SUY NIỆM CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN – B
Lời Chúa: 1 V 17,10-16; Dt 9,24-28; Mc 12,38-44
HÃY SỐNG CHÂN THÀNH và QUẢNG ĐẠI - + ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm
LÒNG QUẢNG ĐẠI – + ĐTGM. Giu-se Vũ Văn Thiên
ÍT TIỀN NHƯNG GIÀU LÒNG QUẢNG ĐẠI – Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ
THIÊN CHÚA THẤU SUỐT TÂM CAN CON NGƯỜI – Phêrô Phạm Văn Trung
CỦA CHO KHÔNG BẰNG CÁCH CHO – Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT
AI CŨNG CÓ HAI ĐỒNG TIỀN KẼM – Bông hồng nhỏ
CÁI GÌ LÀ THƯỚC ĐO DÍCH THỰC? – Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng
CỦA LỄ MỌN HÈN – Thiên San
KHIÊM TỐN VÀ QUẢNG ĐẠI – Lm. Phêrô Phan Văn Lợi
HAI ĐỒNG KẼM CỦA BÀ GOÁ - Anna Têrêsa Thuỳ Linh
HÃY SỐNG CHÂN THÀNH và QUẢNG ĐẠI
+ ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm
Chia sẻ và cảm thông là một nét đẹp truyền thống của người Việt Nam chúng ta. Mỗi khi có thiên tai hoạn nạn, mọi người không phân biệt nguồn gốc, tôn giáo hay chính kiến, đều chung tay góp sức chia sẻ và đỡ nâng những đồng bào gặp nạn. Tục ngữ ca dao Việt Nam có rất nhiều bài diễn tả lòng quảng đại của con cháu Lạc Hồng. “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”, “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng”. Những câu ca dao này cho thấy tình liên đới sẻ chia đã ăn sâu vào tâm thức người Việt. Kết quả rất khả quan của các đợt quyên góp trong đại dịch Covid-19 và thiên tai bão lụt gần đây đã chứng minh và cụ thể hóa những lời ca dao từ ngàn đời đó.
Lời Chúa trong Chúa nhật 32 này muốn gửi đến chúng ta thông điệp chính là “lòng quảng đại”.
Trước hết là lòng quảng đại của Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng quảng đại và giàu lòng thương xót. Dựa trên giáo huấn của mạc khải, Ki-tô hữu tin rằng: Ngài tạo dựng mọi sự mọi loài và trao cho con người quản lý trông nom. Ngài lại ban cho con người vinh quang chỉ kém các thiên thần. Ngài cũng dành phần thưởng cho người công chính là thiên đàng vinh phúc. Thư gửi giáo dân Híp-ri (Bài đọc II) nói với chúng ta: lòng quảng đại của Thiên Chúa đạt tới đỉnh cao qua cái chết của Chúa Giê-su trên thập giá. Hy tế thập giá của Đức Giê-su đã thay thế hoàn toàn hy tế Cựu ước. Của lễ của Giao ước mới không còn là bò, chiên hay những loại sản vật, nhưng chính là Đức Giê-su, Con Thiên Chúa nhập thể làm người. Từ cây thập giá trên đồi Can-vê năm xưa, nguồn ơn thánh vẫn tuôn đổ dồi dào cho mọi thế hệ, đến với mọi nền văn hóa. Cuộc sống con người hiện tại đang là sự đợi chờ. Chúng ta đợi chờ Chúa Giê-su đến trong vinh quang, đó là ngày cánh chung hay ngày tận thế. Tuy vậy, nếu chúng ta không được gặp Đức Giê-su trong ngày cánh chung, thì ai trong chúng ta cũng sẽ được (hoặc phải) gặp Người vào thời điểm sau hết của cuộc đời, tức là giờ chết. Thiên Chúa là Đấng quảng đại và bao dung. Ngài sẵn sàng tha thứ mọi tội lỗi cho chúng ta, nếu chúng ta thành tâm tin tưởng và tuân giữ giáo huấn của Ngài.
Nếu Thiên Chúa quảng đại với tất cả chúng ta, thì chúng ta cũng phải sống quảng đại với anh chị em mình. Hai người phụ nữ, đều là bà góa, được nêu trong hai bài Sách Thánh. Hai người phụ nữ này sống ở hai thời điểm khác nhau trong lịch sử, nhưng lại có chung một điểm, đó là lòng quảng đại. Người phụ nữ ở Xa-rép-ta quảng đại với con người; còn người phụ nữ trong đền thờ Giê-ru-sa-lem lại quảng đại với Thiên Chúa. Một bà giúp đỡ vị ngôn sứ, là người của Thiên Chúa; bà kia công đức cho Đền thờ là nơi Chúa hiện diện. Cả hai đều là những người nghèo khó, nếu không nói là khánh kiệt. Dù vậy, họ vẫn sẵn sàng chia sẻ. Người phụ nữ trong sách Các Vua được thưởng công ngay tức khắc; người phụ nữ trong Tin Mừng được chính Thiên Chúa ghi công.
Trong một trình thuật ngắn, thánh Mác-cô (Bài tin Mừng) lồng ghép lời phê phán của Chúa Giê-su đối với những kinh sư Do Thái và hình ảnh người đàn bà góa. Hai hạng người này thuộc hai đẳng cấp khác nhau trong xã hội và trong tôn giáo. Một người được dân chúng kính trọng; người kia thường bị dân chúng coi thường, hoặc ít là thương cảm. Ấy vậy mà những ông kinh sư lại bị phê bình và kết án; trong khi người đàn bà góa lại được khen ngợi và được nêu gương. Lời Chúa dường như đảo lộn quan niệm và thang bậc giá trị theo cách nhìn thông thường của chúng ta. Qua Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su muốn khẳng định: đừng đánh giá một người dựa trên địa vị xã hội, y phục hay vai trò tôn giáo, nhưng phải nhìn ở cái tâm và dựa trên nhân phẩm con người.
Tại Việt Nam chúng ta, sau những bê bối về quyên góp và về những hoạt động từ thiện, lòng quảng đại bị biến dạng gây hiểu lầm. Có người làm từ thiện để khoe khoang, phô trương thanh thế. Những người này làm “từ thiện” vì bản thân, cho bản thân hơn là vì người khác và cho người khác. Hãy trả lại cho khái niệm “từ thiện” ý nghĩa chính xác của nó, như câu ngạn ngữ “Của cho không bằng cách cho”. Thánh Phao-lô đã nhắc lại giáo huấn của Chúa Giê-su cho các kỳ mục tại Ê-phê-xô: “Cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20,35).
Vâng, “của cho” là điều rất đáng quý, thể hiện sự quan tâm, chia sẻ đối với những người còn khó khăn, vất vả, hoàn cảnh đáng thương; song lớn hơn rất nhiều đó là “cách cho” để làm sao người được nhận hỗ trợ, nhận quà cảm nhận được tấm chân tình và tình cảm thiết thực. mục lục
+ ĐTGM. Giu-se Vũ Văn Thiên
ÍT TIỀN NHƯNG GIÀU LÒNG QUẢNG ĐẠI
Phụng vụ Lời Chúa hôm nay trình bày cho chúng ta tấm lòng vàng của hai bà góa. Một bà trong Sách Các Vua quyển thứ I (17, 10 – 16), một bà trong Tin Mừng theo thánh Mác-cô (12, 41 – 44). Cả hai bà, một nghèo về bột và dầu, một nghèo về tiền bạc. Chính trong thân phận ấy hai bà chứng tỏ một niềm tin mạnh mẽ nơi Thiên Chúa. Vật chất thì ít, nhưng giàu lòng quảng đại.
Bà gáo thành Sareptha
Tác giả sách Các Vua quyển thứ nhất thuật lại giai thoại về một bà góa nghèo thành Xa-rép-ta. Trong thời kỳ hạn hán, vị ngôn sứ này nhận được lệnh của Chúa đi tới miền Si-đôn, tức là ra ngoài Ít-ra-en, nơi lãnh thổ dân ngoại. Tại đó Ê-li-a gặp bà góa phụ là người Xa-rép-ta đi lượm củi, ông cất lời: ”Xin đem cho tôi một ít nước trong bình để tôi uống… Xin cũng mang cho tôi một miếng bánh” (1V 17, 10-11), trong lúc bà đang ở trong tình trạng không còn gì ăn và con bà sẽ chết đói nay mai, nên trả lời: ”Này tôi đi lượm vài que củi về nấu cho tôi và con trai tôi ăn rồi chết thôi” (1V 17,12), nhưng vì Ê-li-a nài nỉ và hứa với bà, nếu bà nghe lời, bà sẽ không thiếu bột và dầu nữa, bà ấy đã nghe và được tưởng thưởng.
Trong hoàn cảnh khắc nghiệt, người phụ nữ này, đã đi kín nước với tất cả tình yêu của trái tim. Khi bà trở về, Ê-li-a nói với bà: ”Cứ đi và làm như bà đã nói…với chút bột ấy trước hết hãy làm cho tôi một cái bánh nhỏ, đem lại đây cho tôi, sau đó hãy làm cho bà và cho con trai bà” (1V 17,13). Tấm lòng vàng và đức tin của bà góa lúc này bị thử thách, bà chỉ còn một nắm bột, cứ sự thường thật khó để có thể nuôi sống con bà, nay lại làm bánh cho cả vị tiên tri là này nữa.
Bà góa nghèo này đã cho ngôn sứ Ê-li-a tất cả phần bột và dầu ít ỏi còn sót lại trong nhà. Lòng quảng đại đó đã được Thiên Chúa đền đáp: “Hũ bột của bà không bao giờ vơi và bình dầu không bao giờ cạn” (1V 17….). Ê-li-a còn thực hiện phép lạ cứu sống cậu con trai của bà. Thái độ của bà góa thành Xa-rép-ta làm chúng ta liên tưởng tới một góa phụ khác mà Chúa Giê-su nói tới trong Tin Mừng Mác-cô hôm nay.
Bà góa thời Chúa Giê-su
Người đàn bà góa trong Tin mừng hôm nay được Đức Giê-su đề cao như một mẫu gương. Bà rất nghèo nhưng lại giàu lòng quảng đại. Điểm son nơi người phụ nữ này không phải là những danh giá xã hội hoặc sự giàu sang phú quý bên ngoài, nhưng chính là tấm lòng nơi bà. Khi ngồi đối diện với hòm tiền, Chúa Giê-su quan sát thấy bà góa nghèo đến bỏ hai đồng tiền là một phần tư xu vào đền thờ, ngưỡng mộ bà, Chúa tuyên bố: “Với hai đồng tiền, bà góa nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết. Vì tất cả những người kia bỏ của mình dư thừa, còn bà này đang túng thiếu đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống” (Mc 12, 44). Nghĩa cử dâng cúng của bà góa nghèo chứng tỏ nét đẹp của tấm lòng vàng tràn đầy hy vọng và tin tưởng vào Chúa nơi tâm hồn bà.
Noi gương Chúa Giê-su sống quảng đại
Không ai nghèo như Chúa và cũng không ai quảng đại bằng Chúa. Trong thư thứ II gửi giáo đoàn Cô-rin-tô, thánh Phao-lô đã viết: “ Đức Giê-su Ki-tô vốn giàu sang phú quý nhưng đã trở nên nghèo khó để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em nên giàu có” (2Cr 8, 9). Người tự nguyện sống kiếp con người, sinh ra trần trụi không nơi trú thân. “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng con người không có chỗ gối đầu” (Mt 8,20). Cao điểm của sự nghèo khó nơi Người, là Người đã bị phơi thây chết trần trụi trên thập giá. Đôi tay dang rộng, không tích lũy bất cứ một thứ của cải nào. Nhưng cũng chính đôi tay ấy đã trao ban tất cả, ngay cả đến mạng sống để hiển thị điều mà Người đã nói với các môn đệ trong bữa tiệc ly: “Không có tình yêu nào cao cả cho bằng mối tình của người hiến dâng sự sống cho bạn hữu” (Ga 15,13). Mẹ Tê-rê-sa Can-cút-ta đã nói: “Không ai trong chúng ta nghèo đến mức độ không có gì để mà cho”.
Hôm nay Chúa nêu ra mẫu gương về lòng quảng đại của một người đàn bà góa nghèo khổ. Đồng thời, Người cũng mời gọi chúng ta tiến sâu vào quỹ đạo tình yêu nơi Thập giá để trải nghiệm lòng quảng đại vô bờ bến mà chính Người đã diễn bày. Đây là sứ điệp mà Lời Chúa hôm nay muốn mạc khải cho chúng ta.
Chúng ta có thể nghĩ tới một phụ nữ góa nghèo khác tên là Ma-ri-a, dưới chân Thánh Giá Chúa đã dâng tất cả đời mình cho Chúa. Mẹ là mẫu gương tuyệt hảo của người cho đi với niềm tín thác nơi Chúa; với niềm tin ấy mẹ nói với Sứ Thần “Này tôi đây” và đón nhận thánh ý Chúa. Nhờ lời thưa xin vâng ấy, ý Chúa được thể hiện, mầu nhiệm sự sống được trao ban và dâng hiến được thực hiện nơi đồi Gôn-gô-tha, thế gian có được Chúa Giê-su, Bánh Hằng Sống, Đấng Cứu Độ chúng ta.
Tại Ca-na, Mẹ đã xin Chúa Giê-su cứu giúp anh em mình khi nói: “Họ không còn rượu nữa” (Ga 2,3), và nhận được lời Chúa Giê-u: “Này bà, giữa tôi và bà, nào có việc gì?” (Ga 2,4) Mẹ vẫn bảo gia nhân vâng lời Chúa Giê-su.
Lạy Mẹ Ma-ri-a, xin giúp mỗi người chúng con tín thác vào Chúa như Mẹ. Amen. mục lục
Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ
THIÊN CHÚA THẤU SUỐT TÂM CAN CON NGƯỜI
Hôm nay, Chúa Giêsu dạy chúng ta hãy nhận ra sự giàu có lớn nhất nơi chính sự nghèo khó tự nguyện. Để đi vào lý lẽ của Nước Trời, của sự giàu có đích thực, nhất là của cõi tâm linh trường tồn, thì sự buông bỏ bản thân, ngay cả những gì cần thiết cho bản thân, để hiến dâng cho Thiên Chúa và trao ban cho người khác những gì mình có, với tấm lòng đơn sơ và vui tươi, là một của lễ tốt lành hơn bất cứ loại hy sinh nào khác.
1. Giá trị của lễ dâng không hệ tại số lượng mà ở tấm lòng.
Chính một bà góa nghèo khó, trong Đền thờ, đã làm Chúa Giêsu chạnh lòng, không chỉ vì lòng thương xót đối với hoàn cảnh sống của bà, mà còn bởi sức mạnh của cử chỉ nhỏ bé của bà. “Chúa Giêsu ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Ngài quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao. Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. Cũng có một bà goá nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng xu Rôma” (Mc 12:41-42). Không ai nhận ra cử chỉ quá đỗi tầm thường của bà, nhưng chứa đựng một tấm lòng không hề nhỏ bé trước ánh nhìn của Thiên Chúa, và đó là điều chính yếu của một con người. Bà chỉ còn lại “hai đồng tiền kẽm” (Mc 12: 42), nhưng lại cho đi tất cả! Bà dâng hiến tất cả những gì mình có, tất cả cuộc sống và con người của mình, làm lễ vật dâng Chúa. Bà hào phóng hơn “lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền” (Mc 12: 41). Chính Chúa Giêsu nhận ra sự quảng đại lớn lao này và Ngài khẳng định rõ ràng: “Thầy bảo thật anh em: bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình” (Mc 12: 43-44).
Chúa Giêsu so sánh thói phô trương nhân đức giả tạo của một số người với thái độ khiêm tốn chân thành của bà góa nghèo khổ. Đồng xu của người nghèo dâng cho Chúa có giá trị trước mặt Chúa hơn bất cứ thứ tiền dư bạc thừa của những người giàu có khoe khoang “lấy tiếng”, vì Thiên Chúa nhìn vào tâm hồn, vào ý hướng của hành động chứ không nhìn vào số lượng bên ngoài nhưng không chứa đựng một thiện ý bên trong.
Nếu ai đó dâng cho nhà thờ một số tiền khổng lồ, hoặc thậm chí cả một khu đất giá chục tỉ, chỉ để người khác ghi nhớ tên tuổi của mình, thì trong ánh nhìn của Thiên Chúa, cũng không đáng giá bằng hai đồng tiền, một nải chuối hay vài trái trứng gà của một người nghèo đầy lòng khiêm nhường dâng Chúa. Thiên Chúa không quan tâm đến vẻ bề ngoài. Chúa Giêsu cảnh báo các môn đệ về các ông kinh sư thường hay tạo ra những cảnh tượng nơi công cộng, trong đền thờ, để tất cả những người có mặt ở đó ngưỡng mộ họ: “Anh em phải coi chừng những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng. Họ ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc. Họ nuốt hết tài sản của các bà goá, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ. Những người ấy sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn” (Mc 12: 38-40). Họ lấy của cải dư thừa của mình làm lễ vật dâng trong đền thờ và lớn tiếng về lễ vật của mình. Trước mặt Thiên Chúa, họ là những kẻ nghèo hèn nhưng họ hoàn toàn không nhận ra. Phải chăng điều này có nghĩa là Thiên Chúa không đón nhận lễ dâng của những người giàu có huênh hoang? Tất nhiên là không: “Ngôn sứ Isaia thật đã nói tiên tri rất đúng về các ông là những kẻ đạo đức giả, khi viết rằng: Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta” (Mc 7: 6).
Không có của cải tiền bạc nào giúp chúng ta khỏi xuống mồ, không sớm thì muộn. Thậm chí, chúng ta sẽ bị chôn vùi với của cải vật chất của mình, và cùng với cơ thể, chúng tan rữa dần dần để nuôi các sinh vật dưới lòng đất. Thiên Chúa không phán xét chúng ta dựa trên sự giàu có hay nghèo khó của cải vật. Chúng ta không được cứu độ vì giàu có tiền của và cũng không mất ơn cứu độ chỉ vì nghèo nàn vật chất. Nếu cuộc sống chúng ta không dư dả, chỉ có chút ít để dâng cho Chúa thì đừng ngại. Khả năng Chúa cho chúng ta bao nhiêu thì dâng hiến cho Chúa bấy nhiêu, như bà góa. Việc dâng cho Chúa nhiều hay ít không quan trọng, miễn sao chúng ta dâng cho Chúa hết khả năng của mình, với tất cả tấm lòng chân thành. Chắc chắn Chúa sẽ chấp nhận của dâng giá trị đó.
2. Dâng Chúa với lòng khiêm hạ
Thái độ khiêm hạ luôn là điều đúng đắn trong bất cứ mối tương quan nào: gia đình, họ hàng, cơ quan, bạn bè, đồng nghiệp...Điều này còn tuyệt đối đúng trong tương quan giữa Thiên Chúa và con người. Kinh nghiệm sống nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta không phải là chủ tể của mọi sự. Chỉ có Thiên Chúa mới là Chúa: “Ta là Thiên Chúa, chứ không phải người phàm. Ở giữa ngươi, Ta là Đấng Thánh” (Hs 11:9) và: “Đấng bắt muôn loài phải quy phục Ngài; và như vậy, Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài” (1 Cr 15:28). Đó là điểm khởi đầu cho tất cả những lời cầu nguyện khác: “Lạy Chúa, Ngài vĩ đại quyền năng, Ngài oai vệ, vinh quang, rực rỡ, vì mọi sự trên trời dưới đất thuộc về Ngài. Ngài nắm giữ vương quyền, lạy Chúa, và địa vị tối cao, vượt trên tất cả. Ngài cũng là nguồn phú quý vinh quang. Chính Chúa làm bá chủ muôn loài: nắm trong tay dũng lực quyền năng, nhờ tay Ngài, tất cả lớn lên và mạnh sức. Giờ đây, lạy Thiên Chúa chúng con thờ, xin dâng Ngài muôn câu cảm tạ và ca tụng Danh Thánh hiển vinh” (1 Biên niên sử 29:11-13).
Do đó, khi chúng ta dâng hiến cho Thiên Chúa trong sự khiêm hạ, chúng ta ý thức và nhận Ngài là Đấng điều khiển mọi sự. Chúng ta cầu xin sự giúp đỡ của Ngài trong mọi sự. Chúng ta nhận ra những điểm yếu, thất bại và tội lỗi của mình không phải với sự xấu hổ mà với sự tin tưởng rằng Ngài ban cho chúng ta ân sủng mà chúng ta cần để vượt qua những yếu kém đó. Chúng ta không thể tự mình làm bất cứ điều gì, nếu không có ơn trợ giúp của Chúa Kitô: “Sine me nihil potestis facere - không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15:5), nhưng “Tôi có thể làm được mọi sự nhờ Chúa Kitô, Đấng ban sức mạnh cho tôi” (Philípphê 4,13).
Đức Thánh Cha Phanxicô liên tục mời gọi chúng ta loại bỏ sự tự kiêu của mình. Ngài nói: “Thật vậy, kiêu ngạo là sự tự tôn, tự phụ, phù phiếm. Thuật ngữ này cũng xuất hiện trong loạt tật xấu mà Chúa Giêsu liệt kê để giải thích rằng cái ác luôn xuất phát từ trái tim con người (Mc 7:22). Người kiêu ngạo là người nghĩ rằng mình hơn hẳn so với thực tế; người lo lắng về việc được công nhận là vĩ đại hơn người khác, luôn muốn thấy công lao của mình được công nhận và coi thường người khác, coi người khác thấp kém hơn mình. Từ mô tả đầu tiên này, chúng ta thấy rằng tật xấu kiêu ngạo rất gần với tật phù phiếm...Tuy nhiên, nếu phù phiếm là một căn bệnh của bản ngã con người, thì nó vẫn là một căn bệnh trẻ con khi so sánh với sự tàn phá mà tính kiêu ngạo có thể gây ra…Người ta bắt đầu với những tội lỗi thô thiển nhất, chẳng hạn như thói tham ăn, rồi đến những con quái vật đáng sợ nhất. Trong tất cả các thói xấu, tính kiêu ngạo là nữ hoàng vĩ đại…Những ai đầu hàng thói xấu này thì xa Thiên Chúa, và việc sửa chữa điều xấu xa này đòi hỏi thời gian và nỗ lực, nhiều hơn bất cứ cuộc chiến nào khác mà người Kitô hữu được kêu gọi” (Buổi tiếp kiến chung hàng tuần vào thứ Tư, ngày 6 tháng 3 năm 2024.)
Thật vậy, sự nghèo khó và giàu có mà Thiên Chúa nhìn tới chính là sự nghèo khó của tinh thần và sự giàu có của tâm hồn. Kẻ phô trương của cải để thu hút sự ngưỡng mộ của thiên hạ là kẻ kiêu ngạo: sẽ khó vào được Nước Thiên Chúa. Người ấy liều mất sự cứu độ của mình vì thứ vinh dự hão huyền, phù phiếm ở đời.
Chúa Giêsu tuyên bố người có tinh thần nghèo khó là hạnh phúc: Nước Trời thuộc về họ: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5:3). Chúa Giêsu rất nghiêm khắc chống lại những người giàu có coi khinh những kẻ hèn mọn. Ngài khiển trách tất cả những ai mang nặng sự dư thừa và cái tôi của họ, tích lũy cho mình, tỏ ra nổi bật và dùng tài sản của mình để đè bẹp và thống trị: “Hãy nghe đây, hỡi những ai đàn áp người cùng khổ và tiêu diệt kẻ nghèo hèn trong xứ… Ta sẽ lấy tiền bạc mua đứa cơ bần, đem đôi dép đổi lấy tên cùng khổ; cả lúa nát gạo mục, ta cũng đem ra bán. Chúa đã lấy thánh danh là niềm hãnh diện của Giacóp mà thề: Ta sẽ chẳng bao giờ quên một hành vi nào của chúng” (Amốt 8: 4, 6-7). Bất cứ ai cậy vào của cải của mình và phô trương chúng thay vì cố gắng làm từ thiện cách khiêm tốn, người đó là người nghèo nhất. Còn người nào không mong cầu nhiều tiền của và không gắn bó hay phô trương những gì mình có là người giàu nhất, ngay cả khi người ấy không sở hữu gì cả. Vì vậy, khiêm nhường trong bác ái là điều kiện thiết yếu để có một đức tin phong phú và một cuộc sống đẹp lòng Thiên Chúa.
Con đường đích thực là sự khiêm nhường trong tình yêu. Sự khiêm tốn giúp chúng ta ẩn giấu bản thân thay vì đóng vai người lãnh đạo vĩ đại sửa sai người khác. Con đường khiêm nhường bao gồm việc lắng nghe, thấu hiểu, phục vụ người lân cận, nhận ra yếu đuối và tội lỗi của mình và cần phải trở nên thánh thiện để đáp lại tình yêu Thiên Chúa. Con đường tình yêu này bà góa đã tìm thấy. Bà khiêm tốn đặt Thiên Chúa lên hàng đầu. Đây là một hành động đẹp đẽ của đức tin, đức cậy và đức mến! Không ai nhìn thấy nó ngoại trừ Chúa Giêsu, Đấng là Tình Yêu Khiêm Hạ: “đã vào chính cõi trời, để giờ đây ra đứng trước mặt Thiên Chúa chuyển cầu cho chúng ta… đã tự hiến tế chỉ một lần, để xoá bỏ tội lỗi muôn người” (Hípri 9:24-28). mục lục
Phêrô Phạm Văn Trung
Trình thuật Tin Mừng của Chúa Nhật tuần này chia ra hai phần rõ rệt.
Trong phần thứ nhất, Đức Giê-su nói cho dân chúng về cách sống và lối hành xử quyền bính của mấy ông kinh sư. Thánh Mác-cô nói rất vắn gọn, không dài dòng, đi thẳng vào mục tiêu mà Ngài muốn nhắm đến. Thánh sử khuyên họ thay đổi, nếu không thì sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn các người khác, bởi vì họ đã được ban cho nhiều hơn.
Khi trình bầy sự đối nghịch giữa lối sống và lời giảng dậy của giới kinh sư và các thầy thuộc phái Pha-ri-sêu, Chúa khuyên các môn đệ đừng noi gương bắt chước họ, mà hãy nhìn vào lối sống của họ mà né tránh rồi tìm ra bài học về con đường mới, về lối sống mới mà chính Nguời là chứng nhân. Vì thế, trong phần thứ hai của bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su đã trình bầy hình ảnh và việc hiến dâng lễ vật của bà goá như là gương mẫu mà các môn đệ cần noi theo.
Trưóc khi tìm hiểu việc làm của bà góa và cách đánh giá của Đức Giê-su về việc bà làm, chúng ta cùng nghe một truyện kể được tìm thấy trong kho tàng truyện tích tại các trang mạng.
Truyện kể như sau:
Có một ông kia tuy nghèo, nhưng lại có thú chơi xe. Ông đã phải dành dụm trong một thời gian rất lâu mới có đủ tiền để mua được chiếc xe mà ông yêu thích. Sau khi tậu nó về. Ông không ngại cực khổ, cặm cụi rửa xe, đánh bóng, rồi dành thời gian để ngắm nghía thành quả của mình. Ông coi công việc chăm sóc xe như một sở thích trong đời. Cậu con trai tuy còn nhỏ tuổi, nhưng lại đồng cảm với bố. Cậu thấy bố yêu thích chiếc xe như vậy nên cũng thường xuyên phụ bố rửa xe. Hai bố con làm việc rất vui vẻ.
Một ngày kia, người bố lái xe về nhà sau một trận mưa lớn, chiếc xe dính đầy bùn đất, nhưng ông lại quá mệt, nên nói với con trai: “Hôm nay bố hơi mệt, thôi để hôm khác chúng mình rửa xe nhé con yêu!” Cậu con trai thấy mình đang rảnh rỗi, liền xung phong muốn thay bố rửa xe, và được đồng ý. Tuy nhiên, người bố này lại quên là con trai mình chưa được muời tuổi đời. Ông thản nhiên trở về phòng nghỉ ngơi mà quên không chuẩn bị dụng cụ gì cho cậu bé cả.
Cậu quí tử hào hứng xông ra rửa xe, nhưng lại không tìm thấy khăn lau. Cậu bé chạy vào trong bếp, đột nhiên cậu nghĩ tới cái miếng chùi xoong mà mẹ vẫn thường dùng để chà nồi rất sạch sẽ, cậu liền lấy ngay miếng thép ấy để dùng. Cậu cầm miếng chùi xoong, chạy tới chạy lui chung quanh xe, ra sức chà, hết lần này tới lần khác. Sau khi chà xong, cậu phát hiện trên xe có những vết nguệch ngoạc, cậu sờ lên chỗ đó, lại thấy sần sùi, lồi lõm.
Thấy như thế, cậu sợ quá bèn khóc rống lên và chạy ngay vào phòng ngủ của bố, vừa khóc vừa nói: “Bố ơi, con xin lỗi, bố mau tới xem đi!” Ông bố vội vàng theo con trai chạy ra ngoài, chứng kiến chiếc xe “cưng” của mình mang một bộ dạng thê thảm như vậy. Ông không dám tin vào mắt mình. Nhưng, đó vẫn là sự thật! Ông ngẩn người ra, chết lặng đến cả nửa ngày mà vẫn chưa nói nên lời, mãi sau này ông mới thét lên: “Ối trời ơi! Chiếc xe của tôi, chiếc xe của ta ơi!”
Ông vô cùng tức giận, xông ngay vào trong phòng, ngửa mặt lên trời mà than van rằng: “Hỡi Thượng Đế, Thiên Chúa của tôi! Chúa biết, đây là chiếc xe mà con đã dùng hết tài sản sau khi dành dụm mới mua được; thế mà chưa đầy một tháng, giờ này nó đã biến thành như vậy, xin Người cho con biết, con nên làm sao? Con nên xử phạt đứa con này như thế nào đây?”
Lời than xin vừa chấm dứt, đầu óc ông đột nhiên trở nên sáng suốt, và này một tư tưởng vừa lóe lên trong đầu: “Trong cuộc sống, mọi chuyện đều không thể nhìn vào cái vẻ bên ngoài mà phải nhìn vào trái tim.”
Trong khi đó, cậu con trai vẫn còn nước mắt đầm đìa. Nhìn thấy con mình như thế, bao nhiêu giận dữ của ông bố từ từ biến mất, ông buớc lại gần để trấn an con mình, nhưng cậu vừa thấy bố đến gần lại càng run sợ hơn. Ông ôm đứa con trai nhỏ bé của ông vào lòng rồi ôn tồn nói: “Cảm ơn con đã giúp bố rửa xe; bố yêu con nhiều hơn yêu chiếc xe này nữa!”
Anh chị em thân mến,
Câu chuyện nói trên nhắc chúng ta nhận ra cách hành xử của Đức Giê-su trước hành động của bà goá trong bài Tin Mừng, đúng hơn là hai bà góa trong phần phụng vụ Lời Chúa hôm nay.
Trước tiên, việc làm của hai bà nhắc cho tôi nhớ lại lời dậy bảo của cha ông. Các ngài thường khuyên rằng “của cho không bằng cách cho.” Có nghĩa là, khi san sẻ cho ai điều gì thì hãy trao cho họ bằng cả tấm lòng, nghĩa cử trân trọng và cung kính thì người nhận sẽ cảm thấy vui hơn. Đừng trao ban bằng thái độ kẻ cả, trịch thượng, coi thường kẻ khác thì cho dù món quà có quí giá đến đâu, nhưng thái độ khi trao ban như thế chỉ làm tha nhân bị tổn thương vì bị coi thường!
Bà goá ở Sa-rép-ta trong bài đọc thứ nhất đã nói: “Tôi chỉ có trong hũ một nắm bột, và trong bình một chút dầu thôi”. Đó là của ăn đường cho bà và gia đình trước khi chết. Thế mà bà và gia đình sẵn lòng hy sinh phần ăn này để cứu ngôn sứ Elia khỏi bị chết đói. Hy sinh như thế nói lên tâm tình dâng hiến của bà. Hiến dâng những gì mình có tức là cho đi chính con người của mình, sự sống của mình. Mấy ai làm đuợc điều này, thế mà bà góa ở Sa-rép-ta lại làm được. Bà đã trở nên một tấm gương cho chúng ta noi theo.
Tương tự như thế, ngày hôm nay tại cửa trước của đền thờ Giê-ru-sa-lem và trước mặt bao nhiêu người giầu có đã dâng cúng vào hòm tiền phần dư thừa, bà góa vô danh của chúng mình lại dâng cúng ít nhất, chỉ vỏn vẹn có hai đồng kẽm. Nhưng đó lại là tất cả những gì bà có. Bà dâng trọn vẹn những gì còn lại để nuôi sống bà. Bà cho đi tất cả.
Đức Giêsu nhìn thấy, không chỉ nhìn vẻ bề ngoài mà còn nhận ra phần sâu thẳm nơi tâm hồn của những người dâng cúng nữa. Người nói “Thầy bảo thật anh em: bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình.”
Hơn nữa, bà góa trong Tin Mừng là hình ảnh của một lớp người nghèo, cô thân cô thế. Như vậy, lẽ ra bà là đối tượng được các môn đệ quan tâm, chăm lo và săn sóc. Thế mà, qua việc dâng cúng rất nhỏ bé hôm nay, bà lại trở thành gương sáng, mẫu mực cho những ai muốn trở thành môn đệ của Chúa.
Việc làm của hai bà góa thật đáng ngợi khen. Họ đã cho đi tất cả những gì mà họ có để nuôi sống hai bà và gia đình. Có nghĩa là, họ đã cho đi chính cuộc sống của họ và gia đình.
Hành động của họ không chỉ mang tính quảng đại, mà còn nói lên tính liễu lĩnh, biểu lộ một niềm tin vô cùng vững chắc vào Đấng có quyền trên việc sống chết của họ nữa. Việc làm của bà góa có thể ám chỉ việc làm của Đức Giê-su sau này. Lễ vật dâng trong đền thờ của bà góa hôm nay loan báo việc tự hiến của Đức Giê-su dâng cho Chúa Cha đấy thôi!
Phần chúng ta, theo Chúa để dâng hiến tất cả những gì mình có. Như bà goá, khi dâng cúng số tiền tuy ít, nhưng đó là tất cả những gì bà có. Các môn đệ và chúng ta cũng được mời gọi và khuyến khích dâng cho Thiên Chúa tất cả những gì mình có qua việc phục vụ tha nhân vì cũng như mình, anh chị em là đền thờ của Thiên Chúa vậy. Amen! mục lục
Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT
Hôm nay, trong lúc giảng dạy, Thầy Giêsu đã lên án lối sống đạo đức giả của các kinh sư và khuyên các môn đệ phải coi chừng lối sống ấy. Sau đó, Người ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng trong Đền Thờ, quan sát xem người ta bỏ tiền vào thùng. Người dừng lại trước một bà góa nghèo, cảm mến vì tấm lòng quảng đại của bà. Bà đã dâng hai đồng kẽm, trị giá bằng một phần tư đồng xu Rôma. Đó là cả tài sản bà có, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình. Người dạy cho các môn đệ hiểu được đâu là điều cốt lõi của lòng yêu mến Chúa.
Nghe Thầy Giêsu khiển trách các kinh sư, ta tự hỏi: Ta có đang mải mê tự tạo cho mình một cái vỏ bên ngoài thật đẹp mà quên chăm sóc cho tâm hồn mình không? Phải chăng, từ trước tới nay, ta cũng đã chỉ ưa thích vẻ bên ngoài, phô diễn cho người khác nhìn thấy sự thánh thiện đạo đức của mình. Ta khao khát sống thánh thiện và đạo đức, chăm chú đọc kinh cầu nguyện mà đôi lần lại ngần ngại giúp đỡ người anh chị em đang cần đến mình. Ta đã mong muốn yêu mến Chúa thật nhiều và cố gắng giữ luật nhưng lại bỏ qua lòng bác ái với người khác, dù đó là một việc làm nhỏ bé: giúp người chị em đang phải khiêng đồ nặng, cầm hộ chai nước cho một người già yếu, mở cửa sổ khi vào lớp học, … Có bao việc làm nhỏ mọn khác mà ta có thể làm mà ta đã không làm chỉ vì ta chưa biết sống cho người khác. Thật may mắn cho ta vì ta được nghe Lời Chúa, được nhìn lại bản thân để thấy mình rõ hơn, để thấy rằng mình không thánh thiện như mình tưởng, thấy rằng mình còn nhiều giới hạn lắm. Tin Mừng kể rằng, có một người thông luật hỏi Chúa Giêsu điều răn nào trọng nhất, và ai là người thân cận của ông. Người đã cho ông biết điều răn trọng nhất là mến Chúa, điều răn thứ hai là yêu người. Có một ý nghĩ rất mới thoáng đến trong tâm trí ta và làm cho ta phải xấu hổ. Quả là, từ trước đến nay, ta cũng chỉ quan tâm xem ai là người thân cận của mình. Khi ta quy về mình, ta đã chỉ mong chờ sự cho đi từ người khác, hay muốn người khác nhận tấm lòng của ta. Ta không nghĩ rằng mình phải trở thành người thân cận của người khác. Nghĩa là ta phải khiêm tốn đón nhận tấm lòng của người khác khi họ ngỏ lời muốn giúp đỡ ta, muốn lắng nghe ta, muốn trò chuyện với ta, dù họ thật khác ta, dù họ không phải là người ta quý mến. Ta có thấy mình cần đến sự hiện diện của những người bên cạnh ta không? Sự hiện diện của họ là một món quà mà Chúa gửi đến cho ta. Chỉ khi ta phải sống trong tình cảnh phải cách ly vì dịch bệnh ta mới hiểu được nỗi khát khao sống cùng người khác là thế nào, muốn được làm điều gì đó cho những người khác. Ta khát khao được ở bên trò chuyện, muốn nhận lấy những cử chỉ quan tâm dù nhỏ bé của họ. Học cách cho đi và học cách đón nhận là hai bài học mà ta phải học và rèn luyện cả đời, làm sao để cho những cử chỉ, lời nói, suy nghĩ của ta đều xuất phát từ tấm lòng chân thành chứ không dừng lại ở hình thức bên ngoài.
Bà góa nghèo đã dâng hai đồng kẽm và việc làm của bà rất đẹp lòng Chúa. Chúa Giêsu đã gọi các môn đệ lại để nói cho họ biết về tấm gương dâng hiến của bà. Người cũng cho họ thấy: “Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình” (Mc 12, 4). Điều đó có nghĩa là bà đã phó thác cuộc đời của mình cho Thiên Chúa, bà dâng hết những gì mình có, dâng Chúa cả tình trạng túng quẫn của mình, cả cái sự nghèo khó của mình mà không than thân trách phận, không sợ xấu hổ, không sợ người khác chê bai, chỉ trỏ. Chị thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã chia sẻ, khi đến với Chúa, có những lúc chị cũng không có gì để dâng Chúa và chị dâng Chúa cả cái không có gì đó. Hai đồng tiền kẽm của ta là gì? Đó chẳng phải là tấm lòng đơn sơ chân thành khi đến với Chúa sao. Đó chẳng phải là sự phó thác, tin yêu: dâng Chúa những buồn đau, những lo lắng, những thử thách, thành công hay thất bại, dâng Chúa trọn con người mình. Đặt mình thường xuyên trước mặt Chúa, ta sẽ được Người dẫn đi qua đêm tối của cuộc đời, vì vẫn còn đó một ngọn đèn luôn luôn cháy sáng trong tâm hồn ta. Vẫn còn đó “hai đồng tiền kẽm” là tất cả cuộc sống của ta để dâng Chúa trọn cả trái tim.
Lạy Chúa! Chúa cao cả và giàu sang vô cùng. Cảm tạ Chúa đã luôn đón nhận con, dầu cho con đã từng thờ ơ và vô tâm với anh chị em con đang khi con nghĩ mình yêu Chúa. Ngay khi Chúa làm cho con nhận ra tình trạng của mình, con liền chạy đến với Chúa và được Chúa thứ tha và xót thương. Chúa hằng dạy dỗ con từng điều nhỏ nhặt nhất, dạy con cả trong những vấp ngã, trong những lần con lạc xa Ngài. Lạy Chúa! Chúa vui lòng nhận lấy “hai đồng tiền kẽm” của con, xin Chúa cũng dạy con biết nhận lấy hai đồng tiễn kẽm từ tấm lòng của người khác, và không ngần ngại hay xấu hổ khi bản thân chỉ có “hai đồng tiền kẽm” để trao cho họ; vì biết rằng điều con trao gửi là cả trái tim. Amen. mục lục
Bông hồng nhỏ
Dù đất Việt chủ trương kinh tế thị trường định hướng nền chánh trị hiện hành, thì từ nhiều thập niên, nó đã đi vào nếp sống, nếp nghĩ của mỗi người.
Nó làm cho người ta cuốn theo như cái máy, cố làm sao phải tạo nhiều của cải, càng nhiều, càng tốt, nhưng phải rẻ, bền, đẹp để bán nhanh nhất, đủ sức cạnh tranh, đủ sức tồn tại, để ông chủ có thể đứng vững, không những không bị phá sản mà còn phải giàu, giàu hơn nữa...
Để tạo được sản phẩm có thể đáp ứng những nhu cầu đó, vật chất làm ra phải tính toán sao cho bắt mắt, hợp thị hiếu, có giá trị, thì ngược lại, số lượng công nhân làm việc phải hết sức giới hạn. Sức lao động đứng hàng thứ yếu. Tiền lương dành cho người công nhân càng thấp, càng tốt. Vì người lao động ít, trong khi sản phẩm đòi phải làm ra nhiều nhằm mang lại lợi nhuận cho chủ, vì thế anh chị em công nhân phải tăng sức tố đa, phải làm thêm, tăng ca hết tốc độ, bị nhồi vào dây chuyền sản xuất...
Về phía anh chị em công nhân, đồng lương ít ỏi, tự bản thân thấy cần phải làm thêm, hay chấp nhận tăng ca là cách duy nhất khả dĩ có thể giúp có thêm thu nhập. Các chủ ông, chủ bà lợi dụng sự cần kiếp này của công nhân để róc hết sức lực của họ.
Tăng ca, thay vì là sự tự nguyện của công nhân, bây giờ trở thành quy định và ép buộc. Họ phải tăng và tăng liên tục. Nếu không chấp nhận, sẽ có những biện pháp phạt, đuổi việc. Hóa ra tăng ca không còn là tăng ca nữa, nhưng là kéo dài giờ làm đến khuya khoắt đã trở thành chuyện thường ngày.
Nhưng cuối cùng, tất cả những điều đó nhằm mục đích gì? Nhằm phục vụ sản phẩm, nói cách khác, phục vụ giá trị vật chất, để vật chất đó sẽ đem lại sự giàu có cho ông chủ. Còn những kẻ làm chủ, nhờ bóc lột sức lao động của công nhân, càng có cơ hội củng cố quyền hành, củng cố vị thế của mình.
Khi quyền hành tập trung, tiền của tập trung, họ bắt đầu thao túng, thủ đoạn, mua chuộc những người có quyền khác cần cho sự làm giàu của họ…, để càng ngày càng phát triển theo chiều hướng tốt cho họ, dẫu là chà đạp trên sự sống, trên nhân phẩm của người khác.
Chỉ có anh chị em công nhân là người chịu thiệt thòi. Các chủ đầu tư không ngừng dùng thủ đoạn, ít nữa là biện pháp để khống chế công nhân như sẵn sàng đuổi việc, cách chức, giảm tiền lương, kỷ luật, trù dập…
Kinh tế thị trường, dĩ nhiên có mặt tốt của nó, nhưng mặt khác, nó đè bẹp giá trị của lao động, của người lao động nói riêng và con người nói chung. Kinh tế thị trường tạo ra mâu thuẫn lớn giữa con người và vật chất. Nó làm đảo lộn giữa hai nhân tố ấy: nghĩa là giá trị vật chất mới quan trọng, còn con người chỉ đứng hàng thứ yếu. Con người phải phục vụ tối đa cho sản phẩm, cho vật chất mà chính mình tạo ra.
Chúng ta cùng nhìn lại thái độ của Chúa Giêsu qua Tin mừng hôm nay. Nếu so với các nhà kinh tế, chắc chắn Chúa Giêsu không phải là nhà kinh tế, càng không thể làm kinh tế.
Chúa Giêsu đánh giá tiền bé quá, đánh giá lòng người trọng quá. Chỉ mới nhìn thấy bà góa cùng đinh bỏ hai đồng bạc kẻm vào thùng tiền trong đền thờ, Chúa đã khen lấy, khen để, khen nức, khen nỡ, khen như chưa từng được hai đồng bạc vậy: "Bà này bỏ vào thùng tiền nhiều hơn hết".
Nhiều hơn hết là bao nhiêu? Là hai đồng kẻm, không được ½ xu, chỉ đúng ¼ xu.
Nhưng Chúa có lý do để khen ngợi: Vì "bà đã bỏ vào thùng tất cả những gì mình có để sống", mặc dù cái có để sống đó quá ít: chưa tới ¼ xu.
Hóa ra Chúa có một tiêu chuẩn đánh giá hoàn toàn khác người. Chúa không đánh giá khi nhìn bề mặt, càng không hề mang nặng thứ tâm lý kinh tế thị trường, chỉ đánh giá hoàn toàn do lòng chúng ta.
Chúa không đánh giá con người dựa trên vật chất, nhưng đánh giá dựa trên tình yêu, và nhìn vào tâm hồn con người mà đánh giá.
Bởi thế, dù chỉ hai đồng tiền kẽm, nhưng bằng một tâm hồn đầy lòng đạo đức, một đức mến hoàn toàn vô vị lợi, hai đồng tiền kẽm ấy cũng trở nên lớn nhất: nó nhiều hơn tất cả.
Lời dạy của Chúa Giêsu còn đó, là bài học cho mọi người, cho bạn và cho tôi.
Ở ngoài xã hội, người ta đã đánh giá nhau dựa trên giá trị vật chất quá nhiều rồi, và chính chúng ta, không ít lần là nạn nhân của thứ tâm lý kinh tế thị trường ấy.
Lỡ một lần, đến một nơi, người ta thấy mình mặc áo đã cũ, hình như sự tiếp đón cũng lạnh nhạt theo chiếc áo cũ ấy.
Kinh tế thị trường đi vào từng ngỏ ngách của đời sống, vì thế vô hình chung, nó cũng len lỏi vào trong nếp sống của gia đình.
Là mái nhà chung của những người ruột thịt, huyến thống, vậy mà chính nền tảng đạo đức gia đình lại báo động về sự rạn nứt, bởi những người thân giờ đây nhìn nhau qua lăng kính vật chất, đánh giá nhau dựa trên đồng tiền. Nhiều gia đình, mái ấm đã không còn "ấm", đã lạnh lẽo tự bao giờ.
Chẳng hạn người con làm ra tiền, bỗng dưng tiếng nói của nó có giá trị. Nếu kinh tế gia đình hầu như lệ thuộc hoàn toàn vào đứa con ấy, chắc chắn, không sớm thì muộn, nó sẽ có quyền quyết định trên mọi thứ, mọi vấn đề trong chính gia đình ấy.
Vợ hay chồng cũng vậy. Người này nhận tiền lương từ người kia, cũng sẽ thay đổi tương quan...
Hoặc có nhiều gia đình đang sống vất vả, đủ ăn hằng ngày, lại chứa chan lòng yêu thương, hạnh phúc bên nhau. Rồi đến lúc phát đạt, những người trong gia đình đó "đổi đời", con cái bắt đầu ăn diện, vợ dễ đi đường vợ, chồng dễ đi đường chồng. Đồng tiền thay hạnh phúc. Những ngày có nhau, ở cùng nhau, hiểu nhau... bỗng dưng bay mất...
Cuộc sống có quy luật của nó. Nếu người ta đánh giá nhau dựa trên giá trị vật chất, lấy tiền của để ước lượng nhau, hạnh phúc của họ chắc chắn mai một, vì hạnh phúc không thể mua bằng tiền.
Người ta chỉ có thể có hạnh phúc khi có tình yêu. Bởi thế, từng người trong gia đình hãy nỗ lực từng ngày biến gia đình thành mái ấm thật sự, thành môi trường ấp ủ yêu thương đúng nghĩa nhất.
Xin đừng mang tâm lý kinh tế thị trường vào trong đời sống gia đình để đánh giá nhau.
Nghĩa là đừng bao giờ cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh chị em trong nhà nhình nhau và cân đo nhau theo giá trị vật chất.
Bạn và tôi hãy học gương Chúa Giêsu mà nhìn nhận nhau dựa trên tình yêu của nhau chứ đừng dựa trên giá trị vật chất.
Học lấy cách đánh giá tuyệt vời của Chúa Giêsu, mới mong có hạnh phúc trong gia đình, và hạnh phúc ấy sẽ mãi mãi được củng cố bằng tình yêu và sự đón nhận chứ không phải bằng lăng kính vật chất. mục lục
Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng
Đức Giêsu ngồi dối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ và quan sát người ta bỏ tiền vào thùng. Nhiều người nối đuôi nhau đến bỏ tiền vào thùng. Họ có biết rằng có một người đang quan sát họ? Những người giàu có bỏ vào đó nhiều tiền. Tiếng leng keng của các đồng tiền rớt xuống va vào nhau nghe rất vui tai. Trong số đó, có một bà góa nghèo cũng tiến đến, bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm. Thấy vậy, Đức Giêsu gọi các môn đệ lại mà rằng; “Bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết” (Mc 12, 43). Lạ thay, của lễ mọn hèn của bà góa nghèo đã được Con Thiên Chúa nhìn nhận và trân quý.
Ngày nay, nhiều người rộng rãi, có lòng đóng góp cho việc chung, cho nhà thờ. Có người cho đi nhiều nhưng họ lại không muốn mọi người biết đến. Đó là điều đáng trân trọng. Tuy nhiên, Đức Giêsu cho chúng ta một cái nhìn thật khác lạ: Giá trị của việc cho đi không tính bằng số lượng nhưng bằng tấm lòng khao khát muốn cho đi. Hai đồng kẽm bé nhỏ của bà góa nghèo thì lớn hơn tất cả số tiền những người giàu có bỏ vào. Vì bà ấy đã rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì có thể nuôi sống bà (x. Mc 12, 44). Nếu là bà góa, chúng ta có đủ khiêm tốn, can đảm để bỏ vào thùng số tiền ít ỏi của mình? Hay chúng ta sợ người khác chê cười, sợ bị đánh giá. Đối với Thiên Chúa, nhiều ít không phải là vấn đề nhưng quan trọng là ở tấm lòng. Người biết rõ lòng mỗi người.
Những người nghèo, các bà góa là những những người được Đức Giêsu quan tâm cách đặc biệt. Người nhìn đến họ, chân nhận và yêu thương họ. Bằng chứng là Người đã lên tiếng bênh vực các bà góa, Người cảnh cáo thái độ hống hách của các kinh sư đã nuốt hết tài sản của các bà. Người nhìn đến hai đồng kẽm nhỏ bé của bà góa nghèo và coi nó là của lễ lớn lao. Noi gương Người, chúng ta được mời gọi dành sự quan tâm đặc biệt đến những người nghèo khổ trong xã hội. Đồng thời, chúng ta cũng được mời gọi đặt cái nhìn của mình trong Thiên Chúa. Nghĩa là, chúng ta cần biết chân nhận, quý trọng sự hiện diện, đóng góp nhỏ bé của những anh chị em nghèo khổ. Hơn nữa, nếu chúng ta biết bỏ qua cái nhìn, sự đánh giá của người đời để dâng lên Chúa tất cả những gì chúng ta có, dù nó nhỏ bé nhưng với tất cả tấm lòng thì Thiên Chúa sẽ rất vui vì điều đó.
Lạy Chúa! Chúng con biết rằng, lời ca tụng, những đóng góp của chúng con không thêm gì cho Chúa nhưng chính việc chúng con cảm tạ Chúa và đóng góp với hết tấm lòng sẽ đem lại ơn lành lớn lao cho chúng con. Chúng con tin rằng, Chúa không nhìn hay đánh giá như người đời. Tấm lòng của Chúa rộng lớn bao la, sẵn sàng đón nhận của lễ mọn hèn chúng con dâng. Tin tưởng như thế chúng con hân hoan, vui sướng đóng góp phần nhỏ bé của mình vào việc xây dựng Nước Chúa. Xin cho chúng con biết quan tâm, đón nhận và giúp đỡ nhau trong đời sống đặc biệt là quan tâm đsặc biệt đến những người nghèo khổ. Amen. mục lục
Thiên San
Đức Giáo hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI, trong thông điệp Deus caritas est (Thiên Chúa là tình yêu) năm 2005, đã liệt kê linh mục Giuseppe Benedetto Cottolengo (tu sĩ Phan-xi-cô người Ý, 1786-1842) vào danh sách các vị thánh của lòng bác ái. Thụ phong năm 1811, năm 1818 cha được làm kinh sĩ tại Vương cung Thánh đường Corpus Domini ở Turino, một vị trí béo bở. Cottolengo đã tặng mọi món quà, tiền quyên góp, phí giảng đạo và tiền lễ cho người nghèo. Vào thời điểm đó, Turino đang chịu áp lực của làn sóng nhập cư ồ ạt từ vùng nông thôn, gây ra các vấn đề xã hội nghiêm trọng và nghèo đói. Thành phố đầy rẫy nạn bần cùng và ăn xin, nạn mù chữ và dịch bệnh, nhiều ca sinh con ngoài giá thú và tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh cao.
Bị tác động bởi cảnh tượng và tiếng khóc của những kẻ bị loại ra ngoài lề xã hội, cha Cottolengo đã bán đi mọi thứ mình sở hữu, bao gồm cả áo choàng, và thuê hai phòng làm chỗ trọ cho những người vô gia cư (1828). Không lâu sau, cơ sở này đã trở thành một trung tâm tiếp đón những ai không được chấp nhận vào bệnh viện. Khi dịch tả bùng phát vào năm 1831, trạm xá này lại bị chính quyền đóng cửa như một biện pháp phòng ngừa vì sợ lây lan. Sau đó, cha mua một ngôi nhà ở ngoại ô thành phố và chuyển đến đó cùng với hai nữ tu và một bệnh nhân mắc bệnh ung thư. Đây là khởi đầu của “Ngôi nhà nhỏ của Chúa Quan phòng” phục vụ nhiều loại người khác nhau (tâm thần, mù lòa, già lão, trẻ mồ côi, sinh viên nghèo...), nhờ lòng hảo tâm của một số nhà từ thiện. Cha cũng thành lập nhiều tổ chức để làm việc bác ái, như Tiểu đệ Thánh Vinh-sơn Phao-lô, Tiểu muội Thánh Vinh-sơn Phao-lô. Nữ tử Ðấng Thương Xót, Nữ tử Ðấng Chiên Lành... Mỗi khi được ngợi ca vì bao sáng kiến từ thiện ấy, cha chỉ nói: “Mọi sự đều là công trình của Chúa tất cả!”
Thánh Giuseppe Benedetto Cottolengo đúng là một minh họa cho đức khiêm tốn và đức quảng đại mà chúng ta có thể suy niệm về từ đoạn Tin Mừng ngắn ngủi hôm nay.
Chúng Ta Có Khiêm Tốn Đúng Không?
Trước hết, Đức Giê-su tấn công các kinh sư, các “tiến sĩ Luật”, Người tố cáo thói hư vinh, hám của và giả hình của họ. Thật kinh khủng mà nghĩ rằng một thẩm quyền lớn lao trong các khoa học thánh không tất nhiên đem lại sự cao thượng tâm hồn. Nhưng xem ra tất cả cái này chẳng mấy liên hệ tới ta. Biếm họa về thói hư vinh có lẽ đã khiến ta nghĩ đến ai đó kiêu căng hợm hĩnh mà ta biết rõ để rồi mỉm cười. Ta chẳng vượt lên trên những thói kiếm tìm uy thế thảm hại đó sao? Tuy nhiên, khi thấy Đức Giê-su chê ghét những kẻ tự phụ đến độ ấy, ta hãy để dâng lên trong mình một lời báo động: “Phải chăng tôi hoàn toàn sạch mọi thói hư vinh?”
Tại sao Đức Giê-su lại khắt khe đối với tật xấu này, vốn nực cười hơn là ác hiểm? Toàn bộ Tin Mừng trả lời chúng ta: Đức Giê-su là chân lý, mà thói hư vinh lại lôi chúng ta đến chỗ giả tạo. “Một ngày kia tôi tự hỏi, thánh nữ Tê-rê-xa A-vi-la kể lại, tại sao Chúa lại yêu đức khiêm nhường đến thế? Tôi nhớ lại rằng chính vì Thiên Chúa là sự thật cao vời và khiêm tốn chẳng là gì khác ngoài việc bước đi trong sự thật.”
Như thế, khiêm tốn chắc chắn là điều tốt đẹp. Thế nhưng có những người vẫn không thích nó. Đúng ra họ chẳng nên thích lòng khiêm tốn giả hiệu, là một cái gì xấu xa. Có lẽ chính vì cái hỏng kiểu này mà thời đại thẳng thắn cách tàn nhẫn của chúng ta chê ghét đức khiêm tốn. Nó trách đức khiêm tốn có những thái độ gàn dở và một giọng điệu giả hình. Ai chẳng khó chịu trước những lối nói “theo thiển ý” chẳng khiêm tốn tí nào cả?
Vậy phải phản ứng ra sao khi Đức Giê-su khẳng định với chúng ta rằng khiêm tốn đúng là dấu hiệu chân thực của Người: “Tôi có lòng hiền hậu và khiêm tốn” (Mt 11,29). Người mời chúng ta đạt đến đức khiêm tốn chắc chắn rất thuần khiết và rất xinh đẹp nào đây?
Đạt đến đức khiêm tốn dâng lên từ đáy sâu thẳm nhất của chúng ta, vốn là chính chúng ta, chứ chẳng phải đạt đến lòng khiêm tốn “dỏm” mà nếu “trau dồi là trau dồi thói đạo đức giả” (Gandhi). Khi dạy ta coi chừng thói hư vinh, Đức Giê-su cũng bảo ta đề phòng thói giả nhân giả nghĩa. Không được làm ra vẻ khiêm tốn, song là nên khiêm tốn thật.
Ta chỉ đạt đến điều này bằng cách đặt mình trước sự vô biên của Thiên Chúa. Chính trong kinh Vinh Danh mà ta tìm thấy tiếng kêu đẹp nhất của lòng khiêm tốn: “Chúng con cảm tạ Chúa vì vinh quang cao cả Chúa, chúng con hạnh phúc vì Chúa vĩ đại nhường bao”.
Trước Hy-mã-lạp-sơn này, các dị biệt hơn kém giữa chúng ta thật ra chẳng là gì, và khi ý thức điều này, ta được một niềm vui quý giá, dám nói là khá hiếm hoi: niềm vui thấy người khác có những đức tính và những thành tựu. Trong thói khao khát hư danh, có biết bao buồn bã và bao giả dối. Vào chính lúc tôi tuyên bố mình không đố kỵ ghen ghét, khuôn mặt và cung giọng của tôi nói lên điều trái ngược. Việc tập tành đức khiêm tốn là một trường dạy sự thật rất cam go.
Trên con đường sự thật này nổi lên một vật cản lạ lùng. Một vài trào lưu tu đức khiến chúng ta nói theo kiểu như sau: “Tôi chỉ là hư vô”, trong khi Thánh vịnh 8, ví dụ vậy, dám khẳng định: “Con người là chi mà Chúa cần nhớ đến, phàm nhân là gì mà Chúa phải bận tâm? Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy, ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên.” Điều này khiến chúng ta lúng túng. Sự thật con người của chúng ta ở chỗ nào, trong việc hư vô hóa hay trong việc quá tán dương?
Vẫn biết rằng chúng ta nhỏ bé, như Đức Giê-su bảo, nhưng chúng ta lại được mến yêu vô cùng! “Lạy Cha, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã mạc khải những điều này cho những người bé mọn” (Mt 11,25).
Tình yêu ấy mời gọi chúng ta tiến đến sự cao cả. Vài kiểu khiêm tốn của chúng ta (“tôi chẳng đáng... tôi không có khả năng...”) thật ra chỉ là do kiêu ngạo: sợ thất bại, sợ bị phê bình. Nếu thế là có nguy cơ muốn sống tầm thường xoàng xĩnh. Đó chẳng phải là khiêm tốn! Đức Giê-su đề nghị với chúng ta điều khác hẳn, một sự pha trộn khá khó khăn giữa khiêm tốn và tham vọng: “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.” Có tham vọng nào hơn? Nhưng “không có Thầy, anh em chẳng làm gì được”. Đúng là đưa chúng ta về lại sự khiêm tốn của một tạo vật! Như thế chúng ta phải bơi giữa tự phụ và chán nản, hai bộ mặt của thói kiêu căng.
Chúng Ta Có Quảng Đại Đủ Không?
Trong phần hai của bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su muốn lôi chúng ta đến một lãnh vực làm ta khiếp sợ: lãnh vực của đức quảng đại điên rồ. Xin nói rõ: “điên rồ”. Vì tất cả chúng ta đều có thực thi lòng quảng đại, nhưng cách thận trọng. Và đó là cái Đức Giê-su nhẩn nha nhìn khi ngồi đối diện với hòm cúng Đền thờ. Người nhận thấy “có lắm kẻ giàu bỏ thật nhiều tiền”, tuy nhiên Người vẫn tỏ ra lạnh nhạt.
Nhưng thình lình Người bị thu hút bởi một cái gì rất khác: của dâng của một bà góa nghèo. Và Người mạc khải cho các môn đệ, ít chú ý hơn vì họ không thể phá vỡ những bề ngoài như Người, rằng đó là một cử chỉ cuồng điên: “Thầy bảo thật anh em (Người dùng thành ngữ này khi bài học là quan trọng): bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết.”
Bài toán kỳ lạ! Một bên, nhiều số tiền lớn, và bên kia chỉ hai đồng kẽm. Thế nhưng Đức Giê-su quả quyết: những đồng tiền này có giá trị hơn những quan tiền của mấy người kia.
Lúc đó xuất hiện hai từ ta chê ghét vì chúng gây cho ta mặc cảm phạm tội và làm cho ta bực bội khó chịu: dư thừa và túng thiếu. Ta muốn tin mình quảng đại khi cho, nhất là nếu cho nhiều, nhưng ta biết rõ rằng bao lâu cái đó chưa động đến cái cần thiết tối thiểu của ta, ta vẫn còn xa những điên rồ của Tin Mừng. “Nếu cái bạn cho người khác không là một mất mát đối với bạn, thì đó chẳng phải là một món quà” (Mẹ Tê-rê-xa Calcutta)
Được ân sủng tác động, đôi khi ta cũng cố gắng phân biệt nhiều ít cái ta thật sự cần thiết với cái ta, xét cho cùng, có thể hy sinh. Ta rốt cục muốn hơi điên một tí, và rất có thể cho bộ cánh này, đồ đạc này, số tiền này, mà sẽ chẳng vì đó tiêu tùng. Nhưng một sợi dây cáp to tổ bố đã giữ ta lại: “Lỡ ngày mai mình cần đến nó thì sao?” Ngọn lửa quảng đại đẹp đẽ vụt tắt.
Ngọn lửa này chỉ có thể cháy với đức tin thôi. Bà góa Đức Giê-su ca ngợi lâm vào một cảnh khó nghèo đáng sợ, nhưng bà lại giàu có một đức tin khiến bà muốn cười lên khi các đồng xu cuối cùng của biến mất. Chỉ đức tin mới trục xuất được nỗi sợ thiếu hụt, và đó không phải là điều dễ thực hiện! “Cha anh em, Đức Giê-su nói, biết rõ anh em cần gì. Vậy khi cầu nguyện, anh em hãy thưa như sau: xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày.” Chúng ta có lẽ muốn thêm: “Và lương thực ngày mai nữa.” Ngày mai, tôi còn chỗ của mình chăng? Có lương hưu đầy đủ chăng? Cái gì sẽ rơi xuống trên đầu tôi: một tai nạn ghê gớm, một cơn bệnh hiểm nghèo? Các tư tưởng này chẳng phải là mảnh đất tốt để vun đắp lòng quảng đại.
Nhưng Đức Giê-su nhìn chúng ta: “Thầy bảo thật anh em: bà này đã túng thiếu, lại còn bỏ vào đó tất cả những gì bà có, tất cả những gì để nuôi thân.” Không thể không nghĩ tới chính Người là kẻ sắp cho tất cả. Bà góa nghèo là nhân vật cuối cùng mà Tin Mừng đặt trước mắt chúng ta trước khi xảy ra cuộc Khổ nạn. Chúng ta có nhận thấy rằng người đàn bà này là một trong những hình ảnh đẹp nhất của Đức Giê-su chăng? Vứt bỏ mọi tính toán cái cần thiết của chúng ta, các nỗi sợ thiếu hụt của chúng ta, bà còn làm rạng sáng đức tin lẫn thái độ dâng hiến: “Lạy Chúa, con cho tất cả bởi lẽ con chẳng sợ gì.” Đó là lý do tại sao Đức Giê-su ngợi khen bà, kẻ với Người cùng một hạng.
Tìm ở đâu sức mạnh tiến đến những điên rồ như thế? Trong đức tin. Bỏ đi một đức tin lý thuyết và sợ hãi để nhảy vào trong những kinh nghiệm đức tin thực sự. Một câu nói có thể giúp chúng ta, câu nói của vị thánh từng từ khước nỗi sợ ngày mai cách quyết liệt nhất qua việc lập “Ngôi nhà nhỏ của Chúa Quan phòng” nói ở đầu bài: “Cha của ngày mai cũng là Cha của hôm nay”.
Nhưng đâu là Cha của chúng ta hôm nay: Thiên Chúa hay trương mục ngân hàng? Từ “ngân hàng” này khiến ta nhớ đến suy nghĩ khủng khiếp của thánh Vinh-sơn Phao-lô, vị tông đồ bác ái: “Hạnh phúc cho những người giàu là có những người nghèo, chỉ họ mới biết cho thôi”. Tai họa đích thực của của cải là thế: gây lo lắng và làm chật bụng. Được hỏi về lòng quảng đại, một Ki-tô hữu đã trả lời: “Tôi có một đồng lương rất thoải mái nhưng không thể làm khác được, tôi sợ phải trao tặng vì lo cho ngày mai”. Bao lâu đức tin chúng ta còn ve vãn các nỗi sợ của chúng ta, chúng ta vẫn sẽ ở trong những kiểu quảng đại rất ư là khôn ngoan, thận trọng. (Viết theo André Sève, Un rendez-vous d'amour). mục lục
Lm. Phêrô Phan Văn Lợi
(Niệm ý: Mc 12,38-44)
Anna Têrêsa Thùy Linh
Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.
Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.
Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.