SUY NIỆM CHÚA NHẬT III PHỤC SINH_C 2022

01-05-2022 78 lượt xem

Lời Chúa: Cv 5,27b-32.40b-41; Kh 5,11-14; Ga 21,1-9

CHỨNG NHÂN PHỤC SINH

Sách Tông đồ Công vụ thường được gọi là Phúc Âm của Chúa Thánh Thần. Nội dung sách này kể lại đời sống Đức tin của cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi, nhất là chứng từ của các tông đồ và nỗ lực truyền giáo của các ngài. Vào thời sơ khai ấy, nội dung lời giảng dạy của các tông đồ rất đơn giản, chỉ là sự quả quyết Đức Giêsu đã chết nhưng đã sống lại theo như lời Thánh Kinh và Người đang hiện diện giữa các tín hữu. Bài đọc I cho thấy, vị Thượng tế và các thành viên Thượng Hội đồng rất đỗi ngạc nhiên, vì thấy Phêrô và các tông đồ là những người dân chài ít học quê mùa, nhưng lời chứng của các ông rất rõ ràng, xác quyết. Các ông còn sẵn sàng chấp nhận đau khổ để chứng minh sự sống lại của Đức Giêsu. Hơn nữa, Phêrô còn tỏ ra rất uyên bác và khôn ngoan, khi tuyên bố trước các thành viên của Thượng Hội đồng: “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm”. Ông còn diễn giải sự phục sinh của Đức Giêsu là do quyền năng của Thiên Chúa. Ông sẵn sàng làm chứng, cùng với Thánh Thần “Đấng mà Thiên Chúa đã ban cho những ai vâng lời Người”. Lời chứng của các ông mạnh mẽ đến nỗi, những thành viên Thượng Hội đồng là những người học thức, phải im lặng. Họ không làm gì được các ông, và chỉ còn gỡ thể diện bằng cách cho đánh đòn rồi thả các ông ra.

Không chỉ Phêrô và các tông đồ, cộng đoàn tín hữu tiên khởi cũng xác tín vào sự hiện diện của Đấng Phục sinh. Chính Đấng Phục sinh đã làm cho lời giảng của các tông đồ mang tính thuyết phục. Chính Đấng Phục sinh đã quy tụ các tín hữu, để làm nên một thân thể và một tâm hồn, liên kết với nhau trong tình hiệp thông. Vì thế mà số người tin theo Chúa Giêsu qua lời giảng của các tông đồ tăng lên nhanh chóng.

Thực ra, ban đầu các môn đệ cũng rất hoang mang trước cái chết của Chúa. Câu chuyện hai môn đệ trên đường Emmaus là một ví dụ. Dường như các ông chưa hiểu được sứ mạng của mình sau sự kiện Phục sinh. Việc ông Phêrô đi đánh cá, và các môn đệ cùng đi với ông trong bài Tin Mừng hôm nay cho thấy các ông đã muốn trở lại với nghề nghiệp cũ, tức là nghề đánh cá, là công việc các ông vẫn làm trước khi theo Chúa Giêsu. Bởi lẽ khi nghe Chúa gọi, các ông đã bỏ thuyền, bỏ chài lưới và bỏ gia đình, cha mẹ mà đi theo Người. Qua việc các ông đi đánh cá, dường như việc theo Chúa đã kết thúc. Hơn ai hết, các ông hiểu thời điểm và vị trí nào thuận tiện để mẻ lưới có kết quả. Tuy vậy, các ông vất vả suốt đêm mà không được con cá nào. Chỉ đến lúc Đức Giêsu hiện ra và bảo các ông thả lưới bên phải mạn thuyền, lúc bấy giờ, các ông mới thu hoạch được mẻ lưới kỳ diệu.

Khi từ cõi chết sống lại, Đức Giêsu hiện diện giữa các môn đệ với một phong thái khác. Chính các ông cũng không nhận ra Người, mặc dù trước đó các ông ở với Người, cùng ăn uống với Người. Chỉ khi trực tiếp chứng kiến mẻ cá lạ, mắt các ông mới mở ra và nhận ra Thày mình. Sự hiện diện của Đấng Phục sinh mang tính huyền nhiệm linh thiêng, không còn như trước, bởi Người đã từ cõi chết sống lại. Nếu Chúa hiện diện vô hình và huyền nhiệm, thì hiệu năng của sự hiện diện ấy lại vô cùng mãnh liệt. Thánh sử Gioan ghi rõ số cá thu được từ mẻ lưới lạ là 153 con. Theo các nhà chú giải Kinh Thánh, con số 153 là số loài cá dưới đại dương mà những nhà nghiên cứu chuyên môn thời bấy giờ thống kê được. Như thế, 153 con cá có nghĩa là tất cả các loài cá dưới đại dương. Ơn cứu độ mà Thiên Chúa thực hiện qua Đức Giêsu Kitô mang tính hoàn vũ. Tất cả mọi người dưới gầm trời này, nếu đến với Đức Giêsu và đón nhận giáo huấn của Người, thì đều được cứu rỗi. Đó cũng là điều tác giả sách Khải Huyền đã thấy trong thị kiến, ở Bài đọc II của Chúa nhật này. Tác giả viết: “Tôi nghe thấy mọi loài thụ tạo trên trời dưới đất, trong lòng đất, ngoài biển khơi và vạn vật ở các nơi đó, tất cả cùng tung hô: “Xin kính dâng Đấng ngự trên ngai và Con Chiên lời chúc tụng cùng danh dự, vinh quang và quyền năng đến muôn thuở muôn đời”. Con Chiên chính là hình ảnh của Đức Giêsu, Đấng đã chịu sát tế làm của lễ dâng lên Chúa Cha, giống như con chiên mà người Do Thái giết trong dịp lễ Vượt qua để tưởng niệm việc Chúa cứu Dân Ngài ra khỏi Ai Cập. Như máu chiên bôi trên khung cửa nhà người Do Thái để tránh cho các con đầu lòng bị tàn sát, máu Chúa Giêsu đổ ra trên thập giá tẩy rửa tội lỗi, giải phóng và ban ơn cứu độ cho loài người.

Cuộc gặp gỡ giữa các môn đệ với Đức Kitô Phục sinh, vừa củng cố Đức tin của các ông, đồng thời cũng là dịp Chúa trao trách nhiệm trông coi đàn chiên, mà người đứng đầu là Phêrô. Trách nhiệm này chỉ được trao phó khi Phêrô thành tín tuyên xưng tình yêu mến và lòng trung thành. Lời tuyên xưng ấy, Phêrô đã giữ suốt đời, cho đến lúc chết để làm chứng cho Thày mình. Tác giả cuốn tiểu thuyết nối tiếng “Quo Vadis” của nhà văn người Ba Lan, Henryk Sienkievich, đã diễn tả Phêrô như một ông cụ già nua, khả kính, luôn hiện diện giữa cộng đoàn tín hữu trong lúc cuộc bách hại của hoàng đế Nêrô ở thời điểm khốc liệt nhất. Trong cuộc hành hình các tín hữu ở Hý trường Rôma, Phêrô vẫn hiện diện giữa đám khán giả, để chúc lành cho các tín hữu đang bị làm mồi cho sư tử. Sự hiện diện của vị Tông đồ trưởng đã tiếp thêm sức mạnh để các tín hữu can đảm và trung thành tuyên xưng Đức tin cho đến hơi thở cuối cùng. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Phêrô cảm thấy buồn, vì Thày hỏi đến ba lần về lòng yêu mến. Thực ra, những cử chỉ và lời nói yêu thương cần phải được lặp đi lặp suốt cả cuộc đời, như đôi lứa đang yêu tâm sự cùng nhau, như mẹ cha nói với con cái và như con cái tỏ bày với cha mẹ. Phêrô đã trung thành với lời hứa ấy. Chúa đã quên quá khứ của ông. Người không còn nhớ đến lỗi lầm của Phêrô cũng không còn nhớ đến lỗi lầm của chúng ta.

Cũng như Chúa đã trao cho Phêrô nhiệm vụ chăm sóc đàn chiên, Người cũng đang mời gọi chúng ta làm chứng cho Người giữa thế gian. Làm chứng cho Chúa Phục sinh là sứ mạng nhiều khó khăn gian khổ. Chúa đã nói với tông đồ Phêrô về một tương lai sắp tới: “Anh sẽ phải giang tay cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn”. Thánh sử Gioan đã nhận thấy đây là một lời tiên tri, ám chỉ Phêrô sẽ phải trải qua đau khổ và phải chết. Những chứng nhân của Chúa, thời nào cũng trải qua thập giá. Bởi lẽ, chúng ta rao giảng một Đức Giêsu chịu khổ hình và chịu đóng đinh. Muốn là người môn đệ đích thực, Kitô hữu phải đi trên con đường Thày mình đã đi. Đó là con đường thập giá. Nhưng thập giá không phải là đích điểm của hành trình Kitô hữu. Đó chỉ là một chặng đường tiến tới Phục sinh. Chúng ta đang đi trên con đường ấy, với lòng kiên nhẫn và trung thành, có Đấng Phục sinh luôn hiện diện và đỡ nâng chúng ta. Tác giả sách Tông đồ Công vụ đã ghi lại một điều bất ngờ: khi Thượng tế và các thành viên Thượng Hội đồng ra lệnh đánh đòn ông Phêrô và các Tông đồ, có ý đe doạ và làm các ông xấu hổ, các ông lại vui mừng hân hoan bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Đức Giêsu. Tuyên xưng Đức tin vào Chúa Giêsu không phải là một điều xấu hổ hay thẹn thùng, nhưng một vinh dự mang lại niềm vui. Tuy vậy, để có thể tuyên xưng Đức Giêsu Phục sinh, chúng ta phải kết nối với Người, tức là gặp gỡ Chúa, qua lời cầu nguyện và niềm tín thác cậy trông.

Người tín hữu mừng lễ Phục sinh không giống như một lễ hội thế tục. Các nghi lễ Phụng vụ giúp cho chúng ta gặp gỡ Đấng Phục sinh, để xác tín vào sự hiện diện của Người, đồng thời có khả năng giới thiệu Chúa cho những người xung quanh mình.

Xin cho mỗi Kitô hữu chúng ta can đảm làm chứng cho Chúa giữa đời, để rồi nếu người thời nay không nhìn thấy Đấng Phục sinh, thì họ nhận ra Người đang sống và đang hiện diện qua những môn đệ của Người là chính chúng ta. Amen.

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

TÌNH THẦY TRÒ PHÊRÔ – GIÊSU VÀ GIOAN

Vào lúc bình minh ló rạng. Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ và hỏi: “Này các con, có gì ăn không?” Họ đồng thanh đáp: “Thưa không”. Chúa Giêsu bảo: “Hãy thả lưới bên hữu thuyền thì sẽ được”. Các ông liền thả lưới và hầu không kéo nổi lưới lên, vì đầy cá. Người môn đệ Chúa Giêsu yêu liền nói với Phêrô: “Chính Chúa đó”. Simon Phêrô nghe nói là Chúa, liền khoác áo vào, vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển (Ga 21, 5- 7). Hỏi : Đâu là cái để Gioan với biệt hiệu là “người môn đệ Chúa yêu” nhận ra Thầy mình, và điều gì đã khiến Phêrô khoác áo vào và nhảy ngay xuống biển? Thưa: Tình yêu.

Tình thầy trò

Tình thầy trò Phêrô – Giêsu và Gioan thật đậm đà thắm thiết. Tình yêu giúp người môn đệ được yêu mến là người đầu tiên nhận ra chính Chúa (x. Ga 21,7). Vì yêu mà Gioan được ngồi cạnh Thầy trong bữa Tiệc Ly và tựa đầu vào ngực Chúa và hỏi thay cho Phêrô (x. Ga 13, 23). Nhờ yêu mà Gioan cùng với Thầy đi vào nhà Caipha bằng cổng chính như những mục tử, chứ không như Phêrô phải ở ngoài chờ Gioan ra dẫn vào.

Từ yêu đi đến hành động. Phêrô chỉ được chọn làm thủ lãnh và chăm sóc đàn chiên Chúa sau khi công bố yêu mến Thầy đến ba lần (Ga 21,15-17). Chúa chọn Phêrô với trọn tình yêu. Phêrô đáp lại cách trung thành, dù phải mất mạng (Ga 21,18). Dẫu biết rằng, đàn chiên thuộc về Thầy Giêsu chứ không thuộc về trò Phêrô.

Nhìn vào lịch sử, chúng ta thấy rõ được tình Thầy trò Giêsu. Gioan là người duy nhất trong các tông đồ ra đi trong tuổi già. Ngài cũng là môn đệ được Chúa Giêsu trao phó nghĩa vụ làm con thay thế Thầy đón Mẹ Thầy về nhà chăm sóc.

Phêrô đã tiếp nối công việc Thầy trao, chèo lái con thuyền Giáo Hội từ buổi sơ khai, rao truyền giáo huấn của Thầy cho những người chưa biết, bảo vệ chân lý về Ơn Cứu Độ mà Thầy đã trao ban. Ông hạnh phúc được lãnh nhận phúc tử đạo giống như cái chết của Thầy. Con thuyền Giáo Hội do Phêrô cầm lái vượt qua biết bao sống cả ba đào, và cho đến hôm nay vẫn vững chắc lướt qua sóng gió trần gian.

Mẻ cá tình yêu

“Lúc rạng đông, Chúa Giêsu hiện đến trên bời biển” (Ga 21,4). Biển là gì nếu không phải là biểu tượng của thế gian đang bị xô đẩy bởi những con sóng dữ dội và vòng xoáy của ba thù, và bờ tượng trưng cho sự sống đời đời đó sao? Các môn đệ đã vất vả, cực nhọc suốt đêm trên biển để đánh bắt cá, đương đầu với những con sóng của cuộc sống hay chết, nhưng Đấng Cứu Chuộc chúng ta, sau khi sống lại, Người đứng trên bờ. Theo thánh Grêgôriô Cả (540-604), Giáo hoàng, Tiến sĩ Hội Thánh giải thích thì: Chúa Giêsu đứng trên bờ, vì sau khi sống lại, Người đã vượt qua các điều kiện của một xác thịt mong manh hay hư nát, Người đứng trên bờ để nói cho các môn đệ về mầu nhiệm phục sinh, rằng: “Thầy không hiện ra với anh em trên mặt biển nữa” (x. Mt 14,25), bởi vì Thầy không còn ở với anh em trong lúc biển gầm bão tố nữa. Chúa ở trên bờ để kéo các ông lên bờ và biến các ông từ nay trở thành những kẻ lưới người ở trên bờ, chứ không lưới cá ở dưới nước nữa. (Trích Homélies sur l’Évangile, n°24).

Trở lại với mẻ cá lạ của các môn đệ làm theo lệnh truyền của Chúa Phục Sinh, vào buổi bình minh của ngày mới, Chúa hiện ra với các môn đệ lần thứ ba. Nếu như Tin Mừng không nói rõ, chúng ta không thể tưởng tượng được rằng chính Chúa sẽ chuẩn bị một cái gì đó cho chính mình cũng như các môn đệ, những ngư dân mệt mỏi suốt đêm nay cần đồ ăn sáng.

Chúa Giêsu Phục Sinh đã cách mạng hóa cuộc sống của họ và biến đổi lịch sử nhân loại ở mọi nơi mọi thời. Các Tông Đồ thấy rằng họ đã thất bại, họ đã không đạt được tầm mức mà Đấng Mê-sia mong đợi. Trong lưới của Phêrô và các môn đệ, người ta nhận ra sự kiệt sức, gần như đầu hàng, chẳng những không hướng về Thiên Chúa, mà còn đối diện với sự nghèo nàn của chính họ. Phêrô nói: “Tôi đi đánh cá đây“(Ga 21,3), ngay lập tức những người khác cũng đi theo, dường như muốn nói: “Bây giờ họ không có gì khác để làm“.

Quả thật, con người của các Tông Đồ lúc này: Sau “khổ đau” của Thập Giá, họ đã trở về gia đình, với cộng việc thường nhật, có người đi đánh cá, nghĩa là họ trở về lại con người và làm những công việc trước lúc chưa gặp Chúa Giêsu. Điều này chứng tỏ bầu khí phân tán và rối loạn trong nhóm (x. Mc 14, 27, và Mt 26, 31). Đó là khó khăn cho các môn đệ để hiểu những gì đã xảy ra, khi mà tất cả dường như đến hồi kết, thì trên đường Emmaus, Chúa Giêsu đã đến với các môn đệ dưới dạng khách đồng hành. Giờ đây, Chúa gặp gỡ họ lúc họ đang ở biển, là nơi mà tâm trí họ nặng trĩu vì những thử thách gian truân của cuộc đời; Người gặp họ vào rạng sáng ngày hôm sau khi họ vất vả cực nhọc vô dụng suốt đêm. Lưới họ không có gì, cách nào đó, điều này cho thấy cảm nghiệm của họ với Chúa Giêsu, họ biết Chúa đang ở bên họ, và Chúa hứa với họ nhiều điều. Tuy nhiên, họ thấy mình bây giờ với mẻ lưới  trống rỗng.

Các Tông đồ thấy mỏi mệt, nhưng xúc động trước tình yêu của Thầy, họ thả lưới ở “phía bên kia” thuyền. Câu hỏi được đặt ra: Tại sao lại bên kia? Bên kia là bên của tình yêu Thiên Chúa. Tấm lưới của Phêrô đã được thả xuống từ một phần của tình yêu Chúa. Tình yêu ấy rất cần thiết trong thế giới hôm nay.

Hiệp nhất trong tình yêu

Phúc âm thánh Gioan có hai cảnh bên lửa than hồng. Một lần bên lò sưởi, Phêrô chối Thầy ba lần (Ga 18). Lần hai cũng bên lửa than, ông bày tỏ tình yêu với Thầy mình ba lần. Tình yêu đã tẩy xóa tội của ông và nối kết ông trở lại với Đức Giêsu.

Bữa ăn mà Chúa Giêsu dọn cho các môn đệ là bữa ăn hiệp nhất trong tình yêu (x. Ga 21,9-13) tiên trưng cho phép Thánh Thể. Lưới không rách là dấu chỉ sự hiệp nhất mà 153 con cá do các môn đệ mang bắt được tượng trưng cho cả thế giới lúc bầy giờ là 153 nước đến với Chúa Giêsu.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

CHÚA GIÊSU HIỆN RA BÊN BỜ HỒ TIBÊRIA

Nếu người ta muốn chế ra Sự Phục Sinh, thì tất cả sự nhấn mạnh sẽ phải nhắm vào tính xác thực hoàn toàn của thân xác, vào thực tế là người ta có thể nhận ra Ngài ngay lập tức và, ngoài ra, có lẽ người ta cần phải tưởng tượng ra một quyền năng riêng như một dấu chỉ đặc trưng của Đấng Phục sinh…

Đây là một tin mừng có mùi hương tươi mát của buổi sáng! Hồ Tiberia rộng lớn, nơi nước hòa vào đường chân trời với bầu trời xanh ngắt, trở thành hình ảnh của tương lai rộng mở của Giáo hội, nơi Trời và Đất gặp nhau. Đúng vậy, tin mừng tuyệt vời này mang lại cho chúng ta sự can đảm trong những thời điểm khó khăn này: chúng ta có thể mạo hiểm trên biển khơi trong thời gian sắp tới, bởi vì Chúa Giêsu thực sự hiện diện trên bờ biển, và vì lời của Ngài đồng hành với cuộc vượt biển của chúng ta.

Mở đầu câu chuyện, có một sự tương phản nhất định giữa các môn đệ và Chúa Giêsu: Các môn đệ ở dưới biển, trái lại, Chúa Giêsu ở trên đất liền. Các môn đệ lao động suốt đêm, thay vào đó Chúa Giêsu hiện ra trong ánh ban mai vui tươi. Các môn đệ đang đói và không có gì để ăn, trái lại, Chúa Giêsu vốn no lòng lại dọn sẵn một bữa ăn cho họ.

Điều đáng ngạc nhiên là Chúa Giêsu không được nhận ra ngay lập tức. Đây cũng là trường hợp của tất cả các câu chuyện Chúa Giêsu Phục sinh hiện ra. Và bây giờ chúng ta có thể tự hỏi mình, tại sao họ không nhận ra Ngài? Bởi vì việc kinh nghiệm Chúa Giêsu Phục sinh rõ ràng không phải là việc gặp lại một người bạn cũ không ai còn thấy!

Đức Bênêđíctô đã viết “[có] một phép biện chứng đáng kinh ngạc giữa căn tính và sự khác biệt, giữa tính thực của thân xác và sự tự do không bị ràng buộc bởi thân xác… Cả hai điều này đều đúng: Ngài vẫn thế - một người bằng xương bằng thịt - và Ngài là cũng là Người Mới, người đã bước vào một dạng tồn tại khác… Nếu người ta muốn chế ra Sự Phục Sinh, thì tất cả sự nhấn mạnh sẽ phải nhắm vào tính xác thực hoàn toàn của thân xác, vào thực tế là có thể nhận ra Ngài ngay lập tức và, ngoài ra, có lẽ người ta cần phải tưởng tượng ra một quyền năng riêng như một dấu chỉ đặc trưng của Đấng Phục sinh ... Nhưng không phải thế, những cuộc gặp gỡ với Đấng Phục sinh là một điều gì đó khác với những sự kiện nội tâm hoặc những kinh nghiệm thần bí - chúng là những cuộc gặp gỡ thực sự với Đấng Đang Sống, theo một cách mới mẻ, có một cơ thể và vẫn còn vật chất.”

Tóm lại, để nhận ra Chúa Giêsu, người ta phải mở ra cho mình một hình thức hiện diện mới, không kém phần hiện thực nhưng thuộc một trật tự khác. Như vậy, Chúa Giêsu Phục sinh không kém phần có thực, chỉ kém phần hiện thực bằng mắt thường mà thôi.

Bạn đã nghe rồi, không phải các môn đệ, đang hoang mang vì mệt mỏi và vì màn đêm, là những người nhìn thấy Chúa Giêsu trên bờ. Trái lại, sáng kiến ​​đến từ Chúa Giêsu, Ngài gọi họ! Ngài cho họ thấy! Ngài tham gia cùng họ sau một đêm tối, trong nỗi vất vả của họ, trong nỗi lo lắng của họ, trong cơn đói của họ. Tương tự như vậy đối với chúng ta ngày nay, thường là khi chúng ta phải vất vả suốt đêm, chẳng làm được gì, thì Thiên Chúa dễ nhìn thấy và dễ nghe thấy hơn!

Chắc chắn Chúa không tự traoban nhiều hơn cho chúng ta trong cuộc chiến ban đêm. Tuy nhiên, khi chúng ta vẫn còn đủ mạnh mẽ để có thể tự mình giải quyết mọi chuyện  thì việc lắng nghe Chúa và nhìn nhận Ngài sẽ khó hơn.

Nghịch lý thay, việc lắng nghe tiếng gọi của Chúa Giêsu lại dễ dàng hơn khi chúng ta đã tự mình cảm nghiệm sự cằn cỗi của mình! Đáng ngạc nhiên là Chúa Giêsu Phục sinh trở nên cụ thể hơn khi chúng ta không bắt được gì, khi chúng ta mệt mỏi, khi chúng ta đói. Nói cách khác, khi bằng chứng về sự yếu đuối của chúng ta được biểu lộ, chúng ta sẽ dễ dàng cảm nghiệm được Đấng Phục sinh hơn.

Bây giờ một điều gì đó khác xẩy ra: Khi các môn đệ trở lại với Chúa Giêsu, lưới đầy cá, một điều kỳ lạ xảy ra: Chúa Giêsu không cần cá của họ! Ngài đã chuẩn bị bữa ăn rồi… và hơn nữa, Ngài đang đợi họ đến ăn cùng.

Một dấu ngoặc đơn ngắn gọn: Thánh Luca luôn nói đến ba yếu tố đặc trưng cho sự hiện diện của Đấng Phục Sinh giữa các ngài: Ngài hiện ra với họ, nói chuyện với họ và chia sẻ bữa ăn với họ. Hiện ra - nói - có mặt tại bàn ăn là ba biểu hiện của Đấng Phục sinh, qua đó Ngài tự tỏ mình là Đấng Hằng Sống.

Hãy nghe xem, điều đó thật đẹp tuyệt vời: Ngài là người thết tiệc… và Ngài cho họ thức ăn. Kết  quả kỳ diệu của mẻ lưới của họ không phải là bữa tối trong ngày, mà là vì họ! Chúa Giêsu không cần kết quả kỳ diệu đó. Nói cách khác: Chúa Giêsu không cần 153 con cá của họ, vì chính Chúa Giêsu là của ăn! Thứ Ngài muốn cho không phải là cá và bánh mì, thứ mà Ngài muốn là cho đi chính mình!

Trong đức tin của chúng ta, Ngài là Bánh Sự Sống, Ngài là Đấng ban lương thực, Ngài là hạt lúa mì chết đi để sinh hoa trái dồi dào cho nhiều người.

Tất cả chúng ta đều đã có kinh nghiệm về điều đó: những gì là vật chất không làm được gì ngoài chuyện suy giảm đi khi nó được chia sẻ. Ngược lại, tình yêu càng phát triển khi nó càng tự trao ban nhiều hơn. Tình yêu lớn lên và nhân lên khi nó được cho đi.

Ngoài ra, bữa sáng này do Chúa Giêsu cung cấp, bên lề thời gian và vĩnh cửu, là một ám chỉ đến Bí tích Thánh Thể.

Chúa Giêsu là bánh, nhưng Ngài cũng là cá, một con cá đắm mình trong dòng nước của sự chết, để tìm kiếm chúng ta nơi chúng ta bị lạc ... và tìm kiếm chúng ta.

Tóm lại, Chúa Giêsu nói với chúng ta: “Hãy đến và ăn!”. Vì vậy, Ngài khiến chúng ta vượt qua biên giới của thời gian và cái chết.

Cảm tạ Chúa, vì Chúa đến tham gia cùng chúng con vào buổi sáng, khi đêm tối đã hoàn thành công việc của nó, khi chúng con mệt mỏi và nản lòng.

Lạy Chúa, sự hiện diện của Chúa giúp chúng con nhận ra những gì chúng con còn thiếu, những gì chỉ mình Chúa mới có, những gì Chúa muốn trao ban cho mọi người, một cách cá nhân.

Lạy Chúa, không có Chúa thì mọi thứ đều vô sinh, không có Chúa thì con không thể làm gì được, hoặc khi ấy thì con chỉ có thể làm chuyện không đâu.

Lạy Chúa, Chúa không muốn lấy thành quả lao động của con, con cá của con,

Chúa chỉ muốn cho đi chính mình, vì bản chất của tình yêu là cho đi một cách nhưng không, không vì lý do gì khác hơn là cho đi.

Xin Chúa giúp con nhận ra con trên bờ.
Xin Chúa giúp con nhận ra Chúa trong Bí tích Thánh Thể.
Để nếm trải Chúa trong Bánh Sự sống,
nơi Chúa thực sự trao ban chính mình!
Vì vậy, cùng với Phêrô, với tâm hồn tràn đầy niềm vui, con có thể nói trong Thánh Lễ: “Đó là Chúa!". Amen.
Lm. Jerome Jean Hauswirth - https://www.cath.ch/blogsf
Phêrô Phạm Văn Trung chuyển ngữ

PHỤC SINH Ư? CÓ THẬT?

Nhiều người không tin vào ơn phục sinh đã phủ nhận sự phục sinh. Đối với họ, chẳng có Chúa nào sống lại, chẳng có chuyện hiện hình sau khi chết. Các tông đồ và đoàn môn đệ của Chúa Giêsu khéo tưởng tượng. Có lẽ vì họ quá yêu thương Thầy, quá tiếc nhớ Thầy, tâm trí họ lẩn thẩn, nhìn đâu cũng thấy bóng Thầy. 

Để phủ nhận việc thế giới Kitô giáo tin vào ơn phục sinh, nhất là tin vào Đấng sáng lập tôn giáo của mình đã phục sinh, người ta còn đi xa hơn khi cho rằng các tông đồ ảo giác về Chúa phục sinh. 

Nhưng các sách Tin Mừng, cơ sở của niềm tin Kitô giáo đều xác quyết Chúa đã phục sinh. Các sách đều nói đến ngôi mộ trống. 

Chúa Phục Sinh mà họ nhận thấy không là con người bất động, nhưng sống động; không câm nín, nhưng ngỏ lời: lời trao ban Chúa Thánh Thần, lời ban bình an, lời sai họ đi truyền giáo, lời sai đi công bố ơn tha tội... 

Tất cả họ đều nhìn nhận Chúa Phục Sinh là người thật, có thân xác thật, dấu đinh nơi tay chân, dấu lưỡi đòng nơi cạnh nương long vẫn còn rõ mồn một…

Câu chuyện Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu hiện ra với các tông đồ và môn đệ của Ngài trên biển hồ Tibêria lúc trời rạng sáng càng là một minh chứng hùng hồn về niềm tin Phục Sinh. Ảo giác hay tưởng tượng thì không thể có tất cả những ưu điểm như mô tả:

- Suốt cả đêm đánh bắt cá, họ không thu lượm được kết quả nào. Nhưng khi trời sáng, “người khách lạ” đến với họ, ra lệnh cho họ rằng: “Hãy thả lưới bên phải thuyền, anh em sẽ bắt được cá”. Không phải người thật, làm sao có thể chỉ ra được bầy cá. Hơn nữa, sao không ảo giác lúc tối trời, mà là “khi trời sáng”. Trời đã sáng thì chắc khó ảo giác hơn lúc trời tối.

- Nếu là ảo giác, không lẽ cùng lúc, cả toán người trên thuyền đều ảo giác? Hơn nữa, cả thuyền đều nghe lời “người khách lạ” cùng đồng ý thả lưới bên phải thuyền. Ngay sau đó lại là một sự thật hiển nhiên, một mẻ cá không thể kéo nổi hiện ra trước mắt họ. Kết quả của ảo giác lại là mẻ cá thật sao?

- “Người khách lạ” đã nhóm bếp, đã nướng cá, “có cả bánh nữa”, đã dọn bữa điểm tâm cho tất cả những người trên thuyền đi đánh cá đêm trở về như một bà nội trợ. Đến thế mà còn là ảo giác mới là điều khó hiểu, mới là chuyện lạ.

- “Người khách lạ” còn cầm bánh và cá trao cho các ông. Không lẽ chỉ là ảo giác lại có thể trao bánh thật? Các ông cầm và ăn bánh thật?

- Rồi thầy trò cùng ngồi bên nhau, cùng ăn, cùng chia sẻ, không chỉ là những con cá nóng mới nướng, nhưng là chia sẻ niềm vui vô cùng sau những ngày thương đau của thập giá, của chết chóc, của máu, của nước mắt. 

- Chưa hết, sau bữa ăn, “người khách lạ” còn gọi tông đồ Phêrô để chất vấn và trao nhiệm vụ. Ngài hỏi đi hỏi lại đến ba lần “Con có yêu mến Thầy không?”, buộc thánh Phêrô phải ba lần đáp “Thầy biết con yêu mến Thầy”. Sau mỗi lần đáp của thánh nhân, Ngài đều trao nhiệm vụ cho chính thánh nhân: “Con hãy chăn dắt đàn chiên của Thầy”. 

Quả thật, câu chuyện Tin Mừng hôm nay đã làm sáng tỏ tính cách thật về việc Chúa Giêsu sống lại. Đây không hề là ảo giác, là tưởng tượng. Nhưng đây chính là Chúa Giêsu, Thiên Chúa thật đã làm người thật. Sau khi từ cõi chết sống lại, Chúa vẫn mang trên thân thể hiển vinh của mình y nguyên hiện trạng dấu của thập giá mà chính Chúa vừa trải qua. 

Niềm tin Chúa Giêsu phục sinh không chỉ có bấy nhiêu bằng chứng. Cuộc đời còn lại của tông đồ đoàn, của các môn đệ càng là bằng chứng quý giá hơn. Tất cả những thị nhân ấy không ngần ngại dấn thân đến cùng để minh chứng cho đức tin phục sinh mới là điểm đáng ghi nhận. 

Tất cả các ngài bất chấp mọi gian khổ, mọi thử thách, mọi bấp bênh, bất chấp cả mạng sống của chính mình để lang thang khắp mọi miền thế giới hân hoan loan báo cho thế giới biết Chúa của các ngài đã sống lại và sống đến vô cùng.

Bài đọc I (Cv 5, 27b-32.40b-41) là một minh chứng. Từ những con người mới mấy ngày trước đầy yếu đuối, bạt nhược, thô thiển, nay lại mạnh mẽ, ung dung, đường hoàng, dõng dạc trước công nghị Dothái không hề pha lẫn chút sợ sệt nào. 

Chính vì chân lý Phục Sinh mà các ngài đã “lột xác”, đã thay đổi đời mình, thay đổi não trạng của mình. 

Cái công nghị ấy đã từng giết Chúa Giêsu, cũng chính cái công nghị ấy đã nhiều lần bắt bớ các tông đồ, ngăn cản các ngài không được rao giảng danh Giêsu, nhất là không được giảng về sự sống lại của Giêsu. 

Và nay, sau nhiều lần đổ hết sức ngăn cản, cái công nghị ấy đã hạ lệnh đánh đòn các tông đồ. 

Nhưng càng bắt bớ, càng cấm cách, các tông đồ càng hăng say rao giảng và “lòng đầy hân hoan bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Chúa Giêsu”. Trước sau gì các ngài vẫn mạnh mẽ khẳng định rằng: “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm”. 

Chính vì vâng lời Thiên Chúa làm chứng cho Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô, tất cả các ngài không chỉ cống hiến thời gian, sức lực, sự nghiệp, sự ổn định… mà còn chấp nhận hy sinh đến cùng mạng sống mà các ngài có được. Tất cả các ngài đã chịu tử đạo vì Thánh Danh Chúa Giêsu. 

Đó không là bằng chứng hùng hồn cho niềm tin Phục Sinh sao? 

Không ai dại gì chết cho điều không có thật. Chân lý Phục Sinh là chân lý đời đời, không bao giờ thay đổi. Các tông đồ, rồi đến Hội Thánh qua mọi thế hệ vẫn tự hào ôm ấp niềm tin Phục Sinh để rồi sẵn sàng trao ban niềm tin ấy cho mọi con người, không trừ ai. 

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

SỨC MẠNH VÀ NIỀM VUI PHỤC SINH

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay cho chúng ta đi vào bầu khí hân hoan của những người tin vào Đức Giêsu sống lại. Họ là những môn đệ đã đi theo Đức Giêsu, được ở với Ngài, chia sẻ  gian truân, đau khổ với Ngài và được thấy Ngài trong thân xác phục sinh. Họ là “một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ. Họ đứng trước ngai và trước Con Chiên, mình mặc áo trắng, tay cầm nhành lá thiên tuế” (Kh 7,9) đang cùng “ức ức triệu triệu các thiên thần” lớn tiếng hô: “Con Chiên đã bị giết nay xứng đáng lãnh nhận phú quý và uy quyền, khôn ngoan cùng sức mạnh, danh dự với vinh quang, và muôn lời chúc tụng” (Kh 5,11-12).

Bài đọc thứ nhất làm chứng sức mạnh của Đức Giêsu phục sinh đã biến đổi những con người yếu đuối, nhát đảm mới hôm nào còn lấm lét sợ người Do Thái, còn kinh hãi bỏ Thầy trốn chạy để bảo toàn mạng sống, còn nao núng, chao đảo, thất vọng qua hành động thề thốt “không biết người ấy là ai” trước đầy tớ gái của thượng tế Caipha đang khi Thầy bị tra khảo (x. Mc 14,66-71), nay trở thành những chứng nhân anh dũng, mạnh mẽ trước uy lực của “thần quyền” là “Thượng Hội Đồng gồm” vị thượng tế và những người kề cận, cùng toàn thể viện bô lão Ítraen” (Cv 5,21) khi cương quyết tuyên bố: “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm” (Cv 5,29), trước lệnh “nghiêm cấm các ông không được giảng dạy” về danh Đức Giêsu, Đấng đã chịu đóng đinh, “nhưng Thiên Chúa đã cho Người trỗi dậy” (x.Cv 5, 28.30).

Bên cạnh sức mạnh phục sinh là niềm vui phục sinh của các môn đệ được Tin Mừng Gioan kể lại.

Trước hết, các môn đệ  hớn hở vui mừng vì bất ngờ “có người” đến chỉ cho các ông: “Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền đi, thì sẽ bắt được cá” sau đêm dài thức trắng mà không bắt được con nào, và các ông đã “trúng” mẻ cá khủng, “vì lưới đầy những cá” (Ga 21,6).

Và niềm vui ấy bất chợt vút cao, khi bước lên bờ, các ông thấy “người ấy” đã chuẩn bị sẵn “than hồng với cá đặt trên, và có cả bánh nữa”, lại còn thân thiện  mời các ông: “Anh em đến mà ăn!” (Ga 21,12).

Điều quan trọng chúng ta cần ghi nhận  đây là cho đến lúc này không ai trong các ông đã nhận ra “người ấy” chính là Đức Giêsu, và có “nhận ra đó là Chúa”  cũng “không ai trong các môn đệ dám hỏi Ngài: “Ông là ai?” (x. Ga 21,4.12).

Sau cùng, niềm vui  đã vỡ òa  khi chính “Ngài cầm lấy bánh trao cho các ông; rồi cá, Người cũng làm như vậy” (Ga 21,13), là cử chỉ Đức Giêsu đã làm trong bữa ăn cuối cùng với các ông trước khi chịu khổ nạn và tử hình đóng đinh. Cử chỉ này làm các ông nhớ lại những lời trăn trối dạt dào yêu thương của Ngài, và  hôm nay, sau khi sống lai, tình yêu ấy lại được công khai thể hiện khi Đức Giêsu  âu yếm hỏi Phêrô đến ba lần: “Này anh Simôn, con ông Gioan, anh có yêu mến Thầy không?” và nói với ông: “Hãy chăn dắt chiên của Thầy” (Ga 21.15.16.17).

Quả thực, Đức Giêsu sống lại là sức mạnh và niềm vui của những ai tin vào Ngài và đi theo Ngài.

Họ được trở nên mạnh mẽ vì qua biến cố phục sinh, họ nhận ra Đức Giêsu chính là “vị Thủ Lãnh, Đấng Cứu Độ”, Đấng mà “Thiên Chúa đã ra tay uy quyền nâng Người lên, hầu đem cho dân Người ơn sám hối và ơn tha tội” (Cv 5,31), đồng thời là “Chúa” như thánh tông đồ dân ngoại đã quả quyết: “Thiên Chúa đã siêu tôn Người… và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Đức Giêsu Kitô là Chúa” (Pl 2,9.11).

Họ được hưởng trọn vẹn niềm vui phục sinh của Đức Giêsu đã sống lại từ cõi chết, vì qua Thánh Giá, Ngài đã chiến thắng tội lỗi, thần chết, hỏa ngục. Bằng chứng là khi được thả ra khỏi Thượng Hội Đồng, lòng các Tông Đồ phấn khởi, “hân hoan bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Đức Giêsu” (Cv 5,41).

Niềm vui ấy sẽ không bao giờ vơi cạn, vì ơn phục sinh đã cho đoàn thể những người đi theo Đức Giêsu nhận ra Ngài là “người cha nhân hậu, quan phòng” quan tâm đến từng đứa con, như Đức Giêsu phục sinh đã chu đáo chuẩn bị sẵn than hồng, bánh, cá trên bờ, vì biết các môn đệ của Ngài  rất đói sau đêm dài mất ngủ và vất vả chài lưới.

Niềm vui ấy ngày càng phong phú, sâu sa vì họ nhận ra Đức Giêsu chính là Mục Tử  nhân lành chăn dắt đàn chiên bằng tình yêu; chăm sóc  chiên con yếu đuối, thơ dại bằng tình mẹ bao la, ân cần, tận tụy; và chăm nom đám chiên đau bệnh, xa đàn, lạc đàn bằng tình yêu nhẫn nại chịu đựng, kiên trì đợi chờ và  bao dung, thương xót.

Tóm lại, người môn đệ trên đường làm chứng, loan báo Nước Trời luôn được sức mạnh và niềm vui của Đức Giêsu phục sinh, Đấng mà Thiên Chúa đã nâng lên làm “Chúa, Thủ Lãnh, Đấng Cứu Độ và Mục Tử nhân lành” bao phủ, gìn giữ, bảo đảm. Và chính Ngài là Đấng chúng ta tuyệt đối tin tưởng và hy vọng, vì chỉ một mình Ngài là “Đường, Sự Thật, Sự Sống” và “Sự Sống Lại” (Ga 14,6 ; 11,25).

Jorathe Nắng Tím

TÌNH YÊU CỦA ĐẤNG PHỤC SINH

Ở miền Bắc nước ta, có một nhà tù nổi tiếng, mang tên Hỏa Lò. Trong chiến tranh trước đây, các phi công Mỹ bị bắn rơi thường được giam ở đó, và họ gọi nó là khách sạn Hilton Hà Nội. Ngày áp lễ Giáng Sinh năm 1971, vì muốn làm quà Noel cho đám tù binh, viên quản trại đã phân phát cho họ vài cuốn Kinh Thánh. Tuy nhiên, ông bảo họ phải gom những cuốn ấy để trả lại vào đêm Giáng Sinh. Thế là đám phi công Mỹ quyết định dùng thời gian trước mắt sao cho thực sự có ích. Họ lấy cọng dây thép làm bút, nước hòa với gạch vụn làm mực, và viết lên giấy vệ sinh vài đoạn then chốt trong Kinh Thánh để dùng cầu nguyện về sau. Trong số các đoạn Kinh Thánh chép lại đó, có dụ ngôn mục tử tìm chiên lạc (Mt 18,12-14) và thánh vịnh Chúa chiên lành (Tv 23): “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì… Dù qua lũng âm u, con sợ gì nguy khốn….”  Đám tù binh tự ví mình như bầy chiên đi trong tăm tối mà vẫn không sợ hãi, vì biết Chúa luôn ở với họ. Niềm tin đã giúp cho họ hiểu rằng dù hiện tại ra sao, họ vẫn sống dưới con mắt và trong tình thương của Chúa; dẫu tương lai thế nào, thì sự sống đích thực vẫn sẽ được vị Mục tử ban cho họ. Người luôn đứng bên bờ nỗi khổ của họ vì Người đã phục sinh.

1. Tỏ mình và ban bữa ăn

Quả thế, mầu nhiệm Phục sinh phải được sống giữa lòng đời bình thường, như ta thấy ngay trong phần mở đầu bài Tin Mừng đang suy niệm. Các chứng nhân đầu tiên chẳng phải là những siêu nhân. Họ tiếp tục hoạt động nghề nghiệp của họ. Họ ra đi đánh cá trên hồ. Họ là 7 người đã biết Đức Giê-su. Nhưng Đức Giê-su chẳng còn “ở với” họ nữa.

Đánh cá ban đêm là một phương pháp thông thường. Chi tiết tả thực, lịch sử. Nhưng chúng ta cũng có thể thấy trong đó một ý nghĩa biểu tượng: trong tối tăm, trong đêm đen, các môn đệ đã thực sự toi công, mất giờ. Chúng ta cũng thường như thế trong các lo lắng gia đình, nghề nghiệp, xã hội, giáo hội.

Bảy người ở trên “biển động”, bao trùm bóng đêm… Đối với dân Do-thái, biển đáng sợ vì là nơi trú ẩn của những mãnh lực thù nghịch với con người. Còn Đức Giê-su thì ở trên “đất bằng” trong ánh sáng của buổi bình minh: “Khi trời đã sáng, Đức Giê-su đứng trên bãi biển”… Nét tương phản là cố ý, để cho thấy Đức Giê-su từ nay ở bờ bên kia! Người đợi chúng ta sau chuyến “vượt biển” Người vừa hoàn tất. Người đứng đó, trên bờ của vĩnh cửu… Nhưng các môn đệ chẳng nhận ra Người! Cũng luôn như thế đối với chúng ta hôm nay.

Sau khi hỏi thăm, Đức Giê-su biết ngay đêm tối thất vọng và hỗn loạn của họ. Người chia sẻ nỗi nhọc mệt của họ, đưa ra sáng kiến “giúp đỡ” họ… ngay chính giữa lòng các lo lắng của họ. Người môn đệ dấu yêu, qua cử chỉ ấy, nhận ra ngay Thầy mình. Ông báo cho Phê-rô, và tay bốc đồng này vội nhảy xuống nước. Như như nơi quang cảnh ngôi mộ tại Giê-ru-sa-lem, Gio-an đã vượt trước Phê-rô. Nhờ “mến yêu”, ông có trực giác bén nhạy. Nhận biết một người, đấy bao giờ cũng là chuyện tình yêu!

Đức tin cũng được liên kết với tình yêu. Đức Giê-su đã không tỏ mình “vẫn sống” cho các kẻ thù. Người đâu có thiết tha với việc đè bẹp, tỏ hiện rực rỡ. Người chẳng muốn thống trị, chiếm hữu, toàn thắng! Nếu bạn tìm Người với tình yêu, Người sẽ tỏ mình cho bạn… trong sự tế nhị của một cuộc gặp gỡ thân tình. Vậy hãy tìm dung nhan Người, sự hiện diện của Người đi!

“Bước lên bờ, các ông nhìn thấy có sẵn than hồng với cá đặt ở trên, và có cả bánh nữa. Đức Giê-su bảo họ: “Đem ít cá mới bắt được tới đây!” Một chi tiết khá lạ thường, vì thế đầy ý nghĩa biểu tượng. Chính Đức Giê-su đã chuẩn bị cho họ một “bữa ăn”. Và không phải là bữa ăn họ chờ đợi, do cố gắng riêng mình mà có. Đây là một bữa ăn chuẩn bị sẵn rồi! Họ chỉ được mời tham dự, bổ túc bằng sản phẩm họ vừa đánh bắt… mà Đức Giê-su kể ra đã ban cho. Tựu trung, chính Người nuôi sống họ. Ta biết tầm quan trọng của các “bữa ăn” xung quanh cuộc Vượt qua: chiều thứ Năm thánh, Đức Giê-su đã “phục vụ” các bạn hữu của mình. Giờ đây Người tiếp tục khoản đãi. Hôm nay cũng vậy, việc bẻ bánh và chia sẻ bánh, đối với các Ki-tô hữu, là một dấu chỉ đặc biệt cho thấy sự hiện diện của Đấng Phục sinh. Vâng, Đức Giê-su đúng là ở bờ bên kia, nơi Người chờ đợi chúng ta, để chia sẻ cho chúng ta một sự sống mới, trong một mối thông hiệp được bữa ăn Thánh thể biểu tượng.                                                  

“Không ai trong các môn đệ dám hỏi “Ông là ai?”, vì các ông biết rằng đó là Chúa”. Nhận xét đơn giản này dìm chúng ta vào trong “mầu nhiệm”. Cuộc Phục sinh đã đặt Đức Giê-su, bạn hữu và đồng hành hôm qua của họ, ông Giê-su làng Na-da-rét, trong một trạng thái khác hẳn… Cũng một nhân vật, tuy nhiên lại không phải… Người đã trở thành “O Kurios, Đức Chúa!” Và ở đây, từ này mang nghĩa mạnh nhất. Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, Ánh sáng bởi Ánh sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật! Người đang mời môn đệ dùng một bữa ăn vừa thật sự, vừa thần bí cùng một lúc.

Hãy nhớ lại diễn từ dài của Đức Giê-su về Bánh Sự Sống vốn lấp đầy chương 6 của thánh Gio-an, sau việc hóa “năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá” ra nhiều, cũng trên bờ hồ Ti-bê-ri-a này đây. Vâng, Đức Giê-su giờ “đứng ở bờ bên kia”, trên một đất khác, và ban cho môn đệ “một của ăn từ trời”. Bánh Thiên Chúa ban, là bánh từ trời xuống, đem lại sự sống cho thế gian” (Ga 6, 33). “Tôi là bánh hằng sống… Thịt tôi là của ăn thật… Ai ăn bánh này sẽ sống muôn đời…” (Ga 6, 51. 55. 58).

Cũng hãy nhớ lại vào thời Gio-an viết trình thuật này, các Ki-tô hữu đã luôn tượng trưng Đức Giê-su bằng hình ảnh “con cá”. Thật thế, từ “cá” (“iktus” trong Hy-ngữ) bao gồm các mẫu tự đầu của năm từ định nghĩa Đức Giê-su: Ìesous (Giê-su) Kristos (Ki-tô) Théou (Thiên Chúa) Uios          (Con) Sôtèr (Cứu Thế)

2. Tha thứ và trao sứ mệnh

“Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giê-su hỏi ông Si-môn Phê-rô…”. Cuộc đối thoại này vang dội trên bờ hồ ba lần. Đức Giê-su biến ngư phủ thành chủ chăn. Người chuyển qua Phê-rô các quyền riêng của mình, quyền thủ lãnh Giáo Hội. Nhưng chớ quên rằng Mục tử duy nhất là Người: “Tôi chính là Mục tử nhân lành, vì đàn chiên mà hy sinh mạng sống” (Ga 10,1-19). Bây giờ ra đi, chẳng còn hiện diện “bằng xương bằng thịt”, nên Đức Giê-su giao cho Phê-rô trách nhiệm tiếp tục sứ mệnh của Người trong thế giới và trong lịch sử. Nhưng đàn chiên vẫn là của Đức Giê-su: “Hãy chăn dắt chiên của Thầy!”

Đau khổ của Phê-rô, ở câu hỏi thứ ba, nêu bật ám chỉ ba phen chối thầy. Đức Giê-su hết sức tế nhị. Người chẳng nói với Phê-rô về tội ông! Người chỉ đòi hỏi ông tuyên xưng tình yêu ba lần! Câu hỏi này, Đức Giê-su cũng đặt ra cho bạn hôm nay. Trong thinh lặng, bạn nghe câu hỏi. Trả lời thế nào? Bạn không thể lẩn trốn trong câu trả lời của những kẻ khác. Chính bạn bị chất vấn, có liên can…

Vậy là tội nhân lớn lao nhất, kẻ đã chối Đức Giê-su ngày Người bị xử án và chịu đau khổ (một tội khủng khiếp!) được hoàn toàn đưa vào lại trong mối quan hệ thân tình và yêu thương… Chính cho tội nhân ấy mà Đức Giê-su trao phó trách nhiệm nặng nề nhất lịch sử! Tình yêu! Tình yêu sẽ phải là quy tắc hành động của ông. Quyền bính trong Giáo Hội, thừa tác vụ trong Giáo Hội, là một phục vụ, là một tình yêu: phải phục vụ-yêu mến anh em mình (Mc 9,35; Ga 13,4-16)… nhưng cũng phải phục vụ-yêu mến Đức Giê-su trong cùng một chuyển động… Đây là một trong những gốc rễ thần bí của đời độc thân thánh hiến.            

Nhưng Phê-rô sẽ phải chứng minh tình yêu đối với Thầy và đối với anh em bằng một hành động quyết liệt là chịu khổ nạn… như chính Thầy. Lời tiên tri của Đức Giê-su mô tả trước hình khổ mà ông sẽ phải chịu. Một ngày nào đó, Phê-rô sẽ phải dang tay ra, cho người ta cột đòn ngang thập giá vào để vác (vì cây cột đứng đã chôn sẵn tại nơi hành hình). Lý hình sẽ lấy dây buộc vào lưng ông lôi đến nơi xử tử (truyền thuyết của Giáo Hội cho thấy lời tiên này của Đức Giê-su đã ứng nghiệm: Phê-rô sẽ bị đóng đinh thập giá tại Rô-ma dưới thời Néron khoảng giữa năm 64-67, nhưng… ngược đầu xuống đất). Chịu khổ hình như thế, ông chẳng phải là hạ nhục Thiên Chúa nhưng càng tôn vinh Người hơn, vì trở nên giống như Thầy mình.

Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

YÊU NGHỀ

Người ta nói: “Sinh nghề, tử nghiệp.” Ở đây “sinh tử” không phải là “sống chết” theo nghĩa đen, mà là “sống chết” theo nghĩa bóng, tức là phải có niềm đam mê và yêu công việc mình làm. Người Việt thường nói “gộp chung” là Nghề Nghiệp.

Nghề của dân Biển Hồ là đánh cá. Dân vùng biển là ngư dân. Đa số các tông đồ cũng là ngư phủ. Ngư nghiệp liên quan cá, và cá liên quan con người. Chúa Giêsu dùng hình ảnh chài lưới để nói về việc “chài lưới linh hồn người ta.” Con cá và con người có điểm giống nhau là động vật, nhưng lại có điểm khác nhau là con cá chỉ có giác hồn, còn con người có linh hồn – cao cấp hơn.

Trong đời thường, con cá cũng thường được dùng để ví von. Chẳng hạn, khi nói về tình quân và dân: “Quân và dân như cá với nước.” Hoặc khi nói về giáo dục: “Cá không ăn muối cá ươn.” Khi kêu gọi Phêrô và Anrê đi truyền giáo, Chúa Giêsu cũng dùng hình ảnh con cá: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá.” (Mt 4:19; Mc 1:18; x. Lc 5:10) Cá là cá là loài có gì đó rất đặc biệt: chứa nhiều dưỡng chất tốt cho cơ thể, đặc biệt là khi ăn chay theo Kitô giáo, người ta không phải kiêng cá.

Khi biết chắc Chúa Giêsu đã sống lại thật, các Tông Đồ không còn lo sợ, nhát đảm, vì họ đã xác tín và được Thầy Giêsu ban Chúa Thánh Thần qua việc thổi hơi vào họ. (Ga 20:22) Trình thuật Cv 5:27b-32, 40b-41 cho biết rằng khi người ta điệu các Tông Đồ đến giữa Thượng Hội Đồng, vị thượng tế hỏi: “Chúng tôi đã nghiêm cấm các ông không được giảng dạy về danh ấy nữa, thế mà các ông đã làm cho Giêrusalem ngập đầy giáo lý của các ông, lại còn muốn cho máu người ấy đổ trên đầu chúng tôi!”

Mặc kệ. Các Tông Đồ vẫn hiên ngang và thẳng thắn nói: “Phải VÂNG LỜI THIÊN CHÚA hơn vâng lời người phàm. Đức Giêsu đã bị các ông treo lên cây gỗ mà giết đi; nhưng Thiên Chúa của cha ông chúng ta đã làm cho Người trỗi dậy, và Thiên Chúa đã ra tay uy quyền nâng Người lên, đặt làm thủ lãnh và Đấng Cứu Độ, hầu đem lại cho Israel ƠN SÁM HỐI và ƠN THA TỘI. Về những sự kiện đó, CHÚNG TÔI XIN LÀM CHỨNG, cùng với Thánh Thần, Đấng mà Thiên Chúa đã ban cho những ai vâng lời Người.”

Họ cho gọi các Tông Đồ lại mà ĐÁNH ĐÒN và CẤM các ông KHÔNG ĐƯỢC NÓI ĐẾN DANH ĐỨC GIÊSU, rồi thả các ông ra. Các Tông Đồ ra khỏi Thượng Hội Đồng, lòng hân hoan bởi được coi là xứng đáng CHỊU KHỔ NHỤC VÌ DANH ĐỨC GIÊSU. Và tất nhiên các Tông Đồ không thể im lặng theo lệnh thế quyền. Họ vẫn rao giảng về Đức Kitô dù biết khó yên thân. Hằng ngày, cả trong Đền Thờ và tại tư gia, các ông không ngừng giảng dạy và loan báo Tin Mừng về Đức Kitô Giêsu – Đấng chịu đóng đinh, chịu chết nhưng đã phục sinh.

Điều này quá kỳ cục: Mắc mớ chi mà cấm nói về Ông Giêsu? Ngày nay người ta cũng vẫn viện đủ lý do để bách hại những người tin vào Đức Kitô. Tại sao người ta tìm bắt Chúa Giêsu và những người tuyên xưng Ngài? Nếu không là ghen tức thì là gì? Những người tin vào Đức Kitô luôn làm điều tốt mà sao cứ bị ghét? Vô cùng vô lý!

Vô tri bất mộ. Có biết mới yêu. Khi đã biết rõ thì người ta càng thêm lòng yêu mến, và phải thổ lộ: “Lạy Chúa, con xin tán dương Ngài, vì đã thương cứu vớt, không để quân thù đắc chí nhạo cười con.” (Tv 30:2) Ai cũng có kinh nghiệm sống, đặc biệt là sống thật về phần linh hồn. Chỉ kẻ cố chấp và vô ơn mới không chịu nhận ra hồng ân Thiên Chúa trao ban hằng ngày, mọi lúc và mọi nơi.

Sự thật minh nhiên là Chúa Giêsu phục sinh, nhưng người ta không muốn tin, thậm chí còn phao tin giả; chính người ta cũng được cứu thoát nhưng vẫn không muốn công nhận. Nhưng sự thật vẫn là sự thật, như Thánh Vịnh gia xác định: “Lạy Chúa, từ âm phủ Ngài đã kéo con lên, tưởng đã xuống mồ mà Ngài thương cứu sống. Hỡi những kẻ tín trung, hãy đàn ca mừng Chúa, cảm tạ thánh danh Người. Người nổi giận, giận trong giây lát, nhưng yêu thương, thương suốt cả đời. Lệ có rơi khi màn đêm buông xuống, hừng đông về đã vọng tiếng hò reo.” (Tv 30:4-6)

Chuỗi vui-buồn-sướng-khổ hoặc chuỗi sinh-lão-bệnh-tử được gọi là “bể khổ.” Đó là chuỗi đời nhân thế. Sầu khổ luôn nhiều hơn vui sướng, nhưng người có đức tin vẫn thấy thanh thản, ngay cả khi đối diện với cái chết. Họ tín thác vào Lòng Chúa Thương Xót nên cầu nguyện liên lỉ: “Lạy Chúa, xin lắng nghe và xót thương con, lạy Chúa, xin phù trì nâng đỡ. Khúc ai ca, Chúa đổi thành vũ điệu, cởi áo sô, mặc cho con lễ phục huy hoàng. Vì thế, tâm hồn con ca ngợi Chúa, và không hề nín lặng.” (Tv 30:11-13) Đối với tín nhân, không có gì tách họ ra khỏi tình yêu của Đức Kitô. (x. Rm 8:35) Thực sự đúng như vậy!

Thánh Gioan cho biết thị kiến về sự tôn vinh Con Chiên: “Tôi thấy, và tôi nghe tiếng muôn vàn thiên thần ở chung quanh ngai, các Con Vật và các Kỳ Mục. Số các thiên thần có tới ức ức triệu triệu. Các vị lớn tiếng hô: Con Chiên đã bị giết nay xứng đáng lãnh nhận phú quý và uy quyền, khôn ngoan cùng sức mạnh, danh dự với vinh quang, và muôn lời cung chúc.” (Kh 5:11-12) Vô số các sinh vật tôn vinh và xưng tụng Con Chiên, không thể đếm nổi. Dù ngày nay con số đó chưa nhiều, chỉ là số ít so với dân số thế giới, nhưng ngày cuối cùng sẽ là đa số, có hằng hà sa số những người tin vào Đức Kitô. Con số đó đang gia tăng hàng năm, hàng tháng, và hàng ngày. Một sự thật minh nhiên!

Thánh Gioan cho biết thêm: “Tôi lại nghe mọi loài thụ tạo trên trời, dưới đất, trong lòng đất, ngoài biển khơi và vạn vật ở các nơi đó, tất cả đều tung hô: ‘Xin kính dâng Đấng ngự trên ngai và Con Chiên lời chúc tụng cùng danh dự, vinh quang và quyền năng đến muôn thuở muôn đời!’ Bốn Con Vật thưa: ‘Amen.’ Và các Kỳ Mục phủ phục xuống thờ lạy.” (Kh 5:13-14) Con số những người tín thác vào Lòng Chúa Thương Xót đã và đang gia tăng – từ cấp số cộng rồi cấp số nhân. Thực sự chúng ta đang chứng kiến sự lạ lùng như vậy. Loài người không thể làm gì nhưng Thiên Chúa có thể biến đổi tất cả.

Sau khi sống lại, Chúa Giêsu hiện ra lần thứ ba tại Biển Hồ Tibêria. Qua trình thuật Ga 21:1-19, Thánh Gioan cho biết: Hôm đó, ông Simôn Phêrô, ông Tôma, ông Nathanaen, các con ông Dêbêđê và hai môn đệ khác, đang ở bên nhau. Vậy là có 7 người. Có lẽ ngồi không cũng buồn, vả lại làm việc quen rồi, thế nên ông Phêrô nói đi đánh cá. Nghe nói vậy, các ông kia cũng đi. Thế nhưng suốt đêm đó họ không bắt được con cá nào.

Tảng sáng, Chúa Giêsu đứng trên bãi biển, nhưng các ông không nhận ra. Ngài hỏi: “Này các chú, không có gì ăn ư?” Các ông uể oải lắc đầu và nói “không.” Rồi Ngài bảo các ông cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền thì sẽ bắt được cá. Các ông làm theo. Thật lạ lùng, họ không sao kéo lưới lên được vì quá nhiều cá. Ông Gioan tinh ý nhận ra Ngài nên nói với ông Phêrô: “Chúa đó!” Vừa nghe nói vậy, ông Phêrô vội khoác áo vào vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển. Các môn đệ khác chèo thuyền vào bờ kéo theo lưới đầy cá, vì bờ chỉ cách khoảng gần trăm thước, không xa lắm.

Lên bờ, các ông thấy có sẵn than hồng với cá đặt ở trên, và cả bánh nữa. Chúa Giêsu bảo các ông đem ít cá mới bắt được tới nướng. Ông Phêrô lên thuyền và kéo lưới vào bờ. Lưới đầy cá lớn, đếm được 153 con, vậy mà lưới không bị rách. Chúa Giêsu bảo mọi người đến ăn. Không ai dám hỏi “Ông là ai?” vì họ đã biết chắc đó là Thầy rồi. Chúa Giêsu đến, cầm lấy bánh trao cho các ông, với cá Ngài cũng làm như vậy. Một Thánh Lễ ngay tại bờ biển Hồ. Thật tuyệt vời!

Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giêsu hỏi ông Phêrô có mến Ngài hơn các anh em không. Ông thưa “có,” và xác định: “Thầy biết con yêu mến Thầy.” Chắc hẳn lỡ miệng chối Thầy mấy hôm trước nên lúc này hối hận lắm. Tội to mà được Thầy tha thì còn gì bằng, thế nên ông càng yêu Thầy nhiều hơn. Chúa Giêsu bảo ông chăm sóc chiên của Ngài. Rồi Ngài lại hỏi lại như trước, ông cũng thưa “có.” Ngài lại hỏi ông lần thứ ba, thế nên ông hơi buồn. Lần này ông thưa rạch ròi: “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy.” Chúa Giêsu cũng bảo ông chăm sóc chiên của Ngài.

Ôi, thật kỳ diệu, vì buổi đăng quang giáo hoàng của Phêrô rất giản dị trong khung cảnh thân mật tình Thầy trò, cũng ngay tại bờ biển. Hay quá chừng! Rõ ràng Chúa Giêsu không câu nệ nghi thức. Từ đó, ngư phủ Phêrô không còn lưới cá mú chi nữa, mà chỉ chuyên lưới người ta mà thôi.

Sự công bằng hiển nhiên: ĐƯỢC nhiều thì bị ĐÒI nhiều. Chúa Giêsu cũng minh định với GH Phêrô: “Thầy bảo thật cho anh biết: lúc còn trẻ, anh TỰ MÌNH thắt lưng lấy, và đi đâu TUỲ Ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ PHẢI dang tay ra cho người khác thắt lưng và DẪN ANH ĐẾN NƠI ANH CHẲNG MUỐN.” Ngài nói vậy có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Rồi Ngài bảo ông: “Hãy theo Thầy.” Phêrô đã theo Thầy Giêsu đến cùng, chứng minh bằng cái chết là bị đóng đinh ngược trên thập giá!

Cá sống nhờ nước, người sống nhờ khí. Có nước và không khí là nhờ lòng thương xót của Thiên Chúa. Thiếu nước thì cá chết, thiếu khí thì người chết. Nhưng có nước và có khí mà cá và người cũng vẫn chết, vì sinh – tử là quy luật muôn thuở. Sinh ra để chờ chết. Chết rồi chờ sống lại. Chính cái chết là ngưỡng chuyển tiếp từ cõi tử qua miền sinh. Đó là cuộc vượt qua rất ngoạn mục và kỳ diệu.

Chúa Giêsu đã chết và đã sống lại. Sự phục sinh của Ngài bảo đảm cho cuộc vượt qua kiếp người của chúng ta. Thật là mầu nhiệm về sự chết và sự sống của những người tin vào Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa!

Chúng ta biết chắc rằng Muhammad không sống lại, Khổng Tử không sống lại, Lão Tử không sống lại, Phật Thích Ca không sống lại. Nhưng CHỈ CÓ ĐỨC GIÊSU KITÔ ĐÃ SỐNG LẠI, dù bị người ta giết chết, đặc biệt là đúng như Ngài đã BÁO TRƯỚC. Dù là ai cũng chẳng có ai sống lại. Ướp xác, quan tài đồ sộ, lăng tẩm to lớn,… để làm gì? Khoe khoang cũng chỉ “đẹp mặt” người sống. Thực sự quá vô ích!

Và rồi cũng CHỈ CÓ ĐỨC GIÊSU KITÔ đi trên nước, tuyên bố là Thiên Chúa, và làm cho người khác sống lại. Chính Chúa Giêsu đã chiến thắng sự chết, chiến thắng Tử Thần, chiến thắng vĩnh viễn. Chỉ có trong Kitô giáo mới có Đức Kitô là Thiên Chúa, làm nhiều phép lạ minh chứng Ngài là Thiên Chúa thật, chỉ có một mình Chúa Giêsu tuyên bố Ngài là “Con Đường, Sự Thật và Sự Sống,” và chúng ta chỉ có thể qua Ngài đến với Chúa Cha mà thôi. (Ga 14:6) Tín nhân thực sự hãnh diện và hạnh phúc, vì niềm tin của chúng ta không mơ hồ.

Sau mỗi màn diễn, dù phim hay kịch, chúng ta thường nhận xét về cách diễn của diễn viên chứ không cần biết vai diễn của người đó là chính diện hay phản diện, là hoàng đế hay tướng cướp, là chủ nhân hay đầy tớ,…

Cuộc đời giống như một sân khấu lớn, và ai cũng là diễn viên trên “sàn diễn cuộc đời.” Thiên Chúa không xét “vai diễn” của chúng ta – giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân, giàu hay nghèo, giỏi hay dốt, đẹp hay xấu,… Ngài chỉ xét “cách diễn” của chúng ta – tức là có sống đúng cương vị của mình và thể hiện đức ái theo Thánh Ý Chúa hay không.

Khoảng năm 1602, họa sĩ Annibale Carracci (1560–1609, Ý) vẽ bức hình “Domine, Quo Vadis?” mô tả một cảnh trong ngụy thư Công Vụ Phêrô (Acts of Peter). Ông là người sáng lập trường phái hội họa Baroque của Ý – Trường Phái Bologna. Bức hình “Quo Vadis” là m​​ột trong các tác phẩm của ông được biết đến nhiều nhất, mô tả Thánh Phêrô đang trên đường trốn khỏi Rôma thì gặp Chúa Giêsu vác Thập Giá. Khi đó, Phêrô hỏi: “Domine, quo vadis? – Lạy Chúa, Ngài đi đâu vậy?” Chúa trả lời: “Romam vado iterum crossifigi! – Thầy đến Rôma chịu đóng đinh!” Nghe Thầy Giêsu nói vậy, GH Phêrô trở lại Rôma ngay lập tức.

Ước gì chúng ta có thể xác định như Thánh Phaolô: “Tại vì Lề Luật mà tôi đã chết đối với Lề Luật, để sống cho Thiên Chúa. Tôi cùng chịu đóng đinh với Đức Kitô vào thập giá. Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi.” (Ga 2:19-20a)

Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con luôn duy trì sự sống trong ơn nghĩa với Ngài, được ngụp lặn trong Dòng Tình Thương Xót của Ngài. Vâng, lạy Ngài, xin giữ gìn con như thể con ngươi, và dưới bóng Ngài, xin thương che chở. (Tv 17:8) Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

Trầm Thiên Thu

GIÁO HỘI LÀ CỦA CHÚA

Bạn có biết Phêrô là ai không? Nếu bạn chưa biết, hay chỉ biết sơ sơ về ông Phêrô thôi, thì tôi xin phép được giới thiệu với bạn một chút về ông. Ông là một ngư phủ, tính tình nóng nảy, háo thắng, và tự phụ, ví dụ như khi Chúa cảnh báo là ông sẽ chối Ngài ba lần, thì ông đã tuyên bố: "Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy…Dầu tất cả có vấp ngã đi nữa, thì con cũng nhất định là không.”

Thế nhưng khi Chúa vừa bị bắt xong, thì ông đã cao bay xa chạy, và khi bị người ta chất vấn, ông đã thề rằng ông không biết Chúa Giê-su là ai cả! (Mt 26:70). Thế nhưng ông lại là người được Chúa ưu ái mới là lạ! Ví dụ, khi đi rao giảng ở bờ hồ Ghen-nê-xa-rét,“Người thấy hai chiếc thuyền…[Nhưng Ngài lại chọn] thuyền của ông Si-môn." Chưa hết, Ngài còn cho ông chứng kiến cảnh Ngài biến hình trên núi…[làm phép lạ cho] con gái ông trưởng hội đường Gia-ia sống lại từ cõi chết. Đặc biệt nhất là Ngài đã đặt ông làm nền tảng và giao cho quyền lãnh đạo Giáo Hội do Ngài thiết lập: “Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy…Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy...”

Cứ sự thường mà nói, trao phó trọng trách lãnh đạo cho một người như ông Phêrô thì quả là phiêu lưu, nếu không muốn nói là quá mạo hiểm. Nói cách khác, ông không đủ tiêu chuẩn để làm một người thủ lãnh! Ấy vậy mà Chúa Giê-su lại chọn ông! Mà không phải chỉ có một lần, sau ông Phêrô, Chúa Giêsu vẫn tiếp tục tuyển chọn những người yếu đuối, tội lỗi và bất tài, thậm chí còn tệ hơn ông Phê-rô nữa! Thế nhưng trong suốt hơn 20 thế kỷ qua, dù trải qua biết bao nhiêu là thăng trầm, bao nhiêu là sóng gió thử thách…Giáo Hội của Ngài vẫn kiên vững và vẫn phát triển không ngừng! Bạn thấy có lạ không?

Tại sao Giáo Hội Công Giáo và đoàn chiên của Chúa không bị tan rã, không bị giải thể dưới quyền cai quản của Phêrô, và của những người lãnh đạo cao cấp lôi thôi, bê bối, yếu đuối và tội lỗi chẳng hạn như Giáo Hoàng Gioan XII, Benedict IX, Alexanđê VI, hay như Hồng Y Theodore E. Mccarrick? Xin thưa là vì hai lý do sau đây:

Thứ nhất, Giáo Hội Công Giáo là CỦA CHÚA. “Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt 16:18).

Thứ hai, Giáo Hội Công Giáo luôn CÓ CHÚA Ở CÙNG. “Này đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28:20).

Vì Giáo Hội là của Chúa, và vì Giáo Hội luôn có Chúa ở cùng, cho nên trong suốt hơn hai mươi thế kỷ qua, và chắc chắn cả ở trong tương lai, bất kể ai là người lên kế vị thánh tông đồ Phêrô, dù đó là người bất tài, bất toàn, bất tín và bất trung mấy đi chăng nữa, thì Giáo Hội của Chúa cũng vẫn luôn kiên vững, Giáo Hội vẫn phát triển không ngừng và chắc chắn sẽ tồn tại cho đến ngày tận thế.

Bạn thân mến, nếu bạn đồng ý và tin rằng Giáo Hội là của Chúa thành lập, và có Chúa ở cùng với Giáo Hội mọi ngày cho đến tận thế, thì khi nghe thấy báo chí, truyền hình và các phương tiện truyền thông phỉ báng, nhục mạ, bêu xấu và tấn công Giáo Hội, chỉ vì một số rất nhỏ tu sĩ, linh mục hay Giám Mục đã có những hành vi và thái độ bất xứng với thánh chức, đã phạm tội này tội nọ…thì xin bạn hãy:

Ø Bình tĩnh, cứ từ từ, đừng buông lời sỉ vả, nguyền rủa hay kết án, hay bị mất đức tin…vì những linh mục, giám mục hay hồng y bị tố cáo. Chưa chắc những tội mà người ta tố cáo đó là sự thật. Kết án một cách hấp tấp, vội vã như vậy là thiếu khôn ngoan và không công bằng chút nào cả! Xin bạn hãy nhớ nguyên tắc này: Mọi nghi can đều vô tội cho đến khi được chứng minh là có tội. You are innocence until proven guilty.

Ø Dành ra vài phút thinh lặng để cầu nguyện cho những nạn nhân, cầu nguyện cho những linh mục hay giám mục bị tố cáo, và cũng xin bạn cầu nguyện cho những phóng viên, những người đưa tin, cho giới truyền thông…xin cho họ biết loan tin một cách trung thực không thiên vị và công bằng.

Ø Siêng năng tham dự Thánh Lễ và Chầu Thánh Thể trong những ngày thứ năm để cầu nguyện cho ơn thiên triệu, cho sự thánh thiện, cho sự nhiệt thành và trung tín của hàng giáo phẩm, của hàng giáo sĩ và tu sĩ.

Chúng ta cầu nguyện cho nhau, xin Chúa ban ơn giúp sức, để niềm tin của chúng mình được vững mạnh, nhờ vậy, khi đứng trước những sóng gió bão táp, và trước sự tấn công của những thế lực sự ác, chúng mình luôn trung tín với Chúa, với Giáo Hội và không bị mất niềm tin bởi vì “Hội Thánh [này là của Chúa], cho dù quyền lực của tử thần cũng sẽ không thắng nổi.” Chúc bạn và gia đình một mùa Phục Sinh bình an và tràn đầy ơn Chúa.

Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

THEO Ý CHÚA

[Niệm ý Ga 21:1-19]

Dù kinh nghiệm ít hay nhiều
Thì ai cũng có phần theo việc mình
Nghề gì cũng phải biết rành
Nếu không thì chẳng có thành công đâu
Ngư dân đánh cá đã lâu
Thế mà suốt cả đêm thâu chẳng gì
Tốn công, nhọc sức, thức khuya
Lưới không, thuyền trống, thế là công toi
Nhưng khi Chúa phán một lời
Làm theo thì cá loi nhoi lưới đầy
Vâng lời và thực hiện ngay
Mọi điều xuôi xắn, chẳng hoài công đâu
Biển đời là chốn bể dâu
Gian nan khốn khó rất nhiều sớm khuya
Cần chân thật kiểu Phê-rô
Chân thành yêu Chúa, chẳng mơ hão huyền
Theo Thầy chẳng sợ lụy phiền
Chịu đau mới được vào miền trường sinh.

TRẦM THIÊN THU

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan