SUY NIỆM CHÚA NHẬT XVII TN_C

21-07-2022 121 lượt xem

[St 18:20-32; Cl 2:12-14; Lc 11:1-13]

Click vào Mục Lục

TÌNH CHA - + ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

CHÚA NHÂN TỪ LẮM, CỨ XIN - Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

PHẢI CẦU NGUYỆN THẾ NÀO - Bs. Nguyễn Tiến Cảnh, MD

CẦU NGUYỆN THEO THẦY - Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

GÕ CỬA TÌNH YÊU - Thomas Trầm Thiên Thu

HÃY XIN THÌ SẼ ĐƯỢC! - Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

BẢY LỜI CẦU NGUYỆN TRONG KINH LẠY CHA - Phêrô Phạm Văn Trung.

ĐỌC NGƯỢC KINH LẠY CHA - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

LẠY CHA CHÚNG CON - Jorathe Nắng Tím

CẦU NGUYỆN THEO ĐÚNG Ý CHÚA - Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

XIN THẦY DẠY CON CẦU NGUYỆN - Bông Hồng Nhỏ

CHA - Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Thi ca: TÂM SỰ VỚI CHÚA - Viễn Dzu Tử

Thi ca: SUY NIỆM QUA KINH LẠY CHA - (Thế Kiên Dominic)

TÌNH CHA

Trong cuộc sống thực tế, người cha thường hay nghiêm khắc đối với con cái, nhưng lại dạt dào tình thương. Nói đúng hơn, cách thể hiện tình cảm của người cha khác với người mẹ. Tuy vậy, tình cha không kém gì tình mẹ, vừa rộng mở, vừa bao dung. Nếu có nghiêm khắc, là vì muốn cho con nên người, bởi lẽ “thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi”. Cũng trong quan niệm thông thường của người Việt Nam, chữ “tình” rất quan trọng. “Trăm cái lý không bằng một tý cái tình”. Vì tình nghĩa, người ta dễ dàng bỏ qua những thiếu sót, “chín bỏ làm mười”, để quên đi quá khứ và sống hài hoà với nhau trong một làng, một xóm hoặc một đại gia đình.

Trong Kinh Thánh, Thiên Chúa được xưng tụng là Cha. Ngài rất khiêm khắc đối với tội nhân, nhưng lại bao dung đối với những ai thành tâm sám hối. Ngài là Đấng “nổi giận, giận trong giây lát, nhưng yêu thương, thương suốt cả đời. Lệ có rơi khi màn đêm buông xuống, hừng đông về đã vọng tiếng hò reo” (Tv 30,6). Câu chuyện ông Abraham “mặc cả” với Chúa đã diễn tả lòng nhân từ của Ngài. Thời đó, dân thành Xơ-đôm và Gô-mô-ra sống trong tội lỗi và sa đọa, khiến Thiên Chúa bừng bừng nổi giận. Ngài quyết định sẽ trừng phạt họ. Ông Abraham đã “năn nỉ” với Chúa và dần dần từng bước hạ thấp điều kiện. Từ con số năm mươi người công chính, ông đã hạ xuống chỉ còn mười người, nhờ đó mà Chúa thay đổi ý định trừng phạt. Thiên Chúa đã bớt giận trước lời nài xin của ông Abraham và Ngài đã đồng ý: nếu có được mười người công chính thì Ngài sẽ không tru diệt hai thành này. Tác giả sách Sáng thế đã dùng lối văn “như nhân” để diễn tả Thiên Chúa. Ngài nguôi giận trước sự van xin của con người. Nếu đọc tiếp đoạn Sách thánh này, chúng ta sẽ thấy, điều kiện có mười người công chính cũng không đạt được. Thành Xơ-đôm và Gô-mô-ra đã bị lửa diêm sinh từ trời thiêu rụi. Tất cả đã bị tru diệt, chỉ trừ gia đình ông Lót, là người kính sợ Chúa. Khi vừa chạy khỏi thành, bà vợ ông Lót, vì tiếc của quay lại, bỗng hoá thành tượng muối.

Nếu Thiên Chúa kiên nhẫn trước sự xúc phạm của con người, thì con người cũng phải kiên nhẫn cậy trông để thoát khỏi trừng phạt. Người hàng xóm trong Tin Mừng thánh Luca đã kiên trì nhẫn nại để vay bánh vào lúc nửa đêm. Sự kiên trì đã làm thay đổi lòng chai đá của chủ nhà, mà trỗi dậy lấy bánh cho người hàng xóm. Chúa Giêsu đã dùng một tình huống đời thường để liên hệ đến lòng thương xót của Thiên Chúa. Nếu người thường còn làm thế, huống chi Cha trên trời. Hãy kiên trì cầu nguyện. Hãy phó thác nơi Thiên Chúa những lo lắng của cuộc đời. Ba động từ được Chúa Giêsu nhắc tới, đó là: xin, tìm, gõ cửa. Cả ba hành động này đều diễn tả sự kiên nhẫn, lòng cậy trông và tin tưởng phó thác. Thiên Chúa là Cha nhân từ. Ngài luôn lắng nghe những ước nguyện chân thành của chúng ta.

Cầu nguyện làm nên cốt lõi đời sống người tin Chúa. Vì cầu nguyện chính là than thở với Ngài, để trình bày với Ngài về nỗi niềm nhân thế. Cầu nguyện cũng là xin Chúa đỡ nâng trên đường đời còn mang nhiều truân chuyên. Đức Giêsu đã dạy các môn đệ cầu nguyện. Lời Kinh “Lạy Cha” diễn tả mối dây thiêng liêng giữa Thiên Chúa và người tín hữu. Chỉ có Chúa Giêsu mới được gọi Thiên Chúa là Cha, vì Người là Con của Chúa Cha, như Người nhiều lần khẳng định. Lời cầu nguyện mà Người dạy các môn đệ khởi đầu bằng hai chữ “Lạy Cha”, hoặc “Thưa Cha”, hoặc “Cha ơi”. Như vậy, Chúa Giêsu đã cho phép chúng ta gọi Chúa là Cha, giống như bản thân Người. Nói cách khác, nhờ Chúa Giêsu, trong Chúa Giêsu, và với Chúa Giêsu mà chúng ta được gọi Chúa là Cha với tâm tình thân thương trìu mến.

Nếu chúng ta mạnh dạn đến với Chúa và thân thưa với Ngài: “Lạy Cha chúng con ở trên trời”, là nhờ cái chết của Đức Giêsu trên thập giá.  Thánh Phaolô nói với chúng ta: trong Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa đã tha thứ mọi sa ngã lỗi lầm của chúng ta. Đức Giêsu đã giải phóng chúng ta khỏi mọi chướng ngại ngăn bước chúng ta đến gần Thiên Chúa.

Khác với lối cầu nguyện kể lể dài dòng và nhằm phô trương nơi những người biệt phái đã bị Chúa Giêsu kịch liệt lên án, kinh Lạy Cha ngắn gọn, đơn sơ mà lại mang nội dung rất phong phú. Đây là tâm tình đơn sơ của người con thảo thân thưa với Chúa. Điều cầu nguyện ưu tiên là ước mong cho vinh quang Chúa tỏ hiện giữa lòng nhân thế, để mọi người trên thế giới nhận biết Chúa là Cha vinh hiển quyền năng. Tiếp đó là những ý cầu nguyện xin cho bản thân và cho những người anh chị em bạn hữu. “Xin tha tội cho chúng con, vì chính chúng con cũng tha cho mọi người mắc lỗi với chúng con”. Lời kinh khiêm tốn nhẹ nhàng, vừa hướng chúng ta về Chúa, vừa liên kết chúng ta với tha nhân. Lời kinh cũng thể hiện thiện chí sống hài hoà với mọi người nhờ ơn Chúa, để có được trái tim bao dung như Ngài.

Với tâm tình yêu mến, phó thác và cậy trông, chúng ta cùng thưa với Chúa; “Lạy Cha chúng con ở trên trời…”. Chắc chắn lời kinh sẽ đem lại cho chúng ta niềm vui và sự bình an, trong mọi tình huống của cuộc đời. mục lục

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

CHÚA NHÂN TỪ LẮM, CỨ XIN

Khi tội lỗi tràn ngập xứ Sôđôma, Abraham đã van nài Chúa, thậm trí mạc cả với Chúa cho đến khi có được lời Chúa hứa là không tiêu diệt thành Sôđôma nữa nếu như tìm thấy mười người công chính, Abraham đã tìm thấy tột đỉnh của lòng thương xót Chúa là tha thứ.

Xin như Abraham xin

Từ cây sồi ở Mambrê Chúa tỏ cho Abraham biết ý định của Chúa (x. St 18,1), Abraham nhận ra lòng thương xót Chúa, nên khi tội lỗi tràn ngập xứ Sôđôma, Abraham đã dám thưa cùng Chúa : “Chớ thì Chúa sắp tiêu diệt người công chính cùng với kẻ tội lỗi sao? Nếu có năm mươi người công chính trong thành, họ cũng chết chung hay sao? Chúa không tha thứ cho cả thành vì năm chục người công chính đang ở trong đó sao?” (St 18, 24-25) Và ông ỷ nại vào lòng nhân từ Chúa, ông tiếp tục mạc cả với Thiên Chúa cho đến khi có được lời Chúa hứa là không tiêu diệt thành Sôđôma nữa nếu như tìm thấy mười người công chính. Vấn đề là Thiên Chúa nhân từ không bao giờ muốn tiêu diệt thành Sôđôma. Abraham sợ chứng kiến cảnh Thiên Chúa trừng phạt Sôđôma và Gômôrrha. Với lòng thương dân sẵn có, Abraham đã năn nỉ nài van, đến nỗi táo bạo can thiệp cả Thiên Chúa. Lòng Chúa cao cả hơn lòng chúng ta, nếu nói rằng Abraham mặc cả với Chúa, không có sai, vì ông đã giảm giá dần, từ năm mươi người xuống còn mười người. Chúa phán: “Vì mười người đó, Ta sẽ không tàn phá”. Abraham thấy các thành rơi vào cảnh bi đát, sắp bị Chúa tàn phá và ông tìm kiếm một con đường giải thoát cho hai thành. Ông cầu xin tha thiết và đã được Chúa nhận lời.

Xin như Chúa Giêsu dạy xin

Niềm tin vào Thiên Chúa của Abraham bị thử thách, đó cũng là niềm tin của chúng ta nói chung. Vì nhiều khi chúng ta xin mãi mà không được, nên chán nản. Chúa Giêsu dạy chúng ta. : “Khi anh em cầu nguyện, thì hãy cầu nguyện như thế này : ‘Lạy cha…”. Người dạy chúng ta thưa cùng Thiên Chúa là “Cha” nhân từ. Người cũng bảo đả rằng những lời nguyện cầu mà chúng ta dâng lên Chúa Cha sẽ luôn được nhận lời, nghĩa là chẳng những xin mà còn phải tin nữa : “Và Thầy bảo các con: Các con hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ gặp, hãy gõ thì sẽ mở cho” (Lc 11,10). Người lưu ý chúng ta : “Vì hễ ai xin thì được, ai tìm thì gặp, ai gõ thì sẽ mở cho” (Lc 11,10). Tin rằng Chúa không chỉ sẽ nhận lời mà còn trao ban cho chúng ta những điều tốt hơn điều chúng ta cầu xin.

Người bảo chúng ta khi xin cùng Thiên Chúa, như người cha thấy con mình đói, cần bánh ăn, cho dù phải năn nỉ, nài van, thậm trí bị từ chối cũng cứ xin: " Xin đừng quấy rầy tôi, vì cửa đã đóng, các con tôi và tôi đã lên giường nằm rồi". Nhưng khi đã nghe rõ tiếng van nài của người cha vì còn cái mình, ông bạn ấy sẽ trỗi dậy đáp lời !

Các con ông có được bánh ăn nhờ người cha van xin. Thiên Chúa đã ngưng trừng phạt Sođôma nhờ số ít những người công chính vì Abraham nài xin (x. St 18,23-32).

Cứ xin, vì Chúa là Cha nhân từ

Dẫu biết trước rằng con người yếu đuối, luôn phạm tội nhưng Thiên Chúa là Cha nhân từ luôn hết mực tha thứ và dẫy lòng thương xót đối với tội nhân. Chúa là Đấng Vĩ Đại, có quyền trên muôn loài vạn vật nhưng lòng nhân từ Chúa vượt lên trên cả sự vĩ đại của Chúa. Chúa thương xót con người ngay cả khi con người không xứng đáng với điều đó.

Chúa tốt bụng đối với những người không xứng đáng, an ủi những người đau khổ và nâng đỡ những người bị áp bức, ban ơn và chúc phúc nhiều hơn những gì con người đáng được hưởng; nếu hành vi cá nhân của một người được cân bằng đồng đều giữa phẩm hạnh và tội lỗi, thì Thiên Chúa hướng thang công lý về phía điều thiện. Chúa giữ lòng nhân từ tới ngàn đời và không bao giờ rút lời. Chúa ghi nhớ những việc làm của người công chính vì lợi ích của thế hệ con cháu, tha thứ cho kẻ có tội dù làm điều ác do bất cẩn, thiếu suy nghĩ hoặc thờ ơ nhưng biết ăn năn. Chúa nhân từ, nhân từ và tha thứ, xóa sạch tội lỗi của những ai thật lòng ăn năn; tuy nhiên, nếu một người không ăn năn thì họ sẽ bị sự trừng phạt theo điều họ vi phạm.

Abba, Cha ơi, lạy Chúa Thánh Thần, xin cầu thay nguyện giúp chúng con và toàn thế giới. Amen. mục lục

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

PHẢI CẦU NGUYỆN THẾ NÀO

Bài đọc 1 sách Sáng Thế (St 18:20-32) nói về việc Thiên Chúa sẽ hủy giệt hai thị trấn Sodom và Gomorrah vì dân chúng ở đó tội lỗi quá nhiều. Nhưng Abraham đã cầu khẩn Chúa tha thứ vì trong đó cũng có những người công chính. Chúng ta hãy coi cách Abraham cầu xin Chúa và Chúa Giesu dạy chúng ta phải cầu nguyện thế nào.

CẦU NGUYỆN CỦA ABRAHAM

Khi Abraham nghe biết Thiên Chúa sẽ sử phạt hai thành Sodom và Gomorrah trong đó có ông Lot là cháu ông đang cư ngụ, ông bèn cầu xin Chúa tha bằng cách đặt vấn đề thương lượng với Chúa: Vậy Chúa sẽ hủy giệt cả những kẻ vô tội cùng với những kẻ tội lỗi sao? (18:23). Abraham van nài tình thương của Chúa xin đừng hủy giệt cả hai thị trấn này!

Thiên Chúa ra điều kiện nếu trong tỉnh có được 50 người công chính thì Chúa tha cho cả tỉnh. Abraham đã từ từ giảm số người công chính xuống còn 10 người. Sự khác biệt này vẫn còn phù hợp với điều kiện Thiên Chúa đã đưa ra để tha không hủy giệt cả thàng (18:28-32). Sau khi Abraham nắm được điều kiện 50 người công chính thì Thiên Chúa đã phán: “Vì chúng mà ta sẽ tha cho tất cả” (18:26).

Câu chuyện Abraham cứu được thành Sodom không phải là ván bài con số nhưng là ý nghĩa của ơn cứu độ cho những người công chính trong một cộng đồng tha hóa đầy dẫy tội lỗi. Abraham đã can thiệp là vì niềm tin: Yêu Chúa nồng nhiệt thì nhất định không thể thất bại, ngay cả trong những môi trường xã hội tội lỗi, vô luân, đồi bại.

CẦU NGUYỆN LÀM SAO ĐỂ THÀNH CÔNG

Làm sao để cuộc cầu nguyện thành công? Trước tiên phải rõ ràng và dễ hiểu. Thứ đến phải hữu lý và trình bày một cách thuyết phục. Thứ ba, đòi hỏi phải cương quyết và bền chí. Tóm lại phải rõ ràng, hữu lý và kiên quyết, nhất định không bỏ cuộc.

Abraham đã có đầy đủ cả 3 yếu tố căn bản đó. Ông làm nổi bật niềm tin và những đức tính tốt của ông Lot, không phải ông Lot có họ hàng với ông. Dù không nói rõ đòi hỏi của mình, Abraham đã trình bày cho Chúa ước mong của mình làm sao đánh động lòng thương xót của Chúa: Xin hãy cứu những kẻ thờ phượng Chúa và ăn ngay ở lành! Xin hãy tin những người tin tưởng nơi Chúa; xin hãy thương xót những người biết xót thương người. Abraham kiên trì cầu xin cho đến khi Chúa đồng ý với con số 10 người công chính (18:26-32).

Con số 10 không phải là số người trong gia đình ông Lot mà là số người tối thiểu có niềm tin cần thiết để tạo thành một cộng đồng tín hữu, cũng là lý do để có một cộng đồng cầu nguyện theo truyền thống. Con số 10 cũng là số tối thiểu cấn thiết để có cuộc cầu nguyện chung, và số tối thiểu phải có để thi hành việc tế tự trong hội đường.

Khi cầu nguyện, chúng ta nên bắt chước Abraham. Cầu nguyện với một ước muốn rõ ràng, kiên trì và theo ý hướng của Chúa, ngay cả khi chúng ta xin một điều rất nhỏ.

CẦU NGUYỆN LÀ TRỌNG TÂM ĐỜI SỐNG KITÔ GIÁO

Luca đã trình bày cách Chúa Giesu cầu nguyện như là khuôn mẫu để chúng ta noi theo. Cầu nguyện là nói chuyện với Thiên Chúa, đối thoại giữa Thiên Chúa và gia đình nhân loại với tâm hồn cởi mở. Cầu nguyện phải liên tục, vì đó là dấu chỉ của niềm tin đối với Thiên Chúa. Cầu nguyện không phải là gây áp lực để đạt được ước muốn của mình. Cầu nguyện đúng nghĩa là mở rộng tâm hồn mình để cho Chúa Thánh Thần hoạt động, dẫn đưa chúng ta vào đường hướng của Chúa, và làm cho chúng ta trở thành môn đệ Chúa, biết vâng lời chúa Giesu và Chúa Cha là đấng đã sai Người xuống thế. Cầu nguyện để trở nên một với Chúa, nhờ đó chúng ta bước theo Chúa sống đời Kito giáo.

BA GIAI ĐOẠN CỦA CẦU NGUYỆN

Luca trình bày trong bài Phúc Âm hôm nay 3 giai đoạn cầu nguyện. Thứ nhất, Chúa Giêsu dạy các môn đệ và cả cộng đồng Kitô Giáo “kinh Lạy Cha” (11:1-40). Thứ hai phải bền bỉ (11:5-8). Thứ ba hiệu quả của cầu nguyện (11:9-13).

Trong Mátthêu, kinh “Lạy Cha” (6:9-15) nằm trong diễn trình của “bài giảng trên núi”. Luca kể lại khi thấy Chúa Giêsu cầu nguyện thì các môn đệ xin Người dạy các ông cầu nguyện như Gioan đã dạy các đệ tử (11:1-4). Chúa Giêsu đã đáp ứng và dạy các ông kinh “Lạy Cha”. Chúa trình bày cho các ông dưới hình thức một cộng đồng Kitô hữu cầu nguyện chung và nhấn mạnh đến tình cha con mà Thiên Chúa là Cha và là đấng mà người môn đệ Kitô Giáo cần phải có như của ăn hằng ngày (11:3), lòng tha thứ (11:4), và được cứu thoát trong giờ phán xét sau cùng (11:4).

CẦU NGUYỆN CỘNG ĐỒNG

Chúa Giêsu dạy 12 môn đệ kinh “LẠY CHA” với tư cách là Tông đồ, đồng thời cũng là những người đồng trách nhiệm đối với cộng đồng. Đây là kinh cầu nguyện của các Tông đồ, không nhắm vào cá nhân mà là tập thể đồng trách nhiệm và tình liên đới.

Khi cầu nguyện cho “Nước Chúa Trị Đến”, chúng ta tỏ lòng ước muốn được nhìn thấy ngày Chúa khải hoàn, nước Chúa thống trị vinh quang thực sự, không còn là hy vọng mơ hồ mà là một thực tế hiển nhiên. Linh hồn chúng tôi không bao giờ thõa mãn cho đến khi Thiên Chúa được vinh danh và tung hô trước muôn loài. Phải chăng cũng là lời ước nguyện xuất phát tự đáy lòng, khi nào thì thế giới ma quỉ, tội ác và tử thần bị hủy diệt?

Khi chúng ta cầu có đủ cơm ăn, là chúng ta xin điều gì hơn cả cơm gạo và lương thực. 

Chúng ta cầu xin Đấng Sáng Tạo sự sống những nhu cầu đời sống: “Lạy Chúa, xin ban cho chúng con những thứ cấn thiết để chúng con vui hưởng tặng phẩm Chúa ban là sự sống –cơm gạo hôm nay và ngày mai để chúng con sống là một cộng đồng”

Chúng ta cầu xin: “Xin Chúa tha tội cho chúng con cũng như chúng con tha nợ cho những kẻ nợ chúng con”. Câu này phản ảnh nỗi ưu tư của Luca vì của cải sẽ cản trở tình thân hữu trong cộng đồng. Thỉnh nguyện sau cùng rất có thể là ngày cánh chung: Xin đừng phán xét chúng tôi. Đây là thử thách lớn lao cuối cùng và một hấp hối của ác quỉ trước ngày tận thế.

Kinh “Lạy Cha” cũng là kinh của người nghèo, của những người đau khổ cơ cực. Đây có thể là kinh đầu tiên và cũng là kinh cuối cùng mà chúng ta chưa bao giờ đọc trước khi nhắm mắt trong cuộc đời .

TẶNG PHẨM BẢO ĐẢM CỦA CHÚA

Dụ ngôn người bạn gõ cửa mượn bánh vào nửa đêm cũng đưa ra một sứ điệp như một lời cầu nguyện. Ông chủ nhà khó tính nói “tôi đang ngủ, anh đừng quấy rầy tôi, …” so với Thiên Chúa nhân từ thì Thiên Chúa có ban cho chúng ta nước trời không? (Lc 12:32).

Phần kết luận “cứ xin thì sẽ được” (Lc 11:9-13) là để trả lời cho phần của người bạn khó tính bị quấy rầy giữa đêm. Tương tự như vậy, nếu cha mẹ cho con quà tặng tốt thì Thiên Chúa là đấng tốt lành hơn sẽ cho nhiều đến đâu. Kết quả tặng phẩm Chúa ban sẽ vô cùng lớn lao hơn nhiều, hơn cả quà tặng của cha mẹ. Chúa sẽ mở lòng chúng ta để cho Chúa Thánh Thần họat động, mang chúng ta vào đường hướng và mong ước của Chúa, làm cho chúng ta thành những môn đệ thực sự, biết vâng lời Chúa Giesu và Đức Chúa Cha.

Để kết luận, xin trích câu #239 sách Giáo Lý Công Giáo nói về ý tưởng cầu nguyện Thiên Chúa là CHA mà Luca đã nói trong bài Phúc Âm hôm nay:

Khi gọi Thiên Chúa là Cha, ngôn ngữ của đức tin đã chủ yếu nêu rõ hai phương diện: Ngài là nguồn gốc trên hết của vạn vật và có ưu quyền siêu việt –đồng thời Ngài là Đấng nhân hậu và thương yêu lo lắng cho tất cả các con cái mình. Sự dịu hiền phụ mẫu của Thiên Chúa cũng có thể được biểu lộ bằng hình ảnh của người mẹ (Is 66:13; Tv 131:2) và tình mẫu tử nói rõ hơn về tính nội tại của Thiên Chúa, về tình thân mật giữa Thiên Chúa và tạo vật của Ngài. Như vậy ngôn ngữ của đức tin đã lấy trong kinh nghiệm của con người về cha mẹ mình, vì một cách nào đó, cha mẹ là những vị đại diện đầu tiên của Thiên Chúa đối với con người. Nhưng kinh nghiệm cho thấy cha mẹ là những người có thể sai lầm và làm méo mó hình ảnh của tình mẫu tử. Bởi vậy nên nhắc lại rằng Thiên Chúa vượt trên sự phân biệt nam nữ của con người. Ngài không phải người nam cũng chẳng phải người nữ, Ngài là Thiên Chúa. Ngài cũng siêu việt trên tình phụ tử và tình mẫu tử của con người (Tv 27:10), mặc dù Ngài là nguồn gốc và thước đo của hai tình đó (Ep 3:14; Is49:15): không ai là cha như Thiên Chúa. mục lục

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

CẦU NGUYỆN THEO THẦY

Lần ấy thánh I-nha-xi-ô và vài người bạn thực hiện một cuộc hành trình dài. Họ theo một thời khóa biểu bao hàm việc dừng lại ở những khoảng cách đều đặn để cầu nguyện với nhau. Một phu khuân vác, được mướn theo để mang hành lý, quan sát nghi thức đó trong nhiều ngày. Ông thấy việc này tác động lên nhóm tu sĩ, và vì hành trình kéo dài lâu, ông bắt đầu ao ước cầu nguyện với họ. Khi thánh I-nha-xi-ô biết được ước muốn này, ngài mời người khuân vác gia nhập nhóm. Thánh nhân cũng dần dần thấy ước muốn -ngày qua ngày- của người khuân vác được cầu nguyện với họ tự nó là một lời cầu nguyện rất hay. Văn hào Victor Hugo từng bảo: “Một vài tư tưởng là lời cầu nguyện. Có những lúc mà dù cử chỉ thân xác thế nào đi nữa, linh hồn vẫn đang quỳ xuống”.                                                           

1. Cho các kế hoạch của Thiên Chúa

Một sự thu hút tương tự như thế đã xảy ra trong câu chuyện Tin Mừng hôm nay. “Một hôm, thấy Đức Giê-su cầu nguyện…”, môn đệ đã xin Người dạy họ làm việc ấy như Gio-an Tẩy giả đã dạy môn đồ của ông.

Ngày nay, việc cầu nguyện lại được phục hồi cách nào đó. Tuy nhiên, phần lớn loài người bây giờ đều gặp khó khăn khi cầu nguyện. Tất cả chúng ta đều bị ảnh hưởng cách vô thức bởi vô số phê bình của não trạng hiện thời: cầu nguyện là đào ngũ, chớ xin Thiên Chúa làm thế cho bạn, hãy xắn tay áo lên… cầu nguyện là một hành vi ma thuật của người sơ khai không biết các định luật chặt chẽ của thiên nhiên… cầu nguyện là tha hóa, hãy mặc lấy chiều kích con người của mình… không có Chúa cũng chẳng có chủ… hãy từ bỏ những mê tín tối tăm của bạn…

“Người bảo các ông: Khi cầu nguyện, anh em hãy nói: Lạy Cha…” Dân Do-thái đã từng gọi Thiên Chúa là “Cha”… như nhiều tôn giáo khác (x. Hs 11,3; Gr 3,19; Is 63,16; Kn 5,5 v.v...). Tuy nhiên Đức Giê-su đã canh tân từ này, khi mạnh dạn xưng với Thiên Chúa: “Ab-ba” (Ba ơi !)… từ thân mật chưa sử dụng trước Người. Chính từ những gì họ đã nhận thấy về kinh nghiệm độc nhất vô nhị của Đức Giê-su mà các môn đệ đã quả quyết Người là “Con Thiên Chúa” theo một nghĩa hoàn toàn đặc biệt. Khi lấy lại “lời cầu nguyện của Đức Giê-su” là đến phiên mình, chúng ta bạo dạn nghĩ rằng “chúng ta được yêu bởi chính tình yêu mà Chúa Cha đã dùng để yêu Con Một” (Ga 20,17).

“Xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển…” Trong Thánh Kinh, “danh” (tên) biểu lộ con người… “thánh thiện” là cái khiến Thiên Chúa nên hoàn toàn khác nhờ sự siêu việt của tình yêu và của quyền năng Người… Trước khi ngỏ với Thiên Chúa các nhu cầu riêng của mình, chúng ta phải nghe lời Đức Giê-su mà cầu xin theo ý Chúa Cha. Không gì ma thuật, không gì tha hóa trong lối cầu nguyện tuyệt đối vô vị lợi này. “Xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển” là xin bày tỏ sự toàn năng của Cha vốn là đức toàn nhân toàn ái, là tình hiền phụ toàn hảo… xin tỏ cho thấy Cha là Cha… vô cùng tuyệt đối là “cha”… một người cha hoàn toàn khác chúng con, vô cùng là “cha” hơn chúng con. Nếu đặt trong cùng một trái tim tình yêu vốn đã hết sức kỳ diệu của mọi người cha và mọi người mẹ trên trái đất, ta vẫn chỉ mới có một phần rất nhỏ của tình yêu nơi vị Cha ấy, “nguồn gốc mọi chức làm cha, mọi tình hiền phụ” (Ep 3,15).

“Triều Đại Cha mau đến…” Lời cầu thứ hai này gần như đồng nghĩa với lời cầu thứ nhất. Xin Thiên Chúa thống trị! Xin Thiên Chúa, vốn là Tình Yêu (x. 1Ga 4,7-21), sinh động từ bên trong tất cả tạo vật của Người. Chớ gì Tình yêu lên ngôi! Chớ gì Tình yêu làm chủ! Chủ đề “Triều Đại Thiên Chúa” trong Cựu Ước thường xuất hiện (x. 1Sbn 16,30-33; Tb 13,1; Tv 21,28; 28; 67,33-36; 97; 102,19; Is 11,1-9; 33,17-24; 52,7-12; Đn 8,23). Trong tư tưởng Ít-ra-en, vua chúa trần gian chỉ là những “đại diện”: vương quyền thuộc một mình Thiên Chúa. Và chính khi giữ Lề luật Người mà Ít-ra-en làm cho Người hiển trị thật sự.

Vào thời Đức Giê-su, đã từ lâu chẳng còn vua tại Giê-ru-sa-lem như thời Đa-vít và Sa-lo-mon nữa. Do đó nỗi mong chờ Đấng Mê-si-a, bị kích phát bởi cuộc xâm chiếm của ngoại bang, được diễn tả trong kinh cầu nguyện Qaddish của dân Do-thái thế này: “Ước chi Danh vĩ đại của Người được cả sáng trong thế giới Người đã tạo dựng theo tôn ý, ước chi Người làm cho Triều đại Người hiển trị và ơn cứu rỗi (giải thoát) của Người mọc lên, ước chi Đấng Mê-si-a của Người gần đến”. Đức Giê-su công bố Triều Đại Thiên Chúa đến gần, đang hoạt động đó rồi, nhưng không phải cách lừng lẫy… mà như muối men, như hạt giống âm thầm chôn giấu trong lòng người (x. Mt 3,2; 4,17; 10,7; 13,24.31.36.50). Thành thử hiển nhiên là chúng ta không thể dâng lên lời cầu này mà chẳng đích thân hành động để giúp Triều Đại ấy lớn mạnh, trong niềm xác tín về Ngày Cánh chung, lúc sẽ biểu trọn vẹn sự thành công, sự hoàn tất chương trình tình yêu của Thiên Chúa.

Tiện đây xin lưu ý rằng kinh “Lạy Cha” của Lu-ca hơi khác kinh của Mát-thêu. Ông đã thu ngắn, bỏ bớt hai lời cầu (ý Cha thể hiện và cứu chúng con khỏi mọi sự dữ). Chẳng thánh sử nào đã coi mặt chữ các lời của Đức Giê-su nhận từ truyền thống là bất khả xâm phạm. Họ xem kinh Lạy Cha như một hướng cầu nguyện chung hơn như một công thức bất biến. Đức Giê-su đã chẳng cố định hay nghi thức hóa cái gì cả. Và Giáo Hội, ngay từ khởi thủy, đã luôn sử dụng nhiều công thức khác nhau trong phụng vụ của mình… trên một nền tảng duy nhất.

2. Cho các mong ước của chúng ta

“Xin cho chúng con ngày nào có lương thực ngày ấy…” Sau khi đã lấy các “kế hoạch của Chúa Cha” làm của mình, chúng ta bây giờ mới bày tỏ các mong ước của chúng ta. Đức Giê-su gợi lên cho chúng ta ba điều ước: cơm bánh… ơn tha thứ… tự do trước sự dữ…

Ở đây cũng vậy, Lu-ca đã thay đổi bản văn của Mát-thêu. Ông này nói: “Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực cần dùng (TOB, hằng ngày: BJ)”, còn Lu-ca, với một cộng đoàn Ki-tô hữu chắc hẳn rất nghèo, đã thêm một tiểu dị và nhấn mạnh: “Xin cho chúng con ngày nào có lương thực ngày ấy”. Lời cầu này thật khiêm tốn, và dẫu chẳng nói rõ, nó cũng đặt lại vấn đề não trạng ưa giàu của chúng ta. Đức Giê-su đã không ngớt nhấn mạnh rằng chúng ta chớ có lo âu về ngày mai (x. Lc 12,22-32; Mt 6,34). Ngay trong hoang địa thời ra khỏi Ai-cập, dân Chúa đã không thể dự trữ man-na trước cho nhiều ngày (x. Xh 16,4). Từ Hy-lạp “épiousios”, dịch là “cần dùng”, xét trong toàn bộ Kinh thánh, đã chỉ được sử dụng ở đây thôi. Nó nhắc nhớ một từ Hip-ri, cũng hiếm hoi, được dùng tại Cn 30, 8: “Xin đừng để con nghèo túng, cũng đừng cho con giàu có; chỉ xin cho con cơm bánh cần dùng!” Một lời cầu nguyện khó đọc trong các xã hội thừa mứa, song lại là lời cầu nguyện của hết thảy những ai khắp thế giới chỉ sống độ nhật. Nhưng từ “chúng con” mà ta đọc theo Đức Giê-su, buộc ta phải gồm vào lời cầu nguyện của ta hết mọi kẻ thiếu bánh hằng ngày. Tôi không có quyền đọc kinh “Lạy Cha” cho mình tôi thôi. Và nếu lời cầu nguyện của tôi chân thật, nó sẽ thúc đẩy tôi chia sẻ cơm bánh cho những người đói.

“Xin tha tội cho chúng con, vì chính chúng con cũng tha cho mọi người mắc lỗi với chúng con…”. So với công thức của Mt, Lc đã xác định chữ “nợ” bằng cách dịch ra là “tội”: thực thế, chính tội là cản trở lớn nhất đối với Triều đại Thiên Chúa cũng như đối với việc chia sẻ cơm bánh cho anh em! Hơn nữa, Lu-ca còn thêm chữ “mọi/tất cả” để nói chúng ta phải tha thứ cho hết mọi người, nếu muốn chính mình được Thiên Chúa thứ tha. Việc này thiết yếu đối với các Ki-tô hữu đến nỗi Đức Giê-su phải luôn nhắc đi nhắc lại! (x. Lc 6,36; 23,34; Mt 11,19; 26,28; 6,14; 18,23.35; Mc 11,25; Gc 2,13). Niềm vui Thiên Chúa cảm thấy khi tha thứ cho tội nhân do đó trở nên như đá thử vàng đối với hành động của Ki-tô hữu. “Ki-tô hữu là người tha thứ”, một bé gái từng nói với giảng viên giáo lý của mình như vậy. Trước khi đi xa hơn trong lời cầu nguyện của mình, ta hãy dừng lại một chút… để tha thứ tận đáy lòng cho tất cả những ai đã làm hại ta. Và đừng bao giờ bảo việc cầu nguyện là ma thuật, vụ lợi, đào thoát nữa. Đúng hơn, nó là một sự dấn thân bao la, một đòi hỏi khủng khiếp, gần như siêu phàm.

“Và xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ…”. Nhiều nhà chú giải nghĩ rằng ở đây nói về cơn cám dỗ lớn, cơn cám dỗ rất đáng sợ là “bỏ Thiên Chúa”, “mất niềm tin”. Thử thách lớn lao này đã từng khiến Đức Giê-su tự hỏi: “Khi Con Người ngự đến, liệu còn thấy lòng tin trên mặt đất này nữa chăng?” (Lc 18,8). Trong trình thuật về cơn chiến đấu tại vườn Ghết-sê-ma-ni theo Lu-ca, hai lần Đức Giê-su khuyên bảo môn đệ “cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ” (22,40 và 46). Vâng, cám dỗ lớn nhất, đó là từ bỏ Người. Nhưng mọi cám dỗ của chúng ta, mọi yếu đuối của chúng ta, thậm chí những yếu đuối nhỏ nhất, cũng làm chúng ta bỏ Đức Giê-su chút ít. Trong dụ ngôn người gieo giống, Đức Giê-su đã cảnh giác: có những kẻ tin trong một thời gian, rồi bỏ khi gặp thử thách, cám dỗ (x. Lc 8,13). Thành thử mỗi ngày chúng ta cần phải chiến đấu chống lại sự dữ, chinh phục tự do của mình… và khiêm tốn cầu xin Thiên Chúa ơn chẳng đầu hàng, chịu tội lỗi trói buộc.

3. Với lòng kiên trì lì lợm

Qua dụ ngôn tiếp theo vốn chỉ ông có, Lu-ca nêu bật một khía cạnh trong lời cầu nguyện của Đức Giê-su: cầu nguyện xin ơn. Thế mà trong lãnh vực này, cần phải chứng tỏ sự kiên trì đối với Thiên Chúa; điều ấy hết sức quan trọng trước mắt Lu-ca đến nỗi ông sẽ lặp lại giáo huấn này tại chương 18,1-5 với một dụ ngôn khác.

Câu hỏi mở đầu buộc thính giả phải lôi mình vào, phải đưa ra một phán đoán cá nhân, đang khi chính Đức Giê-su sẽ minh nhiên cung cấp cách áp dụng (x. câu 8). Chính toàn bộ câu chuyện dụ ngôn soi sáng các tương quan giữa Thiên Chúa với con người trong lời cầu nguyện. Sẽ sai lầm nếu tách mỗi một yếu tố của nó ra và tưởng tượng rằng lời cầu nguyện sẽ đánh thức Thiên Chúa hay Thiên Chúa đáp lại chỉ để thoát khỏi những kẻ quấy rầy. Này là 3 nhân vật: tay trâng tráo lì lợm có 2 người bạn không biết nhau. Sở dĩ anh ta đến nhà một trong hai người giữa khuya là vì người kia, ở xa, vừa tới nhà anh cách đột xuất, xin ở lại. Lữ khách này du hành ban chiều và một phần ban đêm để tránh cái nóng của ban ngày. Xin lưu ý: người bạn mà kẻ đang ngủ bị lôi dậy muốn đuổi khéo chẳng xin gì cho mình; và chính anh ta mới bị ông khách đến bất ngờ gây phiền nhiễu hơn cả! Anh nại đến tình bạn giữa họ để vay 3 cái bánh, nhưng kẻ kia từ chối theo anh trên bước đường tình cảm này; y chẳng gọi anh là “bạn” và từ chối đánh thức con cái vì phải chỗi dậy. Kết luận của Đức Giê-su đi tự chính việc từ chối hành động vì tình bạn ấy; một động cơ khác sẽ khiến kẻ đang ngủ cho những gì người kia cần: tính lì lợm của sự vận động ban đêm. Lòng kiên trì đã “được trả tiền”, đã mang lại kết quả, như được chứng minh qua cuộc đời các thánh, vốn là những tay đại lỳ trong việc cầu nguyện.

Kết quả đó, theo Lu-ca sau hai minh họa về cha dưới đất và Cha trên trời (cc. 11-13), ấy là chính Thánh Thần, ơn huệ tối cao tối đại mà Thiên Chúa ban cho con cái Người. Thật thế, Thánh Thần sẽ xuất hiện trong sách Công vụ như hồng ân đặc biệt từ trời cao trong thời của Giáo hội (x. Cv 2,33.38). Vì chỉ ánh sáng và sức mạnh của Thánh Thần, được ban qua Lời Chúa và các Bí tích, mới giúp ta sống như con cái Thiên Chúa. mục lục

Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

GÕ CỬA TÌNH YÊU

Chính Chúa Giêsu xác định: “Anh em cứ XIN thì sẽ ĐƯỢC, cứ TÌM thì sẽ THẤY, cứ GÕ cửa thì sẽ MỞ cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở cho.” Nhưng Ngài cũng nhắc nhở thẳng thắn: Đừng lải nhải, chớ lẻo mép, cấm nói nhiều! (x. Mt 6:7)

Như để tái xác nhận, Ngài còn nói thêm: “Ai trong anh em là một người cha, mà khi con xin cá, thay vì cá lại lấy rắn mà cho nó? Hoặc nó xin trứng lại cho nó bò cạp? Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt của lành, phương chi Cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao?” Tin sao thì được vậy. (x. Mt 8:13; Mt 9:29) Đó là hệ lụy tất yếu, đúng như Thánh Don Bosco (1815-1888) nói: “Chính đức tin hoàn thành tất cả mọi sự.”

Có tin thì mới dám “gõ cửa” để cầu xin, vì nhận thấy mình thiếu thốn hoặc không có. Chúng ta không gõ cửa bình thường mà gõ cửa đặc biệt: Cửa Tình Yêu của Thánh Tâm Chúa Giêsu.

Tuy nhiên, trong đời thường, nhiều khi chúng ta có mà vẫn phải xin: Xin lỗi. Thật vậy, văn sĩ Stephen Gosson cho biết: “Một lời xin lỗi vụng về vẫn tốt hơn là im lặng.” Nói đến chuyện xin lỗi thì phải nhắc tới việc tha thứ. Xin lỗi và tha thứ là hai động thái luôn cần thiết và cấp bách, vì đó là động thái của tình yêu thương, lòng trắc ẩn, lòng thương xót.

Năn nỉ hoặc mặc cả cũng là một cách cầu xin. Trình thuật St 18:20-32 cho biết về việc Tổ Phụ Ápraham đã vì người khác mà “mặc cả” với Thiên Chúa.

Chính Thiên Chúa đã xác định: “Tiếng kêu trách Sôđôm và Gômôra thật quá lớn! Tội lỗi của chúng quá nặng nề! Ta phải xuống xem thật sự chúng có làm như tiếng kêu trách đã thấu đến Ta không. Có hay không, Ta sẽ biết.” Ông Ápraham thưa với Đức Chúa: “Chẳng lẽ Ngài tiêu diệt người lành một trật với kẻ dữ sao? Giả như trong thành có năm mươi người lành, chẳng lẽ Ngài tiêu diệt họ thật sao? Chẳng lẽ Ngài không dung thứ cho thành đó, vì năm mươi người lành trong đó sao? Ngài làm như vậy, chắc không được đâu! Giết chết người lành một trật với kẻ dữ, coi người lành cũng như kẻ dữ, chắc không được đâu! Đấng xét xử cả trần gian lại không xét xử công minh sao?” Đức Chúa đáp: “Nếu Ta tìm được trong thành Sôđôm năm mươi người lành, thì vì họ, Ta sẽ dung thứ cho tất cả thành đó.”

Để “mặc cả” với Thiên Chúa, ông Ápraham hạ từ 50 người lành xuống còn 45 người, rồi 40 người, 30 người, 20 người, thậm chí chỉ còn 10 người. Mặc dù đó là con số quá ít, Thiên Chúa vẫn chấp nhận mà không nỡ phá huỷ thành Sôđôm. Quả thật, Thiên Chúa luôn nhẫn nại và chỉ muốn tha thứ. Thế nhưng cả thành phố đó cũng không có được 10 người lành. Nhân loại vẫn bướng bỉnh, cố chấp, ỷ lại và làm ngơ với lòng thương xót của Ngài. Làn ranh giữa “mặc cả” và “lợi dụng” rất mong manh. Chắc chắn ông Ápraham không có ý lợi dụng Lòng Chúa Thương Xót, thế nên chúng ta phải cẩn trọng, chớ ảo tưởng mà hóa ra lợi dụng Lòng Chúa Thương Xót.

Ai cũng biết ma quỷ rất ranh mãnh, đáng sợ nhất là nó cám dỗ chúng ta tưởng là mình thánh thiện. Thật vậy, Thánh Tiến sĩ Têrêsa Hài Đồng (1873-1897) cho biết: “Ma quỷ thường hay đánh lừa những linh hồn quảng đại bằng cách thúc đẩy họ bước vào những hy sinh thái quá, vừa làm hại sức khỏe vừa khiến họ không thể chu toàn bổn phận, đồng thời lại lấy đó làm tự mãn.” Thật kinh khủng! Thảo nào Thánh Phaolô cảnh báo: “Đừng để ma quỷ thừa cơ lợi dụng!” (Ep 4:27)

Ngài biết chúng ta vốn dĩ xấu xa, (x. Lc 11:13) nhưng Ngài vẫn đại lượng: “Chúa tuy thật cao cả, nhưng vẫn nhìn đến kẻ thấp hèn; đứa ngạo mạn ngông nghênh, từ xa Ngài đã biết. Cho dù con gặp bước ngặt nghèo, Chúa vẫn bảo toàn mạng sống con. Địch thù đang hằm hằm giận dữ, Ngài ra tay chận đứng, lấy tay uy quyền giải thoát con.” (Tv 138:6-7) Ngài luôn quan phòng, che chở, giữ gìn chúng ta dù có lúc chúng ta không nhớ đến Ngài. Nếu Ngài nhắm mắt làm ngơ chúng ta chỉ trong giây lát thì chúng ta cũng sẽ chết ngay.

Thiên Chúa thấu suốt mọi sự, (1 Sb 28:9; Gđt 8:14; Et 5:1; 2 Mcb 7:35; 2 Mcb 9:5; 2 Mcb 12:22; 2 Mcb 15:2; G 28:27; Tv 139:2; Cn 16:2; Cn 21:2; Cn 24:12; Kn 1:6; Kn 7:23; Hc 23:19; Hc 42:20; Gr 11:20; Gr 20:12; 1 Cr 12:4-6) không gì có thể che giấu Ngài, dù là điều nhỏ nhoi nhất và tinh vi nhất.

Ước gì chúng ta khả dĩ cảm nghiệm được Thiên Chúa như tác giả Thánh Vịnh để có thể thân thưa chân thành: “Lạy Chúa, con hết lòng cảm tạ, Ngài đã nghe lời miệng con xin. Giữa chư vị thiên thần, xin đàn ca kính Chúa, hướng về đền thánh, con phủ phục tôn thờ. Xin cảm tạ danh Chúa, vì Ngài vẫn thành tín yêu thương, đã đề cao danh thánh và lời hứa của Ngài trên tất cả mọi sự. Ngày con kêu cứu, Chúa đã thương đáp lại, đã gia tăng nghị lực cho tâm hồn.” (Tv 138:1-3)

Hơn bao giờ hết, chúng ta hãy cùng nhau thân thưa với Ngài: “Việc Chúa làm cho con, Ngài sẽ hoàn tất; lạy Chúa, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. Công trình do tay Ngài thực hiện, xin đừng bỏ dở dang.” (Tv 138:8)

Nói về loài người chúng ta, Thánh Phaolô cho biết: “Anh em đã cùng được mai táng với Đức Kitô khi chịu phép rửa, lại cùng được trỗi dậy với Người, vì tin vào quyền năng của Thiên Chúa, Đấng làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết. Trước kia, anh em là những kẻ chết vì anh em đã sa ngã, và vì thân xác anh em không được cắt bì, nay Thiên Chúa đã cho anh em được cùng sống với Đức Kitô: Thiên Chúa đã ban ơn tha thứ mọi sa ngã lỗi lầm của chúng ta.” (Cl 2:12-13)

Quả thật, Thiên Chúa vô cùng đại lượng, cao thượng, từ bi và nhân hậu. Mặc dù chỉ là những “con nợ,” chúng ta chưa mở miệng cầu xin mà Ngài đã tha thứ vô điều kiện: “Người đã xóa sổ nợ bất lợi cho chúng ta, sổ nợ mà các giới luật đã đưa ra chống lại chúng ta. Người đã huỷ bỏ nó đi, bằng cách đóng đinh nó vào thập giá.” (Cl 2:14) Vì thế, chắc chắn chúng ta cũng phải sẵn sàng tha thứ cho nhau, không còn cách nào khác. Đó cũng là loại “đấu” mà Thiên Chúa căn cứ theo đó để “đong” cho chúng ta.

Cầu xin là điều cần thiết, cầu nguyện vừa là hơi thở vừa là lương thực hằng ngày của tín nhân. Có lần một môn đệ xin Ngài dạy cách cầu nguyện, Ngài đã dạy lời cầu tiêu chuẩn nhất: Kinh Lạy Cha. (Lc 11:2-4; Mt 6:9-13) Thật diễm phúc cho chúng ta, bởi vì chỉ là tội nhân bất xứng mà hằng ngày chúng ta vẫn được gọi Thiên Chúa là Cha: “Lạy Cha chúng con ở trên trời…”

Chúa Giêsu kể câu chuyện về “người bạn quấy rầy và việc cầu xin” để minh họa lòng thương xót. Ngài nói: “Ai trong anh em có một người bạn, và nửa đêm đến nhà người bạn ấy mà nói: ‘Bạn ơi, cho tôi vay ba cái bánh, vì tôi có anh bạn lỡ đường ghé lại nhà, và tôi không có gì dọn cho anh ta ăn cả,’ mà người kia từ trong nhà lại đáp: ‘Xin anh đừng quấy rầy tôi: cửa đã đóng rồi, các cháu lại ngủ cùng giường với tôi, tôi không thể dậy lấy bánh cho anh được. Thầy nói cho anh em biết: dẫu người kia không dậy để cho người này vì tình bạn thì cũng sẽ dậy để cho người này tất cả những gì anh ta cần, vì anh ta cứ lì ra đó.”

Là con người, ai cũng bất túc, thế nên luôn cần giúp đỡ nhau. Không ai đầy đủ tới mức không cần nhờ vả người khác. Tương tự, ai cũng là tội nhân, thế nên ai cũng cần xin lỗi – tất nhiên cũng cần kèm theo sự tha thứ. Tất cả đều là anh chị em trong Đại Gia Đình của Thiên Chúa, chắc chắn phải yêu thương và tha thứ cho nhau.

Người ta đưa ra 10 lý do mà chúng ta phải xin lỗi nhau:

1. Vì mình hứa mà không thực hiện cho tha nhân.

2. Vì mình thờ ơ, vô cảm với nỗi đau của tha nhân.

3. Vì mình ích kỷ, vụng về, hiểu lầm nên làm phiền tha nhân.

4. Vì lời nói, hành động của mình, dù vô tình hay cố ý, đã làm tổn thương tha nhân.

5. Vì mình không giúp đỡ tha nhân, và vì những gì mình muốn mà không dám làm.

6. Vì những mối bất hòa, cãi vã, mâu thuẫn,... với tha nhân.

7. Vì mình làm cho chính mình đau khổ và nghĩ xấu về tha nhân.

8. Vì mình cố gắng mà vẫn chưa làm được điều tốt đẹp cho người khác, cho xã hội và giáo hội.

9. Vì mình làm cho tha nhân thất vọng, hụt hẫng, mệt mỏi,...

10. Vì mình thay đổi thất thường, đòi hỏi người khác phải theo ý mình.

Và người ta cũng đưa ra 10 lý do mà chúng ta phải tha thứ cho nhau:

1. Tha thứ người khác về điều dối gian mà họ dành cho mình.

2. Tha thứ người khác về những gì xấu xa nhất mà họ nghĩ về mình.

3. Tha thứ người khác vì họ đã làm mình phải khóc, đau lòng.

4. Tha thứ người khác về sự không chân thành, lãnh đạm, xa lánh,… mà họ dành cho mình.

5. Tha thứ người khác về sự vô tâm của họ trước những nỗi khó khăn của mình.

6. Tha thứ người khác về sự giả dối, chỉ giả vờ quý mến, bằng mặt mà không bằng lòng.

7. Tha thứ người khác về mọi lỗi lầm để cùng nhau sống tích cực và hướng tới điều tốt đẹp hơn.

8. Tha thứ người làm mình tổn thương là tự giải thoát mình để có thể sống thanh thản.

9. Tha thứ chính mình, vì đôi khi mình cũng tồi tệ, cảm thấy ghét chính mình.

10. Tha thứ mọi người về bất cứ lỗi lầm gì, dù nhỏ hay to.

Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII, mệnh danh “cụ già nhân từ,” chia sẻ: “Sinh ra nghèo, do cha mẹ nghèo nhưng khả kính, tôi đặc biệt sung sướng khi được chết nghèo. Bất luận tôi đi đâu, nếu ban đêm có người nào lỡ đường trước cửa nhà tôi, họ sẽ thấy cửa sổ tôi luôn có ngọn đèn sáng. Xin đừng ngại, HÃY CỨ GÕ CỬA. Tôi sẽ không hỏi anh em là Công Giáo hay không, nhưng chỉ xin người anh em CỨ VÀO, sẽ có đôi tay thân ái đón tiếp và TẤM LÒNG THÂN THIỆN NỒNG HẬU RỘNG MỞ.” Ước gì chúng ta cũng sống như ngài!

Lạy Thiên Chúa từ bi và nhân hậu, xin giúp chúng con nhận biết chính mình và đủ vững tin để gõ cửa Thánh Tâm Ngài và gõ cửa lòng nhau, xin ban ơn biến đổi để chúng con phân định đúng đắn, luôn biết làm những gì cần thiết và sinh ích theo ý Ngài. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. mục lục

Thomas Trầm Thiên Thu

HÃY XIN THÌ SẼ ĐƯỢC!

“Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở cho.” Có thật vậy không?

• Anh Bắc cầu xin với Chúa rất chân thành. Anh xin Chúa cho anh được trúng lô độc đắc Mega Ball. Có tiền rồi, anh sẽ về Việt Nam xây trường học, xây nhà thương, giúp cho các trẻ em nghèo, mồ côi và bất hạnh… Nhưng cầu hoài, cầu mãi, tốn bao nhiêu tiền mua vé số rồi, mà vẫn chưa trúng, dù chỉ là một giải nho nhỏ.

• Chị Trung đi cầu khấn ở khắp mọi nơi, chị lái xe qua Đền Thánh Giuse bên Canada, rồi bay qua Đền Đức Mẹ Fatima, tới Đức Mẹ Lộ Đức, về Thánh Địa Lavang, xuôi xuống Cà Mau kêu xin với Cha Trương Bửu Diệp... ngày nào chị cũng cầu nguyện, và đi đâu chị cũng chỉ xin Chúa có một điều, là cho con trai của chị đi tu làm linh mục. Vậy mà đã hơn mười năm nay, Chúa chẳng nhậm lời cầu xin của chị tí nào cả. Riết rồi chị đâm nản, bỏ cầu nguyện, bỏ không khấn xin nữa, bởi vì chị thấy con trai của chị nay thì cặp với cô này, mai lại bồ với cô khác...

• Anh Nam là một người rất hiền lành, siêng năng lao động, và rất đạo đức. Anh đi lễ, đi nhà thờ cầu nguyện, và cả ăn chay hãm mình nữa, anh chỉ xin Chúa có một điều nho nhỏ, là xin cho anh gặp một người con gái thùy mị, nết na, duyên dáng, hiền lành, xinh đẹp, đầy đủ công dung ngôn hạnh... để nên duyên vợ chồng. Vậy mà mấy chục năm đã trôi qua, Chúa cứ làm ngơ, không trả lời trả vốn, cũng chẳng đoái hoài gì đến lời cầu xin của anh.

Có khi nào bạn rơi vào tình trạng giống như anh Bắc, chị Trung và anh Nam, tức là cầu nguyện hoài mà không được, xin hoài mà Chúa chẳng cho, và gõ miết mà cửa vẫn đóng kín mít không? Chúa hứa rõ ràng: “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho," vậy sao Chúa không ban như lòng mình mong ước? Không lẽ Chúa lại hứa lèo? Làm gì có chuyện đó! Ngài là Đấng trung tín, không bao giờ hứa lèo với ai cả! Vậy thì tại sao? Theo tôi, rất có thể, Thiên Chúa không nhậm lời, hay chưa nhận lời khẩn cầu của anh Bắc, chị Trung và anh Nam là bởi vì:

• Thiên Chúa yêu thương anh Bắc lắm! Ngài thấy trước, và biết rất rõ, nếu cho anh Bắc trúng Powerball, có bạc triệu trong tay thì anh ta sẽ gặp nhiều bất hạnh và khốn khổ, sẽ bị cướp viếng, bị trộm thăm, gia đình anh sẽ tan nát và ly tán, bởi vì có lắm tiền rồi thì anh ta sẽ vướng vào cờ bạc, rượu chè, trai gái, thuốc sái… như vậy thì anh Bắc sẽ mất cả phần xác lẫn phần hồn. Vì thế cho nên Ngài không bao giờ cho anh trúng số cả!

• Trong trường hợp của chị Trung thì sao? Chị rất thành tâm, và lời cầu xin của chị chính đáng lắm. Thế nhưng ý muốn và lòng ước ao của chị có thể không phải, hay chưa phải là ý của Chúa. Có lẽ Chúa muốn con trai của chị sống đời sống hôn nhân chăng? Hay Chúa đang để cho con trai của chị có được những kinh nghiệm ngoài đời, rồi sau này mới gọi nó đi theo Chúa thì sao? Con của chị chưa cưới cô nào cả mà!

• Còn trường hợp của anh Nam, Chúa không nhậm lời anh ta, là bởi vì Chúa biết rất rõ, anh ở độc thân như vậy thì tốt hơn cho anh ta, bởi vì làm gì có người phụ nữ nào vừa thùy mị, nết na, duyên dáng, hiền lành, xinh đẹp, đầy đủ công dung ngôn hạnh ... như anh ta ao ước? Nếu có thì chỉ có người đẹp ở trong tranh hay ở trong những quyển tiểu thuyết lãng mạn mà thôi!

Bạn thân mến, nếu bạn đồng ý với tôi rằng lời cầu xin của chúng mình chưa được, hay không được Thiên Chúa chấp nhận, là vì bởi vì Ngài rất yêu thương bạn và tôi. Và bạn tin rằng, Ngài biết sẽ có nguy hiểm gây tổn hại cho phần xác và phần hồn của chúng mình, cho nên Ngài không ban cho chúng mình những điều chúng ta khấn xin... thì bạn và tôi hãy cố gắng ghi nhớ ba điều này:

• Thứ nhất, chúng mình phải xác tín rằng Thiên Chúa là Đấng toàn năng, Ngài thấu hiểu và nhìn thấy hết mọi sự, kể cả những nhu cầu nhỏ nhất của chúng mình. Và khi khấn xin bất cứ điều gì, dù lớn dù nhỏ, thì bạn và tôi hãy chịu khó thêm câu này vào trong lời cầu xin: “Nếu đẹp lòng Chúa, nếu Chúa muốn, thì xin cho con ơn này… ơn kia…”

• Thứ hai, tin chắc rằng Thiên Chúa không bao giờ hứa lèo, Ngài cũng không bao giờ hứa cuội. Ngài đã hứa cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho (Mt 7:7), thì điều đó chắc chắn là có.

• Thứ ba, phải kiên nhẫn khi cầu nguyện. Bạn hãy nhớ lời của Thánh Phê-rô: "Đối với Chúa, một ngày ví thể ngàn năm, ngàn năm cũng tựa một ngày. Chúa không chậm trễ thực hiện lời hứa, như có kẻ cho là Người chậm trễ” (2 Pt 3:9). Và đừng quên lời khuyên dạy của Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay là phải cầu nguyện luôn, không được nản chí (Lc 18:1)!

Chúng mình cầu nguyện cho nhau, xin Chúa ban cho bạn và cho tôi ơn kiên trì và nhẫn nại trong khi cầu xin, và xác tín rằng, Thiên Chúa là Cha rất nhân hậu, Ngài luôn luôn ban những của tốt lành cho những kẻ kêu xin Người. (Mt 7:11).

Cầu chúc bạn, và những người thân yêu của bạn một tuần lễ mới tràn ngập niềm vui và bình an của Chúa. mục lục

Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

BẢY LỜI CẦU NGUYỆN TRONG KINH LẠY CHA

Lời cầu nguyện mà Chúa Giêsu dạy cho các môn đệ bắt đầu bằng lời kêu cầu: “Lạy Cha chúng con" (như chúng ta thường cầu nguyện theo bản văn Tin mừng Mátthêu) hay đơn giản là “Lạy Cha” (trong bản văn Tin mừng Luca). Đó là một cách xưng hô đơn giản, trực tiếp, đầy tình cảm và dịu dàng: ngay lập tức cho thấy khuôn mặt của Thiên Chúa mà các tín hữu xưng hô với Ngài. Thiên Chúa chắc chắn là Thánh, Đấng Sáng Tạo và Đấng Cứu Độ, nhưng Ngài cũng có thể được gọi là Abba - Cha, trong tiếng Aram của Chúa Giêsu, có nghĩa là “cha, người cha yêu dấu”. Tiếng kêu này xác định Thiên Chúa của chúng ta, nhưng nó cũng có ý nghĩa đối với chúng ta, là những người cất lên tiếng kêu đó. Trong tiếng kêu đó, chúng ta bày tỏ mong muốn mãnh liệt của mình trong mối tương quan với Thiên Chúa là Cha an ủi đích thực. Và trên hết, chúng ta thú nhận cội nguồn của chúng ta ở đó. Bởi vì trong số những câu hỏi lớn thường trực trong trái tim chúng ta, có một câu hỏi liên tục vang lên: “Chúng ta đến từ đâu?”. Bằng cách gọi Thiên Chúa là Cha, chúng ta khẳng định rằng cội nguồn hiện hữu của chúng ta là ở trong Ngài, rằng chúng ta đã được ý muốn của “Cha ở trên trời” cho hiện hữu, được Ngài nghĩ đến, được yêu thương và được kêu gọi vào sự sống. Sự chắc chắn này mang lại ý nghĩa cho cuộc sống của chúng ta và cho phép chúng ta thể hiện đức tin của mình trong các hành vi hàng ngày. Tuy nhiên, Thiên Chúa “ở trên trời” này không phải là một người cha dưới đất: chúng ta nhận ra sự khác biệt hoàn toàn của Ngài với chúng ta, sự khác biệt này Kinh thánh gọi là sự thánh thiện của Ngài.

1. “Xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển”

Đây là ý nghĩa của lời xin đầu tiên trong Kinh Lạy Cha: “Xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển”. Nếu tên gọi chỉ danh tính, nghĩa là nói lên sự thật sâu xa của một con người, thì giữa Danh và người có sự tương đương. Và nếu Thiên Chúa là thánh, thì Danh của Ngài phải được tôn thánh. Khi chúng ta cầu xin Thiên Chúa “tôn thánh danh Ngài”, là chúng ta kêu xin Ngài làm cho mọi người công nhận bản tính thật của Ngài, thể hiện qua hành động hữu hiệu của Ngài trong lịch sử. Và đồng thời chúng ta chuẩn bị cho chính mình được Ngài linh hứng để làm chứng cho sự hiện diện và sự thánh thiện của Ngài giữa mọi người, nam và nữ, của thời đại chúng ta.

2. “Triều Đại Cha mau đến” 

Lời thỉnh cầu thứ hai này chiếm vị trí trung tâm trong số ba lời cầu xin đầu tiên, liên quan đến Thiên Chúa; điều này cho thấy tầm quan trọng của nó. Hơn nữa, trong khi Chúa Giêsu rao giảng, việc loan báo về Triều đại Thiên Chúa cũng chiếm một vị trí cơ bản. Nước Thiên Chúa đã thực sự được bày tỏ nơi Chúa Giêsu, bởi vì Ngài là người duy nhất mà Thiên Chúa - và chỉ một mình Thiên Chúa – ngự trị hoàn toàn, một cách triệt để. Do đó, điều chúng ta cầu xin ở đây là Triều đại của Thiên Chúa, do Chúa Giêsu sống và thể hiện, sẽ được mở rộng trọn vẹn.

Cầu xin cho Triều đại này trị đến có nghĩa là cầu xin Thiên Chúa thực sự ngự trị trên mỗi người và trên toàn thể nhân loại, bắt đầu với chúng ta là những người kêu cầu. Điều đó có nghĩa là chúng ta, với tư cách cá nhân, cộng đoàn, như một Giáo hội, hãy để cho Thiên Chúa ngự trị tối cao trên chúng ta. Nhưng khi Thiên Chúa ngự trị, Ngài không thống trị và không thiết lập chế độ nô lệ: Ngài thể hiện vương quyền của mình bằng một hành động giải thoát chúng ta khỏi những ngẫu tượng lầm lạc, một hành động cứu độ đối mặt với sự dữ, một hành động kết hợp những đứa con bị tản mác lại với nhau. Vì vậy, Ngài mặc khải tương quan cha con của mình. Triều đại này của Thiên Chúa là một thực tế cần phải mong chờ, phải kêu xin, nhưng cũng cần phải chuẩn bị chính mình sẵn sàng cho Triều đại đó.

Vì Nước trời đã bắt đầu hiện diện giữa chúng ta trong Chúa Giêsu; hướng tới sự hoàn thành cuối cùng khi thời gian kết thúc, Nước trời đó từ trời, từ Thiên Chúa mà đến; nhưng chúng ta vẫn có trách nhiệm đối với việc đó: là chào đón Nước trời và đáp lại ơn ban này bằng cả cuộc đời của chúng ta.

3. “Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời” 

Lời cầu xin này, chính Chúa Giêsu đã tuyên bố trong cuộc đời của Ngài. Thật vậy, vào giờ phút hấp hối, vào lúc đau khổ trước cái chết sắp xảy ra, Ngài đã ngỏ lời với Cha lời cầu nguyện này: “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con, mà làm theo ý Cha” (Luca 22,42). Về mặt con người, Chúa Giêsu muốn tiếp tục phục vụ loài người mà không phải đối mặt với thử thách của cái chết; nhưng rồi Ngài cầu xin sức mạnh để thực hiện ý muốn của Cha cho đến cùng, để luôn vâng lời, ngay cả khi phải trả giá bằng cái chết. Do đó đối với người môn đệ, lời kêu gọi này đặc biệt đòi hỏi; nó đòi hỏi chúng ta phải trả giá cao.

“Xin cho Ý Cha thể hiện”: lời thỉnh cầu này một mặt thể hiện sự kêu cầu Thiên Chúa thực hiện kế hoạch Cứu độ của Ngài. Mặt khác, lời cầu nguyện này kêu gọi người ta hoàn toàn chấp nhận ý muốn Cứu độ này và làm cho ý muốn đó thành hiện thực, hay đúng hơn: chuẩn bị trước mọi thứ để ý muốn đó có thể thành hiện thực. Sẽ là rủi ro rất lớn đối với các tín hữu khi biết ý muốn của Thiên Chúa, nhưng không thực hành và không tuân theo ý muốn đó… Các tiên tri trong Cựu Ước rất thường nhắc lại điều này. Là Kitô hữu, chúng ta phải xin cho lời thỉnh cầu này trước hết như một trận chiến chống lại những kháng cự mà chúng ta có nơi mình để hoàn thành ý muốn của Thiên Chúa. Và chúng ta phải nhận ra rằng chúng ta chỉ có thể cáng đáng việc đó một cách sâu sắc sau một trận chiến lâu dài, trong đó ý chí của chúng ta thường phản kháng lại những gì Thiên Chúa đang yêu cầu nơi chúng ta. Đó là trậnchiến gian khổ giữa tư tưởng của chúng ta và ý muốn của Thiên Chúa!

4. “Xin Cha cho chúng con lương thực hằng ngày”

Ở trung tâm của “Kinh Lạy Cha”, trung tâm của bảy lời cầu xin là lời cầu xin cơm bánh, được bày tỏ với sự tin cậy vào Chúa Cha. Sau những yêu cầu lớn lao liên quan đến Thiên Chúa, đây là một yêu cầu rất đơn giản, hằng ngày, liên quan đến thân phận con người của chúng ta với tư cách là thụ tạo và nhu cầu căn bản là chúng ta phải tự nuôi sống mình. Người ta có thể ngạc nhiên về sự khiêm tốn của yêu cầu này. Bây giờ ta tin rằng chính điều này đã chiếu sáng tất cả những thứ khác. Vì xin Chúa cho cơm bánh hàng ngày là một hành động đáng suy ngẫm: đó là cách người tín hữu khẳng định quyền chúa tể của Thiên Chúa trên các thực tại được tạo dựng; đó là thái độ của một người nhận ra rằng mình không định đoạt sự sống của mình, nhưng người đó luôn nhận sự sống đó trong một mối tương quan; đó là cách để người cầu nguyện đặt nhu cầu của mình trước mặt Thiên Chúa, để cho nhu cầu đó trở thành nỗi khát khao, và khước từ cơn cám dỗ chiếm hữu.

Xin cơm bánh hằng ngày có nghĩa là trở nên ý thức về thực tại cụ thể của chúng ta, xưng mình là thụ tạo và là con cái của Thiên Chúa, bình tâm biết rằng chúng ta luôn được ban cho sự sống... Tuy nhiên, tính từ tiếng Hy Lạp epioûsios mà chúng ta dịch là “của ngày hôm nay” cũng có thể có nghĩa là “trên trời”. Do đó, khi cầu xin cơm bánh cần thiết cho sự sống của chúng ta, chúng ta cũng cầu xin thứ lương thực mà nhờ đó người Kitô hữu sống không chỉ nhờ cơm bánh: đó là Lời Chúa và Thánh Thể. Việc xin Chúa Cha ban cơm bánh hằng ngày cho phép người tín hữu học cách khám phá ra nhu cầu hàng đầu của mình chính là Lời hằng sống của Chúa Giêsu Kitô, “bánh hằng sống từ trời xuống” (Gioan 6:51), để tiến bước trong đức tin.

5. “Xin tha tội cho chúng con, vì chính chúng con cũng tha cho mọi người mắc lỗi với chúng con”

Kitô hữu là một người “đã từ bỏ ngẫu tượng mà quay về với Thiên Chúa thế nào, để phụng sự Thiên Chúa hằng sống, Thiên Chúa thật” (1Thessalonica 1,9). Nhưng trong cuộc hành trình trở về với Cha, Kitô hữu không đạt được mục tiêu chỉ một lần rồi thôi: mỗi ngày Kitô hữu phải đổi mới sự hoán cải để tiếp tục con đường dẫn đến Nước Trời và đừng đóng cửa lòng mình trước tình yêu. Trong công việc hàng ngày này, người tín hữu khám phá ra mình là một con nợ: người ấy biết mình phải chịu trách nhiệm về những suy nghĩ, lời nói, hành động và những thiếu sót mà qua đó mình đã lấy cắp của anh chị em mình những gì mà mình mắc nợ họ. Bởi vì trong sâu xa, chúng ta đã nhận được mọi thứ từ người khác và từ Thiên Chúa: chúng ta không bao giờ có thể giữ lại bất cứ thứ gì cho riêng mình.

Nhưng tất cả những gì chúng ta lấy cắp từ anh chị em của mình là một sự xúc phạm, một tội lỗi mà chúng ta phạm trước mặt Thiên Chúa. Thật vậy, mọi điều làm tổn thương đến đồng loại của chúng ta cũng liên quan đến Chúa Cha. Đây là lý do tại sao chúng ta cầu xin Thiên Chúa tha thứ cho những lỗi lầm của chúng ta. Chỉ có sự tha thứ mới cho phép chúng ta bắt đầu lại, mới hoàn toàn đổi mới chúng ta, chỉ có sự tha thứ vô hạn và luôn ân cần của Thiên Chúa mới thúc đẩy chúng ta hoán cải.

Nhưng sự tha thứ chúng ta kêu cầu từ Thiên Chúa lại tùy vào sự tha thứ mà chúng ta dành cho nhau.

Dĩ nhiên, sự tha thứ của Thiên Chúa luôn đi trước sự tha thứ có đi có lại của chúng ta; tuy nhiên, chính sự tha thứ của chúng ta đối với anh chị em của chúng ta mở ra cho chúng ta sự tha thứ của Thiên Chúa. Do đó, Kitô hữu được mời gọi sống phù hợp với Thiên Chúa của mình, Đấng yêu thương và tha thứ vô điều kiện, vì biết rằng sự tha thứ mà họ trao ban hoặc từ chối cho người khác ảnh hưởng đến sự tha thứ mà họ nhận được từ Thiên Chúa.

6. “Và xin đừng để chúng con phải hàng phục cơn cám dỗ”

 Đó là lời cầu xin duy nhất trong lời kinh của Chúa Giêsu được nêu lên một cách tiêu cực. Đó là điều tế nhị, vì trước hết cần phải loại bỏ ý nghĩ rằng Thiên Chúa là tác giả của sự cám dỗ. Không, Thiên Chúa không bao giờ cám dỗ ai cả! Vậy thì chắc chắn tốt hơn ta nên nói: “Xin đừng để chúng con sa vào cơn cám dỗ”. Người ta có thể diễn giải: “Xin đừng làm cho chúng con chịu thua giờ thử thách.”

Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ cầu xin sự giúp đỡ, sự che chở, sự gần gũi, tình yêu thương của Thiên Chúa khi họ gặp thử thách. Thật vậy, con người thường xuyên bị cám dỗ làm trái với tình yêu thương của Thiên Chúa, sống không cần người khác, thậm chí chống lại người khác. Bị cám dỗ là một phần của việc bước theo Chúa. Khi bị cám dỗ như vậy, chúng ta bị dụ dỗ bởi các thứ ngẫu tượng, bởi những lời bào chữa cho chính mình, bởi nỗi sợ hãi đau khổ: khi đó chúng ta phải chiến đấu để giữ mình vững vàng. Trong cuộc chiến chống lại cơn cám dỗ này, hơn bao giờ hết chúng ta cảm thấy Chúa luôn ở bên cạnh chúng ta. Chính Ngài là người chiến đấu vì chúng ta và trong chúng ta. Nhưng ngoài những cám dỗ hàng ngày, còn có một thử thách lớn lao: đó là sự không tin, không có đức tin. Đó là cơn cám dỗ lớn nhất, đẩy chúng ta đến chỗ không còn biết rằng Thiên Chúa đang ở với chúng ta. Vâng, trong chúng ta, luôn có đức tin và sự không tin.

Trong thử thách này, chúng ta phải mở lòng ra với Thiên Chúa, ngay cả trong bóng tối, để tin cậy vào sự giúp đỡ của Ngài và cầu khẩn Ngài, để Ngài đến cứu giúp chúng ta và để chúng ta không bị khuất phục.

7. “Nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ”

Thiên Chúa là Cha chúng ta, là Thiên Chúa Cứu Độ, Đấng cứu độ và giải thoát: do đó Ngài có quyền giải thoát chúng ta khỏi sự dữ. Đây chắc chắn là điều tuyệt vời của tác giả Thánh vịnh, vẫn thường xuyên kêu lên khi đối mặt với những kẻ áp bức mình: “Lạy Chúa, xin trở lại mà giải thoát con, cứu độ con, bởi vì Ngài nhân hậu!” (Thánh vịnh 6.5, 7.2; 140.2). Sự giải thoát lớn lao nhất trong mọi giải thoát là giải thoát khỏi sự dữ, khỏi những việc làm của Ác thần, vốn luôn dẫn đến bạo lực, đau khổ, chết chóc.

Đúng vậy, trên sân khấu thế giới, chúng ta nhận ra sự hiện diện của Ác thần: và nếu chúng ta tin vào sự hiện hữu của Thiên Chúa, thì không cần phải tin chút nào vào ma quỷ;

Chỉ cần nhận ra nó đang hoành hành trong cuộc sống của chúng ta. Sự hiện diện chứa đầy hậu quả của nó luôn cám dỗ, lôi kéo và đàn áp những người đón nhận những đề nghị của nó. Nó “như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1 Phêrô 5,8). Đây là lý do tại sao lời kêu xin đầy ám ảnh này nảy sinh: “Xin hãy giải thoát chúng tôi khỏi ác thần và khỏi hành động của nó!” Lời cầu nguyện của chúng ta, ở đây một lần nữa, bắt nguồn từ lời cầu nguyện của Chúa Giêsu: đây là niềm an ủi và là sức mạnh của chúng ta.

Thật vậy, chính Ngài đã cầu nguyện: “Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần” (Gioan 17,15). Đúng vậy, Chúa Giêsu cùng chúng ta chiến đấu chống lại ma quỷ; chính Ngài là người chiến đấu trong chúng ta! Chúa Giêsu xuống địa ngục, nơi Satan tấn công mạnh mẽ nhất, để ôm lấy chúng ta và đưa tiếng kêu của chúng ta vào lời cầu nguyện của chính Ngài với Chúa Cha. Bước theo Chúa Giêsu Kitô và với Ngài, chúng ta cũng có thể thoát khỏi sự dữ, nhờ sự cầu nguyện kiên trì, ngay bây giờ vì sự sống đời đời! mục lục

Mathias Wirz, tu sĩ xứ Bose, catechese.catholique.fr
Chuyển ngữ: Phêrô Phạm Văn Trung.

ĐỌC NGƯỢC KINH LẠY CHA

Kinh Lạy Cha được ghi lại ở hai Phúc âm: Mátthêu và Luca.

Sau khi Chúa dạy đừng khua chiêng đánh trống như người giả hình. Đừng cho tay trái biết việc tay phải phải làm. Khi cầu nguyện đừng lải nhải, họ cứ nghĩ rằng cứ nói nhiều là được nhận lời. Đừng bắt chước họ, vì Cha trên trời biết rõ anh em cần gì. Đừng như người giả hình thích đứng cầu nguyện trong hội đường. Rồi Matthêu kết luận: Vậy anh em hãy cầu nguyện như thế này: “Lạy Cha chúng con là Đấng ngự trên trời, xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển” (Mt 6,7-9).

Luca xếp hoàn cảnh Kinh Lạy Cha ngay sau trình thuật bữa ăn ở nhà Macta, Maria và Ladarô. Câu chuyện xảy ra ở vùng núi Ôliu. Nơi chốn và thời gian của Kinh Lạy Cha là: “Mọi người trở về nhà mình, còn Chúa thì đến và qua đêm ở núi Ôliu”. Cả ngày Chúa giảng trong đền thờ. Đêm đến Thầy trò kéo nhau về núi Ôliu. Bấy giờ các môn đệ hỏi Chúa cách cầu nguyện. Chúa đã dạy Kinh Lạy Cha: “Thưa thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện,cũng như ông Gioan đã dạy môn đệ của ông.Người bảo các ông:‘Khi cầu nguyện, anh em hãy nói: lạy Cha, xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển, Triều Đại Cha mau đến’” (Lc 11,1-2).

Kinh Lạy Cha, một lời kinh tuyệt vời và phong phú vì chất chứa bao điều huyền nhiệm.

Đọc xuôi, Kinh Lạy Cha bao gồm: một lời thân thưa (Lạy Cha), hai lời nguyện ước (xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển triều đại Cha mau đến, Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời) và ba lời cầu xin (xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hàng ngày, xin tha tội cho chúng con, xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ). Chúa Giêsu dạy chúng ta cầu nguyện là xin cho mình được sống trọn tình con thảo đối với Thiên Chúa. Làm con thảo của Chúa là làm sao để mọi người được nhận biết, thờ phượng và thực thi ý Chúa, tuân giữ lề luật của Ngài và yêu thương tha nhân.

I. Đọc ngược Kinh Lạy Cha

Đọc ngược kinh Lạy Cha để đi lại lộ trình đức tin của dân Do thái ngày xưa và để bày tỏ niềm xác tín mới đối với Thiên Chúa vì những gì Người ban cho chúng ta qua kinh Lạy Cha. Vậy chúng ta hãy cùng nhau tuyên xưng:

1. Thiên Chúa là Cha quyền năng đã cứu chúng ta cho khỏi sự dữ.

Cũng như ngày xưa Thiên Chúa đã cứu dân Israel ra khỏi ách nô lệ bên Ai cập, thì nay qua bí tích rửa tội, mỗi người chúng ta cũng đã được Thiên Chúa cứu khỏi quyền lực của Satan là đầu mối của mọi sự dữ.

2. Thiên Chúa là Cha yêu thương không để chúng ta sa chước cám dỗ.

Sau khi được Chúa giải thoát khỏi ách nô lệ Ai cập, dân Do thái đã đi qua hoang địa tiến về đất hứa, đã gặp rất nhiều cám dỗ và thử thách. Sau khi chịu phép rửa tội, cuộc đời chúng ta cũng là một hành trình xuyên qua hoang địa trần gian để tiến về đất hứa đích thực là thiên đàng. Chúng ta cũng gặp phải những chước cám dỗ như người Do thái ngày xưa. Nhận ra sự yếu đuối của mình, chúng ta tha thiết khẩn cầu Chúa gìn giữ và Người đã gìn giữ chúng ta.

3. Thiên Chúa là Cha nhân từ luôn sẵn sàng tha thứ mọi tội lỗi của chúng ta.

Mặc dù đã nhiều lần phản bội, quay lưng lại với Thiên Chúa, thử thách Thiên Chúa, cứng đầu cứng cổ bất tuân lệnh Chúa, nhưng dân Do thái đã được Chúa tha thứ, nhờ lời chuyển cầu của ông Môsê. Cũng vậy, nhờ công nghiệp của Đức Kitô, chúng ta luôn được Thiên Chúa thứ tha những lỗi lầm thiếu sót và những xúc phạm đến Thiên Chúa và anh chị em là hình ảnh của Người. Được Thiên Chúa tha thứ, chúng ta cũng tha thứ cho nhau, để cùng nhau tiến bước trên con đường của Chúa.

4. Thiên Chúa là Cha quan phòng luôn chăm sóc và nuôi dưỡng chúng ta.

Trong suốt hành trình 40 năm trước khi tiến vào đất hứa là nơi chảy sữa và mật, mỗi ngày dân Do thái đã được Thiên Chúa ân cần ưu ái ban cho manna, thịt chim cút và nước sạch từ tảng đá chảy ra. Ngày nay Thiên Chúa quan phòng cũng luôn lo liệu cho chúng ta mọi nhu cầu vật chất, để chúng ta có thể sống xứng đáng và phát triển các khả năng. Hơn nữa Người còn ban cho chúng ta bánh hằng sống là Lời Chúa và bí tích Thánh Thể để nuôi dưỡng linh hồn chúng ta, cùng với dòng nước ơn thánh vọt ra từ tảng đá là Đức Kitô đang hoạt động qua các bí tích, giúp chúng ta có sức đạt đến đất hứa đích thực là nước thiên đàng, nơi tràn trề sữa và mật thiêng liêng, khiến cho chúng ta không bao giờ đói khát.

5. Thiên Chúa là Cha khôn ngoan đã mạc khải cho chúng ta thánh ý của Người và giúp chúng ta thực hiện.

Cùng với manna, chim cút và nước từ tảng đá vọt ra, Thiên Chúa còn ban cho dân Do thái các huấn lệnh bày tỏ ý muốn của Người, để họ tuân giữ và được sống. Ngày nay, chúng ta cũng nhận được thánh ý của Thiên Chúa biểu lộ qua Thánh Kinh, qua giáo huấn của Giáo Hội. Đời sống của mỗi người chúng ta hệ tại việc thực thi ý Chúa. Khi kết hiệp sự vâng phục của chúng ta với sự vâng phục của Chúa Giêsu đối với thánh ý Cha, tức là chúng ta làm cho ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.

6. Thiên Chúa là Vua uy quyền đã làm cho Nước Chúa trị đến nơi chúng ta.

Sau khi hoàn tất cuộc hành trình xuyên qua sa mạc, Thiên Chúa đã ban cho dân Israel đất hứa làm gia nghiệp, ở đó họ sống hạnh phúc dưới quyền cai trị của Người. Sau khi hoàn tất cuộc hành trình nơi dương thế, chúng ta cũng sẽ được đưa vào Nước Trời, nơi Thiên Chúa hiển trị, để Người mãi mãi là Vua của chúng ta và chúng ta sẽ là dân của Người đến thiên thu vạn đại, và trong Nước Người không còn đau khổ, khóc than và tang tóc, nhưng chỉ có sự sống dồi dào trong hạnh phúc vô biên.

7. Thiên Chúa là Cha, đó là thánh danh mà chúng ta ca tụng đến muôn ngàn đời.

Sống trong đất hứa Thiên Chúa đã ban, những người Do thái đạo đức không ngừng tôn vinh danh Chúa, vì chính nhờ danh Người họ đã được cứu thoát khỏi ách nô lệ Ai cập, được giúp đỡ để vượt qua các chước cám dỗ, được tha thứ mọi tội lỗi, được nuôi dưỡng chăm sóc, được biết thánh ý của Thiên Chúa, được sống dưới quyền cai trị của Chúa. Mai ngày trên thiên đàng, chúng ta cũng sẽ không ngừng ca tụng thánh danh Thiên Chúa và chúng ta có thể khởi đầu kinh Lạy Cha như sau: “Lạy Cha, giờ đây chúng con được ở với Cha trên trời”. (trích từ: Kinh Lạy Cha của Linh Mục trong Năm Đức Tin, ĐGM. Mátthêu Nguyễn Văn Khôi - gpquinhon.org).

II. Kinh Lạy Cha, lời kinh tuyệt vời

Kinh Lạy Cha là lời kinh của chính Chúa Giêsu. Thánh Tôma Aquinô gọi Kinh Lạy Cha là “lời cầu nguyện tuyệt hảo nhất”. Còn Tertulianô nói đây là “Bản tóm tắt toàn bộ Tin Mừng”. Tin Mừng về Thiên Chúa là Cha và chúng ta có thể nài xin cùng Ngài trong tư cách là những người con.

Kinh Lạy Cha là một lời kinh tuyệt vời. Vinh danh và thánh ý Chúa được đặt trên hết. Các nhu cầu của con người được đặt sau.

Kinh Lạy Cha là một lời kinh tuyệt vời. Con người được gọi Thiên Chúa là Cha. Mỗi người là con cái của Thiên Chúa.

Kinh Lạy Cha là một lời kinh tuyệt vời. Xin Cha ban ơn không những phần xác mà cả phần hồn; xin Cha không chỉ tha tội trong quá khứ mà còn gìn giữ cho khỏi sa chước cám dỗ ở tương lai.

Kinh Lạy Cha là lời kinh tuyệt vời và huyền nhiệm nối kết con người với Thiên Chúa. Đây là lời kinh đến từ Thiên Chúa, là quà tặng của Thiên Chúa trao ban cho con người. Chính vì thế, Thiên Chúa ưa thích và không ngừng ban muôn ơn cho con người thông qua lời kinh thân thương, đơn giản và dễ hiểu này.

III. Đọc Kinh Lạy Cha với tâm tình yêu mến

Trong Thánh Lễ, trước khi đọc Kinh Lạy Cha, chủ tế mời gọi: “Vâng lệnh Chúa Cứu Thế và theo lời Người dạy, chúng ta dám nguyện rằng". Động từ "dám" diễn tả một thái độ kính sợ đối với Chúa. Thái độ này bắt nguồn từ truyền thống lâu đời trong Kinh Thánh, được minh họa trong cảnh Môsê gặp Thiên Chúa nơi bụi gai bốc cháy mà không bị thiêu rụi: "Chớ lại gần. Cởi dép ra, bởi đất ngươi đang đứng là đất Thánh" (Xh 3,5). Chỉ nhờ Đức Giêsu Kitô - Thiên Chúa làm người, chúng ta mới dám đến gần Thiên Chúa là Cha, trong niềm tin yêu thảo hiếu: "Trong Ngài, ta được tự do dạn dĩ và được đến cùng Cha, đầy lòng tín thác vì đã tin vào Ngài" (Ep 3,12).

Kinh Lạy Cha là bản kinh tóm lược toàn bộ Tin Mừng, là lời kinh của Chúa Giêsu, lời kinh duy nhất mà Chúa Giêsu đã trực tiếp dạy các môn đệ. Kinh Lạy Cha còn là lời kinh của Hội Thánh, trong Phụng vụ, Kinh Lạy Cha luôn chiếm ưu thế đặc biệt trong các Giờ kinh Nhật tụng, trong Thánh lễ và trong các Bí tích gia nhập Kitô giáo.

Chính vì thế, khi đọc Kinh Lạy Cha, thái độ nền tảng chúng ta phải có là khiêm tốn và biết ơn: khiêm tốn vì nhận ra sự thật về con người bất xứng của mình, tạ ơn vì biết rằng tất cả là ân huệ Thiên Chúa ban. Đồng thời, phải noi gương Chúa Giêsu, sống tư cách người con hiếu thảo, luôn tín thác vào Cha, và thực thi thánh ý Cha. Cầu nguyện là thân thưa với Thiên Chúa như con với cha.

Chúa Giêsu là Đấng đã thi hành ý muốn của Cha ở dưới đất cũng như ở trên trời. Lời cầu nguyện Chúa Giêsu dạy chúng ta cũng là lời tóm kết những gì Chúa đã sống. Lời cầu nguyện và đời sống của Chúa đi đôi với nhau. Kinh Lạy Cha, nhờ Chúa Giêsu mà chúng ta “dám” thân thưa lời cầu nguyện hàng ngày với Cha trên trời. Trong thánh lễ, trước khi đọc Kinh Lạy Cha, vị chủ tế nâng cao Mình và Máu Thánh Chúa Kitô, tuyên xưng rằng: Chính nhờ Ðức Kitô,cùng với Ðức Kitô,và trong Ðức Kitô, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần, mọi vinh quang và danh dự đều thuộc về Cha,là Thiên Chúa toàn năng, đến muôn thuở muôn đời. Amen. mục lục

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

LẠY CHA CHÚNG CON

Tôn giáo nào cũng dạy cầu nguyện, vì cầu nguyện là thực hiện tuơng quan với Đấng Thiêng Liêng mà người tín hữu tôn thờ. Cầu nguyện để chúc tụng, tạ tội, xin ơn… và sự gắn bó giữa Đấng Vô Hình với con người hữu hình, giữa Đấng Tối Cao, Toàn Năng, Tuyệt Đối với phàm nhân tương đối, yếu đuối, mỏng dòn được lớn lên qua cầu nguyện.

Sở dĩ xin Đức Giêsu dạy cầu nguyện, vì các tông đồ nhìn thấy chung quanh mình nhiều người cầu nguyện, đặc biệt các môn đệ của Gioan Tẩy Giả và các ông muốn bắt chước họ cầu nguyện. Nhưng nguyên nhân sâu thẳm hơn, đó là từ đáy sâu tâm hồn,  các ông  cảm nhận cầu nguyện là một nhu cầu không thể thiếu.

Và Đức Giêsu đã dạy các ông cầu nguyện. Nhưng khi dạy các ông cầu nguyện:  “Lạy Cha, xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển, Triều Đại Cha mau đến, xin Cha cho chúng con ngày nào có lương thực ngày ấy; xin tha tội cho chúng con, vì chính chúng con cũng tha cho mọi người mắc lỗi với chúng con, và xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ” (Lc 11,2-4), Đức Giêsu đã không dạy các ông một công thức cầu nguyện khô khan, cứng nhắc, kiểu bấm nút tự động thì ơn lành sẽ tuôn ra; cũng không dạy các ông cầu nguyện như người ta lải nhải một cách vô hồn những lời thần chú mê tín, ma mị, mù qúang, nhưng mặc khải cho các ông Tên của Thiên Chúa.

Tên ấy là “Cha”. Với Tên này Đức Giêsu đã “hớn hở vui mừng và nói: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bận khôn ngoan, thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn..” (Lc 10,21); với Tên này, trong vườn Cây Dầu trước giờ bị bắt, Ngài đã bồi hồi khẩn khoản: “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con …” (Lc 22,42), vì sứ vụ mặc khải Tên Thiên Chúa là Cha chính là mục đích của đời Ngài, như Tin Mừng Gioan đã ghi lại trong lời cầu nguyện của Ngài với Chúa Cha: “Phần con, con đã tôn vinh Cha ở dưới đất, khi hoàn tất công trình Cha đã giao cho con làm”, và  “những kẻ  Cha đã chọn từ giữa thế gian mà ban cho con, con đã cho họ biết danh Cha…”  (Ga 17, 4. 6).

Vì thế, người môn đệ cũng được mời gọi chung tâm tình cầu nguyện với Đức Giêsu, được chia sẻ hạnh phúc gọi Thiên Chúa là Cha và ký thác nơi Ngài mọi tâm tư, ước nguyện như Ápraham đã  nài xin Thiên Chúa tha thứ cho dân thành Xơđôm, “vì tội lỗi của chúng quá nặng nề” (St 18,20), khi ông năn nỉ Chúa rút  số người lành từ năm mươi xuống còn mười người (x. St 18,22-33).

Để làm chứng tình thương bao la, cao vời của người cha Thiên Chúa đối với con cái mình, sau khi dạy các tông đồ cầu nguyện khi thưa với Thiên Chúa: “Lạy Cha chúng con”, Đức Giêsu  khẳng định với các ông: “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ thì sẽ mở cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở cho” (Lc 11, 9-10) khi quả quyết tình yêu tuyệt đối và vô cùng quảng đại của người Cha Thiên Chúa: “Ai trong anh em là một ngưòi cha, mà khi con xin cá, thì thay vì cá lại lấy rắn mà cho nó? Hoặc nó xin trứng lại cho nó bò cạp? Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt lành, phương chi Cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao?” (Lc 11, 11-13).

Quả thực, mặc khải quan trọng nhất chúng ta nhận được từ Đức Giêsu chính là  được biết tên Thiên Chúa là “Cha chúng ta”, và  Người thương chúng ta bằng tình cha tuyệt đối của người Cha Thiên Chúa.

Có Thiên Chúa là Cha, chúng ta biết mình được yêu thương, gìn giữ, bao che, bênh vực, nhất là được tự do đến với Ngài, tự do ca tụng Ngài, tự do cầu xin Ngài thương xót, ban ơn, tự do tạ tội với Ngài khi lầm lỗi, mà không sợ hãi, vì “ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn đều là con cái Thiên Chúa” (Rm 8,14), mà con cái thì không  sợ sệt, chỉ nô lệ mới phải sợ sệt thôi (x. Rm 8, 15). Nói cách khác, chúng ta có tất cả quyền làm con, vì “chính Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta  và sai Con của Người  đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1 Ga 4,10), “hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử” ( Gl 4,5), được gọi Thiên Chúa “Ápba! Cha ơi!”(Gl 4, 6).

Xin Chúa cho chúng ta đừng bao giờ quên Ngài là Cha chúng ta, người Cha yêu thương con mình bằng một tình yêu toàn năng tuyệt đối. Và vì có chung một Cha, nên chúng ta là anh em của nhau, và chung nhau một tâm tình cầu nguyện cho “Danh thánh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời” (Mt 6,9-10) với lòng khiêm nhường và bền tâm tín thác, trông cậy  ở  tình thương của Cha chúng ta trên trời. mục lục

Jorathe Nắng Tím

CẦU NGUYỆN THEO ĐÚNG Ý CHÚA

Bài Tin Mừng Chúa Nhật 17 Thường Niên, năm C hôm nay xoay quanh chủ đề cầu nguyện và phân chia thành ba phần: Phần thứ nhất nói về tâm tư của Đức Giê-su khi Người cầu nguyện trong thể thức mà chúng ta hay gọi là ‘Kinh Lậy Cha’, sau đó là dụ ngôn nói về việc kiên định trong kinh nguyện và sau cùng là hiệu lực của lời cầu nguyện theo đúng ý Chúa.

Trong phần mở đầu của trình thuật, Thánh Lu-ca đã xếp các lời kinh này sau đoạn nói về việc Đức Giê-su cầu nguyện. Chi tiết này có thể giúp chúng ta suy đoán rằng các môn đệ vừa chứng kiến cách Người cầu nguyện với Chúa Cha, quá thân mật, rất đơn sơ và thật sốt sắng cho nên các ông muốn noi gương và xin Thầy dậy họ cách cầu nguyện.

Kinh Lậy Cha là bản toát yếu của toàn bộ Tin Mừng, là bản tóm tắt chương trình của Đức Giê-su. Trong bản kinh này, Đức Giê-su đã xưng với Thiên Chúa là ‘Abba’, có nghĩa là ‘Cha, Bố, Ba ơi’. Thời Chúa Giê-su, không mấy người xưng với Thiên Chúa như thế. Đó là cách gọi của trẻ con, thiếu kính trọng. Như vậy khi dùng danh xưng này để thân thưa với Thiên Chúa, Đức Giê-su cố ý nhấn mạnh đến mối tương quan thân mật, gắn bó, nhất là sự lệ thuộc của Người với Chúa Cha.

Với tâm tư như thế, như Đức Giê-su, khi dùng bản kinh này để cầu nguyện, chúng ta cũng không chỉ ước nguyên cho Vương quyền của Thiên Chúa ngự đến, mà còn nói lên lòng quyết tâm thể hiện sự hiện diện của Vương quốc nơi cuộc sống của chúng ta nữa.

Phần kế tiếp là những lời cầu xin xem ra liên quan đến nhu cầu và ước muốn của người môn đệ. Nhưng thật ra những ước nguyện này không quy hướng về bản thân cho bằng nói lên ý muốn xin cho được những điều như thế để những ai là môn đệ sẽ được tự do, không còn bận tâm lo chuyên cơm ăn áo mặc, không bị cám dỗ bởi quyền lực, rồi thanh thản giống như Đức Giê-su dành trọn thời gian và năng lực cho công cuộc rao giảng Nước Chúa.

Sau đó đến lời nguyện ước mà theo tôi cảm thấy là rất khó thực hiện. Chúng ta xin Chúa tha thứ cho các lỗi phạm của chúng ta không biết bao nhiêu lần; thế mà có bao giờ chúng ta đã tha thứ cho những ai xúc phạm đến mình chưa? Làm sao chúng ta dám xin Chúa ban cho chúng ta điều mà mình rất khó thực hiện!

Việc chúng ta xin ơn tha thứ để thứ tha cho kẻ khác là mục tiêu mà chúng ta sẽ thực hiện trong suốt cuộc sống. Việc xin Chúa tha thứ để thứ tha cho người khác thì giống như việc ăn năn tội mà chúng ta thường làm khi đón nhận bí tích giao hòa. Trong giây phút ‘ăn năn’ đó, chúng ta hết sức thành khẩn để bộc lộ tâm tình thống hối cho các sai phạm của mình, thế mà sau đó chúng ta có thể sẽ tái phạm. Nhưng Thiên Chúa biết và thấu hiểu lòng mình; Chúa cũng biết rõ thân phận yếu đuối của mình. Mỗi lần cầu xin Chúa tha thứ là lúc chúng ta nói lên sự quyết tâm cải thiện của mình. Chúa muốn chúng ta làm hết sức mình, và Người sẵn sàng tha thứ nếu chúng ta tiếp tục thất bại.

Sau đó là dụ ngôn ‘người bạn quấy rầy’ mà trong phần cuối, Đức Giê-su đã nói người bị quấy rầy đã không dậy vì tình bạn; nhưng vì sự kiên trì của anh bạn đang khẩn thiết van xin lòng đại lượng của mình. Và, trong thân phận con người, chúng ta còn biết cư xử với nhau như thế phương chi Thiên Chúa là Tình Yêu. Người sẽ làm ngơ trước sự van xin trong các nỗi khó khăn của chúng ta hay sao? Người sẽ ban cho chúng ta những gì tốt đẹp nhất, ngay cả sự sống của Người.

Phần cuối của bài Tin Mừng hôm nay quá khó. Bởi vì căn cứ vào kinh nghiệm trong cuộc sống, chúng ta nhận ra rằng không phải mọi lời chúng ta xin đều được, không phải khi nào chúng ta gõ cửa thì Người sẽ mở cho và không phải lúc nào chúng ta tìm kiếm Người thì Người sẽ xuất hiện.

Thí dụ, chúng ta đã làm gì sai khi cầu nguyện cho người thân được khỏe mạnh và bình an; chúng ta không cầu xin cho bản thân; nhưng cầu xin cho người thân mà. Thế mà họ lại cứ lần lượt ra đi. Già mà ra đi thì còn có thể hiểu được; nhưng nhiều gia đình đã mất những người thân yêu khi còn quá trẻ. Rồi còn bao nhiêu lời cầu xin cho nền hòa bình trên thế giới, thế mà chúng ta vẫn nghe thấy những thảm kịch của chiến tranh, khủng bố, bạo lực, đói khát, bệnh tật và thiên tai.

Nếu Thiên Chúa đã được ví như một bậc cha mẹ luôn yêu thương, mong muốn cho đi những gì tốt đẹp nhất cho con cái mình thì tại sao những lời cầu nguyện chính đáng như thế lại dường như không được trả lời?

Không có câu trả lời đơn giản cho câu hỏi này!

Có những lúc, có lẽ, lời cầu xin của chúng ta chưa phải là lời yêu cầu chính đáng; và Thiên Chúa, vì yêu thương nên đã phải từ chối yêu cầu của chúng ta. Tuy nhiên, lời giải thích này không thể giải thích cho nhiều trường hợp trong đó các yêu cầu của chúng ta chắc chắn phù hợp với ý muốn của Chúa.

Một lời giải thích khác thường được đưa ra là Chúa có chương trình của Người, và việc mà chúng ta xin không được xẩy ra vì kết quả của sự việc sẽ không đem lại lợi ích lâu dài cho người xin. Tuy nhiên, lối giải thích này cũng tạo nhiều rắc rối. Bởi vì, như vậy chúng ta giả thiết mọi sự xẩy ra đều là ý Chúa. Như vậy, con người sẽ phủi tay, và đổ thừa cho Chúa về mọi sự - như bạo lực, tra tấn, chết đói hay chết yểu - là ý muốn của Thiên Chúa hay sao? Trong khi đó, chúng ta cần có can đảm để thừa nhận những việc đó xẩy ra một phần là do tội lỗi của mình.

Thế thì chúng ta có thể nói gì về lời cầu nguyện chưa được trả lời? Chúng ta có thể tin rằng Thiên Chúa toàn năng, nhưng Thiên Chúa không phải là quyền lực duy nhất trên thế giới. Có những sức mạnh khác, sức mạnh của Satan và những quyền lực thuộc về nó, sức mạnh của ác quỷ và cái chết, thường được con người chấp nhận và làm cho nó phát triển. Mặc dù, chúng ta tin rằng Thiên Chúa đã chiến thắng trước những quyền lực này qua cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu; nhưng trận chiến vẫn còn tiếp diễn, chờ ngày chung cục, ngày Đức Ki-tô ngự đến lần thứ hai trong quang lâm. Vì thế, trong giai đoạn hiện tại, ý định của Thiên Chúa vẫn bị cản trở bởi sự cộng tác của chúng ta với quyền lực của Satan. Chúng ta xử dụng tự do để ngăn trở ý định và chương trình của Thiên Chúa; rồi quì xuống cầu xin cho Nước Cha trị đến thì sao có thể xẩy ra được!

Tại sao phải cầu nguyện?

Chúa không bảo chúng ta cầu xin cho bằng được những gì chúng ta cần, nhưng cầu nguyện là đi vào mối quan hệ với Thiên Chúa, Đấng yêu thương chúng ta vô vàn. Và để minh họa cho ý tưởng này, xin anh chị em đón nhận tâm tình của một người bạn khi anh cầu nguyện Kinh Lậy Cha, anh đã chia sẻ như sau:

“Trong lúc suy gẫm về Kinh Lậy Cha, tôi bị đánh động nhất với cụm từ “Abba, Cha ơi!” Cụm từ này mang đến cho tôi một ý nghĩa rất sâu sắc, không chỉ về mặt cảm xúc, nhưng nói lên mối thân tình với Chúa. Thiên Chúa là Cha và tôi chỉ dám gọi Người là Cha nếu tôi thực sự trở nên một trong những người con của Người. Tức là, tôi phải từ bỏ ý riêng và hoàn toàn tùy thuộc vào Người như đứa trẻ tùy thuộc vào bàn tay yêu thương săn sóc của cha mẹ. Tôi cần phải khiêm tốn và tử tế nhiều hơn nữa. Tôi cần được Người thương yêu và yêu thương Người thêm nữa. Amen!” mục lục

Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

XIN THẦY DẠY CON CẦU NGUYỆN

Trong suốt hành trình rao giảng, Thầy Giêsu luôn dành thời gian để cầu nguyện cùng Cha. Hình ảnh Thầy Giêsu cầu nguyện đã trở nên thật quen thuộc và đầy lôi cuốn. Người thường cầu nguyện một mình. Từ trước đến nay, Thầy Giêsu chỉ âm thầm làm gương cho các ông, và hôm nay một người môn đệ mới đại diện các anh em ngỏ lời xin Thầy dạy cầu nguyện. Người đã dạy các ông lời cầu nguyện đẹp nhất và khuyên các ông hãy kiên trì trong cầu nguyện.

Lời cầu nguyện mà Thầy Giêsu dạy chính là lời kinh “Lạy Cha” mà ta vẫn thường đọc hằng ngày. Lời ấy hướng tâm hồn ta về Thiên Chúa là Cha, đặt ta trước sứ mạng làm chứng cho Nước Chúa hiển trị ngay ở trần gian bằng chính đời sống yêu thương và tha thứ. Khi cầu xin như thế, người Kitô hữu tuyên xưng niềm tin vào Thiên Chúa và bày tỏ lòng tín thác nơi tình yêu quan phòng của Người. Cầu nguyện là sự sống của mỗi người Kitô hữu và cũng là một hành động xuất phát từ một trái tim tràn đầy lòng mến và một đức tin trưởng thành mỗi ngày. Đây không chỉ là một hành động cầu xin đơn thuần nhưng là một sứ mạng thiêng liêng liên quan đến ân sủng. Nghĩa là khi cầu nguyện, ta không dựa vào sức lực và ước muốn riêng nhưng cần mở ra trước ân sủng của Chúa và trung thành dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Thầy Giêsu dạy cầu nguyện cho tất cả những ai đang khao khát cầu nguyện. Thánh Luca không nêu rõ danh tính của người ngỏ lời xin Thầy Giêsu dạy cầu nguyện. Người ấy là ai?

Hôm nay, người ấy có thể là một người mẹ quê nghèo khổ đang mắc bệnh nặng. Chị đến với Chúa chỉ đơn giản thưa lên Chúa tâm tình phó thác của mình, bằng sự đơn sơ chân thành, chị đọc lời kinh “Lạy Cha” mà chị đã thuộc lòng từ tấm bé. Ngày này qua ngày khác, chị kiên trì cầu nguyện với Chúa Giêsu. Chị bày tỏ lòng yêu mến Đức Mẹ, chị lần hạt mỗi ngày để nhờ Mẹ chuyển cầu lên Chúa. Người ấy cũng có thể là một nhà bác học đang cặm cụi với những thí nghiệm, những nghiên cứu của mình. Người ta vẫn có thể bắt gặp ông đang quỳ gối cầu nguyện trong ngôi nhà nguyện nhỏ. Đó cũng có thể là một bác nông dân đang mong chờ cơn mưa đầu mùa. Sau những ngày nắng hạn, cơn mưa tưới mát cả cánh đồng. Nhìn cơn mưa, lòng đầy phấn khởi và hy vọng, bác thầm dâng lên Chúa lời tạ ơn. Người ấy có thể là bất cứ ai – những người khao khát được gặp gỡ Chúa và dâng lên Chúa tâm tình tri ân. Cũng như người kia đến nhà người bạn để xin sự giúp đỡ, anh ta đã nhận được sự giúp đỡ sau khi đã đứng lì ra đó để mà nài xin. Anh không xin cho mình nhưng cho một người bạn lỡ đường. Cầu nguyện đòi hỏi sự kiên trì và hạ mình thẳm sâu.

 Cầu nguyện là hành động của người đang cầu xin sự giúp đỡ, của tâm hồn đang tìm kiếm chân lý, của đôi chân đang ngập ngừng đứng trước cửa và đưa đôi tay gầy guộc để gõ lên cánh cửa đang đóng với hy vọng nó sẽ mở ra. Thầy Giêsu khẳng định: “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở cho (Lc 11, 9-10).

Lạy Thiên Chúa là Cha nhân lành! Cha biết rõ con cần gì trước khi con cầu xin. Cha hằng ban Thánh Thần cho những kẻ cầu xin. Xin cho con biết cầu nguyện với tâm tình của một người con thảo theo gương thầy Giêsu, để lời cầu nguyện của con thống nhất với cả đời sống, một đời sống tràn đầy tình bác ái yêu thương. Amen. mục lục

Bông Hồng Nhỏ

CHA

Ở quê tôi, người ta đọc kinh rất nhiều. Mỗi giờ kinh (nên gọi là "giờ kinh" thay vì gọi là "giờ cầu nguyện"), tôi không thể nhớ bao nhiêu kinh được đọc. Đọc tràng giang. Đọc rất nhanh. Chưa "amen" kinh này thì đã gắn vào kinh khác... Nhanh đến nỗi, chỉ cần vài cái chớp mắt là đã xong kinh Lạy Cha.

Tôi không gọi đó là buổi cầu nguyện. Hình như người ta không cầu nguyện. Chẳng ai chú ý đến lời kinh mình đọc. Không ai cần hiểu nội dung lời kinh. Đọc từ đầu đến hết kinh thì thuộc, nhưng cắt ngang và bảo đọc phần cắt ngang, không thuộc. Thậm chí đọc sai từ ngữ, sai nội dung vẫn... vui vẻ đọc từ thế hệ này đến thế hệ khác...

Dù kinh Lạy Cha là lời kinh có một không hai, lời kinh độc đáo, quan trọng, gồm tóm mọi lời cầu nguyện, được rút ra từ chính kinh nghiệm cầu nguyện của Chúa Giêsu..., người ta vẫn đọc... cái vèo, chẳng khác mọi lời kinh.

Vì thế, từ đọc thuộc lòng đến thực hành lời kinh không là điều dễ. Nhất là lời kinh của Chúa - kinh Lạy Cha - tôi càngtâm niệm, đó là lời kinh mà chính tôi phải thận trọng, phải ý thức để thánh ý Chúa phải được thể hiện trong cuộc đời mình, nếu không nhiều thì cũng ở mức tối thiểu.

Nơi kinh Lạy Cha, Chúa Giêsu tỏ bày một mạc khải quan trọng chưa từng có: THIÊN CHÚA LÀ CHA. Thiên chúa là một Người CHA không hơn, không kém. Trên mọi danh hiệu, "CHA" là danh hiệu đậm đà, trìu mến, ý nghĩa, chất chứa đầy niềm hy vọng.

Thiên Chúa không là thần minh xa vời, nghiêm nghị, ưa trừng phạt, ưa thể hiện uy quyền, ưa những kiểu sai khiến để phân biệt hai chiều kích luôn đối lập nhau: thần minh và thụ tạo. 

Nhưng Thiên Chúa lại là CHA. Thiên Chúa bước vào đời sống thụ tạo nhẹ nhàng và kính trọng, nâng niu và gần gũi. Thiên Chúa gìn giữ loài thụ tạo như chính bản thân mình. 

Thiên Chúa thân mật với thụ tạo đến độ phá bỏ mọi khoảng cách, không còn bất cứ ranh giới nào, dù nhỏ nhất. Từ nay, Thiên Chúa chỉ đơn giản là CHA, loài thụ tạo này là con. Từ nay, loài người đến với Thiên Chúa trở nên nhẹ và tự nhiên đến mức: người con đến với CHA mình. Từ nay, chúng ta gọi Thiên Chúa là CHA với tất cả niềm yêu, sự trìu mến, lòng thảo hiếu và đơn sơ.

Mạc khải về CHA cũng là mạc khải thuộc về chiều sâu nói lên mối liên hệ thâm sâu, ân tình giữa Chúa Giêsu với Chúa Cha. Đó cũng là lời diễn tả chiều kích thiêng liêng mà thụ tạo được tham dự vào, để sống thân mật và liên kết nên một với Chúa Cha trong Chúa Giêsu, nhờ Chúa Giêsu.

CHA không chỉ là nguồn cội phát sinh nhưng còn là vòng tay nâng đỡ, là mái ấm chở che, là động lực thúc đẩy, là lý tưởng mời gọi. Gọi tiếng CHA triều mến gợi lên cả một trời yêu thương vừa thân thiết vừa hạnh phúc, vừa cho thấy sự an bình nhưng cũng huyền nhiệm vô cùng.

Được làm con của CHA, đó là phẩm giá siêu phẩm giá của những người con. Đó là hồng ân cao quý trên mọi thứ cao quý. Bởi ơn gọi làm con là ơn gọi căn bản, cao trọng nhất mà Thiên Chúa ban cho chúng ta qua Chúa Con. 

Đó là tư cách rất riêng thuộc về môn đệ của Chúa Con. Không có Chúa Con là đầu, không làm môn đệ của Chúa Con, ta không thể lãnh hội ơn gọi này, không thể đạt tới lối sống hiếu thảo với CHA và huynh đệ với tha nhân. 

Chúng ta là con cùng một Cha, Chúng ta là anh em. Tình Cha con và tình em được Chúa Giêsu mạc khải hài hòa qua kinh lạy Cha. Không bao giờ chúng ta thưa "Lạy CHA" mà lại xưng là "con", nhưng luôn xưng là "chúng con". Cả nhân loại chỉ có một Cha, tất cả đều là anh chị em của nhau.

Hãy học lấy thái độ của thánh Phaolô để đến với CHA mình: "Tôi quỳ gối trước mặt Thiên Chúa là CHA, là nguồn gốc mọi tình phụ tử trên Trời dưới đất. Tôi nguyện xin Thiên Chúa CHA, thể theo sự phong phú của vinh quang Người, ban cho anh em được củng cố mạnh mẽ nhờ Thần Khí của Người, để con người nội tâm nơi anh em được vững vàng. Xin cho anh em, nhờ lòng tin, được Đức KITÔ ngự trong tâm hồn. Xin cho anh em được bén rễ sâu và xây dựng vững chắc trên đức ái, để cùng toàn thể các thánh, anh em đủ sức thấu hiểu mọi kích thước dài rộng cao sâu, và nhận biết tình thương của Đức KITÔ, là tình thương vượt quá sự hiểu biết. Như vậy, anh em sẽ được đầy tràn tất cả sự viên mãn của Thiên Chúa" (Êph 3,14-19).

Thánh Phaol cho thấy, dù gắn chặt trong tình phụ tử của Thiên Chúa CHA, tương quan của chúng ta không chỉ là tương quan mãnh liệt với Ngôi Thứ Nhất, nhưng luôn được "củng cố mạnh mẽ" nhờ Chúa Thánh Thần trong lòng tin vào Chúa Kitô và "được Đức Kitô ngự trong tâm hồn".

Do đó, khi nói đến tình phụ tử của Thiên Chúa CHA, ta phải hiểu cả tình phụ tử của Thiên Chúa Con và Đấng là mối dây làm nên sự bền chặt, sự nên một tuyệt đối là Thiên Chúa Ngôi Ba. 

Bởi không có tương quan nào, không có kỳ công nào, không có công trình nào mà không là quyền năng của Ba Ngôi: Cha - Con - Thánh Thần. Bởi lẽ Ba Ngôi, dù phân biệt thế nào, thì đó vẫn chỉ là MỘT THIÊN CHÚA DUY NHẤT.

Vậy, từ đây, mỗi lần đọc kinh Lạy Cha, dù trong thánh lễ, trước bữa ăn, khi lần chuỗi, khi khấn nguyện, hay bất cứ trường hợp nào, trong hoàn cảnh nào, thời điểm nào, với bất cứ lý do gì, chúng ta hãy đọc khoan thai, chú ý từng lời cầu nguyện của mình. Hãy để tâm hướng về Thiên Chúa mà nâng hồn, nâng lòng yêu mến, nâng tình yêu thảo hiếu của mình lên Thiên Chúa.

Nói cách khác, chúng ta hãy cầu nguyện khi đọc kinh. Hãy biến giờ kinh của mình thành giờ cầu nguyện đúng nghĩa. mục lục

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

TÂM SỰ VỚI CHÚA

[Niệm ý Lc 11:1-13]

Con muốn ôm choàng thế giới
Nhưng đôi tay quá nhỏ nhoi
Tim con lại chỉ có một
Làm sao đủ yêu mọi người?
Con là tội-nhân-chân-thật
Muốn nhiều mà thúc thủ thôi
Con không biện hộ chi hết
Trắng tay ai dám tin lời?
Xin cá ai lại cho rắn
Xin trứng, bò cạp đưa sao?
Đời còn tình sâu nghĩa nặng
Chúa nào nỡ làm ngơ đâu!
Giàu, nghèo – Chúa không phân biệt
Nhưng đời phân cách sang, hèn
Giáo hội cũng chưa đủ sạch
Vẫn có những người bất toàn!
Ảnh hưởng ít nhiều “cái ghế”
Địa vị, chức tước, bạc tiền
Xử sự với nhau cũng... “lạ”
Khoảng cách bề dưới, bề trên
Xin cho chúng con hiệp nhất
Yêu thương bình đẳng mọi người
Xin ban Thánh Thần Chân Lý
Canh tân, thánh hóa, sáng soi. mục lục

Viễn Dzu Tử

Suy niệm qua kinh Lạy Cha

(Lc 11,1-13)

Lạy Cha Cực Thánh trên Trời
Nước Cha mở rộng cứu đời nhân linh
Chúng con phụng tự hết tình
Cao rao chúc tụng :VINH DANH CHÚA TRỜI.
Chúng con đang sống giữa đời
Cậy trông ơn gọi về nơi an bình
Thiên đàng là chốn trường sinh
Nước Cha hiển trị: công bình, vị tha…
Nguyện xin cho Thánh Ý Cha
Nhân gian vâng phục, sâu xa tuân hành
Cũng như thần thánh Thiên Đình
Nương theo Thánh Ý, tôn vinh uy quyền.
Cha ban lương thực thường xuyên
Của ăn nuôi xác, bớt phiền, bớt lo
Ơn thiêng: mạnh sức tông đồ
Linh hồn sốt mến chẳng mờ tình thương.
 
Chúng con tội lỗi vấn vương
Xin Cha giải cứu, thoát đường suy vong
Chúng con cũng dốc một lòng
Tha nhân hoà giải để cùng sống vui.
Cha thương bảo vệ đường đời
Ba thù cám dỗ chẳng rời tình Cha
Cha là nguồn mạch an hoà
Chúng con tín thác nơi Cha nhân lành.
Cha là chính Đấng Cứu Tinh
Xin ban sức mạnh hướng linh vẹn toàn
Vượt qua ‘sự dữ’, khải hoàn
Tiến vào Nước Chúa vinh quang muôn đời. Amen. mục lục

(Thế Kiên Dominic)

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan