành trình của chúng ta, dù gian nan cơ cực, dù cô đơn đau khổ, phân vân vô vọng hoặc bị phản bội đắng cay vẫn luôn luôn được chống đỡ và nuôi dưỡng bởi sự hiện diện của Thiên Chúa, nghĩa là chúng ta chấp nhận những gánh nặng ấy vì Chúa Giêsu đã đau khổ cho chúng ta.

Thánh Luca tả cảnh những người đi theo Chúa trên đường khổ nạn: “Dân chúng đi theo Người đông lắm, có cả những phụ nữ, họ đấm ngực than khóc Chúa” (Lc 23:27). Chia sẻ, tỏ tình cảm thông, lòng trắc ẩn và nước mắt vẫn không đủ. Mỗi người chúng ta phải nhận thức đươc trách nhiệm của mình đối với cảnh tang thương ấy, nhất là nỗi đau khổ của Chúa, của một người công chính và vô tội. Lời Chúa trong Luca 23: 31 như mời gọi chúng ta trở về với thực tế của lich sử cá nhân và cộng đồng: “Vì cây xanh tươi mà người ta còn đối sử như vậy thì thử hỏi cây đã khô héo thì sẽ ra sao đây?” Tương tự như vậy, nếu một người vô tội mà bị đánh gục tàn nhẫn như vậy thì hỏi rắng những kẻ gian ác, làm biết bao nhiêu điều phi nhân bất nghĩa, ức hiếp dân lành, giết người cướp của, vi phạm biết bao tội ác đối với cá nhân, cộng đồng và quốc gia thì sẽ phải làm sao?

Chúa Giêsu xuống trần không phải để tranh dành quyền lực, để đạt thành công và mong thống trị kẻ khác. Trái lại, như trong bài đọc 2 thư thánh Phaolo gửi tin hữu Philiphê, Chúa Giêsu đã từ bỏ quyền Thiên Chúa để mặc lấy thân phận đấy tớ giống như loài người và vâng phục theo kế hoạch của Chúa Cha là chết trên thập giá (Pl 2:6-11). Để nhớ lại những biến cố trong Tuần Thánh, chúng ta phải hành động thật nhiều, hơn là chỉ nhớ lại những đau khổ và vinh quang của Chúa Giêsu. Chúng ta vui mừng, tế lễ cuộc sống của Người và chia sẻ vinh quang Người. Quyền lực thắng sự chết, sống lại của Người đang đi vào cuộc sống của chúng ta. Chúa Giêsu đã trở nên ánh sáng và cứu độ cho mỗi cá nhân chúng ta và toàn thể nhân loại.

KỶ NIỆM NĂM THỨ 37 NGÀY GIỚI TRẺ THẾ GIỚI

Năm nay là năm kỷ niệm Ngày Giới Trẻ Thế Giới năm 1985. Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã nói: “Biến cố vĩ đại này, một biến cố mà Thánh Gioan Phaolo II đã rất mong ước, là một sáng kiến cho biết trước là sẽ mang lại hoa trái dối dào, đã có thể kết hợp những thế hệ trẻ lại với nhau để nghe Lời Chúa, để khám phá ra vẻ đẹp của Giáo Hội và để sống những kinh nghiệm niềm tin, đã dẫn dắt nhiều người  hiến thân hoàn toàn cho Chúa Kitô.”

Ngày Giới Trẻ Thế Giới, do dự tính, đã lôi cuốn được rất nhiều người tham dự và tiếp tục giữ vững truyền thống kỷ niệm đến cuối thời Đức Gioan Phaolo II, ngài đã linh tính thấy rằng giới trẻ sẽ đáp ứng nồng nhiệt. Trong lời phát biểu tại buổi lễ kết thúc Ngày Giới Trẻ ở Úc, Đức Hồng Y G. Pell của Sydney trong khi cám ơn ĐTC Biển Đức XVI, đã nói Ngày Giới Trẻ Thế giới có tác dụng như thuốc giải độc chống lại những tin đồn cho rằng Công Giáo đang xuống dốc và tan vỡ, thì đây Ngày Giới Trẻ Thế giới cho chúng ta thấy: “Giáo Hội đang sống với tất cả nghị lực sung mãn của nó thực sự là thế này đây.” 

Đức Hồng Y Pell kết luận bài phát biểu của ngài với ĐTC bằng lời lẽ đầy tính tiên tri và quả quyết như sau: “Thưa ĐTC, Ngày Giới Trẻ Thế Giới đã là sáng kiến của ĐTC Gioan Phaolô II vĩ đại. Mặc dù Ngày Giới Trẻ Thế Giới ở Cologne đã được tuyên bố trước khi ngài được bầu làm Giáo hoàng, nhưng ngài đã quyết định tiếp tục Ngày Giới Trẻ Thế Giới và giữ nó ở Sydney. Chúng con rất cám ơn ĐTC về quyết định này, chứng tỏ Ngày Giới Trẻ Thế Giới không thuộc về một Giáo hoàng nào cả, cũng không thuộc về một thế hệ nào hết; nhưng bây giờ nó đã trở thành một phần của đời sống bình thường của Giáo Hội. Thế hệ Gioan Phaolô II - già cũng như trẻ - tất cả đều hãnh diện là những đứa con trung thành của Giáo hoàng Biển Đức.”

LỜI KẾT: TƯỞNG NHỚ NGÀY GIỚI TRẺ Ở TORONTO, CANADA

Để kết luận bài suy niệm này, xin mượn lời Đức Gioan Phaolô II trong bài giảng sau cùng vào Ngày Giới Trẻ Thế Giới tại Toronto, Canada.

Ngài nói:

“Một tia lửa nhỏ cũng có thể làm ta đi cái nặng nề của đêm tối. Nếu tất cả các bạn họp lại và liên kết với nhau làm một trong sự hiệp thông với Giáo Hội thì các bạn làm được biết bao nhiêu là tia sáng! Nếu các bạn yêu chúa Giêsu, các bạn cũng mến Giáo Hội.

“Đừng nhụt chí vì tội lỗi và những thất bại của một vài thành viên của Giáo Hội. Những tổn thương gây nên cho những bạn trẻ và những ai yếu lòng do một vài linh mục hoặc nữ tu đã làm cho tất cả chúng ta đau buồn và xấu hổ vô cùng. Nhưng hãy nghĩ đến đa số những linh mục, tu sĩ nam nữ đầy lòng quảng đại và tận hiến, quyết chí chỉ một lòng muốn phục vụ và làm việc thiện!

“Có rất nhiều linh mục, chủng sinh và những vị tận hiến hiện diện ở đây hôm nay. Các bạn hãy đến gần họ và yểm trợ khuyến khích họ! Nếu, trong tận cùng thâm tâm sâu thẳm của các bạn, các bạn cảm thấy có ơn gọi trở thành linh mục hay sống đời tận hiến thì đừng sợ, đừng ngại phải đi theo Chúa Kitô trên hoàng gia lộ của thập giá!

“Có những lúc đời sống Giáo Hội gặp khó khăn, việc theo đuổi thánh đức quả là cấp bách. Cuộc sống thánh đức không phải là một vấn nạn thời đại, nhưng nó là vấn đề sống trong Chúa Thánh Thần.”

Chớ gì Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II tiếp tục coi sóc chúng ta và chúc lành cho chúng ta từ cửa sổ nhà Cha. mục lục

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

THÁNH GIÁ, ĐƯỜNG YÊU THƯƠNG

Anh chị em thân mến,

Cùng với toàn thể Giáo Hội, hôm nay chúng ta khai mạc Tuần Thánh, tuần tưởng niệm cuộc khổ nạn cao điểm là sự chết và sự sống lại của Đức Giê-su. Vẫn biết rằng, các nghi thức phụng vụ trong tuần này thật quan trọng. Đây chính là đỉnh cao của năm phụng vụ mà chúng ta cử hành hàng năm. Nhưng năm nay, câu hỏi đặt ra cho tôi là những gì mà Đức Giê-su đón nhận trong tuần này, nhất là sự chết của Người đã có ảnh hưởng gì trên cuộc sống của tôi hay chưa? Biến cố Phục Sinh, khải hoàn siêu thăng về nhà Cha đã đem đến cho chúng ta những gì? Hy vọng các nỗi trăn trở này cũng là vấn nạn của anh chị em. Con đường Thánh giá và cao điểm là việc Chúa chết rồi sống lại sẽ tạo một hiệu ứng tích cực như thế nào trong cuộc sống của chúng ta?

Và đây là câu chuyện. Truyện này được cha Flor McCarthy, tu sĩ dòng Salêsian bên Dublin, Ái Nhĩ Lan san sẻ. Tuy chúng ta không hề biết tên của người trong câu chuyện; nhưng đó lại là chi tiết lý thú và kỳ diệu của người kể. Bởi vì qua đó, chúng ta có thể lồng mình vào trong tâm tình của nhân vật; có nghĩa là nhân vật trong câu chuyện có thể là anh, là chị là ông hay bà, là mỗi người chúng ta. Truyện kể như sau.

Vào một buổi chiều, như thường lệ, sau một ngày làm việc vất vả, chàng thanh niên trẻ cất bước về nhà. Con đường đến trạm xe bus để về nhà quá quen thuộc đối với anh. Ngày nào cũng như ngày nấy, anh lững thững đi băng ngang qua tiền đường của Nhà Thờ Chính Tòa Westminter. Nhưng, hôm nay khi đi ngang qua đó, anh cảm thấy từ trong sâu thẳm của lòng mình dường như nghe được tiếng mời gọi. Anh cầm lòng không được bèn ghé vào nhà thờ. Vừa buớc vào cửa chính, anh sửng sốt và mắt dán vào cây Thánh Giá đang treo từ trên mái vòm của nhà thờ. Người nằm trên cây Thánh giá, là Đấng đã bị tra tấn, bị bỏ rơi và bị đóng đinh chết, và hiện giờ đang nhìn anh.

Thế rồi bao nhiêu hình ảnh của các cực hình mà Đức Giê-su đã chịu trên đường Thương Khó hiện rõ ràng trong tâm trí anh. Không chỉ có thế, anh nhớ là đã từng nhìn thấy những bức hình khủng khiếp của những người đàn ông, phụ nữ, và trẻ em bị giết chết do chiến tranh, bao nhiêu người đã bị bỏ rơi, không nơi nương tựa, không chốn để về. Ở những nơi khác, anh đã được xem bức hình của những người dân bị đói khát, trần truồng, hốc hác, với từng đàn ruồi bọ nhung nhúc bò trên mặt và thân xác họ; với những đôi mắt không đủ sức để khép lại, đang mở thao tháo, trong cơn tuyệt vọng nhìn trừng trừng vào sự thờ ơ và vô cảm cuả thế giới đối với họ. Họ nằm đó, chờ cái chết ụp xuống mà cất đi bao nỗi nhọc nhằn, đớn đau mà họ đã gánh chịu.

Nhìn và nghĩ đến những cảnh tượng đó khiến chân tay anh bủn rủn và cho dù muốn thụt lùi và tháo chạy, nhưng anh hoàn toàn bị bất động, chân tay dường như tê cóng và không tài nào nhấc lên đuợc. Anh không còn biết làm gì hơn là ngồi xuống và dán mắt nhìn vào tượng chịu nạn và ngồi đó như bị cuốn hút vào trong đôi mắt của Chúa.

Nhưng sau đó, anh nhận ra có một mối giây liên kết giữa Đức Giê-su trên Thánh Giá với những người mẹ khóc bên xác của con bị chết vì chiến tranh, với cơn đói khát về vật chất cũng như thèm khát được yêu thương của các em trẻ tại các xứ nghè đói như tại Châu Phi, với những gia đình có người thân chết vì tai ương, với những người bệnh về thể xác và tâm thần… Hình như tất cả những khổ đau của loài người đều được gom lại trên thân thể của Người đang chịu đóng đinh và nằm trên cây Thánh giá.

Sau đó anh nhìn chung quanh và thấy có một số người đang quỳ cầu nguyện trong thinh lặng. Trong một không gian linh thánh họ như bị chôn vùi ở đó, thật bình an. Rồi anh nhìn thấy một bà cụ đã lớn tuổi bước đến bên Thánh Giá và kính cẩn hôn những vết thương của Chúa Giêsu. Sau đó bà rời nhà thờ, vẻ mặt thanh thản, bình an như muốn nói với chúng ta rằng bà vừa tìm lại được sức mạnh, hy vọng và tình yêu cho cuộc sống.

Từ trước đến nay, anh không biết cầu nguyện. Nhưng hôm đó, lần đầu tiên anh đã cầu nguyện. Cây Thánh giá không nói nhiều về cái chết, cho bằng ca ngợi tình yêu, sự sống và niềm hy vọng. Cây Thập giá của nhục hình đã trở thành cây Thánh giá của niềm hy vọng. Thân thể của Đấng bị tra tấn giờ đây trở thành thân xác của Đấng chữa lành và trao ban sự sống. Những vết thương mở toang của Người đã trở thành nguồn ơn tha thứ và hoà giải. Cuối cùng, khi bước ra khỏi nhà thờ, anh cảm thấy bình an với chính mình và với thế giới.

Anh chị em thân mến

Hành trình khổ nạn của Đức Giêsu không chỉ là một thảm kịch, đó còn là một biến cố đã được Chúa tự do chọn lựa, bộc lộ tâm tình vâng phục của Người. Nỗi đau mà Người đã phải chịu không chỉ là những ngọn roi, cây giáo và những cây đinh xuyên da thấu thịt đi vào những kẽ xương trên thân xác của Người; nỗi đau thể xác như thế hay hơn thế vẫn chưa phải là nỗi đau đớn nhất. Nỗi đau khổ lớn lao nhất mà Người đã trải qua là bị bỏ rơi, thậm chí bị dối gạt và bị phản bội của những người mà Đức Chúa đã xem họ như những người bạn mà người yêu mến và quí trọng nhất. Đến giây phút cần, thì tất cả đều biến mất vì sợ hãi, thậm chí trong giây phút cô đơn nhất cũng chẳng còn ai, trong cơn hấp hối Người lo sợ và cô đơn.

Ai có thể đo và hiểu thấu chiều sâu của những điều mà Người đã phải chịu đựng?

Người cũng than van, lo sợ… Và chắc một điều là Thánh Giá mà Người đã vác khi xưa, không chỉ nặng về phần thể lý mà thôi. Đau khổ về phần xác không sánh gì với nỗi thống khổ của sự cô đơn, bị bỏ rơi trơ trọi một mình. Nhưng cuối cùng là một sự đón nhận trong yêu thương khi nhận biết đó là ý muốn của Cha Người, Đấng mà Người hết lòng tùng phục trong yêu thương.

Tuy Thánh giá là đích điểm của mọi đau khổ mà Chúa đã chịu, nhưng bề sâu của Thánh giá là một sự hòa hợp nên một trong Tình Yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa. Nơi đó sự chết và tội lỗi bị phá hủy để nhường lại sự sống vĩnh cửu của Thiên Chúa. Thập giá còn biểu lộ sự bất lực của con người và biểu dương sức mạnh vô song của Thiên Chúa. Nhìn vào Thánh giá ta thấy bình minh của ngày Phục sinh đã hiện tỏ.

Thưa anh chị em,

Đã hơn 2.000 năm qua đi, tất cả những gì xảy ra thời Đức Giêsu vẫn còn tiếp diễn. Mỗi người chúng ta cũng được Đức Giêsu mời theo Người: "Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác Thánh giá mình hằng ngày mà theo”. Vác Thánh giá hôm nay chính là đón nhận những thử thách như tai ương, chiến tranh, dịch bệnh, thất bại, bị bỏ rơi, những lời sỉ nhục đầy bất công... Đó là những Thánh giá do Chúa gửi đến để thanh luyện lòng tin của chúng ta được kiên vững mà trung tín với ơn gọi đi theo con đường của Chúa: Con đường tuy hẹp nhưng lại thênh thang vì có nhiều bạn hữu cùng đi. Con đường tuy khiêm tốn nhưng biểu lộ sức mạnh và lòng quyết tâm phục vụ tha nhân.

Vì thế, trong tuần này chúng ta cùng với toàn thể giáo hội suy gẫm về hành trình Thương Khó để nhận ra sự thương yêu của Người, Đấng đã chết và ban ơn tha tội cho nhân loại. Sau đó, chúng ta được mời gọi để cảm thông, để tha thứ cho nhau hơn. Bởi vì, chúng ta biết rằng sự tha thứ và ơn cứu độ của Chúa mời gọi và thúc đẩy chúng ta tha thứ cho nhau nhiều hơn; và càng tha thứ cho nhau thì càng dễ đón nhận sự tha thứ của Chúa hơn. Ước gì Thánh giá năm nay không còn là những gánh nặng cuộc đời nhưng chúng ta vui lòng vác và tiến bước vì biết rằng chúng ta thật diễm phúc được Chúa mời gọi để chia sẻ hồng ân cao quí là cùng vác Thập giá với Đức Ki-tô hôm nay. mục lục

Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, CSsR

VINH QUANG VÀ KHỔ NHỤC

Phụng Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật Lễ Lá dẫn chúng ta vào hai tình huống đối nghịch, hai thế giới trái ngược, hai biến cố lịch sử quan trọng cách nhau vài ngày, nhưng mức độ khác biệt thì không ai có thể tưởng tượng, tiên liệu, và Con Người đi giữa những đối nghịch, trái ngược, khác biệt ấy chính là Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa làm người.

Đối nghịch khi đám đông như rừng “fan” hâm mộ náo nức tuốn đến chào đón Đức Giêsu như Vua khi Ngài tiến vào thành Giêrusalem cùng các môn đệ, bằng “lấy áo choàng trải xuống mặt đường”, bẻ cành lá ôliu và hô vang “Chúc tụng Đức Vua, Đấng ngự đến vinh danh Chúa! Bình an trên cõi trời cao, vinh quang trên các tầng trời!” (Lc 19, 36. 38), nhưng chỉ vài ngày sau, vì áp lực của giáo quyền Do Thái, cũng chính đám đông này trước mặt quan tổng trấn Philatô, đại diện chính quyền bảo hộ Rôma đã điên cuồng “la to, nhất định đòi phải đóng đinh Ngài” (Lc 23,23). Thấy đám đông quá khích và sẵn sàng manh động do bị các chức sắc trong đạo dẫn dắt, Philatô đành nhượng bộ giao Đức Giêsu  cho họ đem đi đóng đinh vào thập giá, măc dù ông biết rõ Ngài vô tội, bị vu khống, cáo buộc oan uổng (x. Mt 27,20-26).

Trái ngược khi mọi người reo hò inh ỏi, vang dậy cả một vùng trời, khi thấy Đức Giêsu “đến gần chỗ dốc xuống núi Ôliu”. Họ bắt đầu cùng các môn đệ hớn hở vui mừng “lớn tiếng ca tụng Thiên Chúa vì các phép lạ họ đã được thấy” và tung hô Ngài là Vua Ítraen, nhưng không lâu sau, họ đối xử với Ngài như kẻ tội đồ, tên tội phạm nguy hiểm, khi lính tráng “lột áo Người ra, khoác cho Người một tấm áo choàng đỏ, rồi kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Người, và trao vào tay mặt Người một cây sậy. Chúng qùy gối trước mặt Người mà nhạo rằng: “Vạn tuế Đức Vua dân Do Thái!” Rồi chúng khạc nhổ vào Người và lấy cây sậy mà đập vào đầu Người” (Mt 27, 28-30).  “Các thượng tế, kinh sư và kỳ mục  cũng chế giễu Người mà nói: “Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình… Hắn cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, chúng ta tin hắn liền ! Hắn cậy vào Thiên Chúa, thì bây giờ Người cứu hắn đi, nếu qủa thực Người thương hắn!” (Mt 27,41-43).

Hoàn toàn khác biệt khi quần chúng những ngày trước đây bất chấp những chống đối và ngăn cấm của giáo quyền đã mạnh dạn  kéo đến và vang lời tung hô Đức Giêsu, làm cho “vài người thuộc nhóm Pharisêu đến nói với Đức Giêsu: “Thưa Thầy, Thầy trách môn đệ Thầy đi chứ!”, nhưng Người đáp lại: “Tôi bảo các ông: họ mà làm thinh, thì sỏi đá cũng sẽ kêu lên!” (Lc 19,39-40). Họ là đám đông đã “tìm Người, đến tận nơi Người đã đến, và muốn giữ Người lại, kẻo Người bỏ họ mà đi” (Lc 4,42), nhưng hôm nay, cũng đám đông này bỏ rơi Ngài, và “mắng chửi dể duôi.. lắc đầu bĩu mỏ buông lời mỉa mai” (Tv 21,7).

Trong cuộc sống, mỗi người chúng ta ít nhiều cũng đã trải qua những cảnh “đối nghịch, trái ngược, khác biệt” của tình đời đen bạc, của lòng người đổi trắng thay đen. Nhưng dù sao chúng ta đều là con người nhiều giới hạn, đầy khuyết điểm, lắm lầm lỗi, nên có bị người phản bội, bị đời quay xe, trở mặt âu cũng là chuyện thường tình, dễ hiểu. Nhưng với Đức Giêsu, Đấng đã không làm gì nên tội, trái lại đã thương yêu, thi ân, chúc phúc cho mọi người, và chữa lành, cứu sống nhiều người lại mang thân phận tôi tớ, nô lệ và chịu bản án dành cho kẻ tội đồ thì qủa là chuyện không bình thường.

Sở dĩ không bình thường đối với con người, vì đó là con đường cứu chuộc của Thiên Chúa, con đường mà loài người không thể quan niệm, nghĩ ra khi Con Một của Ngài trở thành người tôi tớ như ngôn sứ Isaia đã tuyên sấm: “Đây là người tôi trung Ta nâng đỡ, là người Ta tuyển chọn và hết lòng qúy mến, Ta cho thần khí Ta ngự trên người: người sẽ làm sáng tỏ công lý trước muôn dân. Người sẽ không kêu to nói lớn, không để ai nghe tiếng giữa phố phường. Cây lau bị giập, người không đành bẻ gẫy, tim đèn leo lét, cũng chẳng nỡ tắt đi” (Lc 42,1-3). Và người tôi trung ấy, vì vâng phục Thiên Chúa Giavê “đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu.., không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ .. ” (Is 50,6).

Không bình thường đối với con người, vì chính Đức Giêsu, người tôi trung  đã vâng lời Thiên Chúa Giavê thực hiện kế hoạch cứu chuộc là mầu nhiệm vượt xa hiểu biết của con người khi Người “hoàn toàn trút bỏ vinh quang  mặc lấy thân nô lệ trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,7-8).

Không bình thường, vì con người khó có thể  đón nhận sự thật “Thiên Chúa làm người” chết cho con người vì yêu thương con người  và để cứu chuộc con người, như các môn đệ đã không muốn nghe Đức Giêsu loan báo: “Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại” (Mt 16,21), bằng chứng là tông đồ trưởng Phêrô đã lập tức “kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!”. Nhưng Đức  Giêsu quay lại bảo ông Phêrô: “Xatan, lui lại đằng sau Thầy.  Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” (Mt 16,22-23).

Vâng, Tuần Thánh dẫn chúng ta đi vào mầu nhiệm tình yêu cứu chuộc của Thiên Chúa được thực hiện giữa loài người bởi Ngôi Lời là Đức Giêsu Kitô, mầu nhiệm mà chỉ Thần Khí Thiên Chúa mới cho chúng ta hiểu và đón nhận được, như Thần Khí đã làm cho chúng ta nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên: “Ápba! Cha ơi!” với Thiên Chúa khi cầu nguyện. mục lục

Jorathe Nắng Tím

THÁNH GIÁ - TÌNH YÊU

Theo thánh Gioan, cái chết của Chúa Kitô, trước hết là sự tôn vinh chính Chúa Kitô, tôn vinh tình yêu của Chúa Kitô, một tình yêu hiến dâng mạng sống, một tình yêu chết thay cho người mình yêu, một tình yêu tự hiến thành tấm bánh nuôi sống người mình yêu, một tình yêu tự nguyện trở thành lễ tế hiến dâng Thiên Chúa…

Cái chết ấy lại càng thể hiện, và tôn vinh tình yêu của Thiên Chúa, một tình yêu tràn trề, một tình yêu mạnh mẽ, một tình yêu thôi thúc “đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3,16-17).

Còn thánh Phaolô lại nhận ra chính cái chết của Chúa Kitô là sức mạnh giải thoát con người: Chính nhờ Chúa Kitô tử nạn và phục sinh mà “ơn tha tội được loan báo cho anh em; và trong khi anh em không thể được giải thoát khỏi tội lỗi mà trở nên công chính nhờ giữ luật Môsê, thì nhờ Người, mọi kẻ tin đều được nên công chính” (Cv 13,39).

Trong thư gởi tín hữu thành Philípphê, thánh Phaolô còn nói rõ hơn sự được tôn vinh của Chúa Kitô: “Thiên Chúa đã siêu tôn Người, tặng ban Danh hiệu vượt trên mọi Danh hiệu. Và khi nghe Danh Thánh Chúa Giêsu, mọi gối phải bái quỳ để tôn vinh Chúa Cha và tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa” (Pl 2,10-11).

Như vậy, cùng xác tín với hai Tông đồ Gioan và Phaolô, chúng ta khẳng định, chỉ nơi Thánh Giá, Thiên Chúa đã biểu lộ tình yêu tuyệt đỉnh của mình. 

Đó là tình yêu không cùng của Thiên Chúa Cha hiến dâng Con Một. Đó là tình yêu quyết hy sinh của Thiên Chúa Con để hiến dâng chính mình. Đó là tình yêu tràn đầy sức mạnh của Thiên Chúa Ngôi Ba làm biểu lộ đến vô cùng, khắc sâu đến vô cùng lòng đại lượng của Đấng Chí Thánh là Tình Yêu.

Đấng chịu đóng đinh là Đấng được tôn vinh. Thánh Giá, phương tiện treo thân Đấng chịu đóng đinh, ngàn đời xứng danh Thánh Giá Cứu Độ. 

Vì thế, không có bất cứ nơi nào, không có bất cứ lối đường nào, ngoài Thánh Giá, mà chính Thiên Chúa, chính tình yêu của Thiên Chúa được tôn vinh. Bởi chỉ nơi Thánh Giá, nơi Đấng chịu đóng đinh, tình yêu tuyệt đỉnh của Thiên Chúa, khuôn mặt rạng ngời lòng xót thương tha thứ của Thiên Chúa được biểu lộ trọn vẹn, mạnh mẽ, vững bền. 

Thánh Giá là sự khôn ngoan và quyền năng của Thiên Chúa. Bởi “Sự điên rồ nơi Thiên Chúa thì khôn ngoan hơn loài người, và sự yếu đuối nơi Thiên Chúa thì mạnh sức hơn loài người” (1 Cr 1,24 -25). 

Thánh Giá đã trở thành dấu chỉ của tình yêu hy vọng và sự sống. Thánh Giá là biểu tượng của Tình Yêu cứu độ. Thánh giá là niềm tự hào và vinh quang của người tín hữu. Thánh Phaolô có một ước muốn: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô” (Gl 6,14).

Cái chết của Chúa Giêsu trên Thánh Giá, minh chứng, Ngài yêu thế gian hơn yêu chính mình. Cái chết ấy còn chứng tỏ, tình yêu Thiên Chúa dành cho ta là thứ tình ở dạng thức cao nhất: Yêu đến tận cùng. Yêu đến tự hiến trọn vẹn. Yêu chấp nhận hiến tế. Yêu chấp nhận hy sinh chỉ vì thiện ích của kẻ khác. 

Thánh Giá in sâu và gắn chặt với Chúa Giêsu Kitô. Ngay cả sau phục sinh, những thương tích khổ nạn, dấu vết đớn đau của Thánh Giá vẫn hiển hiện, vẫn không bị xóa nhòa. 

Thánh Giá băng qua lịch sử, xuyên qua thời gian. Nó còn tiếp tục trải dài và hiện diện trong mỗi giây phút cuộc đời chúng ta. 

Ta yêu mến, tôn thờ Chúa Giêsu trên Thánh Giá. Sự yêu mến và tôn thờ ấy, dẫn ta đến việc tự nguyện đón nhận thánh giá của đời mình, hợp làm một cùng Thánh Giá Chúa, bước theo Chúa, sống như Chúa suốt hành trình dương thế. 

Trong xã hội tiêu thụ và hưởng thụ ngày nay, bóng tối của quyền lực, tiền của, danh vọng, lạc thú như che mờ bóng Thánh Giá. Con người lao mình vào bóng tối bằng mọi giá. Xã hội hôm nay cần phải được ánh sáng của Thánh Giá soi dẫn. Từ Thánh Giá Chúa, tuôn trào tình thương chúc phúc thế gian, sự sống chan chứa cho lòng người. 

Bởi thế, suy tôn Thánh Giá chính là suy tôn tình yêu, sự sống của Chúa Kitô. Đó cũng là dịp giúp ta ý thức, tình yêu và sự sống ấy đang đồng hành với mình, với cuộc đời của từng con người. Nhờ ý thức, ta không dám trôi theo những cám dỗ của thế gian, không dám đánh mất mình trong cho những “trái cấm” thế tục… mục lục

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

ĐI VÀO CÕI KHỔ

Đến giờ phải vội lên đường
Khởi đầu bước khổ, tang thương nhịp đời
Đến giờ phải bước đi thôi
Trọn vẹn vâng lời tới hướng Gia-liêm

Giờ G đã điểm, hành trình khổ nạn của Đức Kitô bắt đầu từ lúc vào Thành Giêrusalem.

Ngày xưa, những ông vua tốt lành, yêu nước và thương dân, thường vi hành để biết rõ dân sống thế nào, không nghe những kẻ nịnh thần, làm láo mà báo cáo hay. Vua thì có ngai, gọi là bệ rồng. Quần thần không được “đụng chạm” tới Vua, có tâu cũng chỉ được tâu cái bệ có cái ngai của Vua ngồi: “Muôn tâu bệ hạ.” Ai nhìn long nhan vua là phạm tội “khi quân,” ắt bị xử tử.

Về danh xưng, tước vị cao quý của Vua được mệnh danh là Hoàng Đế, và thường là người cai trị một đế chế hoặc loại khác của vương quốc, đế quốc. Nói chung, Hoàng Đế là người được công nhận có danh dự và xếp hạng cao hơn so với quốc vương. Xưa nay, bất cứ ông vua hoặc nguyên thủ quốc gia đều được tiền hô hậu ủng, có tất cả mọi tứ, kể cả quyền sinh tử: “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung.” Kinh dị và kinh tởm!

Từ cổ chí kim, và cho tới tận thế, chắc chắn không có Đức Vua nào như Chúa Giêsu Kitô – Vua của các vua, Chúa của các chúa, đặc biệt là Thiên Vương – Thiên Vương hoặc Thiên Tử đích thực chứ không như các vua chúa trần gian mạo nhận là “thiên tử” đâu. Thế nhưng Ngài vô cùng giản dị và bình dân, thậm chí là số KHÔNG to lớn và tròn trịa: KHÔNG đăng quang, KHÔNG ngai vàng, KHÔNG bệ rồng, KHÔNG long bào, KHÔNG bảo kiếm,… chỉ có đám dân đen tôn Ngài làm Vua, cái mà chúng ta gọi là “ngai vua” đối với Ngài là chính “ngai khổ” Thập Giá.

Ngay trong khi dân chúng tôn vinh Ngài, cả bốn Phúc Âm đều nói rõ rằng lòng kính trọng Chúa Giêsu khi Ngài vào Thành Giêrusalem được thể hiện nhưng không phải tất cả đều là cư dân Giêrusalem. Thánh Mátthêu cho biết: “Khi Đức Giêsu vào Giêrusalem, cả thành náo động, và thiên hạ hỏi nhau: ‘Ông này là ai vậy?’ Dân chúng trả lời: ‘Ngôn sứ Giêsu, người Nadarét, xứ Galilê đấy.” (Mt 21:10-11)

Thấy Chúa Giêsu làm nhiều thứ quá tuyệt vời, quá kỳ diệu, vượt ngoài sức tưởng tượng của loài người, thế nên họ muốn tôn Ngài làm vua, dân chúng đã nhận biết Ngài là ai, họ lũ lượt theo nhau và reo hò vang dội: “Hoan hô Con vua Đavít! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! Hoan hô trên các tầng trời.” (Mt 21:9) Ngài được dân chúng reo hò chúc tụng, nhưng chẳng bao lâu thì họ vội lật mặt nhanh hơn trở bàn tay. Phàm nhân thật tồi tệ! Nhưng sự thật mãi mãi là sự thật.

Có những điều bình thường mà khác lạ. Cây càng cao, gió càng lay. Càng làm lớn càng đau khổ. Khổ từ khi đăng quang và vinh quy bái tổ. Vua chúa, hoàng đế hoặc quốc vương nào cũng có lễ đăng quang. Ngay cả giáo hoàng cũng có lễ đăng quang. Còn Chúa Giêsu thì không! Người ta thường nói: “Khổ ải trần gian,” hoặc “Đời là bể khổ.” Đúng vậy, “biển khổ” chứ không phải “sông khổ” hoặc “ao khổ.” Điều đó cho thấy kiếp người không ngừng nối tiếp đau khổ, là một hành trình đau khổ triền miên. Có lẽ do vậy mà khi sinh ra không ai cười mà lại “cất tiếng khóc chào đời.” Lạ thật! Biết chấp nhận thì có thể “hóa giải” đau khổ thành niềm vui, nếu không thì càng chồng chất thêm đau khổ mà thôi.

Muốn thoát đau khổ không gì hơn là đi xuyên qua đau khổ. Chúa Giêsu cưỡi lừa vào thành Giêrusalem, được người ta tung hô khi tay họ cầm lá thiên tuế chào đón. Nhưng đó cũng là lúc Ngài khởi đầu “hành trình đau khổ.”

CON NGƯỜI ĐAU KHỔ

Đã nhiều lần ngôn sứ Isaia tiên báo về “người tôi tớ đau khổ.” Ông cảm thấy Đức Chúa là Chúa Thượng đã cho ông nói năng như một người môn đệ, để ông biết lựa lời nâng đỡ ai rã rời kiệt sức. Ông xác nhận: “Sáng sáng Người đánh thức tôi để tôi lắng tai nghe như một người môn đệ.” (Is 50:4) Ông cho biết thêm: “Đức Chúa là Chúa Thượng đã mở tai tôi, còn tôi, tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui.” (Is 50:5)

Là hình bóng của Đức Kitô, ngôn sứ Isaia “không cưỡng lại” và “không thoái lui” dù ông phải “đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu” và “không che mặt khi bị mắng nhiếc, phỉ nhổ.” (Is 50:6) Ông tin mình “có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ,” vì thế, ông “không hổ thẹn” mà cứ “trơ mặt ra như đá.” Thế nên ông biết mình sẽ “không phải thẹn thùng.” (Is 50:7) Ông là hình ảnh của Đức Kitô, con người của đau khổ, khởi đầu “hành trình đau khổ” từ Giêrusalem, ngay khi được người ta cầm những cành thiên tuế tung hô là vua.

Thánh vịnh gia mô tả về tình trạng chịu nhục nhã ê chề: “Thấy con ai cũng chê cười, lắc đầu bĩu mỏ buông lời mỉa mai: Nó cậy Chúa, mặc Người cứu nó! Người có thương, giải gỡ đi nào!” (Tv 22:8-9) Người-Tôi-Tớ-Đau-Khổ không chỉ bị khiêu khích, bị đau khổ về tinh thần mà còn bị đau khổ về thể lý: “Quanh con bầy chó đã bao chặt rồi. Bọn ác đó trong ngoài vây bủa, chúng đâm con thủng cả chân tay, xương con đếm được vắn dài; chúng đưa cặp mắt cứ hoài ngó xem.” (Tv 22:17-18)

Con Người Đau Khổ bị đau khổ đến tận cùng, nhưng vẫn luôn trông cậy vào Thiên Chúa: “Áo mặc ngoài chúng đem chia chác, còn áo trong cũng bắt thăm luôn. Chúa là sức mạnh con nương, cứu mau, lạy Chúa, xin đừng đứng xa.” (Tv 22:19-20) Đồng thời vẫn muốn tôn vinh Thiên Chúa trong chính những đau khổ của mình: “Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa cho anh em tất cả được hay, và trong đại hội dân Ngài, con xin dâng tiến một bài tán dương.” (Tv 22:23)

Dù có thế nào cũng vẫn luôn trung tín với Thiên Chúa, Con Người Đau Khổ tự nhủ và động viên người khác: “Hỡi những ai kính sợ Đức Chúa, hãy ca tụng Người đi! Hỡi toàn thể giống nòi Giacóp, nào hãy tôn vinh Người! Dòng dõi Ítraen tất cả, nào một dạ khiếp oai!” (Tv 22:24)

CON NGƯỜI CHỊU ĐỰNG

Người có sức chịu đựng là người mạnh mẽ – mạnh mẽ tinh thần chứ không về thể lý. Những người vạm vỡ, cao lớn, khỏe mạnh, chưa chắc có sức chịu đựng đau khổ. Thánh Phaolô vừa phân tích vừa xác định: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế.” (Pl 2:6) Đạo cũng như đời, người quyền cao chức trọng hiếm thấy ai dám “vi hành” để hiểu rõ cảnh khổ của người dân!

Thế mà có một giám mục rất đặc biệt. Trong tác phẩm “Authority: Its Use and Abuse” Authority: Its Use and Abuse (Sử Dụng và Lạm Dụng Quyền Bính, tác giả LM C.P. Varkey, NXB The Bombay Saint Paul Society, 1999) có kể một số “điểm son” của Đức cố Giám mục Irumpen, GP Palakkad (Ấn Độ) về phong cách đa không:

Mỗi Chúa Nhật, ngài đến một giáo xứ nào đó mà KHÔNG BÁO TRƯỚC, ngồi tòa giải tội khoảng 15-20 phút, dâng lễ, giảng lễ, dạy giáo lý, rồi chuyện trò với giáo dân và linh mục quản xứ; ngài KHÔNG BAO GIỜ cho phép người ta tổ chức tiếp tân chào mừng ngài tại các giáo xứ. Và tại tòa giám mục hay ở bất cứ nơi đâu mà ngài ghé thăm, ngài KHÔNG NHẬN BẤT CỨ SỰ BIỆT ĐÃI NÀO DÀNH CHO MÌNH; ngài cho rằng sự hào nhoáng bên ngoài (kiểu như đoàn xe đưa rước trong những dịp đặc biệt) KHÔNG PHẢI LÀ CHỨNG NHÂN TIN MỪNG mà là chứng nhân của văn hóa thế tục; hằng ngày ngài dành thời gian từ 9 giờ đến 12 giờ để TIẾP BẤT CỨ AI đến gặp, KHÔNG CẦN HẸN TRƯỚC; ngài KHÔNG BAO GIỜ nghỉ trưa; ngài chỉ dự những lễ kỷ niệm chịu chức hay khấn dòng nếu những lễ ấy tổ chức ở nhà thờ chính tòa; ngài KHÔNG tổ chức mừng ngày kỷ niệm thụ phong giám mục của mình. Năm nào ngài cũng mừng lễ bổn mạng, dịp các linh mục tĩnh tâm tháng vào ngày 19-3 (Lễ Đức Thánh Giuse Phu Quân Đức Maria). Linh mục đoàn cùng nâng ly chúc mừng và nhâm nhi chút bánh ngọt; ngài KHÔNG đưa lên bảng thông tin giáo phận các tin về hoạt động hay đi lại của ngài trong giáo phận, mà chỉ thông tin cho mọi người biết trước về những trường hợp ngài phải ra ngoài giáo phận quá một ngày, chẳng hạn khi ngài sắp đi dự họp Hội Đồng Giám Mục,…; ngài KHÔNG BAO GIỜ đi nước ngoài, trừ phi đó là bổn phận bắt buộc – như dịp Ad Limina.

Ngài KHÔNG BAO GIỜ đi nước ngoài để quyên tiền. Ngài nói rằng các nhu cầu căn bản của giáo phận cần phải được gánh vác bởi chính giáo dân trong giáo phận; KHÔNG BAO GIỜ có chuyện “phạt treo,” chẳng hạn không cấp giấy chứng chỉ hôn phối vì người ta chưa đóng góp quỹ; ngài luôn ĂN MẶC GIẢN DỊ, ĂN CHAY TRƯỜNG, và chẳng ai thấy hình ảnh của ngài trên báo chí; ngài hưu trí tại nhà hưu của các linh mục cao niên. Cuộc đời ngài thật đơn giản, tất cả đồ đạc xếp gọn trong một chuyến xe nhỏ; giáo phận tặng ngài một ô tô dịp ngài về hưu, nhưng ngài KHÔNG NHẬN, chỉ muốn được trợ cấp hưu bổng đúng theo mức hưu dưỡng như các linh mục khác trong giáo phận; ngài KHÔNG MUỐN XIN VIỆN TRỢ từ bên ngoài để xây các nhà thờ to lớn. Nếu ai dâng hiến đất, ngài sẽ xây một nhà thờ vừa phải với sự hỗ trợ của chính các giáo dân địa phương; văn phòng của ngài là một gian phòng nhỏ trong một ngôi nhà cũ kỹ, không có bất cứ món trang trí nào; ngài là một chứng nhân Tin Mừng, sống điều ngài rao giảng, cách sống của ngài cho thấy rõ QUYỀN BÍNH LÀ ĐỂ PHỤC VỤ.

Việt Nam cũng có gương sáng nhưng KHÔNG là người Việt, mà là ngừi Pháp. Đó là Đức cố Giám mục Cassaigne (quen gọi cha Sanh, nguyên giám mục GP Saigon), vị tông đồ của người cùi. Khi còn là Giám mục Saigon, ngài cũng đã từng rong ruổi khắp khu dân cư nghèo để thấy rõ thực tế, cửa Tòa Giám mục cũng luôn rộng mở đón tiếp mọi người. Người Việt còn thua xa người ngoại quốc!

Thật đáng khâm phục các chứng nhân như vậy, bởi vì họ đúng là những mục tử của Chúa, dám quên mình vì đoàn chiên, những chủ chăn đích thực và sống động, chứ không nói suông qua các văn bản hoặc bài giảng.

Chúa Giêsu không chỉ là Con Người Đau Khổ mà còn là Con Người Khiêm Nhường: “Ngài lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.” (Pl 2:7) Cái chết của Ngài khác thường là “chết trên thập giá,” loại khổ hình nhục nhã nhất thời đó. Chính vì Ngài chịu đau khổ đến tột cùng mà “Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu,” (Pl 2:9) danh hiệu ấy cao cả và quyền năng đến nỗi “khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ.” (Pl 2:10) Để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Đức Giêsu Kitô là Chúa.” (Pl 2:11)

Không ai muốn đau khổ, chắc chắn như vậy. Nghĩa là ai cũng muốn sung sướng, muốn tận hưởng hạnh phúc – tận hưởng bằng mọi cách và càng nhiều càng tốt. Vì thế mà con người không ngừng tìm kiếm hạnh phúc. Đau khổ luôn bí ẩn đối với loài người. Thậm chí những người chấp nhận đau khổ có thể bị coi là “ngu xuẩn,” là “dại dột,” là “điên khùng.” Tuy nhiên, với người tin vào Đức Kitô, đau khổ là sự mầu nhiệm, đưa người ta tới hạnh phúc trọn vẹn.

Khi một bị cáo đứng trước vành móng ngựa thì có luật sư bào chữa. Trong Giáo hội Công giáo, trước khi phong thánh cho ai thì cũng có 2 “phe,” một phe đưa ra các điều tốt và một phe đưa ra các điều xấu – được gọi là “luật sư của quỷ,” phe luật sư này sẽ đưa ra mọi thứ “bất lợi” cho ứng viên đến khi “chịu thua” mới thôi. Chẳng hạn trường hợp của Thánh GH Gioan XXIII, “luật sư của quỷ” đã hết cách nên đành “tố cáo” Đức Gioan XXIII hay chơi diều thuở thiếu thời. Đúng là hết nước nói!

Tuy nhiên, từ cổ chí kim, chỉ có một tử tội đặc biệt KHÔNG CÓ LUẬT SƯ BÀO CHỮA, cũng CHẲNG CÓ AI BÊNH VỰC một lời nào, đó là ĐỨC GIÊSU KITÔ. Mới ít ngày trước người ta vừa tôn làm vua thì vội lật mặt và đòi đóng đinh vào Thập giá, đến cả những người thân cận nhất cũng sợ liên lụy mà bỏ rơi Ngài, người mà mình luôn tâm phục khẩu phục, ca tụng hết lời và thề hứa đủ điều. Ôi, những lời nói có cánh!

GIỜ ĐÃ ĐIỂM

Điều gì đến sẽ đến. Đúng lúc. Đúng nơi. Đức Giêsu vào bàn cùng các tông đồ và nói: “Thầy những khát khao mong mỏi ăn lễ Vượt Qua này với anh em trước khi chịu khổ hình.” (Lc 22:15) Ngài đưa ra lý do: “Thầy sẽ không bao giờ ăn lễ Vượt Qua này nữa, cho đến khi lễ này được nên trọn vẹn trong Nước Thiên Chúa.” (Lc 22:16)

Vì yêu thương đến cùng và không muốn xa những người Ngài yêu thương, Ngài đã thiết lập Bí tích Thánh Thể, dùng chính Máu Thịt Ngài để nuôi sống chúng ta và ở với chúng ta tới tận thế. Ngài tiên báo mọi chuyện sắp xảy ra như lời trăn trối, để cảnh báo mọi người, và phân tích về cách cai trị: “Vua các dân thì dùng uy mà thống trị dân, và những ai cầm quyền thì tự xưng là ân nhân. Nhưng anh em thì không phải như thế, trái lại, ai lớn nhất trong anh em, thì phải nên như người nhỏ tuổi nhất, và kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ. Bởi lẽ, giữa người ngồi ăn với kẻ phục vụ, ai lớn hơn ai? Hẳn là người ngồi ăn chứ? Thế mà, Thầy đây, Thầy sống giữa anh em như một người phục vụ. Còn anh em, anh em vẫn một lòng gắn bó với Thầy, giữa những lúc Thầy gặp thử thách gian nan. Vì thế, Thầy sẽ trao Vương Quốc cho anh em, như Cha Thầy đã trao cho Thầy, để anh em được đồng bàn ăn uống với Thầy trong Vương Quốc của Thầy, và ngự tòa xét xử mười hai chi tộc Israel.” (Lc 22:25-30)

Ngài cảnh báo riêng về sự dữ đối với Phêrô: “Simon, Simon ơi, kìa Satan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo. Nhưng Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin. Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho anh em của anh nên vững mạnh.” (Lc 22:31-32) Chúa Giêsu thân thiện gọi ông là Simon, gọi tên thật chứ không gọi là Phêrô. Ông thưa: “Lạy Chúa, dầu có phải vào tù hay phải chết với Chúa đi nữa, con cũng sẵn sàng.” (Lc 22:33) Đức Giêsu nói ngay: “Này anh Phêrô, Thầy bảo cho anh biết, hôm nay gà chưa kịp gáy, thì đã ba lần anh chối là không biết Thầy.” (Lc 22:34)

Mặc dù tính nóng như lửa, thế mà Phêrô cũng chỉ biết gãi đầu và im lặng, không thể nói gì. Nói dễ, làm khó. NÓI và LÀM là hai việc khác nhau, có một khoảng cách rất gần mà cũng rất xa. Thế nên người ta nói rằng “khoảng cách xa nhất là từ miệng tới bàn tay.” Thật chí lý thay!

Chúa Giêsu rất quan tâm mọi người vì biết không bao lâu nữa sẽ phải xa họ: “Anh em có thiếu thốn gì không?” (Lc 22:35) Các ông trả lời “không.” Các ông tưởng sắp có chiến tranh và đổ máu nên cùng nói: “Lạy Chúa, đã có hai thanh gươm đây.” (Lc 22:38a) Nhưng Chúa Giêsu bảo họ: “Đủ rồi!” (Lc 22:38b)

Khi Ngài đi ra núi Ôliu, các môn đệ cũng đi theo. Đến nơi, Ngài bảo: “Anh em hãy cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ.” (Lc 22:40) Cầu nguyện là điều cần thiết lắm, thứ nhất là cầu nguyện, thứ nhì mới là hành động. Ngài đi xa các ông một quãng, rồi quỳ gối cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con, mà làm theo ý Cha.” (Lc 22:42) Lúc này Ngài lâm cơn xao xuyến bồi hồi, nên càng khẩn thiết cầu xin. Chúa Giêsu vừa lo vừa sợ, vừa buồn vừa cô đơn, đến nỗi mồ hôi Ngài như những giọt máu rơi xuống đất. (Lc 22:44)

Cầu nguyện xong, Ngài quay lại chỗ các môn đệ, nhưng họ đang ngon giấc. Ngài nói: “Sao anh em lại ngủ? Dậy mà cầu nguyện, kẻo sa chước cám dỗ” (Lc 22:46). Lần thứ hai Ngài nhắc các ông cầu nguyện và xác định việc cầu nguyện rất cần thiết. Ngay lúc đó, Giuđa lại gần Đức Giêsu để hôn Ngài, và để chỉ điểm cho bọn thủ ác đến vây bắt Ngài. Chúa Giêsu ôn tồn: “Giuđa ơi, anh dùng cái hôn mà nộp Con Người sao?” (Lc 22:48) Cách nói nhẹ nhàng mà thấm thía.

Ngày nay, chúng ta cũng vẫn dùng “dấu tốt” để bán Chúa, để mưu hại tha nhân, để làm những điều phi nhân nghĩa. Nhưng người ta vẫn cho là mình hành động đúng đắn! Người ta muốn dùng gươm giáo để chiến đấu, như Phêrô đã tuốt gươm chém người khác, nhưng có lẽ ông run tay nên chỉ đứt tai một tên lính chứ nếu không thì đầu lìa khỏi cổ rồi.

Thấy vậy, Đức Giêsu lên tiếng: “Thôi, ngừng lại.” (Lc 22:51) Và Ngài gắn lại liền tai cho khổ chủ. Phép lạ nhãn tiền thế mà bọn thủ ác vẫn lì lợm, vẫn cứng lòng, vẫn cố chấp! Chúng dẫn Chúa Giêsu đi. Khi đi ngang qua Phêrô, Ngài nhìn ông với ánh mắt sâu thẳm, vừa buồn trách vừa xót thương, ông giật mình vì ông vừa chối Thầy đúng như lời Thầy nói trước. Tiếng gà gáy xoáy sâu vào lòng ông khiến ông vừa xấu hổ vừa ăn năn, ông chạy ra ngoài và bật khóc, khóc như con trẻ, khóc như chưa bao giờ khóc, tiếng khóc rất thảm thiết. (Lc 22:62)

Kẻ ác lắm mưu nhiều chước. Họ bịt mắt Ngài, thốt ra nhiều lời xúc phạm Ngài, rồi hành hạ Ngài đủ kiểu, thâu đêm suốt sáng, không chút xót thương. Khi trời sáng, mọi người đều nói: “Vậy ông là Con Thiên Chúa sao?” (Lc 22:70a) Ngài thản nhiên: “Đúng như các ông nói, chính tôi đây!” (Lc 22:70b) Họ liền vào hùa: “Chúng ta cần gì lời chứng nữa? Chính chúng ta vừa nghe miệng hắn nói!” (Lc 22:71) Sau đó, họ bắt đầu tố cáo Chúa Giêsu đủ thứ, từ chuyện nhỏ tới chuyện lớn, cái gì cũng hóa thành trọng tội, dù là việc làm tốt.

Philatô nhát gan vì sợ mất chức quyền, không dám hành động theo lương tâm, rửa tay để chứng tỏ mình chí công vô tư. Ông ta muốn cho đánh đòn Chúa Giêsu rồi thả ra, nhưng dân chúng không chịu, họ đồng thanh la ó: “Giết nó đi, thả Baraba cho chúng tôi!” (Lc 23:18) Baraba đã bị tống ngục vì một vụ bạo động đã xảy ra trong thành, và vì tội giết người. Họ coi Chúa Giêsu không bằng một tên tử tội tàn ác khét tiếng. Thấy dân chúng nhất quyết xin tha Baraba mà giết Chúa Giêsu, Philatô đành chiều theo ý họ. Thật đê tiện!

Con đường từ dinh Philatô tới Đồi Canvê quanh co, đồi dốc và lởm chởm. Chúa Giêsu phải tự vác thập giá mà đi, biết bao vất vả, sức yếu dần vì bị đòn roi với đủ nhục hình và còn bị đói khát, Ngài đã ngã xuống 3 lần vì sức nặng của Thập giá. Đến Đồi Sọ, họ đóng đinh Ngài vào thập giá, cùng lúc với hai tên gian phi, một tên bên phải, một tên bên trái. Chịu đủ loại nhục hình, từ lời nhục mạ tới hành động đóng đinh, loại tử hình nặng nhất thời đó, và dù đang bị treo trên Thập giá, Đức Giêsu vẫn đại lượng: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” (Lc 23:34)

Kể từ xưa tới nay, và đến mãi về sau, chắn chắn không thể có sự tha thứ nào lớn hơn. Thậm chí tên gian phi cùng bị đóng đinh với Ngài, với chỉ một lời “xin nhớ tới hắn” thôi, thế mà Ngài liền cho hắn đồng hành vào Thiên quốc, và trở thành vị thánh đầu tiên của Tân Ước. Hạnh phúc thay cho Dismas!

Cái chết là kết thúc cuộc sống trần gian, trút hơi thở cuối cùng là ranh giới giữa sự sống và sự chết. Đức Giêsu kêu lớn tiếng: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” (Lc 23:46) Nói xong, Ngài tắt thở. Viên đại đội trưởng thấy sự việc xảy ra như vậy liền cất tiếng tôn vinh Ngài: “Người này đích thực là người công chính!” (Lc 23:47) Những người đến xem cảnh tượng ấy và thấy sự việc xảy ra thì đều đấm ngực trở về. (Lc 23:48) Đó là những biểu hiện sám hối, họ còn may mắn và kịp nhận ra tội mình – không trực tiếp thì cũng gián tiếp giết chết người vô tội, làm khổ tha nhân, sát hại Đức Kitô.

Được tôn làm vua mà không được đăng quang, cũng chẳng có ngai vàng, thay vào đó lại là nhục hình Thập giá. Không có nỗi đau khổ nào bằng nỗi khổ của Chúa Giêsu của chúng ta!

Lạy Thiên Chúa, xin cảm tạ Ngài đã ban Con Ngài đến cứu độ chúng con. Chúng con thật may mắn và hạnh phúc vì được tận hưởng Lòng Thương Xót vô biên nhờ cái chết của Đức Kitô, Mặc dù chúng con nhẫn tâm trực tiếp hoặc đồng lõa sát hại Con Ngài, nhưng chúng con vẫn được tha thứ. Xin ban Thánh Thần giúp chúng con can đảm sống xứng đáng với Ơn Cứu Độ, kiên trì đi trọn hành trình đau khổ và làm chứng nhân của Lòng Thương Xót của Ngài. Lạy Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại, chúng con thành tâm sám hối, xin thương xót, tha thứ, và giúp chúng con cùng chết với Ngài để cũng được phục sinh với Ngài. Amen. mục lục

Thomas Aq. Trầm Thiên Thu

BÌNH THẢN VÀ NHÂN ÁI

Vốn rất thường khác nhau, bốn Tin Mừng đều hòa hợp nhau trong toàn bộ diễn tiến khi viết về cuộc Khổ nạn. Tuy nhiên, tưởng cũng nên nhấn mạnh những gì mà mỗi soạn giả đã nêu bật. Hơn các ông khác, Lu-ca nhấn mạnh đến sự bình thản tuyệt diệu cũng như lòng nhân ái của Đức Giê-su. Đây là hai trọng điểm xen kẽ nhau mà ta sẽ cố gắng nêu bật.

1. Thản nhiên loan báo cái chết

“Thầy những khát khao mong mỏi ăn lễ Vượt Qua này với anh em trước khi chịu khổ hình. Bởi vì, Thầy nói cho anh em hay, Thầy sẽ không bao giờ ăn lễ Vượt Qua này nữa, cho đến khi lễ này được nên trọn vẹn trong Nước Thiên Chúa”. Rồi Người nhận lấy chén, dâng lời tạ ơn… Rồi Người cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn… “Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em… Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy… Chén này là giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em”

Đây là bữa ăn sau hết của Đức Giê-su ở trần gian. Người biết thế và Người nói thế. Tuy nhiên, ta không thể không nhận thấy nỗi an tâm tột độ của Đức Giê-su lúc sắp tử nạn này.

Người đã muốn sống (cảm nghiệm) cái chết của mình trong nội tâm, trước khi nó đến cách cụ thể. Đấy là ý nghĩa của cử chỉ biểu tượng, của bữa ăn giã biệt này. Có thể nói Người “diễn điệu trước” cái chết của mình, Người đặt cái chết trên bàn, như bánh và rượu ban cho những ai Người yêu mến. “Này là mình Thầy hiến tế… Này là máu Thầy đổ ra…”. Ngày mai, máu Người sẽ thật sự tách khỏi thân Người, như tối nay bánh tách khỏi rượu.

Đức Giê-su đã sống cái chết của mình cách ý thức và tự do ngay từ tối hôm trước. Người hình dung nó như một lương thực đầy sức sống cho ai ăn vào. Người biểu lộ qua đó hai tâm tình cho thấy Người hết sức làm chủ bản thân: - đi vào quá trình của cái chết một cách nồng nhiệt: “Thầy những khát khao mong mỏi”; - nhìn ngắm nó với một nỗi vui ngược đời: “Người dâng lời tạ ơn”. Được lặp lại hai lần, thái độ này quả là đặc trưng, tiêu biểu. Các “Lễ tạ ơn” (Thánh thể) của chúng ta chỉ nối dài những gì Đức Giê-su đã làm tối hôm ấy: “Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy”.

Cách nhìn ngắm cái chết như thế hết sức hay ho cho chúng ta. Thật thế, trong mọi hành vi của con người, cái chết là hành vi đặt ra vấn đề cơ bản nhất. Mọi hành vi khác (làm, ăn, chơi, yêu, học v.v…) có thể mặc một ý nghĩa tự chúng, chẳng cần mời Thiên Chúa can thiệp. Nhưng hành vi chết chỉ có thể mặc một ý nghĩa nếu Người hiện hữu. Không có Thiên Chúa, cái chết là tận cùng của mọi sự. Thế mà Đức Giê-su, xét như con người, thật sự là kẻ đã lấy “Thiên Chúa làm nghĩa lý” đời mình, đã trọn vẹn đặt đời mình trên Thiên Chúa. Chính vì thế Người đã biến cái chết của mình thành hành vi đậm đặc ý nghĩa nhất trong toàn bộ cuộc sống phàm nhân của mình. Cái chết của mình, Người nói tối hôm ấy, là khởi điểm của “triều đại Thiên Chúa”, của Nước Thiên Chúa. Trong giây phút ấy, Đức Giê-su hướng về “ngày viên mãn”, lúc Thiên Chúa sẽ thống trị trọn vẹn, vì sự ác và cái chết sẽ chẳng còn. Nên ta hiểu Người đã coi cái chết của mình chẳng phải là một cái gì trống rỗng, vô nghĩa, tiêu cực: Người đã biến nó thành “việc đi về với Cha”. “Thầy lên cùng Cha”… đến với mối tình của Thầy…

2. Đón nhận kẻ bội phản, cầu cho kẻ chối thầy

“Nhưng này bàn tay kẻ nộp Thầy đang cùng đặt trên bàn với Thầy. Đã hẳn Con Người ra đi như đã ấn định, nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người”… “Si-môn, Si-môn ơi, kìa Xa-tan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo. Nhưng Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin. Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho anh em của anh nên vững mạnh… Này anh Phê-rô, Thầy bảo cho anh biết, hôm nay gà chưa kịp gáy, thì đã ba lần anh chối là không biết Thầy”.

Nhìn bày tay môn đồ phản bội đang cùng đặt trên bàn ăn với mình, Đức Giê-su đau xót nhưng lòng vẫn xót thương. Người tội nghiệp cho kẻ đang nuôi ý định nộp thầy vì ý đồ nào đó (chữ “khốn cho” là lời phàn nàn, tiếc nuối chứ không phải là lời thóa mạ nguyền rủa). Tiếp đến, Người tiên báo việc Phê-rô chối Thầy; nhưng tiên báo như thế chính là để tố cáo tên tội phạm đích thực: Xa-tan! “Xa-tan đã xin được sàng anh em”. Và đồng thời cũng loan báo: lời cầu nguyện của Người cho môn đệ sẽ được nhậm và tình thương của Người sẽ toàn thắng. Ơn tha thứ đã được ban rồi, ngay trước khi tội lỗi xảy ra. Những sự chối bỏ của chúng ta đều được Thiên Chúa thứ tha ngay từ đầu. Phê-rô được tha thứ trước khi bắt đầu việc chối thầy hèn nhát của ông: “Thầy đã cầu nguyện cho anh… Phần anh, một khi đã trở lại, hãy củng cố anh em…”         

3. Bình tâm trong cơn chiến đấu

Sau đó, Người đi ra núi Ô-liu như đã quen. Các môn đệ cũng theo Người. Đến nơi, Người bảo các ông: “Anh em hãy cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ”. Rồi Người đi xa các ông một quãng, chừng bằng ném một hòn đá, và quỳ gối cầu nguyện rằng: “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con. Tuy vậy, xin đừng cho ý con thể hiện, mà là ý Cha”… Và mồ hôi Người như những giọt máu rơi xuống đất. Cầu nguyện xong, Người đứng lên, đến chỗ các môn đệ, thấy các ông đang ngủ vì buồn phiền. Người liền nói với các ông: “Sao anh em lại ngủ? Dậy mà cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ”.

Cầu nguyện. Bốn lần Lu-ca gợi lên việc Đức Giê-su cầu nguyện chỉ trong 5 câu (22,41-46). Đó là nơi Người tìm được mọi xác tín đôi khi khiến chúng ta ngạc nhiên. Đó là nơi Người nhận lấy sức mạnh phi thường để đương đầu với đớn đau của cuộc khổ nạn. Đó là nơi Người kín múc sự bình thản siêu phàm mà Người sắp bày tỏ. Nếu chấp nhận theo Lu-ca trong bài suy niệm của ông năm nay, thì ta sẽ thấy tràn ngập Ghet-sê-ma-ni không phải là nỗi khắc khoải của cơn chiến đấu [*] nhưng là “bình an” của một con người biết mình vẫn được Thiên Chúa yêu mến dẫu rằng mình sắp tử nạn. Dấu chứng của cơn chiến đấu đầy khắc khoải đó chính là “mồ hôi Người như những giọt máu rơi xuống đất”. Đây là hiện tượng mồ hôi máu vốn xảy ra trong những điều kiện vô cùng đặc biệt: suy nhược nặng về mặt thể lý, kèm theo chấn động khủng khiếp trong tâm hồn, do bị một cảm xúc sâu xa, lo sợ dữ dội. Chi tiết này chỉ có trong Lu-ca, vị y sĩ (x. Cl 4,14). Nhưng một thiên thần đã đến trợ lực cho Đức Giê-su và xem ra để cùng lúc đón lấy sự chấp thuận của Người. Chi tiết thiên thần đến trợ lực (cũng chỉ có trong Lu-ca) là cách Thánh Kinh diễn tả sự hiện diện của trời cao. Vâng, Thiên Chúa có đó, bên cạnh tôi, khi tôi đau khổ. Nên tôi vẫn vui tươi, an bình!

4. Tha thứ cho môn đệ chối thầy

“Họ bắt Đức Giê-su, điệu Người đến nhà vị thượng tế. Còn ông Phê-rô thì theo xa xa. Họ đốt lửa giữa sân và đang ngồi quây quần với nhau, thì ông Phê-rô đến ngồi giữa họ. Thấy ông ngồi bên ánh lửa, một người tớ gái nhìn ông chòng chọc và nói: “Cả bác này cũng đã ở với ông ấy đấy!” Ông liền chối: “Tôi có biết ông ấy đâu, chị!” Một lát sau… Chừng một giờ sau… Ngay lúc ông còn đang nói thì gà gáy. Chúa quay lại nhìn ông, ông sực nhớ lời Chúa đã bảo ông… Và ông ra ngoài, khóc lóc thảm thiết”.

Lu-ca là người duy nhất trong bốn thánh sử ghi nhận “cái nhìn” của Đức Giê-su trên Phê-rô, cái nhìn tha thứ khiến ông hoán cải. Cái nhìn này, Người cũng đã đặt trên Mát-thêu thu thuế (x. Lc 5,27), trên người phụ nữ tội lỗi (x. Lc 7,44), trên thầu thuế Da-kêu bóc lột (x. Lc 19,5)… Đúng là Tin Mừng của lòng thương xót. Khi tôi phạm tội, Đức Giê-su không kết án tôi… Người nhìn tôi với lòng âu yếm. Và hết thảy mọi ai chấp nhận cái nhìn này thì được “cứu khỏi” mọi phản bội, mọi tội lỗi của mình.

5. Điềm tĩnh trước tòa án thế gian.

“Họ điệu Người ra trước Thượng Hội Đồng và hỏi: “Ông có phải là Đấng Mê-si-a thì nói cho chúng tôi biết!”. Người đáp: “… từ nay, Con Người sẽ ngự bên hữu Thiên Chúa toàn năng”. Mọi người liền nói: “Vậy ông là Con Thiên Chúa sao?” Người đáp: “Đúng như các ông nói, chính tôi đây”. Họ liền nói: “Chúng ta cần gì lời chứng nữa? Chính chúng ta vừa nghe miệng hắn nói!”

Trong các dữ kiện lịch sử nhận từ truyền thống, Lu-ca đã cố ý nêu bật ba tước hiệu của Đức Giê-su: “Mê-si-a”: một tước hiệu hàm hồ, mà Người không mấy thích vì có những âm hưởng chính trị. “Con Người”: tước hiệu Kinh Thánh, rút từ sách Đa-ni-en, được Người ưa hơn. “Con Thiên Chúa”: tước hiệu Đức Giê-su mặc nhiên chấp thuận từ phía tất cả những ai tin Người qua những công trình thần linh Người hoàn tất. Cuộc phục sinh của Người sẽ chứng thực cho tước hiệu cuối cùng này cách rạng rỡ…

Đứng trước Thượng Hội Đồng trong phiên tòa tôn giáo, Đức Giê-su biết đây là giây phút quyết định, sinh mạng mình tùy thuộc vào những lời mình nói, vì các địch thủ, sau bao chứng dối vu vơ, đã muốn Người phải tự kết án chính mình. Và Người đã bình thản tự gán hai tước hiệu sẽ bị coi là phạm thượng: “Con Người ngự bên hữu Thiên Chúa Toàn Năng” và “Con Thiên Chúa”.

“Toàn thể cử tọa đứng lên, điệu Đức Giê-su đến ông Phi-la-tô… Ông hỏi Người: “Ông là Vua dân Do-thái sao?”. Người trả lời: “Chính ngài nói đó”. Ông Phi-la-tô nói với các thượng tế và đám đông: “Ta xét thấy người này không có tội gì”.

Trong phiên tòa dân sự này, Lu-ca cũng nhấn mạnh thái độ bình thản của Đức Giê-su. Trước câu hỏi của vị tổng trấn sau những lời tố cáo tới tấp của các thành viên Thượng Hội Đồng, Người chỉ đơn giản đáp: “Chính ngài nói đó”, khiến cho Phi-la-tô ba lần tuyên bố bị cáo vô tội (x. Lc 23,4.14. 22).

Trước tòa Hê-rô-đê (23,8-12), Đức Giê-su được nhà vua hỏi cũng lắm và bị thượng tế kinh sư tố cáo cũng nhiều, thế nhưng “Người không trả lời gì cả”. Người cũng chẳng phản ứng khi bị Hê-rô-đê và bọn lính chế diễu mà khoác cho một chiếc cẩm bào.

6. An ủi kẻ thương khóc, cầu cho các lý hình

“Khi điệu Đức Giê-su đi, họ bắt một người từ miền quê lên, tên là Si-môn, gốc Ky-rê-nê, đặt thập giá lên vai cho ông vác theo sau Đức Giê-su. Dân chúng đi theo Người đông lắm, trong số đó có nhiều phụ nữ vừa đấm ngực vừa than khóc Người…

Đối với Đức Giê-su lúc này, những lời than khóc thương hại của mấy bà đó không là gì cả, bởi lẽ trước mắt Người, sự đau khổ của Người chỉ có ý nghĩa và giá trị khi đối chiếu với tội lỗi, là sự ác không dò thấu, không hiểu được. Trước cái đó thì sự nghiền nát thân thể Người, dù kinh khủng đến mấy, có là gì đâu! Cái đáng khóc lóc thương xót, đó chính là tội lỗi con người và những hậu quả do tội lỗi đó gây ra cho nhân loại. Do đấy mà Chúa có những lời cảnh báo kèm theo an ủi.

“Bấy giờ Đức Giê-su cầu nguyện rằng: Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”… Với tên gian phi bị đóng đinh thập giá với mình nhưng bênh vực mình và tỏ lòng sám hối, “Người nói: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng”. Đến ba giờ chiều, Đức Giê-su kêu lớn tiếng: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha”.

Toàn thể dân chúng đã kéo đến xem cảnh tượng ấy, khi thấy sự việc xảy ra, đều đấm ngực trở về.”

Lu-ca là người duy nhất ghi lại lời cầu nguyện tuyệt diệu hơn cả của Đức Giê-su trên thập giá: xin Thiên Chúa Cha tha cho các lý hình. Ông cũng là tác giả duy nhất phân biệt tên lành tên dữ trong hai kẻ gian phi (thật ra đó là hai tay kháng chiến chống Rô-ma xâm lược) và tường thuật lời hứa quá ư bất ngờ và hậu hĩ của Đức Giê-su cho kẻ chỉ thống hối vào giờ sau hết. Trong lúc đám đông nơi ba Tin Mừng kia chỉ có lòng thù hận và sự thách thức, thì quần chúng trong Lu-ca, sau khi chứng kiến tất cả cảnh tượng, nghe hết mọi lời tha thứ của Con Thiên Chúa, đều đấm ngực trở về nhà.

Giây phút cuối cùng cũng Đức Giê-su cũng đượm một sự bình thản tuyệt diệu. Vâng, Người đã chết một cái chết an bình. Theo thánh Lu-ca, Đức Giê-su đã chấm dứt cuộc sống phàm nhân trong một lời cầu nguyện liên tục, trong một cuộc trò chuyện dịu dàng và thân tình với Chúa Cha; Người ra đi trong tâm trạng bình thản vì đã tha thứ cho hết thảy, kể cả những ai chủ trương “giết chết Thiên Chúa” mà không biết việc họ làm, đã ban ơn cứu rỗi đời đời cho hết thảy, kể cả những kẻ bất lương, đã ban ơn hoán cải cho hết thảy, kể cả những ai trước đó chỉ biết thách thức và hận thù. mục lục

Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

[*] Từ Hy-lạp agônia trước đây thường dịch là “hấp hối” (agony trong Anh ngữ: Chúa hấp hối trong vườn Cây Dầu) thật ra cũng có nghĩa là “xao xuyến” hoặc “chiến đấu” và thiết tưởng dịch “chiến đấu” thì hay hơn cả.

ĐỨC VUA CỦA NGƯƠI ĐANG ĐẾN

Trải qua gần bốn mươi ngày Chay Thánh, chúng ta bước vào Chúa Nhật lễ Lá, tưởng niệm biến cố Chúa Giêsu tiến vào Thành thánh Giêrusalem, như vị vua của hòa bình, khiêm cung cưỡi trên lưng lừa như lời của ngôn sứ Dacaria: “Nào thiếu nữ Xi-on, hãy vui mừng hoan hỷ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi: Người là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ” (Dc 9, 9). Vị vua ấy sẽ đi vào cuộc khổ nạn như Người đã tiên báo.

Cùng với Hội Thánh, chúng ta cử nghi thức kiệu lá, tưởng niệm biến cố Chúa Giêsu tiến vào thành thánh Giêrusalem. Hình ảnh Đức Giêsu ngồi trên lưng lừa thật đẹp. Người đã mong đợi ngày này từ lâu, không phải để cho mọi người ca tụng tung hô nhưng là để hoàn tất những gì được chép trong Kinh Thánh về Người. Nói đúng hơn, lần này Người tiến vào thành thánh để cứu chuộc nhân loại bằng giá máu châu báu của Người trên thánh giá. Sau khi cử hành nghi thức kiệu lá, dân thánh Chúa tiếp tục cử hành thánh lễ với Bài Thương Khó kể về những cực hình mà Chúa chúng ta đã chịu vì yêu thương chúng ta. Giờ của Người đã đến. Người đi vào thành cách chủ động, tự do và yêu thương đến cùng, hoàn toàn theo thánh ý Chúa Cha.

Khi bước vào cuộc thương khó, Chúa Giêsu đã thực hiện và hoàn tất mọi điều Người đã nói và mọi điều đã được ghi trong Kinh Thánh. Người đã cho nhân loại thấy tình yêu tột đỉnh của mình, một tình yêu dám chết cho người mình yêu. Khi nghe bài Thương Khó, chúng ta có thể thấy được phần nào những cực hình Chúa phải chịu. Chúng ta có nghe thấy tiếng “yêu” của Người dành cho mình? Tiếng yêu ấy không chỉ dừng lại ở hôm nay nhưng là mọi ngày trong đời ta. Đức Giêsu đã trao hiến thân mình làm của lễ đền tội cho chúng ta, nhờ đó chúng ta được giao hòa cùng Thiên Chúa. Người là của lễ vẹn toàn, không tì tích, là của lễ đẹp lòng Chúa Cha hơn hết.

Nhân loại hôm nay vẫn còn đó biết bao người không nhận biết Chúa, từ chối tình yêu của Người. Họ chẳng có kinh nghiệm reo mừng hớn hở khi nhìn thấy Đức Vua Giêsu khiêm cung ngồi trên lưng lừa và đến trong cuộc đời họ. Biết bao người đã không biết đến ân phúc lớn lao, tình yêu lớn lao Thiên Chúa dành cho mình qua Con Một yêu dấu. Còn chúng ta, chúng ta? Chúng ta có đang sống trong ân sủng của Người? Chúng ta đã làm gì để đáp lại tình yêu lớn lao Người dành cho mình? Xin Chúa giúp chúng ta biết đón nhận tình yêu của Người, can đảm đi theo con đường Người đã đi. Chúng ta cũng cầu nguyện cho nhân loại biết đón nhận tình yêu cứu chuộc của Người. Vì Người là Vua của chúng ta. mục lục

Thiên San

BA ĐỪNG!

Chúa Nhật Lễ Lá hôm nay là ngày đầu tiên trong Tuần Thánh. Trong Chúa Nhật lễ Lá và vào chiều thứ Sáu Tuần Thánh, bạn và tôi sẽ nghe bài Tin Mừng nói về Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu Kitô. Hôm nay, tôi xin mời bạn cùng với tôi suy nghĩ về ba khuôn mặt rất KHÓ THƯƠNG của Giu-đa, Phê-rô và các nhà lãnh đạo tôn giáo. Qua những suy niệm về những khuôn mặt KHÓ THƯƠNG này, tôi hy vọng rằng, bạn và tôi sẽ nhận ra những điều chúng ta cần phải tránh và những điều chúng ta nên làm, để nhờ vậy, gương mặt của chúng mình sẽ mỗi ngày trở nên DỄ THƯƠNG hơn.

1. GƯƠNG MẶT CỦA ÔNG GIU-ĐA.

Giu-đa là một trong những môn đệ được Chúa Giêsu yêu thương hết tình, ông được kể vào trong số Mười Hai Tông Đồ. Chúa Giêsu đã thương yêu, quan tâm và chăm lo cho ông từng miếng ăn giấc ngủ: “Anh em hãy lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút." Quả thế, kẻ lui người tới quá đông, nên các ông cũng chẳng có thì giờ ăn uống nữa” (Mc 6:31). Ngài cũng ban cho ông quyền trừ quỷ, chữa bệnh, và giao cho ông chức thủ quỹ, quản lý tất cả tài chánh của nhóm Mười Hai. Vậy mà ông đã bán đứng Ngài: “Tôi nộp ông ấy cho quý vị, thì quý vị muốn cho tôi bao nhiêu.” Họ quyết định cho hắn ba mươi đồng bạc” (Mt 26:14-15).

2. GƯƠNG MẶT CỦA ÔNG PHÊ-RÔ:

Cũng giống như Giuđa, Phêrô cũng được Chúa yêu thương, chăm sóc, lo lắng, và được Ngài giao cho một nhiệm vụ vô cùng cao trọng: “Dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy” (Mt 16:19). Ông còn được gọi là Kê-pha, nghĩa là đá. Vậy mà khi bị người ta chất vấn, thì đá đã mềm ra như bún, ông không những chối, mà lại còn dám cả gan thề độc: "Tôi thề là không có biết người các ông nói đó!” (Mc 14:71).

3. GƯƠNG MẶT CỦA CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO TÔN GIÁO.

Khỏi cần phải nói bạn cũng đã biết rồi, họ là những khuôn mặt cực kỳ KHÓ THƯƠNG chứ không phải chỉ đơn thuần là KHÓ THƯƠNG như Giuđa & Phêrô! Tại sao vậy? Xin thưa là bởi vì họ đã sách động đám đông đòi ông Phi-la-tô phóng thích tên Bara-ba và đóng đinh Chúa Giê-su Đấng đã làm biết bao nhiêu điều tốt đẹp cho dân chúng, Ngài đã chữa bệnh, làm cho kẻ què đi được, kẻ câm nói được, người mù được sáng, kẻ chết sống lại, người cùi được sạch… Những người thủ đoạn và hiểm độc như vậy thì bạn nghĩ thử xem, họ có phải là những người có những gương mặt DỄ THƯƠNG không? Không dám đâu!

Bạn thân mến, nếu bạn đồng ý với tôi rằng Giuđa, Phêrô và các nhà lãnh đạo tôn giáo đều là những người có những gương mặt KHÓ THƯƠNG, thì chúng mình hãy cố gắng, đừng bao giờ hành xử giống như họ. Bạn và tôi phải cố gắng sống sao để gương mặt của chúng mình trở nên thật là DỄ THƯƠNG thì mới được!

Để có thể trở thành người có những gương mặt DỄ THƯƠNG, chúng mình hãy cầu nguyện, xin Chúa ban ơn giúp sức, và phải cố gắng mỗi ngày, để bạn và tôi:

1. KHÔNG VÔ ƠN BẠC NGHĨA.

Thiên Chúa là Cha của chúng mình, Ngài đã, đang, và sẽ còn tiếp tục tuôn đổ muôn ơn lành hồn xác xuống trên bạn, trên tôi, trên gia đình chúng mình, trên giáo xứ, trên giáo hội, cũng như thế giới này. Từ mạng sống, trí khôn ngoan, sự thông minh, tài năng, cho đến thức ăn đồ uống, nhà cửa, xe cộ, bằng cấp, không khí, nước, ánh sáng ... tất cả là đều do Chúa ban cho chúng mình. Nhận ra và ý thức rằng, Chúa chính là vị ân nhân của chúng mình thì bạn và tôi sẽ có khả năng tạ ơn Chúa không ngừng, tạ ơn không ngơi nghỉ.

2. KHÔNG CHỐI CHÚA.

Hãy hãnh diện tuyên xưng chúng mình là môn đệ của Chúa Giê-su Kitô, qua việc sống ngay thẳng thật thà, lạc quan, vui vẻ, hiền hòa, nhân hậu, bác ái với những người chung quanh. Hãy cho những người chung quanh nhận ra dung mạo của Chúa Kitô trong chúng mình, qua việc biết quan tâm đến những nhu cầu của những người chung quanh, và biết thương xót đến những người kém may mắn hơn mình.

3. KHÔNG SÁCH ĐỘNG, VÂY BÈ KẾT ĐẢNG ĐỂ HẠI NGƯỜI.

Đây là một hành động hết sức đê tiện, hèn nhát và bỉ ổi của những kẻ tiểu nhân, xin đừng bao giờ hành xử như các nhà lãnh đạo tôn giáo thời xưa. "Anh em đong đấu nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đong đấu ấy cho anh em, và còn cho anh em hơn nữa" (Mk 4:24). Gieo gió thì có ngày gặt bão, nay ta hại người, mai mốt ta sẽ bị người khác hại cho mà xem, không thoát được đâu!

Tôi tin chắc rằng, khi bạn và tôi biết cảm tạ Chúa, sống có tình có nghĩa với anh chị em, không bao giờ chối bỏ Chúa, nhưng hiên ngang làm chứng cho Chúa ở mọi nơi mọi lúc; và quyết tâm không bao giờ sách động, không kéo bè kéo cánh để hại người, thì chúng mình sẽ có những gương mặt hiền từ, nhân hậu và thật dễ thương cho mà xem! Bạn tin không?

Cầu chúc bạn và những người thân của bạn một Tuần Thánh tràn đầy ơn Chúa, và xin nhớ, thứ Sáu Tuần Thánh chúng ta sẽ ĂN CHAY & KIÊNG THỊT và cầu nguyện cho chiến tranh mau chấm dứt, và hòa bình mau được vãn hồi tại Ukraine. Cảm ơn bạn trước. mục lục

Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

BƯỚC THEO CHÚA GIÊSU KHỔ NẠN VÀ PHỤC SINH

Khai mạc Tuần Thánh với nghi thức làm phép Lá, kiệu Lá kèm theo những bài hát reo hò vang dội phấn khởi mừng vui. “Dọc đàng, người ta trải áo trên lối đi. Khi Người đến gần triền núi Cây Dầu, tất cả đoàn môn đệ hân hoan lớn tiếng ca ngợi Chúa về mọi phép lạ họ đã thấy mà rằng: “Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến! Bình an trên trời và vinh quang trên các tầng trời” (Lc 19,36-38). Giờ đây mỗi người cầm cành lá trong tay vừa đi vừa hát “Hoan hô Thế Tử nhà Đavít…” thấy thật là vui.

Đám đông dân chúng đón rước Chúa lúc đó hân hoan, ngợi khen, chúc tụng, đúng là một bầu khí vui mừng mà chúng ta cảm nghiệm được khi tái cử hành biến cố năm xưa hôm nay. Chúa Giêsu, Thái Tử nhà Đavít tiến vào Giêrusalem đã khơi dậy lên bao nhiêu niềm hy vọng nơi tâm hồn những người đơn sơ, nghèo khổ, bị lãng quên, những người không đáng kể gì trong xã hội. Thế giới chúng ta sống đang rất cần tình thương đó.

Toàn bộ sứ mạng của Người Tôi Tớ Đau Khổ được Isaia tóm lại: lắng nghe để huấn luyện, huấn luyện để loan báo: “Người thức tỉnh tai tôi, để nghe lời Người giáo huấn … Chúa đã ban cho tôi miệng lưỡi đã được huấn luyện, để tôi biết dùng lời nói nâng đỡ kẻ nhọc nhằn” (x. Is 50,4-7).

Chúa Giêsu vốn dĩ là Thiên Chúa, chia sẻ tất cả vinh quang của loài người và vinh quang Thiên Chúa: “Đã trở nên giống như loài người, với cách thức bề ngoài như một người phàm” (Pl 2,7). Là con người, một tạo vật có giới hạn trong thời gian, gắn liền với khổ đau, ngược đãi và bị giết chết. Trở nên giống phàm nhân, ngoại trừ tội lỗi. Dù là Đấng vô tội, Chúa Giêsu đã khước từ vinh quang của Con Thiên Chúa và trở thành Con của loài người, để liên đới với chúng ta là những người tội lỗi. Không những thế, Người đã sống giữa chúng ta trong một “điều kiện của kiếp nô lệ”: không phải như là vua, cũng không phải là ông hoàng, nhưng là nô lệ. Người đã hạ mình, và vực thẳm sự hạ mình của Người mà Tuần Thánh cho chúng ta thấy xem ra không có đáy, “vâng lời cho đến chết” (Pl 2,8), đành mất tất cả để có được vinh quang trở về với Thiên Chúa.

Bị hạ nhục trong tâm hồn với các chế nhạo, xỉ vả, và khạc nhổ,  thân xác phải chịu đánh đập, đòn vọt và mạo gai khiến cho diện mạo của Người không còn hình tượng người ta nữa. Trước quyền bính tôn giáo và chính trị: Ngài đã tự biến thành tội nhân và bị coi là bất chính.

Sau khi bị bán với 30 đồng bạc và bị phản bội bởi một môn đệ Người đã chọn và gọi là bạn. Người bị nộp vào tay kẻ dữ, bị mạc cả với kẻ sát nhân, phải vác thánh giá nặng nhục nhã và bị nhạo báng như tên nô lệ. Người khiêm nhường đến độ không còn được tôn trọng. Người đã tự hủy mình ra không, không còn sức để vác cây thập giá. Người đã cảm nhận trên da thịt mình sự dửng dưng, bởi vì không ai muốn lãnh trách nhiệm đối với số phận của Người. Dân chúng biến các lời chúc tụng thành tiếng kêu tố cáo, thích cho kẻ sát nhân được trả tự do cho họ hơn. Và thế là Chúa bị chết trên thập giá, là cái chết đớn đau và hổ nhục nhất dành cho các kẻ phản bội, nô lệ và các kẻ tội phạm tồi tệ nhất.

Chúa không đòi cho mình một đặc quyền đặc lợi nào, chẳng là gì trước sự tàn bạo của binh lính, kể cả Simon người Cyrênê, Chúa cũng chẳng là gì, ông kề vai vác đỡ, chẳng qua ông bị bắt vác mà thôi. Ông không biết ý nghĩa, cử chỉ vác thánh giá này. Những người nhạo báng hay tên lính lấy bọt biển nhúng giấm cho Chúa uống, họ có hiểu được không?

Ba năm mỏi chân đi giảng đạo cho muôn dân, với những phép lạ Chúa không giúp cho họ khám phá con người thật của Chúa Giêsu. Trong vườn Cây Dầu, một mình đối diện với Chúa Cha, Chúa không xin điều gì: ngoại trừ xin ơn tha thứ cho những ai làm khốn mình, vì Chúa đến để mang ơn tha thứ cho mọi người: “Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm” (Lc 23,34).

Cùng chịu đóng đinh với Chúa Giêsu có hai tên trộm cướp, một đứa bên trái, một đứa bên phải. Một kẻ nhạo báng Chúa, còn kẻ kia thừa nhận mình là kẻ có tội: “Chúng ta phải chịu xứng với việc chúng ta đã làm” (Lc 23,41).

Một trong hai tên trộm thưa Chúa Giêsu rằng:  “Xin nhớ đến tôi cùng…” (Lc 23,41). Chúa Giêsu trả lời ngay lập tức: “Quả thật, Ta bảo ngươi: ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta” (Lc 23,42). “Vào khoảng giờ thứ sáu, tối tăm liền bao trùm cả mặt đất cho đến giờ thứ chín…màn trong đền thờ xé ra” (Lc 23,44-45). Chúa Giêsu trút hơi thở trao phó linh hồn trong tay Chúa Cha và từ nay, chắc chắn Người là tác nhân Phục Sinh, hoàn tất điều có thể trao ban. Lòng thương xót của Chúa chạm tới con tim của viên quản bách quân, khiến anh ngợi khen vinh quang Thiên Chúa, và đám đông cảm thấy nhu cầu cần thiết phải được tha thứ liền đấm ngực ăn năn trở về mừng lễ Vượt Qua.

Lạy Chúa, chúng con vừa cử hành các mầu nhiệm thánh, Chúa đã ban cho chúng con được thỏa chí toại lòng. Nhờ Con Một Chúa chịu khổ hình thập giá, Chúa làm cho chúng con tin tưởng vững vàng sẽ được ơn cứu độ, thì nhờ mầu nhiệm Người đã phục sinh, xin cho chúng con đạt tới quê trời như lòng hằng mong ước. Amen. mục lục

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

ƯỚC MONG TUẦN THÁNH

Bắt đầu Tam Nhật Vượt Qua
Đất trời bất chợt âm u khác thường
Người ta vừa mới hô vang:
“Chúc tụng Chúa bởi Thiên Đường tới đây!” [1]
Thế mà lại lật mặt ngay:
“Kẻ bịp bợm này phải đóng đinh thôi!” [2]
Khốn thay một lũ người đời
Bất nhân, bất nghĩa như loài quỷ ma.
Không khen mà chỉ trách chê
Thế thì sỏi đá cũng ca tụng Ngài [3]
Lạy Thiên Chúa, Đấng Ngôi Hai
Xin thương tha thứ tội đời chúng con.
Tội đầy mà tưởng mình ngon
Xấu xa, khốn nạn mà thường kiêu căng
Con mong sống tốt, đàng hoàng
Con xin chết để được cùng phục sinh.

Viễn Dzu Tử - mục lục

[1] Lc 18:38.
[2] Mt 27:23; Mc 15:13; Lc 23:21; Ga 19:15.
[3] Lc 19:40.

NỖI NIỀM CỦA LÁ

Dẫu xanh biếc, dẫu úa vàng
Lá vẫn rộn ràng vạn tuế Giê-su
Lá non trẻ, lá già nua
Chung lời chúc tụng Đức Vua vào Thành.
Nhân Danh Thiên Chúa uy linh
Giê-su là Đấng cứu sinh loài người
Lá xanh, vàng, đỏ,… khắp nơi
Lá là chính những con người trần gian.
Mới vừa vạn tuế hô vang
Thế mà đã vội la rằng: “Đóng đinh!”
Phàm nhân thật quá bạc tình
Hại ngay người được chính mình tung hô.
Lạy Giê-su, Đức Ki-tô!
Cúi xin thương xót thứ tha nhân trần
Tháng ngày chồng chất lỗi lầm
Chúng con là những ác nhân đốn hèn.
Miệng khen ngợi, bụng tà gian
Hùa nhau mà đóng đinh Con Chúa Trời
Vong ân bội nghĩa với Ngài
Thật là khốn nạn bọn người chúng con.
Cuộc đời lá quá vô tâm
Xin được âm thầm sám hối, ăn năn
Khát khao được mãi thắm xanh
Như màu của lá trên cành yêu thương.
Tạ ơn Tình Chúa miên trường
Xót thương cứu độ cả phường ác nhân.

Viễn Dzu Tử - mục lục

SỐNG ĐẠO TUẦN THÁNH  

Hãm mình 

Ăn chay không phạt xác, 
Ăn chay dưỡng linh hồn. 
Tính mê và nết xấu 
Quyết chí đem đi chôn… 

Đền tội 

Cha tha tội con rồi 
Con vui mừng cảm mến 
Việc đền tội diễn tiến, 
Cha thêm sức, Cha ơi! 

Rước lá 

Rước lá tung hô Chúa 
Tiếp tục theo chân Ngài 
Hết chặng đường chông gai  
Cảm nghiệm tình yêu Chúa. 

Trước khi vào chịu nạn 

Vườn Giết si ma ni 
Nhận mồ hôi, máu Cha 
Trào ra khi lộ rõ
Tội loài người gớm ghê… 

Thứ Năm Tuần Thánh 

Giơ chân cho Chúa rửa 
Nước mắt nhỏ long tong 
Đưa tay nhận rượu bánh 
Lửa mến rực trong lòng.

Truyền Chức Thánh 

Chính trong bữa Tiệc ly 
Cha loan truyền Chức Thánh
Rằng: Nghi Lễ Bẻ Bánh 
Các con sẽ thực thi… 

Cha giải tội 

Cha Kitô ngự giữa 
Hai kẻ trộm hai bên 
Trộm dữ chê bai Cha 
Trộm lành xưng đức Tin 
Cha ghé mắt bên phải 
Phán ra lời tha tội 
Và ban phúc trường sinh… 
Ôi Cha rất nhân lành! 

Cha khát 

Ngước nhìn lên Thánh Giá
Chúa đang chịu cực hình 
Con nghe lời Cha phán:
“ Ta khát hồn sinh linh.” 

Biểu tượng ơn Cứu Độ 

Tim Con bị đâm thâu 
Tim Mẹ ủ rầu rầu 
Máu rơi hoà nước mắt 
Gio An ướt mái đầu… 

(Thế Kiên Dominic) mục lục

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan