SUY NIỆM CHÚA NHẬT V PHỤC SINH_C 2022

11-05-2022 245 lượt xem

[Cv 14:21-27; Kh 21:1-5a; Ga 13:31-33a, 34-35]

Mục Lục

SỐNG TÌNH YÊU BAO DUNG - + ĐGM Phêrô Nguyễn Văn Khảm

GIỚI RĂN MỚI - + ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

DÒNG CHẢY YÊU THƯƠNG - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

“THẦY YÊU THƯƠNG ANH EM BIẾT BAO” - Phêrô Phạm Văn Trung

SAO LẠI LÀ ĐIỀU RĂN MỚI - Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

TÂM SINH TƯỚNG - Thomas Aq. Trầm Thiên Thu

YÊU NHƯ CHÚA YÊU! - Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

GIÁO HỘI LÀ GIÁO HỘI CỦA ĐỨC GIÊSU - Jorathe Nắng Tím

HÃY YÊU NHƯ CHÚA YÊU - Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

TẬP YÊU THƯƠNG NHAU - Giuse Phạm Đình Ngọc

MẦU NHIỆM CON NGƯỜI - Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

JERUSALEM LÀ GÌ? - Bs. Nguyễn Tiến Cảnh, MD

SỐNG TÌNH YÊU BAO DUNG

+ ĐGM Phêrô Nguyễn Văn Khảm

GIỚI RĂN MỚI

Nếu trong tuần Bát nhật Phục sinh, Phụng vụ trích dẫn những chứng từ của những người đã mắt thấy tai nghe về Đấng đã sống lại từ cõi chết, thì trong mùa Phục sinh, Phụng vụ lại giới thiệu cho chúng ta sự phát triển kỳ diệu của cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi. Quả thật, chỉ hơn 40 năm sau cái chết của Đức Giêsu, Đức tin vào Người đã lan rộng khắp nơi vùng Địa Trung Hải. Giáo lý của các tông đồ thời đó không cao siêu mang tính thần học hay triết học. Lời chứng của các ông rất đơn sơ, đó là Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai. Người đã chịu chết trên thập giá và đã sống lại như lời Thánh Kinh, và chúng tôi sẵn sàng làm chứng về điều đó, dù có phải đánh đổi bằng chính mạng sống mình.

Khi bầu khí sôi động của ngày lễ Phục sinh và tuần Bát nhật đã lắng xuống, Giáo Hội mời gọi chúng ta lắng đọng tâm hồn để suy niệm lời giáo huấn của Chúa Giêsu, đồng thời cảm nhận Đấng Phục sinh đang hiện diện và tiếp tục giáo huấn chúng ta, để chuyên cần thực thi những lời dạy ấy. Bài Tin Mừng hôm nay nhấn mạnh đến hai chữ “yêu thương”.

Yêu thương đã là một trong những điểm nhấn quan trọng trong giáo huấn của Cựu ước. Yêu thương là cốt lõi trong lời dạy của Chúa Giêsu, đến nỗi Chúa gọi đó là giới răn mới, và là giới răn của Người. Yêu thương không phải một mệnh lệnh. Vì tình yêu không bao giờ cưỡng ép và bó buộc, nếu không chẳng còn phải là tình yêu. Tình yêu luôn là tự nguyện, là sự gắn bó thật lòng, chứ không phải giả tạo hay nhẫn nhịn. Thiên Chúa không buộc chúng ta phải yêu Ngài. Nhiều người coi tình yêu như một điều ràng buộc, nên làm giảm bớt ý nghĩa của tình yêu. Mẫu mực cho tình yêu mà Đức Giêsu đề nghị chính là bản thân Người. Hãy yêu như Thày đã yêu. Chúa Giêsu mời gọi tình yêu thương không giống như bác sĩ kê đơn cho bệnh nhân, với điều kiện nếu mua và dùng thuốc này thì sẽ khỏi bệnh. Tình yêu Chúa đề nghị không kèm theo điều kiện nào. Đó là tình yêu cho đi, dựa trên mẫu mực là chính Chúa Giêsu. Quả vậy, Đức Giêsu là Thiên Chúa cao sang đã huỷ mình ra không, trút bỏ mọi danh sự vinh quang, đã hy sinh mạng sống vì yêu thương nhân loại. Yêu như Thày đã yêu chính là bài học từ cây thập giá.

Như vậy, theo Chúa Giêsu, đâu là người môn đệ đích thực: phải chăng là người đi tham dự thánh lễ thường xuyên? Phải chăng là người siêng năng cầu nguyện và rước lễ? Những thực hành này rất cần và rất tốt, nhưng còn thiếu nếu chúng ta chỉ dừng lại ở đó. Người môn đệ đích thực được Chúa Giêsu khẳng định: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau”. Có thể nói, khi chuyên tâm thực hành giới răn mới của Chúa Giêsu là chúng ta chu toàn mọi lệnh truyền và giáo huấn của Cựu ước. Sau này, thánh Phaolô khẳng định: “Yêu thương là chu toàn lề luật” (Rm 13,10).

Chính tình yêu thương đã giúp cho Tin Mừng lan rộng nhanh chóng và cộng đoàn Đức tin cũng được thăng tiến phát triển. Bài trích sách Công vụ Tông đồ nhắc tới những địa danh khác nhau trong hành trình truyền giáo của thánh Phaolô và thánh Barnaba cho thấy hoa trái dồi dào của công cuộc truyền giáo thuở ban đầu. Với nỗ lực cố gắng của các tông đồ, rất đông những người ngoài Do Thái trở lại và đón nhận Đức tin. Một số tín hữu, vì tin vào Chúa Giêsu mà bị các kỳ mục Do Thái và nhà cầm quyền thù ghét, nên phải bỏ quê hương đến lánh nạn ở nơi khác. Điều kỳ lạ là đi đến đâu, họ tiếp tục loan báo Danh Đức Giêsu với niềm xác tín. Danh thơm tiếng tốt của các Kitô hữu đến từ việc thực thi những hành động yêu thương, như lời Chúa Giêsu mời gọi.

Tình yêu dành cho tha nhân diễn tả tình yêu ngàn đời của Thiên Chúa, và làm cho tình yêu Thiên Chúa hiện hữu nơi cuộc sống hằng ngày. Yêu thương cũng giúp người Kitô hữu trải nghiệm hạnh phúc thiên đàng ngay nơi trần thế. Thánh Gioan Tông đồ trong một thị kiến đã thấy thành Giêrusalem mới. Nơi đây không còn những đau khổ và nước mắt. Nơi đây, Thiên Chúa ở với con người. Đúng hơn, con người được hoà mình vào đại dương mênh mông của tình yêu Ba Ngôi. Nhờ được kết hợp với Ba Ngôi Thiên Chúa, con người trở nên thần thiêng và bất tử. Đó chính là lý tưởng của đời sống Kitô hữu. Nhờ Đức Kitô, với Đức Kitô và trong Đức Kitô, những ai sống công chính sẽ được gia nghiệp muôn đời nơi Thiên Chúa. Hạnh phúc hôm nay khởi đầu cho hạnh phúc mai sau. Yêu thương như Thày Giêsu, đó là bí quyết giúp chúng ta đạt đến hạnh phúc ấy. mục lục

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

DÒNG CHẢY YÊU THƯƠNG

“Như Cha đã yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu mến anh em, anh em hãy yêu mến nhau như Thầy đã yêu mến anh em”. Đó là dòng chảy tình yêu từ nguồn cội Thiên Chúa Ba Ngôi tràn trào đến con người. Một tình yêu có khả năng mang lại sự sống và sức sống cho cuộc đời.

Khi sắp từ giã các môn đệ để bước vào khổ nạn, Chúa Giêsu trao cho họ những lời tâm huyết sau cùng: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi. Thầy ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau. Căn cứ vào điều này mà mọi người nhận biết các con là môn đệ của Thầy, là nếu các con yêu thương nhau“.

Với ba câu Tin Mừng, Chúa Giêsu lặp lại điệp khúc: “Yêu thương nhau”. Chúa gợi lên ba lý do bổ sung cho nhau về đức yêu thương. Đó là lệnh truyền: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới”; Đó là gương mẫu: “Yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”; Đó là dấu chỉ: “Người ta sẽ nhận biết anh em nhờ tình yêu…”.

1. Lệnh Truyền

“Thầy ban cho anh em một điều răn mới”.Trước khi công bố điều răn mới, Chúa Giêsu đã rửa chân cho các môn đệ. Và Ngài đã yêu họ đến cùng bằng việc hiến dâng mạng sống trên thập giá. Chúa Giêsu đã yêu trước khi truyền cho các môn đệ yêu thương nhau. Đây là điều răn mới, mới đến nỗi Chúa gọi đó là luật của riêng Ngài: “Đây là điều răn của Thầy” (Ga 15,12), mới ở chỗ yêu như Chúa yêu. Yêu thương nhau như Chúa yêu thương phải được cụ thể hóa bằng việc làm như chính Chúa đã dạy, đã thực hiện.

Chúa Giêsu đã coi “yêu thương” là điều răn căn bản của Kitô giáo: “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em trên Trời” (Mt 5,43-45). Bài giảng trên núi khai triển giáo lý căn bản này và trở thành Hiến chương Nước Trời: “…Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương… Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,7-10).

Điều răn “cũ” trong sách Lêvi 19,18: “Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình”. Yêu thương theo luật cũ là “yêu tha nhân như chính mình”. Còn yêu thương trong Luật mới là yêu thương như Chúa yêu thương. Chúa yêu chúng ta là yêu đến cùng, yêu đến hy sinh mạng sống vì người mình yêu. Tình yêu của Chúa Giêsu phải là nền tảng và là nguồn gốc của tình yêu lẫn nhau giữa các môn đệ. Tình yêu giữa các môn đệ với nhau sẽ không còn ý nghĩa nếu không liên lỉ quy chiếu về tình yêu của Chúa Giêsu.

Thánh Phaolô đã nói đến chiều cao, chiều sâu, chiều dài, chiều rộng của tình Chúa yêu con người (x.Ep 3,18). Và cũng có người đã tìm ra chiều cao, sâu, rộng dài của tình yêu Chúa như thế này:Yêu người như người yêu người là bậc thấp, là luật cũ của Cựu Ước;Yêu người như Chúa yêu người là bậc cao, là luật mới của Tân Ước.

Luật yêu thương mới là cốt tủy của đạo Chúa và cũng là nền tảng của mối liên hệ giữa con người với Thiên Chúa cũng như giữa con người với nhau. Mến Chúa yêu người đi song đôi với nhau. Ai yêu mến Thiên Chúa thì cũng yêu tha nhân và tình yêu tha nhân là thước đo tình yêu Thiên Chúa. Tình yêu Thiên Chúa là mẫu mực để tình yêu con người trở nên hoàn thiện.

2. Gương Mẫu

“Yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”. Chữ “như” ở đây không phải là liên từ để so sánh hai vế, mà nó có một ý nghĩa mở ra nguồn gốc của tình yêu. “Yêu như Thầy” là lấy khuôn mẫu tình yêu giữa Chúa Giêsu với Chúa Cha và giữa Ngài với các môn đệ, để các ông cũng yêu nhau và yêu mọi người như chính mình đã chứng kiến và được yêu.

Chữ “như” ở đây thật quan trọng. Nói đến Công Giáo là người ta nghĩ ngay đến hai từ “bác ái”. Bác ái không nguyên là yêu thương nhau theo kiểu cha ông truyền dạy là “thương người như thể thương thân” mà còn phải yêu thương nhau như Chúa Kitô đã yêu thương chúng ta. Chúa Giêsu đã so sánh: như Cha đã yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu mến anh em, anh em hãy yêu mến nhau như Thầy đã yêu mến anh em.

Như Cha đã yêu mến Thầy. Chúa Giêsu đã nhiều lần nói về tình yêu của Chúa Cha dành cho Người (x.Ga 3,35;5,20;17,24). Chúa Cha cũng nhiều lần xác nhận điều này (x.Mt 3,17;17,5). Tình yêu của Chúa Cha đối với Chúa Con là tình yêu chia sẻ và trao ban.Tình yêu của Chúa Con đối với Chúa Cha là tình yêu tôn kính và vâng phục. Chúa Con yêu các môn đệ như tình yêu Chúa Cha đối với Người.

Yêu như Thầy đã yêu có nghĩa là:

– Thầy chấp nhận cái chết thập hình để chuộc tội nhân loại: “Không có tình thương nào cao hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình”.

– Thầy cúi xuống rửa chân cho các môn đệ để nêu gương phục vụ.

– “Thầy không coi anh em là tôi tớ, nhưng Thầy coi anh em là bạn hữu của Thầy”(Ga 15,15a). Người là Thầy, là Chúa, các môn đệ là người, là đệ tử. Nếu Chúa muốn coi các ông là tôi tớ cũng được, nhưng không, Chúa đã coi họ là bạn hữu ngang hàng với Người. Bạn hữu tri âm tri kỷ nên “tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha của Thầy,Thầy đã cho anh em biết” (Ga 15,15b).

– Thầy hy sinh quên mình, Thầy hạ mình phục vụ anh em. Thầy yêu những người bé nhỏ nghèo hèn, yêu thương cả những người thù ghét mình, những người làm hại mình, những người khó thương khó ưa và Thầy không ngừng tha thứ, muốn mọi người làm hoà với nhau.

– Cả cuộc đời Chúa Giêsu đã sống tình yêu nhập thể và hiến dâng cho tất cả mọi người. Chúa không để ai về tay không khi đến với Người. Kẻ mù được sáng, người què đi được, kẻ điếc nghe được, người câm nói được, những kẻ tội lỗi, những cô gái điếm tìm được ơn thứ tha…

Yêu “như Thầy đã yêu” làm nên nét đẹp của Tin mừng. Nét đẹp ấy có sức lôi cuốn mọi người đến cùng Chúa. Tình yêu ấy thật cao đẹp nên Chúa mời gọi: “Anh em hãy yêu như Thầy đã yêu” (Ga 13,34). Vẫn biết rằng con người chẳng bao giờ yêu nhau tới mức “như Thầy đã yêu”, nhưng lời mời gọi của Chúa vẫn luôn giục giã chúng ta hướng theo đường Chúa đã đi, lấy tình yêu của Chúa làm tiêu chuẩn cho mọi hành động, làm khuôn vàng thước ngọc cho mọi suy nghĩ, lời nói việc làm của chúng ta.

“Yêu như Chúa Kitô có nghĩa là nói ‘không’ với những thứ ‘yêu’ khác mà thế gian dành cho chúng ta: yêu tiền, chẳng hạn, những người yêu tiền không yêu như Chúa Giêsu yêu, yêu thành công, phù phiếm, yêu quyền lực…. Những con đường lừa dối của “tình yêu” này khiến chúng ta xa rời tình yêu của Chúa và khiến chúng ta ngày càng trở nên ích kỷ, tự ái, hống hách. Và hống hách dẫn đến suy thoái tình yêu thương, lạm dụng người khác, làm cho những người thân yêu của chúng ta đau khổ. Tôi đang nghĩ đến tình yêu không lành mạnh biến thành bạo lực, và có biết bao những phụ nữ là nạn nhân của bạo lực ngày nay. Đây không phải là tình yêu…

Yêu như Chúa yêu chúng ta có nghĩa là đánh giá cao những người bên cạnh chúng ta, tôn trọng tự do của họ, yêu họ như họ vốn có…” (ĐTC Phanxicô, 09/05/2021).

3. Dấu Chỉ

“Người ta sẽ nhận biết anh em nhờ tình yêu…”. Người Kitô hữu có nhiều cách để biểu lộ lòng yêu mến Chúa, nhưng cụ thể nhất là giữ các điều răn Chúa dạy, cách riêng là điều răn yêu người. Chúa Giêsu đã chỉ một dấu hiệu để nhận biết người môn đệ của Chúa là “yêu thương nhau”.

Có nhiều dấu hiệu để người ta nhận ra một Kitô hữu: đeo thánh giá, làm dấu thánh giá trước khi ăn… Nhưng theo Chúa Giêsu, dấu hiệu đặc trưng của người môn đệ là tình yêu thương mà họ dành cho nhau: cảm thông, tha thứ, cộng tác, hy sinh, chia sẻ, đối thoại…

Tình yêu không phải là cái gì trừu tượng mà là thật cụ thể nên rất dễ nhận ra. Yêu thương nhau là luôn nghĩ tới nhau. Những người yêu thương nhau thường nghĩ tới nhau; yêu nhau nhiều thì nghĩ tới nhau nhiều, nghĩ tới mà trong lòng cảm thấy vui sướng.

Yêu nhau nên thích gặp nhau. Những người kitô hữu yêu nhau, thì rất thích tụ họp, thích gặp gỡ nhau. Và thường họ tụ họp nhau vào ngày Chúa Nhật, trước hết là để cùng nhau cử hành thánh lễ, sau là để gặp nhau trò chuyện, hàn huyên, chia sẻ tâm tình với nhau. Yêu nhau nên ước muốn điều lành cho nhau. Mong cho nhau được sự may mắn, được thăng tiến, được làm ăn thành đạt, được sức khoẻ dồi dào, được có lòng đạo đức, được mãn nguyện theo ý muốn tốt lành. Và chính vì thế mà những người yêu nhau thường cầu nguyện cho nhau, xin Chúa yêu thương, an ủi, cứu giúp, phù hộ bạn mình.

Yêu nhau nên làm những điều lành cho nhau: có thể đó là sự giúp đỡ khi túng thiếu hay ốm đau, sự chăm sóc sức khoẻ, đời sống tâm linh của nhau, là sự chia sẻ của cải vật chất và tinh thần cho nhau. Giúp nhau củng cố và giáo dục đức tin, giúp hoà giải với nhau, giúp nhau xây dựng hạnh phúc gia đình, giúp nhau thành đạt trong công ăn việc làm. Dấu hiệu rõ nhất của tình yêu là sự hy sinh cho nhau: hy sinh thì giờ, sức khoẻ, tiền bạc, và thậm chí cả sự sống vì nhau.

Điều cao quý nhất mà Kitô hữu là mang Chúa đến cho nhau, vì mỗi người kitô hữu khi đã chịu phép rửa đều là đền thờ của Thiên Chúa.

Dòng chảy tình yêu giữa Chúa Cha, Chúa Giêsu và các môn đệ là một trong những đề tài độc đáo riêng của thần học Tin Mừng Gioan. Có thể nói, toàn bộ sứ vụ của Chúa Giêsu nhằm bày tỏ tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để bất cứ ai tin vào Người thì không hư mất, nhưng có sự sống đời đời” (Ga 3,16).

“Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương“. Dòng chảy tình yêu từ Thiên Chúa đến với tha nhân qua đời sống Kitô hữu: bác ái, yêu thương, phục vụ. Chúa Giêsu đã đối xử tốt với mọi người, yêu thương mọi người. Nguyện xin Chúa giúp chúng con tập sống yêu thương “như Thầy đã yêu” khi thực thi lời Chúa dạy “Điều gì chúng con làm cho người bé nhỏ nhất là làm cho cho chính Chúa” (x.Mt 25,40). mục lục

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

“THẦY YÊU THƯƠNG ANH EM BIẾT BAO”

Chỉ vài câu này từ Tin Mừng của Gioan cũng đã đủ để tạo nên phần mở đầu của lời di chúc thiêng liêng của Chúa Giêsu vào tối Thứ Năm Tuần Thánh. Giuđa vừa bước ra và lao vào đêm tối, đêm của sự chối bỏ, phản bội và buồn bã, và đây là thời điểm mà Chúa Giêsu chọn để nói với các môn đệ của Ngài, cũng như với mỗi người chúng ta hôm nay, bằng một trái tim rộng mở.

Ngài liên tục giải thích cho các môn đệ rằng Chúa Cha sẽ tôn vinh Ngài, rằng sự tôn vinh này cần đến việc Ngài trở về với Chúa Cha, do đó, sự ra đi của Ngài và việc Ngài rời bỏ chúng ta, như một lời cam kết về tình bạn của Ngài, một điều răn mới.

Chúa Giêsu nói: “Bây giờ Con Người đã được tôn vinh.” Khoảnh khắc “bây giờ” mà Chúa Giêsu đang nói đến này rộng hơn và có ý nghĩa hơn nhiều so với vài phút ra đi của Giuđa. “Bây giờ” là giờ của Chúa Giêsu, giờ mà Ngài thường gọi là “giờ để đi từ thế gian này đến với Cha của Ngài”, giờ đối mặt với đau khổ và cái chết và được tôn vinh bởi quyền năng của Chúa Cha. Bước ngoặt này trong số phận của Chúa Kitô là cuộc khổ nạn vinh quang, trong đó sự ra đi của Giuđa vừa báo hiệu. Bây giờ Chúa Cha sẽ được tôn vinh, vì Con của Cha sẽ nói với Cha tất cả tình yêu của Con, yêu thương loài người cho đến cùng. Giờ đây, ngay sau sự chết, Chúa Cha sẽ đón Con Ngài vào trong vinh quang của chính Chúa Cha.

Mặt trái của vinh quang này, đối với chúng ta, là Chúa Giêsu chiến thắng sẽ không còn thấy bằng ánh mắt của chúng ta. Vì vậy, cần phải tin mà không thấy, tin mà không cần phải thấy. Chúa Giêsu dịu dàng nói:  “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi. Anh em sẽ tìm kiếm Thầy; nhưng như Thầy đã nói với người Do thái: "Nơi tôi đi, các người không thể đến được.” Dù sao đi nữa, không phải ngay lập tức, như Chúa Giêsu giải thích với Phêrô.

Tuy nhiên, một liên kết sống động và rất hữu hình sẽ vẫn còn giữa Ngài và chúng ta: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau” (Gioan 13:34). Nhưng điều răn này mới như thế nào? Ngay trong sách Lêvi, Thiên Chúa đã truyền lệnh: “Anh em hãy yêu người lân cận như chính mình” (Lv 19,18). Tính mới ở đây nằm ở đâu?

Trước hết, mệnh lệnh của Chúa Giêsu là mới vì nó được liên kết với giao ước mới. Trong Kinh thánh, nói tới điều răn là nói tới giao ước, nghĩa là có đi có lại giữa Thiên Chúa và dân Ngài; và cũng giống như mười điều răn của Thiên Chúa vốn dĩ là sự diễn tả của giao ước đầu tiên tại Sinai, thì điều răn mới là khía cạnh con người của giao ước mới mẻ và dứt khoát, chính là điều mà Chúa Giêsu sẽ niêm phong, chính xác, bằng cái chết và sự tôn vinh của ngài.

Nhưng mệnh lệnh của Chúa Giêsu là mới nhất là vì từ đây, mô hình tình yêu của chúng ta sẽ là tình yêu mà Chúa Giêsu dành cho chúng ta: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Gioan 13:34).

Và Chúa Giêsu yêu các môn đệ như thế nào? Tin Mừng Gioan trả lời cho chúng ta ba lời khẳng định:

Chúa Giêsu yêu các môn đệ vì Chúa Cha đã ban họ cho Ngài: “Họ thuộc về Cha, Cha đã ban họ cho con”; “Con cầu nguyện cho họ. Con không cầu nguyện cho thế gian, nhưng cho những kẻ Cha đã ban cho con, bởi vì họ thuộc về Cha”; “Chính Cha đã sai con và đã yêu thương họ như đã yêu thương con” (17,6.9.23).

Chúa Giêsu yêu thương hết mực mỗi người trong thế gian, đến tột cùng của sự hiểu biết, từ bi, nhẫn nại, đến tột cùng của sự khiêm nhường và phục vụ, vì Ngài đã quỳ gối trước mặt họ để rửa chân cho họ, dù Ngài là Thầy và là Chúa.

Cuối cùng, Chúa Giêsu Mục Tử đã hiến mạng sống vì đàn chiên của mình, để đàn chiên của Ngài có được sự sống dồi dào, và mỗi người chúng ta có thể tự mình xác tín điều khiến Thánh Phaolô choáng ngợp: “Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi” (Galát 2:20).

Yêu như Chúa Giêsu đã yêu:

Đó sẽ là yêu thương anh chị em, chồng vợ hay con cái, như món quà mà Thiên Chúa đã trao ban và ban cho chúng ta mỗi ngày, như món quà mà chính Chúa Cha đã ban cho chúng ta để yêu thương.

Đến lượt chúng ta, chúng ta sẽ yêu đến tột độ là phục vụ, tha thứ và hy vọng; không phải để thôn tính người kia vào dự án của mình, vì niềm vui riêng của chúng ta, hạnh phúc riêng của chúng ta, không phải để mang lại cho chúng ta tình yêu hoặc tình bạn mà chúng ta đã trao tặng, nhưng bằng cách gánh vác người kia ngay cả trong những đau khổ, mệt mỏi và nặng nề của nó.

Cuối cùng, chúng ta sẽ chấp nhận bỏ mình đi trọn vẹn để cống hiến, trong sự chung thủy, trong sự cho đi cách nhưng không mà chúng ta sẽ trao ban cho người khác; đó sẽ là yêu thương bằng một tình yêu thực tế, biết rửa chân, xả thân từ ngày này qua ngày khác.

Vì Thiên Chúa đã biểu lộ tình yêu của Ngài cho loài người một cách hoàn toàn mới mẻ trong cuộc khổ nạn vinh quang của Chúa Giêsu, vì trong giao ước mới, Thiên Chúa đã bắt đầu một mối thân tình mới với loài người, cho nên những điều này sẽ bắt đầu giữa con người với nhau bằng một thái độ huynh đệ theo một kiểu hoàn toàn mới, và đó là giới răn của Chúa Giêsu. mục lục

Đan sĩ Jean-Christian Lévêque, OCD - http://bibleetviemonastique.free.fr
Phêrô Phạm Văn Trung chuyển ngữ

SAO LẠI LÀ ĐIỀU RĂN MỚI

Với tình Thầy trò dốc bầu tâm sự trước lúc chia tay đôi ngả đôi nơi, Chúa Giêsu nói: “Các con yêu quý, Thầy chỉ còn ở với các con một ít nữa thôi. Thầy ban cho các con điều răn mới, là các con hãy yêu thương nhau” (Ga 13,35).

Điều Răn Mới

Câu hỏi được đặt ra: Phải chăng chúng ta dùng những tình cảm tự nhiên để yêu thương như bạn bè yêu nhau, cha mẹ yêu thương con cái, con cái yêu thương cha mẹ, đồng lớp đồng niên yêu nhau, nam nữ yêu nhau là cổ hủ lỗi thời, hay khác với tình yêu Đức Kitô đã yêu chúng ta sao mà Người còn phải truyền dạy chúng ta một “Điều Răn Mới”?

Mới ở chỗ nào khi tình yêu phát xuất từ con tim, lòng không yêu thì làm sao bắt buộc phải yêu? Tình yêu là cả vùng trời bao la bát ngát, người ta khai thác tình yêu trên mọi lĩnh vực.  Cuộc sống cần tình yêu. Nhân loại cần tình yêu. Mỗi người sống trong cuộc đời này đều cần và rất cần tình yêu. Có thể nói, tình yêu là lẽ sống, là niềm hạnh phúc, là sự bình an của tất cả mọi người. Có bao nhiêu cuốn tiểu thuyết là có bấy nhiêu chuyện tình. Có bao nhiêu bài thơ, ca, hò, vè, phim truyện, tiểu phẩm, bài hát hay quảng cáo là có bấy nhiêu cách diễn tả tình yêu. Tình yêu là tặng phẩm quí báu Thiên Chúa ban cho nhân loại, sống yêu là sống trong hy vọng. Vì muốn chúng ta hạnh phúc, nên Chúa truyền dạy: “Các con hãy yêu thương nhau” (Ga 13,34).

Mến Chúa như Chúa yêu ta

“Mến Chúa” là điều răn thứ nhất và trọng nhất. Sau khi sống lại Chúa Giêsu hỏi Phêrô đến ba lần “con có yêu mến Thầy không?” Ông đều xác nhận “Thưa Thầy: Có, Thầy biết con yêu mến Thầy” (Ga 21,15-17). Một Hội Thánh thiếu gì chứ thiếu tình yêu là điều không thể. Chồng khao khát tình yêu của vợ, cha mẹ khao khát tình yêu của con cái, thì Chúa cũng khao khát tình yêu của chúng ta đối với Chúa. Thánh Gioan viết “Thiên Chúa là Tình yêu” (1 Ga 4,8). Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa đã thổi sinh khí vào lỗ mũi để con người được sống, Thiên Chúa cũng thông ban tình yêu cho con người (x. St 2,7).

Mượn lời của Phêrô, chúng ta thưa với Chúa rằng: “Lạy Chúa, Chúa biết mọi sự, Chúa biết rằng con yêu mến Chúa”. Tuân giữ Lời Chúa chứng tỏ rằng chúng ta yêu Chúa.

Yêu người như Chúa yêu

Thiên Chúa là Tình Yêu, Đạo chúng ta là Đạo yêu thương. Chúa dạy chúng ta phải yêu nhau vì Chúa đã yêu chúng ta trước: “Như Thầy đã yêu thương các con, thì các con cũng hãy yêu thương nhau” (Ga 13,34).

Chúng ta thấy đôi nam nữ yêu nhau, đó là tình yêu. Trong gia đình, cha mẹ, con cái, anh chị em họ hàng mến thương nhau, đó là tình yêu. Những người đồng lớp, đồng niên yêu thương nhau cũng là tình yêu. Tình yêu Kitô giáo mới ở chỗ, trong tình yêu có lòng nhân từ và thương xót, tiếp Hy lạp gọi là Agape. Yêu người khác không phải là cảm xúc thương hại, nhưng là yêu có lý chí, luôn muốn điều tốt cho mọi người. Không cảm thấy đắng cay và không ý thức trả thù.

Yêu nhau là dấu hiệu có Thiên Chúa ở cùng (x.1 Ga 4,12). Yêu nhau chứng tỏ rằng chúng ta yêu Chúa, là môn đệ Chúa như Chúa Giêsu nói: “Căn cứ vào điều này mà mọi người nhận biết các con là môn đệ của Thầy, là nếu các con yêu thương nhau” (Ga 13,35-35).

Mới ở chỗ yêu cả kẻ thù, và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ (x. Lc 6,27). Giống như Thiên Chúa khiến mặt trời mọc lên soi chiếu người lành cũng như kẻ dữ, làm mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất lương (x. Mt 5,45). Yêu người yêu mình, yêu người đáng yêu, thì ai cũng yêu được, song yêu người ghét mình, yêu người không đáng yêu, mới là tình yêu, vì đó là tình yêu Chúa, Thiên Chúa đã yêu chúng ta như vậy đấy.

Có người nói tình yêu Thiên Chúa ban cho con người để thương yêu nhau. Nơi đâu thiếu sự yêu thương, nơi đó sinh ra lộn xộn. Nhìn vào thế giới chúng ta đang sống, chắc hẳn chúng ta cũng nhận thấy tình yêu thương đang héo úa dần, nên bất an, loạn lạc, chiến tranh về mọi phương diện tinh thần cũng như vật chất, chiến tranh tôn giáo, sắc tộc, xác thịt và tâm linh ngày càng gia tăng.

Bằng chứng của tình yêu

Yêu thật lòng không bằng đầu môi chóp lưỡi, nhưng bằng việc làm và lẽ thật (x.1Ga 3,18). Chúa yêu chúng ta nên đã tự hiến thân mình làm tế lễ đền tội cho chúng ta. Nếu chúng ta thật lòng yêu Chúa, thì hãy dâng mình làm của lễ sống thánh thiện đẹp lòng Chúa (x. Rm 12,1). Ai yêu Chúa thật lòng, người ấy sẽ tuân giữ lời Chúa, đó là bằng chứng cụ thể nhất, không thể có một người yêu Chúa, mà không giữ lời Chúa được (x. Lc 6,46; Mc 3,5).

Ai thật lòng yêu người, thì kẻ ấy chia sẻ cái mình có cho anh em đồng loại (x.1 Ga 3,17).Làm sao chúng ta yêu thật, yêu như Chúa dạy khi mà chúng ta đầy lòng ích kỷ? Được Chúa yêu và đổ vào lòng chúng ta ân sủng tình yêu Chúa, chúng ta yêu anh em mình là phải lẽ: “Mọi người sẽ nhận biết các con là môn đệ Thầy, nếu các con một lòng yêu thương nhau” (Ga 13,35). Người đời thấy Chúa là Cha qua chúng ta. Vì không yêu anh em mình thấy được, thì làm sao yêu Thiên Chúa là Đấng chẳng hề thấy. “Chúng ta yêu nhau vì Chúa yêu chúng ta trước, ai yêu Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình là kẻ nói dối…” (x.1 Ga 4,20).

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con tình yêu của Chúa, để rồi tình yêu đó là bài giảng sống, chinh phục được nhiều người trở về với Chúa. Tình yêu không bằng lời nói, bằng lưỡi mà bằng việc làm, từ lòng đến lòng, từ nơi sâu thẳm nhất của con tim. Lạy Chúa, xin ban cho chúng ta tình yêu đó. Amen. mục lục

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

TÂM SINH TƯỚNG

Nhìn phong cách và động thái của ai đó, chúng ta có thể biết người đó như thế nào. Dĩ nhiên không tuyệt đối, nhưng có thể đa số và với mức đúng cao. Quả thật, tâm hồn thế nào sẽ phát tiết ra tướng mạo. Nói cho dễ hiểu, “tâm” là nhân của “tướng” và “tướng” là quả của “tâm” vậy.

Bề ngoài thể hiện bề trong, và ngược lại. Đó là một loại dấu hiệu hoặc dấu chỉ. Có nhiều loại dấu chỉ, có thể đó là điềm báo tốt hoặc xấu (gở). Dấu chỉ bình thường thì người ta gọi là dấu hiệu, còn về sức khỏe thì người ta gọi là triệu chứng – điềm báo xấu về một chứng bệnh nào đó, có thể trầm trọng hoặc nguy hiểm tới tính mạng. Thời gian qua, người ta “kinh nghiệm” rất nhiều về triệu chứng Cúm Tàu.

Dấu buồn còn đó. Vết đau còn đó. Có lẽ chưa bao giờ có năm nào nhiều gia đình có giỗ như năm nay – năm 2022. Bởi vì số tử vong vì Cúm Tàu trên thế giới là xấp xỉ 6.300.000 người, trong đó Việt Nam có vài chục ngàn trường hợp, có nhà có đến vài người mất, nhiều trẻ em hóa mồ côi vì mất cả cha mẹ. Thật tang tóc!

Bất cứ lĩnh vực nào cũng có dấu chỉ đặc trưng: tôn giáo, xã hội, kinh tế, chính trị, môi trường, y tế, giao thông, thời tiết,… và kể cả tâm linh. Thấy mây vần vũ, người ta đoán có thể mưa; thấy người khác khóc, người ta biết họ buồn; thấy người khác cười, người ta biết họ vui. Hằng ngày chúng ta thấy có nhiều dấu hiệu thuộc các lĩnh vực khác nhau.

Chúa Giêsu nói về dấu chỉ thời tiết bình thường để nói về dấu chỉ thời đại: “Anh em cứ lấy thí dụ cây vả mà học hỏi. Khi cành nó xanh tươi và đâm chồi nảy lộc thì anh em biết là mùa hè đã đến gần. Cũng vậy, khi thấy tất cả những điều đó, anh em hãy biết là Con Người đã đến gần, ở ngay ngoài cửa rồi.” (Mt 24:32-33; Mc 13:28-29; Lc 21:30-31) Tại sao cần nhân biết dấu chỉ? Để ý thức và chuẩn bị hoặc “chấn chỉnh” điều gì đó cho hợp ý Chúa.

Mọi nơi và mọi lúc đều có các dấu chỉ. Mỗi thời mỗi khác. Thời Cựu Ước, dấu chỉ của giao ước là phép cắt bì, (Cv 7:8) dấu chỉ xác định các đại lễ, ngày và năm là các vầng sáng trên vòm trời, (St 1:14) dấu chỉ của một tâm hồn hạnh phúc là nét mặt vui tươi, (Hc 13:26) dấu chỉ giữa Thiên Chúa với dân chúng là ngày sabát. (Ed 20:12)

Các động thái cũng bày tỏ dấu chỉ: QUỲ GỐI là dấu chỉ của lòng sám hối, tôn thờ và cầu xin, (Cv 7:50; Cv 9:40; Cv 20:30; Kn 41:43; Et 3:2; Lc 5:8; Lc 22:41) ĐỨNG là dấu chỉ kính trọng, là tư thế của kẻ sống lại, (Kh 7:9; Kh 15:2) là tư thế của những người vượt qua về miền đất hứa, (Xh 12:11) là tư thế của những con người tự do, (Ga 5:1; Ep 6:1-4) CHẮP TAY hoặc KHOANH TAY thể hiện sự nghiêm trang và kính trọng, ĐẤM NGỰC chỉ sự khiêm nhường sám hối, DANG TAY chỉ sự cầu nguyện, LÀM DẤU THÁNH GIÁ là dấu chỉ nhận thức và tuyên xưng đức tin Kitô giáo, THINH LẶNG là dấu chỉ suy tư, suy niệm hoặc cầu nguyện,… Rất đa dạng về các dấu chỉ hoặc dấu hiệu.

Về việc truyền giáo, trình thuật Cv 14:21-26 cho biết: Sau khi đã loan Tin Mừng cho thành ấy và nhận khá nhiều người làm môn đệ, hai ông Phaolô và Banaba trở lại Lýtra, Icôniô và Antiôkhia. Hai ông củng cố tinh thần các môn đệ, khuyên họ giữ vững đức tin và xác định: “Chúng ta phải chịu nhiều gian khổ mới được vào Nước Thiên Chúa.” Lời xác định này cũng nhắc nhở và thức tỉnh mỗi chúng ta hôm nay. Chắc chắn không thể cứ tà tà hoặc cứ khơi khơi mà được vào Nước Trời. Không phải Chúa “chơi ép” hoặc hù dọa, mà đó là sự thật minh nhiên, vì Nước Trời là Viên Ngọc Quý Giá Nhất.

Hai ông chỉ định cho họ những kỳ mục trong mỗi Hội Thánh. Sau khi ăn chay và cầu nguyện, hai ông phó thác những người đó cho Chúa, Đấng họ đã tin. Rồi hai ông đi qua miền Pixiđia mà đến miền Pamphylia, rao giảng lời Chúa tại Pécghê, rồi xuống Áttalia. Từ đó hai ông vượt biển về Antiôkhia, nơi mà trước đó các ông đã được giao phó cho ân sủng của Thiên Chúa để làm công việc vừa mới hoàn thành. Công việc gì cũng có mức độ khó khăn khác nhau, khó có thể nói việc nào khó hoặc dễ hơn việc nào. Chắc chắn công việc truyền giáo còn khó khăn hơn nhiều, rất cần sự kiên trì. Vả lại, việc chúng ta làm thì cứ làm cho tròn bổn phận, kết quả hay không là do Chúa quyết định.

Chắc chắn mỗi người chúng ta đều muốn công việc đạt kết quả, không ai muốn thất bại, nhưng còn tùy ý Chúa. Cần tâm niệm là “làm mọi sự vì đức ái” (1 Cr 16:14) và “xin cho ý Chúa được thể hiện.” (Cv 21:14) Thiên Chúa chí minh và chí thiện, Ngài thông suốt mọi sự, là “Đấng từ bi nhân hậu, chậm giận và giàu tình thương, nhân ái đối với mọi người, tỏ lòng nhân hậu với muôn loài Ngài đã dựng nên.” (Tv 145:8-9)

Thất bại có thể là điều xấu đối với chúng ta, nhưng trong cách nhìn của Thiên Chúa, thất bại lại tốt cho chúng ta, ít nhất là Ngài muốn chúng ta không kiêu ngạo vì ỷ mình thành công hơn người khác. Thánh Vịnh gia thành tâm cầu nguyện: “Lạy Chúa, muôn loài Chúa dựng nên phải dâng lời tán tạ, kẻ hiếu trung phải chúc tụng Ngài, nói lên rằng: triều đại Ngài vinh hiển, xưng tụng Ngài là Đấng quyền năng, để nhân loại được tường những chiến công của Chúa, và được biết triều đại Ngài rực rỡ vinh quang.” (Tv 145:10-12)

Thiên Chúa vĩnh hằng, “triều đại Ngài thiên niên vĩnh cửu, vương quyền Ngài vạn đại trường tồn, Ngài thành tín trong mọi lời Chúa phán, đầy yêu thương trong mọi việc Người làm.” (Tv 145:13) Vì thế, người khôn ngoan luôn nhận biết mình hèn yếu, cần tín thác vào Ngài và chỉ mình Ngài mà thôi. Thiên Chúa tốt lành, chính Ngài sẽ lau khô mọi giọt lệ và tặng ban trời mới đất mới cho những ai thành tín. Thánh Gioan kể lại thị kiến: “Bấy giờ, tôi thấy trời mới đất mới, vì trời cũ đất cũ đã biến mất, và biển cũng không còn nữa. Và tôi thấy Thành Thánh là Giêrusalem mới, từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống, sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang.” (Kh 21:1-2)

Tất cả đều mới. Cái gì mới thì lạ. Rất kỳ diệu. Rồi sau đó, Thánh Gioan nghe có tiếng hô to từ phía ngai: “Đây là nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại, Người sẽ cư ngụ cùng với họ. Họ sẽ là dân của Người, còn chính Người sẽ là Thiên-Chúa-ở-cùng-họ. Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất.” (Kh 21:3-4) Rõ ràng. Rạch ròi. Hoàn toàn là sự thật, chắc chắn chứ không chút gì mơ hồ. Rồi Đấng-ngự-trên-ngai còn tuyên phán thêm: “Này đây Ta ĐỔI MỚI MỌI SỰ.” (Kh 21:5a) Và như vậy, tính xác thực càng được nâng cao hơn nữa!

Những lời cáo biệt của Chúa Giêsu trước cuộc khổ nạn và quy luật yêu thương tuyệt đối. Trình thuật Ga 13:31-35 cho biết dấu chỉ đặc biệt: Khi Giuđa ra khỏi phòng, Đức Giêsu nói: “Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người. Nếu Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người thì Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Người nơi chính mình, và Thiên Chúa sắp tôn vinh Người.” Một câu ngắn mà từ ngữ “tôn vinh” xuất hiện tới 5 lần.

Khi nghe Sư Phụ Giêsu nói vậy, có lẽ các đệ tử vui lắm, vì có thể đã đến lúc mình cũng được sống sung sướng nhờ Thầy. Nhưng không phải như họ tưởng, bởi vì Chúa Giêsu nói: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi. Anh em sẽ tìm kiếm Thầy; nhưng như Thầy đã nói với người Do Thái: ‘Nơi tôi đi, các người không thể đến được,’ bây giờ, Thầy cũng nói với anh em như vậy.” Có lẽ họ bắt đầu lờ mờ hiểu về “sự chẳng lành” nào đó sắp xảy ra… Vâng, nhưng làm sao các đệ tử hiểu được hết ý cao siêu của Thầy, vì họ còn là phàm nhân và đầy mơ ước trần tục, còn Thầy là “người cõi trên” mà!

Và dấu hiệu đặc biệt nhất được chính Chúa Giêsu cho biết: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Mọi người sẽ NHẬN BIẾT anh em là môn đệ của Thầy ở ĐIỂM này: là anh em có LÒNG YÊU THƯƠNG NHAU.” Cũng chỉ một câu ngắn mà chữ “yêu thương” được lặp lại tới 4 lần.

Đạo của Đức Kitô Giêsu là Đạo Làm Người, là Nhân Đạo, điều mà ai cũng cần, tôn giáo nào cũng cần, xã hội nào cũng cần, thể chế nào cũng cần,… Nói chung là ai cũng cần, mà cần thì phải thực hiện. Rất chí lý, mình muốn có thì phải thể hiện với người khác. Luật Yêu là Khuôn Vàng Thước Ngọc, là “thước đo” cuộc sống: “Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta.” (Mt 7:12; Lc 6:31) Thánh Phaolô xác định: “Ai yêu người thì đã chu toàn lề luật. Yêu thương là chu toàn lề luật.” (Rm 13:8 và 10)

Tương tự, hiền triết Khổng Tử (551-479 trước công nguyên) đã dạy đệ tử: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân.” (Điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác.) Và hiền triết Aristotle (384-322 trước công nguyên) cũng dạy: “Đừng áp đặt trên người khác những điều mà bạn không thích.”

Trong Do Thái giáo có hai trường phái đạo đức: Trường phái của Shammai chủ trương khắc khổ, và trường phái của Hilel chủ trương phóng khoáng. Một hôm, có một người đến xin học tập với Shammai, anh ta thưa: “Thưa thày, tôi muốn làm môn đệ thày, nhưng trước hết, xin thày cho tóm gọn luật phải giữ trong bao lâu tôi còn có thể đứng trên một chân để nghe thầy giảng.” Shammai liền đuổi anh ta đi và trao cho một cuốn sách dày về luật mà ông đang cầm trên tay. Anh ta đến gặp Hilel và cũng nói với ông lời ấy, Hilel nói với anh ta: “Những gì anh không thích thì đừng làm cho người khác, đó là tóm tắt về luật.” Anh ta giác ngộ và nhận thấy đó là BÀI HỌC QUÝ GIÁ NHẤT ở đời.

Lạy Thiên Chúa, xin ban Thần Khí và soi sáng cho con nhận ra Ý Ngài qua các sự kiện đời thường, những gì xảy ra với con, xin giúp con phân định đúng đắn và thực sự ý thức, sẵn sàng chấp nhận và thi hành theo Ý Ngài. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. mục lục

Thomas Aq. Trầm Thiên Thu

YÊU NHƯ CHÚA YÊU!

“Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13:34; 15:12). Bạn thấy có gì lạ trong lời di chúc này của Chúa không? Tôi hơi thắc mắc, Chúa chỉ cần nói: "Anh em hãy thương yêu nhau" một câu ngắn gọn như vậy là đủ rồi, tại sao Ngài lại phải thêm: "Yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em" làm chi nữa vậy? Bạn có biết tại sao không? Tôi nghĩ là tại vì cách yêu thương của Chúa khác với cách yêu thương của chúng mình.

Cách yêu của người đời, trong đó có bạn và có tôi, là YÊU THƯƠNG NHỮNG AI YÊU THƯƠNG MÌNH. Ví dụ:

- Tôi yêu thương ông bà, cha mẹ, chú bác, cô dì ... vì các ngài đã yêu thương, chăm sóc, hy sinh vất vả nuôi nấng, chỉ bảo, dạy dỗ tôi nên người.

- Tôi yêu mến anh A, chị B, chú C, cô D, bác H... bởi vì họ là những người yêu mến ơn gọi, yêu thương nhà dòng của tôi, và yêu thương giáo xứ này.

- Tôi yêu mến những anh chị em thiện nguyện viên bởi vì họ là những người tốt lành, tốt bụng, tốt tướng và tốt nghiệp trường đời, nay đã về hưu... Họ yêu mến giáo xứ, yêu mến ngôi thánh đường này, yêu mến các em học sinh, yêu mến thánh lễ, yêu mến phụng vụ, yêu thích công việc tu sửa, bảo trì, sửa chữa, xây dựng, lau chùi dọn dẹp, gây quỹ, cắt cỏ tỉa cây...

Bạn thấy cách yêu thương của người đời như thế có gì là sai trái hay phản lại Phúc Âm không? No, chẳng có gì là sai trái hay phản lại với Phúc Âm tí nào cả! Tôi cam đoan như vậy! Thế nhưng cách yêu thương của người đời chưa hoàn hảo, chưa giống cái cách yêu thương của Chúa.

Bạn có biết cách yêu thương của Chúa là cách nào không? Thánh Sử Mát-thêu cho chúng ta biết cách yêu thương của Chúa Giê-su là một cách yêu thương phi thường, bởi vì bất cứ ai Ngài cũng yêu ráo trọi. Thật vậy, kẻ yêu mến Ngài, kẻ không thích Ngài, kẻ châm chích và kiếm cách gài bẫy Ngài, những kẻ đã nhục mạ, hành hạ, đánh đập, và thậm chí đã giết Ngài, Ngài cũng yêu họ tuốt tuồn tuột luôn. Bằng chứng là trước khi trút hơi thở cuối cùng, trong lúc cơ thể đang chịu những sự đau đớn tột độ, Chúa Giê-su đã thưa với Thiên Chúa Cha như thế này: "Lạy Cha, xin Cha tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm!" (Lc 23:34).

Bạn thấy yêu theo cái cách của Chúa Giê-su có dễ không? Yêu kẻ không thích mình đã là khó, còn yêu kẻ thù thì không thể dễ được? Tôi nói thật, ai nói yêu kẻ thù là dễ thì người ấy là kẻ... nói dóc! Không dễ một chút nào cả, nếu không muốn nói là cực kỳ khó! Thế nhưng, khó không có nghĩa là không thể làm được, bởi vì đã có những người đã yêu thương theo cái cách của Chúa yêu. Họ đã yêu thương những kẻ đã gây ra đau khổ, những mất mát cũng như bất hạnh cho họ và cho gia đình họ nữa. Tôi xin đơn cử ra đây ba ví dụ:

1. Thánh Stêphanô, khi bị người Do Thái vu oan cáo vạ, bị ném đá, giữa lúc sinh thì, Ngài đã thốt lên rằng: "Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này" (Cv 7:60).

2. Sáng ngày thứ hai ngày 2 tháng 10 năm 2006, Charles Roberts xông vào một lớp học của cộng đồng người Amish bên Lancaster, Pennsylvania, bắn chết 5 em nữ sinh và bắn bị thương 5 em nữ sinh khác, và sau đó y tự sát. Ngay sáng hôm sau, cha mẹ của 5 em nữ sinh bị Roberts giết, đã tuyên bố với báo chí là họ muốn tha thứ cho Roberts. Chưa hết, họ còn đem thực phẩm, đem vòng hoa đến thăm viếng, an ủi, giúp đỡ cho vợ và hai đứa con của Roberts. Họ cũng đến tham dự lễ an táng, cầu nguyện và tiễn đưa Roberts ra tới nơi an nghỉ cuối cùng.

3. Ngày 3/10/2019 Brandt Jean, 18 tuổi, đứng trước tòa án, đã tuyên bố tha thứ cho cô cảnh sát viên Amber, người đã đi vào căn hộ của gia đình của cậu và bắn chết anh trai của cậu ngay tại ghế sofa.

Chúa Giê-su đã nói: "Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao?" Ngài muốn chúng mình Ngài phải yêu thương cả những kẻ KHÔNG yêu thương mình nữa. Chưa hết, còn phải yêu cả kẻ thù, những kẻ đã gây ra đau khổ, phiền muộn và bất hạnh cho chúng mình nữa.

Để có thể yêu theo cách của Chúa Giê-su: “yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” tôi nghĩ bạn và tôi phải TIN CHẮC rằng "đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được" (Lc 1:37). Với ơn can đảm và khôn ngoan của Chúa ban, tôi chắc chắn bạn và tôi sẽ yêu theo cái cách của Chúa Giê-su.

Còn nữa, khi bạn và tôi yêu thương theo cách của Chúa, tức là yêu thương hết tất cả mọi người, kể cả những kẻ ngược đãi mình, thì sách Huấn Ca khẳng định rằng: “Khi bạn cầu khẩn, tội lỗi bạn sẽ được tha” (28:2).

Chúng mình cầu nguyện cho nhau, xin Chúa Kitô Phục Sinh, nhờ lời chuyển cầu của Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse, hướng dẫn, soi sáng, và ban ơn giúp sức, để bạn và tôi có thể yêu thương nhau, như [Chúa] đã yêu thương chúng mình. Cầu chúc bạn và gia đình của bạn một tuần lễ mới vui khỏe, hạnh phúc và bình an. mục lục

Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

GIÁO HỘI LÀ GIÁO HỘI CỦA ĐỨC GIÊSU

Có nhiều khi chúng ta sinh hoạt như thể Giáo Hội là Giáo Hội của chúng ta, mà không là Giáo Hội của Đức Giêsu; hành xử như Giáo Hội thuộc về chúng ta, mà không phải chúng ta thuộc về Giáo Hội; và hành động như thể Giáo Hội là phương tiện thuộc quyền sở hữu, xử dụng của chúng ta theo chương trình của chúng ta, mà quên hẳn Giáo Hội là dấu chỉ của công trình cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện nơi Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người và ở giữa chúng ta.

Thực vậy, vì nhìn sai, nhận định không đúng về Giáo Hội, mà trong đời sống, chúng ta gặp nhiều lúng túng, lấn cấn với Giáo Hội, và đời sống Kiô hữu của chúng ta thường xuyên bất ổn.

Để trở thành một Kitô hữu đích thực hạnh phúc, trước hết chúng ta cần xác định: Giáo Hội là Giáo Hội của Đức Giêsu, vì một lý do đơn giản: chính Đức Giêsu đã thành lập Giáo Hội trên tảng đá Tông Đồ trưởng  Phêrô  của Ngài, chứ không phải các Tông Đồ đã lập Giáo Hội trên nền tảng “Đức Giêsu” như Tin Mừng đã chi tiết ghi lại : “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: Anh là Phêrô, nghiã là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và  quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt 16,18).

Vì là Giáo Hội của Đức Giêsu, nên những người thuộc về Giáo Hội phải công bố, loan truyền  qua tiếng nói và việc làm niềm tin của mình vào Đức Giêsu, và sẵn sàng đón nhận ơn cứu độ  của Thiên Chúa được thực hiện nơi Đức Giêsu. Nói cách khác,  tuy thuộc về Giáo Hội, nhưng chúng ta không được tự cho mình là nguồn ơn cứu độ, là người có quyền cứu độ, như một số người quên sứ vụ “thừa tác” của mình, mà  “vô ý, vô tình” tự đồng hóa mình với Thiên Chúa, tự nâng mình lên hàng “Đấng ban ơn cứu độ” cho anh em mình.

Thực vậy, nguy cơ lớn nhất của những người thuộc về Giáo Hội, nhất là khi được đặt vào vị thế có quyền quản trị Giáo Hội, là nghĩ mình sở hữu Giáo Hội, khi lầm tưởng Giáo Hội từ nay thuộc về mình, và không còn là Giáo Hội của Đức Giêsu, khi mắt bị mờ trước những thành quả lớn lao, hoành tráng của mình trong Giáo Hội.

Bởi thế, bao lâu Giáo Hội, được hiểu là chúng ta, những người Kitô hữu ở bất cứ vị thế, và  mang bất cứ trách nhiệm nào trong Giáo Hội, còn biết mình là dấu chỉ hữu hiệu của ơn cứu độ, còn chân nhận Đức Giêsu là Đầu của Giáo Hội, là Mục Tử tối cao của đoàn chiên “Dân Chúa”, và luôn khiêm tốn đặt mình dưới sự hướng dẫn và sinh động của Chúa Thánh Thần, bấy lâu Giáo Hội còn xứng đáng là Hiền Thê yêu dấu của Đức Giêsu, “Đấng yêu thương và hiến mình vì Giáo Hội” ( Ep 5,25).

Chính vì lý do này mà  chúng ta cần:

a/ Ý thức sứ vụ cầu nguyện của mình, và không coi việc cầu nguyện như phương tiện; trái lại, cầu nguyện là không gian và thời gian để nhận ra Giáo Hội là Giáo Hội của Đức Giêsu.

b/ Ý thức sứ vụ cử hành bí tích của mình chính là lúc chúng ta nhận ra mình bất xứng, đồng thời tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng hoạt động trong Giáo Hội để cứu độ nhân loại, và chính Giáo Hội hằng ngày được lớn lên, lan rộng nhờ cử hành các bí tích.

c/ Sau cùng, chúng ta ý thức sứ vụ truyền giáo của mình là “loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại” trước mặt và cho muôn dân để toàn thể nhân loại đi vào tương quan Cha Con với Thiên Chúa, khi nhận biết Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ nhân hậu, giầu lòng thương xót, Đấng ban cho tất cả những ai tin vào Ngài  ơn tha tội và sự sống đời đời.

Xin Đức Giêsu phục sinh ban cho chúng ta tình yêu Giáo Hội, vì thiếu tình yêu dành cho Giáo Hội, chúng ta sẽ dễ biến Giáo Hội thành một phe đảng, một tổ chức “vụ lợi” dưới nhiều hình thức, hoặc một phương tiện “toàn năng” nhờ  vỏ bọc “thần quyền”, và xin cho chúng ta lòng khiêm tốn biết mình bất xứng với ơn gọi và đặc ân làm người Kitô hữu bằng tháp nhập, cậy dựa vào Đức Giêsu, qua đời sống cầu nguyện, đón nhận các bí tích và hăng say, nhiệt thành loan báo Tin Mừng để góp phần làm cho Giáo Hội ngày càng xinh đẹp, thánh thiện và tinh tuyền, xứng đáng là Dấu Chỉ Ơn Cứu Độ của Thiên Chúa giữa loài người. mục lục

Jorathe Nắng Tím

HÃY YÊU NHƯ CHÚA YÊU

Tuần rồi, chúng ta tuyên xưng Chúa Giêsu là mục tử nhân lành đã và vẫn chăn dắt đàn chiên của Chúa là chính chúng ta trong tình yêu. Nhưng mối tình ấy không đơn thuần là tình của những người yêu nhau (bạn bè, cha mẹ, vợ chồng, anh chị em… chẳng hạn) trao tặng nhau. Đó không đơn thuần là tình yêu trên phương diện con người. 

Tình yêu của Chúa Kitô là khối tình vô giá, có một không hai. Đó là tình yêu của Đấng là Thiên Chúa chấp nhận hiến thân làm người, sống, chết, sống lại vì trần thế, nhằm dẫn đưa trần thế tham dự vào sự sống tràn đầy yêu thương và hạnh phúc vô cùng tận. 

Đó là tình yêu của Đấng mang trái tim Thiên Chúa đã làm người. 

Ngoài Chúa Kitô, ta không thể có được, không thể bắt gặp, không thể tìm kiếm thứ tình yêu thiêng thánh ấy, dù ta có tìm kiếm trọn đời mình. 

“Thiên Chúa làm người”, nói thì đơn giản, thực tế đó là cả một triết lý cao sâu, nhưng không thuộc về lý trí, lại vượt lên trên tất cả những gì mà lý trí có thể nắm bắt được. 

Đó là chân lý tuyệt đối, chân lý thuộc về mầu nhiệm của đức tin, một mầu nhiệm lớn lao mà con người chỉ có thể sống với mầu nhiệm ấy bằng sự cảm nghiệm và lòng tin tưởng. 

Vừa là triết lý nhưng không thuộc về lý trí, vừa là mầu nhiệm của đức tin, bởi ta không thể hiểu nổi, không thể tưởng tượng nổi vì sao lại có một tình yêu vĩ đại đến thế. 

Tình yêu của Đấng quyền năng, cao trọng vô cùng, vượt trên tất cả mọi loài, mọi sự, còn hơn thế, là chủ tể mọi loài, mọi sự, lại có thể hạ mình để nên một trong những thụ tạo do chính mình dựng nên.

Nhưng điều mà loài người không một chút mảy may hiểu được, càng không bao giờ dám nghĩ tới, lại là sự thật. Thiên Chúa đã làm nên và đã trao ban sự thật rất đỗi kỳ diệu ấy để làm bằng chứng hùng hồn, chứng minh tình yêu quá sức lớn lao của Ngài. 

Bởi vậy, nhìn vào tình yêu cuồn cuộn và mãnh liệt, không bờ bến của Thiên Chúa, ta hãy đặt bước chân của đời mình vào những bước yêu thương  của Thiên Chúa để sống với nhau, sống cho nhau, hiến thân vì nhau. 

Với kinh nghiệm về sức mạnh của tình yêu, chúng ta dám đi đến kết luận rằng, trong tình yêu, người ta có thể vượt thắng mọi khó khăn, dù khó khăn đó lớn đến đâu đi nữa, để chỉ thỏa mãn một điều  kiện duy nhất: làm cho người mình yêu hạnh phúc. 

Cả cuộc đời Chúa Giêsu là như thế: Chúa chấp nhận trao hiến chính mình để mưu cầu hạnh phúc cho ta. Bởi khi sinh ra làm người trong thân phận một bé thơ, Chúa san sẻ đến cùng thân phận cùng cực, mong manh, yếu đuối của ta. 

Suốt ba mươi năm sống thầm lặng trong gia đình Nazaret, bên cạnh Đức Maria, thánh Cả Giuse, Chúa Giêsu đồng hành cùng những người nghèo hèn, chấp nhận sống nghèo, sống vất vả. 

Ba năm cuối cùng đi rao giảng Tin Mừng để loan báo ơn cứu độ, loan báo Nước trời cho trần gian. Chúa chấp nhận chết đau thương, ai oán vì lợi ích phần rỗi của tất cả chúng ta. Sự sống sau phục sinh của Chúa, không phải chỉ vì vinh quang của Chúa mà thôi, nhưng Chúa sống lại là để ta được sống đời đời cùng Chúa, bên Chúa. 

Hôm nay, chính Chúa Giêsu, Thiên Chúa làm người ấy, trước khi từ giã các môn đệ đã nói những lời hết sức cảm động, những lời yêu thương tràn đầy, mang dáng dấp của một sự lưu luyến thẳm sâu: “Thầy đi dọn chỗ cho các con, rồi Thầy sẽ trở lại mang các con đi với Thầy, để Thầy ở đâu, các con cũng ở đó với Thầy”. 

Những lời hết sức tâm tình, ấm áp một tình mến không gì sánh nổi ấy, cũng là lời đầy an ủi không chỉ riêng cho các tông đồ, nhưng còn cho mỗi môn đệ của Chúa hôm nay. 

Lắng nghe lời trăn trối chất chứa nỗi lòng yêu thương và an ủi của Chúa Giêsu, ta chấp nhận cuộc sống của chính mình, dẫu còn đó nhiều long đong, khổ ải, để như Chúa Giêsu, khi đã đi qua cuộc đời này, ta được cùng Chúa đến nơi mà chính Chúa đã đến, đã dọn sẵn cho ta.

Hóa ra cũng giống như cả cuộc đời trần thế để hiến thân, để ban tặng, sau khi phục sinh, Chúa về trời, thì sự được tôn vinh trên trời ấy cũng lại quy về chúng ta. 

Ra đi, nhưng không phải vĩnh biệt mà là chuẩn bị, là “dọn chỗ” để “Thầy ở đâu, các con cũng ở đó”. 

Hạnh phúc quá đỗi, vinh dự quá đỗi cho loài người. Tưởng chừng bản thân mỗi người chỉ là mong manh, là nhỏ bé, là khó có thể hoàn thiện, lại được chính Thiên Chúa là Chúa của mình yêu thương cúi xuống để cứu chữa, để nâng đỡ, để phục vụ mình. Một tình yêu không thể tưởng tượng, chỉ có thể lặng đi mà chiêm ngưỡng, mà cảm nghiệm.

Cả cuộc đời Chúa Giêsu: sinh ra, lớn lên, đi rao giảng, chịu đóng đinh, chết, sống lại, lên trời, tất cả vì chúng ta, vì hạnh phúc vĩnh cửu của loài người. 

Chỉ có một tình yêu lớn lao như tình yêu của Chúa Giêsu, tình yêu của Đấng mang trái tim Thiên Chúa đã làm người, mới có thể mạnh mẽ, mãnh liệt như thế, mới trở nên quá đỗi kỳ diệu và tuyệt vời như thế.

Chúng ta nói với nhau rằng, trong tình yêu, người ta có thể vượt thắng mọi khó khăn, dù khó khắn đó lớn đến đâu đi nữa, để làm cho người mình yêu hạnh phúc. Thì đây, Chúa Kitô là như thế. Tình yêu của Chúa Kitô là tình yêu vượt thắng, vượt lên trên mọi khó khăn, mọi thách đố để mang lại hạnh phúc cho ta, những kẻ được Ngài yêu mến vô cùng.

Hôm nay Chúa cũng đang mời gọi bạn và tôi yêu thương, hãy bắt chước Chúa mà sống đời sống yêu thương. 

Không có mẫu số chung để bày tỏ về lòng yêu thương cho hết mọi người, mọi hoàn cảnh. Chúng ta hãy yêu. Tình yêu sẽ chỉ cho mình biết phải làm gì để bày tỏ lòng yêu thương và sống lòng yêu thương suốt đời mình.

Người ta kể rằng, Helen Keller là cô gái câm điếc người Mỹ, đã trở nên không còn xa lạ với thế giới. Vừa được 19 tháng, sau một cơn đau màng óc, cô gái bất hạnh trở thành mù lòa và câm điếc suốt đời. Thế giới âm thanh và màu sắc đã đóng chặt cánh cửa lại với cô. 

Làm sao để có thể truyền đạt kiến thức cho một người vừa câm, vừa điếc, lại mù lòa? Helen Keller và cả cha mẹ cô đều chịu thua, hầu như cô và mọi người đã đầu hàng số phận. 

Nhưng có một “thiên thần”, bằng tình yêu, sự hy sinh của bản thân đã “làm phép lạ” để giúp đỡ cô. Vị thiên thần có một cái tâm cao cả đó chính là cô giáo Anna Sullivan. Anna đã không bỏ cuộc chạy trốn khi đến với người học trò quá bất hạnh của mình. 

Hy vọng duy nhất mà cô có thể truyền thông kiến thức và liên lạc với Helen Keller là tiếp xúc với đôi bàn tay của cô gái này. 

Đúng là phép lạ cả thể. Chỉ với ngôn ngữ tiếp xúc trên đôi bàn tay, Helen Keller đã có thể học xong đại học, lấy bằng tiến sĩ, trở thành nhà văn nổi tiếng khắp thế giới. 

Chính trong nỗi bất hạnh tưởng như tột cùng của mình, Helen Keller lại là người hạnh phúc. Bởi cô có được một người thầy đẹp quá, đáng yêu quý, đang trân trọng, đáng cho tất cả mọi người noi gương biết bao nhiêu.

Chỉ có tình yêu chân thực, người ta mới có thể mang lại hạnh phúc cho nhau. 

Chúa Kitô, chính vì yêu, đã cúi xuống cho ta. Chúa sống lại để trả lại hạnh phúc đời đời do chính ta đã đánh mất trong tội. 

Nay Chúa về cùng Cha để hạnh phúc của ta nên trọn, đúng như lời Chúa nói: “Thầy đi dọn chỗ cho các con…”. 

Như Chúa Giêsu, ta cũng được mời gọi mang lại hạnh phúc cho anh chị em quanh mình. 

Câu chuyện về cô giáo Anna Sullivan và người học trò bất hạnh Helen Keller của cô là một điển hình để bạn và tôi có thể lấy làm bằng chứng sống mà tìm ra đáp số củng cố lòng yêu thương nơi chính mình. mục lục

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

TẬP YÊU THƯƠNG NHAU

Thật khó để định nghĩa được tình yêu. Có lẽ cũng không cần định nghĩa về thuật ngữ này cho bằng sống với nó. Tình yêu sẽ vô nghĩa với những lời giải thích, nhưng phong phú hơn nhiều khi chúng ta chìm đắm trong nó. Giống như việc uống trà hoặc cà phê vậy. Không nhất thiết giải thích về vị ngon ngọt của trà hoặc cà phê, nhưng quan trọng là nhâm nhi để cảm nhận và thưởng thức. Trong ý hướng này, thánh Augustinô đưa ra lời hướng dẫn rất thực tế: “Hãy yêu trước, rồi sau đó hãy làm gì thì làm.”

Trong Tin mừng Chúa Nhật 5 hôm nay (Ga 13,31-35), Chúa Giêsu thể hiện tình yêu cho các môn đệ rất thực tế. Đức Giêsu trước khi nói về tình yêu, Ngài đã sống với nó. Tình yêu Đức Giêsu dành cho các môn đệ là tuyệt vời; và các môn đệ cũng cảm nhận được tình yêu này trong khi ở với Đức Giêsu. Nếu có những lần nào đó Đức Giêsu nói về tình yêu, thì lời nói ấy cũng là cung cách sống của Ngài. Chẳng hạn hôm nay Đức Giêsu gọi các môn đệ là những người con bé nhỏ. Là người thầy, người cha, Đức Giêsu sắp phải đi chịu chết để cứu độ con người. Trong lời cáo biệt này, Đức Giêsu cho biết chỉ còn ở với họ một ít thời gian nữa. Theo ngôn ngữ bình dân, đây là di chúc mà Đức Giêsu để lại cho các môn đệ.

Nội dung của di chúc rất rõ ràng: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau.” (Ga 13,34). Đây cũng là tâm huyết của Thầy Giêsu muốn huấn luyện và chia sẻ tình yêu với các môn đệ. Hơn ai hết, Đức Giêsu thừa biết tình yêu phải là điều quan trọng nhất để nối kết các ông. Hơn nữa, tình yêu là Thiên Chúa, là căn tính của người môn đệ Đức Giêsu. Vì lý do này, mà Đức Giêsu nói: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy, là anh em hãy yêu thương nhau.” Chúng ta cũng có thể bối rối như các môn đệ, yêu thương trừu tượng quá, làm sao chúng con sống được?

Đức Giêsu trả lời: “Hãy yêu như Thầy yêu thương các con.” Câu trả lời đã rõ, đòi hỏi của Đức Giêsu dành cho chúng ta cũng sáng tỏ. Cứ nhìn vào cuộc đời của Đức Giêsu, chúng ta sẽ thấy tình yêu của Ngài. Ngay từ ngày đầu chọn gọi các môn đệ, Đức Giêsu đã cho thấy tương quan của các ông với Đức Giêsu không chỉ là thầy-trò, nhưng còn là bạn hữu, là cha-con và là Đấng Tạo Hóa với thụ tạo. Chính trong tương quan này, Đức Giêsu thể hiện tình yêu trong những lời giảng dạy, trong những phép lạ và cả trong những lần sửa lỗi cho các ông. Đức Giêsu tuyệt nhiên không loại bỏ các ông, kể cả Giuđa bán Thầy, nhưng Đức Giêsu luôn mời ông hoán cải đến phút cuối. Tình yêu hùng hồn nhất khi Đức Giêsu sẵn sàng hiến mạng mình, để mở ra cho các ông con đường cứu độ. “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Nhờ đó chúng ta cũng được thừa hưởng hồng ân này.

Có lẽ những dòng trên đây vẫn còn xa lạ đối với bạn. Đây là bài tập thực hành để bạn cảm nhận tình yêu của Thiên Chúa nhiều hơn:

Chọn cho mình một nơi thoáng mát, có thể trong khu vườn, trong nhà thờ hoặc nơi bạn yêu thích. Một mình bạn với Thiên Chúa lúc này. Hít thở thật sâu, và tự nói với mình và với Chúa: “Lạy Chúa con đây!” Hãy nhìn ra thiên nhiên, ngắm lên trời, bạn thấy sự vĩ đại và huyền diệu của muôn loài, mà Thiên Chúa đã tạo dựng dành cho bạn. Hãy nói thầm một tâm tình tạ ơn với Chúa. Bởi theo phép lịch sự, ai cho mình điều gì tốt, lời cảm ơn là cần thiết để diễn tả lòng biết ơn. “Con cảm ơn Chúa, vì yêu mà Ngài vẫn cho con sống và được chiêm ngắm vẻ đẹp tuyệt vời này!”

Hãy nhắm mắt lại để nhìn vào lòng mình. Nếu còn những bộn bề lo toan, hãy tâm sự với Chúa về những điều đó. Xin Chúa giúp mình lắng đọng tâm hồn để được ở với Chúa lúc này. Thiên Chúa không có hình hài, nên Ngài có thể đang ở trong tâm hồn bạn một cách dễ dàng. Đó là không gian của tình yêu. Bạn cứ lắng nghe Chúa. Chẳng hạn đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đang gọi bạn là: “người con bé nhỏ của Thầy.” Là con, bạn luôn được Chúa yêu. Hơn nữa, Chúa đang chăm sóc cho bạn mà có khi bạn không để ý đến. Lúc này, hãy nói với Chúa Giêsu như một người con nói với người Cha: “Con đây, lạy Cha, xin hãy nói, vì con đang lắng nghe.” Cứ để lòng mình ở gần bên Chúa, khi đó, Chúa sẽ thì thầm với bạn bằng những lời mang lại sự sống.

Cũng như các môn đệ, bạn nghe Chúa Giêsu mời gọi: “Con hãy yêu thương người khác như thầy yêu thương con vậy.” Cứ nói cảm giác hoặc suy nghĩ của bạn lúc này. Điều răn này có khó không, có thực tế hoặc bạn có thể làm được không? Nhớ lại những lần Chúa yêu bạn. Nhờ vào kinh nghiệm này, xin Chúa cho bạn cũng sống được giới răn này, mỗi ngày một chút.

Sau cùng, hãy mở mắt ra để một lần nữa nhìn vẻ đẹp của Thiên Nhiên. Tạ ơn Chúa về những gì bạn cảm nhận và nghe được từ Chúa. Dành một phút để cảm, để nhận ra lòng bạn lúc này. Để kết thúc, hãy thì thầm một Kinh Lạy Cha để cầu nguyện với Chúa nhé.

Bạn thân mến,

Đạo Công giáo là đạo của Tình yêu. Tình yêu ấy bắt nguồn từ Thiên Chúa. Tình yêu ấy cũng là điều bạn cảm nhận trong cầu nguyện, trong những kinh nghiệm sống của cuộc đời. Xin đừng lo lắng nếu tình yêu của bạn chưa đủ mạnh. Chúng ta vẫn thực tập tình yêu này mỗi ngày, có thể là tự nhiên, nhưng đôi khi cũng cần chủ động tập tành. Người Công giáo tốt là người biết thể hiện và sống tình yêu này. Kinh nghiệm cho thấy ai đó sống mà không có tình yêu, người ấy khổ sở vô cùng; những ai sống với họ cũng đau buồn không kém. Nếu bạn liên lạc được với Thiên Chúa, đón nhận được tình yêu này, thì bạn, gia đình và những ai bạn gặp gỡ sẽ hạnh phúc hơn nhiều, vui vẻ và thoải mái hơn nhiều. Tình yêu là vậy, một tình yêu cần tập, cần sống và cần lan tỏa cho mọi người.

Để kết thúc, xin trích mẩu chuyện của cha Anthony de Mellô:

“Tình yêu là gì?” – Trò hỏi

Minh Sư đáp: “Vắng bóng hoàn toàn sự sợ hãi.”

“Chúng ta sợ hãi điều gì?” – trò hỏi lại

Minh Sư đáp: “Tình yêu.”

Yêu thì không sợ thể hiện tình yêu ấy cho người khác. Nếu sợ, nghĩa là chúng ta chưa yêu thật, hoặc vẫn còn ngượng ngạo trong tình yêu. Không sao! Cứ tập yêu và xin với Chúa thêm sức để bạn và tôi tập yêu Chúa, yêu người mỗi ngày. Hy vọng tình yêu ấy sẽ lớn hơn, mạnh hơn và sống động hơn trong cuộc đời của chúng ta. Bạn hãy cứ “giới hạn của tình yêu là yêu không giới hạn.” (Thánh Phanxicô Salêxiô). Nhờ tình yêu này mà người khác nhận ra chúng ta là người Công giáo, là chúng ta cũng tự hào là người con cái của Chúa. mục lục

Giuse Phạm Đình Ngọc

MẦU NHIỆM CON NGƯỜI

Từ đây cho đến cuối mùa Phục sinh, Giáo hội đọc một số trích đoạn từ “Diễn từ đặc biệt của Đức Giê-su” chiều Thứ Năm thánh, áp ngày Người “ra đi”, một di chúc tinh thần của Người. Đoạn hôm nay cho thấy một vài khía cạnh trong mầu nhiệm của Người: được tôn vinh cách ngược đời qua Thập giá và hiện diện nhiệm mầu qua tình thương giữa các môn đệ.

1. Tôn vinh ngược đời qua Thập giá

“Khi Giu-đa ra khỏi phòng tiệc ly, Đức Giê-su bảo…”. Đọc câu khai mở này, ta có cảm tưởng Người vừa được giải thoát, Người có thể bắt đầu nói lên một vài tâm sự… như thể sự hiện diện của tên phản bội trước đó khiến tắc họng nghẹn lời. Khi gặp phải những phút cô đơn thử thách, những khó khăn trong các quan hệ, những phong tỏa tâm lý đôi khi ngăn cản ta nói ra tất cả những gì cần nói… hãy nghĩ đến Đức Giê-su; Người cũng đã nếm biết trong nhân tính mình những hoàn cảnh bi thương tương tự. Khi đau khổ vì những tranh chấp cá nhân hay tập thể, chống đối hay hiểu lầm… xin nhớ rằng Đức Giê-su cũng đã khổ đau về điều đó. Tối hôm ấy, bầu khí nhóm đồng bàn với Người thật thê thảm: một kẻ trong họ vừa ra đi… để phản bội nhóm. Đây là cực điểm của thái độ “phi-tình yêu”: tố giác bằng hữu, bỏ rơi ai đó mình đã từng sống tháng năm như bạn đường. Đức Giê-su chẳng thiếu khả năng hiểu mọi khó khăn của chúng ta. Người đã trải qua chúng.

Nhưng trong hoàn cảnh bi thương đang gặp phải, Đức Giê-su vẫn giữ một thái độ thanh thản phi phàm. Bình an của Người vẫn trọn vẹn. Bình an đó biểu lộ trong một câu nằm giữa hai trạng từ: giờ đây… sắp sửa (sẽ)… : “Giờ đây Con Người được tôn vinh… và Thiên Chúa sắp sửa tôn vinh Người”. Các động từ đầu câu ở thì hiện tại và các động từ cuối câu ở thì tương lai. Cả một thái độ tinh thần giấu ẩn đằng sau cấu trúc ngôn ngữ đó. Trong giây phút này, giây phút phát khởi cuộc Khổ nạn với sự ra đi của Giu-đa, Đức Giê-su đã nghĩ đến kết thúc của tiến trình, đã nghĩ đến cuộc Sống lại. Niềm hy vọng giúp ta sống trước cái còn chưa tới là như thế! “Tôi nghĩ rằng những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta” (Rm 8,18). Như Đức Giê-su, ngay từ bây giờ ta đã có thể nếm được, chính giữa lòng đau khổ, niềm hạnh phúc vô biên vốn sẽ thể hiện trong tương lai cách trọn vẹn và dứt khoát.

“Giờ đây Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người”: Hãy trở lại với điểm mạc khải lạ lùng này, vốn giúp ta tiến sâu vào “bên trong Đức Giê-su”. Quá trình Khổ nạn vừa phát khởi với sự ra đi của “tên phản chủ”. Thế mà ngay lập tức, đối với Đức Giê-su, sự tôn vinh Người đã có đó, đã hoàn tất rồi. Chúng ta thấy khó tin rằng Thập giá đã là vinh quang của Đức Giê-su, vì có khuynh hướng than khóc ngày Thứ Năm và Thứ Sáu thánh, rồi rộn rã vui cười ngày Chúa nhật sống lại. Thế mà chính “kẻ bị đóng đinh” đã được tôn vinh cũng như đã tôn vinh Thiên Chúa rồi! Bao giờ chúng ta mới ngừng xem Thập giá như một cái ghê tởm, phải loại bỏ nếu có thể được? Nhìn từ quan điểm Đức Giê-su, Thập giá chính là vinh quang của Người! “Chẳng có tình yêu nào lớn hơn” (Ga 15,13). Ai yêu mới kinh nghiệm được rằng tình yêu dẫn đến chỗ hy sinh chính mình cho người yêu. Ai chỉ biết yêu mình thì không thể hiểu được vậy.

Bạn có muốn biết mình thật sự yêu ai đó không? Hãy tự hỏi mình có khả năng hy sinh cho kẻ đó vì yêu không? Nhưng coi chừng, tiếng nói lọc lừa của thế giới hiện đại sẽ thầm thỉ bên tai rằng hy sinh là bạn sai lầm, là bạn dại dột, là bạn thiếu nhân cách, bạn phải nghĩ một chút về mình, phải phát triển chính mình v.v…

2. Hiện diện nhiệm mầu qua tình thương

Đây là điều Đức Giê-su muốn khẳng định trong phần hai của bài đọc: “Hỡi những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi. Thầy ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau”. Đức Giê-su ra đi. Người biết đêm sống với môn đệ đây là đêm giã biệt. Người sắp bỏ họ cô độc, thiếu sự hiện diện khả giác, nhân loại, hữu hình của Người vốn rất quý báu! Đây sẽ là thời gian vắng mặt. Nhưng Người loan báo cách thức hiện diện mới mẻ của mình: “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy. Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha cùng Thầy sẽ đến ở lại với người ấy” (Ga 14,23). Và thánh Gio-an giải thích như sau: “Nếu chúng ta yêu thương nhau, thì Thiên Chúa ở trong chúng ta” (1Ga 4,12). Vâng, tình yêu chân thành là sự “hiện diện đích thực” của Thiên Chúa. “Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ”. Đức Giê-su ngự giữa những ai cầu nguyện cùng nhau (Mt 18,20). “Những gì các ngươi làm cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”. Đức Giê-su hiện diện trong mỗi con người đang cần đến tôi và được tôi phục vụ (x. Mt 25,31-46).

Nếu đúng như thế, thì “cái chết của Thiên Chúa”, sự vắng mặt của Người trong thế giới hiện đại chính là hậu quả của việc tình yêu đã dẫy chết, đã lụi tàn! Nhưng coi chừng, vì tiếng nói xảo trá của thế giới hiện đại không ngừng lừa gạt chúng ta, trên mọi làn sóng, trong mọi quảng cáo. Nó bảo: không thấy thiên hạ chỉ nói, chỉ hát về “tình yêu” đấy ư? Nhưng thứ tình yêu gì? Eros (tình dục) hay Agapè (bác ái)? “Yêu mình” hay “yêu người”? “Tình yêu” là từ hàm hồ nhất, dối trá nhất trong mọi từ được chúng ta sử dụng. Khi nói: “Tôi yêu kẹo cao su!”, phải chăng bạn yêu nó thật sự khi đã tiêu hủy nó cho mình? Khi yêu ai đó, phải chăng bạn cũng yêu theo cách ấy… hay yêu họ vì họ? Ở đây người ta nhớ lại câu tuyên bố “xanh dờn” của một thành viên Ku-Klux-Klan (một đảng kỳ thị chủng tộc tại Mỹ): “Tôi đâu có ghét người da đen! Tôi vẫn yêu họ đấy chứ, nhưng trong vai trò bồi bàn, quét đường của họ”. Ngôn ngữ Hy-lạp ít hàm hồ hơn, vì có hai từ khác nhau để nói lên hai thực tại đối nghịch: “éros”: yêu mình… tình yêu lợi dụng người khác đến độ hủy diệt họ; “agapè”: yêu người… tình yêu sẵn sàng hy sinh mình cho kẻ khác.

“Như Thầy đã yêu thương anh em, anh em cũng hãy yêu thương nhau”. Từ “như” đơn giản này vạch mặt tất cả những thứ tình yêu giả hiệu, nhàm chán, dễ dãi của chúng ta. Yêu thương như Đức Giê-su, đó là quỳ xuống trước mặt anh em để rửa chân cho họ, cử chỉ phục vụ khiêm tốn nhất (Ga 13,14), điều Người vừa làm lúc nãy. Yêu thương như Đức Giê-su, đó là “thí mạng vì những kẻ mình quý mến” (Ga 10,11; 15,13), điều Người sẽ làm trên Thập giá ngày mai. “Việc Ta yêu con đâu có phải chuyện đùa!” Người đã nói với thánh nữ Angèle de Foligno như vậy. Tình Chúa yêu ta đã dẫn Người đến chỗ hoàn toàn tự hủy. Để yêu kẻ khác đúng bản chất họ và thừa nhận họ trong sự khác biệt của họ, phải thôi biến mình thành trung tâm, phải sẵn sàng trả giá. Đối với Thiên Chúa, tình yêu ấy dẫn Đức Giê-su đến đồi Can-vê. Thiên Chúa đã yêu thương con người tới độ chấp nhận quyền lực của nó, một tạo vật dễ sai lầm nhưng lại có tự do, quyền lực từ chối Người, thù ghét Người, kết án tử Người!

Đối với Đức Giê-su, tình yêu không phải là điệu hát nhàm tai, dễ dãi và cũ rích đến độ vô nghĩa, như trên môi mép của hầu hết loài người! Nó là cái gì rất nghiêm chỉnh, nhưng ít ai hiểu rõ và thực hiện. Nên Đức Giê-su mới bảo giới răn yêu thương của mình là giới răn mới. Vâng, yêu như Người là rất độc đáo, mới mẻ. Đây là một nền luân lý mới, vì ta chẳng bao giờ biết nó sẽ dẫn mình đến đâu. Ngày nọ, cậu Pierre-Yves, 16 tuổi, nói với cha André Sève, một nhà chú giải Kinh thánh thời danh: “Thật tuyệt vời khi Ki-tô giáo chỉ đòi hỏi chúng ta một chuyện: yêu mến. Thật tuyệt vời khi Chúa Giê-su chỉ cho chúng ta một giới răn: tình thương”. Ngừng lại một chút, cậu nhìn chòng chọc vào vị linh mục rồi hỏi: “Cha, cha có thực hành giới răn của Chúa không?” Cha André lưỡng lự giây lát rồi trả lời, như mỗi người chúng ta có lẽ trả lời: “Tôi đang cố gắng”.

Phải cố gắng, vì “mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau”. Chỉ trong ba dòng, Đức Giê-su lấy lại ba lần cùng một điệp khúc: “Yêu thương nhau”. Việc lặp lại này rất ý nghĩa. Người qua đó cho thấy ba động cơ bổ túc khiến chúng ta phải yêu thương: 1/ Đây là giới răn của Người: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới…” 2/ Đây là tấm gương của Người: “Hãy yêu thương như Thầy đã yêu thương anh em…” 3/ Sau hết, đây là dấu chỉ của Người: “Thiên hạ sẽ nhận biết anh em là môn đệ Thầy ở điểm yêu thương”.

Như thế, Đức Giê-su thật sự kêu mời môn đệ hãy nối tiếp sứ vụ của chính Người ngay khi Người rời khỏi thế. Tình huynh đệ là “định chế” đích thực cho phép Đức Ki-tô vẫn mãi hiện diện suốt “thời cuối cùng” đã được cái chết của Người khai mạc. Gio-an đã không kể lại câu chuyện lập phép Thánh Thể như ai nấy trông chờ. Thay vào đó, ông đã tường thuật việc “rửa chân” và ban “điều răn mới”, như thể dưới mắt ông, Tình yêu là “đài tưởng niệm” sự Hiện diện Đích thực của Đức Ki-tô, cũng chân thật và hữu hiệu như chính phép Thánh Thể. “Này là mình Thầy bị nộp và máu Thầy đổ ra…” Đức Giê-su đã nói thế theo Tin mừng Nhất lãm. Nhưng trong Gio-an thì lại: “Thầy rửa chân cho anh em; anh em hãy thương yêu nhau như Thầy…”. 

Cũng là một sự “hiện diện”, không kém chân thực. Ở đây có cái gì chất vấn mạnh mẽ các Ki-tô hữu. Dấu chỉ giúp thiên hạ nhận ra “người có đạo” không chỉ là thánh lễ.  “Cái sẽ cho họ thấy anh em là môn đệ Thầy, đó là tình yêu của anh em…”. Làm sao nó lại chỉ xuất hiện những lúc Ki-tô hữu hội họp nhau giữa bốn bức tường nhà thờ? Đức Giê-su chắc chắn đã nói đến một dấu chỉ được tỏ ra trong đời sống trần tục, dấu duy nhất mà mọi người có thể trông thấy. Trong các điều kiện đó, chứng từ của Ki-tô hữu chỉ có thể được nhận biết nếu chúng ta quan tâm đến các nhiệm vụ lớn lao của thế giới hiện thời: công lý, hòa bình, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ nhân phẩm… Thánh Thể “trả” chúng ta về lại với các con đường, bàn giấy, công trường, trường học của chúng ta, về với mọi nơi chúng ta “phục vụ”.  mục lục

Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

JERUSALEM LÀ GÌ?

Image: Jerusalem and The Temple by James Tissot

Dựa vào bài đọc sách Khải Huyền hôm nay (Kh 21:1-5a), chúng ta tìm hiểu và suy niệm về thị trấn thánh Jerusalem và những địa danh quan yếu của nó theo tinh thần Kitô giáo.

Thầy cả rabbi đã để lại một ý tưởng khá lạ lùng trong kinh sách Talmud Babylone (Kiddushin 49b): thiên đàng, trần thế và Jerusalem là 3 yếu tố chính của linh hồn người Do Thái. Các rabbi nói: “Khi thế giới được tạo dựng, Thiên Chúa cho thế giới 10 phần vui thì Jerusalem được 9 phần; Thiên Chúa cho thế giới 10 phần đẹp thì Jerusalem được 9 phần; Thiên Chúa để thế giới 10 phần đau khổ thì Jerusalem chịu 9 phần.”

JERUSALEM: TRUNG TÂM LỊCH SỬ VÀ HÌNH ẢNH CỨU CHUỘC

Jerusalem là thị trấn vui mừng, nguyện cầu và đau khổ của loài người. Thị trấn của những ước mơ đã thành tựu và tan vỡ. Nhìn vào bản đồ thời Trung Cổ ta thấy Jerusalem và đền thờ Salomon nằm ngay trung tâm thế giới, các đại lục Âu Châu, Phi Châu và Á Châu làm thành hình cánh quạt tỏa ra như những cánh hoa vĩ đại. Địa thế như vậy cho thấy một viễn tượng “cứu chuộc” sẽ xuất phát từ Jerusalem. Jerusalem là trái tim thế giới, là trung tâm lịch sử.

JERUSALEM: VUI MỪNG VÀ ĐAU KHỔ

Lịch sử cứu chuộc được nói trong Kinh Thánh nằm giữa hai viễn kiến tạo thành thảm cảnh loài người lúc khởi đầu và hồi kết thúc. Viễn ảnh địa đàng bị mất được nói trong sách Sáng Thế và viễn ảnh một Tân Jerusalem đến từ Thiên Chúa được nói trong sách Khải Huyền. Chúng ta đến từ Thiên Chúa thì sẽ trở về với Thiên Chúa. Hai viễn kiến này là hai tiêu điểm tỏa sáng trên muôn vật có liên hệ đến lịch sử và số phận loài người đã được tạo nên do đau khổ và vui mừng.

JERUSALEM TRONG CỰU ƯỚC

Jerusalem là biểu tượng của đất thánh. Thị trấn là biểu tượng bảo đảm cho quyền năng cứu chuộc của Thiên Chúa: 

              “Jerusalem núi đồi tứ bề bao quanh,

              “Dân Người được Chúa bao bọc muôn đời an vui.” (Tv 125:2)

Tác giả Thánh Vịnh / David đã ca tụng Jerusalem với những lời đầy phấn chấn:

              “Lòng tôi phấn khởi hân hoan….khi họ nói với tôi:

              ‘Nào, chúng ta cùng đi về nhà Chúa’

              “Ta dừng chân nơi thành cửa, Ôi Jerusalem!” (Tv 122:1-2)

              “Lưỡi ta cứng họng tái tê,

              “Chẳng còn nhớ ra ngươi,

             “Chẳng nâng ngươi lên tuyệt đỉnh niềm vui trong đời.” (Tv 137:6)

Không ai có thể tiên đoán được tương lai Jerusalem tài hơn là Isaiah, một tiên tri kiêm thi sĩ người Do Thái sống ở thế kỷ VIII. Sau khi tiên đoán thế giới sẽ bị tiêu hủy, Isaiah cho biết đầng thiên sai sẽ cứu chuộc toàn thế giới ở đồi Jerusalem. Ông nói trước là một ngày kia tất cả mọi quốc gia sẽ tụ họp lại nơi đây để hòa giải kết thúc chiến tranh tại  ngọn đồi cao nhất là Zion tức Jerusalem. Từ Zion, tức “Núi nhà Chúa”, luật công lý của Thiên Chúa sẽ được ban hành. Hãy nghe đây lời tiên đoán của Isaiah (Is 2:1-5): Vào những ngày sắp tới, núi nhà Chúa sẽ là đỉnh núi cao nhất trong các núi. Mọi quốc gia sẽ tuôn đổ về đó, mọi dân tộc sẽ đến và cùng nói: ‘Nào, chúng ta hãy đi lên Núi Chúa, nhà của Thiên Chúa Jacob. Người sẽ dạy chúng ta đường lối của Người và chúng ta bước theo vết chân Người.’ Vì từ Zion, lời giáo huấn của Chúa sẽ được ban ra, xuất phát từ Jerusalem.

JERUSALEM VÀ NGƯỜI KITÔ GIÁO

Tin Mừng Luca và những câu chuyện sau này ở Giáo Hội sơ khai trong Công Vụ Tông Đồ đã đề cập đến Jerusalem rất tích cực. Tin Mừng Luca bắt đầu và kết thúc trong đền Jerusalem. Bắt đầu ở chỗ sứ thần báo tin cho ông Zachary -một tư tế lúc đó đang bước vào cung thánh đền Jerusalem để dâng hương- sẽ sinh con là Gioan Tiền Hô (Lc 1:10). Kết thúc ở chỗ các môn đệ của Chúa Giesu thờ lạy Chúa mỗi ngày ở trong đền thờ trong khi chờ đợi ơn Thánh Linh đổ xuống vào ngày Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống (Lc 24:52-53).

Cũng có nhiều dấu hiệu ghi trong các sách thánh của Giáo Hội sơ khai ám chỉ sự quan trọng của Jerusalem. Thánh Phaolo đã đến với dân ngoại bằng sứ điệp Tin Mừng, kêu gọi phải giúp đỡ những người nghèo khó của Giáo Hội ở Jerusalem và Judea. Ngài muốn tạo tình đoàn kết, thương yêu nhau giữa các thành viên của Giáo Hội gốc Do Thái và gốc dân ngoại. Phaolô đã phân biệt Jerusalem thành hai loại: loại dưới hay hạ giới tức nô lệ và loại trên hay thượng giới tức tự do như trong thư ngài gửi tín hữu Galat, nhưng Jerusalem vẫn là neo tầu, kim chỉ nam và là điểm tham khảo quan trọng.

JERUSALEM VÀ KHẢI HUYỀN

Đối với Kitô hữu, Jerusalem là nơi Chúa Giêsu chịu chết và sống lại, là trung tâm lịch sử loài người và thế giới. Nó cũng là một tân thị trấn ở tương lai. Tân Jerusalem này đã được nói tới trong bài đọc sách Khải Huyền chương 21. Trong giấc mơ, Gioan đã nói về một thị trấn từ Chúa, bởi Chúa và với Chúa. Tác giả trình bày Tân Jerusalem như là mục đích của lịch sử loài người. Jerusalem sẽ là khuôn mẫu cho thấy cuộc sống với Chúa thế nào vào “thời cánh chung”. Elie Weisel người đoạt giải Nobel đã dựa vào ý tưởng đó mô tả thị trấn thánh như sau: “JERUSALEM phải ở mọi nơi, JERUSALEM là mọi nơi, ở đó người ta phấn đấu cho HÒA BÌNH khi lòng mở rộng để NGUYỆN CẦU, với lòng QUẢNG ĐẠI và BIẾT ƠN.”

JERUSALEM VÀ BA TÔN GIÁO LỚN

Jerusalem là thị trấn của Chúa và là đền thánh của Chúa, nơi mà mọi tín hữu Do Thái giáo, Kito giáo và Hồi giáo đến để nghe lời Chúa và thờ lạy Chúa. Nhu cầu tôn giáo này là yếu tố chính của bản tính con người, cá nhân cũng như tập thể. Nó bao gồm nhiều người và cả một dân tộc. Ký ức tôn giáo cũng là ký ức quốc gia, đặc biệt đối với tín hữu Do Thái giáo và Hồi Giáo. Đối với tín hữu Kitô giáo, Jerusalem đã và đang là Giáo Hội Mẹ, nơi phát sinh ra cộng đồng Kito giáo tiên khởi.

MỘT VÀI VẤN NẠN ĐỂ SUY TƯ

Jerusalem như vậy nhưng tại sao dân Jerusalem và cả thế giới vẫn gây chiến với nhau có khi tưởng như ngày tận thế đến! Tại sao Jerusalem lại quan trọng như vậy? Jerusalem có ý nghĩa gì đối với bạn? Khía cạnh nào của Do Thái giáo và Hồi giáo đã soi sáng và giúp ích cho niềm tin của bạn? Bạn nghĩ gì về một viễn tượng của Jerusalem tương lai?

Khi nghĩ về Giáo Hội thì hình ảnh gì đến trong đầu bạn? Hình ảnh về Giáo Hội phản ảnh thế nào trên kinh nghiệm của bạn là một thành viên của Giáo Hội? Nếu bạn là đền thờ sống động của Thiên Chúa, những đặc tính gì nói lên bạn là thành viên của Giáo Hội? Theo bạn, biểu tựợng nào nói lên được tình đoàn kết nhất của người Kito hữu?

Tất cả cư dân thành Jerusalem ngày nay đang chiến đấu cho một xã hội công bằng và bảo đảm ngay lập tức. Thảm cảnh liên tục nơi đất thánh chính là thảm cảnh của niềm tin. Vậy thì chiến tranh vì tôn giáo và cuộc tranh cãi giữa những người cùng tin vào một Thiên Chúa còn kéo dài bao lâu nữa? Không phải vì lý do này mà Thiên Chúa tỏ mình cho chúng ta và nói cho chúng ta nơi đất thánh này, mà chính là vì ơn cứu độ loài người và tình yêu nhân loại. Đó là khí cụ xây dựng duy nhất và phương cách độc nhất dẩn đến hòa bình và công lý.

Làm sao bạn có thể biết được một Jerusalem tương lai? Những khuôn mẫu và ẩn dụ tôn giáo nào giúp bạn có được một viễn kiến về thị trấn thánh này? Sự tưởng tượng về tôn giáo của bạn có đưa bạn đến một viễn ảnh hòa bình và công lý không, hay nó lại phát sinh ra những ý tưởng hận thù, loại bỏ và bạo động?

ĐÔI LỜI KẾT: TRUNG THÀNH VỚI JERUSALEM VÀ GIÁO QUYỀN LA MÃ

Để kết luận bài suy niệm này, xin chuyển dịch lời nguyện cầu của HY Carlo Maria Martini, sj trong sách của ngài nhan đề Due Pellegrini per la Guistizia (Centro Ambrosiano: Edizioni Piemme, 1992). Biết được kinh này khi tôi đi hành hương Jerusalem hơn 10 năm trước đây.

          Lạy Chúa là Thiên Chúa chúng con
          Chúng con cầu xin Chúa
          Chúng con chúc tụng Chúa, vì Jerusalem…
          Vì Chúa ban cho chúng con thị trấn này
          Như biểu tượng câu chuyện của Chúa và câu chuyện  loài người;
          Dấu hiệu tình yêu Chúa thương chúng con
          Lòng Chúa thứ tha tội lỗi mọi người.
          Biểu tượng cuộc hành hương dương thế của chúng con đi về nhà Chúa,
          Đầy gian nan và tranh chấp.

          Chúng con cầu xin cho Jerusalem
          Cho tất cả những người anh chị em huynh đệ
          Do Thái và Ả Rập….
          Chúng con tạ ơn Chúa
          Vì Chúa kêu gọi chúng con phụng sự Chúa Kitô
          Vác thánh giá Chúa ngày nay trong Giáo Hội
          Một Giáo Hội mà trung tâm là La Mã
          Vì Chúa đã kêu gọi chúng con trở nên một với con Chúa.
          Chúa dạy chúng con đặt tên cho sự hiệp nhất ấy của chúng con với Người
          Như lời thánh Ignatius Loyola nói.
 
           Hôn thê đích thực của Chúa Kitô Chúa chúng con,
           Là Giáo Hội Mẹ chúng con.
           Chúng con tạ ơn Chúa vì Giáo Hội và La Mã;
           Đó là hình ảnh của hiệp nhất
           Là hành hương đi tới thống nhất,
           Đi tới tòa phán xét chúng con phải chịu
           Để hoàn thành tình hiệp nhất ấy.
 
           Chúng con xin Chúa ban ơn trung thành…
           Với Jerusalem và La Mã,
           Với Con Chúa và Giáo Hội
           Trong cuộc hành trình chung với nhân loại
           Hướng về Trái Tim Chúa Ba Ngôi
           Để chiêm nghiệm dung nhan Chúa,
           Đức Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Amen. mục lục

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan