Thánh Giuse - Bạn trăm năm Đức Trinh Nữ Maria (19/3)

19-03-2018 1,726 lượt xem

MỤC LỤC

THÁNH GIUSE, GƯƠNG SÁNG KHIẾT TỊNH - Lm Giuse Nguyễn Hữu An

ĐẤNG CÔNG CHÍNH – BỔN MẠNG GIÁO HỘI - JM. Lam Thy ĐVD.  

PHẦN PHỤ QUAN TRỌNG - TRẦM THIÊN THU

TRỞ NÊN CÔNG CHÍNH NHỜ BIẾT THỰC THI Ý CHÚA - Tu sĩ: Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.

NGƯỜI NGẪM NGHĨ - TRẦM THIÊN THU

THÁNH GIUSE, GƯƠNG SÁNG KHIẾT TỊNH

Ngày 19.06.2013, Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích công bố một Sắc lệnh đã được Đức hồng y Bộ trưởng Antonius Cañizares Llovera và Đức Tổng Giám mục Thư ký Arturus Roche ký vào ngày lễ Thánh Giuse Thợ 01.05.2013. Sắc lệnh quyết định đưa tên Thánh Giuse vào các Kinh nguyện Thánh Thể II, III và IV, sau tên của Đức Trinh Nữ Maria. Trước đây, tên Thánh Giuse chỉ được đọc trong Kinh nguyện Thánh Thể I (Lễ quy Rôma).

Sắc lệnh viết: “Qua việc làm cha chăm sóc Chúa Giêsu, Thánh Giuse làng Nazareth, khi được đặt lên trông coi gia đình của Chúa, đã hoàn thành nhiệm vụ đã nhận được nhờ ân sủng. Do gắn bó chặt chẽ với các mầu nhiệm khởi đầu trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, Ngài trở nên mẫu gương về lòng khiêm nhường và nhân ái, những điều làm cho đức tin Kitô giáo có được những phẩm giá cao cả; và thể hiện những nhân đức nhân bản và đơn sơ, cần cho con người trở nên môn đệ tốt lành và đích thực của Chúa Kitô. Nhờ các nhân đức đó, Người Công Chính này, sau khi đã hết sức trìu mến chăm sóc Mẹ Thiên Chúa và vui vẻ tận tình dạy dỗ Chúa Giêsu Kitô, đã trở nên người quản lý kho tàng quý giá của Thiên Chúa Cha và qua các thế hệ được Dân Thiên Chúa không ngừng tôn kính như đấng bảo trợ thân thể mầu nhiệm của Chúa Kitô, nghĩa là Hội Thánh” (Lm. Phêrô Lê Tấn Bảo dịch).

Sắc lệnh ghi nhận rằng các tín hữu trong Hội thánh Công giáo luôn tỏ lòng sùng mộ Thánh Giuse và không ngừng tôn kính Ngài là Bạn rất thanh khiết của Mẹ Thiên Chúa và là Đấng bảo trợ trên trời của Giáo hội hoàn vũ. Vì lý do này mà Chân phước Giáo hoàng Gioan XXIII đã truyền đưa thêm tên Thánh Giuse vào Lễ quy Rôma, sau tên của Mẹ Maria (Thánh bộ Lễ nghi, Sắc lệnh Novis hisce temporibus, 13.11.1962).

Sắc lệnh nhắc lại rằng Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI đã nhận được nhiều lời thỉnh cầu đạo đức từ khắp nơi trên thế giới và ngài đã vui lòng chấp thuận, nay lại được Đức giáo hoàng Phanxicô tái xác nhận. Điều này diễn tả sự hiệp thông trọn vẹn với các Thánh, là những người đồng hành với chúng ta trong cuộc lữ hành trần thế và dẫn chúng ta đến với Chúa Kitô để liên kết chúng ta với Người.

Nội dung Sắc lệnh cũng ghi rõ các phần Kinh nguyện Thánh Thể (II, III và IV) bằng tiếng Latinh với tên Thánh Giuse đã được thêm vào, chẳng hạn như trong Kinh nguyện Thánh Thể II: “ut cum beata Dei Genetrice Virgine Maria, beato Ioseph, eius Sponso, beatis Apostolis”. Ngoài ra còn có thêm phần phụ lục cho các ngôn ngữ Anh, Tây Ban Nha, Ý, Bồ Đào Nha, Pháp, Đức và Ba Lan. Đối với các ngôn ngữ khác, bản dịch sẽ do các Hội đồng Giám mục soạn thảo, theo quy định của luật và được Tòa Thánh phê chuẩn thông qua Bộ Phụng tự (trích: “Phải đọc tên Thánh Giuse trong Kinh Nguyện Thánh Thể II, III và IV”, ‘WHĐ 19.06.2013’).

“Maria đã đính hôn với Giuse” (Mt 1,18). Từ ngày đó, Thánh Giuse đã trở nên Bạn Trăm Năm của Đức Trinh Nữ Maria. Vui buồn sướng khổ, gian truân thử thách, Thánh Giuse đều đã trải qua. Ngài chính là mẫu gương cho anh em Gia trưởng trong đời sống gia đình.

Kể từ khi hai bên nội ngoại làm lễ đính hôn cho Giuse và Maria, ai ai cũng vui mừng, chúc phúc cho đôi hôn nhân lý tưởng. Họ thương nhau không vì trai tài gái sắc, mà thương nhau vì cả hai đều nết na đức hạnh, cùng có một đức tin tinh tuyền từ gia đình đạo đức. Giuse là Người Công Chính. Maria là Đấng Đầy Ơn Phúc. Đó là tổ ấm cao sang nhất trong lịch sử nhân loại. Sau ngày làm lễ đính hôn, chỉ chờ lễ cưới. Maria và Giuse vẫn chỉ biết hướng về tương lai, chuẩn bị cho gia đình mới sắp thiết lập.

Thế rồi điều bất ngờ xảy đến với cuộc tình duyên êm đẹp. Thiên Chúa đã can thiệp vào dự án tương lai của Maria và Giuse. Thiên Chúa muốn cả hai thành Đấng Bậc Đồng Trinh để Ngài trao gửi Con Một dấu yêu của mình. Cả hai trở nên cha mẹ của con trẻ Giêsu về pháp lý và Maria ban tặng bản tính nhân loại cho Đấng Cứu Thế.

Thiên Chúa đi từng bước một. Truyền tin cho Đức Maria rồi truyền tin cho Giuse. Giữa hai biến cố trọng đại là cuộc khủng hoảng đối với Giuse.

Thấy Maria có thai, Giuse phải đau khổ lắm. Người hôn thê đạo hạnh mà ngài rất mực yêu thương lại mang thai trước khi về nhà chồng. Bối rối và khó xử nhưng ngài vẫn tiếp tục tin tưởng Maria trong sạch vẹn tuyền. Không một lời phàn nàn, ca thán, trách móc, Giuse không hề hạch sách hay tra hỏi Maria một lời nào, ngài âm thầm ôm lấy nổi đau riêng mình với một quyết định: “Đào vi thượng sách”. Giuse không còn chọn lựa nào khác: “Vì là Người Công Chính và không muốn tố giác bà nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo” (Mt 1,19). Thế rồi, Thiên Thần đã hiện ra với Giuse trong giấc mộng giải thích cho ngài biết: “Người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần” (Mt 1,20); Thai nhi ấy không chỉ là một con người mà còn là Người Con của Thiên Chúa. Ngài là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, được sinh ra, không phải được tạo thành, vì Ngài đã có từ trước muôn thuở. Ngài là Con của Chúa Cha ở trên trời; đã từ trời xuống thế nhập thể trong lòng trinh nữ Maria, và đã làm Người. Và Người Con sẽ sinh ra ấy được Thánh Giuse đặt tên là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu Dân của Người khỏi tội. Thiên Thần khuyên Giuse “Chớ sợ rước Maria về nhà mình” (Mt 1,20). Nhận ra Thánh Ý Thiên Chúa “Giuse đã làm như lời Thiên Thần Chúa truyền và ông đã rước bà về” (Mt 1,24).

Thiên Chúa đã đưa Thánh Giuse vào chương trình cứu độ của Ngài. Thánh Giuse đã tích cực góp phần thực hiện chương trình ấy. Ngài được Thiên Chúa chọn, trở thành người cha nuôi của Chúa Giêsu ở trần gian. Vì vai trò làm cha của Chúa Giêsu và làm bạn đời của Mẹ Maria, sống bên cạnh một người nữ trẻ tuổi xinh đẹp là Mẹ Maria, mà theo dự định của Thiên Chúa, sẽ trọn đời đồng trinh, nên các nghệ nhân thường có khuynh hướng hình dung Thánh Giuse như một cụ già. Điều đó không đúng! Thánh Giuse là một thanh niên trẻ trung và đầy sinh lực, có lẽ chỉ lớn hơn Mẹ Maria chừng năm đến bảy tuổi! Nhưng ngài là một người rất nhân đức, được Thiên Chúa chọn để đồng hành với Mẹ Maria đồng trinh trong cuộc đời dâng hiến của Mẹ. Mẹ đã hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, không thuộc về người trần gian (ĐTGM Phaolô Bùi Văn Đọc).

Thánh Giuse còn được sách Tin mừng gọi là “Người Công Chính”. Mà người công chính, theo lời Kinh thánh, là người sống bằng đức tin, hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa như tổ phụ Abraham. Người Công Chính, nói đơn giản, là người tốt, ngay thẳng, trung tín. Là tôi tớ trung thành của Thiên Chúa, luôn thực thi trọn vẹn thánh ý của Thiên Chúa. Là con người luôn biết kính trọng và yêu thương tha nhân.

Thánh Giuse là một con người bình thường như mọi người, được Thiên Chúa giao phó thực hiện “những điều cao trọng” trong cuộc đời thường, như làm “cha nuôi của Chúa Giêsu”, làm “bạn trăm năm của Đức Trinh Nữ Maria”. Ngài đã thực hiện đúng như ý muốn của Thiên Chúa trong mọi biến cố. Thiên Chúa bảo ngài cưới Mẹ Maria, đưa Mẹ về nhà mình, đưa Mẹ Maria sắp sinh nở về nguyên quán Bêlem để khai lý lịch, đưa Mẹ và hài nhi Giêsu chạy trốn sang Aicập, sau đó đưa gia đình về Nazarét vùng Galilê, Thánh Giuse luôn xin vâng theo Ý Chúa.

Thánh Giuse mạnh dạn đối diện với các vấn đề, đương đầu với các khó khăn, mà không bao giờ trách móc Thiên Chúa hay quy tội cho người khác. Ngài là một con người “đầy tinh thần trách nhiệm”, một con người nhiều sáng kiến trong bất cứ công việc gì được trao phó. Trước Thánh Ý Thiên Chúa, Giuse vâng phục và chu toàn. Từ Nazarét qua Bêlem, từ Bêlem đi Aicập, từ Aicập về Israel, Chúa bảo ngài đi là ngài đi, bảo ngài về là ngài về, bảo ngài làm thế nào là ngài làm thế ấy, đúng thời gian, đúng địa điểm mà không thắc mắc, không hoài nghi, không cự nự.Tất cả mọi lần Giuse đều thưa như Đức Maria “Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên Thần truyền”(Lc1,38).

Để luôn hướng về Ý Chúa, Thánh Giuse đã âm thầm đi sâu vào đời sống nội tâm. Trong nội tâm thinh lặng, ngài lắng nghe Chúa. Ngài hiểu tiếng gọi đó là một tình thương đặc biệt. Ngài trả lời như một giao ước, một gắn bó tín trung bền vững. Chúa gọi và chỉ dẫn ở từng chặng đường, ngài nghe và vâng theo. Cho dù gặp khó khăn trắc trở, ngài luôn vững tin ở Đấng đã gọi mình. Vì thế, nơi Thánh Giuse, con đường sống đạo là con đường tin cậy khiêm cung và tuyệt đối vào Thiên Chúa. Tin với tâm hồn thờ phượng, tạ ơn, với lòng phó thác và nguyện cầu tha thiết.

Ngày nay, Thánh Giuse vẫn đồng hành với chúng ta và che chở chúng ta, như đã đồng hành và che chở Mẹ Maria và Chúa Giêsu. Với kinh nghiệm của mình, ngài xứng đáng là thầy dạy đời sống nội tâm cho mỗi người chúng ta: dạy cho ta biết Chúa Giêsu, gần gũi với Chúa, chia sẻ cuộc đời của Chúa. Ngài giúp ta ý thức mình là người nhà của Chúa, là thành viên của Giáo hội, Gia đình của Thiên Chúa tại trần gian.

Anh em Gia trưởng thân mến,

Thánh Giuse - Bạn Trăm Năm Đức Trinh Nữ là gương sáng khiết tịnh cho anh em. Không cần chờ tới tuổi già mới sống đời thanh tịnh. Sự thanh khiết của đôi bạn Giuse và Maria là do tình yêu. Sức mạnh và sự vui tươi của tuổi trẻ không là ngăn trở cho một tình yêu cao thượng. Khi cưới Mẹ Maria về, Thánh Giuse có một “trái tim trẻ trung” trong một thân xác trẻ trung. Khi được thiên thần báo mộng cho biết mầu nhiệm “Đức Maria là Mẹ Chúa Trời”, người đã sẵn sàng đón nhận Mẹ Maria, đồng hành với Mẹ, chăm sóc Mẹ, mà vẫn tôn trọng sự trinh nguyên của Mẹ. Mẹ Maria trở thành một niềm vui, một hồng ân cho Thánh Giuse.

Anh em là người cha người chồng trong gia đình. Anh em đừng bao giờ coi mình là ông chủ đầy quyền lực trong gia đình, muốn làm gì thì làm. Anh em phải biết tuân theo ý Chúa, phải bình tĩnh, biết quảng đại, hy sinh trong mọi khó khăn của gia đình theo gương Thánh Giuse. Đứng trước những bối rối, đối diện với nghịch cảnh, gặp những thử thách, Thánh Giuse luôn chia sẻ nỗi lòng với Đức Mẹ, ngài trăn trở những âu lo của Đức Mẹ, ngài chỉ muốn tìm giải pháp ưu việt cho nhất cho gia đình. Anh em gia trưởng cần có lòng tôn kính Thánh Giuse, thường xuyên xin ngài cố vấn cho các hoàn cảnh khó xử của mình. Ngài đã kinh qua tất cả nên ngài hiểu rõ hơn ai hết những nổi niềm của người Gia trưởng. Thánh Cả như một địa chỉ cần thiết, thân quen, anh em cần lui tới chuyện trò với ngài.

Hôn nhân là tổ ấm. Gia đình là chiếc nôi. Con cái đón nhận đời sống thể chất và tinh thần. Mỗi đứa con đều mang hình ảnh Thiên Chúa. Giáo dục để chúng lớn lên trong ơn gọi làm người, ơn gọi làm con Thiên Chúa. Nhiệm vụ giáo dục con cái thật thiêng liêng và cao cả. Thiên Chúa trao cho các Gia trưởng.

Thánh Giuse làm cha. Con của ngài vừa là con người vừa là Con Thiên Chúa - Đấng Cứu Độ. Con cái của anh em được làm con Thiên Chúa. Cho nên nhiệm vụ nuôi nấng dưỡng dục con cái là sứ vụ cao cả và là hồng ân quý giá Thiên Chúa ban cho anh em. Anh em cần phải biết yêu thương và tôn trọng con cái mình. Hãy trở nên gương mẫu đạo đức thánh thiện cho con cái. Hãy tránh mọi thứ gương mù gương xấu. Từ lời nói đến thái độ sống xấu sẽ là đại họa cho con cái. Tuổi thơ các em đơn sơ như tờ giấy trắng, mỗi lời nói, mỗi cử chỉ của cha mẹ đều ghi đậm nét trên tờ giấy trắng tâm hồn và in dấu suốt cuộc đời các em. Bởi đó, trách nhiệm của người Gia trưởng đối với các em vô cùng quan trọng. Các em là thánh hay là quỷ tùy vào sự giáo dục và cách ăn nết ở của cha mẹ. Con cái là hoa trái của tình yêu và là niềm hy vọng của cha mẹ. Nguyện xin Thánh Giuse phù trợ cho anh em được trở nên những Gia trưởng thánh thiện, gương mẫu để đem hạnh phúc đến cho gia đình và cho cả xã hội tương lai.

Thánh Giuse mãi mãi là tấm gương cho anh em Gia trưởng soi. Tấm gương của một con người luôn thao thức lắng nghe tiếng Chúa và khi đã nghe thì mau mắn đáp lại không thắc mắc cho dù phải trả giá.Tấm gương của một con người luôn hướng tâm hồn về Chúa, xin vâng trước Thiên Ý, luôn phó thác để Chúa thực hiện chương trình cứu rỗi của Người.Tấm gương về người quản gia trung tín chăm sóc hai kho tàng quý giá nhất trần gian là Hài Nhi Giêsu và Mẹ Maria.

Thánh Giuse là con người thầm lặng, ít nói, khiêm tốn. Gioan Tẩy Giả chân thành “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ bé lại”. Giuse đã sống điều đó mà không nói một lời. Chính cuộc sống ấy đã biến Thánh nhân thành một vị Đại Thánh. Thánh Cả đã đem cuộc đời mình biến thành một Lời Chúa sống động, ngài xứng đáng là Bạn Trăm Năm Đức Trinh Nữ. Về mục lục.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

ĐẤNG CÔNG CHÍNH – BỔN MẠNG GIÁO HỘI

Trong hình ảnh có thể có: 2 người, văn bản

Thấm thoát đã tới lễ kính Thánh Cả Giu-se – Bạn trăm năm của Đức Maria (19/3). Kẻ viết bài này cũng nhận Thánh Cả làm Bổn mạng (chữ JM. trong bút hiệu chính là chữ viết tắt tên thánh của ngu mỗ: Joseph-Maria. Nếu viết bằng tiếng Việt: Giuse Maria mà viết tắt là GM thì có thể bị “ăn đòn” vì dám nhận mình là Giám mục. Đó là lý do phải dùng tiếng La-tinh). Có bổn mạng là Thánh Giu-se mà những hiểu biết về ngài còn rất hạn chế, đó có lẽ cũng là một yếu điểm, xin hải nội chư quân tử lượng thứ. Bài viết hôm nay ngu mỗ muốn tìm hiểu về danh hiệu của Thánh Giu-se, ngài là một “Cộng tác viên đắc lực” trong công trình cứu độ loài người của Thiên Chúa. Trước hết xin tìm hiểu xem “cộng tác” là gì?

Thói thường ở đời có nhiều công việc không thể hoạt động cách đơn lẻ, mà cần có sự hợp tác, cộng tác của nhiều người. Theo từ nguyên thì "cộng tác" hay "hợp tác" đều cùng có nghĩa là: “cùng góp sức hoàn thành một công việc nhằm một mục đích chung, nhưng có thể không cùng chung một trách nhiệm”. Nói đến cộng tác là nói đến sự tin tưởng lẫn nhau, và chỉ có tin mới sẵn sàng hợp tác làm ăn. Đó là đối với con người với sự bất toàn cố hữu, nhưng đối với Thiên Chúa thì sao? Tất nhiên ai cũng nghĩ rằng Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng, Người đã tạo dựng vũ trụ và con người, thì đâu còn sự gì Người không thể làm được ("Đối với loài người thì điều đó không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa, thì mọi sự đều có thể được." – Mt 19, 23). Vậy mà thánh Au-gus-ti-nô lại nói: "Để dựng nên ta, Thiên Chúa không cần đến ta, nhưng để cứu rỗi ta, Thiên Chúa không thể làm được nếu ta không cộng tác với Ngài." Mới thoạt nghe thì thấy có vẻ không ổn, nhưng suy nghĩ cho kỹ sẽ thấy lời dạy của thánh nhân thật chí lý.

Thật thế, khi dựng nên loài người, Thiên Chúa đã ban cho sự tự do tuyệt đối, và cũng vì được tự do, con người đã không nghe Lời Thiên Chúa, mà nghe lời cám dỗ của ma quỷ (St 3, 1-24), nên mới sa ngã và bị tội lỗi thống trị. Sau đó, không muốn để loài người chìm ngập trong đau khổ, nên vì tình yêu, Thiên Chúa lại sai chính Con Một xuống thế, chịu chết trên thập giá để cứu độ nhân loại. Cứ nhìn thẳng vào Đức Giê-su Thiên Chúa sẽ thấy trong các phép lạ Chúa làm, Người đều cần sự cộng tác của con người (ở tiệc cưới Cana, Chúa chỉ làm phép lạ khi người ta đã “múc nước đổ đầy các chum” – Ga 2, 7; trong phép lạ về bánh, Người chỉ làm cho bánh hóa nhiều khi “có 5 chiếc bánh và 2 con cá” – Mc 6, 35-43; khi chữa mắt cho người mù, Người chỉ thoa bùn vào mắt anh, còn phần anh phải đi rửa ở hồ Si-lô-ê mới được sáng mắt – Ga 9, 1-7; rồi trong những lần chữa bệnh cho mọi người, Đức Ki-tô luôn nói: “Đức tin của con đã chữa lành con”).

Vấn đề sẽ hoàn toàn sáng tỏ khi tự đặt câu hỏi: Những kẻ trực tiếp lên án, bắt trói, đánh đòn, đóng đinh Đức Giê-su Thiên Chúa, mà không biết ăn năn hối cải (tức là những kẻ dứt khoát không cộng tác với Người), thì liệu có được hưởng phần rỗi hay không? Câu trả lời tất nhiên là không. Chỉ có những kẻ tin vào Người, sẵn sàng nghe Lời Người – kể cả những kẻ "chối chúa phản thầy" biết ăn năn hối cải – tức là biết cộng tác với Người trong chương trình cứu độ, mới được hưởng phần rỗi mà thôi.

Trong Giao Ước Mới, khi thực hiện chương trình giải thoát loài người khỏi ách thống trị của tội lỗi và sự chết, Thiên Chúa đã mời gọi con người cộng tác với Người. Có rất nhiều cộng tác viên ở giai đoạn đầu, nhưng nổi bật hơn cả là 3 nhân vật trọng tâm: Đức Maria, Thánh Giu-se và Thánh Gio-an Tẩy Giả. Về Đức Maria và Thánh Gio-an Tẩy Giả thì các sách Tin Mừng đều có những trình thuật khá chi tiết, nhưng riêng với Thánh Giu-se thì quá sơ lược, sơ lược đến độ có thể nói ngài chỉ như một bóng mờ trong chương trình cứu độ nhân loại được thực hiện qua Đức Ki-tô. Vậy mà tại sao Giáo hội lại tôn phong ngài là bậc Thánh Cả (đứng đầu các thánh)? Vấn đề đặt ra chính ở điểm này.

Trước hết, phải nói Thánh Giu-se đã sống trọn hảo 3 lời khuyên Phúc Âm: Khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục. Có thể nói cuộc đời và sự nghiệp của Thánh Giu-se không có gì đặc sắc, cao trọng trước con mắt người đời. Tuy là dòng dõi vua Đa-vít, nhưng Thánh nhân chỉ là một bác thợ mộc bình thường nơi làng quê nghèo khó Na-da-rét, ngày ngày cặm cụi với nghề thợ mộc đơn sơ để kiếm miếng cơm manh áo nuôi thân và phụ giúp Mẹ Maria dưỡng nuôi Đấng Cứu Thế. Trong hoàn cảnh nghèo nàn như vậy mà phải đón nhận và dưỡng nuôi một “Người vốn giàu sang phú quý” (2Cr 8, 9) là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật, thì quả là không dễ dàng gì, nếu không có một nhân đức “khó nghèo” thực sự trong tâm hồn.

Thánh Giu-se đã triệt để sống tinh thần nghèo khó, bởi chính “Đấng giàu sang phú quý” là Đức Giê-su cũng “đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có.” (2Cr 8, 9) và khi Đấng ấy trưởng thành đã có lần phải thốt lên: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu.” (Lc 9, 58). Nghèo đến độ không có cả chỗ tựa đầu thì đủ hiểu Con Thiên Chúa giàu sang vinh hiển đã chấp nhận “mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” để đem Nước Trời về cho “những ai có tinh thần nghèo khó” (“Tám Mối Phúc”) vậy.

Về đức khiết tịnh thì chỉ có nơi những người “không biết đến việc vợ chồng” vì “không có khả năng”, vì “bị hoạn” hoặc tự nguyện sống khiết tịnh vì Nước Trời (đi tu), như Lời dạy của Đức Giê-su: “Quả vậy, có những người không kết hôn vì từ khi lọt lòng mẹ, họ đã không có khả năng, có những người không thể kết hôn vì bị người ta hoạn, lại có những người tự ý không kết hôn vì Nước Trời.” (Mt 19, 12). Tuy nhiên, bài Tin Mừng hôm nay lại giới thiệu về Thánh Giu-se là “Sau đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô: Bà Ma-ri-a, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se.” (Mt 1, 18), vậy thì phải hiểu như thế nào?

Luật Hôn nhân của Do Thái xưa quy định trai gái trưởng thành thì phải đính hôn và kể từ khi đính hôn đã được coi là thành vợ chồng (vì thế mới dùng chữ “thành hôn” như câu trích trên), nhưng chưa sống chung, mà còn phải chờ ngày đằng trai chính thức đón đằng gái về (VN gọi là “rước dâu”) mới thực sự sống chung trong một gia đình. Thánh Giu-se và Đức Maria đã khấn nguyện sống khiết tịnh nhưng vẫn tuân giữ Lề luật thành hôn với nhau và như thế các ngài đã không phải là tu sĩ nhưng vẫn sống khiết tịnh “vì Nước Trời” vậy. Tuy nhiên, Thánh Giu-se còn có những người con của người vợ trước và được coi là “anh em của Đức Giê-su” (vd: “ông Gia-cô-bê, người anh em của Chúa” – Gl 1, 19). Như vậy thì phải chăng Thánh Cả Giu-se đã không sống đời khiết tịnh từ trước khi thành hôn với Đức Maria? Quả thật đây là một vấn nạn rất khó trả lời. Đành phải tìm trong sách Giáo Lý.

Về sách Giáo Lý HTCG, thì trong PHẦN THỨ BA – ĐOẠN THỨ HAI – Chương hai – Mục 6: “Điều Răn Thứ Sáu” có nguyên một khoản II (các số từ 2337-2559) nói về “Ơn gọi sống khiết tịnh”. Chỉ xin trích một điều (số 2349) cũng đã rõ ràng: “Mỗi người giữ đức khiết tịnh tùy theo bậc sống của mình: người này trong bậc trinh khiết hay độc thân của đời thánh hiến, một cách thức dễ dàng tận hiến trọn vẹn tâm hồn cho Thiên Chúa; kẻ khác trong bậc gia đình hay độc thân, tùy theo luật luân lý xác định.” (x. CDF, déd.”Persona humana” À11). Người có gia đình được mời gọi giữ đức khiết tịnh trong đời sống vợ chồng; người độc thân giữ đức khiết tịnh khi sống tiết dục. “Có ba hình thức sống khiết tịnh: khiết tịnh của bậc hôn nhân, khiết tịnh của người góa bụa và khiết tịnh của kẻ đồng trinh. Chúng ta không ca tụng lối sống này mà loại bỏ lối sống khác. Về điều này, kỷ luật của Hội Thánh rất rộng rãi.” (T. Am-brô-xi-ô,Vid. 23).

Vì thế, nên khi biết được Đức Maria có thai, Thánh Giu-se “không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo” (Mt 1, 19). Cũng theo lẽ thường tình, gặp những trường hợp như vậy thì chắc chắn người chồng sẽ làm ầm ĩ, rồi tố giác ra làng xã để xử (chiếu theo luật Mô-sê có thể bị ném đá cho đến chết), ấy là chưa kể ở thời đại ngày nay, anh chồng còn “tự xử án vợ” bằng cách “thượng cẳng chân hạ cẳng tay” hoặc “xin tí huyết” nữa. Nhưng Thánh Giu-se đã không làm thế, vì Người “là người công chính” (Mt 1, 19), lẽ tất nhiên chỉ còn một cách âm thầm bỏ đi là thượng sách.

Ngay ở giai đoạn gay go nhất ấy, thì Thiên Chúa đã can thiệp. Khi được thiên sứ truyền tin: “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần.” (Mt 1, 20); Thánh Giu-se đã vâng phục một cách tuyệt đối, không một lời băn khoăn thắc mắc, than vãn âu lo, hoặc khéo léo chối từ. Và như thế, lại thêm một điểm son chói lọi: Thánh nhân đã có một đức tin cực kỳ vững chắc. Chỉ có tuyệt đối tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa, thì trong hoàn cảnh éo le như vậy mới có thể vâng phục được. Quả thực, Thánh Giu-se là một con người rất đơn sơ giản dị, khiêm nhường, ít nói, nhưng lại là một người rất yêu mến, tin tưởng và phó thác cả cuộc đời vào sự quan phòng của Thiên Chúa.

Sự đơn sơ giản dị được bày tỏ qua việc lắng nghe và thực thi Thánh ý của Thiên Chúa, cho dù Lời Người mời gọi Thánh nhân chỉ qua một giấc mơ! Ngài không thắc mắc, than vãn hoặc đưa ra ý kiến riêng, cũng chẳng chần chờ, mà mau mắn xin vâng và thực hiện theo thánh ý của Thiên Chúa. Tấm lòng đơn sơ, giản dị, khiêm cung của Thánh nhân thể hiện thật cụ thể trong suốt cuộc đời trần thế, thông qua việc ngài chu toàn bổn phận của người chồng, người cha trong gia đình nơi mái ấm Na-da-rét, chu toàn giới luật của tiền nhân, là một công dân gương mẫu đối với xã hội, sống chan hòa yêu thương với mọi người. Tin Mừng đã minh chứng điều đó qua việc ngài giữ đúng tập tục truyền thống (luật Mô-sê) và luật pháp xã hội (kê khai nhân khẩu) trước và sau ngày Hài Nhi Giê-su giáng thế, qua việc ngài cùng với mọi người trẩy hội đền thờ hằng năm.

Thánh Giu-se đã tận tụy, vâng phục tuyệt đối Thánh ý của Thiên Chúa, qua việc cùng với Mẹ Maria dưỡng nuôi Đấng Cứu Thế, để “Đức Giê-su ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta.” (Lc 2, 52). Điều đó chứng tỏ Thánh nhân là một tấm gương tuyệt hảo về đức công chính, như lời nhận xét của người đương thời (Mt 1, 19) và càng tỏa sáng đến muôn đời hậu thế. Không những vậy, sự âm thầm cộng tác với Dưỡng Tử Giê-su trong hành trình thi hành sứ vụ Thiên Chúa Ngôi Cha trao phó, đã chứng minh Thánh Giu-se chu toàn sứ mệnh từ Ơn gọi làm con cái Thiên Chúa thông qua việc tham dự vào 3 chức vụ: Tư Tế, Ngôn Sứ, Vương Giả của Đấng Cứu Độ trần gian.

Hóa cho nên, Người tín hữu không lạ khi thấy trong muôn vàn vị thánh – ngoại trừ Mẹ Maria được Thiên Chúa ân thưởng và tôn phong cách riêng trong vai trò làm Mẹ Thiên Chúa – Giáo hội đã chiêm ngưỡng và tôn phong Thánh Giu-se là Thánh Cả trên hết các thánh, đặt Ngài là Đấng bảo trợ Giáo hội, gia đình và mỗi người tín hữu, nhất là các bậc gia trưởng trong gia đình. Người Ki-tô hữu ngày hôm nay không những học tập và thực hành triệt để tấm gương mẫu mực sống ba lời khuyên của Phúc Âm nơi Thánh Cả Giu-se, mà trên hết hãy cầu xin cho được ơn đức tin trọn hảo như Thánh Cả, để cùng với toàn thể Giáo hội cộng tác với Đức Giê-su Thiên Chúa trong chương trình cứu độ nhân loại.

Tóm lại, muốn thi hành trọn hảo ơn gọi Ki-tô hữu, xin “HÃY ĐẾN CÙNG GIU-SE – ITE AD JOSEPH”, cầu xin Thánh Cả cầu bầu cùng Thiên Chúa ban mọi ơn lành:

HÃY luôn phấn khởi hân hoan,

ĐẾN xin Thánh Cả, Người ban ơn lành,

CÙNG Người – cất bước đồng hành,

THÁNH Thần soi lối, tiến nhanh kịp thời.

CẢ trong những lúc rối bời,

GIU-SE nâng đỡ – cuộc đời bình an,

VÌ bao nhiêu nỗi lo toan,

NGƯỜI thương bầu chữa, ủi an tận tình.

LÀ người thánh thiên quang minh,

ĐẤNG hằng cứu vớt sinh linh cõi trần,

CÔNG tâm, chính trực muôn phần,

CHÍNH Người Bầu Cử giáo dân đêm ngày.

Người Ki-tô hữu hôm nay,

Hãy tìm lối thẳng đường ngay mà về.

Đến cùng Thánh Cả Giu-se,

Thiên Đường vui hưởng tràn trề vinh quang.

Ôi! “Lạy Chúa, Chúa đã giao phó Ðức Giê-su cho Thánh Cả Giu-se và thánh nhân đã trung thành gìn giữ trong giai đoạn đầu của công trình cứu độ. Xin nhận lời thánh nhân cầu thay nguyện giúp, cho Giáo hội luôn luôn cộng tác với Ðức Giê-su để hoàn tất công trình Người đã khởi đầu. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở, muôn đời. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ lễ Thánh Giu-se, Bạn Trăm Năm Đức Maria). Về mục lục.

JM. Lam Thy ĐVD. 

PHẦN PHỤ QUAN TRỌNG

GIUSE – DƯỠNG PHỤ THÂM TRẦM

LẶNG LẼ ÂM THẦM LAO ĐỘNG, YÊU THƯƠNG

SỐNG PHI THƯỜNG GIỮA ĐỜI THƯỜNG

GIUSE CÔNG CHÍNH VÔ CÙNG KHÔN NGOAN

Phần quan trọng là phần chính, phần không thể thiếu. Đó là điều chắc chắn. Còn phần phụ, tuy không là chính nhưng cũng có những phần phụ không thể thiếu, nghĩa là vẫn thực sự quan trọng. Phần phụ quan trọng đó chính là Đức Thánh Giuse.

Thật vậy, theo tiếng Do Thái, Giuse là יוֹסֵף [Yosef], và tiếng Hy Lạp là Ἰωσήφ [Ioseph], có nghĩa là “thêm vào” – tức là “phần phụ” mà thôi. Ý nghĩa này thật phù hợp với Đức Thánh Giuse, con ông Gia-cóp, dòng dõi Thánh vương Đa-vít, là Hôn phu của Đức Trinh Nữ Maria, người nhận trọng trách làm Dưỡng phụ của Chúa Giêsu trên trần gian.

Thánh tiến sĩ Têrêsa Avila (Teresa Sánchez de Cepeda y Ahumada, 1515–1582, dòng Kín Cát Minh) rất sùng kính Đức Thánh Giuse, thánh nữ xác định rằng Đức Thánh Giuse không bao giờ từ chối điều gì mà bà cầu xin vào ngày lễ kính Đức Thánh Giuse – 19 tháng 3.

Nói về Đức Thánh Giuse, Thánh tiến sĩ Tôma Aquinô (1225–1274) cho biết: “Một số vị thánh được đặc ân gia tăng sự bảo trợ của các ngài đối với chúng ta khi ban cho chúng ta những ơn đặc biệt trong một số trường hợp khi chúng ta cần. Nhưng Thánh Cả Giuse có quyền trợ giúp chúng ta trong mọi lúc, mọi sự cần thiết và mọi công việc”. Còn Thánh Grêgôriô Nadariên nhận định: “Chúa đã làm cho Thánh Giuse trở nên rạng ngời như được chiếu tỏa bởi ánh mặt trời, với tất cả ánh sáng và sự rực rỡ mà các thánh sở hữu”.

Chúng ta được biết rằng Đức Thánh Giuse là người chồng và người cha gương mẫu, nhưng ngài lại sống rất khiêm nhường, trầm tĩnh, luôn quên mình vì vợ con, vì người khác, nêu cao tinh thần phục vụ, âm thầm tan biến như muối hòa tan để làm ngon mọi thứ nhưng chẳng ai nhớ tới muối. Đức Thánh Giuse cũng vậy, và ngài được tôn xưng là Đấng Công Chính.

Điều Thiên Chúa nói với ông Na-than liên quan điểm Sinh và điểm Tử: “Khi ngày đời của ngươi đã mãn và ngươi đã nằm xuống với cha ông, Ta sẽ cho dòng dõi ngươi đứng lên kế vị ngươi, một người do chính ngươi sinh ra, và Ta sẽ làm cho vương quyền của nó được vững bền. Chính nó sẽ xây một nhà để tôn kính danh Ta, và Ta sẽ làm cho ngai vàng của nó vững bền mãi mãi. Đối với nó, Ta sẽ là cha, đối với Ta, nó sẽ là con. Nhà của ngươi và vương quyền của ngươi sẽ tồn tại mãi mãi trước mặt Ta; ngai vàng của ngươi sẽ vững bền mãi mãi” (2 Sm 7:4-5, 12-16).

Rất ngắn gọn, nhưng trình thuật này cho chúng ta biết về Thánh Ý Thiên Chúa nhiệm mầu, mọi sự đã được quan phòng và tiền định rạch ròi. Ở đây, chúng ta hiểu sự tiền định về Đức Thánh Giuse, một người đầy quyền thế nhưng lại không thích dùng quyền, chỉ thích khiêm nhường, ưa thầm lặng. Thật vậy, ngài tự hạ như hạt muối hòa tan vào mọi thứ, đến nỗi không còn ai nhận ra muối. Ngài không nói gì nhưng hành động cụ thể. Sống lặng là cách sống khôn ngoan, vì Kinh Thánh xác nhận: “Nếu biết giữ thinh lặng, kẻ ngu cũng được kể là người khôn ngoan; nếu biết ngậm môi, kẻ đó được coi là người thông hiểu” (Cn 17:28).

Quả thật, đức tin của Đức Thánh Giuse quá lớn, lớn đến nỗi ngài chìm đắm trong Dòng Thác Thương Xót nên Ngài không còn biết nói gì nữa, chỉ biết xưng tụng Thiên Chúa, như tác giả Thánh Vịnh đã từng thốt lên: “Tình thương Chúa, đời đời con ca tụng, qua muôn ngàn thế hệ miệng con rao giảng lòng thành tín của Ngài. Vâng con nói: Tình thương ấy được xây dựng tới thiên thu, lòng thành tín Chúa được thiết lập trên trời” (Tv 89:2-3). Và mọi điều đã ứng nghiệm như Thiên Chúa tuyên phán từ ngàn xưa: “Ta đã giao ước với người Ta tuyển chọn, đã thề cùng Đa-vít, nghĩa bộc Ta, rằng: Dòng dõi ngươi, Ta thiết lập cho đến ngàn đời, ngai vàng ngươi, Ta xây dựng qua muôn thế hệ” (Tv 89:4-5).

Thiên Chúa biết rõ mọi sự, mọi tâm can, ai tốt hoặc xấu, cả những gì sâu thẳm (Cv 1:24; Cv 15:8; Rm 8:27; 1 Cr 2:10). Thánh Phaolô nói: “Không phải chiếu theo Lề Luật mà Thiên Chúa đã hứa cho ông Áp-ra-ham và dòng dõi ông được thế gian làm gia nghiệp, nhưng ông được lời hứa đó vì đã trở nên công chính nhờ lòng tin” (Rm 4:13). Vì tin mà Tổ phụ Áp-ra-ham được công chính hóa. Đức Thánh Giuse cũng vì tin mà được công chính hóa. Đó là hệ quả tất yếu theo lời hứa của Thiên Chúa, Đấng muôn đời thành tín.

Tất nhiên chúng ta cũng phải qua “hành trình đức tin” vậy, vì Đức Tin vô cùng quan trọng, Chúa Giêsu đã chúc phúc: “Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20:29). Chúa Giêsu cũng dạy chúng ta về cách sống đức tin bằng lời cầu nguyện ngắn gọn, đơn giản mà mạnh mẽ: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài”.

Thánh Phaolô cho biết thêm: “Vì tin mà người ta được thừa hưởng lời Thiên Chúa hứa; như thế lời hứa là ân huệ Thiên Chúa ban không, và có giá trị cho toàn thể dòng dõi ông Áp-ra-ham, nghĩa là không phải chỉ cho những ai giữ Lề Luật, mà còn cho những ai có lòng tin như ông. Ông là tổ phụ chúng ta hết thảy, như có lời chép: Ta đã đặt ngươi làm tổ phụ nhiều dân tộc. Ông là tổ phụ chúng ta trước mặt Thiên Chúa, Đấng ông tin tưởng, Đấng làm cho kẻ chết được sống và khiến những gì không có hoá có. Mặc dầu không còn gì để trông cậy, ông vẫn trông cậy và vững tin, do đó ông đã trở thành tổ phụ nhiều dân tộc, như lời Thiên Chúa phán: Dòng dõi ngươi sẽ đông đảo như thế” (Rm 4:16-18). Tấm gương của Tổ phụ Áp-ra-ham thật là sáng ngời! Lời giao ước của Thiên Chúa là tặng phẩm hoàn toàn miễn phí, nhưng lại hiệu quả và ích lợi cho những ai thực sự có lòng tin tưởng.

Đức tin của Tổ phụ Áp-ra-ham vô cùng vĩ đại: Sẵn sàng ra đi theo lệnh Chúa truyền, và cũng không ngại hạ sát đứa con trai I-xa-ác duy nhất của mình làm hy lễ dâng Thiên Chúa (St 22:1-18). Dù có khó khăn tới mức nào, đến nỗi có lúc như tuyệt vọng, thế nhưng Tổ phụ Áp-ra-ham vẫn một niềm tín trung: “Ông Áp-ra-ham đã chẳng mất niềm tin, chẳng chút nghi ngờ lời Thiên Chúa hứa; trái lại, nhờ niềm tin, ông đã nên vững mạnh và tôn vinh Thiên Chúa, vì ông hoàn toàn xác tín rằng: điều gì Thiên Chúa đã hứa thì Người cũng có đủ quyền năng thực hiện. Bởi thế, ông được kể là người công chính” (Rm 4:20-22).

Tổ phụ Áp-ra-ham và Đức Thánh Giuse là hai con người vĩ đại, son sắt niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa ngay trong lúc dầu sôi lửa bỏng nhất, tưởng như ở bước đường cùng, thế nhưng các ngài vẫn không hề so đo hoặc tính toán thiệt hơn – dù chỉ thoáng qua trong ý nghĩ.

Hôm nay, mặc dù là “muộn màng” cũng xin được mượn lời Thánh Vịnh để chúc mừng Tổ phụ Áp-ra-ham và Đức Thánh Giuse: “Phúc thay người ở trong thánh điện, họ luôn luôn được hát mừng Ngài” (Tv 84:5). Ước gì chúng ta cũng mau trưởng thành tâm linh để khả dĩ được công chính hóa, nhất là trong Mùa Chay Thánh này – cũng gọi là Mùa Thương Khó, vì đây là cơ hội ngàn vàng! Ít nói là tốt, dù người đời không ưa người ít nói, vì người ta cho rằng người lầm lì là người khó chịu. Nhưng thật ra, ít nói thì ít sai (về lời nói), nói nhiều rất dễ lỡ lời. Đức Thánh Giuse thật là khôn ngoan vì ngài rất ít nói, hầu như không nói gì. Ít nói cũng là một cách ăn chay, vì tịnh tâm là điều cần thiết để sống Mùa Chay – sống tích cực chứ không “theo phong trào”.

Tin Mừng là trình thuật Lc 2:41-51a, đề cập việc Con Trẻ Giêsu “thất lạc” khi Thánh Gia đi trẩy hội đền thờ Giêrusalem mừng lễ Vượt Qua theo thông lệ hằng năm, đồng thời cũng cho thấy rõ nét về tính cách trầm lặng của Đức Thánh Giuse: Đức Mẹ có nói nhưng Đức Giuse hoàn toàn im lặng. Rất có thể ngài chỉ cười thôi.

Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng khi Con Trẻ Giêsu được mười hai tuổi, cả gia đình cùng lên đền thờ Giêrusalem, như người ta thường làm trong ngày lễ. Xong kỳ lễ, hai ông bà trở về, còn cậu bé Giêsu thì ở lại Giêrusalem mà cha mẹ chẳng hay biết. Ông bà cứ tưởng là cậu về chung với đoàn lữ hành, nên sau một ngày đường, mới đi tìm kiếm giữa đám bà con và người quen thuộc. Không thấy con đâu, hai ông bà trở lại Giêrusalem mà tìm.

Lễ hội thì người đông như kiến, biết đâu mà tìm. Nếu chúng ta gặp trường hợp này thì sao? Chắc hẳn vợ chồng sẽ “cắn đắng” nhau, đổ lỗi cho nhau đã không theo sát con cái, chồng trách vợ “vô trách nhiệm”, vợ trách chồng “vô tâm”. Mệt hết sức! Thế nhưng cả Đức Maria và Đức Giuse đều không nửa lời trách nhau, ai cũng im lặng vì tự biết nhận lỗi về mình, và cố gắng tìm kiếm Con Trẻ.

Đến ba ngày sau, hai ông bà mới tìm thấy Con Trẻ trong Đền Thờ, đang ngồi giữa các thầy dạy, vừa nghe họ, vừa đặt câu hỏi. Ai nghe Cậu nói cũng ngạc nhiên về trí thông minh và những lời đối đáp của Cậu. Một thiếu niên mới mười hai tuổi mà làm sững sờ cả các nhà thông thái. Ngạc nhiên chưa? Chắc hẳn cha mẹ Ngài cũng ngạc nhiên lắm. Nhưng Đức Maria và Đức Giuse không hề “khoe” với ai về điều này. Còn chúng ta thì sao? Ôi thôi, khỏi nói! Con trẻ mới lanh lẹ một chút đã tưởng con mình là “thần đồng”, nó biết cái gì là khoe rùm beng, cả làng trên xã dưới đều biết ráo trọi. Đúng là “đèn nhà chưa tỏ, ngoài ngõ đã hay” mà. Chảnh ghê đi!

Sau khi tìm được Con Trẻ Giêsu, hai ông bà đều sửng sốt, riêng Đức Mẹ nói với Con Trẻ: “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải CỰC LÒNG tìm con!”. Ngài đáp: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có BỔN PHẬN ở nhà của Cha con sao?”. Ui da, ông bà cũng chẳng hiểu lời Con Trẻ vừa nói. Phải vậy thôi, phàm nhân sao mà hiểu nổi Thiên Chúa chứ? Giả sử là chúng ta thì chắc chắn còn ngớ ngẩn hơn nhiều, chẳng khác chi “chú Tàu nghe kèn”, vừa gãi đầu vừa mắt chữ 0 và miệng chữ A. Lạ quá mà!

Nhưng nói là nói vậy thôi, chứ Con Trẻ Giêsu vẫn ngoan ngoãn đi xuống cùng với cha mẹ để trở về Na-da-rét, Thánh Luca cho biết rằng Con Trẻ Giêsu “hằng vâng phục các ngài”. Là Con Thiên Chúa, nhưng khi chấp nhận mặc xác phàm và sinh trong một gia đình, Chúa Giêsu vẫn giữ trọn đạo làm con đối với cha mẹ theo nhân tính. Một bài học “nhớ đời” cho chúng ta, vì không ai lại không làm con của cha mẹ mình. Chữ Hiếu rất quan trọng: “Thảo kính cha mẹ” (Tb 4:3; Hc 3:8), và cũng là giới răn thứ tư trong Thập Giới (Xh 20:3-17; Đnl 5:7-21).

Kinh nghiệm sống cho chúng ta biết rằng mặc dù tình yêu vô hình, không thể “đụng chạm” nhưng chúng ta vẫn khả dĩ cảm nhận. Lạ quá chừng!

Tình yêu không lời là tình yêu quá lớn, đến nỗi không thể diễn tả bằng lời! Ít nói như Thánh Giuse có nhiều lợi ích. Đơn giản là khỏi “vướng víu”. Nói nhiều thì sai nhiều. Lợi bất cập hại. Người ít nói là người có 8 “lợi ích” này: [1] Người ít nói là người biết lắng nghe, [2] Người ít nói là người biết quan sát, [3] Người ít nói là người suy nghĩ chín chắn, [4] Người ít nói là người thân thiện, [5] Người ít nói là người làm việc nhiều, [6] Người ít nói là người không nói nặng người khác, [7] Người ít nói là người bình tĩnh, [8] Người ít nói là người có óc sáng tạo.

Lạy Thiên Chúa toàn năng, bụi-tro-con xin cảm tạ Ngài luôn quan phòng và tiền định mọi điều, dù có những lúc con cảm thấy trái ý. Con chân thành xin lỗi Ngài. Xin biến đổi con nên mới, giúp con biết noi gương thầm lặng của Đức Thánh Giuse, biết quên mình mà dấn thân sống tích cực, trọn niềm tuân phục Thánh Ý Chúa và hết lòng vì tha nhân. Xin giúp con nhận ra Ngài nơi tha nhân, và xin cho những ai gặp con cũng nhận ra Ngài. Xin Đức Thánh Giuse giúp con nên giống ngài: Nói ít, làm nhiều; xin luôn đồng hành với con và luôn cầu giúp nguyện thay. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại. Amen. Về mục lục.

TRẦM THIÊN THU

TRỞ NÊN CÔNG CHÍNH NHỜ BIẾT THỰC THI Ý CHÚA

(2 Sm 7,4-5.12-14.16; Rm 4,13.16-18.22; Mt 1,16.18-21.24)

Hôm nay, cùng với Giáo Hội, chúng ta hân hoan mừng trọng thể lễ thánh Giuse, ngài là Đấng Công Chính, là bạn trăm năm của Đức Trinh Nữ Maria, là Cha Nuôi Đấng Cứu Thế.

Tuy nhiên, thánh Giuse được biết đến là một con người thinh lặng, âm thầm tuyệt đối, nhưng lại có một cuộc đời hoạt động không ngừng nghỉ cho công cuộc cứu chuộc của Thiên Chúa.

Chính vì điều đó mà thánh nhân được mệnh danh là người có một đời sống đức tin sâu xa, lòng trông cậy vững vàng và đức mến thiết tha.

Có được điều đó là vì thánh Giuse luôn tìm thánh ý Thiên Chúa thay cho ý riêng của mình. Ngài cũng sẵn sàng đón nhận mọi thử thách, đau thương để thánh ý Chúa được nên trọn.

1. Từ bỏ ý riêng để tuân theo ý Chúa

Thánh Giuse là con cháu Vua Đavít, ngài thuộc dòng dõi hoàng tộc. Khi xuất thân từ con dòng cháu giống như vậy, thân thế của thánh Giuse rất sáng giá. Từ đó, ta có thể suy tư và nhận biết rằng: thánh Giuse là một con người gương mẫu về việc trung thành với luật lệ của tiền nhân. Có lẽ ngài cũng giống như những người đạo đức của Dothái thời bấy giờ, đó là:

Luôn coi luật lệ Cựu Ước là khuôn vàng thước ngọc, là ánh sáng, là con đường để dẫn đưa mình tới hạnh phúc.

Tuy nhiên, thánh Giuse lại được Thiên Chúa ghé mắt nhìn và muốn sử dụng ngài trở thành người phục vụ cho công trình cứu chuộc của Thiên Chúa, chứ không phải chỉ là người chu toàn lề luật thuần túy. Vì thế, Thiên Chúa đã làm cho thánh Giuse từ một người công chính của thời Cựu Ước trong việc chu toàn lề luật cũ, trở thành người công chính của thời Tân Ước trong chương trình của Thiên Chúa.

Sự công chính mà Thiên Chúa muốn dành tặng cho thánh Giuse được khởi đi từ biến cố ngài được báo mộng để đón nhận Đức Maria về làm vợ của mình trong khi Mẹ Maria đang mang thai.

Khi đón Mẹ Maria về chung sống như vậy, thánh Giuse thực sự trở thành người bảo vệ Đức Maria khỏi dị nghị và cái chết, bởi vì việc Mẹ Maria mang thai là do quyền năng Chúa Thánh Thần, vì thế, một người phụ nữ mang thai mà không có chồng, chắc chắn, chiếu theo luật, Mẹ sẽ bị ném đá. Việc đón nhận Đức Maria trong lúc nước sôi lửa bỏng như vậy đồng nghĩa với việc cứu sống Đức Maria cách nhãn tiền. Đây là một việc làm can đảm và mang tính quan trọng, quyết định.

Khi chấp nhận như vậy, thánh Giuse đã làm tan biến cái “tôi” của mình để sống và phục vụ cho chương trình của Thiên Chúa.

Như vậy, nếu sự công chính thời Cựu Ước là chu toàn lề luật theo mặt chữ, thì công chính giờ đây, với thánh Giuse là: lắng nghe Lời Chúa, yêu mến, trung thành và thực thi trọn vẹn thánh ý Thiên Chúa.

2. Vâng theo ý Chúa là chấp nhận một cuộc thử thách cam go!

Khi chấp nhận đi vào đường lối của Thiên Chúa, thánh Giuse đã bước đi trên con đường chẳng mấy ai đi, bởi vì nó không mấy êm ả!

Nhưng với ngài, không một lời than van, oán trách, ngược lại, ngài đi trên con ấy bằng một tình yêu vô vị lợi và với tinh thần trách nhiệm cao.

Bí quyết mà thánh Giuse có được, đó là: ngài luôn gieo vào từng suy nghĩ, hành động của mình bằng một thứ tình yêu độ lượng, bao dung, từ đó, mọi chuyện dù có vất vả, khó khăn…, cũng không thể làm chùn ý chí của ngài.

Điều này được chứng minh ngay sau một thời gian khi đón nhận Mẹ Maria về làm vợ, thánh Giuse đã phải lặn lội đưa Mẹ Maria trở về quê quán để khai tên tuổi. Biến cố này đối với thánh Giuse là một sự kiện rất đáng ghi dấu, bởi vì chuyến đi này đầy ắp tình yêu của ngài với Mẹ Maria, nhưng lại là chuyến đi xa của đôi vợ chồng nghèo!

Chính vì điều này, mà khi đến nơi, không tiền, không bạc, nên không thuê được nhà trọ, vì thế, xót xa lắm khi phải đưa người vợ đầy yêu thương đang bụng mang dạ chửa sắp sinh con tiến ra cánh đồng, nơi dành cho bò lừa để tá túc qua đêm.

Rồi không gì khổ tâm cho bằng chứng kiến cảnh Con Thiên Chúa toàn năng, Đấng tạo dựng nên đất trời, mà lại phải sinh trong máng cỏ của bò lừa, tanh hôi và lạnh giá!

Sự khó khăn không chỉ dừng lại ở đấy, nhưng chỉ mới được có vài ngày sau khi sinh, Gia Đình Thánh đã phải trốn chạy cảnh bạo chúa Hêrôđê ra tay tương tàn sát hại những con trẻ ở Belem.

Không phải chạy gần, mà chạy tới Aicập ngay trong đêm. Hơn nữa, sau khi nghe tin vua Hêrôđê băng hà, Giuse lại quyết định đưa vợ và con của mình hồi hương.

Rồi trong suốt thời gian Đức Giêsu sống ẩn dật, Kinh Thánh chỉ nhắc tới thánh Giuse có một lần. Tuy nhiên, lần nhắc đến này lại là lần ngài và Mẹ Maria tất tưởi đi tìm Đức Giêsu vì bị lạc mất Ngài.

Lược qua những biến cố trong cuộc đời của thánh Giuse như vậy, để cho chúng ta hiểu rằng: chấp nhận đi theo đường lối của Thiên Chúa, ấy là chúng ta chấp nhận lội ngược dòng của cuộc đời. Tuy nhiên, như thánh Giuse, ngài đã không hề than trách, không hề ngại khó ngại khổ, mà ngược lại, thánh Giuse đã làm cho tình yêu của ngài với Thiên Chúa qua Mẹ Maria và Đức Giêsu ngày càng lớn mạnh.

Còn chúng ta thì sao?

3. Sứ điệp Lời Chúa

Trong cuộc sống của con người hiện nay, có lẽ khi nói đến sự công chính của thánh Giuse và mời gọi noi gương ngài để sống sự công chính ấy trong cuộc sống, chắc có nhiều người cho là hão huyền! Bởi vì ngày nay, người ta nhìn mọi biến cố dưới nhãn quan khoa học, ít quan tâm đến hiện tượng lạ xảy ra trong cuộc đời. Bên cạnh đó, chủ nghĩa thực dụng, vô thần và những trào lưu tục hóa đang ngày càng xâm lấn tư tưởng của con người, đã làm cho con người rơi vào tình trạng luôn tìm cách giải nghi huyền nhiệm theo hướng thực dụng!

Người Kitô hữu cũng không ngoại lệ bởi những diễn biến trên!

Chính vì vậy, nên người ta ít nhạy bén trước lời mời gọi của Thiên Chúa qua các dấu chỉ. Việc từ bỏ ý riêng để tuân theo ý Chúa là điều mà nhiều người không muốn nghĩ tới. Hơn nữa, quan niệm hưởng thụ lại là tiêu chí chủ đạo trong cuộc sống hôm nay, vì thế, khi nói đến hy sinh, chịu khổ vì người khác là điều mà nhiều người không thích!

Sứ điệp ngày lễ thánh Giuse hôm nay mời gọi chúng ta hãy can đảm để từ bỏ ý riêng, nhằm phục vụ cho thánh ý và chương trình của Thiên Chúa. Chỉ khi ý riêng của chúng ta được hòa vào thánh ý Thiên Chúa, thì cuộc đời chúng ta mới thực sự được tự do hoàn toàn và đời sống mới có giá trị đích thực.

Luôn loại bỏ tư tưởng rằng: tin và theo Chúa là tránh được những đau khổ, vất vả…. Không phải vậy! Nhưng cần điều chỉnh lại suy nghĩ và hướng tới tinh thần như thánh Giuse, đó là: chấp nhận tin và theo Chúa là sẵn sàng đi vào con đường hy sinh, đau khổ, từ bỏ. Hơn nữa, điều quan trọng nhất, đó là biết đón nhận đau khổ, hy sinh, từ bỏ với tình yêu vô vị lợi và luôn hướng tới người khác. Chỉ có như vậy, chúng ta mới biến đau khổ thành phương thế để được cứu chuộc mình và tha nhân.

Muốn làm được điều đó, chúng ta phải có một đức tin sống động, đức mến nồng nàn và niềm phó thác tuyệt đối vào Thiên Chúa. Có thế, chúng ta mới hy vọng có đủ độ nhạy bén như thánh Giuse để biết được đâu là thánh ý Thiên Chúa và đâu là ý loài người.

Nguyện xin thánh Giuse luôn bầu cử cho mỗi chúng ta có được trái tim yêu thương, xả thân hết mình vì Chúa và tha nhân như ngài. Xin thánh Giuse nâng đỡ đời sống đức tin, lòng mến và niềm cậy trông nơi chúng ta. Ước gì nhờ lời chuyển cầu của ngài, chúng ta can đảm và an vui dấn bước theo Chúa để được cứu độ. Amen. Về mục lục.

Tu sĩ: Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.

NGƯỜI NGẪM NGHĨ

Trầm ngâm nghĩ chuyện gia đình

Thương Con, thương Vợ, quên mình vì yêu

Miệt mài lặng lẽ cần lao

Mong sao Thánh Thất sớm chiều bình an

Giuse chẳng quản gian nan

Cũng không lo lắng chuyện oan ở đời

Đức tin thuần khiết rạch ròi

Vui mừng đón Vợ về nơi Chúa truyền (*)

Giuse trầm lặng, nhân hiền

Nghĩ nhiều nhưng chẳng thấy phiền vì ai

Vững tin vào Chúa mà thôi

Vui-buồn-sướng-khổ có Ngài liệu lo.

TRẦM THIÊN THU

Kính mừng Đức Thánh Giuse, 19-03-2018

(*) Thiên thần truyền tin cho Giuse – Mt 1:18-25. Về mục lục.

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan