SUY NIỆM CHÚA NHẬT LỄ CHÚA BA NGÔI_C (2022)

11-06-2022 132 lượt xem

Lời Chúa: Cn 8,22-31; Rm 5,1-5; Ga 16,12-15

Mục Lục

NHÂN DANH CHA VÀ CON VÀ THÁNH THẦN - + ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

MẦU NHIỆM TÌNH YÊU - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

NHÂN DANH THIÊN CHÚA - Trầm Thiên Thu

NƠI CHÚA GIÊSU THIÊN CHÚA TỎ MÌNH - Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

THIÊN CHÚA DUY NHẤT, THIÊN CHÚA BA NGÔI - Phêrô Phạm Văn Trung

THẦN KHÍ GIỮA CHÚNG TA - Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

THIÊN CHÚA LÀ CHA VÀ CON VÀ THÁNH THẦN - Giuse Vinhsơn Ngọc Biển, S.S.P.

MẦU NHIỆM THIÊN CHÚA BA NGÔI - Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

CẢM TẠ CHÚA VÌ VINH QUANG CAO CẢ CHÚA - Bs. Nguyễn Tiến Cảnh, MD

ÔI TÌNH CHÚA BA NGÔI! - Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

BA NGÔI TRONG ĐỜI SỐNG NGƯỜI KITÔ HỮU - Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Thi ca: KÍNH THỜ BA NGÔI - Trầm Thiên Thu

Thi ca: Mừng lễ THIÊN CHÚA BA NGÔI - (Thế Kiên Dominic)

NHÂN DANH CHA VÀ CON VÀ THÁNH THẦN

“Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần – Amen” là nội dung lời kinh có tên là “Dấu Thánh giá”. Đây là bài học đầu tiên mà mỗi người trưởng thành phải học khi muốn gia nhập Giáo Hội. Đó là lời kinh đơn sơ mà những em bé trong gia đình công giáo bập bẹ đọc lên khi vừa biết nói. Lời kinh ngắn gọn mà sâu sắc, hàm chứa chân lý cao siêu của Đạo Kitô, là mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. “Dấu Thánh giá” đưa ta vào một thế giới huyền nhiệm là cung lòng Thiên Chúa. Nơi thế giới ấy, ý nghĩa và giá trị chữ số không giống như chúng ta: ba lại là một và một lại là ba. Chỉ có một Chúa, nhưng ba ngôi riêng biệt. Ba ngôi ấy khác biệt mà không bị phân chia, duy nhất mà lại không hoàn toàn hòa nhập. Lời kinh huyền nhiệm này cho ta được hòa mình trong tình yêu vĩnh cửu, hạnh phúc tuôn tràn.

Dấu Thánh giá: lời tuyên xưng đức tin.

Khi làm dấu Thánh giá trên mình, tôi tuyên xưng đức tin vào Chúa quyền năng. Ngài là Cha, và Con và Thánh Thần. Với lời kinh đơn sơ ấy, tôi trở về với cội nguồn của truyền thống Kitô giáo ngay từ những thế kỷ đầu. Từ thời xa xưa ấy, cộng đoàn tín hữu Kitô như một nhành cây non vừa tách mình ra khỏi cây cổ thụ Do Thái giáo. Họ đã dựa vào nội dung Tin Mừng để tìm hiểu bản tính của Thiên Chúa. Đức Giêsu đã mặc khải cho các môn đệ về Chúa Cha. Người cũng hứa sẽ gửi đến cho họ Chúa Thánh Thần là Đấng Phù trợ (x. Ga 16,26 tt). Cộng đoàn tiên khởi đã dần dần suy tư và tuyên xưng đức tin nơi một Thiên Chúa duy nhất Ba Ngôi. Ngay từ kinh Tin kính thời các thánh tông đồ, đức tin vào Chúa Ba Ngôi đã được tuyên xưng cách rõ rệt: “Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng… tôi tin kính Đức Chúa Giêsu Kitô là Con một Đức Chúa Cha… Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần…”. Công đồng Rôma năm 382 đã viết: “Đây là ơn cứu rỗi của các Kitô hữu: tin vào Chúa Ba Ngôi, tức là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần; được thanh tẩy trong Chúa Ba Ngôi, chúng ta phải tin vững vàng rằng Thiên Chúa Ba Ngôi là một Thiên Chúa duy nhất và quyền năng, vinh quang và hằng hữu”.  Trải qua mọi thế hệ, đức tin Kitô giáo tiếp tục được suy tư và tái khẳng định: “Ba ngôi vị này chỉ là một Thiên Chúa duy nhất chứ không phải ba “Thiên Chúa”… do sự duy nhất này, Chúa Cha hoàn toàn ở trong Chúa Con, hoàn toàn ở trong Chúa Thánh Thần; Chúa Thánh Thần hoàn toàn ở trong Chúa Chúa Cha và hoàn toàn ở trong Chúa Con…” (Tông sắc Cantate Domini của Đức Giáo hoàng Eugène IV, năm 1442). Khi làm dấu Thánh giá, tôi xác tín nơi Thiên Chúa, Đấng là lý tưởng và mẫu mực của tôi. Tôi chọn Ngài như đích điểm duy nhất của cuộc đời. Chúa Ba Ngôi là cội nguồn và đích điểm của đời người tín hữu. Tôi được sinh ra trong Chúa Ba Ngôi, cùng đích đời tôi đang nhắm tới cũng là Chúa Ba Ngôi. Nơi Ngài, tôi được ngụp lặn trong bể tình yêu lai láng vô bờ ấy. Trong hành trình trần thế, Chúa Ba Ngôi luôn phù trợ và nâng đỡ tôi: “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy, Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở với người ấy” (Ga 14 23). Tôi là một tác phẩm do Chúa Ba Ngôi thực hiện: Chúa Cha sáng tạo cho tôi hiện hữu; Chúa Con Thanh tẩy cho tôi nên sạch trong; Chúa Thánh Thần thêm sức cho tôi lớn mạnh. Ý thức được điều đó, lòng tôi hân hoan vui mừng, vì ngay ở đời này, tôi đã được nếm hưởng hạnh phúc Nước Trời. Chính nhờ thế mà tôi vững tin và can đảm vượt lên những chướng ngại của cuộc đời. Sức mạnh của đức tin thật kỳ diệu là thế.

Dấu Thánh giá: cội nguồn sức mạnh

Cùng với lời tuyên xưng Chúa Ba Ngôi là Cha và Con và Thánh Thần, tôi phác họa hình Thánh giá trên mình: từ trán, xuống ngực và hai vai. Bốn điểm nhấn trên cơ thể tôi làm thành hình Thánh giá. Lời tuyên xưng đức tin của tôi được nhấn mạnh ở một mầu nhiệm rất quan trọng của Kitô giáo, đó là mầu nhiệm cứu chuộc. Đã hơn hai ngàn năm qua, một con người bị treo trên cây gỗ đã trở thành nguồn sức mạnh cho biết bao thế hệ. Người ta đến với cây gỗ để ôn lại một biến cố đã xảy ra trong lịch sử: đó là biến cố Con Thiên Chúa chịu đóng đinh trên thập giá. Vâng, Đức Giêsu, Ngôi Lời nhập thể, đã mang lấy trên thân thể mình tội lỗi của muôn dân. Người đã chết để cho con người được sống; Người đã đón nhận nhục hình để con người được danh dự vinh quang. Đứng trước Thánh giá, người gian ác được cải hoá để trở nên thân thiện; người thù hận được biến đổi để trở thành bao dung. Hai cây gỗ, một ngang một dọc, ẩn chứa bao sức mạnh thần kỳ. Khi làm dấu Thánh giá trên mình, tôi tuyên xưng Chúa đã dùng Thánh giá để chuộc tội cho tôi. Tôi cũng cầu xin Chúa ban sức mạnh để vác thánh giá cuộc đời. Quả thế, mỗi mảnh đời mang một cây thập giá; mỗi đôi vai mang một nỗi truân chuyên. Với tâm tình của Chúa Giêsu, thập giá trần gian sẽ trở nên nhẹ nhàng; với tình yêu rộng mở, gánh nặng cuộc đời sẽ bớt thê lương “Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11, 29-30). Vâng, khi làm dấu Thánh giá trên mình, tôi muốn làm học trò của Thày Giêsu, để Người dạy tôi nên người trọn hảo. Dấu Thánh giá đem lại cho tôi sức mạnh kỳ diệu là thế.

Dấu Thánh giá: sứ mạng của người Kitô hữu

Khi tôi được dìm mình trong dòng nước Thanh Tẩy, linh mục chủ sự tuyên đọc: “Ta rửa con nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. Tôi được tẩy rửa không phải vì một mục đích trần thế, cũng không phải nhằm đến một lý tưởng nhân loại. Tôi được tẩy rửa nhân danh Thiên Chúa quyền năng. Nhờ lời tuyên đọc đi liền với nghi thức đổ nước trên đầu hoặc dìm mình trong dòng nước, tôi được tái sinh làm người mới, được trở nên đền thờ của Chúa Ba Ngôi. Và thế là, trong suốt cuộc đời tín hữu của tôi, dù thức hay ngủ, dù làm việc hay nghỉ ngơi, dù ở nhà hay nơi phố chợ, tôi đều nhân danh Chúa Ba Ngôi. “Dấu Thánh giá” giúp tôi nhận ra mình có một sứ mạng cao cả trong cõi nhân sinh bao la này. Thánh Phaolô đã viết: “Dù ăn, dù uống, hay làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa” (1Cr 10,31); hoặc : “Anh em có làm gì, nói gì, thì hãy làm hãy nói nhân danh Chúa Giêsu và nhờ Người mà cảm tạ Thiên Chúa Cha” (Cl 3,17). Khi nhân danh Chúa Ba Ngôi, cuộc đời tôi mang một chiều kích mới. Những lời nói của tôi là lời nói thân thiện, những việc làm của tôi là việc làm hữu ích. Một khi đã nhân danh Chúa Ba Ngôi, tôi không còn nói lời hai ý, lời nói của tôi phải là “có” thì nói “có”, “không” thì nói “không”, thêm thắt điều gì là do ác quỷ” (Mt 5, 37). Nhân danh Chúa Ba Ngôi đối với tôi không chỉ là một vinh dự, mà còn là một sứ mạng, đó là làm cho vinh quang Chúa tỏ rạng trong mọi nơi mọi lúc của cuộc sống. Mỗi khi đi đến đâu, tôi làm cho hình ảnh Thiên Chúa rạng rỡ nơi gương mặt và cuộc đời của tôi. Lời nói của tôi là lời của Chúa; việc làm của tôi là việc làm của Chúa. Kitô hữu là người đem Chúa vào đời. Đó chính là ơn gọi chứng nhân mà Đức Kitô đang mời gọi chúng ta thực hiện. Vì chưa thực sự nhân danh Chúa Ba Ngôi nên tôi còn là nguyên nhân của sự chia rẽ. Vì chỉ nhân danh mình nên tôi còn quá đề cao cá nhân ích kỷ. Nhân danh Chúa sẽ làm cho đời tôi rập khuôn cuộc đời Đấng Cứu Thế. Cái tôi ích kỷ được xoá bỏ, đời tôi được tan biến trong biển tình yêu vô biên của Đấng đã tạo dựng nên tôi thành người.

“Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”, Bạn và tôi, chúng ta hãy đọc lời kinh đơn sơ ấy với tâm tình yêu mến, phó thác và cậy trông, và như vậy, trọn cuộc đời chúng ta luôn là một phản ảnh trung thực của Chân Thiện Mỹ nơi chính cuộc đời này.

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

MẦU NHIỆM TÌNH YÊU

Mùa Phục Sinh kết thúc với đại lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Giáo hội nhìn lại chương trình cứu độ được Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử nhân loại và nhận ra rằng: nguồn ơn cứu độ chính là Thiên Chúa Ba Ngôi: Cha, Con và Thánh Thần. Vì thế, chúng ta hiểu tại sao ngày Chúa nhật mùa Thường niên tiếp ngay sau lễ Hiện Xuống, luôn luôn được Giáo hội mừng kính và suy niệm về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi.

“Giáo Hội là công trình của tình yêu Thiên Chúa Ba Ngôi. Từ Ngài, Giáo Hội sinh ra; nhờ Ngài, Giáo Hội hoạt động; và hướng tới Ngài, Giáo Hội dấn bước. Chỉ một mình Thiên Chúa mới nắn đúc nên Giáo Hội theo lòng Ngài mong ước”. (Thư Chung HĐGMVN 2011, số 19).

Giáo hội được Chúa Cha tập hợp chung quanh Chúa Giêsu dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Là dân tộc lữ hành, Giáo hội phát xuất từ Chúa Cha, sẽ trở về với Chúa Cha, nhờ trung gian của Chúa Kitô, dưới hơi thở của Chúa Thánh Thần. Chính từ mầu nhiệm Ba Ngôi mà Giáo hội được sinh ra và cũng từ Thiên Chúa mà Giáo hội lãnh nhận sứ mạng để tất cả nhân loại làm thành một Dân Thiên Chúa, tập họp thành Thân Thể Chúa Kitô, được xây dựng thành Đền Thờ Chúa Thánh Thần. Giáo hội như là hình ảnh của mầu nhiệm hiệp thông giữa Ba Ngôi Thần Linh và Giáo hội là dấu chỉ của sự hiệp thông giữa Thiên Chúa và nhân loại (x.GH1; GLCG số 772). Ba Ngôi là cội nguồn và là cùng đích của Giáo hội. Giáo hội là công trình của Ba Ngôi. Giáo hội nuôi sống con cái mình bằng thần lương Ba Ngôi ban tặng qua các bí tích.

Mạc Khải Thánh Kinh

Cựu Ước chỉ nói tới một Thiên Chúa duy nhất, tạo dựng và làm chủ vũ trụ.

Chính Chúa Giêsu, trong đời sống công khai giảng dạy đã mạc khải dần dần. Ngài đã từng bước vén lên bức màn của mầu nhiệm Ba Ngôi. Ngài cho biết : Chúa Cha là Thiên Chúa, còn Ngài là Con Một của Chúa Cha. Ngài và Chúa Cha là một. Ngài ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Ngài, cùng bản tính với Chúa Cha. Ngài cũng là Thiên Chúa. Ngài với Chúa Cha là một Thiên Chúa. Ngài cũng cho biết : Chúa Thánh Thần là Đấng mà Chúa Cha sai đến, cũng là Thiên Chúa. Như vậy, chỉ là một Thiên Chúa duy nhất nhưng có Ba Ngôi riêng biệt nhau. “Đức Giêsu là Chúa Con, Đấng tỏ cho chúng ta biết Chúa Cha đầy lòng thương xót, Đấng đã mang “lửa” vào mặt đất. Lửa ấy chính là Chúa Thánh Thần” (x.Bài giảng lễ Chúa Ba Ngôi năm 2014, Đức Thánh Cha Phanxicô).

Kinh Thánh Tân ước mặc khải Ba Ngôi: sự hợp nhất của Ba Ngôi trong sứ mạng của ngôi thứ hai – Ngôi Con : Chúa Giêsu chịu phép rửa tại sông Giođan bắt đầu sứ mạng, bầu trời mở ra với tiếng Chúa Cha phán cùng sự hiện diện của Chúa Thánh Thần bằng hình ảnh của chim bồ câu (x. Mt 3, 16-17; Mc 1, 9-11; Lc 3, 22-22). Tin Mừng Gioan đã nhiều lần đề cập Chúa Ba Ngôi mà Chúa Giêsu đã mặc khải: “Thầy sẽ xin Chúa Cha, và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo trợ khác đến ở với anh em luôn mãi”(Ga 14,16). Sự gắn bó giữa Chúa Cha và Chúa Con luôn khắng khít “Cha ở trong Con và Con ở trong Cha” (Ga 14,10), gắn bó đến nỗi như Chúa Giêsu thổ lộ : “Ta và Cha Ta là một” (Ga 10,30), và “Ai thấy Thầy là thấy Cha” (Ga 14,9). Chính Thánh Thần là Tình yêu khăng khít giữa Cha và Con, Thánh Thần làm chứng về Ngôi Lời : “…Thần Khí sự thật, từ nơi Cha xuất phát ra, Ngài sẽ làm chứng về Ta” (Ga 15, 26 ). Như Chúa Giêsu sau đó loan báo : “Khi nào Thần Khí sự thật đến … tất cả những gì Người đã nghe, Người sẽ nói lại và loan báo cho anh em biết … Người sẽ lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em” (Ga 16,13.14).

Sách Công vụ Tông đồ ghi lại bài giảng của Tông đồ Phêrô về Giáo huấn Thiên Chúa Ba Ngôi trong công trình cứu độ và cả trong giây phút hiện tại: “Thiên Chúa Cha đã ra tay uy quyền nâng Người lên trao cho Người Thánh Thần đã hứa, để Người đổ xuống. Đó là điều anh em đang thấy đang nghe”(Cv 2,33).

Chúa Ba Ngôi hiện diện ở trong ta nếu như sống theo lời Chúa Giêsu dạy: “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy và Chúng Ta sẽ đến và cư ngụ nơi người ấy” (Ga 14,23). Giữ Lời Thầy, Lời Cha Thầy và chúng ta như Chúa Giêsu nhấn mạnh là Ba Ngôi Thiên Chúa đến ở cùng.

Mầu Nhiệm Tình Yêu.

Tại sao Chúa Giêsu lại mạc khải cho chúng ta một mầu nhiệm quá cao siêu như thế? Chắc chắn không phải là để thử thách thiện chí của con người, hoặc để xây lên bức tường chặn đứng suy luận và óc tưởng tượng của con người. Nhưng vì Chúa muốn chúng ta hiểu biết đời sống nội tại của Thiên Chúa, đó là tình yêu. Thiên Chúa là Tình yêu. Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi nói lên điều đó.

Thiên Chúa là Tình yêu. Thiên Chúa yêu thương con người. Đó là một công thức khác để nói về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Vì tình yêu thương, Thiên Chúa đã tạo dựng con người giống hình ảnh Chúa, ban cho con người được hạnh phúc như Chúa. Nhưng con người đã phạm tội phản nghịch đánh mất hạnh phúc. Thiên Chúa không từ bỏ con người. Ngài đã quyết định ban Con Một yêu dấu để cứu chuộc. Và vì yêu thương con người, Đức Kitô đã vâng lời Chúa Cha đến trần gian thực hiện sứ mệnh yêu thương đó. Và khi hoàn tất, Ngài về trời. Chúa Thánh Thần đến để tiếp tục công việc của Ngài, công việc yêu thương. Nhờ Chúa Thánh Thần, tình yêu của Thiên Chúa tiếp tục được bày tỏ mãi cho tới chúng ta hôm nay và mãi về sau nữa.

Vì thế, khi mừng kính mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi, Giáo Hội không chỉ nhắc nhở chúng ta xác tín lại tín điều quan trọng này, nhưng còn mời gọi chúng ta hãy sống mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, là sống yêu thương và hiệp nhất. Như tình yêu thương giữa Ba Ngôi Thiên Chúa đã trào tràn trên mọi thụ tạo, thì tình yêu thương của người Kitô hữu cũng vậy, phải mở ra cho hết mọi người. Sống yêu thương là cách diễn tả đúng và đầy đủ ý nghĩa cuộc sống làm người và làm con Chúa; đồng thời cũng diễn tả cuộc sống của Chúa Ba Ngôi : yêu thương và hiệp nhất.

Sống Hiệp Nhất Yêu Thương

Mầu nhiệm Ba Ngôi thật cao cả và cũng thật gần gũi. Thánh Augustinô đã nói: “Nếu bạn thấy tình yêu, bạn sẽ thấy Chúa Ba Ngôi”. Tình yêu gắn liền với đời sống con người.

Chúng ta có thấy tình yêu không, và thấy như thế nào? Tình yêu được nhìn thấy qua những hành vi yêu thương.

- Yêu thương là ban tặng: khi yêu người ta trái tim của mình cho người yêu. Yêu thương sâu đậm là cho đi điều quý báu nhất cho người mình yêu, như trường hợp của Chúa Cha mà Chúa Giêsu nói tới trong Tin mừng Gioan: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một mình cho thế gian” (Ga 3,16). Hay chính trường hợp của Chúa Giêsu: “Không có tình thương nào lớn hơn tình thương của người dám thí mạng sống vì bạn hữu” (Ga 15,13). Yêu thương là cho đi chính mình, là tự hiến chính mình. Vợ chồng yêu thương nhau, dâng hiến bản thân cho nhau, kể cả thân xác mà không chút e dè, trái lại còn hạnh phúc nữa. Cha mẹ và con cái yêu thương nhau có thể hy sinh mạng sống mình cho nhau.

- Yêu thương là chia sẻ: yêu nhiều, người ta chia sẻ cho nhau nhiều, yêu nhau hết mức thì người ta chia sẻ cho nhau tất cả. Vợ chồng yêu nhau chia sẻ cho nhau tất cả, từ của cải vật chất đến gia sản tinh thần, đến cả tình gia đình. Ông bà cha mẹ của chồng trở thành ông bà cha mẹ của vợ và ngược lại. Trong Thiên Chúa cũng thế, Ba Ngôi Thiên Chúa chia sẻ cùng một sự sống thần linh. Và chính sự sống thần linh duy nhất làm cho Ba Ngôi là một. Chúa Cha đã sai Chúa Con mang sự sống thần linh ấy xuống trần gian chia sẻ cho nhân loại. Sự sống ấy là Bánh bởi trời mà chúng ta nhận lãnh trong bí tích Thánh Thể.

- Yêu nhau là đón nhận nhau. Đón nhận tình yêu và ý muốn của người mình yêu, đón nhận tất cả, đón nhận chính bản thân của người yêu. Người được yêu có vị trí quan trọng trong trái tim của người yêu. Suy nghĩ về tình yêu giữa Chúa Con và Chúa Cha, chúng ta sẽ thấy ở trần gian này, không có sự đón nhận nào trọn vẹn như thế. Chúa Con đón nhận tất cả từ Chúa Cha: giáo lý, ý muốn, lời nói, hành động. Chúa Con đón nhận chính bản thân Chúa Cha làm bản thân của mình, vì vậy mà đồng bản thể với Chúa Cha.

- Yêu nhau còn là gắn bó với nhau. Càng yêu nhau càng gắn bó mật thiết đến nỗi là một với nhau. Hai vợ chồng yêu nhau ở mức độ cao nhất thì trở nên một: một xương thịt, một thân mình. Bấy giờ tình yêu vợ chồng không những là dấu chỉ hữu hình của tình yêu Chúa Giêsu đối với Giáo Hội, mà còn là dấu chỉ của tình yêu Ba Ngôi. Ba Ngôi gắn bó với nhau đến nỗi là Một với nhau. Và chỉ có một Thiên Chúa mà thôi, Thiên Chúa là Tình Yêu nguồn suối, mẫu mực cho mọi tình yêu của con người (ĐTGM. Phaolô Bùi Văn Đọc [+]).

Noi gương Thiên Chúa Ba Ngôi, chúng ta biết sống hiệp nhất yêu thương. Hiệp nhất nên một giữa vợ chồng, hiệp nhất giữa các thành viên trong gia đình: “Chính sự hiệp thông mật thiết trong gia đình Kitô giáo là hình ảnh hiệp thông giữa Ba Ngôi Thiên Chúa” (Thư chung HĐGMVN 2002, số 6), hiệp nhất giữa các thành viên trong cộng đoàn, hiệp nhất giữa mọi thành phần trong Giáo Hội.

Hôm nay chúng ta mừng mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi. Gọi là mầu nhiệm vì đó là điều vượt quá trí hiểu của loài người. Tuy không thể hiểu thấu mầu nhiệm đó, nhưng may thay qua Chúa Giêsu, chúng ta thấy được biểu hiện của mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi chính là mầu nhiệm của tình yêu.

Chúng ta được tạo dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa tình yêu. Đời sống của chúng ta chỉ có ý nghĩa khi biết yêu thương.Chính trong Ba ngôi là nguồn chúc lành như Phaolô gửi nguồn bình an cho các cộng đoàn tín hữu và lời đó luôn được chúc cho nhau trong Giáo Hội : “Nguyện xin ân sủng Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, và tình yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em. Amen” (2Cr 13, 13).

Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm, không phải để “kính nhi viễn chi” mà là để con người sống theo mẫu gương của Ba Ngôi Thiên Chúa. Mẫu gương sống yêu thương hiệp nhất với nhau, biết dâng hiến bản thân mình, quảng đại cho đi, sống chan hoà tình bác ái. Khi hoàn toàn quên mình để sống cho tình yêu ta sẽ được kết hiệp với tình yêu của Thiên Chúa. Đó chính là hạnh phúc thiên đàng.

Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi, cảm tạ Chúa ngự trong tâm hồn con. Xin giúp con nhận ra Chúa luôn ở trong con và nơi anh chị em con. Amen.

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

NHÂN DANH THIÊN CHÚA

Thiên Chúa Chí Linh Tam Vị Nhất Thể
Chúng Nhân Hèn Mọn Một Đời Đa Đoan.

Một Chúa Ba Ngôi là đệ nhất mầu nhiệm, phàm nhân không thể giải thích đầy đủ, chỉ tương đối để có thể hiểu với trí tuệ phàm nhân mà thôi. Thánh Phaolô nói: “Sự giàu có, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào! Quyết định của Người, ai dò cho thấu! Đường lối của Người, ai theo dõi được! Thật vậy, ai đã biết tư tưởng của Chúa? Ai đã làm cố vấn cho Người?” (Rm 11:33-34).

Chắc là chúng ta không quên truyện kể về Thánh GM TS Augustinô, một người giỏi giang, thông minh xuất chúng, đã từng suy luận về Chúa Ba Ngôi mà không sao hiểu nổi, đành “bó tay” và đầu hàng vô điều kiện. Truyện kể rằng Thánh Augustinô cố tìm cách giải thích về Thiên Chúa Tam Vị Nhất Thể thì gặp một em bé ngồi múc nước biển đổ vào cái hang, thấy lạ nên ngài hỏi: “Cháu làm gì thế?”. Em bé trả lời: “Cháu tát nước biển”. Thánh nhân ngạc nhiên: “Làm sao cháu tát cạn được biển?”. Đứa bé vô tư nói: “Việc cháu làm đây còn dễ hơn việc ông đang suy nghĩ”. Thánh Augustinô giật mình và tỉnh ngộ!

Kinh Thánh cho biết rằng Thiên Chúa Ba Ngôi, Đấng Tam Vị Nhất Thể, là THIÊN CHÚA DUY NHẤT (Xh 20:3; Xh 34:14; Đnl 4:35; Đnl 4:39; Đnl 5:7; Đnl 6:4; Đnl 32:39; Kn 12:13; Is 43:10-13; Is 44:8; Is 45:5-6; Is 46:9; Đn 14:41; Hs 13:4; Mc 12:29; Ga 5:44; Ga 17:3; 1 Cr 8:4; 1 Tm 2:5; Gl 3:20), và Ngài có BA NGÔI – Tân Ước không dùng từ Ba Ngôi nhưng có cách nói khác cho biết Thiên Chúa có ba ngôi (Mt 28:19; 2 Cr 13:14; Ep 2:18).

Đặc biệt là lời xác định của Đức Giêsu Kitô cho biết về Ba Ngôi: “Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến. Người sẽ tôn vinh Thầy, vì Người sẽ lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em. Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy. Vì thế, Thầy đã nói: Người lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em” (Ga 16:13-15).

Thiên Chúa là Đấng như thế nào? Ngài “là THẦN các thần, là CHÚA các chúa, là THIÊN CHÚA VĨ ĐẠI, dũng mãnh, khả uý, không thiên vị ai và không nhận quà hối lộ, xử công minh cho cô nhi quả phụ, yêu thương ngoại kiều, và cho họ bánh ăn, áo mặc” (Đnl 10:17-18). Chúng ta đã và đang tin nhận Ngài, vấn đề quan trọng là vững tin suốt đời: “Chúng ta không nhận biết một thần nào khác ngoài Thiên Chúa” (Gđt 8:20). Vả lại, luật dạy chúng ta “phải kính sợ, phải phụng thờ, phải gắn bó, phải ca tụng” (Đnl 10:19-21).

Trong hình học, chúng ta thấy Tam Giác Đều là loại tam giác đặc biệt – luôn có các cạnh, góc, đường cao, trung tuyến,… hoàn toàn bằng nhau. Thật lạ lùng quá! Dù chỉ là hình học nhưng nó đã cho chúng ta thấy “cái lạ” trong loại tam giác độc đáo đó. Ai tạo nên? Không một thiên tài nào có thể tạo nên, mà chính là Thiên Chúa Ba Ngôi toàn năng đã tạo nên. Người ta chỉ phát hiện những gì đã có sẵn, gọi là sáng kiến hoặc phát minh, chứ không sáng tạo.

Chắc chắn không có bất cứ một thần linh nào như Thiên Chúa của chúng ta, Đấng mà chúng ta hết lòng tôn thờ. Chỉ một Chúa mà lại có ba Ngôi Vị – một mà ba, ba mà một, gọi là Tam Vị Nhất Thể (Trinitas, Trinity, Trinité). Trí tuệ phàm phu tục tử của nhân loại không thể suy luận và chứng minh bằng bất kỳ cách nào trọn vẹn nhất, ngay cả trí tuệ các thiên thần cũng không thể hiểu. Vì thế, Tam Vị Nhất Thể chỉ có thể hiểu được bằng “trí tuệ” của Đức Tin. Và chúng ta cũng chẳng có đức tin nếu không được chính Ngài trao ban, như Đức Giêsu đã xác định: “Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha là Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy” (Ga 6:44).

Cũng chính Thiên Chúa Tam Vị Nhất Thể đó là Đấng đã tác tạo nên mọi sự – người và vật, hữu hình và vô hình. Và Ngài đã được Đức Khôn Ngoan ca tụng: “Đức Chúa đã dựng nên ta như tác phẩm đầu tay của Người, trước mọi công trình của Người từ thời xa xưa nhất. Ta đã được tấn phong từ đời đời, từ nguyên thuỷ, trước khi có mặt đất. Khi chưa có các vực thẳm, khi chưa có mạch nước tràn đầy, ta đã được sinh ra. Trước khi núi non được đặt nền vững chắc, trước khi có gò nổng, ta đã được sinh ra, khi Đức Chúa chưa làm ra mặt đất với khoảng không, và những hạt bụi đầu tiên tạo nên vũ trụ” (Cn 8:22-26). Thiên Chúa toàn năng, biến không thành có.

Khôn và Khốn rất dễ lầm lẫn – giống như Việt ngữ chỉ khác nhau ở “dấu sắc” mà thôi. Thật vậy, Kinh Thánh xác định và giải thích: “Hết những ai không chịu nhìn nhận Thiên Chúa, tự bản chất là những kẻ ngu si. Từ những vật hữu hình tốt đẹp, chúng không đủ khả năng nhận ra Đấng hiện hữu, và khi chiêm ngắm bao công trình, chúng cũng không nhận biết Đấng Hoá Công. Thế mà, lửa với gió, hay làn khí thoảng qua, hay tinh tú bầu trời, hay nước chảy cuồn cuộn, hay đèn trời thắp sáng, chúng lại coi là thần, là những bậc quản cai hoàn vũ” (Kn 13:1-2).

Thiên Chúa vẫn không ngừng sáng tạo. Có biết bao điều mới lạ và thú vị. Đức Khôn Ngoan tiếp tục ca tụng: “Đã có ta hiện diện khi Người thiết lập cõi trời, khi Người vạch một vòng tròn trên mặt vực thẳm, khi Người làm cho mây tụ lại ở trên cao và cho các mạch nước vọt lên từ vực thẳm, khi Người định ranh giới cho biển, để nước khỏi tràn bờ, khi Người đặt nền móng cho đất. Ta hiện diện bên Người như tay thợ cả. Ngày ngày ta là niềm vui của Người, trước mặt Người, ta không ngớt vui chơi, vui chơi trên mặt đất, ta đùa vui với con cái loài người” (Cn 8:31). Thiên Chúa tối thượng, nhưng Ngài lại vui thích ở giữa chúng ta – những kẻ hèn hạ.

Vô cùng kỳ diệu đối với công trình sáng tạo của Chúa Ba Ngôi – cả thiên nhiên và tâm linh, cả hữu hình và vô hình. Ngài là “Đấng sáng tạo mọi loài” và là “tác giả của muôn vẻ đẹp” (Kn 13:3). Chúng ta chỉ còn biết cúi đầu cảm tạ và tuyên xưng Ngài không ngừng theo khả năng và nỗ lực của mình.

Sau khi nhìn ngắm thiên nhiên và nhìn lại chính mình, Thánh Vịnh gia đã cảm nhận và rồi bụng bảo dạ: “Ngắm tầng trời tay Chúa sáng tạo, muôn trăng sao Chúa đã an bài, thì con người là chi, mà Chúa cần nhớ đến, phàm nhân là gì, mà Chúa phải bận tâm?” (Tv 8:4-5). Ngài không chỉ “cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy”, mà lại còn “ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên”, và “cho làm chủ công trình tay Chúa sáng tạo, đặt muôn loài muôn sự dưới chân” (Tv 8:8). Muôn loài đó là gì? Là “chiên bò đủ loại, nào thú vật ngoài đồng, nào chim trời cá biển, mọi loài ngang dọc khắp trùng dương” (Tv 8:9). Thật diễm phúc cho loài người chúng ta! Người Việt có câu: “Trời sinh voi, sinh cỏ”. Câu tục ngữ ngụ ý công nhận sự quan phòng của Thiên Chúa, đồng thời cũng mặc nhiên tôn vinh Ngài.

Như vậy là tâm linh, là hữu thần chứ không vô thần, dù bề ngoài người ta không công nhận. Và như thế cũng là tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi. Thật vô lý khi những người tự nhận là vô thần hoặc vô tín ngưỡng mà lại thắp nhang khấn vái, xem tử vi, coi bói toán, cúng sao giải hạn,… Tự mâu thuẫn như vậy để làm gì? Tin vào cái gì và có ích gì? Ca dao nói: “Dẫu xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phước cứu cho một người”. Cứ ngang nhiên cướp của, hại người, rồi thắp nhang khấn vái. Thế là xong ư? Thần linh nào dám chứng giám?

Quả thật, niềm tin và đức tin vô cùng quan trọng trong cuộc sống – dù đời thường hoặc tâm linh. Chính đức tin làm cho người ta được nên công chính. Thánh Phaolô nói: “Một khi đã được nên công chính nhờ đức tin, chúng ta được bình an với Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Vì chúng ta tin, nên Đức Giêsu đã mở lối cho chúng ta vào hưởng ân sủng của Thiên Chúa, như chúng ta đang được hiện nay; chúng ta lại còn tự hào về niềm hy vọng được hưởng vinh quang của Thiên Chúa” (Rm 5:1-2).

Trong lòng có tin thì mới kính sợ Thiên Chúa, nhưng kính sợ như thế nào cho đúng? Tác giả sách Châm Ngôn định nghĩa: “Kính sợ Đức Chúa là gớm ghét điều dữ” (Cn 8:13). Rất ngắn gọn, rất súc tích. Tin khi vui mừng, khi may mắn, đó là chuyện bình thường. Tin khi gian nan khốn khổ mới đáng kể, đó mới là đức tin đích thực. Lửa thử vàng, gian nan thử sức (tục ngữ). Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả, anh hùng hào kiệt có hơn ai? (Phan Bội Châu).

Có nhiều thứ khiến người ta tự hào, nhưng niềm tự hào của Kitô hữu lại khác hẳn với đời thường. Thánh Phaolô đã xác nhận: “Nhưng không phải chỉ có thế; chúng ta còn TỰ HÀO khi gặp gian truân, vì biết rằng: ai gặp gian truân thì quen chịu đựng; ai quen chịu đựng thì được kể là người trung kiên; ai được công nhận là trung kiên thì có quyền trông cậy. Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta” (Rm 5:3-5). Một loạt các động thái liên quan với nhau rất lô-gích. Cũng nhờ tin tưởng mà hy vọng, hy vọng vì yêu mến, và nhờ yêu mến mà được đầy tràn Thần Khí – Chúa Thánh Thần. Thật kỳ diệu biết bao!

Lúc còn tại thế, Chúa Giêsu đã có lần nói với các môn đệ: “Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi” (Ga 16:12). Ngài biết bản tính nhân loại quá yếu đuối, không đủ sức chịu nổi cú “sốc” mạnh. Cái già mới thì cũng lạ, bởi vậy rất cần khả năng tiếp thu và nhạy bén – có người mau, có người chậm. Mưa dầm thấm sâu. Cứ từ từ, chậm mà chắc. Thà vậy còn hơn cổ hủ, cố chấp.

Không phải Chúa Giêsu không muốn nói ra điều bí ẩn, mà Ngài chưa nói, vì phàm nhân chưa đủ mức hiểu, nghĩa là Ngài sẽ nói. Thật vậy, Ngài hứa: “Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến” (Ga 16:13). Rồi chính Ngài đã xác nhận điều liên quan Thiên Chúa Ba Ngôi: “Người sẽ tôn vinh Thầy, vì Người sẽ lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em. Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy. Vì thế, Thầy đã nói: Người lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em” (Ga 16:15). Chúa Thánh Thần đã, đang và sẽ mãi mãi tác động nơi mỗi người chúng ta, vấn đề là chúng ta có theo cách của Ngài hay không.

Mặc dù hèn tài, thiển ý, nhưng chắc chắn chúng ta vẫn có nhiều cách tuyên xưng Chúa Ba Ngôi, một trong các cách đó là làm dấu: Nhân Danh Chúa Cha, và Chúa Con, và Chúa Thánh Thần. Rất đơn giản nhưng lại rất quan trọng. Đúng vậy, chúng ta phải thành tâm LÀM DẤU chứ đừng bây giờ LÀM GIẤU. Sai một ly đi ngàn dặm. Và đừng làm vội vã, làm cho xong lần. Thật ý nghĩa khi chúng ta làm dấu kép: “Lạy Chúa chúng con, vì dấu Thánh Giá, xin chữa chúng con cho khỏi kẻ thù”.

Thánh Phaolô căn dặn: “Dù ăn, dù uống, hay làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa” (1 Cr 10:31). Không quan trọng về việc làm, mà quan trọng về cách làm, đặc biệt là ý làm vì yêu mến Chúa. Nhờ đó mà việc gì cũng có giá trị. Có lần Chúa Giêsu đã “trách yêu” bằng cảnh báo này: “Cho đến nay, anh em đã CHẲNG XIN GÌ NHÂN DANH THẦY. Cứ xin đi, anh em sẽ được, để niềm vui của anh em nên trọn vẹn” (Ga 16:24).

Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi chí thánh, chí minh và chí thiện, xin củng cố đức tin nơi chúng con, xin giúp chúng con sống khiêm nhường và luôn tín thác vào Ngài. Lạy Cha hằng hữu, xin thương xót và tha thứ những tội lỗi do chúng con cứng lòng hoặc yếu đuối. Giờ đây, chúng con nhận thức rằng chúng con sẽ chẳng làm được gì nếu không có Ngài. Xin liên kết chúng con bằng sợi tình thương xót, để chúng con nên một như Ba Ngôi Thiên Chúa. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

Trầm Thiên Thu

NƠI CHÚA GIÊSU THIÊN CHÚA TỎ MÌNH

Chỉ một Thiên Chúa duy nhất, nhưng lại có Ba Ngôi phân biệt rõ ràng: Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Thần. Ba Ngôi phân biệt, tách biệt, khác biệt đến nỗi không hề lẫn lộn, không bao giờ hòa trộn, nhưng lại chỉ là một Chúa. Làm sao giải thích? Hình như càng giải thích càng khó hiểu (?)!

Nhưng dẫu cho cố gắng của ta có khó khăn đến đâu đi nữa, dẫu cho mầu nhiện Thiên Chúa Ba Ngôi vẫn chỉ là một huyền nhiệm đối với trí khôn hạn hẹp, suy nghĩ non nớt của ta, thì không phải vì thế mà ta không thể biết gì về mầu nhiệm cao cả và là mầu nhiệm nền tảng của Kitô giáo.

Trong những năm rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu rất nhiều lần tỏ bày mầu nhiệm Thiên Chúa: Người gọi Thiên Chúa là Cha của mình, nhưng đồng thời Người cũng cho biết: “Ta và Cha Ta là một”.
Khi mạc khải Chúa Thánh Thần, Chúa Giêsu cho thấy Thánh Thần là tình yêu, là quyền năng của Thiên Chúa, là mối hiệp thông, là sự sống và sức sống… giữa Cha và Con.

Dựa trên mạc khải của Chúa Giêsu, chúng ta hiểu rằng:

Nơi Chúa Giêsu, Đấng hóa thân làm người, ta nhận ra Thiên Chúa cụ thể hơn, dễ hiểu hơn. Thiên Chúa tỏ mình nơi khuôn mặt của Chúa Giêsu là Thiên Chúa tình yêu, nhân hậu, tha thứ, Thiên Chúa đau khổ vì tội lỗi nhân loại, đau khổ vì nhân loại đau khổ…

Đặc biệt, khuôn mặt đầy lòng thương xót, vị tha của Thiên Chúa được khắc sâu nơi khuôn mặt thập giá của Chúa Giêsu. Cũng chính nơi thập giá, Chúa Giêsu khắc sâu khuôn mặt quằn quại, đau khổ của nhân loại một cách tuyệt hảo.

Trên hết mọi sự, Thiên Chúa tỏ mình là Thiên Chúa cứu độ, để trong tất cả mọi hành động, mọi lời mạc khải đều nhằm cứu độ con người.

Nơi Chúa Giêsu, Thiên Chúa là Cha chúng ta. Và ngược lại, Người nhận ta làm con của Người. Nhưng ta chỉ là Con Thiên Chúa trong tương quan với Người Con Một duy nhất là chính Chúa Giêsu. Tách rời Người Con Một này khỏi đời mình, ta sẽ đánh mất Thiên Chúa, mất ơn nghĩa mà qua Người Con, Thiên Chúa ban cho ta. Nói tóm lại, chúng ta là những người con trong Người Con (filii in Filio).

Nơi Chúa Giêsu, Thiên Chúa cho ta biết Thánh Thần của Người. Trước khi bước vào cuộc tử nạn, Chúa Giêsu hứa ban Thánh Thần là “Đấng Bảo Trợ” từ nơi Chúa Cha cho các môn đệ (Ga 14, 26).

Sau khi sống lại, Người hiện ra nhiều lần, và thổi hơi ban Thánh Thần, trao nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng cho các môn đệ (Ga 20, 22).

Và trong ngày lễ Ngũ tuần, Chúa Thánh Thần đã hiện đến trên các môn đệ, biến các ông từ những kẻ nhút nhát, trở nên những người mạnh dạn loan báo Tin Mừng.

Đối diện với Thiên Chúa, con người quá bé bỏng. Mầu nhiệm về Thiên Chúa như một bầu trời mênh mông, trí tuệ con người như một cánh chim tung mình trong mênh mông ấy. Cánh chim không thể che phủ cả bầu trời. Nếu muốn che phủ bầu trời, cánh chim phải lớn bằng cả bầu trời. Điều này không thể tưởng tượng.

Thiên Chúa là huyền nhiệm. Nơi Thiên Chúa thật là khó hiểu. Trí tuệ con người không thể hiểu tường tận mọi mạc khải về Thiên Chúa. Muốn hiểu Thiên Chúa cách tường tận, trí tuệ phải bằng Thiên Chúa, điều này không thể tưởng tượng.

Tuy nhiên, nhờ mạc khải, ta nhận ra rằng, Thiên Chúa nơi từng Ngôi một: là Chúa Cha, là Chúa Con, là Chúa Thánh Thần. Ta cũng nhận ra Thiên Chúa duy nhất “không phải trong một Ngôi đơn độc nhưng trong Ba Ngôi cùng một bản thể” (Lời Tiền Tụng lễ Chúa Ba Ngôi): Cha-Con-Thánh Thần.

Con đã từng đến trong trần gian. Mọi hoạt động nhằm cứu độ trần gian đều có Cha và Thánh Thần cùng hiện diện và hoạt động nơi Con.

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

THIÊN CHÚA DUY NHẤT, THIÊN CHÚA BA NGÔI

Càng lớn tuổi, chúng ta càng cảm thấy rằng chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể nói về Thiên Chúa, hay chính xác hơn là chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể in dấu ấn của Ngài trên trái tim con người, cùng lúc với việc Ngài mặc khải chính mình. Sự bất lực của chúng ta càng rõ ràng hơn khi đặt câu hỏi về mầu nhiệm thân tình nội tại của Thiên Chúa, mầu nhiệm tương quan qua lại, mầu nhiệm của ánh sáng Thiên Chúa vốn dĩ phản chiếu chính Thiên Chúa, mầu nhiệm của tình yêu được trao đổi, là Ngôi vị cũng như sự trao đổi, mầu nhiệm về Thiên Chúa Ba Ngôi, Đấng hiện hữu trước khi có trần thế và con người, và vẫn luôn tỏ mình ra trong những gì Thiên Chúa làm cho thế giới và cho con người.

Với toàn bộ Tân Ước, cũng như với các giáo huấn của Giáo hội và lời giảng dạy của sách Đệ Nhị Luật: “Nghe đây, hỡi Israel! Thiên Chúa , Chúa chúng ta, là Thiên Chúa duy nhất” (Đệ nhị luật 6: 4) rõ ràng là chúng ta nắm bắt được điều gì đó chân thật và xác quyết, khi chúng ta chiếu lại đoạn phim về những việc làm vĩ đại của Thiên Chúa, đặc biệt là khi chúng ta suy niệm về việc Chúa Con và Chúa Thánh Thần được sai đến, khi chúng ta nối lại “mạch tình yêu”, vốn bắt đầu từ Chúa Cha và trở về với Chúa Cha; nhưng ở mỗi bước đi đầy ngạc nhiên của chúng ta, chính Chúa Thánh Thần dẫn dắt chúng ta nói lại: Thiên Chúa là Một, Ngài là Một trước thời gian, Ngài là Một khi Ngài mặc khải mình là Ba Ngôi, Ngài là Một trong thời gian hiện tại hôm nay vốn ẩn chứa những gì là vĩnh cửu, khi Thiên Chúa sẽ là tất cả mọi sự trong tất cả mọi người.

Và chúng ta đang sống giữa một nghịch lý, bởi vì con đường tốt nhất để gặp gỡ Thiên Chúa vốn là Thiên Chúa Duy Nhất là suy gẫm về hành động riêng biệt của mỗi một Ngôi vị; đồng thời hành động của mỗi một Ngôi vị cho thấy ý nghĩa đầy đủ của Ngôi vị đó chỉ khi quy chiếu về Thiên Chúa là Thiên Chúa duy nhất.

Đây là một trong những điều mà Thiên Chúa đã giấu không cho những người khôn ngoan và thông thái, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn” (Luca 10:21). Về cơ bản, khi chúng ta vẫn còn sững sờ và không nói nên lời trước những chiều kích thần linh này của Thiên Chúa, thì có lẽ điều đó là do sự yếu kém trong đức tin của chúng ta và do một căn bệnh trong niềm cậy trông của chúng ta. Những người bé mọn thực sự biết cách nói với sự sâu thẳm của mầu nhiệm; họ biết cách nói về Thiên Chúa bằng những lời của Thiên Chúa.

Trong kế hoạch của Thiên Chúa, mầu nhiệm bắt chúng ta tiến bước. Chính sự sợ hãi mầu nhiệm, và từ đó rốt cuộc là sự sợ hãi Thiên Chúa, đã ngăn cản chúng ta mạnh dạn bước vào “chiều sâu của Thiên Chúa”. Và Thiên Chúa không muốn nỗi sợ hãi này,: “Phần anh em, anh em đã không lãnh nhận Thần Khí khiến anh em trở thành nô lệ và phải sợ sệt như xưa, nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên: "Áp-ba! Cha ơi! "!” (Rôma 8,15).

Thiên Chúa biết rõ rằng mầu nhiệm hiệp nhất của Ngài nằm ngoài tầm hiểu biết của chúng ta; nhưng sự trói buộc này biến mất ngay khi chúng ta chấp nhận sống như những người con. Thánh Thần cùng làm chứng rằng chúng ta là con cái của Thiên Chúa: “Chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa” (Rôma 8,15).

Chúng ta phải tự đặt mình vảo trong chính kinh nghiệm làm con này, dù cảm thấy hay không. Phần còn lại sẽ là công việc của Thần Khí: “Quả vậy, phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa” (Rôma 8: 14), những người ấy tự mở rộng mình ra đón nhận mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Chính Thánh Thần sẽ dẫn dắt chúng ta từng chút một vào toàn bộ sự thật, với nhịp bước riêng của mỗi người. Chính Ngài, vào một ngày nào đó, trong lúc chúng ta cầu nguyện, hoặc trong lúc chúng ta phục vụ Tin Mừng, sẽ làm cho chúng ta nắm bắt được, Chúa Cha yêu Chúa Con đến mức nào, Chúa Con là vinh quang của Chúa Cha đến mức nào.

Điều còn lại đối với chúng ta là sống cuộc sống hàng ngày của chúng ta cho Chúa Giêsu Kitô, với sự dâng hiến, sự cô đơn và niềm vui của cuộc sống đó, và giữ cho tâm hồn chúng ta rộng mở để đón nhận mầu nhiệm Thiên Chúa của chúng ta vốn lớn lao hơn tất cả, là Đấng cúi xuống trên mỗi người, nam cũng như nữ, và trên muôn vàn người, để ban sự sống dồi dào.

Tác giả: Tu huynh Jean-Christian Lévêque, OCD, carmel.asso.fr
Chuyển ngữ: Phêrô Phạm Văn Trung.

THẦN KHÍ GIỮA CHÚNG TA

Kinh thánh chẳng lần nào thốt lên từ “ba ngôi” trừu tượng. Nó cũng chẳng bao giờ xác định, như tiếng Hy-lạp thuần lý sau này, rằng có “ba ngôi trong một Thiên Chúa duy nhất”. Mầu nhiệm chủ yếu nhất nơi Thiên Chúa đã chẳng hề được mạc khải qua các “công thức” nhưng qua các “sự kiện”. Ngay Cựu Ước đã nói đến Thiên Chúa như “Cha” (x. Đnl 32,6; Tv 67,6; Is 63,16; Gr 2, 4.19). Và “con” của Người là “dân Ít-ra-en” (x. Xh 4,22; Hs 11,1), đích thân nhà vua (x. 2Sm 7,14; Tv 110,3), hay hạng công chính (x. Kn 2,18; 5,15; 18,13). Cuối cùng ta thấy Thần Khí Thiên Chúa chiếm đoạt một số người (x. St 41,38; Tl 6,43; Is 11,2; Ed 39,29; Ge 3,1). Dĩ nhiên, Cựu Ước đã chẳng minh nhiên mạc khải mầu nhiệm Ba Ngôi nơi Thiên Chúa. Tuy nhiên các tác giả Tân Ước đã lấy lại ngôn ngữ Kinh thánh này hầu diễn tả tất cả tính mới mẻ của “sự kiện Giê-su”: Người hằng ở trước mặt Cha cũng như đã loan báo việc ban Thần Khí. Suy tư Ki-tô giáo sẽ còn mò mẫm dài lâu trong việc giải thích các sự kiện này, trước khi xác định một biểu thức đầu tiên của đức tin trong các ý niệm của triết học Hy-lạp, từ Công đồng Ni-xê (Nicée) năm 325 đến Công đồng Can-xê-đoan (Chalcédoine) năm 451.

1. Thần Khí tăng cường đức tin

Mở đầu trang Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su bảo các môn đệ: “Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ anh em không có sức chịu nổi”. Đây là một kinh nghiệm nhân bản mà chúng ta thường có. Ngay với người thân, chúng ta cũng chẳng “chuyển thông”, chia sẻ được cho họ tất cả những gì đang mang trong mình. Vì như triết học hiện sinh nói, tâm hồn mỗi người là một “huyền nhiệm”. Hôm áp ngày tử nạn, Đức Giê-su cũng đã chẳng có thể nói lên tất cả. Nhưng đây không chỉ là chuyện gặp khó khăn khi diễn tả chính mình song còn là chính mầu nhiệm đức tin, mà người ta chỉ có thể đi vào đó cách tuần tự. Thậm chí các bạn hữu thân tín nhất, kề cận Đức Giê-su lâu ngày, cũng chẳng ý thức được những gì xảy đến và Người là “ai”. Họ có quá nhiều ý tưởng làm sẵn về Thiên Chúa và về Đấng Mê-si-a hẹn hứa của Người. Họ cần phải bỏ mình, thay đổi ý kiến, lớn lên trong đức tin. Chỉ duy thập giá và sự sống lại của Người rồi đây mới có thể phá hủy các xác tín của họ và buộc họ phải tiến tới, như một thứ sốc điện dữ dội.             

Vâng, đức tin là một “tiến trình”. Đấy là một đời sống phải phát triển. Luôn có những điều mới phải khám phá nơi Thiên Chúa, như trong bước phát triển của một quan hệ tình cảm với người yêu, với bạn đời, bằng hữu, đồng nghiệp… Cuộc phiêu lưu đau đớn của các Tông đồ, vốn hầu như chưa hiểu gì về Đức Giê-su hôm trước ngày Người ra đi, cảnh giác ta rằng không nên biến đức tin ta thành một đức tin tĩnh, thủ đắc một lần là đủ… “Tôi có đức tin…” “Tôi không được mất đức tin…”.

Như các Tông đồ, tôi chỉ mới bắt đầu một cuộc khám phá, một cuộc mạo hiểm. Đối với con cũng vậy lạy Chúa, có vô số điều con “còn chưa thể mang nổi”, tuy nhiên Thần Khí Chúa vẫn muốn mạc khải cho con sau này, nếu con biết lắng nghe. Xin giữ thần trí con luôn tỉnh thức trước Thần Khí Người! Xin Thần Khí Người tăng cường đức tin cho con. Chớ bao giờ để con coi mình như đã biết hết, lấy làm tự mãn kiêu căng về những mảnh vụn đức tin thảm hại mình có được.

2. Thần Khí dẫn tới Sự thật

“Khi nào Thánh Thần chân lý đến, Người sẽ dẫn anh em tới chân lý toàn diện”. Từ “dẫn tới” thật là đẹp đẽ, khiến ta tưởng tượng một hướng dẫn viên leo núi. Đây là người biết rõ các lối đi và đường mòn… người yêu mến và thưởng thức ngọn núi mình muốn giúp kẻ khác mến yêu… người đi đầu và giúp tiến bước. Nhưng bạn biết đấy, hướng dẫn viên chẳng bước thế cho bạn. Nếu vì mệt mỏi, bạn từ chối leo cao hơn… thì hướng dẫn viên không thể cưỡng bức bạn. Ông ta có đó chỉ để “hướng dẫn”. Lạy Thần Khí Thiên Chúa, ánh sáng dịu dàng, xin hướng dẫn con kẻo con khước từ leo núi… Và chớ chi con tìm thấy trên đường mình đi nhiều hướng dẫn viên anh em được Ngài sinh động. Vì quả thực đức tin, việc khám phá mầu nhiệm Thiên Chúa, đúng là một “cuộc leo núi”, đạt đến một chóp đỉnh mà chẳng ai có thể tới một mình, song phải được dắt dẫn bởi một vị thầy, một hướng đạo viên biết các bí mật.

Các Công đồng, trong nhiều thế kỷ, sẽ tìm cách hiểu những từ này của Gio-an… và rốt cục khẳng định rằng Thần Khí thật là một “ai đó”, một nhân vật, biết mầu nhiệm thân sâu của Thiên Chúa tự bên trong, để có khả năng “dẫn” loài người đi vào. Trong ảnh thánh Ba Ngôi của Andrey Rublev (xin xem lại bài chú giải Chúa nhật 6 Phục sinh năm C), Thánh Thần là nhân vật thứ ba, có bộ mặt hoàn toàn giống hai nhân vật kia, Cha và Con, nhưng đang khi âu yếm nghiêng đầu phía hai vị, hoàn tất chuyển động “vòng tròn hoàn hảo” thì trong thực tế lại nhìn về trái đất, về con người đang cầu nguyện trước ảnh thánh, để “mở” và “truyền” cho đương sự chính chuyển động của Thiên Chúa: Tình Yêu!

Thánh Thần chân lý! Chân lý toàn vẹn! Nhưng coi chừng! Khi liên can đến Thiên Chúa, chân lý không chỉ là một thái độ trí thức…y như tri thức về một con người mà ta muốn yêu mến. Vấn đề trước hết không phải là quan sát, đo lường, học hiểu, đặt dưới kính hiển vi… nghiên cứu cách khoa học, như người ta nghiên cứu một “sự vật”. Đây thuộc một trật tự khác. Biết “một ai” là đi vào quan hệ với con người nầy. Bảo mình “tin mà không hành đạo” là một tự thú nghiêm trọng, nếu cách làm ý thức và thật sự có suy nghĩ. Một tình yêu chẳng thực hành là thứ tình yêu gì? Một tương giao chẳng đem sống là kiểu tương giao gì? Nhất là đối với Thiên Chúa! Lạy Thánh Thần chân lý, xin dẫn chúng con tới chân lý “toàn vẹn”! Vì chúng con hiểu rằng trên đời này, chỉ có một Chân lý bao trùm mọi chân lý: Thiên Chúa là Tình Yêu!

“Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến”. Ta nghĩ ngay tới tiếng vọng. Có một liên tục hoàn toàn giữa Chúa Cha, Đức Giê-su và Thánh Thần. Cũng một tiếng nói được dội lại nhiều lần, cách khác nhau. Thánh Thần chẳng nói gì khác ngoài chuyện Đức Giê-su. Người sẽ giúp các môn đệ thấu hiểu sự thật được bày tỏ đầy đủ nơi Ngôi Lời nhập thể. Mà Đức Giê-su lại là sự thật duy nhất và chung quyết về Thiên Chúa. Có thể tóm thành công thức: “Chúa Cha là nguồn mạch sự thật; Chúa Con bày tỏ sự thật và Chúa Thánh Thần giúp hiểu sự thật”. Tất cả những gì người ta từng nói trước đó và có thể nói sau đó về Thiên Chúa… mà chẳng tương ứng với những gì Đức Giê-su cho thấy về Người, thì đều giả tạo! Đấy là một Thiên Chúa dỏm! Và phải cùng với Thánh Thần điều chỉnh lại nhiều ý tưởng sai lạc về Thiên Chúa.

3. Thần khí đưa về Thiên Chúa

“Người sẽ tôn vinh Thầy, vì Người sẽ lấy những gì của Thầy và loan báo cho anh em”. “Tôn vinh Thầy” nhờ cho môn đệ ngày càng thấy sâu xa hơn sự nghiệp và thân thế của Thầy. Chúng ta đã biết Đức Giê-su là Con hoàn hảo, trọn vẹn hướng về Cha. Người “chẳng tự mình làm bất cứ điều gì, ngoại trừ điều Người thấy Chúa Cha làm; vì điều gì Chúa Cha làm, thì Người cũng làm như vậy. Quả thật, Chúa Cha yêu Chúa Con và cho Con thấy mọi điều mình làm” (Ga 5,19-20). Mầu nhiệm thâm sâu của Ba Ngôi nằm ở chỗ mỗi ngôi đều hoàn toàn trong suốt đối với hai ngôi kia. Ở đây Đức Giê-su mạc khải cho ta biết Thần Khí đi vào trong tác động “nên trong suốt đối với nhau” này. Các quan hệ tình yêu giữa Ba Ngôi Thiên Chúa chẳng có chút thu mình nào, chẳng có chút giấu giếm nào: mỗi một trong ba đều chẳng giữ gì cho mình cả. Hết thảy đều được chia sẻ, chuyển thông, trao ban… và hết thảy đều được đón lấy, tiếp nhận! Các từ của chúng ta đều què quặt, không thể nói lên tính chất kỳ lạ của mối tương quan nối kết Cha, Con với Thánh Thần. Mọi tương quan nhân loại của chúng ta đều bắt nguồn từ đó! Chóp đỉnh không thể vượt qua của Thiên Chúa, đó là mạc khải về Ba Ngôi.

Nhưng Ba Ngôi trước hết chẳng phải là một thứ ẩn ngữ, một phương trình toán siêu đẳng đối với hạng trí thức ưu tú… song là một thực tại hết sức đơn giản “giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết, nhưng được mạc khải cho những người bé mọn” (Mt 11,25). Vì nói về Thiên Chúa cũng là nói về con người, “được dựng nên giống hình ảnh của Người”. “Đứa bé sơ sinh chẳng biết mình có một gia đình. Nhưng ngay từ những tuần đầu tiên, nó mơ hồ cảm thấy mình được một tình yêu vây bủa… Nó cảm thấy quanh nó có một lòng âu yếm đáp ứng mọi đói khát và kêu la của nó. Nó trước hết cảm thấy lòng âu yếm đó như “một” cái gì chưa rõ, nhưng toàn năng và tốt lành. Chỉ cần nó khóc là “cái ấy” tới… Với thời gian, nó rốt cục cảm nhận được rằng sự hiện diện này đa dạng, song vẫn không ngừng là “một”: giọng thanh và giọng trầm, mặt mượt mà và mặt đầy râu, tay mềm mại và tay cứng cát… Sống quanh nó có nhiều người song cũng chỉ cho nó một tình yêu…” (Rey-Mermet). Chính bằng cách này mà những kẻ đơn sơ khám phá mầu nhiệm Gia đình Thiên Chúa. “Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy. Vì thế Thầy đã nói: Người lấy những gì của Thầy và loan báo cho anh em”. Một lời đáng kinh ngạc, gây bối rối. Một bác thợ mộc tầm thường ở Na-da-rét, một kẻ nghèo hèn bằng xương bằng thịt, hôm áp ngày bị chính quyền lẫn giáo quyền trong nước kết án tử, lại dám khẳng định “tất cả những gì thuộc về Thiên Chúa đều thuộc về mình”. Mà đây không phải là lần duy nhất trong Tin Mừng Đức Giê-su gợi cho thấy sự hợp nhất kỳ lạ giữa Người với Thiên Chúa. Đức Giê-su, đó là Thiên Chúa hữu hình (ta có thể nói thế, vì thực ra thần tính, ngay cả trong Đức Giê-su, vẫn vô cùng vượt quá sự hiểu biết của chúng ta). Và Thần Khí, đó là Đức Giê-su được lấy lại và được lặp lại không ngừng giữa trái tim chúng ta. Có thể tạm công thức hóa như sau: “Chúa Cha là Thiên Chúa giấu mình trong vũ trụ tạo vật; Chúa Con là Thiên Chúa tỏ mình trong thân xác phàm nhân; Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa tung mình trong tâm hồn con người”, hay nói cách khác: “Chúa Cha là TC ở trên chúng ta, Chúa Con là TC ở bên chúng ta và Thánh Thần là TC ở trong chúng ta”. Thần Khí đưa về Đức Giê-su. Và Đức Giê-su đưa về Chúa Cha vô hình. Tôi chiêm ngưỡng sự hiệp nhất và khác biệt này… sự hiệp thông giữa những ngôi vị “tuy nhiều nhưng nên một”: nguyên mẫu của con người, chương trình của mọi công cuộc, mọi gia đình, mọi xã hội. Một “chóp đỉnh” đích thật phần nào khó vươn tới. Chúng ta có để mình được “dẫn đến” đó không?

Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

THIÊN CHÚA LÀ CHA VÀ CON VÀ THÁNH THẦN

Trong đời sống đức tin của chúng ta, mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm căn bản, trọng tâm của các mầu nhiệm khác. Đã là mầu nhiệm, với sự giới hạn của con người, chúng ta không thể hiểu biết cách thấu đáo nếu không được mặc khải. Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi – Nhất Thể mà lại Tam Vị quả thật là một mầu nhiệm vượt lên trên trí hiểu của con người. Vì thế, chúng ta chỉ có thể biết được phần nào qua sự mặc khải của chính Đức Giêsu, Đấng từ trời xuống thế và hiện hữu giữa trần gian trong vai trò Thiên Chúa làm người.

Tuy nhiên, nếu muốn biết phần nào về Thiên Chúa Ba Ngôi, trước tiên, chúng ta phải biết được về căn tính của chính Đức Giêsu, bởi lẽ, Ngài là trung gian duy nhất dẫn đưa chúng ta vào mối thông hiệp của Thiên Chúa. Cũng chính vì nhờ Ngài, với Ngài và trong Ngài, chúng ta biết được Chúa Cha và Chúa Thánh Thần.

Đức Giêsu là Ngôi Lời của Thiên Chúa

Khi biết Đức Giêsu là “Logos – Lời” của Thiên Chúa, đến từ Thiên Chúa, Đức Giêsu đã chứng minh cách cụ thể chân tính ấy nơi những mặc khải của Ngài ngang qua những hành động như: cho người mù được sáng mắt; kẻ què được đi; người phong hủi được sạch; người điếc được nghe cùng kẻ chết sống lại; và, người nghèo khó được nghe loan báo Tin Mừng (x. Mt 11,4-5; Lc 7,22). Đức Giêsu cũng được ví như hạt giống; là cửa sự sống; cây nho; và cửa đàn chiên… (x. Mt 7,13-14; Ga 12,24; Ga 10,7-9; 14,6; Ga 15,1-2; Ga 10,11; Lc 15,4-7).

Như vậy, Đức Giêsu chính là “Lời” của Thiên Chúa, đến từ Thiên Chúa. Ngài hiện hữu giữa trần gian là để mặc khải về Nước Thiên Chúa, về Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, hầu đưa nhân loại về với Cha trong ý định ban đầu của Người.

Không những chỉ biểu lộ chính mình, Đức Giêsu còn biểu lộ Chúa Cha là Đấng Đồng Nhất với Ngài.

Đức Giêsu mặc khải về Chúa Cha

Mặc khải đầu tiên được khởi đi qua biến cố Đức Giêsu chịu phép rửa tại sông Giođan. Sau khi Đức Giêsu chịu phép rửa bởi Gioan, các tầng trời mở ra và có Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Ngài như chim bồ câu, đồng thời có tiếng Chúa Cha tuyên phán: “Con là Con Ta yêu dấu” (Mt 1,11).

Tiếp theo, Thiên Chúa Cha được mặc khải như là tình phụ tử trong sứ điệp của Đức Giêsu. Điều mới mẻ là: không những Ngài đã giảng về lòng phụ tử của Thiên Chúa, nhưng Ngài còn gọi Thiên Chúa bằng tiếng “Abba” trong lời kinh của Ngài. Tiếng “Abba” thì chỉ một mình Marcô ghi lại (x. Mc 14,36), nhưng cách gọi Thiên Chúa là Cha thì rất nhiều: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha… vì Cha đã mặc khải cho những người bé mọn”(Mt 11,25). Hay: “Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46; x. Ga 17,1.5.11.21.25). Đức Giêsu thường xuyên gọi Thiên Chúa như thế. Sự kiện ấy nói lên tương quan đặc biệt giữa Đức Giêsu với Thiên Chúa, một kinh nghiệm thân ái độc nhất vô nhị mà chỉ mình Đức Giêsu mới có được.

Chính vì sự đặc biệt này mà Ngài đã nói: “Không ai biết được Con trừ phi có Cha, và cũng không ai biết được Cha trừ phi có Con và kẻ được Con mặc khải ra cho” (Mt 11,27). Mặc khải về Chúa Cha còn phát xuất từ kinh nghiệm, lời rao giảng của Đức Giêsu về Nước Thiên Chúa. Đức Giêsu gọi Thiên Chúa là Cha: “Lạy Cha là Chúa trời đất” (Mt 11,25), nghĩa là của toàn vũ trụ. Đức Giêsu cũng đã dạy các môn đệ đọc lời kinh “Lạy Cha” (x. Mt 6,9-13; Lc 11,2-4). Chính tương quan độc đáo ấy đã giúp cho các môn đệ sau biến cố phục sinh nhận ra Đức Giêsu là Con Một của Thiên Chúa.

Ngoài ra, chúng ta có thể hiểu được mặc khải về Chúa Cha qua hình ảnh của một vị Thiên Chúa đầy lòng nhân từ (x. Mt 5,45; x. Lc 6,35); là Đấng giàu lòng thương xót (x. Lc 15,7); là Đấng quan phòng (x. Mt 6,27). Người theo dõi đến cả số phận những con vật nhỏ bé phải “rơi xuống đất” (x. Mt 6,29).

Kế đến, Đức Giêsu đã mặc khải cho chúng ta về Chúa Thánh Thần.

Đức Giêsu mặc khải về Chúa Thánh Thần

Khởi đầu mầu nhiệm Nhập Thể, Chúa Thánh Thần đã ngự xuống trên Đức Maria (x. Lc 1,35). Tiếp theo là vai trò của Chúa Thánh Thần trên cuộc đời của Đức Giêsu: Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Đức Giêsu khi Ngài chịu phép rửa dưới hình chim bồ câu (x. Lc 3,22). Chúa Thánh Thần đã dẫn Đức Giêsu “vào hoang địa bốn mươi ngày” (x. Lc 4,1-2). Chính Đức Giêsu đã xác nhận:“Thần Khí Chúa ngự trên tôi, sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó…”. Khi trừ Quỷ, Đức Giêsu đã khẳng định quyền năng của Ngài đến từ Thánh Thần (x. Mt 12,28). Ngài cũng đề cao vai trò của Chúa Thánh Thần trong việc từ chối hay đón nhận. Đón nhận thì được tha, khước từ thì bị hủy diệt (x. Mt 12,31-32).

Rồi Đức Giêsu đã hứa ban Chúa Thánh Thần trên các Tông đồ: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Ðấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Ðó là Thần Khí sự thật.” (Ga 14,15-17); “Khi Đấng Bảo Trợ đến, Đấng mà Thầy sẽ sai đến với anh em từ nơi Chúa Cha, Người là Thần Khí sự thật xuất phát từ Chúa Cha, Người sẽ làm chứng về Thầy” (Ga 15,26-27; x. 16,13). Khi mọi sự đã hoàn tất trên thập giá, Đức Giêsu đã gục đầu xuống và trao Thần Khí (x. Ga 19,29-30).

Cuối cùng, sau khi phục sinh, Đức Giêsu đã trao bình an và sứ vụ rao giảng Tin Mừng cho các môn đệ, đồng thời cũng trao ban Chúa Thánh Thần kèm theo quyền tha tội cho các ông (x. Ga 20,22-23).

Như vậy: “Loài người có thể đến cùng Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể, trong Chúa Thánh Thần, và được thông phần bản tính Thiên Chúa (x. Ep 2,18; 2 Pr 1,4). 

Sống tinh thần mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi

Ngày chúng ta lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, chúng ta được trở nên thụ tạo mới, được mang danh là người Kitô hữu, được trở nên hình ảnh sống động của Đức Kitô. Nói theo ngôn ngữ của Thánh Tôma Aquinô thì: nhờ Bí tích Rửa Tội, chúng ta trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô; được trở nên đền thờ của Chúa Thánh Thần; chúng ta được Thiên Chúa yêu thương: “Ta sẽ cư ngụ và đi lại giữa họ, sẽ là Thiên Chúa của họ và họ sẽ là dân riêng của Ta.” (2 Cr 6,15).

Vì vậy, qua Bí tích Rửa Tội, chúng ta được rửa tội nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Kể từ đây, trong ta có Chúa và trong Chúa có ta. Ta và Thiên Chúa chung nhau một giòng máu qua Đức Giêsu. Lời cầu nguyện của Đức Giêsu giúp ta hiểu được mầu nhiệm tình thương này: “Lạy Cha chí thánh, xin gìn giữ các môn đệ trong danh Cha mà Cha đã ban cho con, để họ nên một như Chúng Ta” (Ga 17,11).

Mong sao, trong đời sống của chúng ta, nơi gia đình, xóm làng, Giáo xứ, hội đoàn… luôn biết yêu thương, đùm bọc nhau. Hãy noi theo hành động xuất ngoại của Thiên Chúa khi Ngôi này vì Ngôi kia và ngược lại nhưng vẫn chỉ là một Thiên Chúa duy nhất.

Lạy Thiên Chúa là Cha và Con và Thánh Thần, xin ban thêm đức tin cho chúng con, để chúng con tin vững vàng, phó thác trọn vẹn và yêu mến hết lòng nơi Thiên Chúa. Xin cũng cho chúng con biết yêu thương nhau và sống đúng vai trò của mình trong cuộc sống hằng ngày theo khuôn mẫu Thiên Chúa Ba Ngôi. Amen.

Giuse Vinhsơn Ngọc Biển, S.S.P.

MẦU NHIỆM THIÊN CHÚA BA NGÔI

Để diễn tả những bí nhiệm ở trong mỗi một con người, ông bà ta thường hay nói: “Sông sâu còn có kẻ dò, mấy ai lấy thước mà đo lòng người.” Hoặc là “Sông sâu còn có kẻ dò, lòng người nham hiểm ai đo cho tường?” Thật vậy! Mỗi một con người là một vực thẳm không dò, là một huyền nhiệm mà không ai có thể nào hiểu thấu được.

Nếu giữa người với người, đang sống sờ sờ ngay trước mặt, mà chúng mình còn không thể hiểu được nhau, thì thử hỏi người ta có thể dùng lý trí hạn hẹp của mình, để nhận biết được màu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi không? Thưa không, bởi vì Đức Chúa đã phán:“Trời cao hơn đất chừng nào thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy” (Is 55:9).

Thế nhưng, điều đó không có nghĩa là chúng ta hoàn toàn mù tịt, và không biết tí gì về Màu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, bởi vì Thiên Chúa đã để lại những dấu vết về thực thể Ba Ngôi của Ngài trong công trình tạo dựng và trong Cựu Ước (Giáo Lý Toát Yếu # 45), và chính Đức Giêsu đã mạc khải cho chúng ta biết về Thiên Chúa Ba Ngôi: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha…Đấng Bảo Trợ mà Thầy sẽ sai đến với anh em từ nơi Chúa Cha, Người là Thần Khí sự thật phát xuất từ Chúa Cha (Ga 14:9; 15:26).

Và để có thể hiểu một chút về màu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, thánh Augustine khuyên chúng ta rằng, ta cần có một tâm hồn đạo đức, trong sạch, đầy ơn Chúa, và có một tâm hồn khiêm hạ. Thánh nhân khẳng định rằng, chỉ có những ai có một tâm hồn đạo đức, trong sạch, đầy ơn Chúa, sống khiêm tốn, thì người ấy mới được Thiên Chúa mạc khải cho biết màu nhiệm cao cả của Thiên Chúa Ba Ngôi mà thôi!

CÓ ĐƯỢC MỘT TÂM HỒN ĐẠO ĐỨC:

Là phải sống đạo và làm cho đức tin của mình được vững vàng, phát triển và lớn mạnh, bằng cách đi tham dự thánh lễ thường xuyên hơn, sốt sắng tham dự những giờ Chầu Thánh Thể, siêng năng đọc Kinh Thánh mỗi ngày, cầu nguyện trong mọi hoàn cảnh, ở mọi nơi, mọi lúc, và nhất là siêng năng chạy đến làm hoà với Chúa qua bí tích Giải Tội.

CÓ MỘT TÂM HỒN TRONG SẠCH, ĐẦY ƠN CHÚA:

Là phải tránh xa những cám dỗ, những thú vui xác thịt, bằng cách gìn giữ đôi mắt, tôn trọng thân xác của mình cũng như của người khác, không nói chuyện bù khú, tục tĩu, không xem những phim ảnh dâm ô trên internet, trong sách báo…

CÓ MỘT TÂM HỒN KHIÊM NHU:

Nghĩa là, bạn và tôi phải nhận ra rằng thân phận của ta chỉ là bọt bèo, chỉ như một bông hoa sớm nở chiều tàn. Tôi chỉ là một thụ tạo, tất cả những gì tôi đang sở hữu như nhà cửa, bằng cấp, tài năng, xe cộ, tiền bạc, tàu thuyền…đều là của Chúa ban cho, chứ tự bản thân tôi chẳng có chi cả!

Bạn thân mến, thánh Gioan Kim Khẩu đã nói: “The mystery of [Trinity] does not need to be proved but simply proclaimed.” Thánh nhân khuyên rằng, thay vì dùng những kiến thức, những lý trí thuần tuý của con người, hay những phương cách lý giải, biện luận để thuyết phục và chứng minh rằng, chỉ có Một Thiên Chúa duy nhất nhưng có Ba Ngôi Vị, Ba Ngôi Vị nhưng chỉ là một Thiên Chúa duy nhất…thì tốt hơn, bạn và tôi hãy tuyên xưng niềm tin ấy.

Tuyên xưng bằng cách nào? Xin thưa, bạn và tôi hãy tuyên xưng màu nhiệm một Thiên Chúa duy nhất, nhưng có Ba Ngôi vị, bằng cách sống yêu thương, khiêm nhường và sống hiệp nhất với nhau, bởi vì Thiên Chúa chính là tình yêu (1 Ga 4:8) và Ba Ngôi Thiên Chúa luôn luôn thông hiệp và sống liên kết với nhau một cách rất chặt chẽ “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người… Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha…Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Mt 17:5; 26:39; Lc 23:46).

Chúng ta hãy cầu nguyện cho nhau, để bạn và tôi luôn có một tâm hồn đạo đức, trong sạch, đầy ơn Chúa, biết sống khiêm tốn, luôn coi người khác trọng hơn mình, không khoe khoang, không tự cao tự đại, nhận biết mình chỉ là thân cát bụi…để nhờ vậy, màu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, sẽ càng ngày càng được mạc khải rõ nét hơn cho chính chúng mình, và cho những người xung quanh.

Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

CẢM TẠ CHÚA VÌ VINH QUANG CAO CẢ CHÚA

Chúng ta mừng lễ Ba Ngôi Thiên Chúa sau lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Nhờ Chúa Thánh Thần, chúng ta hiểu được Lời Chúa Giêsu và từ đó chúng ta đi tới sự thật toàn vẹn. Mỗi tín hữu đều có cảm nghiệm riêng của mình về Thiên Chúa, và nhận thấy Thiên Chúa không đơn độc, nhưng là kết hợp mật thiết giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. 

Với trí khôn loài người thì thật khó có thể hiểu Một Thiên Chúa mà có Ba Ngôi. Dựa vào hai bài đọc và bài Phúc Âm Gioan hôm nay, chúng ta thử tìm hiểu Ba ngôi Thiên Chúa qua Lời Chúa. 

KHÔN NGOAN LÀ AI?

Bài đọc 1 sách Châm Ngôn hôm nay (Cn 8:22-31) nói về Khôn Ngoan, là ‘người’ được Thiên Chúa tạo dựng nên trước cả trời đất để chuyển đạt tình yêu Thiên Chúa và dẩn dắt chúng ta sống cuộc sống an bình. Khôn Ngoan đi song hành với Tân Ước về Chúa Thánh Linh bằng nhiều cách. Dù không thể cắt nghĩa Thiên Chúa Ba Ngôi một cách hữu lý, chúng ta vẫn thường biểu lộ Ba Ngôi Thiên Chúa bằng hành động của chúng ta. Sách Châm Ngôn là sách “bình thường” nhất trong tất cả các Sách Thánh, chúng ta cũng thấy trong đó đầy dẫy những lời vắn gọn và có thật. Chương 8 cho chúng ta những suy niệm tuyệt vời về mầu nhiệm Thiên Chúa. “Khôn Ngoan” đã được nhân cách hóa để diễn tả những phương cách mà Thiên Chúa dùng để biểu lộ bản tính Thiên Chúa của Người.

Khôn Ngoan được trình diễn là một nhân vật rất thiết thân với Thiên Chúa. Và trong những bản viết sau này, Khôn Ngoan chính là đặc tính mà con người cần phải có để phân biệt với hoạt động của Thiên Chúa ở trần gian. Khôn Ngoan có tính siêu việt bởi vì nó có trước tất cả mọi sự. Khôn Ngoan được coi như một mầu nhiệm xuất phát từ Thiên Chúa, nhưng đối với chúng ta nó lại rất hữu hình, “được thiết lập ở trên trời”, băng qua “biển cả” xuyên suốt “biên giới,” ở trên “mặt địa cầu của Thiên Chúa”. Khôn Ngoan đã từ Thiên Chúa mà ra và đổ tràn đầy ngay từ khởi đầu, là đồng cộng tác với Thiên Chúa trong tạo dựng muôn loài và cảm thấy hân hoan vui mừng cùng với loài người.

CẢM NGHIỆM VÀ NHẬN THỨC PHÂN BIỆT.

Châm Ngôn là những vần thơ đầy cảm giác huy hoàng lộng lẫy của Khôn Ngoan. Với vẻ đẹp huy hoàng, Khôn Ngoan giống như Thiên Chúa. Nó là tặng vật của Thiên Chúa ban cho loài người. Tặng vật này có thể giúp con người nhìn xa, vượt qua những gì gọi là tầm thường, đi sâu hơn vào ý nghĩa của những biến cố trong đời. Khôn Ngoan không thể đặt ngang hàng với những cố gắng trí tuệ hoặc tập hợp kiến thức hay những con số thống kê. Nó kết hợp rất mật thiết với cảm nghiệm và nhận xét phân biệt. Trên tất cả, nó là một thực thể thần trí không phải là độc lập tư tưởng và luận lý mà là siêu việt trên tất cả những thứ đó.

KẾT QUẢ CỦA CÔNG CHÍNH HÓA

Trong thư gửi tín hữu Roma (Rm 5:1-5), thánh Phaolô bắt đầu biện luận về niềm tin Kitô giáo trong chúa Giêsu Kitô. Ngài trình bày cảm nghiệm của người Kitô hữu và giảng giải ơn cứu độ đã được bào đảm cho người công chính như thế nào. Bài đọc này cho chúng ta thấy màu nhiệm Chúa Thánh Thần đi ra ngoài khuôn mẫu thần học, trở thành một yếu tố tích cực, như men bột trong cuộc sống hằng ngày. Kết quả đầu tiên của việc công chính hóa mà người Kito hữu có được là bằng an, giao hòa giữa những dửng dưng và hy vọng tin tưởng.

Một khi đã trở nên công chính, người Kitô hữu được giao hòa với Thiên Chúa và cảm thấy an bình mà những buồn phiền rối loạn hay đau khổ không thể phá vỡ được. Họ cảm thấy tràn trề hy vọng và hoàn toàn tin tưởng vào ơn cứu độ của Chúa Giêsu. Sự xác nhận hy vọng này -theo kiểu nói của Phaolô- có vẻ nghịch lý: Người Kitô hữu thích khoa trương hay đem điều khác lạ vào trong khung cảnh bình thường của con người rồi cho là hy vọng. Câu 5 nói lên một xác quyết là hy vọng không làm cho ta thất vọng. Thần Linh Thiên Chúa phải hướng dẫn cuộc sống chúng ta, biến nó thành khuôn mẫu và cách sống trong cuộc sống và sống Lời Chúa Giêsu.

HY VỌNG VÀ LẠC QUAN CỦA NGƯỜI KITÔ HỮU

Câu 5 cũng diễn tả “tình yêu Thiên Chúa” đối với chúng ta. Phaolô muốn nói về loại tình yêu mà qua đó Thiên Chúa hướng về chúng ta. Tình yêu này được biểu lộ qua Chúa Giêsu và kéo dài muôn đời bởi Chúa Thánh Thần ngự trị trong chúng ta, thôi thúc chúng ta yêu mến Thiên Chúa. Phaolô quả quyết là dù đau khổ chúng ta cũng vẫn có thể chịu đựng được và phát triển các đức tính để hy vọng tới toàn thắng nếu có Chúa Giêsu là khuôn mẫu trong cuộc sống của chúng ta. Tặng phẩm của Thần Khí không chỉ là một bằng chứng mà còn là tác nhân trung gian để tình yêu Thiên Chúa đổ ra cho chúng ta. Đó là bằng chứng Thiên Chúa hiện diện nơi kẻ công chính. 

HƯỚNG VỀ TRƯỚC ĐỂ HIỂU BIẾT SÂU XA HƠN

Theo Tin Mừng Gioan (Ga 16:12-15), các môn đệ không thể chịu nổi tất cả những Lời Chúa đã nói với họ. Muốn hiểu, trước tiên họ phải nhận thức rằng chỉ có sự toàn thắng trên cái chết của Chúa mới giúp họ được. Đã ba lần Thần Khí sự thật được nói tới để hứa với Giáo Hội. Thấn Khí sẽ “loan báo” cho chúng ta điều sẽ xẩy ra (c.13). Thấn Khí sẽ “loan báo” cho chúng ta những gì mà Thần Khí có được từ Chúa Kitô (c.14). Thần Khí sẽ “loan báo” cho chúng ta những gì lấy được của Chúa Kitô (c.15).

Ba lần tuyên bố đều dùng một động từ để chỉ cùng một hành động: báo trước hay loan báo. Có nghĩa là Thần Khí sẽ tiếp tục những điều đã được thực hiện nơi Chúa Kitô. Nhưng Chúa Thánh Thần sẽ cắt nghĩa cho chúng ta hiểu, sẽ cho biết những ý nghĩa thâm sâu của nó, sẽ làm cho người ta hiểu theo tùy bản văn hay các nền văn hóa khác nhau. Ý tưởng về “mạc khải những điều sẽ xảy ra” không có nghĩa là Chúa Thánh Thần, đấng an ủi có thể làm bất cứ loại mạc khải tiên tri nào về tương lai, nhưng Người hướng dẫn cộng đồng cho họ hiểu chính xác về Chúa Giêsu là Đấng hoàn chỉnh tất cả mọi sự đã hứa trong Kinh Thánh.

SỨ MỆNH VÀ ƠN GỌI

Thần Khí dẫn dắt Giáo Hội đi trong sự thật một cách liên tục và cắt nghĩa những điều thuộc về Chúa Kitô đã được loan báo, giúp chúng ta cảm nghiệm về sự thật có thể tiến tới hiểu biết sâu xa hơn về những điều trong Chúa Kitô. sự và con người linh mục: Chúng ta được gọi để cắt nghĩa cảm nghiệm về niềm tin, cho phép thấu hiểu và nhận biết Thiên Chúa hiện diện trong cuộc sống của mỗi người chúng ta và cả thế giới.

Sứ mệnh của chúng ta thực sự là “lãnh nhận” những gì của Chúa Kitô và “loan báo”, “cắt nghĩa”, “tuyên xưng”, nói đi nói lại cho toàn thể thế giới. Lãnh nhận những gì của Chúa Kitô có nghĩa là cá nhân tiếp xúc một cách sâu xa với Chúa Kito qua cầu nguyện, chiêm niệm và học hỏi. Trong Thần Khí, chúng ta phải hiểu những gì của Chúa Kitô theo cách hiểu biết mới, thực hiện mới theo thời gian. Chúng ta được gọi để xây dựng một nền văn minh công chính, tình yêu và hòa bình dựa trên hiểu biết của chúng ta và tình liên đới với Chúa Giêsu Kitô.

CẢM NGHIỆM VINH QUANG

Gia tăng vinh quang Thiên Chúa là một mạc khải lũy tiến về Thiên Chúa Ba Ngôi. Cảm nghiệm vinh quang là gì? Không phải là tình trạng lâng lâng, mê sảng, ngây ngất như lên đồng lên bóng mặc dù những yếu tố đó thấy nơi những người có được cảm nghiêm sâu xa sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời sống họ. Khi mà sự hiện diện của Thiên Chúa và tư tưởng của Người đến thống trị ý thức và tinh yêu chúng ta, khi nó hiện diện như sờ thấy được với một sức mạnh có ý nghĩa sâu thẳm thấm nhuần tình yêu thì đó là vinh quang.

Khi cảm nghiệm về Thiên Chúa có thể gìn giữ, giúp chúng ta chịu đựng được mọi đau khổ khốn cùng, những lúc tâm hồn đen tối trống rỗng, những cơn khủng khoảng, đa nghi thất vọng, lúc đó chúng ta cảm nghiệm được vinh quang Thiên Chúa. Không cần biết điều gì xẩy ra cho chúng ta, chúng ta có một nhận thức sâu xa là Thiên Chúa ở với chúng ta, chung quanh chúng ta, bảo vệ chúng ta và giữ chúng ta trong bàn tay của người. Thánh Phaolô nói rằng: đây là hy vọng vinh quang, ở đó loài người được khuyến khích phải hân hoan vui sướng. Đây là tặng vật Chúa ban quá lớn lao mà mỗi ngày Chúa Nhật Giáo Hội đều cầu nguyện tung hô: Chúng con cám tạ Chúa vì vinh quang cao cả Chúa.

THIÊN CHÚA THÔNG CÔNG LÀ MỘT MÀU NHIỆM

Thiên Chúa Ba Ngôi là một hiệp thông giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Đây là một mầu nhiệm rất thâm sâu mà phụng vụ lễ Chúa Ba Ngôi hôm nay nhắc lại. Cả thực tế về Thiên Chúa lẫn cách thức hành động của Thiên Chúa đều là một mầu nhiệm. Dù chúng ta không nhận Thiên Chúa có ba ngôi, chúng ta cũng vẫn đưa tay lên mỗi khi làm dấu thánh giá trên người: Nhân danh CHA và CON và THÁNH THẦN.

Để kết thúc bài viết, xin trích dẫn một đoạn viết của thánh Catherine thành Sienna diễn tả về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi qua cuộc đối thoại về “sự quan phòng của Thiên Chúa” (cap 167, Gratiarum action ad Trinitatem). Đoạn này thường được dùng trong phòng đọc ở Rôma để tưởng nhớ một vị thánh cả Giáo Hội được mừng lễ hằng năm vào ngày 29 tháng 4. Đây là lời cầu nguyện tuyệt vời dâng lên Chúa Ba Ngôi mà chúng ta có thể dùng mỗi ngày. 

“Lạy Thiên Chúa vĩnh cửu, Ba Ngôi đời đời, Chúa đã biến máu Chúa Kitô thành quí trọng vô cùng qua sự chia sẻ bản tinh Thiên Chúa của Chúa. Chúa là mầu nhiệm xâu thẳm như biển cả. Càng tìm kiếm con càng thấy, và càng thấy con càng tìm kiếm vì Chúa. Nhưng con không bao giờ thỏa mãn; điều con nhận được sẽ luôn luôn làm cho con ao ước thêm nữa. Khi Chúa đổ đầy tràn hồn con thì con lại thèm khát hơn nữa, và con lớn khôn khao khát hơn nữa vì danh cả sáng Chúa. Con ao ước được ngắm nhìn Chúa trên hết mọi sự; Chúa là ánh sáng thực sự của Chúa.

“Con ngắm nhin và thưởng thức mầu nhiệm sâu thẳm và vẻ đẹp tạo dựng của Chúa với hiểu biết của con. Con mặc lấy cho con hình dáng Chúa và con ngắm nhìn điều con sẽ có. Lạy Chúa Cha hằng có, Chúa đã chia sẻ cho con quyền năng của Chúa và sự khôn ngoan mà Chúa Kito đã tuyên xưng và Chúa Thánh Thần đã ban cho con ước mong yêu Chúa. Chúa là Đấng sáng tạo nên con, Chúa Ba Ngôi đời đời và con là tạo vật của Chúa. Chúa đã biến con thành một tạo vật mới bằng Máu của Chúa Con, và con biết rằng Chúa đã cảm động vì vẻ đẹp của tạo vật của Chúa do Chúa đã tô điểm cho con”.

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

ÔI TÌNH CHÚA BA NGÔI!

Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm lớn lao nhất trọng đạo, vì mầu nhiệm này thuộc về đời sống thâm sâu của bản tính Thiên Chúa. Và đã là mầu nhiệm thì trí khôn con người làm thế nào có thể thể hiểu thấu đuợc! Chỉ cần tin thôi. Sở dĩ chúng ta tin là vì chính Thiên Chúa đã mạc khải cho chúng ta. Nhưng nếu Chúa đã mạc khải thì tại sao Chúa lại không ban cho chúng ta ơn khôn ngoan để chúng ta hiểu?

Thật ra theo đạo, giữ đạo, sống đạo rồi truyền đạo không chỉ lệ thuộc vào sự hiểu biết; mà bằng vào chứng từ và lối sống của chúng ta. Vì thế, trong dịp mừng lễ hôm nay, chúng ta hãy cùng nhau tự hỏi rằng: Ba Ngôi Thiên Chúa nắm giữ vai trò nào trong cuộc sống của mỗi người chúng ta? Và làm thế nào để chúng ta sống điều chúng ta tuyên xưng về Ba Ngôi Thiên Chúa.

Nhìn lại cuộc sống, tôi cảm nhận đuợc một điều là tôi được Ba Ngôi Thiên Chúa bao phủ; cho dù đã nhiều lần tôi chẳng có ý thức gì về việc tuyên xưng hay hành động cuả tôi.

Đã bao nhiêu lần chúng ta làm dấu Thánh gía: Nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần - Amen.

Trong cuộc sống, mỗi khi gặp gian nguy và thoát cảnh hiểm nghèo, chúng ta thuờng dâng lời tạ ơn rồi làm dấu Nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần. Amen.

Đến lúc sinh thì, trong giây phút lâm chung; tôi thuờng nghe một công thức phó linh hồn cho nguời quá cố như sau: Giêsu, Maria, Giuse con phó linh hồn Maria, Giuse, Phêrô hay là linh hồn ABCDE trong tay Chúa, Nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần - Amen.

Phải chăng mỗi lần như thế là chúng ta đặt mình duới sự bảo vệ của Ba Ngôi Thiên Chúa.

Như vậy, dù ý thức hay sự hiểu biết của chúng ta về Mầu nhiệm Ba Ngôi đến độ nào cũng không quan trọng bằng việc đặt mình duới sự bao bọc và yêu thuơng của Ba Ngôi Thiên Chúa bằng chính các việc làm thật đạo đức và ý nghĩa của mình. Nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần.

Ba Ngôi Thiên Chúa thuờng xuyên hiện diện và hoạt động thật mãnh liệt trong cuộc sống, cả những lúc chúng ta không ý thức về sự hiện diện đó; nhưng Ngài vẫn hiện diện; vì Thiên Chúa là Tình Yêu. Đó chính là chân tướng đích thật về Thiên Chúa. Nhưng làm thế nào để thấy được Thiên Chúa. Thật ra có ai thấy Thiên Chúa bao giờ trừ phi người đó được Thiên Chúa tỏ mình ra và câu chuyện sau đây có thể minh họa phần nào lối tư duy nói trên.

Truyện kể như sau:

Một vị vua kia đến cuối cuộc đời cảm thấy buồn chán. Ông nói: “Suốt đời, ta đã thụ hưởng được tất cả những gì mà một con người có thể cảm thụ được bằng các giác quan. Nhưng vẫn còn một điều ta chưa được thấy, đó là ta chưa thấy Chúa. Bây giờ nếu ta chỉ được nhìn thấy Chúa một thoáng thôi thì ta cũng sẽ mãn nguyện mà chết”. Nhà vua tham khảo ý kiến những bậc khôn ngoan, hứa cho họ đủ mọi thứ phần thưởng nếu họ giúp ông thực hiện điều mơ ước ấy. Nhưng chẳng ai giúp được.

Thế rồi có một chàng chăn cừu nghe chuyện trên và tìm đến gặp nhà vua. Chàng nói: "Có lẽ hạ thần có thể giúp Bệ Hạ được". Nhà vua rất sung sướng theo người chăn cừu leo lên nhiều ngọn đồi. Khi đến đỉnh một ngọn đồi nọ, người chăn cừu đưa tay chỉ mặt trời và bảo: "Hãy xem kìa". Nhà vua ngước mắt nhìn lên nhưng liền nhắm lại ngay vì chói quá. Ông bảo: "Nhà ngươi muốn cho ta mù sao!" Người chăn cừu đáp: "Tâu Bệ Hạ, đây chỉ mới là một phần nhỏ của vinh quang Thiên Chúa mà Bệ Hạ còn nhìn không nổi. Thế thì làm sao Bệ Hạ có thể nhìn được Thiên Chúa bằng cặp mắt bất toàn của Bệ Hạ? Bệ Hạ phải tìm cách nhìn Ngài bằng cặp mắt khác". Nhà vua rất thích ý tưởng ấy, nói: "Ta cám ơn ngươi đã mở cặp mắt trí khôn của ta.

Bây giờ hãy trả lời cho câu hỏi khác của Ta: Thiên Chúa sống ở đâu?" Người chăn cừu lại đưa tay chỉ lên trời: "Bệ Hạ hãy nhìn những con chim đang bay kia. Chúng sống trong bầu không khí bao quanh. Chúng ta cũng thế, chúng ta sống trong sự bảo bọc của Thiên Chúa. Xin Bệ Hạ đừng tìm kiếm nữa, mà hãy mở rộng mắt ra để nhìn, mở tai ra để nghe. Thế nào Bệ Hạ cũng thấy được Ngài. Thiên đàng ở ngay dưới chân chúng ta cũng như ở ngay trên đầu chúng ta".

Nhà vua dừng bước, cố gắng nhìn, cố gắng lắng nghe. Thế là một cảm giác bình an lộ rõ trên khuôn mặt của ông. Người chăn cừu nói tiếp: "Tâu Bệ Hạ, còn một điều nữa". Rồi chàng dẫn nhà vua đến một cái giếng. Nhà vua nhìn xuống mặt nước bằng phẳng, hỏi: "Ai sống dưới đó thế?" Người chăn cừu đáp: "Thiên Chúa". "Ta có thể nhìn thấy Ngài không?" "Được chứ, Bệ Hạ chỉ cần nhìn". Nhà vua chăm chú nhìn xuống giếng, nhưng chỉ thấy gương mặt của mình phản chiếu trên mặt nước. Ông nói: "Ta chỉ thấy mặt Ta thôi". Người chăn cừu giải thích: "Bây giờ thì Bệ Hạ đã biết Thiên Chúa sống ở đâu rồi. Ngài sống trong Bệ Hạ đó".

Nhà vua nhận ra rằng người chăn cừu khôn ngoan và giàu có hơn ông. Ông cám ơn chàng và trở về hoàng cung. Chẳng ai biết ông có nhìn thấy Thiên Chúa không, nhưng ai cũng nói rằng có một điều gì đó đã biến đổi trái tim ông, bởi vì từ đó trở đi ông yêu thuơng và đối xử rất nhân hậu với mọi người, không kể thứ bậc và giai cấp.

Giống như ông vua trong câu chuyện, chúng ta cũng được mời gọi làm toả sáng guơng mặt của Thiên Chúa nơi mình. Thiên Chúa là Tình Yêu, vì thế làm cho tình yêu của Thiên Chúa được tỏa sáng là cách sống mầu nhiệm Ba Ngôi.

Anh chị em thân mến,

Thật vậy, điều làm cho Ba Ngôi Thiên Chúa hiện diện trường cửu và bất toàn là Tình yêu. Ba Ngôi trao đổi và làm giầu có Tình Yêu bằng cách trao ban Tình yêu đó cho nhau và cho nhân loại. Như vậy, tuy thế gian và những lực luợng của thế gian nhằm chống đối lại chuơng trình của Thiên Chúa nhưng lại là đối tuợng để Thiên Chúa trao ban Tình Yêu: Tình Yêu dâng hiến, Tình yêu tái tạo, Tình yêu cho đi, Tình yêu sáng tạo…..

Thiên Chúa là tình yêu, nghĩa là Ngài không đơn độc một mình. Nếu như Ngài đơn độc một mình thì Ngài sẽ yêu một mình Ngài một cách ích kỷ vô cùng. Nhưng Ngài là ba: Cha, Con và Thánh Thần. Là ba, nhưng cả ba hoàn toàn yêu thương nhau, hiến tặng sự sống cho nhau, hoàn toàn tương quan, hiệp nhất với nhau: Cha hoàn toàn là của Con, Con hoàn toàn là của Cha và mối tương quan tình yêu và sự sống của Cha và Con là Chúa Thánh Thần, Đấng soi sáng cho chúng ta nhận ra sự phi thường và bí nhiệm của Thiên Chúa.

Tình yêu Thiên Chúa không khép kín ở trong cộng đồng Ba Ngôi, nhưng lan toả trên khắp vũ trụ. Ba Ngôi yêu thương nhau và đối tượng tình yêu của Ba Ngôi là toàn thể nhân loại. Từ trong bầu khí yêu thương của Ba Ngôi Thiên Chúa, chúng ta xác tín rằng tất cả mọi người, dù cho cuộc sống có ra sao, vẫn có một vị trí thật quan trọng trong trái tim nhân hậu và lòng thương xót của Thiên Chúa.

Như vậy, mầu nhiệm mà chúng ta cử hành hôm nay mời gọi chúng ta sống; sống điều mà Thiên Chúa Ba Ngôi đã sống là trao ban Tình Yêu cho nhau và cho nhân loại. Chúng ta cũng cầu xin Thiên Chúa Ba Ngôi ban cho chúng ta biết chia sẻ tình yêu cho nhau và cho tha nhân. Amen!

Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

BA NGÔI TRONG ĐỜI SỐNG NGƯỜI KITÔ HỮU

Chúa Nhật đầu tiên sau Đại Lễ Kính Chúa Thánh Thần Hiện Xuống chính là Đại Lễ Chúa Ba Ngôi. Phụng vụ Lời Chúa chỉ rõ, Chúa Cha là Đấng xếp đặt muôn cõi trời (x. Cn 8,22-31) Chúa Con, Đấng ban ân sủng (x.Rm 5,1-5); Chúa Thánh Thần là Đấng lãnh nhận từ Chúa Giêsu mà rao truyền cho các môn đệ (x.Ga 16, 12-15). Đó là Đại Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh.

Ba Ngôi là gì?

Người Kitô hữu chúng ta được rửa tội "Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần". Khi bắt đầu cầu nguyện, chúng ta làm Dấu Thánh Giá trên trán, trên trái ngực và trên hai vai bằng cách cầu khẩn Thiên Chúa: Nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần: đó là Chúa Ba Ngôi.

Chúng ta không thể tưởng tượng được một Thiên Chúa Duy Nhất trong Ba Ngôi Vị. Chính Thiên Chúa đã mạc khải mầu nhiệm tình yêu của Người qua việc gửi Con của Ngài là Đức Giêsu và Chúa Thánh Thần đến. Chúa Giêsu cũng mạc khải Thiên Chúa là "Cha", bằng cách cho chúng ta thấy, Người chỉ tồn tại qua Cha của Người. Chúa Giêsu là một Thiên Chúa với Chúa Cha. Chúa Giêsu đã hứa với các tông đồ của mình, mười hai người mà Người đã chọn và gửi Chúa Thánh Thần xuống. Chúa Thánh Thần sẽ ở với họ và trong họ để hướng dẫn họ và dẫn dắt họ "đến sự thật toàn vẹn" (Ga 16,13). Như vậy, Chúa Giêsu làm cho chúng ta được biết đến như một người thiêng liêng khác.

Ba Ngôi nhưng là Một: chúng ta không tin vào ba vị thần, nhưng vào một Thiên Chúa trong Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Mỗi Ngôi Vị trong Ba Ngôi là tất cả trong Chúa. Mỗi Ngôi Vị trong Ba Ngôi chỉ tồn tại trong sự hợp nhất với hai ngôi kia trong một mối quan hệ yêu thương hoàn hảo. Vì vậy, toàn bộ công trình của Thiên Chúa là công việc chung của Ba Ngôi và toàn bộ đời sống của người Kitô hữu chúng ta là một sự hiệp thông với mỗi Chúa trong Ba Ngôi.

Dấu Thánh Giá và Thiên Chúa Ba Ngôi

Ngày lễ Chúa Ba Ngôi muốn nhấn mạnh rằng, nhờ ánh sáng của Mầu Nhiệm Vượt Qua mà mầu nhiệm của vũ trụ và lịch sử được tỏ bày trọn vẹn, đó là : "Thiên Chúa là tình yêu" (1 Ga 4,8.16). Để giúp sống và cử hành lễ tình yêu này cho nên, chúng ta cùng nhau nhắc lại rằng việc tuyên xưng niềm tin vào Chúa Ba Ngôi là Cha, Con và Thánh Thần được liên kết với Dấu Thánh Giá. Việc thực hành đạo đức này là dấu chỉ nền tảng đời sống cầu nguyện của người kitô hữu… Dấu Thánh Giá tiên vàn là một sự kiện về Thiên Chúa nhờ Chúa Thánh Thần dẫn dắt chúng ta tới Chúa Kitô, Chúa Kitô mở cửa cho chúng ta bước vào trong tương quan với Chúa Cha. Như thế, Thiên Chúa không còn là Thiên Chúa xa lạ nữa, nhưng là Thiên Chúa đã có tên; Ngài có một tên. Chúng ta có thể gọi Ngài; Ngài gọi chúng ta. Với Dấu Thánh Giá, chúng ta dìm mình trong Thiên Chúa Bà Ngôi.

Ba Ngôi trong đời sống người Kitô hữu

Chúa Giêsu đã mạc khải cho chúng ta mầu nhiệm của Thiên Chúa. Chính Người là Chúa Con, đã làm cho chúng ta nhận biết Thiên Chúa Cha ngự trên trời, và đã ban cho chúng ta Thánh Thần, là tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con. Thần học của Kitô giáo đã tóm tắt chân lý về Thiên Chúa bằng cách diễn tả qua biểu thức: Một bản thể duy nhất trong Ba Ngôi Vị. Thiên Chúa không phải là Ðấng cô độc nhưng là Ðấng thông hiệp trọn vẹn. Vì lý do này, nhân loại, là hình ảnh của Thiên Chúa, luôn tràn đầy tình yêu, là món quà thân yêu được ban tặng cho mỗi người.

Toàn bộ đời sống của người kitô hữu tràn ngập sự hiện diện của Thiên Chúa Ba Ngôi. Trước hết chúng ta được rửa tội nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi. Người rửa tội vừa đổ nước vừa đọc rằng, cha rửa con hoặc tôi rửa ông bà anh chị "Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần". Vẫn Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần khi cử hành Bí tích Hôn nhân, người nam và người nữ được ràng buộc nên vợ nên chồng (A, hoặc E, hãy nhận chiếc nhẫn cưới này làm dấu chỉ tình yêu và lòng trung thành của A, hoặc E, Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần). Lời cầu nguyện vào cuối đời, chúng ta cầu nguyện rằng: Hỡi linh hồn, hãy lìa xa trần thế này, nhân Danh Thiên Chúa là Cha, Đấng đã tạo dựng, Chúa Con, Đấng đã cứu chuộc và Chúa Thánh Thần, Đấng đã thánh hóa với hy vọng rằng Thiên Chúa Ba Ngôi sẽ ban cho người qua đời được hưởng phúc trường sinh.

Tin vào Chúa Ba Ngôi là tin rằng Thiên Chúa là tình yêu, bởi vì từ đời đời, Thiên Chúa đã "có trong mình" một Người Con, Ngôi Lời mà Người yêu thương với tình yêu vô hạn cùng với Chúa Thánh Thần. Như thánh Augustinô nói, luôn có ba thực tại hoặc chủ thể trong mỗi tình yêu: một người yêu, một người được yêu và tình yêu kết hợp họ. Vị giám mục vĩ đại và thánh thiện này đã viết: "Chúa Cha là Đấng yêu thương, Chúa Con là Người được yêu và Chúa Thánh Thần là Tình yêu giữa Cha và Con".

Chúng ta suy niệm Mầu Nhiệm Tình Yêu của Thiên Chúa bằng cách tham dự cách tuyệt vời trong Bí Tích Thánh Thể, Bí Tích Mình Máu Thánh Chúa Kitô, tỏ bày nhiệm tích cứu độ của Ngài. Vì vậy, ngày hôm nay, trong ngày lễ Chúa Ba Ngôi Cực Thánh này, chúng ta hãy gia tăng lòng tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi hiện diện trong cuộc đời chúng ta và sống liên kết mật thiết với Thiên Chúa Ba Ngôi. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

KÍNH THỜ BA NGÔI

(lời nguyện của CP Êlidabet Ba Ngôi)

Ôi Thiên Chúa của con
Đấng Tam Vị Nhất Thể
Là Ba Ngôi Một Chúa
Suốt đời con tôn thờ
Xin giúp con quên đi
Chính mình con bé nhỏ
Để luôn ở trong Chúa
Lặng lẽ và bình an
Giống như thể hồn con
Đang sống trong vĩnh cửu
Không điều gì quấy phá
Sự bình an của con
Không sự gì thế gian
Khiến con phải xa Chúa
Đấng bất biến muôn thuở
Đấng duy nhất của con
Dẫu là ngày hay đêm
Xin cho mỗi giây phút
Đem con vào sâu hút
Trong mầu nhiệm của Ngài
Xin cho hồn con đây
Được bình an vui sống
Trở thành nơi sống động
Như Thiên Đàng của Ngài
Xin cho hồn con đây
Trở thành nơi Chúa ngự
Nơi Ngài thích ngơi nghỉ
Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi
Xin cho con suốt đời
Không để Chúa đơn độc
Nhưng luôn luôn có mặt
Tỉnh thức trong đức tin
Xin cho con trọn niềm
Trọn một lòng thờ kính
Lạy Ba Ngôi chí thánh
Xin tái tạo hồn con.

Trầm Thiên Thu

Mừng lễ THIÊN CHÚA BA NGÔI

(Ga 16,12-15)

Hôm nay mừng lễ Chúa Ba Ngôi
Giáo Hội tuyên xưng một Chúa Trời
Tạo dựng muôn loài cùng vũ trụ
Quan phòng, hiển trị mãi muôn đời.
Theo Ý Chúa Cha, Chúa Chí Linh
Ngôi Hai vâng mệnh bỏ thiên đình
Xuống làm thân phận người trần thế
Tự hiến dâng mình cứu chúng sinh…
Giáo Hội thực thi Thánh Ý Cha
Qua quyền tác động của Ngôi Ba
Tin mừng rao giảng Lời Hằng Sống
Ánh sáng chiếu soi khắp xứ xa...
Tông đồ sứ vụ phải ân cần
Tín hữu ai ai cũng góp phần
Cầu nguyện, làm men, làm muối mặn
Mở mang Nước Chúa đến muôn dân…

(Thế Kiên Dominic)

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.