SUY NIỆM CHÚA NHẬT LỄ THĂNG THIÊN_2022

27-05-2022 291 lượt xem

[Cv 1, 1-11; Ep 1, 17-23; Lc 24, 46-53]

Mục Lục

TUYÊN XƯNG CHÚA GIÊSU SỐNG LẠI và LÊN TRỜI - + ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm

HƯỚNG VỀ TRỜI - + ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

“HÃY LẮNG NGHE BẰNG CON TIM” - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

CHÚA GIÊSU LÊN TRỜI - Phêrô Phạm Văn Trung

VỀ TRỜI ĐỂ CÙNG HIỆN DIỆN - Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

VỀ QUÊ ĐÍCH THỰC - Thomas Aq. Trầm Thiên Thu

LỄ CHÚA LÊN TRỜI, LỄ CỦA NIỀM HY VỌNG - Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

CHÚA GIÊSU LÀ TƯƠNG LAI CHÚNG TA - Bs. Nguyễn Tiến Cảnh, MD

NGÀY TỪ BIỆT - Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

LỜI TRAO BAN VÀ HỨA HẸN - Anna Cỏ May

RAO GIẢNG và LÀM CHỨNG - Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

ĐƯỜNG LÊN TRỜI - Bông hồng nhỏ

“HÃY NHÂN DANH NGƯỜI MÀ RAO GIẢNG” - Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Thi ca: ƯỚC VỌNG CAO - Trầm Thiên Thu

Thi ca: PHÚC VỀ TRỜI - (Thế Kiên Dominic)

TUYÊN XƯNG CHÚA GIÊSU SỐNG LẠI và LÊN TRỜI

+ ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm

HƯỚNG VỀ TRỜI

Từ nhiều năm trở lại đây, để thuận lợi cho giáo dân tham dự lễ trọng, đa số các Giáo phận chuyển dịch ngày lễ Thăng Thiên vào Chúa nhật thứ VII Phục Sinh. Tại Tổng giáo phận Hà Nội vẫn cử hành long trọng lễ Thăng Thiên vào thứ Năm sau Chúa nhật VI Phục sinh, vì theo truyền thống của Giáo Tỉnh miền Bắc, lễ này thuộc “Tứ Quý”: lễ Giáng Sinh, lễ Chúa Thăng Thiên, lễ Đức Mẹ Lên Trời và lễ các Thánh Nam Nữ. Trong bốn ngày lễ này, người tín hữu phải kiêng việc xác và tham dự thánh lễ.

Dù mừng lễ Thăng Thiên vào ngày nào, thì Phụng vụ vẫn nhắc người tín hữu hướng về Quê Trời, đồng thời cố gắng chu toàn bổn phận dưới đất. Đức Giêsu là Con Thiên Chúa nhập thể. Người về trời sau khi đã hoàn tất chương trình cứu độ. Người về với Chúa Cha, vì Người đã từ Chúa Cha mà đến. Dưới ánh sáng phục sinh, một nhãn quan mới về nhân sinh Kitô giáo đã mở ra: con người không đơn giản chỉ là “đầu đội trời, chân đạp đất”, mà họ đã thuộc về trời ngay khi họ đang sống nơi trần gian. Nói cách khác, Kitô hữu luôn hướng về trời, và đối với những người đạo đức thánh thiện, họ được nếm trước vinh quang Nước Trời ngay ở đời này. Khi suy niệm Kinh Mân côi, ở mầu nhiệm thứ hai Mùa Mừng, chúng ta xin cho được yêu mến (ái mộ) những sự trên trời, để dầu còn sống trên trần gian, một cách nào đó, chúng ta đã hưởng hạnh phúc như các thánh trên trời.

Hướng về trời không phải là một ảo tưởng hão huyền hay là một thứ “thuốc phiện mê dân”, nhưng là niềm hy vọng và niềm xác tín của Kitô hữu. Chúng ta dựa vào lời cầu nguyện của Chúa Giêsu với Chúa Cha trong Tin Mừng Thánh Gioan chương 17. Qua lời cầu nguyện này, Chúa Giêsu vừa thân thưa với Chúa Cha, vừa thể hiện tâm tình thương mến đặc biệt đối với các môn đệ. Người xin Chúa Cha cho các môn đệ được ở với Người, vì các môn đệ – và những người kế tiếp các ngài là chính chúng ta hôm nay – là những quà tặng mà Chúa Cha ban cho Chúa Giêsu. Như thế, những ai tin vào Chúa Giêsu, sẽ được ở với Người và cùng Người chiêm ngưỡng vinh quang vĩnh cửu. Vinh quang này đến từ nơi Chúa Cha. Chính Chúa Giêsu cũng được đón nhận vinh quang ấy, rồi Người lại chia sẻ cho chúng ta.

Hướng về trời mở ra cho người tín hữu một chân trời hy vọng. Hy vọng là chờ đợi những điều tốt đẹp ở phía trước. Người tin Chúa biết rõ tương lai hậu vận đời mình, đó là được sống với Chúa, được chia sẻ vinh quang hạnh phúc với Ngài. Nhờ có niềm hy vọng, chúng ta vững tin ngay cả khi gặp những gian nan thử thách, với xác tín rằng, người yêu mến Chúa sẽ vượt thắng tất cả. Trong lời cầu nguyện vừa nêu ở trên, Chúa Giêsu khẳng định những ai tin vào Người sẽ được Chúa Cha yêu thương. Ở một nơi khác trong Tin Mừng Thánh Gioan, Chúa Giêsu nói đến sự hiện diện của Chúa Cha và Chúa Con trong tâm hồn những ai yêu mến và thực thi giáo huấn của Chúa Con “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy. Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga 14,23). Đây là hạnh phúc kỳ diệu. Chúa Ba Ngôi sẽ ở trong tâm hồn người công chính.

Hướng về trời cũng giúp cho người tín hữu có được những nghị lực siêu nhiên. Thế gian là bãi chiến trường, là thung lũng nước mắt, là bể khổ. Đức tin khẳng định với chúng ta: Thiên Chúa hiện diện giữa bãi chiến trường ấy, vì Ngài là Cha giàu lòng thương xót. Ngài luôn nâng đỡ trợ lực chúng ta trên mọi nẻo đường đời. Tác giả sách Công vụ Tông đồ đã kể lại chứng từ của thánh Stêphanô, vị tử đạo đầu tiên của Kitô giáo: trong lúc sắp tắt thở vì bị ném đá, ông đã nói: “Kìa, tôi thấy trời mở ra, và Con Người ngự bên hữu Thiên Chúa”. Đức tin vào đời sống vĩnh cửu đã ban cho vị tử đạo của chúng ta sức mạnh và niềm xác tín phi thường, với niềm xác tín: chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.

“Hỡi những người Galilêa, sao còn đứng nhìn trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời” (Cv 1,11). Lời của hai sứ thần mặc áo trắng nói với các môn đệ năm xưa lúc thày trò chia tay, cũng là lời ngỏ với chúng ta hôm nay. Mừng Chúa lên trời hướng chúng ta về quê hương vĩnh cửu, đồng thời nhắc chúng ta về bổn phận đối với quê hương trần thế. Kitô hữu không phải là người bị “bứng” khỏi cuộc sống đời này, nhưng là những người dấn thân trong mọi môi trường cuộc sống, để làm chứng cho niềm vui của Đức tin, nhất là làm chứng cho Chúa Giêsu trong khi mong đợi Người lại đến.

“Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến! Đời sống Kitô hữu là sự chờ đợi liên lỉ, với tâm tình cầu nguyện và phó thác cậy trông. Đấng Phục sinh đang hiện diện giữa chúng ta. Người sẽ đến trong vinh quang vào ngày tận thế. Chúa đã hứa với chúng ta như vậy. mục lục

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

“HÃY LẮNG NGHE BẰNG CON TIM”

Lễ Chúa Giêsu lên trời, Giáo Hội chọn làm ngày Quốc tế Truyền thông. Ngày nay, các phương tiện truyền thông, các trang mạng xã hội phát triển rất nhanh. Trong thế giới kỹ thuật số, Giáo Hội khuyến khích con cái mình vận dụng những phương tiện truyền thông hiện đại nhất để thi hành sứ vụ loan báo Tin mừng. Chủ đề của Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 56 năm nay là “Hãy lắng nghe bằng con tim”.

Lễ Thăng Thiên kính nhớ việc Chúa Giêsu “lên trời”, được cử hành vào ngày thứ 40 sau Lễ Phục Sinh (x. Mc 16, 19-20; Cv 1,1-11).

Sự kiện Chúa Giêsu thăng thiên đánh dấu việc Người trở về “nơi” mà Người đã hiện hữu trước khi nhập thể (x. Ga 3,13). Lễ này nói lên việc nhân tính của Người tiến vào trong vinh quang của Thiên Chúa một cách vĩnh viễn (x. Ga 16,28; 17,5). Nó đánh dấu sự kết thúc sứ mệnh hữu hình của Chúa Giêsu ở trần gian và khởi đầu sứ mệnh của Giáo Hội. Vào chính ngày Phục Sinh, Chúa Giêsu đã được tôn vinh, được siêu thăng và “ngự bên hữu Chúa Cha” trong thân xác vinh quang của Người rồi. Tuy nhiên, theo trình thuật của Thánh Luca, sau khi phục sinh, Chúa Giêsu còn hiện ra nhiều lần với các môn đệ trong khoảng thời gian 40 ngày. Đây là thời gian Chúa Giêsu dùng để khẳng định sự Phục Sinh của Người, củng cố niềm tin của các môn đệ, hoàn tất việc giảng dạy và sai các ông đi rao giảng Phúc Âm.Với biến cố thăng thiên, Chúa Giêsu không còn hiện diện trong thân xác hữu hình như trước kia, nhưng Người vẫn hiện diện với Giáo Hội cho đến ngày tận thế (x. Mt 28,20) theo phương cách mới - theo quyền năng của Chúa Thánh Thần, với tư cách là Chúa của vũ trụ (x. Pl 2,10-11). (x.Tiểu ban Từ vựng – UBGLĐT/HĐGMVN).

Chúa lên trời, ngự bên hữu Chúa Cha. Theo Thánh Kinh, ngự bên hữu nghĩa là đồng hàng trong danh dự, phẩm vị và quyền năng. Chúa Giêsu lên trời sau khi hoàn tất công cuộc cứu độ. Người lấy lại vinh quang, uy quyền và danh dự của một Thiên Chúa đồng hàng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Người lấy lại những sự ấy là vì đã tự nguyện trút bỏ nó khi vào trần gian để thực thi chương trình cứu độ. “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế” (Pl 2,6-7).

Chúa lên trời vì Người đã từ trời xuống: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống” (Ga 3,13). Mầu nhiệm Chúa lên trời minh chứng cho nguồn gốc thần linh của Đức Kitô. Người không phải là phàm nhân được tôn lên hàng thần thánh. Người chính là Thiên Chúa có từ đời đời và mọi sự, mọi loài nhờ Người mà được hiện hữu. “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa...Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người thì chẳng có gì được tạo thành” (Ga 1,1-3).

Chúa lên trời với cung cách hiện diện mới, trao sứ vụ cho các Tông đồ và Giáo hội tiếp nối con đường hiệp hành “con đường Giêsu” để thực thi sứ mạng loan báo Tin mừng yêu thương.

1. Hiện diện mới

Chúa Giêsu đã tiên báo với các môn đệ: “Thầy đến cùng Chúa Cha”. Lời này được lập lại 7 lần trong khung cảnh tiệc ly (x.Ga 14, 12.28; 16, 5.10.28; 17,11.13), đến nỗi trong số các môn đệ tự hỏi lời nói đó có ý nghĩa gì (Ga 16,17). Đối với Chúa Giêsu, Người không đi đến một nơi nào khác, nhưng Người đến với một người, đó chính là Chúa Cha. Chúa Giêsu coi cuộc sống ở trần gian và những hoạt động của mình như một hành trình đi đến với Chúa Cha, như một cuộc về trời với Chúa Cha. Khi hiện ra với Maria Madalena, Chúa Phục Sinh nói: “Đừng giữ Thầy lại, vì Thầy chưa lên cùng Chúa Cha. Nhưng hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ: Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em (Ga 20,17). Như thế, Gioan không kể về việc “lên cùng Chúa Cha” như một “nơi chốn”, Người không đến một nơi chốn (trời), nhưng đến với một người, đó chính là “Cha của Người và cũng là Chúa của anh em”.

Chúa về trời, một cuộc tạm biệt chứ không ly biệt.Chia tay để rồi sẽ gặp lại nhau trong một tương quan mới. Các lời nguyện và Kinh Tiền Tụng của lễ Thăng Thiên cũng chứa đựng ý nghĩa này: “Người lên trời không phải để lìa xa chúng con là những kẻ yếu đuối, nhưng vì là đầu và là Thủ Lãnh, nên Người đã đi trước, để chúng con là những chi thể của Người vững một niềm tin tưởng cũng sẽ được lên theo”.

Chúa về trời gợi lên trong tâm hồn chúng ta một khát vọng quy hướng về Người để rồi đối với chúng ta không còn hạnh phúc nào lớn hơn là được ở trong Người, đón nhận sự sống sung mãn Người ban tặng. Nhận thức được niềm hạnh phúc ấy, đời sống cầu nguyện của chúng ta sẽ có một sự thú vị ngọt ngào. Nơi thiên cung, mọi đau khổ, bệnh tật, chiến tranh, khủng bố không còn nữa. Ở đó chỉ có thanh bình, công bằng, và hạnh phúc viên mãn, nhân phẩm và nhân vị con người hoàn toàn được phục hồi trong ánh sáng phục sinh của Chúa Kitô.

Từ nay trở đi, Chúa Kitô Phục Sinh sẽ hiện diện trong lòng con người, trong tâm hồn tất cả những ai tin vào Người. Chúa Giêsu một khi ngự bên hữu Chúa Cha đã hoàn toàn mặc lấy quyền năng Chúa Thánh Thần, Người đến ngự trong tâm hồn của mỗi chúng ta. Chính Người đã nói “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy và Cha Thầy sẽ yêu mến nó và chúng ta sẽ đến và ở lại với người ấy” ( Ga 14,23). Để chúng ta hiểu hơn về sự hiện diện này, Chúa đã dùng dụ ngôn cây nho và cành nho “Thầy là cây nho các con là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy thì người ấy sinh nhiều hoa trái vì không có Thầy anh em chẳng làm gì được”(Ga 15,5).

2. Trao Sứ Vụ

Chúa về trời mở ra sứ vụ mới cho các Tông đồ. Đó là khai trương công cuộc truyền giáo toàn cầu với lệnh truyền của Chúa: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin mừng cho mọi loài thọ tạo”. Nội dung của việc truyền giáo được chỉ định rõ ràng: “Làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Thầy. Làm phép rửa cho họ. Dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy truyền cho anh em”. Bảo chứng cho sứ vụ truyền giáo là: “Có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng”. Nhờ việc sai đi và uỷ quyền cho các Tông đồ, qua các Tông đồ rồi đến các môn đệ, Chúa Giêsu trở thành người sống đương thời với chúng ta “và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”.

Chúa đã dùng Giáo Hội như đôi tay để tiếp tục công cuộc cứu rỗi của Người. Sứ mệnh của Chúa là sứ mệnh thiêng liêng. Nhưng sứ mệnh đó phải được thể hiện bằng lời nói, bằng hành động bên ngoài. Giáo Hội thực thi sứ mệnh đó trong khung cảnh hữu hình, nhờ những phương tiện cụ thể. Nhờ những sinh hoạt hữu hình và đôi tay cụ thể của Giáo Hội mà Chúa Giêsu tiếp tục loan truyền chân lý, trao ban sự sống, dẫn đưa nhân loại về hạnh phúc vĩnh cửu.

3. Truyền thông và hiệp hành

Giáo Hội Thánh chọn lễ Thăng Thiên làm Ngày Thế giới Truyền thông.Toàn thể Dân Chúa khắp nơi đang tích cực thực hiện tiến trình của Thượng Hội Đồng Giám mục thế giới lần thứ 16 vào năm 2023, bắt đầu từ cấp giáo phận, với chủ đề : “Hướng tới một Hội Thánh hiệp hành : hiệp thông – tham gia – sứ vụ”. Để có được lối sống hiệp hành như thế, cần làm ba việc như Đức Kitô phục sinh đã làm đối với hai môn đệ trên đường Emmaus (x. Lc 24, 13-35). Trong bài giảng khai mạc Thượng Hội Đồng (10/10/2021), Đức Thánh Cha Phanxicô đã chỉ rõ có 3 việc cần làm là: Gặp gỡ trực tiếp; Lắng nghe và Phân định. Chúa Giêsu đã lắng nghe bằng con tim, với thái độ bình tĩnh và kiên nhẫn. Chúng ta cần lắng nghe Chúa và lắng nghe nhau.

Trong sứ điệp Truyền thông năm nay, Đức Thánh Cha Phanxicô nhấn mạnh những điểm quan trọng: lắng nghe bằng con tim, lắng nghe là điều kiện giao tiếp tốt, và lắng nghe trong Giáo hội.

a. Lắng nghe là điều kiện giao tiếp tốt

Lắng nghe là bước đầu tiên không thể thiếu của đối thoại và giao tiếp tốt. Người ta không thể làm truyền thông nếu không lắng nghe trước và không thể trở thành một nhà báo tốt nếu không có khả năng lắng nghe. Hơn thế nữa, cần phải lắng nghe nhiều nguồn để có độ chính xác của thông tin muốn truyền tải. Và điều đặc biệt là phải lắng nghe kiên nhẫn, điều này không dễ, như Đức Hồng y Agostino Casarli, một nhà ngoại giao lớn của Toà Thánh đã nói về “tử đạo của kiên nhẫn”. Đối với Đức Hồng y, trong các cuộc đàm phán cần lắng nghe và được lắng nghe kiên nhẫn để đem lại lợi ích tốt nhất có thể trong điều kiện tự do bị giới hạn.

b. Lắng nghe trong Giáo hội

Đức Thánh Cha mời gọi trong Giáo hội, mọi người cần phải lắng nghe người khác và lắng nghe nhau, vì đây là món quà quý giá nhất mà các tín hữu có thể dành cho nhau. Và điều này phải được thể hiện cụ thể trong hoạt động mục vụ, như Thánh Tông đồ Giacôbê khuyên: “Mỗi người phải mau nghe, đừng vội nói” (Gc 1,19). Dành thời gian để lắng nghe người khác là cử chỉ đầu tiên của bác ái.

Hướng đến tiến trình hiệp hành của toàn thể Giáo hội đang thực hiện, Đức Thánh Cha mời gọi: “Chúng ta hãy cầu nguyện để đây là một cơ hội tuyệt vời cho mọi người lắng nghe nhau. Thực tế, hiệp thông không phải là kết quả của các chiến lược và chương trình, nhưng được xây dựng trong sự lắng nghe nhau. Như trong một dàn hợp xướng, sự hiệp nhất không đòi hỏi phải giống nhau, đơn điệu nhưng là sự đa dạng của các giọng khác nhau. Mỗi người khi hát cần lắng nghe người khác để tạo nên sự hoà hợp tổng thể. Sự hoà hợp các giọng ca là ý tưởng của nhà soạn nhạc, nhưng hiện thực nó thì phụ thuộc vào mỗi giọng ca. Trong Giáo hội, Thánh Thần là nhà soạn nhạc.

Truyền giáo là truyền rao sứ điệp cứu rỗi của Tin Mừng nên mới có những người lắng nghe, đón nhận đức tin và được sống trong ơn cứu rỗi. Truyền giáo là nghĩa vụ “thông truyền điều đã thấy và đã nghe” (1Ga1,3) để mọi người được hiệp thông với Thiên Chúa. Đây là điểm khác biệt giữa truyền thông xã hội và truyền thông công giáo.Trong khi truyền thông xã hội khai thác thông tin theo quy luật cung cầu của thị trường, thì truyền thông công giáo lại xác định hướng đi của mình là mùa màng trong đời sống đức tin.

Trong thế giới kỹ thuật số, Giáo Hội khuyến khích tín hữu vận dụng những phương tiện truyền thông hiện đại nhất để thi hành sứ vụ loan báo Tin mừng. Đức Thánh Cha Phanxicô nói rằng: “Ngay từ khi internet lần đầu tiên xuất hiện, Giáo hội luôn tìm cách thúc đẩy việc sử dụng nó để phục vụ cho sự gặp gỡ giữa mọi người và cho sự đoàn kết giữa tất cả mọi người” (Sứ điệp Truyền thông 2019).

Trong Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông 53, Đức Thánh Cha Phanxicô ghi nhận tầm quan trọng và sự lan rộng của internet và các mạng xã hội trong đời sống con người ngày nay. Đó là nguồn kiến thức và những tương quan giữa con người với nhau. Tuy nhiên, cũng không thiếu những khía cạnh tiêu cực do các mạng xã hội. Đó là nơi dễ bị những tin tức giả mạo và xuyên tạc xâm nhập và lan tràn; các dữ kiện cá nhân nhiều khi bị lèo lái để mưu những lợi lộc về chính trị hoặc kinh tế, không tôn trọng nhân vị và các quyền của họ. Sứ điệp cũng cảnh giác chống lại sự tự cô lập qua các mạng xã hội, có hiện tượng những người trẻ trở thành “những ẩn sĩ xã hội”, trở nên hoàn toàn xa lạ với xã hội chung quanh (x. vaticannews.va/vi).

Nếu Chúa Giêsu sinh ra trong thời đại này, Người sẽ dùng internet để rao giảng Tin Mừng. Chúa Giêsu Kitô là nhà truyền thông đầu tiên, vĩ đại, đại tài vì sứ điệp của Người là Tin Mừng, là tin vui cho mọi người. Chúa Giêsu có mạng lưới gồm các Tông đồ thông truyền Tin Mừng cho nhân loại. Qua các môn đệ,Tin Mừng được loan truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác.Chúa Giêsu không có các phương tiện hiện đại, Người có các Tông đồ, các môn đệ, các thế hệ nối tiếp nhau như mạng lưới phổ biến Tin Mừng khắp nơi trên thế giới.

Truyền thông chính là chia sẻ niềm vui Tin mừng cứu độ. Truyền thông có đặc điểm là khiêm tốn, nhẹ nhàng, nên mọi sự cho mọi người và xây dựng một nền văn hóa gặp gỡ lắng nghe nhau trong xây dựng yêu thương. Từ đó giúp con người nhận ra tình yêu của Chúa. Đây là sứ vụ Chúa trao phó cho mỗi người tín hữu trong thời đại hôm nay.

Cảm tạ Thiên Chúa đã ban những phương tiện truyền thông hiện đại. “Truyền thông, dù ở đâu và bằng cách nào, cũng mở ra những chân trời rộng lớn hơn cho nhiều người. Đây là quà tặng của Thiên Chúa kèm theo một trách nhiệm lớn lao”; “Internet có thể được sử dụng một cách khôn ngoan để xây dựng một xã hội lành mạnh và mở ra để sẻ chia” (Sứ điệp Truyền thông 50).

Ước mong mỗi người tín hữu biết sử dụng các phương tiện truyền thông với đức tin, trong sự lắng nghe bằng con tim và tuân phục sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, để góp phần cổ võ nền văn hóa gặp gỡ và tích cực loan báo tin vui bình an yêu thương. mục lục

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

CHÚA GIÊSU LÊN TRỜI

Khi đọc câu chuyện Chúa Giêsu lên trời chắc chắn tâm trí chúng ta sẽ thấy có những hình ảnh lướt qua mà có lẽ chúng ta đã từng thấy nơi những bức tranh của một họa sĩ bậc thầy vĩ đại thời Phục hưng hoặc đơn giản là những bức tranh được sinh ra từ trí tưởng tượng của chúng ta. Quả thực, nếu tiếp nhận câu chuyện này bằng những từ ngữ đơn giản thì lý trí của chúng ta khó có thể diễn tả hết được. 

Sách Công Vụ Tông Đồ cũng như Tin Mừng Luca kể câu chuyện về sự kiện này và chúng ta có thể tiếp nhận với đức tin, hoặc với nụ cười trên môi. Nhưng trên thực tế, cơ sở rõ ràng để hiểu biến cố Chúa Giêsu Thăng Thiên này phải đối mặt với một mầu nhiệm vĩ đại và kỳ diệu. Dĩ nhiên, Chúa Giêsu không chỉ lên trời để nghỉ hưu ở đó; Như tác giả Thư Hípri chỉ rõ Chúa Giêsu được “đưa lên trời” để “vào trong đó”, “Quả thế, Chúa Kitô đã chẳng vào một cung thánh do tay người phàm làm ra, vì cung thánh ấy chỉ là hình bóng của cung thánh thật. Nhưng Ngài đã vào chính cõi trời, để giờ đây ra đứng trước mặt Thiên Chúa chuyển cầu cho chúng ta” (Hípri 9:24). Và bây giờ những gì chúng ta phải giữ lại từ câu cơ bản này, vốn dĩ nói lên trung tâm của mầu nhiệm, đó là cụm từ “cho chúng ta” - Chúa Giêsu đại diện cho chúng ta trước mặt Thiên Chúa… cho chúng ta, một lần nữa. 

Chúa Giêsu được sinh ra cho chúng ta, để bày tỏ cho chúng ta Lời của Thiên Chúa, Cha của Ngài; Chúa Giêsu đã chết thay cho chúng ta để cứu chuộc chúng ta khỏi tội lỗi của chúng ta; Chúa Giêsu đã sống lại để đem lại sự sống đời đời cho chúng ta, và cuối cùng Chúa Giêsu đã vào thiên đàng để báo trước cho chúng ta sự cứu rỗi của chúng ta.

Chúng ta chiêm ngắm mầu nhiệm Thăng Thiên này và lắng nghe các bản văn thánh trong bầu khí Phục sinh trọn vẹn. Việc Chúa Giêsu lên trời được trình bày cho chúng ta, cùng với sự Phục sinh, như những chuyển động độc đáo; trong khi sự Phục sinh của Chúa Giêsu là một chuyển động từ trong kẻ chết, Ngài đã phục sinh: “Đấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại” (Luca 24: 46), thì việc Chúa Giêsu lên trời một chuyển động đưa Chúa vào vinh quang: “rời khỏi các ông và được đem lên trời” (Luca 24: 51). Và đây chính là nơi đặt ra mầu nhiệm mà chúng ta đang chiêm ngắm. Do đó,  lễ Thăng Thiên cử hành long trọng mầu nhiệm hoàn tất sự Vượt Qua trong toàn thể thân mình Chúa Kitô; Thân mình này vốn xưa nay là một sự trọn vẹn bởi vì nó được cấu thành bởi Chúa Kitô, là thủ lãnh và là đầu, và các chi thể là chúng ta, là dân Thiên Chúa. Vì vậy, chúng ta không thể tách rời khỏi mầu nhiệm Vượt qua, vì tất cả những gì Chúa Cha đã làm là vì chúng ta!

Từ đó chúng ta có thể hiểu rằng lý do cuối cùng của việc Chúa Giêsu lên trời chính là để dẫn đến mục đích này: làm cho con người được nên thần thánh giống Thiên Chúa;  khi Chúa Giêsu đến thế gian, Thiên Chúa trở thành con người để con người được nên thần thánh, như thánh Clêmentê Alexandria và Grêgôriô Nazianxê đã nói: “Thiên Chúa đã làm người để con người làm Chúa”. Nhà thần học Karl Rahner, trong bộ sách thần học “Mysterium Salutis” của mình cũng đã viết: “Thiên Chúa làm người để con người được trở nên Thiên Chúa”, dựa vào lời thánh Phêrô: “Thiên Chúa đã ban tặng cho chúng ta những gì rất qúy báu và trọng đại Ngài đã hứa, để nhờ đó, anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa…” (2 Phêrô 1: 4). Hôm nay, Chúa Giêsu đến ngự bên hữu Thiên Chúa, là Cha ngài, và đây là cách thế bản tính con người của chúng ta được nâng lên trên các tầng trời; vì một người trong chúng ta đã vào trong vinh quang của Thiên Chúa. Kinh Tiền Tụng lễ Thăng Thiên còn nói thêm rằng: hôm nay, Đức Kitô đã “lên trời không phải để lìa xa thân phận yếu hèn của chúng con, nhưng để chúng con là chi thể của Ngài, tin tưởng được theo Ngài đến nơi mà chính Ngài là Ðầu và là Thủ Lãnh của chúng con đã đến trước.” 

Chính mầu nhiệm chưa từng được biết đến này đã làm cho lễ Chúa Thăng Thiên trở thành lễ của chúng ta; Ludolph the Carthusian vào thế kỷ XIV nhận xét rằng “Sự thăng thiên của Đấng Cứu Độ là nguyên lý cho sự thăng thiên của chính chúng ta”, Vì thế, ngày lễ này đối với chúng ta là một nguồn vui lớn trong hy vọng của chúng ta.

Tóm lại, chúng ta có thể nói: chắc chắn, Chúa Giêsu ra đi, nhưng chúng ta vẫn hợp nhất với Ngài! Và do đó hơn bao giờ hết, mầu nhiệm này trở thành mầu nhiệm của sự hiện diện khuất mặt. Và các tông đồ hiểu rõ điều này, như Thánh Luca nói với chúng ta, “trở lại Giêrusalem, lòng đầy hoan hỷ, và hằng ở trong Đền Thờ mà chúc tụng Thiên Chúa” (Luca 24: 53-53). Từ đó chúng ta thấy có một sự song hành với sự kiện Emmau. Niềm vui của hai môn đồ khi trở về từ Emmau là kinh nghiệm về sự phục sinh, niềm vui của các môn đồ khi chứng kiến sự thăng thiên là kinh nghiệm về sự sống vĩnh cửu, về sự cứu rỗi. Không khác gì hai môn đồ ở Emmau, các môn đồ ở Bêtania vui mừng khi chiêm ngưỡng, không phải là chiếc bánh được bẻ ra nữa, mà là đám mây trên trời.

Thật vậy, nếu chúng ta hình dung ra rằng một người rời bỏ chúng ta bằng cách bay lên trên mây, chúng ta sẽ không coi đó là mầu nhiệm thăng thiên: chúng ta coi đó chỉ là một sự khuất mặt, trong khi việc Chúa Giêsu lên trời là một mầu nhiệm của sự hiện diện được nhân lên của Ngài, sự hiện diện khuất mặt. Do đó, như Bí tích Thánh Thể đem sự hiện diện của Chúa Kitô vào trong tâm hồn của muôn ngưởi, cũng vậy việc chiêm ngắm thiên đàng không phải là sự bỏ trốn đối với các Kitô hữu. Do đó, nếu các thiên thần nói với các Tông đồ rằng Chúa sẽ trở lại, thì đó là sai họ quay trở lại với nhiệm vụ trở nên sự hiện diện của Chúa Kitô, là Đấng đã trở nên vắng mặt trong thân xác, nhắc nhở họ về sứ mệnh làm chứng cho tất cả những gì họ đã thấy: Chúa Giêsu đã nói với họ “Chính anh em là chứng nhân về những điều này” (Luca 24: 48) và “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Ngài ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất” (Công vụ 1:8). Do đó, đây là kết quả từ mầu nhiệm của sự hiện diện được nhân lên của Chúa Giêsu. 

Khi chiêm ngắm mầu nhiệm này, chúng ta đi từ thị kiến thực tế của các tông đồ sang cái nhìn đức tin của chúng ta. Đó là tìm kiếm Chúa Giêsu trên trời và làm việc với Ngài dưới đất. Nỗ lực của đức tin đòi hỏi chúng ta là hợp nhất hai mối tương quan này với Chúa Giêsu; chắc chắn chúng có thể biểu lộ rất khác nhau, nhưng chúng ta hãy yên tâm rằng cuộc sống của chúng ta đã được sự sống của Chúa Giêsu trên trời thu hút, là Đấng thu hút chúng ta ngày này qua ngày khác khi chúng ta “gắn chặt khát khao của mình vào nơi mà ánh mắt không chạm tới được”, theo lời nói nổi tiếng của Thánh Lêô.

Chúng ta tin tưởng nơi Chúa Giêsu này, Đấng sẽ Hiện diện cho chúng ta, là những người mở rộng đời sống của mình cho Ngài. André Sève nói câu này như một lời nhắn nhủ: “Chưa bao giờ đức tin của chúng ta lại bị đòi hỏi nhiều như trong mầu nhiệm Thăng Thiên này, nơi mà đức tin phải học cách sống với Chúa Giêsu trên trời và dưới đất.” mục lục

Phêrô Phạm Văn Trung
Phỏng theo ĐGM. Jean Scarcella – Tu viện Thánh Maurice.

VỀ TRỜI ĐỂ CÙNG HIỆN DIỆN

Hôm nay, cùng với toàn thể Giáo Hội, chúng ta long trọng mừng Lễ Chúa Giê-su lên trời. Bài đọc một và trình thuật Tin Mừng trong phần Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay tuy có một chút khác biệt, nhưng nội dung chính yếu là nói về việc Đức Giê-su được cất nhắc lên trời trước mắt các môn đệ. Như vậy câu hỏi đầu tiên chúng ta cần san sẻ cho nhau là trời ở đâu?

Chúng ta không biết nhiều về khoa học không gian, nhất là môn học về vũ trụ thì lại càng khó hiểu. Đó là việc của các nhà chuyên môn. Vào thời Đức Giê-su, và hầu hết những người dân thường ít hiểu biết như chúng ta vẫn còn cho rằng trời ở trên cao, đất là nơi chúng ta đang sống và được bao quanh bởi biển cả và đại dương, và dưới hay trong lòng quả đất này là hỏa ngục.

Từ khái niệm đơn sơ này chúng ta suy diễn về các mốc điểm trong hành trình của chúng ta. Các Thiên Thần và các Thánh thì ở trên trời. Quỉ dữ và những ai thuộc về nó thì bị giam cầm dưới Hỏa Ngục, trong lòng đất. Còn trái đất là nơi chúng ta đang sống và chiến đấu. Chính vì thế, đôi khi chúng ta cho rằng về trời hay lên thiên đàng là phần thưởng dành cho ai đã chiến đấu và chiến thắng quyền lực của sự ác chi phối và hoành hành trên cuộc sống của chúng ta. Vì thế quan niệm sống để thu tích các công việc đạo đức và đưa vào kho lẫm để chờ ngày lãnh nhận phần thưởng đời sau vẫn còn ảnh hưởng sâu rộng trong cuộc sống của tín hữu. Với lối suy luận như thế, chúng ta có thể sẽ quên đi trách vụ và bổn phận cần phải làm để biến đổi môi trường mà chúng ta đang sống trở thành trời mới đất mới.

Trời là nơi Chúa ngự. Ngự trị không nhắm đến nơi chốn cho bằng mô tả sự hiện diện của Chúa. Sự hiện diện này sẽ không còn tuỳ thuộc vào một khoảng không gian nào đó hay một mốc thời gian nào của lịch sử; nhưng là một sự hiện diện không bị giới hạn bởi không gian và không lệ thuộc vào thời gian. Thiên Chúa hiện diện từ trước và cho đến muôn đời, vô thủy vô chung. Như vậy ở đâu có Chúa là ở đó có trời. Và như lời Chúa đã phán thì ở đâu có hai hay ba người họp lại vì danh Chúa thì Chúa hiện diện giữa họ. Ý nghĩa của câu này có thể giải thích là ở đâu có sự hiệp nhất, thông cảm, yêu thương thì có Chúa ở đó; nói khác đi tại nơi đâu mà con người cùng chia sẻ một đức tin, cùng san sẻ và trao ban một lòng mến thì tại nơi đó có sự hiện diện của Chúa. Như vậy, trời hay thiên đàng không ám chỉ đến địa danh hay nơi chốn nào đó cho bằng một cách mà con người dùng để diễn tả khi nói đến nơi ngự trị của Chúa. Nói khác đi, khi mô tả việc Chúa lên trời có nghĩa là chúng ta nói đến việc Chúa Giê-su ngự trị bên hữu Thiên Chúa.

Trên thực tế, làm sao chúng ta có thể giải thích về ý niệm về một vị Thiên Chúa vừa hiện diện lại vừa vắng mặt trong cuộc sống của chúng ta nói riêng và trong các sinh hoạt của thế giới này nói chung. Rất nhiều người trong chúng ta vẫn còn sống với quan niệm về một vị Thiên Chúa ở trên trời, xa vắng với các sinh hoạt của con người. Với cái nhìn như thế, mỗi khi chúng ta gặp khó khăn là lúc chúng ta chạy đến cầu xin với Ngài đến can thiệp và giải quyết thay cho chúng ta.

Trái lại, với sự hiện diện mới, Chúa Giê-su không còn hiện diện bằng xuơng bằng thịt và cũng không còn bị giới hạn và ràng buộc bởi không gian và thời gian nữa. Người sẽ hoạt động trong con người, nhất là nơi các kẻ tin. Vì thế việc trao ban uy quyền và sứ mạng cho họ cần được thực hiện truớc khi Người trở về với thân phận hằng có trong Thiên Chúa của Người.

Có phải cho đến hôm nay Chúa mới đuợc đưa lên trời hay không? Thật ra, Đức Giê-su đã về nhà Cha, tiếp nhận vinh quang như đã có từ Thiên Chúa ngay khi Người trút hơi thở và trao ban Thần Khí cho những ai đứng bên Thập Giá. Việc Chúa Giê-su được cất nhắc về trời hôm nay không phải là việc ra đi để rồi không hiện diện nữa; nhưng đây chính là một sự hiện diện mới mà chúng ta và các môn đệ cần nhận ra bằng con mắt đức tin và thể hiện bằng việc làm để minh chứng điều mà chúng ta và các môn đệ đã tin.

Vì thế, không có chuyện vắng mặt. Đức Giêsu, Đấng đã chịu thương tích và bị giết vào dịp lễ Vượt Qua; Người vẫn hiện diện và không hề bỏ rơi các môn đệ; Người đã sống lại và tiếp tục sống cho họ và với họ như những gì mà chúng ta vừa nghe trong bài đọc một hôm nay, đó là “sau cuộc thương khó, Người đã tỏ cho các ông thấy Người vẫn sống, với nhiều bằng chứng Người đã hiện ra với các ông trong khoảng bốn mươi ngày và đàm đạo về Nước Thiên Chúa.” Cách thức hiện diện tuy khác, nhưng Người không hề bỏ rơi họ. Trong khi thi hành sứ vụ, Người đã không thể ở với mọi người tại mọi nơi khác nhau. Nay qua sự chết trong vâng phục mà Người đã được tôn vinh và hiện diện ở mọi nơi, mọi chốn và ở với mọi người trong mọi cảnh huống của đời họ.

Chúng ta mừng sự thay đổi, hân hoan đón nhận cách thức hiện diện mới của Chúa. Tuy, chúng ta không còn đuợc tiếp cận với con người bằng xương bằng thịt của Chúa nữa. Nhưng với Thân Thể Mầu nhiệm của Đức Ki-tô là Giáo Hội, chúng ta đuợc liên kết với Người như Lời Người đã phán: “Ở đâu có hai hoặc ba người tụ họp nhân danh Thầy, thì Thầy ở giữa họ.”

Mặc dầu các dấu chỉ biểu lộ uy quyền của Thiên Chúa có thể thay đổi so với các việc làm của các tín hữu thuộc các công đoàn sơ khai; nhưng nguồn gốc và sức mạnh vẫn xuất phát từ Chúa. Người vẫn hoạt động thông qua những kẻ đi theo Người. Người về trời ngự bên hữu Thiên Chúa không phải để đuợc tôn vinh mà thôi, nhưng còn tiếp tục làm việc nơi các môn đệ qua quyền năng và sức mạnh của Thiên Chúa, đó chính là sức mạnh của Thánh Linh như Chúa đã hứa “các con sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần ngự xuống trên các con, và các con sẽ nên chứng nhân cho Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong tất cả xứ Giu-đê-a và Sa-ma-ri-a, và cho đến tận cùng trái đất”.

Với sức mạnh của Chúa Thánh Linh, các Tông Đồ và nhóm môn đệ mọi thời đã hoàn tất sứ mạng của họ. Còn chúng ta hôm nay thì sao?

Sống trong một thế giới đầy tranh chấp và bạo lực, chúng ta đuợc mời gọi trở nên sứ giả của hoà bình.

Sống trong một tập thể mà người ta tìm cách loại bỏ nhau vì ghen ghét, đố kỵ và thù hằn thì chúng ta lại đuợc mời gọi sống yêu thương, tương tác và liên đới với nhau.

Đối diện với một cộng đoàn chỉ biết tham lam và tranh dành địa vị thì chúng ta lại được mời gọi sống bác ái và khiêm nhường trong việc phục vụ.

Tất cả đều là dấu chỉ nói lên lời mời gọi của Chúa Giê-su Phục Sinh, Đấng tiếp tục hiện diện và hoạt động trong cộng đoàn của các kẻ tin.

Vì thế, câu hỏi mà chúng ta phải đối diện hôm nay là sống thế nào trong vai trò chứng nhân về sự hiện diện của Chúa? Đó cũng là thử thách mà Tin mừng đề ra cho các tín hữu tại Ga-li-lê-a khi xưa và cho chúng ta hôm nay “Hỡi những người Ga-li-lê-a, sao còn đứng đó nhìn trời.” Có nghĩa là tại sao chúng ta vẫn còn ngồi đó mà tiếc nuối quá khứ! Sao cứ khư khư ôm lấy vinh quang mà không dám trở về với cuộc sống hiện tại để chu toàn phận sự đã được trao phó?

Khi thi hành nhiệm vụ mà Chúa trao phó hôm nay, chúng ta ý thức rằng mình không tự làm; nhưng sứ mạng được trao ban từ Chúa; Người là vị cứu tinh nhân hậu, đang đồng hành trong mọi sự kiện của cuộc đời chúng ta.

Chúng ta vẫn nương tựa vào Chúa.

Chúng ta vẫn gắn bó và nối kết mật thiết với Người.

Tuy nhiên, chúng ta không ngồi đó chờ Người làm thay các việc mà chúng ta cần làm.

Chúng ta sẽ không yêu cầu Chúa đến để thay đổi những gì đang xảy ra trong cuộc sống của chúng ta.

Thay vào đó, trong niềm tin, chúng ta biết chắc Người đang đồng hành với chúng ta, soi sáng và mở mắt để chúng ta nhìn thấy Thiên Chúa trong các sự kiện đang xảy ra. Thiên Chúa đã không rời bỏ chúng ta nhưng hiện diện trong những gì đang diễn ra trong cuộc sống của chúng ta ngay bây giờ và mãi mãi.

Như vậy, Chúa lên trời để dọn chỗ cho chúng ta. Nhưng ngay bây giờ chúng ta cần thực hiện lịnh truyền mà Chúa phán trước khi được cất nhắc lên trời, đó là: “anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất”, và nhờ việc làm của anh em mà mọi người sẽ nhận biết chúng ta là môn đệ của Người. Amen! mục lục

Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

VỀ QUÊ ĐÍCH THỰC

Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.” (Ga 14:1-3)

Chúa Giêsu không chỉ động viên mà Ngài còn hứa. Chắc chắn không có lời hứa nào kỳ diệu như vậy: Ngài ở đâu thì những người tin nhận Ngài cũng ở đó. Mà Ngài ở đâu? Ngài ở trên trời – Thiên Quốc. Như vậy, tín nhân cũng được về trời và ở với Ngài. Thực sự quá đỗi kỳ diệu, bởi vì phàm nhân chỉ là bụi tro mà lại được ở chung với Ngài, nên giống Ngài. Thế thì loại bụi tro này rất quý giá, không như người ta tưởng.

Tất nhiên cái gì cũng có cái gia nhất định của nó. Muốn ăn thì lăn vào bếp, muốn sướng thì phải chịu cực, muốn xài tiền thì phải làm việc. Muốn về trời thì phải hy sinh nhiều thứ, cụ thể là vác thập giá hằng ngày mà theo Chúa. Đó là cách định hướng cần thiết. Chúa Giêsu định hướng cho những ai muốn thuộc về Ngài: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.” (Ga 14:6)

Chúa Giêsu đã định hướng cách sống để tín nhân cố gắng sống tốt, chờ Ngài trở lại đón về trời – quê hương đích thực. Ngài về trời trước, chúng ta còn ở lại. Đó là cuộc chia tay đầy ý nghĩa, không buồn thảm mà lại tràn trề hy vọng. Vả lại, chúng ta không hề mồ côi, vì Ngài hứa: “Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em.” (Ga 14:26)

Người ta lầm tưởng Chúa Giêsu là nhà cách mạng lỗi lạc, chính trị gia đại tài, đang tìm cách khôi phục vương quốc trần gian. Không, Vương Quốc Thiên Chúa không ở thế gian này. Người ta lại hỏi dò: “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Israel không?” (Cv 1:6) Nhưng Ngài xác định: “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất.” (Cv 1:7)

Khi Chúa Giêsu được cất lên, có đám mây quyện lấy Ngài, không ai thấy Ngài nữa. Người ta ngơ ngẩn, không biết vì tiếc Chúa hay tiếc cảnh lạ. Họ đang đăm đăm nhìn lên trời theo hướng Ngài bay lên, có hai người mặc áo trắng xuất hiện ngay bên cạnh họ và nói: “Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn lên trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời.” (Cv 1:11) Thật lạ lùng! Phàm ngôn không thể diễn tả.

Sự kiện Chúa Giêsu về trời là dấu chỉ bảo đảm rằng tín nhân cũng sẽ về trời với Ngài. Điều đó chắc chắn chứ không mơ hồ, viển vông, hoặc ảo tưởng. Với niềm hy vọng đó, Thánh Vịnh gia mời gọi: “Vỗ tay đi nào, muôn dân hỡi! Mừng Thiên Chúa, hãy cất tiếng hò reo! Vì Đức Chúa là Đấng Tối Cao, Đấng khả uý, là Vua Cả thống trị khắp địa cầu.” (Tv 47:2-3)

Tín nhân thực sự hạnh phúc vì được nhận biết và tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất. Niềm vui chan hòa: “Thiên Chúa ngự lên, rộn rã tiếng hò reo, Chúa ngự lên, vang dội tiếng tù và. Hãy đàn ca, đàn ca lên mừng Thiên Chúa, đàn ca lên nào, đàn ca nữa kính Vua ta! Thiên Chúa là Vua toàn cõi địa cầu, hãy dâng Người khúc đàn ca tuyệt mỹ. Thiên Chúa là Vua thống trị chư dân, Thiên Chúa ngự trên tòa uy linh cao cả.” (Tv 47:6-9) Hạnh phúc nối tiếp, hy vọng kéo dài và lan tỏa.

Thánh Phaolô nói rất rõ ràng: “Đức Kitô đã chẳng vào một cung thánh do tay người phàm làm ra, vì cung thánh ấy chỉ là hình bóng của cung thánh thật. Nhưng Người đã vào chính cõi trời, để giờ đây ra đứng trước mặt Thiên Chúa chuyển cầu cho chúng ta. Người vào đó, không phải để dâng chính mình làm của lễ nhiều lần, như vị thượng tế mỗi năm phải đem theo máu của loài khác mà vào cung thánh.” (Dt 9:24-25)

Như có ý giải thích, Thánh Phaolô cho biết: “Người đã phải chịu khổ hình nhiều lần, từ khi thế giới được tạo thành. Nhưng nay, vào kỳ kết thúc thời gian, Người đã xuất hiện chỉ một lần, để tiêu diệt tội lỗi bằng việc hiến tế chính mình. Phận con người là phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét. Cũng vậy, Đức Kitô đã tự hiến tế chỉ một lần, để xoá bỏ tội lỗi muôn người. Người sẽ xuất hiện lần thứ hai, nhưng lần này không phải để xoá bỏ tội lỗi, mà để CỨU ĐỘ NHỮNG AI TRÔNG ĐỢI NGƯỜI.” (Dt 9:26-28) Vì vậy, “nhờ máu Đức Giêsu đã đổ ra, chúng ta được mạnh dạn bước vào cung thánh.” (Dt 10:19) Quả thật, tín nhân chúng ta vô cùng hạnh phúc vì được Chúa trao ban cho quyền đó, mặc dù chúng ta hoàn toàn bất xứng.

Nhưng còn hơn thế nữa, chính “Ngài đã mở cho chúng ta một con đường mới và sống động qua bức màn, tức là chính thân xác của Ngài. Chúng ta lại có một vị tư tế cao trọng đứng đầu nhà Thiên Chúa.” (Dt 10:20-21) Và Thánh Phaolô khuyên: “Hãy tiến lại gần Thiên Chúa với một lòng chân thành và một đức tin trọn vẹn, vì trong lòng đã được tẩy sạch mọi vết nhơ của lương tâm, còn ngoài xác đã được tắm rửa bằng nước tinh tuyền. Hãy tiếp tục tuyên xưng niềm hy vọng của chúng ta cách vững vàng, vì Đấng đã hứa là Đấng trung tín.” (Dt 10:22-23)

Thánh Augustinô nói: “Đức tin là tin những gì bạn không thấy, và phần thưởng của đức tin là thấy những điều bạn tin.” Thánh Tôma Aquinô lý giải: “Mặc dù cái nhìn chúng ta bị giới hạn và mờ nhạt về những sự rất linh thánh, nhưng chỉ thoáng thấy những sự ấy cũng đã là hoan lạc lắm rồi. Có ba điều cần thiết cho phần rỗi con người: hiểu biết điều nào PHẢI TIN; hiểu biết điều nào PHẢI ƯỚC AO; và hiểu biết điều nào PHẢI THỰC HIỆN. Có những điều ta phải nắm giữ bằng đức tin, nhưng lý trí vẫn có thể tìm hiểu; nhờ đó, mọi người đều có thể chia sẻ tri thức về Thiên Chúa một cách dễ dàng, không hoài nghi và lầm lạc.”

Sống đức tin là thực thi lòng thương xót, việc làm cần thiết, nhưng phải kiên trì và không ngừng canh tân. Thật vậy, có thể nói rằng sống đức tin là mối phúc thứ 9 mà chính Chúa Giêsu đã xác nhận: “Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20:29) Sống đức tin là thể hiện cách thức sống động và cụ thể. Sống đức tin là sống đạo, chứ không chỉ dừng lại ở việc giữ đạo hoặc chỉ giới hạn từ cửa nhà thờ vào phía trong. Giữ đạo thì không khó, có thể nói là dễ, nhưng sống đạo thì không dễ, thậm chí là phức tạp, thế nên cần phải ý thức và can đảm.

Chính Chúa Giêsu đã phân tích: “Có lời Kinh Thánh chép rằng: Đấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại; phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội.” (Lc 24:46-47) Chẳng có niềm hạnh phúc nào mà lại không đau khổ, chẳng có niềm vui nào thiếu nỗi buồn. Chúa Giêsu là Thiên Chúa mà còn chịu đau khổ đến tột cùng mới có thể vinh thắng, chúng ta không thể không đau khổ khi sống đạo. Chắc chắn như vậy!

Thế nào là sống đạo? Là làm chứng về Đức Kitô, về Tình Yêu Thiên Chúa, về Lòng Chúa Thương Xót, vì chính Ngài đã truyền lệnh cho mỗi chúng ta: “Chính anh em là chứng nhân về những điều này.” (Lc 24:48) Rất rõ ràng!

Cuộc chia tay của Chúa Giêsu với các môn đệ là cuộc chia tay hoan hỷ chứ không buồn thảm: “Thầy sẽ gửi cho anh em điều Cha Thầy đã hứa. Còn anh em, hãy ở lại trong thành cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống.” (Lc 24:49) Nói xong những lời đó, Ngài dẫn các ông tới gần Bêtania, rồi giơ tay chúc lành cho các ông. Đang khi chúc lành, Ngài rời khỏi các ông và được đem lên trời. Niềm hy vọng tràn đầy tâm hồn họ, giúp họ thêm can đảm vào đời và ra khơi trong mọi hoàn cảnh.

Thánh Luca kể rõ: “Bấy giờ các ông bái lạy Người, rồi trở lại Giêrusalem, LÒNG ĐẦY HOAN HỶ, và hằng ở trong Đền Thờ mà chúc tụng Thiên Chúa.” (Lc 24:52-53) Đức Kitô chịu chết nhưng phục sinh khải hoàn và lên trời, chúng ta cũng hy vọng được sống lại và lên trời vĩnh cư với Ngài. Đó là niềm hạnh phúc khôn tả, niềm hy vọng tuyệt vời và niềm hy vọng cuối cùng của mỗi Kitô hữu.

Nhập đề, thân bài và kết luận là ba phần thiết yếu của một bài luận. Tương tự, cuộc đời cũng có ba khoảng – tuổi thơ, tuổi trẻ và tuổi già. Có thể có người chỉ có tuổi thơ mà không có tuổi trẻ và tuổi già, hoặc có người có tuổi thơ và tuổi trẻ mà không có tuổi già. Nhưng ai cũng có ba khoảng thời gian: quá khứ, hiện tại và tương lai.

Bởi vì “nhân vô thập toàn” nên đừng quay lại quá khứ mà nuối tiếc hoặc tự trách mình thái quá, hãy hướng tới tương lai để vươn lên. Ai nghĩ gì, mặc họ. Hãy cứ là chính mình. Đừng đếm những gì đã mất, hãy quý trọng những gì hiện đang có, và định hướng mới về những gì khả dĩ đạt được trong tương lai. Lý do rất đơn giản: Quá khứ không bao giờ trở lại, nhưng tương lai có thể bù đắp cho những gì đã mất mát hoặc sai sót.

Là Đất rất mực công bình, Thiên Chúa không thiên vị bất kỳ ai. (Gl 2:6; Cv 10:34) Cửa này khép lại thì sẽ có cửa khác mở ra. Hãy vững tin vào Ngài. Thánh Gioan Kim Khẩu (347-407) xác tín: “Thiên Chúa lượng định đau khổ theo mức cần thiết cho chúng ta.” Cứ an tâm, vì Thiên Chúa đã quan phòng và tiền định, nghĩa là Ngài đã định hướng riêng từng người. Đừng chê trách hoặc đề cao bất cứ ai, cũng đừng mặc cảm, nhút nhát. Mỗi người đều có vị trí nhất định theo Thánh Ý Chúa, với mục đích là để làm vinh danh Ngài theo cách riêng của mỗi người.

Thánh Lêô nói: “Trong Đức Kitô chịu đóng đinh mà chúng ta chết cho tội, và trong Đức Kitô phục sinh mà sống lại với đời sống ân sủng, và chúng ta cũng được tới trời cao qua cuộc thăng thiên Ngài. Việc tham dự vào mầu nhiệm của Đức Kitô với tư cách là thành viên của Ngài, hoàn toàn phụ thuộc vào Ngài và gắn bó mật thiết với vận mệnh của Ngài.” Giáo lý Công giáo nói: “Niềm hy vọng là nhân đức đối thần mà chúng ta mong ước Vương Quốc Thiên Đàng và sự sống vĩnh hằng là hạnh phúc của chúng ta, tin vào lời hứa của Chúa Kitô và dựa vào không chỉ bằng sức mạnh mà là sự trợ giúp đỡ của ơn Chúa Thánh Thần.” (GLCG số 1817)

Lạy Thiên Chúa nhân lành tuyệt đối, Ngài quan phòng và tiền định mọi sự, xin cảm tạ Ngài đã ban cho chúng con đức tin, xin giúp chúng con can đảm sống đạo và làm chứng về Ngài suốt cuộc lữ hành trần gian. Khi chúng con hoàn tất hành trình đức tin đời này, xin cho chúng con được ở nơi nào có Con Một Yêu Dấu của Ngài. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô Phục Sinh, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. mục lục

Thomas Aq. Trầm Thiên Thu

LỄ CHÚA LÊN TRỜI, LỄ CỦA NIỀM HY VỌNG

Chúa Giêsu sau khi đã từ cung lòng Chúa Cha, từ Trời thân hành xuống thế nhập thể làm người, đi vào lịch sử loài người, sống kiếp phận con người, bước vào trong bóng sự chết, đã phục sinh và trở về Trời trong vinh quang mà từ thuở đời đời Người đã có với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Toàn bộ ý nghĩa Chúa về Trời được các bài đọc Thánh Kinh mô tả và nội dung gồm tóm trong những lời sau : “Chúa Giêsu đã bắt đầu làm và giảng dạy, Người căn dặn các Tông đồ xong...”. Và sau đó “Người lên Trời” (Cv 1,1- 11).

Chúa Giêsu vị Thủ Lãnh của chúng ta đã chiến thắng tội lỗi và sự chết, vinh hiển về Trời, đó là niềm hy vọng của chúng ta. Người sẽ trở lại đón chúng ta đi với Người. Để được về Trời với Chúa, chúng ta hãy gia tăng lòng mộ mến những sự trên trời và tích cực làm việc vì Nước Trời, như thế chúng ta hy vọng sẽ được về Trời với Chúa. Theo lời thánh Lêo Cả, Chúa Giêsu Kitô, Vị Thủ Lãnh của chúng ta vinh hiển bước vào thiên đàng ngự bên hữu Đức Chúa và ở trên đó, “vinh quang của Đầu” đã trở thành “niềm hy vọng cho thân xác” (x. LÊÔ CẢ, Bài giảng lễ Chúa lên Trời). “Người là Đầu và là Trưởng Tử giữa đàn em đông đúc” (Rm 8,29). Vì bản tính của chúng ta là ở trong Thiên Chúa và ở trong Đức Giêsu Kitô. Nên vì loài người chúng ta (thân xác), Chúa Giêsu là (Đầu) hằng sống đến muôn thủa muôn đời hằng cầu thay nguyện giúp cho chúng ta trước mặt Chúa Cha (x. Dt 7,25). Từ trên cao vinh hiển, Người gửi cho Giáo hội một sứ điệp hy vọng và mời gọi hướng đến sự thánh thiện trên Trời nơi Người đang ngự bên hữu Thiên Chúa.

Lễ Chúa Giêsu lên Trời là lễ của niềm hy vọng, vì lễ này báo trước cảnh ngọt ngào của Thiên Đàng. Chúa Giêsu là Đầu, chúng ta là chi thể, Người đi trước để chúng ta được tiếp bước theo sau vào Thiên Đàng. Vẫn theo lời Thánh Lêô Cả: “Trong Đức Kitô chịu đóng đinh mà chúng ta chết cho tội, và trong Đức Kitô phục sinh chúng ta sống lại với Người trong đời sống mới đầy ân sủng, chúng ta cũng đạt tới Trời nhờ sự lên Trời của Người. Việc tham dự vào mầu nhiệm của Đức Kitô với tư cách là thành viên của Người, hoàn toàn phụ thuộc vào Người và gắn bó mật thiết với vận mệnh của Người” (x. LÊÔ CẢ, Bài giảng lễ Chúa lên Trời).

Quả thật, nhờ bí tích Thánh Tẩy, chúng ta đã được tháp nhập vào sự sống của Chúa Kitô, nghĩa là chúng ta hy vọng phục sinh và được chia sẻ vinh quang của Người. Chúng ta cũng sẽ theo Người đến cùng Chúa Cha khi kết thúc cuộc sống trần gian này. Lễ Chúa lên Trời là sự kiện phản ánh rõ nhất về niềm hy vọng của chúng ta về cuộc sống vĩnh cửu.

Là những người sống niềm tin và hy vọng vào Chúa Kitô, chúng ta được mời gọi không ngừng tin vào Chúa Kitô và sống khác với những người chưa biết đến Chúa Kitô. Chúa Giêsu Kitô ở cùng chúng ta và Người đang dẫn chúng ta đến cuộc sống đời đời. Người chỉ cho chúng ta đường lên Trời của Người, bởi chính Người là Đường. Chúng ta phải tránh những cám dỗ, sợ hãi, hoảng loạn và tuyệt vọng. Thánh Phaolô nói: “Thưa anh em, về những ai đã an giấc ngàn thu, chúng tôi không muốn để anh em chẳng hay biết gì, hầu anh em khỏi buồn phiền như những người khác, là những người không có niềm hy vọng” (1 Tx 4,13). Ở đây chúng ta cũng thấy một dấu hiệu riêng biệt của các Kitô hữu là họ có tương lai. Đức Bênêđíctô XVI viết : “Không phải là họ biết chi tiết về những gì đang chờ đợi họ, nhưng họ biết một cách chung chung rằng cuộc sống của họ sẽ KHÔNG KẾT THÚC trong sự trống rỗng. Chỉ khi tương lai chắc chắn là một thực tế tích cực thì mới có thể sống tốt trong hiện tại” (x. BENEDICTO XVI, Spe Salvi, số 2).

Chính khi tin vào Chúa Kitô mà chúng ta có thể sống trong an bình và hy vọng trong mọi hoàn cảnh, vì sự chết không có tiếng nói cuối cùng. Ngay cả khi cái chết đến với chúng ta, chúng ta vẫn thanh thản trong niềm hy vọng cuối cùng là được lên Trời sống đời đời với Chúa. Đó là ý nghĩa của cuộc sống người tín hữu chúng ta.

Là Kitô hữu, chúng ta biết rằng chúng ta sẽ không thoát khỏi đau khổ trong cuộc sống này. Cái chết đã bị đánh bại nhờ sự phục sinh của Chúa Giêsu Kitô và con đường dẫn đến sự sống đời mở ra cho chúng ta qua sự lên Trời của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta. Đức Bênêđíctô XVI nói: “Đối với tương lai, cửa thời gian tối tăm đã bị mở tung. Người hy vọng sống khác người đã được ban tặng sự sống mới”. Chúng ta đã được ban sự sống mới trong Chúa Kitô và đó là niềm hy vọng cuối cùng của chúng ta trong tất cả các cơn bão đang hoành hành xung quanh chúng ta.

Các Tông đồ tận mắt chứng kiến cảnh Chúa lên Trời, lòng các ông ngây ngất dõi theo đến nỗi cần phải “có hai người mặt áo trắng đứng gần” (Cv 1,10) và nhắc nhở: “Hỡi người Galilê, sao các ông còn đứng nhìn lên trời?” (Cv 1,11). Hãy ngước mắt lên trời và chăm chú nhìn vào Chúa Kitô, Đấng đã về trời với Chúa Cha, để chuẩn bị chỗ vĩnh cư cho mỗi người chúng ta. mục lục

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

CHÚA GIÊSU LÀ TƯƠNG LAI CHÚNG TA 

Theo Tin Mừng Luca, Jerusalem là thị trấn của số mệnh. Nơi đây ơn cứu độ đã hoàn thành. Nơi đây sứ vụ của các Tông Đồ bắt đầu. Và, Jerusalem là trung tâm điểm của sứ vụ, nơi xuất phát sứ vụ các Tông Đồ của Chúa Kitô rồi lan tỏa ra khắp mọi nơi đến “tận cùng thế giới”. Nơi nào có bóng dáng các môn đệ thì ở đó, cộng đồng sơ khai có những tiêu chuẩn giáo lý (x. Cv 15:2,6).

Hai câu đầu của bài đọc 1 (x. Cv 1:1-2) là gạch nối giữa sách Công Vụ Tông Đồ và Tin Mừng Luca, cho thấy các môn đệ đã được Chúa Giêsu Phục Sinh dạy dỗ đầy đủ (c 3-5), nhưng các ông vẫn tỏ ra áy náy vì câu trả lời của Chúa nên các ông đã hỏi: “Thưa Thầy, phải chăng đã đến lúc Thầy khôi phục lại vương quốc Israel?” Các ông nghĩ rằng Chúa Cha hứa sẽ mang lại thời đại chính trị thống lãnh của một quân vương như thời vua David. Nhưng Chúa trả lời không phải vấn đề đó. Cả hai việc đó không thể làm cho các ông nghĩ đến cái kết luận ấy, vì các ông không có bổn phận phải biết thời kỳ và ngày giờ việc đó xẩy ra. Thiên Chúa Cha đã định đoạt rồi. Lời hứa đó - nếu là khôi phục lại quyền bính chính trị quốc gia hay được ơn hiểu biết Thiên Chúa - cũng sẽ không làm cho cuộc sống của các ông trở nên dễ dãi hơn. Khi các ông nhận được Chúa Thánh Thần thì cũng là lúc các ông được chịu phép rửa không phải bằng nước mà bằng lửa. Các ông có quyền tiếp tục nhiệm vụ của Chúa Kitô là giảng dạy, nuôi dưỡng và phụng sự, đồng thời sẽ bị từ chối, bị đau khổ và chết vì Người.

Sau khi nói những lời đó, Chúa Giêsu được cất lên lên trời ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa. Quang cảnh đó huy hoàng và tuyệt vời biết bao! Các môn đệ cảm thấy thế nào khi ngắm nhìn Thầy mình từ từ bay về trời! Lời Thiên Thần hiện ra nói với người dân xứ Galilê đã gây cảm giác bi thương và khó hiểu: “Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn trời? Chúa Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời.” (Cv 1:11).

Các Tông đồ lúc đó đã nhận ra được một bài học: “Đừng tiếp tục đứng mà ngóng trông ở tương lai. Đừng quá để ý đến giờ nào Người sẽ trở lại.” Đừng đứng yên nhìn trời và than khóc quá khứ mà không hành động gì cả. Hãy phó thác nó trong bàn tay phù trợ và lòng thương yêu của Thiên Chúa! Chúa được tôn vinh thì các môn đệ cũng sẽ được dự phần vinh quang. Hãy tiếp tục mang một mảnh vụn - nhỏ thôi - của Thiên Đàng đi khắp thế giới. Đó là ý nghĩa Chúa Giêsu Phục Sinh và Lên Trời. Thiên Chúa ủy thác nhiệm vụ đó cho chúng ta không phải vì lý do con người nhưng vì sức mạnh của giấc mơ Tin Mừng!

KHỞI ĐẦU TỪ JERUSALEM

Luca miêu tả cảnh Chúa Phục Sinh đã xẩy ra tại Jerusalem hay đâu đó quanh Jerusalem. Ông kể câu chuyện Tin Mừng về thời Chúa Giêsu sát với câu chuyện Chúa Lên Trời (Lc 24:50-53). Tin Mừng kết thúc cũng như bắt đầu (1:9) trong đền thờ Jerusalem (c.53). Luca cũng bắt đầu câu chuyện thời đại của Giáo Hội bằng việc kể lại cảnh Chúa về Trời (Cv 1:6-11). Ở chương nói về Chúa Phục Sinh (24), Luca đã kể lại việc Chúa Lên Trời vào đêm Chúa Nhật Phục Sinh, do đó cũng có liên hệ với Chúa Sống lại.

Như trong những lần suy niệm trước về Lễ Phục Sinh, chương 24 Tin Mừng Luca có thể được chia làm 4 phần chính:

 *- Câu chuyện các người phụ nữ nơi ngôi mộ trống kết thúc với việc Phêrô đến thăm mộ để kiểm soát lại (c 1-12).

 *- Câu chuyện trên đường Emmaus đi tới việc biết được Chúa cũng đã hiện ra với Phêrô (c 13-35).

 *- Chúa hiện ra với các môn đệ tại một bữa ăn dẫn tới việc Chúa Giêsu ủy thác cho các môn đệ sứ vụ truyền giáo (c 36-49).

 *- Chúa Giêsu thăng thiên (c.50-52)

Có lẽ nên hiểu đây là một biến cố (Phục Sinh, vinh quang, Lên trời, Chúa Thánh Thần hiện xuống – mầu nhiệm phục sinh) đã được Luca lịch sử hóa khi ông viết về việc Chúa Giêsu lên Trời rất rõ ràng sau 40 ngày sống lại và việc Chúa Thánh Thần hiện xuống. Đối với Luca, Chúa lên trời kết thúc sự xuất hiện của Chúa Giêsu, trừ trường hợp đặc biệt hiện ra với Phaolô. Theo Luca thì lễ Thăng Thiên kết thúc thời đại Chúa Giêsu (Lc 24:50-53) trong lịch sử ơn cứu độ, đồng thời báo hiệu khởi đầu thời đại Giáo Hội.

PHÙ HỢP VỚI KINH THÁNH DO THÁI

Cuối cùng Tin Mừng Luca nhấn mạnh những điều đã được ghi trong Kinh Thánh Do Thái phải được thi hành, bởi lẽ kế hoạch của Thiên Chúa không thể không được hoàn thành. Đời sống, sự Chết và Sống lại của Chúa Giêsu Kitô thì hoàn toàn phù hợp với Kinh Thánh. Vấn đề này có căn bản dựa trên chính lời Chúa Kitô phục sinh nói với các môn đệ: “Khi còn ở với anh em, Thầy đã từng nói với anh em rằng tất cả những gì sách luật Môsê, các sách Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh đã chép về Thầy đều phải được ứng nghiệm” (Lc 24:44). Xác quyết này nói lên việc ứng nghiệm lời Kinh Thánh về mầu nhiệm Chúa Phục Sinh là có căn bản, được xác quyết tại nhiều đoạn trong Tin Mừng như: “Con Người phải chịu đau khổ vô cùng…. và sau khi chết 3 ngày Người sẽ sống lại” (Lc 9:22); “Nhưng như thế thì Lời Kinh Thánh được ứng nghiệm ra sao? Vì theo đó mọi sự phải xẩy ra đúng như vậy” (Mt 26:54).“Lời Kinh Thánh này phải được hoàn thành nơi Thầy” (Lc 22:37).

THIÊN CHÚA HIỆN DIỆN Ở TẤT CẢ MỌI NƠI

Việc Chúa lên trời, người ta cho rằng Chúa tự tách ra khỏi mình dưới một hình thức mới cách biệt với Thiên Chúa. Không phải vậy. Là Thiên Chúa, khi nói Chúa Giêsu “ở đây” nghĩa là dưới dạng khác và rất đặc biệt. Chỉ có tách biệt thân xác mình khỏi khung cảnh lịch sử thì mới có thể nối kết với toàn thể thế giới một cách trọn vẹn.

Khi “Thăng Thiên”, Chúa đã cam kết với thế gian là người vẫn luôn luôn hiện diện. Vết chân người không phải như vết chân khắc vào đá để cho người ta coi, nhưng nó hiện diện trong tâm khảm những ai bước theo Chúa. Vì Chúa từ bỏ khả năng hiện diện tại một nơi nên người có khả năng hiện diện tại muôn nơi. Khi Chúa tan biến thì Chúa hòa nhập tràn đầy trái đất bằng sự hiện diện của Thiên Chúa. Thiên Chúa có mặt ở đây nhưng Người cũng có khả năng hiện diện trước chúng ta khi chúng ta hoàn thành ước mơ cuối cùng. Chúng ta về Thiên Đàng là để gấn Chúa Giêsu. Chắc chắn Người không ngừng hiện diện với chúng ta qua mọi không gian và thời gian. Qua chúng ta, Chúa muốn hiện diện với nhiều người, ở nhiều nơi hơn nữa, nhất là với Giáo Hội của Người.

BÀI HỌC CẦN PHẢI BIẾT

Chúa Lên Trời dạy cho chúng ta một bài học rất quan trọng về quyền sở hữu. Qua cung cách Chúa Về Trời, nếu chúng ta cứ bám víu vào Người và lịch sử thì chặng có ích lợi gì. Người cũng không bám vào những người ở chung quanh Người vì sẽ làm cho họ mất tự do không tiếp tục được sứ mệnh Tin Mừng của họ. Trái lại, toàn thể cuộc sống của Chúa, cho đến cái chết và phục sinh của Người, đã dạy cho chúng ta biết chấp nhận mọi người và mọi sự như là quà tặng mà chúng ta đã vay mượn.

Chẳng tốt gì nếu cứ bám vào bạn bè và ôm chặt lấy kho tàng trần thế. Hãy học cách tôn trọng tất cả những gì chúng ta có với lòng biêt ơn sâu xa, giữ mọi sự trong bàn tay rộng mở với mọi người. Trong khi cầu nguyện, hãy mở rộng tay và trao tất cả mọi kho tàng quí báu, những liên hệ bạn bè trong cuộc sống của chúng ta cho Thiên Chúa. Hãy ý thức và nghĩ về tha nhân và những cái mà chúng ta đang có. Hãy dùng thì giờ để tạ ơn Thiên Chúa vì những điều chúng ta có. Điều quan trọng nhất là kiếm những phương cách cụ thể để nói lên sự yêu thương và long tri ân đối với những người mà chúng ta chịu ơn, gồm cả Chúa Giêsu. Giống như Chúa sống lại đã trao mình cho những kẻ đáng thương hại và hư hỏng thì Người cũng làm như vậy cho chúng ta. Chúa về trời nhắc nhở chúng ta là Chúa chấp nhận những thiếu sót của chúng ta. Người hiểu bản tính con người là bất toàn, giả dối, phản bội, tham lam và thích uy quyền. Tuy nhiên Người vẫn kêu gọi chúng ta, cho chúng ta đời đời làm con dân của Người, sai chúng ta đi phục vụ Người, yêu mến Người bất kể những thiếu sót của chúng ta.

Việc Chúa lên trời, người ta cho rằng Chúa tự tách ra khỏi mình dưới một hình thức khác. Không đúng mà là ngược lại như vậy. Về Thiên Chúa, khi nói Chúa “ở đây” tức là Chúa hiện diện ở một dạng thức khác và đặc biệt. Chỉ có tách biệt thân xác mình khỏi khung cảnh lịch sử mới có thể nối kết với toàn thế giới một cách trọn vẹn. Chúa Giêsu rời thế gian về trời để có thể sẵn sàng cho mọi người ở mọi nơi và mọi lúc. 

Nói như Thánh John Chrysostom: “Người mà bạn yêu mến không còn ở đây như trước kia nữa. Bây giờ người ở bất cứ nơi nào bạn hiện diện.” 

Chúa về trời là để sửa soạn cho chúng ta một tương lai huy hoàng và vĩnh cửu, tức thiên đàng. Với Chúa Giêsu, chúng ta đã có tương lai. mục lục

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

NGÀY TỪ BIỆT

Như đối với mọi trình thuật Khổ nạn và Phục sinh, chúng ta nên suy niệm các trình thuật Thăng Thiên khác nhau đã được để lại, trong tính độc đáo của chúng, chứ chẳng nên coi cái nào cũng giống cái nào. Năm nay, chúng ta thậm chí có cơ hội nghe được hai trình thuật về cùng một biến cố do cùng một tác giả là thánh sử Lu-ca kể lại. Sở dĩ ngài đã chẳng tìm cách hòa hợp hoàn toàn hai bài mô tả của mình, hiển nhiên là vì chính các khác biệt có một ý nghĩa đối với ngài, một ý nghĩa vượt lên  trên các chi tiết lịch sử.

Trong Tin Mừng, Lu-ca trình bày cuộc Thăng Thiên vào chính chiều ngày Phục sinh hay thậm chí trong đêm tiếp theo ngày đầu tuần ấy (x. Lc 24,1.13.36.50), nếu ta nhớ lại rằng “đã xế chiều” (Lc 24,29) khi hai môn đệ Em-mau ngồi vào bàn ăn, rằng họ phải cuốc bộ khoảng 12 km trong “hai giờ” (Lc 24,13) để trở về Giê-ru-sa-lem, rằng Đức Giê-su đã bỏ thời gian giải thích “Lề luật, Ngôn sứ và Thánh vịnh đã chép về Người” cho các môn đệ (Lc 24, 44) chính tối ngày Phục sinh ấy… trước khi dẫn họ đến Bê-ta-ni-a nơi Người được đưa lên trời (Lc 24,50). Trong Công vụ Tông đồ thì ngược lại, cũng chính Lu-ca đặt cuộc Thăng thiên vào cuối “bốn mươi ngày” (Cv 1,3).

Vượt lên trên mọi tưởng tượng ấu trĩ, chúng ta phải thấy rõ ràng là Đức Giê-su, giữa các lần “hiện ra” khác nhau, đã chẳng trốn trong một phường nào đó của Giê-ru-sa-lem, tại một nơi bí mật, chờ ngày “lên” với Cha trên trời! Trong thực tế, Phục sinh, Thăng thiên và Hiện xuống là ba mặt của cùng một “mầu nhiệm” duy nhất [*]: chính ngay khi phục sinh mà Đức Giê-su đã đi vào Vinh quang Chúa Cha, ngự “bên hữu Người” theo ngôn ngữ khải huyền mô tả, và ban Thánh Thần như hồn sống của Thân thể Mầu nhiệm vừa được khai sinh. Lu-ca đặc biệt nhấn mạnh sự kiện Đức Giê-su “rời khỏi” những ai Người hiện ra cho thấy… Người biến đi trước mắt họ (x. Lc 24,31.51).

Như thế, cuộc Thăng thiên chiều ngày Phục sinh đến đóng ấn lên cuộc sống nhân loài của Đức Giê-su, bằng việc tôn vinh Người làm Chúa… và đây là trang Tin Mừng cuối cùng! Trong khi cuộc Thăng thiên “ngày thứ bốn mươi” đến khai mở cuộc sống mới của Đức Giê-su qua không gian lẫn thời gian… và đó là trang đầu tiên của sách Công vụ! “Thời gian của Đức Giê-su Na-da-rét chấm dứt” là “thời gian của Giáo Hội bắt đầu”.

Ở đây chúng ta có thể thắc mắc: Đức Giê-su nán thêm “40 ngày” sau khi sống lại để làm gì? Trước hết để bổ túc những giáo huấn đã ban cho các Tông đồ, nhất là để dạy các ngài phải đọc toàn bộ Thánh Kinh và nhìn cuộc sống Người dưới ánh sáng biến cố Phục sinh (xem dưới). Thứ đến là để cho các ngài thấy Thầy của họ đã sống lại, không phải như một thiên thần thiêng liêng hay một con ma vô xương vô thịt (x. Lc 24,39), cũng không phải với hình hài cũ (như La-da-rô, như con bà góa…), nhưng là với một thể xác đã biến đổi, chẳng còn lệ thuộc không gian lẫn thời gian, hết chịu những định luật vật lý lẫn hóa học thông thường. Và như thế là mạc khải cho các Tông đồ và chúng ta biết là sự Phục sinh của Chúa đã khai mào một cách thức hiện hữu mới, với những đặc tính mới, của vật chất, của thể xác, mà con người dương gian đầu tiên được thụ hưởng chính là Đức Mẹ (tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời).

1. Nhận chỉ thị để đi làm chứng nhân

Để hiểu được trọn vẹn bài Tin Mừng hôm nay, thiết tưởng nên đọc nó bắt đầu từ câu 44: “Rồi Người bảo: “Khi còn ở với anh em, Thầy đã từng nói với anh em rằng tất cả những gì sách Luật Mô-sê, các Sách Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh đã chép về Thầy đều phải được ứng nghiệm”. Bấy giờ Người mở trí cho các ông hiểu Kinh thánh”. Câu “Khi Thầy còn ở với anh em” là dấu cho thấy Đức Giê-su chẳng còn ở trên trần gian như trước. Cuộc Thăng Thiên lát nữa sẽ chỉ diễn lại cái đã xảy ra trong cuộc Phục sinh rồi: từ nay, sự hiện diện của Người trong tư thế phục sinh, dẫu rất thật, vẫn mang bản chất khác hẳn… Người đã đi vào trong thế giới Thiên Chúa. Và đức tin là phương tiện duy nhất giúp đi vào “thế giới” nầy, nơi Đức Giê-su đang ở sau khi đã giã từ cách hiện diện cũ với chúng ta. Ngay trên đường Em-mau, Người đã quở trách hai lữ khách là những kẻ “chậm tin và ngu độn” (Lc 24,25). Ngu độn và chậm tin “những gì đã chép về Người trong Lề luật, Ngôn sứ và Thánh vịnh” cũng phải. Vì chỉ sau khi Đức Giê-su “chết và sống lại” đã, người ta mới có thể thấy những gì đã được loan báo lúc đọc lại Thánh Kinh.                            

Thật vậy, Lu-ca nêu bật sự kiện chỉ vào lúc Phục sinh, các môn đệ rốt cục mới hiểu “điều đã được viết”. Vâng, các biến cố trong cuộc đời Đức Giê-su đều gây ngỡ ngàng, khó hiểu trước ngày đó! “Đau khổ” của Người trên thập giá đã xuất hiện như một rủi ro, một tai nạn, một thất bại. Nhưng này nó cho thấy đó là sự “hoàn thành” một ý định nhiệm mầu của Chúa Cha: “Phải hoàn tất những gì đã được loan báo…”. Đây không phải là một định mệnh bi đát, một số phận khắt khe… nhưng là một dự định “cứu rỗi”, mang lại ơn “tha thứ cho mọi người”! Một dự phóng tình yêu! Nhưng cho tới ngày đó thì các môn đồ không thấy được. Giờ họ sắp trở thành những “người chứng”. Họ phải ra đi, nhân danh Thầy mà rao giảng, bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem, kêu gọi mọi người sám hối để được ơn tha tội.

Hôm nay, phải chăng chúng ta luôn làm chứng nhân cho tình yêu cứu độ của Thiên Chúa? Chứng nhân cho Đức Giê-su là Đấng, trước nỗi công phẫn của hạng “thanh sạch”, đã đứng về phía những tay lạc giáo, những kẻ trệch đường, những cô gái bán thân… những người dốt nát bị hạng thông thái khinh bỉ… những kẻ thỏa hiệp với lũ ngoại bang, những tay thu thuế cộng tác với quân xâm lược… những kẻ nghèo hèn, yếu đuối, bệnh tật, phong cùi bị xã hội loại bỏ? Thay vì hình phạt của Thiên Chúa như được Lề luật loan báo, Đức Giê-su đã công bố “ơn tha tội” vô giới hạn, chẳng loại trừ ai khỏi cứu rỗi phổ quát tặng ban cho mọi người. Vâng, Thiên Chúa là Cha các tội nhân. Tất cả đều được Người tha thứ. Và ai nấy phải bắt chước Người mà tha thứ cho tất cả, ngay cả kẻ thù mình! Chính vì rao giảng hết thảy những điều ấy mà Đức Giê-su đã bị lên án đóng đinh như một “tên phạm thượng”. Nhưng chính cuộc phục sinh đến xác nhận rằng Người có lý. Các đại diện Lề luật đều lầm lạc. Kẻ bị đóng đinh vẫn sống! Tất cả những gì Đức Giê-su đã nói và làm… sắp được tiếp tục, với sự xác nhận của chính Thiên Chúa. Và “anh em là chứng nhân về những điều này!”

Nhưng để được thế, “Thầy sẽ gởi cho anh em điều Chúa Cha đã hứa. Vậy anh em hãy ở lại trong thành, cho đến khi nhận được quyền năng từ trời ban”. Họ rất cần điều nầy! Ta cũng cần “sức mạnh” này, vốn không bởi ta nhưng từ trên cao mà đến! Vì các môn đệ sắp phải sống và nói trong một thế giới chẳng có chi thay đổi xét theo bên ngoài: sự dữ, bạo lực, hận thù, cái chết, các lạc giáo, các sai lệch, các áp bức đủ loại… sẽ còn tiếp tục. Đấng sắp ban sức mạnh đó không được nêu danh ở đây, vì như Chúa Cha, “Đấng đã chẳng ai thấy bao giờ”, và khác với Đức Giê-su, “Hình ảnh cụ thể của Thiên Chúa”, Thánh Thần không có khuôn mặt, vì Người là “Thiên-Chúa-ở-trong-chúng-ta”. Khi cây nến lớn phục sinh tắt vào ngày Thăng thiên, thì này thắp lên những ngọn lửa xuyên thâu mỗi môn đệ ngày Ngũ tuần.

2. Lãnh phúc lành để lên đường phụng sự

“Sau đó, Người dẫn các ông mãi tới gần Bê-ta-ni-a, rồi Người giơ tay chúc lành cho các ông. Và đang khi chúc lành, thì Người rời khỏi các ông và được đem lên trời”. Đây là sự “từ biệt” (như kiểu dịch của cha Nguyễn Thế Thuấn: “thì Người đã từ biệt họ”)! Và Lu-ca là kẻ duy nhất sử dụng tiếng ý nghĩa nầy. So với cùng trình thuật trong sách Công vụ Tông đồ, ta nhận thấy bản văn Tin Mừng rất giản dị. Ở đây không có yếu tố mô tả nào, chẳng “mây” lẫn những người “đàn ông mặc áo trắng”. Không phải Lu-ca bất biết ngôn ngữ khải huyền. Ông sẽ sử dụng nó trong trình thuật kia. Nhưng trong đoạn văn này, ông muốn đơn giản hóa nó.

Tất cả đều rất kín đáo: “Người dẫn môn đệ…”, “giơ tay chúc lành…”, “rời khỏi các ông và được đem lên trời…”. “Chúc lành” cho các Tông đồ, việc này Đức Giê-su chưa bao giờ làm cả. Nhưng đây là cảnh giã biệt. Và Lu-ca tiếp nối một truyền thống Kinh Thánh phong phú. Các đại nhân vật của Thánh Kinh đều kết thúc cuộc sống bằng việc chúc lành cho những ai kế tục sự nghiệp: Gia-cóp (x. St 49), Mô-sê (x. Đnl 33), Đa-vít (x. 1 Sb 28-29). Nhưng riêng Lu-ca, thì mở đầu sách Tin Mừng, ông đã cho thấy tư tế Da-ca-ri-a bị câm vì thiếu lòng tin, và do đó không thể chúc lành cho dân: phụng tự thời Cựu Ước bị gián đoạn, bất lực trong việc thánh hóa dân Ít-ra-en, và sẽ bị phế bỏ. Kết thúc sách Tin Mừng, Đức Giê-su chúc lành cho môn đệ tượng trưng cho Ít-ra-en mới và được đem lên trời (cùng một động từ Hy-lạp dùng để nói làn khói hương bay tỏa lên trời và được Thiên Chúa chấp nhận). Phụng tự thời Cựu Ước đã nhường chỗ cho phụng tự của Giao Ước mới! Việc “chúc lành” của Đức Giê-su là cử chỉ sau hết của Người. Một cử chỉ Người sẽ không ngừng làm khi mỗi linh mục, đại diện của Người, “giơ tay” chúc lành cho ta nhân danh Ba Ngôi lúc giã biệt trong Thánh Lễ.

“Bấy giờ các ông bái lạy Người, rồi trở lại Giê-ru-sa-lem, lòng đầy hoan hỉ, và hằng ở trong Đền Thờ mà chúc tụng Thiên Chúa”. Một nghịch lý. Đức Giê-su đã “rời khỏi” môn đệ, thế mà họ chẳng buồn, trái lại càng vui tươi. Cộng đoàn môn đệ Người đã trở nên nhóm “bái lạy” Người và cùng nhau hát ca “chúc tụng Thiên Chúa”. Tôn sư “lên Thiên quốc trên trời”. Môn đệ “trú Đền thờ dưới thế”. Cả một sự đối xứng đầy tính biểu tượng… Một phụng tự mới bắt đầu. Và cũng bắt đầu một công cuộc phụng sự mới. mục lục

Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

[*] Có thể thêm mặt thứ tư: Chết. Vì chính khi chết thật (chết tuyệt đối, đêm thứ 7 rạng Chúa nhật) thì Chúa bước vào cõi Phục sinh. Bởi lẽ theo khoa học, cái chết có 3 giai đoạn: chết lâm sàng, chết tương đối và chết tuyệt đối. Đối với Chúa Giê-su, chết lâm sàng là khi vừa tắt thở trên thập giá và chết tương đối là từ đó cho đến đêm thứ 7 rạng Chúa nhật. Giai đoạn chết tương đối dài hay ngắn tùy trường hợp: mắc cơn bệnh có sức tàn phá nhanh hay chậm, gặp tai nạn có sức hủy hoại mạnh hay yếu. Con trai bà góa, con gái ông Gia-ia và ông La-da-rô đều được hồi sinh trong giai đoạn chết tương đối, vì khi đã tiến đến giai đoạn (đúng ra là thời điểm) chết tuyệt đối thì con người bước qua cõi vĩnh cửu rồi, không lui lại dương gian được nữa. Xin xem lại bài chú giải “Chúa nhật thứ 2 Phục sinh năm C” của chúng tôi.

LỜI TRAO BAN VÀ HỨA HẸN

Khi đi đâu xa, cha mẹ thường chuẩn bị cho con mọi đồ dùng cần thiết, nhắn nhủ những lời yêu thương và hứa hẹn mau trở về.

Trước khi về trời, Chúa Giêsu cũng hiện ra với các môn đệ để củng cố đức tin, để an ủi và trao ban sứ mạng. Ngài hứa sẽ trao ban Chúa Thánh Thần cho các ông. Ngài mở trí cho các môn đệ hiểu Kinh Thánh mời gọi các ông phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, nghĩa là nhân danh Đấng đã chịu khổ hình và sống lại. Chính các môn đệ là nhân chứng sống động về tất cả những lời rao giảng để kêu gọi mọi người sám hối (x. Lc 24, 45-48). Các ông trở nên những môn đệ đích thực được Chúa chúc lành, được sao đi rao giảng ơn cứu độ cho mọi người. Nhờ đó mọi người được ơn tha tội, được làm con cái Thiên Chúa và chung hưởng vinh quang cùng Ngài.

Còn chúng ta là Kitô hữu, chúng ta đã mau mắn đón nhận Tin Mừng và đổi mới đời sống theo tinh thần Chúa Kitô chưa? Chúng ta có tin tưởng cậy trông và phó thức vào tình yêu và quyền năng của Ngài không? Chúng ta hãy để lời Chúa thách đố từng giây từng phút cuộc sống chúng ta, hầu chúng ta được Chúa nâng đỡ. Khi lãnh bí tích Rửa tội, chúng ta được trở nên môn đệ đích thực của Chúa Kitô. Vậy chúng ta đã thực thi sứ mạng mà Chúa đã trao phó như thế nào? Chúa Giêsu không ngừng biểu lộ tình yêu và thực hiện lời hứa nơi mỗi người. Ngài trung tín sẵn sàng bảo vệ từng người chúng ta. Chỉ có Ngài liều lĩnh trao ban tình yêu và sứ mạng cao cả ấy cho chúng ta. Chúng ta hãy lãnh nhận, tạ ơn Ngài và để cho Ngài hoạt động trong cuộc đời chúng ta.

Lạy Chúa là Thiên Chúa Hằng Hữu, xin cho mỗi người chúng con biết hoan hỷ vui mừng dâng lời cảm tạ vì Chúa Giêsu về trời, trao ban tình yêu và sứ mạng là con đường dẫn chúng con đến với Chúa, xin cho chúng con vững tin thi hành lời Chúa trao ban, tin rằng Chúa về để trời dọn chỗ cho chúng con. Amen. mục lục

Anna Cỏ May

RAO GIẢNG và LÀM CHỨNG

Sau khi sống lại từ cõi chết, và trước khi về trời, Chúa Giêsu đã trao cho các môn đệ của Ngài, trong đó có tôi và có bạn, một nhiệm vụ hết sức quan trọng và khá là nặng nề, đó là "Nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem " (Lc 24:47).

Tuân theo mệnh lệnh của Thầy Chí Thánh Giêsu, các Tông Đồ, các môn đệ và các Kitô Hữu trong thời kỳ Giáo Hội sơ khai đã cố gắng làm chứng cho Chúa Kitô Phục Sinh trong mọi hoàn cảnh và trong mọi nơi, mọi lúc. Có thể nói việc làm chứng cho Chúa Kitô Phục Sinh của họ rất đa dạng và rất phong phú. Ngoài việc rao giảng về cuộc đời, sự nghiệp và về Con Người của Đức Giêsu Kitô bằng lời nói, các môn đệ của Chúa Giêsu và các Kitô Hữu còn làm chứng cho Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh qua những cử chỉ, hành động và những thái độ thật tuyệt vời khác nữa, ví dụ như:

• Họ đã làm chứng cho Chúa Kitô Phục Sinh qua những việc bác ái, giúp đỡ cho người túng cực thiếu thốn và cho những người lâm vào cảnh bất hạnh: “Khi nạn đói xảy ra dưới thời hoàng đế Cơ-lau-đi-ô. Các môn đệ mới quyết định là mỗi người tuỳ theo khả năng, sẽ gửi quà giúp đỡ anh em ở miền Giu-đê. Và họ đã làm việc ấy: gửi đến cho hàng kỳ mục qua tay ông Ba-na-ba và ông Sao-lô” (Cv 11:28-30).

• Họ đã làm chứng cho Chúa Kitô Phục Sinh qua việc tha thứ cho những kẻ ngược đãi & bách hại họ. “Họ ném đá ông Tê-pha-nô, đang lúc ông…quỳ gối xuống, kêu lớn tiếng: ‘Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này.’ Nói thế rồi, ông an nghỉ” (Cv 7:59-60).

• Họ đã làm chứng cho Chúa Kitô Phục Sinh bằng cách vui vẻ chấp nhận hy sinh, chịu sỉ nhục và chịu bách hại vì danh Ngài. “Năm lần tôi bị người Do-thái đánh bốn mươi roi bớt một; ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị đắm tàu; một đêm một ngày lênh đênh giữa biển khơi!…Tôi còn phải vất vả mệt nhọc, thường phải thức đêm, bị đói khát, nhịn ăn nhịn uống và chịu rét mướt trần truồng” (2 Cr 11:24-27).

Bạn thân mến, ngày hôm nay, có thể nói chả có ai trong chúng ta có cơ hội làm chứng cho Chúa Kitô Phục Sinh theo kiểu của các tông đồ hay của các Kitô hữu khi xưa, vì chẳng có ai tra tay bắt bớ, đánh đập, cấm cản chúng ta giữ đạo và làm việc truyền giáo cả. Nhưng như vậy không có nghĩa là chúng mình lơ là và quên đi nhiệm vụ nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân. Bạn và tôi, mỗi người chúng ta vẫn có thể trở thành nhân chứng của Chúa Kitô Phục Sinh qua những cách thức khác nhau, nhưng tôi xin đề nghị với bạn hai phương cách rất hữu hiệu sau đây, bạn thử xem sao nhé!

CHIA SẺ: Rộng rãi, quảng đại giúp đỡ về mặt vật chất cho Giáo Hội, cho các dòng tu trong việc mở mang, xây dựng và bảo trì các bệnh viện, trường học, trại mồ côi, trại tị nạn, trung tâm dạy nghề, những cơ quan bác ái…Bởi vì nhờ và qua những nơi này, các linh mục, các tu sĩ nam nữ và các nhà truyền giáo mới có dịp đem Tin Mừng của Chúa đến cho tha nhân. Không có những cơ sở vật chất lo cho việc giáo dục, chữa lành và giúp đỡ cho những người nghèo đói …thì khó lòng mà người ta biết đến Tin Mừng của Chúa Giêsu Phục Sinh lắm! Tiền bạc là một tên đầy tớ rất tốt, bạn là chủ của nó, bạn hãy sai nó đi làm việc truyền giáo ngay đi, đừng để nó ngồi một chỗ!

LẠC QUAN: Nếu bạn đang làm những việc thiện nguyện, ví dụ như chở người này đi lễ, đưa người khác đi bệnh viện, giúp thông dịch cho ông này, cho bà kia, làm vệ sinh nhà thờ, cắt cỏ, tỉa cây, tưới cỏ, nấu ăn giúp giáo xứ gây quỹ… Nếu bạn đang nỗ lực hy sinh thời giờ, công sức, tài năng và của cải vật chất cho việc dạy giáo lý, việt ngữ, tham gia ca đoàn, cắm hoa, trang trí, quản lý tài chánh, sửa chữa và bảo trì nhà thờ…vì ý ngay lành, vì Chúa và vì yêu mến Giáo Hội, vì yêu mến giới trẻ…nhưng lại bị cha mẹ, vợ chồng, anh chị em họ hàng thân thuộc hay người ngoài đàm tiếu, dèm pha, nói hành nói xấu, nói xiên nói xẹo, vu oan cáo vạ…thì xin bạn hãy lạc quan, hãy vui lên, bởi vì bạn đang làm chứng nhân cho Chúa đấy! Hơn thế nữa, bạn đang được hưởng mối phúc thứ tám mà Chúa Giêsu đã hứa ban: “Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa” (Mt 5:11).

Làm chứng cho Chúa qua việc chia sẻ và sống lạc quan, dám chấp nhận những đau khổ thử thách như vậy không phải là chuyện dễ dàng, nếu không muốn nói là vô cùng khó khăn và nặng nề. Thế nhưng, với lòng tin tưởng, phó thác, với sự quyết tâm của chính mình, cộng với sự trợ giúp của Thiên Chúa, tôi tin chắc rằng, bạn và tôi sẽ trở thành những nhân chứng sống động của Chúa Giêsu Phục Sinh trong môi trường mình đang sống, nơi mình đang làm việc, và ở những nơi chúng mình đang phục vụ, bởi vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được (Lc 1:37).

Nguyện xin Thiên Chúa, qua lời chuyển cầu của thánh Cả Giuse và Mẹ Maria, ban ơn giúp sức để chúng mình luôn luôn chu toàn trách vụ mà Chúa Giêsu đã giao phó trước khi Ngài lên trời: “Các con sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1:8). mục lục

Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

ĐƯỜNG LÊN TRỜI

Giêsu đã lên trời, trở về với chúa Cha. Người trở về sau khi đã hoàn tất sứ mạng Cha trao phó.Trước khi được rước lên trời, Người đã chỉ bảo cho các Tông đồ những lời sau hết và chúc lành cho các ông.

Chúa Giêsu được rước lên trời, đó là niềm hân hoan và cũng là niềm hy vọng cho mọi tín hữu. Suốt cuộc sống dương thế, Chúa Giêsu đã đi vào trong tận cùng của đau khổ, thiếu thốn. Người xuống nơi sâu thẳm nhất của cõi lòng tan nát và xoa dịu bằng tình yêu không bờ bến cho những con người bị gạt ra bên lề xã hội. Hơn ai hết, Chúa Giêsu đã là một người nghèo, một người bị đời bội bạc và phụ tình. Đời đã tung hô Người khi đón nhận tình yêu của Người và đời cũng “thẳng tay” phụ bạc khi Người không đi theo đường lối mà họ muốn. Tất cả những gì sách Thánh đã chép về Người đều được ứng nghiệm. Hôm nay khi thời gian ở với các tông đồ đã hết, Người trao ban cho các ông sứ mạng “nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội”. Các ông phải trở nên chứng nhân của Chúa Phục Sinh, Đấng đã chịu khổ hình vì tội lỗi nhân loại và đã sống lại để ban tặng niềm hy vọng về sự sống muôn đời. Các tông đồ đã dùng cả cuộc đời và mạng sống mình để hoàn thành sứ mạng Chúa trao. Đang khi chúc lành cho các Tông đồ, Người được rước lên trời Chúa Giêsu vân không ngừng chúc lành cho thế giới mà Ngài không ngường yêu thương. Tình thương của Chúa vẫn trải dài trên cuộc đời ta. Người âm thầm đi vào lịch sử đời ta và cứu chuộc ta ngay trong chính dòng lịch sử của đời ta. Tất cả những gì ta nhận lãnh từ thế hệ đi trước là hồng ân cao quý mà Chúa đã đặt để. Chúa muốn ta được hạnh phúc. Đời ta có ý nghĩa hơn và đáng sống hơn vì ta đặt hy vọng nơi  Chúa. Chúa đã làm cho đời ta nên như lúc này, dù đau khổ hay hạnh phúc tất cả đều mang một ý nghĩa cứu độ . Mỗi ngày ta hãy bước đi trong hân hoan hướng nhìn về trời cao, đón nhận thực tại với niềm tin và hy vọng nơi Đấng đã lamg người, đã chết và sống lại để cứu dộ ta. Đó là cách thức ta trở nên chứng nhân của Chúa cho mọi người.

Lạy Chúa Giêsu! Chúa đã lên trời và không ngừng âu yếm cảm thương chúng con. Chúa đã về cùng Chúa Cha và dọn sẵn chỗ cho chúng con. Con đường lên trời đã được vạch rõ mà bất cứ ai cũng có thể bước lên, đó là con đường đón nhận thập giá bản thân, cùng bước đi với Chúa Giêsu vác thánh giá, cùng đóng đinh với người để tình yêu tỏa lan. Xin Chúa giúp chúng con mỗi ngày và ban Đấng Bảo Trợ đến với chúng con. Để nhờ đó, chúng con can đảm “ sống cho những gì cao quý hơn.” Amen. mục lục

Bông hồng nhỏ

 

“HÃY NHÂN DANH NGƯỜI MÀ RAO GIẢNG”

Chính thánh Luca, đã từng ghi lại thao thức của Chúa Giêsu về sứ mạng truyền giáo, khi đề nghị các môn đệ: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin Chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về" (Lc 10, 2). 

Năm 2004, Thánh Gioan Phaolô II chọn chính lời của Chúa Giêsu làm chủ đề Sứ điệp Ơn gọi của mình, để xin mọi người cầu nguyện cho việc truyền giáo, cách riêng cho những người sống ơn gọi tu trì: “Luôn trung thành với ơn gọi của mình và đạt tới mức cao độ nhất của sự hoàn thiện Phúc Âm” (Sứ điệp Ơn gọi 2004, số 3).

Đến lúc Chúa về trời, một lần nữa, thánh Luca đã không bỏ qua chi tiết quan trọng trong di chúc của Chúa: “Hãy nhân danh Người mà rao giảng việc sám hối và ơn tha tội trong mọi dân, bắt đầu từ Giêrusalem” (Lc 24, 47). Những lời ấy được trao ban chỉ ít phút trước khi Chúa “lên trời, ngự bên hữu Thiên Chúa”, trở thành lẽ sống, thành hướng nhắm để đi tới, thành mục tiêu để theo đuổi và là hoạt động không ngơi nghỉ của Hội Thánh. 

Bởi từ ngày Chúa rời trần gian, bất cứ làm gì, dù chiêm niệm, cầu nguyện, sinh hoạt thường nhật của đời sống, làm công tác xã hội và từ thiện… Hay suy nghĩ gì, cử hành mầu nhiệm và bí tích nào, tổ chức phong trào nào… Hội Thánh cũng chỉ quy về một việc duy nhất: giới thiệu Chúa Kitô cho con người, và thánh hóa lòng người. Hội Thánh làm như thế vì, hơn ai hết, Hội Thánh hiểu rõ: truyền giáo là sự sống của mình.

Riêng quê hương Việt Nam, vào năm 1533, Hội Thánh Việt Nam đã bắt đầu phôi thai với sự hiện diện của giáo sĩ  Inikhu, người đến làng Ninh Cường, và Trà Lũ, thuộc giáo phận Bùi Chu ngày nay…

Nhờ những bước chân mở mang truyền giáo ấy, Tin Mừng đã bắt đầu. Hạt giống Lời Chúa đã gieo, vẫn âm ỉ, để khi có điều kiện, sẽ nảy nở và trổ sinh trong lòng người. Tất nhiên, điều đó cần ơn Chúa và nỗ lực truyền giáo của người Kitô hữu, có khi rất gian truân, đòi hỏi công sức, hy sinh, kể cả mồ hôi, nước mắt và đổ máu.

500 năm, dù không thể sánh cùng nhiều Hội Thánh địa phương khác, càng không thể sánh cùng Hội Thánh hoàn vũ đã mấy ngàn năm, Hội Thánh Việt Nam vẫn tự hào vẽ thêm một đường lịch sử  không bao giờ mệt mỏi, không bao giờ dừng lại trên trang sử  đức tin. 

Ý thức truyền giáo của Hội Thánh Việt Nam phải vượt nhiều thử thách, do lòng người đố kỵ, thù ghét, cả lo sợ sự phát triển và ảnh hưởng của Hội Thánh, nên chưa khi nào Hội Thánh Việt Nam sống trong bình yên thực sự, chưa bao giờ được tôn trọng đúng mức. 

Thật lạ lùng, càng khó khăn, Hội Thánh Việt Nam càng thắm thiết với đức tin. Ơn gọi tu trì của Hội Thánh Việt Nam không thiếu, nơi nào có người Việt sinh sống, dù quê nhà, hay quê người, vẫn có người Công giáo Việt hiến dâng cuộc đời cho Chúa. Các nhà thờ bao giờ cũng đông đảo. Các lớp giáo lý, các nhóm chia sẻ Lời Chúa, các hội đoàn, phong trào đạo đức, các tổ chức làm công tác xã hội… vẫn không ngừng phát triển.

Nhưng những gì Hội Thánh Việt Nam đã làm, chưa là tất cả của công tác truyền giáo. Nhiệm vụ của Hội Thánh Việt Nam chưa bao giờ kết thúc. Sau gần 500 năm, hình như đó chỉ là cánh cửa vừa mở ra. Trách nhiệm của từng người Công giáo Việt Nam hôm nay phải luôn luôn ra đi theo lối mở ấy của tiền nhân để nhân danh Thiên Chúa và làm chứng cho Ngài bằng cuộc sống chứng tá của mình ngay trong hoàn cảnh hiện tại. 

Hãy ghi nhớ: Cách đây 500 năm, quê hương là cả một cánh đồng truyền giáo bao la. Nhưng đã gần 5 thế kỷ đi qua, quê hương vẫn chỉ là một cánh đồng bao la mà chúng ta phải truyền giáo!

Mừng lễ Chúa về trời, ôn lại thao thức truyền giáo của Chúa, lắng nghe lời Chúa dạy: “Hãy nhân danh Người mà rao giảng việc sám hối và ơn tha tội trong mọi dân, bắt đầu từ Giêrusalem” (Lc 24, 47), ta nhận ra nhiệm vụ lớn lao và vinh dự của mỗi người Việt Công giáo hôm nay. Đó là tiếp nối bước chân truyền giáo của Chúa, noi gương Ngài, cùng lớp lớp cha ông, lên đường mang ơn cứu rổi cho cuộc đời, cho con người.

Có hai cách để chúng ta hoạt động truyền giáo:

1. Cầu nguyện: Chúa Giêsu nhắc nhở: “Hãy xin Chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Lc 10, 2). Cầu nguyện cho việc truyền giáo là bổn phận của chúng ta. Chúng ta cầu xin Chúa cho có nhiều trái tim quảng đại biết cảm thương những cảnh đời bơ vơ không người chăn dắt, đồng thời xin Chúa sai nhiều tâm hồn thiện chí dấn thân ra đi loan báo Tin Mừng.

Chúa Thánh Thần chính là tác nhân của việc rao giảng Tin Mừng. Chúng ta cầu xin Ngài thúc đẩy mỗi người ý thức và hăng say loan báo Tin Mừng. Xin Ngài tác động trong thâm cung tâm hồn để giúp mọi người chấp nhận và hiểu biết Lời cứu độ. 

2. Sống chứng tá: Hãy nhớ, trước khi là người loan báo Tin Mừng, bản thân người Công giáo phải sống Tin Mừng. Vì thế, nêu gương sống lương tâm Công giáo là việc cấp bách, liên lỉ. 

Từng người tín hữu cần nỗ lực cùng đồng bào xây dựng nếp sống lành mạnh trong khu phố, xóm làng, loại trừ mọi tệ đoan, mọi tật xấu. Đặc biệt, họ nêu gương đời sống hiệp nhất yêu thương; nêu gương tôn trọng sự sống và phẩm giá con người, sống theo lương tâm ngay thẳng. Không có lời rao giảng nào có sức thuyết phục bằng sự hiệp nhất yêu thương mà người tín hữu thể hiện từ trong gia đình ra đến xóm làng, giáo xứ và giáo phận...

Chúa Giêsu đã về trời. Biến cố về trời bế mạc giai đoạn hiện diện của Chúa trên trần gian, nhưng khai mạc giai đoạn hiện diện và hoạt động của Hội Thánh cùng với Thánh Thần. 

Vì thế, Hội Thánh nói chung và Hội Thánh tại Việt Nam nói riêng, vẫn tiếp tục được mời gọi chia sẻ chức vụ mục tử của Chúa Giêsu, đem ơn thánh hóa, cứu độ mọi người và chính đồng bào Việt Nam của mình. 

Nhưng nỗ lực sống lời mời gọi chia sẻ chức vụ của Chúa Giêsu, phải là nỗ lực của từng cá nhân, trong từng ngày sống. 

Vậy bản thân chúng ta hãy tiếp nối sứ vụ của Chúa, bằng cách sống những hướng dẫn cụ thể mà Hội Thánh dạy: "Mọi Kitô hữu, dù sống ở đâu, đều phải lấy gương mẫu đời sống và chứng tá lời nói để biểu dương con người mới mà họ đã mặc lấy nhờ phép Rửa, và biểu dương sức mạnh của Chúa Thánh Thần mà họ đã được củng cố nhờ phép Thêm Sức, để những người khác nhìn thấy những việc lành của họ mà ngợi khen Chúa Cha, cùng nhận thức đầy đủ hơn ý nghĩa đích thực của đời sống con người và mối dây liên kết toàn thể cộng đồng nhân loại" (Công Đồng Vatican II - Sắc Lệnh về hoạt động Truyền Giáo của Giáo Hội - số 11). mục lục

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

ƯỚC VỌNG CAO

Phàm nhân mà ước vọng cao
Từ nơi đất thấp muốn leo lên trời
Ước mơ đúng chứ chẳng sai
Bởi vì Chúa hứa rạch ròi từ xưa
Ngài về trời với Chúa Cha
Dọn chỗ dọn nhà để đón tôi trung
Những ai giữ luật đàng hoàng
Luật yêu luôn giữ, sẵn sàng ngày đêm
Đơn sơ, nhịn nhục, nhân hiền
Chịu thua nhân thế, bị ghen ghét nhiều
Sống ngay thẳng, chẳng sống liều
Ngày mai được tới trời cao với Ngài
Ước mơ cao thật tuyệt vời
Chúa đã hứa rồi, chẳng có sai đâu. 
mục lục
Trầm Thiên Thu

PHÚC VỀ TRỜI

(Suy niệm mầu nhiệm II mùa Mừng)

Đoàn tín hữu tin mình: Con Thiên Chúa
Sống đời này, mục đích để lập công:
Yêu tha nhân vì mến Chúa hết lòng
Luôn ngưỡng vọng được lên Trời hưởng phúc.
* Cha Chí Thánh thưởng công người nhân đức
Kẻ tội nhân sám hối, chịu sửa mình
Biết cậy trông quyền phép Chúa Chí Linh
Năng cầu nguyện: dâng mình làm của lễ.
* Hãy tận hiến: hy sinh đời dương thế
Mong sớm về Nhà Chúa ở trên Trời
Chốn trường sinh, vĩnh cửu, sống an vui
Hằng ca tụng Tình Yêu Vua Cứu Thế… mục lục

MỪNG LỄ CHÚA LÊN TRỜI

(Lc 24,46-53)

Nhớ xưa các Thánh Tông Đồ
Ngất ngây nhìn Chúa Kitô lên Trời
Vừa nghe thánh chỉ của Người:
Hãy đi rao giảng kêu mời thế nhân.
 
Trở nên môn đệ hiến thân
Mở mang Nước Chúa, hồng ân dạt dào
Đời này công đức càng cao
Đời sau vinh hiển, trí nào hiểu thông.
 
Tông đồ vâng mệnh Cha Chung
Trọn đời phấn đấu, một lòng hy sinh
Dựng xây Giáo Hội quang vinh
Năm Châu, bốn Biển rạng danh Chúa Trời…
 
Cộng đoàn tín hữu ta ơi!
Nhìn lên Thiên Quốc muôn đời cao quang
Với lòng trông cậy vững vàng
Vâng theo Ý Chúa chớ màng phù vân.
 
Mai sau qua khỏi cõi trần
Được lên hưởng phúc muôn phần sáng tươi
Hôm nay mừng Chúa Lên Trời
Tung hô danh Chúa với lời thánh ca…
Halleluja! Halleluia!

(Thế Kiên Dominic)

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.