SUY NIỆM CHÚA NHẬT 28 THƯỜNG NIÊN_C

09-10-2025 845 lượt xem

Lời Chúa: 2 V 5,14-17;  2 Tm 2,8-13;  Lc 17,11-19

Mục Lục

THIÊN CHÚA LÀ CHÚA CỦA MUÔN DÂN – ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

TẠ ƠN CHÚA – MỘT ĐIỀU CẦN THIẾT  – Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

ƠN CHỮA LÀNH BỞI ĐỨC TIN TUÂN THEO LỜI CHÚA – Phêrô Phạm Văn Trung

HÃY LÀ NGƯỜI CÓ LÒNG BIẾT ƠN – Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

LÒNG BIẾT ƠN VÀ LÒNG TIN – Têrêsa Tuyết Ngọc

ĐỘI ƠN LÀ LẼ SỐNG – Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT

CHÚNG TA CÓ TẠ ƠN CHÚA KHÔNG?con sóng nhỏ

LÒNG TIN TRỌN VẸN – Lm Phêrô Phan Văn Lợi

NHỮNG ĐIỀU BẠN CHƯA BIẾT VỀ CÂU CHUYỆN MƯỜI NGƯỜI PHONG CÙI – Paul Trần

CHỐI BỎ HAY TRỞ LẠI – Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

THIÊN CHÚA LÀ CHÚA CỦA MUÔN DÂN

Để hiểu bài Tin Mừng hôm nay, trước hết, chúng ta cần phân tích bối cảnh cụ thể của sự kiện, dựa trên Tin Mừng Thánh Lu-ca.

Lúc này, Đức Giê-su đang cùng các môn đệ tiến về Giê-ru-sa-lem. Con đường từ Bắc xuống Nam phải đi qua miền Sa-ma-ri-a. Người Sa-ma-ri-a có mối thù truyền kiếp với người Do Thái; và người Do Thái cũng không ưa họ, vì cho rằng dân tộc này đã lợi dụng thời lưu đày để chiếm đất của mình.

Đã có lần, Thầy trò Đức Giê-su bị người Sa-ma-ri-a xua đuổi. Khi ấy, hai anh em Gia-cô-bê và Gio-an đã thưa với Chúa:

“Thầy có muốn chúng con khiến lửa bởi trời xuống thiêu hủy chúng không?” (x. Lc 9,51-56).

Và hôm nay, cũng trên cung đường tiến về Giê-ru-sa-lem ấy, mười người phong cùi đến xin Chúa chữa lành. Họ không dám đến gần, vì Luật đã cấm, nên chỉ đứng xa xa mà kêu lớn tiếng van xin.

Thánh Lu-ca là tác giả duy nhất kể lại câu chuyện này. Hơn nữa, chỉ có ông dùng danh xưng “Thầy Giê-su” trong tác phẩm của mình. Danh xưng ấy xuất hiện sáu lần trong những bối cảnh đặc biệt:

  • Phê-rô trước mẻ lưới lạ (5,5);

  • Các môn đệ trong lúc bão tố (8,24);

  • Phê-rô khi đi cùng Thầy đến nhà ông Giai-rô (8,45);

  • Phê-rô trên núi lúc Chúa hiển dung (9,33);

  • Gio-an khi từ núi xuống (9,49);

  • Và cuối cùng, trong lời van xin của mười người phong cùi (17,13).

Đây là một lời kêu cầu đầy tín thác dành cho một bậc Thầy có uy tín và quyền năng, đồng thời cũng là lời tuyên xưng đức tin vào một vị Chúa.

Trong Phúc Âm, Chúa Giê-su đã làm nhiều phép lạ, nhưng vấn đề được nêu bật hôm nay là chỉ có một người quay lại tạ ơn, và người ấy lại là một người Sa-ma-ri-a.

Thì ra, trong số những người bị khinh miệt ấy, vẫn có người biết tin và biết tạ ơn, trong khi chín người khác thì không.

Giáo huấn của Tin Mừng hôm nay liên kết với Bài đọc I, trích sách Các Vua. Ông Na-a-man, tướng quân đội A-ram (người ngoại), cũng bị bệnh phong. Nghe lời đồn, ông đến xin ngôn sứ Ê-li-sa chữa lành. Sau thời gian nghi nan và bướng bỉnh, ông vâng lời xuống tắm bảy lần ở sông Gio-đan, và được chữa lành. Ông trở lại để cảm ơn vị ngôn sứ, nhưng sâu xa hơn, ông nhận ra Thiên Chúa – Đấng mà ngôn sứ tôn thờ.

Hai nhân vật, Na-a-man và người Sa-ma-ri-a, không chỉ được chữa lành bệnh tật thể lý, mà còn được chữa lành tâm hồn. Sau khi được chữa lành, cả hai trở lại bày tỏ lòng biết ơn, và lời của Na-a-man vang lên như một tuyên xưng đức tin:

“Nay tôi biết rằng: Trên khắp mặt đất, không đâu có Thiên Chúa, ngoại trừ ở Ít-ra-en.”

Vâng, Thiên Chúa là Chúa của muôn dân. Dù họ thuộc nguồn gốc hay màu da nào, tất cả đều được Ngài tạo dựng và yêu thương. Không ai bị loại trừ. Nếu ai đó không cảm nhận được tình yêu của Thiên Chúa, thì chính họ đã khước từ lời mời gọi yêu thương của Ngài.

Qua câu chuyện này, Thánh Lu-ca – và chính Đức Giê-su – muốn nói với dân Do Thái rằng:

“Ơn cứu độ không phải là đặc quyền của riêng các ngươi.”

Thiên Chúa là Cha chung của muôn người. Người Sa-ma-ri-a không đáng khinh, vì nơi họ cũng có tấm lòng nhân hậu và đức tin chân thành; trong khi có những người Do Thái, thậm chí tư tế và biệt phái, lại không biết thực thi giáo huấn và bày tỏ lòng biết ơn Thiên Chúa.

Các trình thuật khác về người Sa-ma-ri-a trong Kinh Thánh đều mang cùng một thông điệp:
– Người phụ nữ bên bờ giếng Gia-cóp (Ga 4),
– Và dụ ngôn người Sa-ma-ri-a nhân hậu (Lc 10,29-37).

Giống như người Sa-ma-ri-a, chúng ta – những Ki-tô hữu – vốn là những “người ngoại” đối với giao ước và lời hứa (x. Ep 2,12). Nhưng nay, chúng ta đã được tái sinh nhờ máu Đức Ki-tô, trở nên con cái Thiên Chúa.

Người cùi được chữa lành đã sấp mình dưới chân Đức Giê-su – một cử chỉ phụng thờ và tôn vinh Thiên Chúa. Đó cũng là hình ảnh của hai mươi bốn vị Kỳ Lão trong thị kiến của Thánh Gio-an, sấp mình thờ lạy trước ngai Thiên Chúa (x. Kh 4,10; 5,8).

Người Ki-tô hữu được nâng đỡ bởi niềm xác tín nơi Đức Ki-tô, Đấng là Đường, Sự thật và Sự sống. Cảm nhận sức mạnh của ân sủng, Thánh Phao-lô đã khuyên Ti-mô-thê:

“Hãy luôn tin cậy vào Đấng chịu đóng đinh, hãy trung thành với Chúa, vì Người là Đấng trung tín, ngay cả khi con người phản bội.” (x. 2 Tm 2,8-13)

“Lạy Thầy Giê-su, xin dủ lòng thương chúng tôi!”

Đó cũng là lời kêu cầu của mỗi tín hữu khi cầu nguyện, hay khi gặp gian nan thử thách. Đây vừa là lời tuyên xưng đức tin, vừa là tâm tình tín thác và cậy trông nơi quyền năng của Thiên Chúa.

Lời kêu cầu ấy đã mang lại ơn chữa lành cho những người phong cùi năm xưa; và hôm nay, cũng mang lại ơn cứu độ cho mỗi chúng ta – những con người đang chịu biết bao thương tổn tinh thần và thể xác.

Xin Chúa ban cho chúng ta ơn được chữa lành, và giúp chúng ta luôn nhận ra tình thương của Người. Amen.

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

TẠ ƠN CHÚA – MỘT ĐIỀU CẦN THIẾT

“Không phải cả mười người đều được sạch sao? Thế thì chín người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa?” (Lc 17,17-18)

Tại sao những người phong cùi được Chúa Giêsu chữa lành lại không quay trở lại để tạ ơn Ngài? Có thể vì họ quá vui mừng, quá phấn khởi nên vội vã chạy ngay về đoàn tụ với gia đình sau những tháng ngày xa cách. Cũng có thể họ nghĩ rằng chỉ cần âm thầm tạ ơn Thiên Chúa trong lòng là đủ, không cần đến gặp Ngài nữa chăng?

Nhìn người mà nghĩ đến ta. Bạn có bao giờ tự hỏi: mình có đang giống như những người phong cùi năm xưa không?

Tôi nghĩ, có lẽ không ít lần, cả bạn và tôi đã quên nói lời “cám ơn Chúa”. Có thể vì chúng ta chủ quan, nghĩ rằng Thiên Chúa đâu cần lời cảm ơn của mình. Hoặc vì những ơn lành Ngài ban quá quen thuộc, quá “bình thường” đến nỗi ta xem đó như điều hiển nhiên.

Thật ra, mỗi ngày chúng ta đều nhận được ba món quà vô giá từ Thiên Chúa: không khí, ánh sáng và nước. Ngài ban tặng nhưng không, hoàn toàn miễn phí.

Chúa cho bạn và tôi được sinh ra, lớn lên trong một gia đình có cha có mẹ, được sống ở một đất nước thanh bình, trù phú, có cơ hội học hành, làm việc và hưởng nhiều tiện nghi. Rất nhiều người trong chúng ta có công việc ổn định, nhà cửa, xe cộ, tài sản, thậm chí tiền bạc dư dả – tất cả đều là hồng ân của Chúa.

Tại các giáo xứ Công giáo Việt Nam ở hải ngoại như Portland, Seattle, Dallas, Houston, Tampa, Orlando…, Chúa còn ban cho cộng đoàn có nhà thờ để thờ phượng, chương trình giáo lý Việt ngữ, các Thánh Lễ và linh mục giải tội bằng tiếng Việt.

Ngày nay, chúng ta còn được nghe và học Lời Chúa qua các website, bài giảng, suy niệm, giáo lý, và các chuyên mục Kinh Thánh. Nhưng thử hỏi: có bao nhiêu người trong chúng ta thực sự chạy đến với Chúa và mở miệng cảm tạ Ngài?

Nếu bạn dừng lại một chút để suy nghĩ và nhìn lại, chắc chắn bạn sẽ nhận ra: rất nhiều lần, bạn và tôi đã hành xử giống như người phong cùi năm xưa – đã nhận lãnh biết bao ơn lành, nhưng quên không quay lại cảm ơn Chúa.

Ba cách để sống tâm tình tạ ơn Chúa

Thứ nhất, hãy nhận biết rằng tất cả những gì ta có – từ mạng sống, trí thông minh, tài năng, bằng cấp, tài sản, con cái, của cải, nhà cửa, xe cộ – đều là hồng ân Thiên Chúa. Không có gì thuộc về riêng ta. Và vì thế, ta phải cảm tạ Ngài mỗi ngày.

Thứ hai, hãy chia sẻ những ơn lành Chúa ban qua các việc bác ái và từ thiện.
Nếu có cơ hội, bạn hãy kể cho người khác nghe về những điều kỳ diệu Chúa đã làm cho mình: được ơn hoán cải, được chữa lành, được Mẹ và Chúa cứu giúp trong hiểm nguy…

Lời chứng của bạn chính là một lời tạ ơn sống động.

Thứ ba, hãy noi gương người Samari biết tạ ơn, bằng cách biểu lộ lòng biết ơn qua những hành động cụ thể: đến tham dự Thánh lễ, xưng tội, chầu Thánh Thể, lần hạt Mân Côi, đọc Kinh Thánh và cầu nguyện.

Chúng ta hãy cầu nguyện cho nhau, để luôn là những người biết ơn Chúa, luôn mở miệng cảm tạ Ngài, và nhất là biểu lộ lòng biết ơn bằng hành động yêu thương và phục vụ cụ thể.

Nhờ đó, mỗi ngày, chúng ta sẽ trưởng thành hơn trong đức tin, và làm cho Trái Tim Chúa vui lòng hơn.

Cầu chúc bạn và gia đình một cuối tuần bình an, hạnh phúc và luôn có Chúa ở cùng. Mục lục

Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

ƠN CHỮA LÀNH BỞI ĐỨC TIN TUÂN THEO LỜI CHÚA

Cuộc đời Kitô hữu là những lần gặp gỡ và cảm nghiệm lòng thương xót của Thiên Chúa, một hành trình được ghi dấu bằng ơn chữa lành, phần hồn và phần xác, có cả những thử thách của đức tin nhưng vẫn được kêu gọi hãy kiên trì trung tín. 

1. Ơn Chúa đến khi chúng ta tin tưởng vâng theo Lời Ngài 

Theo Luật Do Thái, khi người Israel phát hiện phát ban hoặc các triệu chứng da khác, họ phải đến gặp thầy tế lễ để khám. Thầy tế lễ có trách nhiệm xác định xem đó có phải là bệnh phong cùi truyền nhiễm hay không. Nếu chẩn đoán là phong cùi, người đó sẽ bị tuyên bố là ô uế về mặt nghi lễ (Lêvi 13:1, 9-11). Luật cấm người bệnh giao tiếp với cộng đồng; họ bị cô lập hoàn toàn. Người bệnh phải mặc áo rách, xõa tóc, che râu và kêu lên: “Ô uế! Ô uế!”. Họ bắt buộc phải sống bên ngoài trại (Lêvi 13:45-46). Sự cô lập này có mục đích ngăn chặn dịch bệnh lây lan, tuy nhiên, đối với người bệnh, nó đồng nghĩa với một bản án chung thân, buộc họ phải sống như những người bị ruồng bỏ và khai trừ khỏi xã hội. Đức Thánh Cha Phanxicô nói rằng: “Hãy tưởng tượng những người phong cùi phải chịu đựng biết bao đau khổ và tủi hổ: về thể xác, xã hội, tâm lý và tinh thần! Họ không chỉ là nạn nhân của bệnh tật, mà còn cảm thấy tội lỗi, bị trừng phạt vì tội lỗi của mình! Họ đang sống trong sự chết” [1].

Chúa Giêsu đã chữa lành nhiều người phong cùi (Lc 5:12-14; Mc 1:40-42). Hôm nay, mười người phong cùi đứng từ xa, cùng nhau kêu lên: “Lạy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương chúng tôi!” (Lc 17:12-13). Họ đứng tại biên giới giữa miền Samaria và miền Galilêa, nhưng “Họ dừng lại đằng xa” (Lc 17: 12), tuân theo lề luật, một kiểu cô lập. 

Điều đáng chú ý là Chúa Giêsu không chữa lành ngay lập tức, mà ra lệnh: “Hãy đi trình diện với các tư tế” (Lc 17:14). Mệnh lệnh này đòi hỏi đức tin thể hiện qua sự vâng lời tức thì. Khi đó, họ vẫn còn bệnh phong cùi, chưa có sự thay đổi thể chất. Tuy nhiên, trong đức tin, họ đã vâng lời và bắt đầu hành trình. Chính hành động này là bằng chứng họ tin vào quyền năng của Chúa Giêsu. “Đang khi đi thì họ được sạch” (Lc 17:14). Phép lạ chữa lành không tức khắc mà được hoàn thành trong lúc họ tuân phục Lời Chúa. Chúa Giêsu luôn đòi hỏi người được chữa lành phải thể hiện đức tin của họ. Đức tin ấy được thử thách bằng sự tuân phục vô điều kiện. Tôi có tin vào Chúa Giêsu bằng cách tuân theo Lời Ngài một cách không do dự không?

2. Ơn Chúa đến khi chúng ta khiêm nhường tin tưởng

Câu chuyện của Naaman, quan lãnh binh Syria, cho thấy ơn chữa lành còn đòi hỏi sự khiêm tốn nữa. Naaman, một quý tộc triều đình, đã giận dữ khi được tiên tri Êlisa truyền lệnh “hãy đi tắm bảy lần trong sông Giođan” (2V 5:10). Ông muốn một nghi thức hoành tráng tương xứng với địa vị của mình, chứ không phải một dòng sông tầm thường của Israel. Sự kiêu ngạo ấy đã suýt khiến ông không nhận được ơn chữa lành. Chỉ khi được đầy tớ khuyên nhủ, Naaman mới chịu nhún mình: “Ông xuống dìm mình bảy lần trong sông Giođan, theo lời người của Thiên Chúa. Da thịt ông lại trở nên như da thịt một trẻ nhỏ” (2 V 5:14).

Đức tin đích thực đòi hỏi từ bỏ niềm kiêu hãnh cá nhân, đòi hỏi khiêm nhường tuân theo lời Thiên Chúa ngay khi chúng ta đang ngờ vực. Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói: “Thật không dễ hiểu được sự khiêm nhường là gì…Chẳng hạn, trường hợp của Naaman người Syria…Naaman đã hiểu ra một chân lý nền tảng: chúng ta không thể dành cả đời để ẩn mình sau lớp áo giáp, một vai trò chúng ta đang đóng, hay sự công nhận của xã hội; cuối cùng, điều đó sẽ làm chúng ta tổn thương. Sẽ đến lúc trong cuộc đời mỗi cá nhân, người ta muốn gạt bỏ hào quang của vinh quang thế gian này để hướng đến một cuộc sống trọn hảo, đích thực, không cần đến áo giáp hay mặt nạ nữa… Mang trong mình bạc vàng, Naaman lên đường và đến gặp tiên tri Êlisa, người đã đặt ra cho ông, như điều kiện duy nhất để được chữa lành, một cử chỉ đơn giản là cởi áo và tắm bảy lần dưới sông Giođan. Không liên quan gì đến sự nổi tiếng, danh giá, vàng bạc! Ân sủng cứu độ là cho không; ân sủng không thể bị quy giản thành giá trị của cải trần gian…Đây quả là một bài học lớn! Sự khiêm nhường tuân theo lời Chúa, phơi bày bản tính phàm nhân của mình, đã mang lại sự chữa lành cho Naaman” [2]

Ơn chữa lành thể lý chưa bao giờ là điều cuối cùng mà Chúa Giêsu nhắm tới. Bài học lớn nhất nằm ở sự chấp nhận của người được chữa lành: đó là tin tưởng và vâng theo Đấng chữa lành. Cuối cùng, mọi hành động vâng lời đều phải được neo chặt vào một thực tại không thay đổi: “Lòng tin của anh đã cứu chữa anh” (Lc 17:19).

3. Ơn cứu độ dành cho ai biết tạ ơn

Thánh sử Luca đặc biệt đề cập đến việc: “Một người trong bọn, thấy mình được khỏi, liền quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa. Anh ta sấp mình dưới chân Chúa Giêsu mà tạ ơn. Anh ta lại là người Samari” (Luca 17: 15-16). Tin Mừng không ghi lại họ đã đi được bao xa trước khi được chữa lành. Tuy nhiên, chỉ có một người quay lại cảm ơn Chúa Giêsu vì đã chữa lành anh ta. Chúa Giêsu bày tỏ sự thất vọng khi chín người kia không nghĩ đến việc ngợi khen Thiên Chúa đã chữa lành họ: “Không phải cả mười người đều được sạch sao? Thế thì chín người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này?” (Lc 17:17-18). 

Chúng ta học được rằng Thiên Chúa mong muốn chúng ta bày tỏ lòng biết ơn Ngài về tất cả những gì Ngài đã làm trong cuộc đời chúng ta. Chín người Do Thái kia đã nhận được ơn chữa lành, nhưng lại thiếu lòng tri ân, và vì thế, họ mất đi sự cứu rỗi trọn vẹn. Lời cuối cùng Chúa Giêsu dành cho người Samaria là: “Đứng dậy về đi! Lòng tin của anh đã cứu chữa anh” (Lc 17: 19). Sự khác biệt nằm ở chỗ: chín người Do thái được lành sạch thể xác nhưng chỉ để quay lại với luật Môsê, còn người Samaria được cứu chữa để hiệp thông với Chúa Kitô.

Thánh Augustinô cảnh báo: “Chúng ta vẫn còn vô ơn đối với Thiên Chúa, Đấng đã thanh tẩy chúng ta khỏi bệnh phong hủi tâm linh. Lòng kiêu hãnh và sự tự phụ của chúng ta, ngăn cản chúng ta khiêm nhường nhận ra những ân huệ của Đấng Tạo Hóa, chính là nguyên nhân dẫn đến sự vô ơn của chúng ta. Chúng ta giống như những người đã biết Thiên Chúa và được giải thoát khỏi bệnh phong hủi của sự lầm lạc, nhưng vẫn còn mang trong mình lòng vô ơn đối với Đấng Tạo Hóa, Đấng đã soi sáng cho họ. Họ đã đánh mất vương quốc thiên đàng…Còn một người phung đã trở lại, lớn tiếng tôn vinh và tạ ơn Thiên Chúa…Ông được Chúa Giêsu ca ngợi, trở nên như người trung thành giữ gìn của cải được giao phó, bảo tồn vương quốc này bằng sự khiêm nhường và lòng biết ơn của mình” [3].

Sau khi được chữa lành, Naaman trở lại gặp tiên tri Êlisa, tuyên bố đức tin mạnh mẽ: “Nay tôi biết rằng: trên khắp mặt đất, không đâu có Thiên Chúa, ngoại trừ ở Israel” (2 V 5:15). Ông bày tỏ tri ân bằng cách cố gắng dâng lễ vật. Sự chữa lành đã dẫn đến hoán cải tuyệt đối về đức tin. Naaman xin mang đất về: “Vì tôi tớ ngài sẽ không còn dâng lễ toàn thiêu và hy lễ cho thần nào khác ngoài Chúa” (2 V 5:17). Hành động mang đất này là biểu tượng của lòng trung thành không lay chuyển, thể hiện mong muốn thờ phượng Thiên Chúa ngay tại quê hương ngoại giáo. Lòng tri ân đích thực đòi hỏi sự công nhận Thiên Chúa là Đấng duy nhất và dấn thân sống theo niềm tin đó.

Đức Phanxicô nhắc nhở về tầm quan trọng của thái độ biết ơn này: “Có thể nói, câu chuyện này chia thế giới thành hai nửa: những người không tạ ơn và những người tạ ơn; những người đón nhận mọi sự như thể mình có quyền, và những người đón nhận mọi sự như một món quà, như ân sủng. Tạ ơn luôn bắt đầu từ sự nhận biết rằng ân sủng đi trước chúng ta. Chúng ta đã được yêu thương trước khi học cách yêu thương…Nếu chúng ta nhìn cuộc sống theo cách này, thì lời “tạ ơn” sẽ trở thành động lực cho mỗi ngày của chúng ta… Lời “tạ ơn” mà chúng ta phải nói liên tục, lời cảm ơn mà người Kitô hữu chia sẻ với mọi người, lớn lên trong cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu” (Buổi tiếp kiến chung, 30/12/2020).

4. Trung tín trong gian khổ

Lòng tri ân và trung thành không chỉ được thể hiện trong niềm vui, mà còn phải được duy trì trong gian khổ. Đây là giáo huấn của Thánh Phaolô gửi cho Timôthê: “Vì Tin Mừng ấy, tôi chịu khổ, tôi còn phải mang cả xiềng xích như một tên gian phi” (2 Tm 2:9). Thánh Phaolô “cam chịu mọi sự, để mưu ích cho những người Thiên Chúa đã chọn, để họ cũng đạt tới ơn cứu độ trong Chúa Kitô Giêsu, và được hưởng vinh quang muôn đời” (2 Tm 2:10). Sứ điệp an ủi nằm trong nghịch lý của Kitô giáo: sự giam cầm thân xác của Phaolô lại là phương tiện loan báo Lời Chúa: “Lời Thiên Chúa đâu bị xiềng xích!” (2 Tm 2:9), nhưng “là lời đáng tin cậy” (2 Tm 2:11-12). 

Chịu đựng đau khổ không phải là hành động tự tôn mà là tình yêu hy sinh. Thánh Thánh Isaac thành Ninivê (+ 613), giám mục Syriac, dạy rằng: “Con cái của Thiên Chúa phân biệt mình với những người khác ở chỗ họ sống trong đau khổ, trong khi thế gian tự hào về sự xa hoa và yên bình. Thiên Chúa không hạ mình để những người yêu dấu của Ngài sống trong thứ yên ổn xác thịt, nhưng Ngài muốn họ phải lưu trú trong nỗi buồn, áp bức, trong lao động, nghèo đói, trần truồng, thiếu thốn, nhục nhã, bị sỉ nhục trong thân thể nặng nề và những suy nghĩ buồn bã… Sau mọi đau khổ vì Chúa, sự giải thoát sẽ đến. Một tâm hồn yêu mến Chúa sẽ tìm thấy niềm an ủi nơi Chúa và chỉ nơi Ngài mà thôi” [4].

Thánh Phaolô củng cố niềm hy vọng: “Nếu ta cùng chết với Ngài, ta sẽ cùng sống với Ngài. Nếu ta kiên tâm chịu đựng, ta sẽ cùng hiển trị với Ngài” (2 Tm 2: 11-12). Sự Sống lại là lời bảo đảm rằng mọi đau khổ đều có ý nghĩa. Những lời này là lời mời gọi sống triệt để sự hiệp thông với Chúa Kitô, chấp nhận thập giá để nhận được vinh quang. Tuy nhiên, lời an ủi lớn lao nhất nằm ở sự bảo đảm cuối cùng về bản chất Thiên Chúa: “Nếu ta không trung tín, Ngài vẫn một lòng trung tín, vì Ngài không thể nào chối bỏ chính mình” (2 Tm 2:13).

Lòng trung thành của Thiên Chúa là bất di bất dịch. Dù ta yếu đuối, vô ơn, Thiên Chúa vẫn trung tín với lời hứa và bản chất yêu thương của Ngài. Chúng ta cần cầu xin Chúa Giêsu với lòng tin tưởng, kiên trì và đầy đức tin. Thiên Chúa, qua Chúa Giêsu, sẽ ban ơn. Sách Giáo Lý khẳng định: “Những lời Thiên Chúa hứa luôn luôn được thực hiện. Thiên Chúa là chính Chân Lý, những lời của Ngài không thể là sai lầm. Vì vậy, một cách hoàn toàn tin tưởng, người ta có thể phó mình cho sự thật và sự trung tín của lời Ngài trong mọi sự” (số 215). Lòng trung thành này là nền tảng đức tin, giúp ta luôn hy vọng và kiên trì trong lòng tri ân. Mục lục

Phêrô Phạm Văn Trung

HÃY LÀ NGƯỜI CÓ LÒNG BIẾT ƠN

Sống trong một xã hội ngày càng bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa cá nhân, sự cạnh tranh và thực dụng, lòng biết ơn, một nhân đức nền tảng của đời sống con người và Ki-tô hữu, đang dần bị xói mòn. Người ta dễ dàng đón nhận ơn lành nhưng lại chậm trễ, thậm chí vô cảm, trong việc bày tỏ lòng biết ơn.

Trên mặt báo và xung quanh ta, thấy những câu chuyện đau lòng như con giết cha, hại mẹ, bỏ nhà đi, đánh đuổi cha mẹ, ấy chưa nói tới người coi trời bằng vung, hoặc sống như thể không có Thiên Chúa. Con người hôm nay đang bị lu mờ sự biết ơn trong tâm khảm mình.

Tại sao con người vô ơn? Có nhiều lý do: vì con người không chịu suy nghĩ để nhận ra ơn, họ nghĩ mọi sự trên đời tự nhiên mà có mà không cần suy nghĩ tại sao nó có; họ giả sử tất cả mọi người phải hành động như vậy: là Thiên Chúa phải ban ơn; là cha mẹ phải nuôi nấng con cái; là thầy phải dạy dỗ học sinh; và họ sợ nếu nhận ra ơn, họ phải trả ơn, vì thế, họ vô ơn.

Lòng biết ơn không chỉ là đức tính vĩ đại nhất mà còn là khởi nguồn của mọi đức tính tốt đẹp khác. Biết ơn là xứng đáng để tiếp tục được Thiên Chúa ban ơn. Còn biết bao nhiêu ơn lớn lao và trọng thể Chúa dành sẵn cho những người biết ơn. Vô ơn là tự đào hố để vùi chôn cuộc đời mình, là đứng vào hàng ngũ của ma quỉ. Tạ ơn là lời cầu nguyện tốt nhất mà bất cứ ai cũng có thể dùng. Lời tạ ơn thể hiện lòng biết ơn, sự khiêm tốn và hiểu biết.

Bắt chước ông Na-an-man

Đoạn sách Các Vua quyển thứ hai (2 V 5, 14-17) thuật lại câu chuyện cảm động về Na-a-man, một vị quan lãnh binh quyền thế của vua Syria, đã được chữa lành bệnh phong cùi nhờ vâng phục lời dạy của tiên tri Ê-li-sa, người của Thiên Chúa.

Ban đầu, Na-a-man đến với tâm thế ngờ vực và kiêu căng. Là một người ngoại bang, ông không dễ dàng tin tưởng vào lời khuyên đơn giản: “Xuống tắm bảy lần ở sông Gio-đan” (x.2 V 5, 14). Tuy nhiên, nhờ lòng kiên nhẫn của các tôi tớ mình và cuối cùng là sự khiêm nhường, ông đã làm theo. Phép lạ xảy ra, ông được chữa lành hoàn toàn, “da thịt ông lại trở nên tốt như da thịt của đứa trẻ” (x.2 V 5, 14). Đây không chỉ là một sự phục hồi thể lý mà còn là dấu chỉ của một cuộc hoán cải nội tâm sâu sắc.

Việc Na-a-man quay lại để cảm ơn và tuyên xưng: “Thật tôi biết không có Thiên Chúa nào khác trên hoàn vũ, ngoài một Thiên Chúa ở Ít-ra-en” (2 V 5, 16) là lời tuyên xưng đức tin mạnh mẽ. Từ một người ngoại giáo, ông đã nhận ra quyền năng và sự hiện diện đích thực của Thiên Chúa. Dù muốn dâng lễ vật để tỏ lòng biết ơn, nhưng tiên tri từ chối nhận thể hiện sự trong sạch, không lợi dụng quyền năng Thiên Chúa vì tư lợi.

Na-a-man xin mang một ít đất Ít-ra-en về, cử chỉ mang tính biểu tượng, thể hiện lòng tôn kính Thiên Chúa của Ít-ra-en và ý muốn gắn bó với đức tin mới tìm thấy. Qua câu chuyện, ta thấy được lòng biết ơn sâu sắc dành cho Thiên Chúa.

Lòng biết ơn của người Sa-ma-ri-a

Trình thuật Tin Mừng (Lc 17,11-19) kể lại phép lạ Chúa Giê-su chữa lành cho mười người phong cùi, những người bị xã hội loại trừ vì bị xem là ô uế cả về thể lý lẫn thiêng liêng. Họ đã cùng nhau cất tiếng kêu xin: “Lạy Thầy Giê-su, xin thương xót chúng tôi!” (Lc 17,13). Chúa Giê-su không chữa lành tại chỗ, nhưng truyền họ “hãy đi trình diện với các tư tế” (Lc 17,14). Họ vâng nghe, lên đường, họ được sạch. Nhưng chỉ một người quay lại, sấp mình dưới chân Chúa và tạ ơn.

Người ấy là người Sa-ma-ri-a, một dân ngoại, bị coi thường bởi người Do Thái. Anh không chỉ được chữa lành thể xác, mà còn được Chúa tuyên bố: “Ngươi hãy đứng dậy mà về: vì lòng tin của ngươi đã cứu chữa ngươi” (Lc 17,19).

Qua câu chuyện này, Chúa Giê-su nhấn mạnh đến giá trị của lòng biết ơn, không chỉ là phép lịch sự, mà là dấu chỉ của một tâm hồn nhận ra hồng ân Thiên Chúa và đáp lại bằng đức tin sống động.

Bài học cốt lõi về lòng biết ơn

Cả ông Na-a-man, một tướng quân người Syria, và người Sa-ma-ri-a, một bệnh nhân phong cùi, đều là những người ngoại giáo. Thế nhưng, chính họ lại là những người biết quay về, cúi mình, và tạ ơn sau khi được Thiên Chúa chữa lành.

Ông Na-a-man, sau khi được khỏi bệnh, đã trở lại với ngôn sứ Ê-li-sê và tuyên xưng Chúa là Thiên Chúa quyên năng duy nhất (x.2 V 5,15). Còn người Sa-ma-ri-a, sau khi được lành, “quay lại, lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa và sấp mình dưới chân Đức Giê-su mà tạ ơn” (Lc 17,15-16).

Điều đáng chú ý là cả hai đều nhìn nhận ơn họ được Chúa chữa lành. Ơn này trở thành điểm khởi điểm của đức tin, thay đổi tâm hồn. Họ không chỉ vui vì được khỏi bệnh, mà vui vì họ đã gặp được Thiên Chúa, Đấng yêu thương.

Trong khi đó, những người Do Thái trong Tin Mừng hay triều thần xung quanh Na-a-man lại không được nhấn mạnh đến lòng tin hay lòng biết ơn.

Trong một thế giới dễ quên ơn, chúng ta được mời gọi sống như Na-a-man và người Sa-ma-ri-a: biết ơn và biết quay về với Chúa. Mục lục

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

LÒNG BIẾT ƠN VÀ LÒNG TIN

Trong cuộc sống, những câu chuyện về sự vô ơn bất hiếu vẫn xảy ra hằng ngày, hằng giờ ngay bên cạnh chúng ta, khiến nhiều người vẫn cho rằng trong xã hội hiện nay đã lãng quên lòng biết ơn, vì người ta chỉ sống với nhau bằng sự sòng phẳng mà không còn liên đới với nhau bằng lòng biết ơn chân thành nữa. Vậy biết ơn là một thái độ mà con người cần phải có, cần học biết để bày tỏ lòng biết ơn với những người đã làm ơn cách vô vị lợi cho chúng ta. Đó là một nghĩa cử cao đẹp mà Chúa đã nhắn gửi cho chúng ta trong bài Tin mừng Chúa Nhật XXVIII TN.

Lời Chúa mời gọi chúng ta phải có một thái độ biết ơn chân thành, phát xuất từ tận đáy lòng mình đối với Thiên Chúa. Thánh Luca đã kể lại câu chuyện về mười người phong cùi đến cầu xin Đức Giêsu: “Lạy Thầy Giêsu, xin rủ lòng thương chúng tôi!” (Lc17, 13) và họ được truyền đi trình diện tư tế, trên đường đi thì cả mười người đều được sạch, nhưng chỉ có một người biết quay lại để cảm ơn và tôn vinh Thiên Chúa, còn chín người kia thì nhanh chóng quên ơn. Có thể họ cho rằng việc họ được sạch là một chuyện tự nhiên chứ không hẳn là nhờ vào quyền năng của Đức Giêsu. Người Samaria là dân ngoại nhưng đã nhận ra Đức Giêsu và bày tỏ lòng biết ơn với Người, Đấng đã chữa lành bệnh cho mình; còn chính những người Israel là dân của Thiên Chúa thì lại tỏ ra vô ơn với Người.

Người Samaria bày tỏ lòng biết ơn đối với Đức Giêsu bằng cách lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa và sấp mình dưới chân Người để tạ ơn Người. Đức Giêsu đã đón nhận lòng biết ơn của anh và trách chín người kia: “Không phải cả mười người đều được sạch sao? Thế thì chín người kia đâu? Sao không thấy trở lại mà tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại này?” (Lc17, 17) Đáng lẽ ra chín người Israel kia là những người phải nhận ra ơn Chúa và bày tỏ lòng biết ơn của họ với Người hơn cả người Samaria này, nhưng đáng buồn thay là họ lại vô ơn mà ngoảnh mặt đi.

Đức Giêsu còn nói với người Samaria: “Đứng dậy về đi ! Lòng tin của anh đã cứ chữa anh.” (Lc17, 19) Lời ấy như đã gội mát tâm hồn anh, anh không chỉ được chữa lành bệnh về thể xác mà còn được chữa cả căn bệnh ở trong tâm hồn và được biến đổi bản thân mà đón nhận ơn đức tin. Thế nên, nếu chúng ta biết nhận ra ơn Chúa ban và biết bày tỏ lòng biết ơn cách chân thành thì Thiên Chúa lại tiếp tục ban ơn cũng như cho ta nhận ra sự hiện hữu và quyền năng của Người.

Hơn hai ngàn năm đã qua kể từ ngày Chúa kể câu chuyện về mười người phong cùi nhưng nhìn vào cuộc sống hôm nay, chúng ta vẫn thấy vấn nạn ấy lặp lại không ít. Đó là thái độ sống vô ơn với Thiên Chúa, với cha mẹ, với anh chị em và với những người xung quanh. Nhiều người tự kiêu, tự mãn cho rằng họ có khả năng làm được mọi sự mà không cần nhờ đến ai, họ quên rằng nếu không có sự can thiệp của Thiên Chúa thì họ sẽ không làm được gì cả, họ quên đi mọi sự đều là ân huệ của Thiên Chúa.

Nhiều lúc chúng ta tỏ lòng biết ơn và cảm mến đối với một người nào đó đã làm ơn cho mình, dù là một việc nhỏ nhoi, nhưng chúng ta lại quên đi những ân huệ mà Thiên Chúa ban cho chúng ta lớn lao biết nhường nào. Nhiều người không quan tâm đến việc bày tỏ lòng biết ơn đối với Thiên Chúa qua việc thờ phượng Người và đã không cảm tạ Người mỗi khi được nhìn thấy một ngày mới tươi đệp. Lại có người không dám nói cho người khác về Thiên Chúa và về ơn mà Người ban cho chúng ta. Cũng có người biết ơn sự giúp đỡ tận tình của bạn bè hay một ai đó, mà lại không hề biết cảm động và bày tỏ lòng biết ơn đối với ông bà, cha mẹ hay anh chị em mình. Thật là những nghịch lý không đẹp lòng Chúa.

Lạy Chúa, xin cho chúng con nhận ra ơn ban của Chúa và biết bày tỏ lòng biết ơn của mình. Trước hết là với Chúa qua việc thờ phượng và tôn vinh Người; sau nữa là biết ơn đối với những bậc sinh thành đã được Chúa ban cho để dạy dỗ chúng con. Xin đừng để chúng con có thái độ vô ơn như chín người Israel trong bài Tin Mừng hôm nay nhưng xin giúp chúng con sống xứng đáng với ân huệ Chúa ban trong từng giây phút trong đời. Amen. Mục lục

Têrêsa Tuyết Ngọc

ĐỘI ƠN LÀ LẼ SỐNG

Bài Tin Mừng của Chúa Nhật hôm nay kể lại việc Đức Giê-su chữa lành cho mười người phung cùi. Trước tiên là việc chữa cho họ khỏi bịnh. Nhưng điều quan trọng và mang một ý nghĩa sâu xa hơn, đó là thái độ hay phản ứng của họ trước ân huệ của Thiên Chúa. Cả mười người được chữa lành, thế mà chỉ có một người được biến đổi. Vì sao, bởi vì ông ta biết quay lại, biết nhận ra người vừa ban ơn cho nên ông phải cảm ơn. Qua việc trở lại để cảm ơn, ông đã bắt đầu một mối tương quan mới và chân thật với Đức Giê-su. Còn chin người kia vẫn làm tôi cho lề luật.

Truyện kể như thế này: Trên đường đi Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-su băng qua biên giới giữa Sa-ma-ri và Ga-li-lê, Người tiến vào một ngôi làng thì mười người phung cùi đã ở đó. Họ đã nghe danh tiếng của Người. Hẳn nhiên, có vài người Do Thái trong nhóm nên họ không dám bước qua ranh giới của lề luật mà chỉ đứng ở đàng xa mà kêu gào xin Đức Giê-su thương tình cứu giúp.

Đức Giêsu không chữa trị cho họ ngay lập tức mà bảo họ đi và trình diện với các tư tế. Theo luật dậy thì chỉ có các tư tế mới đủ thẩm quyền xác nhận ai sạch ai dơ trước khi người bị phong cùi được phép trở lại tham dự sinh hoạt với cộng đoàn như mọi người.

Mười người phung cùi vâng lời Đức Giê-su đi trình diện các tư tế và đang trên đường đi thì họ thấy có những sự kiện khác lạ đang xẩy ra trong cơ thể của họ.

Tất cả đều thấy sự tăng trưởng xảy ra: những ngón tay của họ mở rộng thành bàn tay bình thường. Các vết mụn trên mặt họ liền lại… Khi các điều này xảy ra, cả mười người đã biết là họ được chữa lành; thế mà chỉ có một người trong nhóm họ quay ngược lại với Đức Giêsu, để cảm ơn Người; còn chín người kia, hẳn nhiên, vẫn đang trên đường đến gặp các tư tế theo lịnh truyền của Đức Chúa.

Điều làm cho Đức Giê-su và mọi người ngạc nhiên là người quay trở lại gặp để nói lời cảm ơn với Đức Giê-su là người Sa-ma-ri-a. Ông bị người Do Thái xem như kẻ thù, giống ngoại bang, thế mà lại trở thành kiểu mẫu của lòng biết ơn và đức tin.

Có một chi tiết mà chúng ta nên ghi nhận ở đây, đó là trong cơn hoạn nạn thì mười người phong cùi có nhau. Họ không bị gốc gác dân tộc, tôn giáo và niềm tin chia cách. Họ có chung một căn bịnh nên gắn bó để bảo vệ và nâng đỡ nhau. Bản sắc chung của những người bị khinh chê, ruồng bỏ đã đẩy họ trở thành những người thân của nhau. Thế mà, sau khi được chữa khỏi, được tự do, họ lập tức bị ngăn cách. Nhưng, chỉ còn một người xứ Sa-ma-ri-a, vẫn còn bị coi là giống ngoại bang, đã trở lại và tiền về phía Đức Giê-su.

Đứng trước phản ứng của chín người kia, những ai khó tính sẽ cảm thấy bị tổn thương và đau lòng vì sự vô ơn của họ. Thật ra, họ đâu có làm điều gì sai, họ vẫn vâng lời Chúa, đang trên đường đến gặp các vị tư tế để xin giấy xác nhận trở về với các sinh hoạt thường nhật như mọi người. Tuy nhiên, vì bám vào lề luật như một bảo đảm cho cuộc sống nên họ đã mất đi cơ hội đón nhận sự thay đổi, điều mới mẻ mà Đức Giê-su vừa thực hiện. Tuy họ không sai nhưng cơ hội để được đổi mới đã vuột khỏi tầm tay của họ. Thật đáng tiếc!

Còn chúng ta thì sao? Vẫn sống và chu toàn mọi khoản luật như là nguồn sức mạnh cứu thoát chúng ta hay sẵn sàng nhận biết ơn Chúa với lòng cảm tạ mà tôn vinh và thờ lậy Ngài. Không ai có thể trả lời câu hỏi này thay cho chúng ta.

Đối với Thiên Chúa, điều làm cho con người có giá trị là thái độ và cách ứng xử của chúng ta trước lượng ân sủng vô biên của Thiên Chúa đổ trên chúng ta. Chúng ta đã làm gì với các hồng ân cao cả như thế.

Thánh Gioan cho biết: “Tự nguồn sung mãn của Chúa, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác.” Ngài ban cho mỗi người những ơn họ cần, tùy thuộc vào khả năng đón nhận của từng người, nhưng cùng mục đích là để họ sống tốt đẹp và thánh thiện hơn.

Trong cuộc sống, đã có bao nhiêu dấu chỉ nói lên sự can thiệp và thông ơn của Thiên Chúa.

Nếu không có ơn Chúa thì làm sao vợ chồng có thể yêu thương, kính trọng và luôn làm gương sáng cho con cái được?

Nếu Chúa không hoạt động thì làm sao ông cha này bà phước kia hay thầy dòng nọ có thể quên ‘cái tôi’ của bản thân mà hết lòng phục vụ dân Chúa?

Kể sao cho hết những ơn lành Chúa ban cho như ơn khôn ngoan, sự hiểu biết, cơ hội phục vụ, sức khỏe tráng kiện, đầu óc minh mẫn, con tim trong sáng, đồng cảm để tha thứ cho nhau, và ngay cả các đau khổ cũng là cơ hội để giúp mình nhận ra sự bất toàn và mỏng dòn của thân phận con người mà nương tựa vào Chúa hơn…, tất cả đều là ơn của Chúa.

Điều quan trọng là mắt chúng ta có mở rộng đủ để nhận ra ơn Chúa hay là lại nghĩ rằng đó là những gì mình xứng đáng được, và nếu như thế thì hình như chúng ta đã coi Chúa như là người đầy tớ thay vì Đấng ban ơn rồi!

Đứng trước những ơn lành Chúa ban, chúng ta hay dùng các từ như tạ ơn, cảm ơn, ghi ơn, nhớ ơn, biết ơn…, để diễn tả thái độ của chúng ta, nhưng có lẽ một từ mộc mạc và đầy ý nghĩa nhất mà lâu nay chúng ta quên không dùng đó là ĐỘI ƠN: Ơn Chúa nhiều quá, nặng quá, đến độ ta không cầm, không thể mang, không cách nào khoác vào được, mà phải đội trên đầu, diễn tả sự kính trọng đối với Chúa, với ơn Chúa.

Đội trên đầu thì phải sấp mình, quì gối xuống mà tôn vinh Đấng ban ơn. Đội trên đầu là hành động nói lên tấm lòng thần phục và gắn bó của chúng ta đối với Chúa. Đội ơn trên đầu không vì những ơn huệ mới được ban, cho bằng khám phá ra tình yêu của Thiên Chúa vẫn bao bọc lấy mình.

Vì thế, xin Chúa cho chúng ta có lối sống như người Sa-ma-ri-a trong bài Tin Mừng hôm nay để chúng ta nhận biết các ơn lành của Chúa, biết quay lại, biết đội ơn và sống mỗi ngày như bài ca tạ ơn mà dâng lên và tôn vinh Thiên Chúa, Đấng luôn yêu thương và cứu chữa chúng ta. Amen. Mục lục

Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT

CHÚNG TA CÓ TẠ ƠN CHÚA KHÔNG?

“Chẳng phải mười người đã được sạch sao? Còn chín người kia đâu? Chẳng lẽ chỉ có người ngoại quốc này trở lại tạ ơn Đức Chúa Trời sao?”
(Lc 17,17–18)

Chúa Nhật XXVIII Thường Niên hôm nay, các bài đọc năm C nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của việc tạ ơn Thiên Chúa, bởi vì tất cả những gì chúng ta là và có đều là quà tặng nhưng không của Ngài.

Thật đáng chú ý, trong bài đọc I và Tin Mừng, những người biết tạ ơn Thiên Chúa lại là những người ngoại giáo, chứ không phải dân Israel. Điều đó cho thấy kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa mang tính phổ quát:
Ngài đến để cứu độ toàn thể nhân loại, không phân biệt chủng tộc, nguồn gốc hay tôn giáo.
Mọi ơn cứu độ đều đến từ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

1. Lòng Biết Ơn Dẫn Đến Đức Tin

Trong bài đọc I (2 V 5,14–17), Naaman người Syria, dù ban đầu do dự, đã vâng lời ngôn sứ Êlisê và được chữa lành bệnh phong khi ngâm mình bảy lần trong sông Giođan.

Phép lạ ấy khiến ông quay lại dâng lễ vật và tỏ lòng biết ơn, nhưng quan trọng hơn, ông tuyên xưng: “Trên khắp mặt đất, không có Thiên Chúa nào khác ngoài Israel.”

Lòng biết ơn chính là thái độ dẫn con người đến với đức tin. Càng biết tạ ơn Chúa, chúng ta càng được ban thêm ơn tin, ơn cậy và ơn mến.

2. Chín Người Được Sạch – Một Người Quay Lại

Tin Mừng hôm nay kể về mười người phong hủi kêu xin Chúa Giêsu: “Lạy Thầy Giêsu, xin thương xót chúng tôi!” Vì luật Môsê buộc người phong phải sống tách biệt để tránh lây nhiễm (x. Lv 13,45–46), họ chỉ dám đứng xa mà kêu xin.

Chúa Giêsu không bỏ qua lời cầu nguyện của họ. Người bảo: “Hãy đi trình diện với các tư tế.”

Họ vâng lời và lên đường, và trên đường đi, họ được sạch. Nhưng chỉ một người quay lại tạ ơn, và người đó lại là một người Samari – ngoại giáo!

Chúa Giêsu đã phải thốt lên lời đau xót: “Không phải mười người được sạch sao? Còn chín người kia đâu?”

Phép lạ này nhắc chúng ta nhớ rằng: đức tin chân thật luôn đi đôi với lòng biết ơn.

3. Biết Ơn – Dấu Chứng Của Khiêm Nhường

Chúng ta có thường xuyên tạ ơn Chúa trong ngày không? Hay chỉ tìm đến Ngài khi cần giúp đỡ, rồi lại quên mất sau khi được ban ơn?

Biết ơn Chúa đòi hỏi một tâm hồn khiêm nhường, vì chỉ khi khiêm nhường, ta mới nhận ra rằng mọi sự mình có đều là ân huệ của Thiên Chúa.
Trái lại, kiêu ngạo khiến con người phủ nhận ơn Chúa, tưởng rằng mọi sự mình có là do công sức riêng.

Thánh Giusemaria Escrivá khuyên: “Hãy tập thói quen hướng lòng lên Chúa bằng những hành động tạ ơn nhiều lần trong ngày —
vì Ngài ban cho bạn điều này hay điều kia, vì bạn bị khinh miệt, vì bạn có hoặc không có điều mình muốn. Hãy cảm ơn Ngài về mọi điều, vì mọi điều đều tốt đẹp.” (Con Đường, 268)

4. Tạ Ơn Ngay Cả Trong Gian Khó

Chúng ta hãy tạ ơn Chúa trong mọi hoàn cảnh, kể cả trong những điều con người cho là bất hạnh — bệnh tật, thất bại hay đau khổ. Chính trong đó, Chúa Giêsu cho ta cơ hội thông phần vào thập giá của Người.

Như Thánh Phaolô dạy trong bài đọc II (2 Tm 2,8–13): “Nếu chúng ta cùng chết với Người, ta sẽ cùng sống với Người. Nếu ta kiên trì, ta sẽ cùng hiển trị với Người. Dù ta bất trung, Người vẫn trung thành, vì Người không thể chối bỏ chính mình.”

5. Biết Ơn Với Thiên Chúa – Và Với Tha Nhân

Cuối cùng, lòng biết ơn không chỉ dành cho Thiên Chúa, mà còn cho những người xung quanh — những ai đã làm điều tốt, phục vụ ta, hoặc đơn giản chỉ đồng hành với ta trong cuộc sống.

Biết ơn là dấu chỉ của tâm hồn có Chúa. Người biết ơn không bao giờ nghèo, vì họ luôn nhìn thấy hồng ân trong mọi sự.

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con tâm hồn biết ơn, để dù trong niềm vui hay thử thách, chúng con vẫn luôn nhận ra bàn tay yêu thương của Chúa và không ngừng ca tụng Danh Ngài. Amen. mục lục

con sóng nhỏ

LÒNG TIN TRỌN VẸN

Bệnh phong (cùi, hủi), như chúng ta đều biết, là bệnh tàn phá thân thể con người từ từ, nhất là bên ngoài, nên từng là nỗi kinh hoàng của nhân loại. Nhưng suốt dòng thời gian, lịch sử đã ghi nhận rằng phần lớn những cá nhân và tập thể (dòng tu) từng hiến thân cho bệnh nhân phong là các Ki-tô hữu. Chúng ta nhớ đến vị Thánh nghèo thành Át-xi-di từng ôm lấy một anh phong cùi rồi uống nước đã rửa vết thương cho anh, như dấu chỉ hiệp thông trọn vẹn. Chúng ta nhớ đến các tông đồ cho người cùi, từ Thánh Linh mục Damien de Veuster (1840-1889) trên đảo Molokai mà cuối cùng cũng mắc bệnh, đến Mục sư Albert Schweitzer (1875-1965) bên nước Gabon Phi châu, đến Giám mục Jean Cassaigne (1875-1973) lập trại phong Di Linh ở Lâm Đồng, đến Bác sĩ Công giáo Raoul Follereau (1903–1977), người từng tung ra “Chiến dịch cho bệnh nhân phong” thời danh và hiệu quả, đến Nữ tu Louise Bannet (+1982), một cựu tiếp viên hàng không xinh đẹp người Mỹ, từng bỏ nghề để sang trại phong Di Linh phục vụ người cùi, ngõ hầu cảm ơn Chúa đã lấy tất cả sắc đẹp của họ mà ban cho chị, như gợi ý và đề nghị của Đức Giám mục Fulton Sheen... đến tất cả các thừa sai nam nữ đang phục vụ tại các trại phong trên toàn thế giới. Riêng tại Việt Nam, 3 trại phong nổi tiếng ở Di Linh (Lâm Đồng), Quy Hòa (Quy Nhơn), Quả Cảm (Bắc Ninh) đều do Công giáo thành lập. Nguồn cảm hứng và tấm gương sáng của họ chính là Đức Giê-su qua những câu chuyện về người phong hủi được các Tin Mừng tường thuật, trong số đó có bản văn chúng ta suy niệm lúc này.

Được Sạch Nhờ Tin Vào Lời Của Đức Giê-Su

Bác sĩ Gerhard Henrich Armauer Hansen (1841-1912) vào năm 1871 khám phá ra rằng đó là một bệnh lây nhiễm do một loại vi khuẩn gây nên chứ không do di truyền. Đây là một căn bệnh ngày nay rất dễ chữa trị. Nó chắc chắn ít nghiêm trọng hơn so với huyền thoại từng được nặn ra xung quanh nó kể từ khi nó được Kinh Thánh đề cập. Quả thế, chính Kinh Thánh, đặc biệt pháp chế trong sách Lê-vi (x. ch.13-14) đã tạo nên một ý nghĩa biểu tượng đặc biệt cho căn bệnh này. Bị coi như bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhất và do đó phải cô lập khỏi cộng đồng dân sự lẫn tôn giáo, phong cùi từng bị giải thích như một hình phạt thần linh khắc nghiệt dành cho kẻ đã phạm những tội ác nghiêm trọng và ô nhục. Nó tượng trưng cách rõ ràng và khủng khiếp cho tội lỗi, sự ác làm biến dạng con người, qua các hình ảnh: những vết thương mưng mủ trên da, tứ chi bị gặm nhấm dần dần, khuôn mặt méo mó biến dạng. Ấy là vì khi tạo dựng phàm nhân, Thiên Chúa từng mơ một hữu thể xinh đẹp, tuyệt diệu, “theo hình ảnh và giống Người.” Khuôn mặt đích thực của con người, đó là giống Thiên Chúa, Đấng vốn là Tình yêu. Than ôi, đôi mắt được tạo dựng để mở ra với tha nhân, nay quay lui nhìn mình, tối mờ vì bệnh cùi của bản năng quy ngã. Than ôi, đôi tay được tạo dựng để làm việc và để trao ban, nay bị gặm nhấm bởi bệnh cùi của tham lam và biếng nhác. Than ôi, con tim được tạo dựng để yêu mến, nay bị biến dạng vì bệnh cùi của thói ích kỷ và kiêu ngạo.

Phá vỡ truyền thống “thánh thiêng” từ sách Lê-vi, vốn đày đọa bệnh nhân phong trong cảnh cô lập và lăng nhục, Đức Giê-su đã thường đến gần họ, chạm vào họ và chữa lành họ, không chỉ phục hồi cho “da thịt họ lại trở nên như da thịt một trẻ nhỏ”, theo cách nói sử dụng trong câu chuyện phép lạ mà ngôn sứ Ê-li-sa thực hiện trên tướng Na-a-man người Sy-ri-a, được công bố trong bài đọc thứ nhất hôm nay (2V 5,14-17), mà còn đưa họ trở lại với đời sống cộng đồng chính thức. Đây chính là ý nghĩa của việc “trình diện với các tư tế” để xin giấy chứng nhận chữa lành (x. Lv 14,2) mà Đức Giê-su đã yêu cầu từ 10 người phong trong Tin Mừng ta đang suy niệm.

Do đó, suy nghĩ đầu tiên chợt hiện lên trong tâm trí khi đọc đoạn văn này là lòng thương xót đậm tình của Đức Ki-tô, Đấng đã giải cứu nhân loại khỏi đau khổ và tủi nhục, phá vỡ những chuẩn mực ban đầu được đặt ra cho con người nhưng cuối cùng lại quá áp bức đến mức biến con người thành nô lệ. Tuy nhiên, trong trình thuật của Lu-ca, có một chi tiết đáng nhấn mạnh. Nhân dịp một người phong được chữa khỏi, thánh sử đã mô tả một sự giải thoát tức thời (5,12-16): Đức Giê-su giơ tay ra và với một mệnh lệnh (“Tôi muốn, anh hãy được sạch!”), Người cho da thịt bị ăn mòn của bệnh nhân trở lại trạng thái lành mạnh nguyên thủy. Tuy nhiên, ở đây, Đức Giê-su lại sai cả 10 anh đến với các tư tế, và chỉ khi họ đang trên đường tới đích thì sự chữa lành mới xảy ra. Theo một nghĩa nào đấy, họ bị thử thách, họ không chứng kiến một ​​phép lạ ngay lập tức, nhưng phải tin vào lời hứa của Đức Ki-tô, phải vâng phục, phải thể hiện đức tin của mình vào lời Người: chỉ bằng cách này, nó mới trở thành cội nguồn của sự giải thoát.

Và chúng ta nghĩ tới chính cuộc thử thách lòng tin kiểu ấy mà tướng Na-a-man đã phải chịu: chấp nhận nghe lời một tớ gái... đặt mình vào tay một kẻ thù... bằng lòng tuân theo một nghi thức trên thân thể. Đối với chúng ta hôm nay cũng vậy, đức tin năng bị thử thách, phải băng qua đêm tối mà chẳng hiểu gì, Với những bệnh nhân phong Đức Giê-su sai đi mà chưa chữa lành họ, xem ra Người muốn nói: “Các anh có tin tôi không? Các anh có thể tin lời tôi không?” Chúng ta cũng vậy, cần phải theo đuổi con đường mình, với chỉ “lời hứa” của Thiên Chúa.

Đây là lý do tại sao – như đã thường được nhấn mạnh – trình thuật của Luca có giá trị vượt xa “phép lạ” đơn thuần. Chẳng phải ngẫu nhiên mà các phép lạ trong Tin Mừng chả bao giờ là những cử chỉ thần thông pháp thuật mà đúng hơn là những dấu chỉ đích thực hướng đến những ý nghĩa cao hơn.

Được Cứu Nhờ Tin Vào Bản Thân Đức Giê-Su

Và ý nghĩa cao hơn này, giá trị cao hơn này xuất hiện chính xác trong cảnh thứ hai, nơi chúng ta chứng kiến ​​sự trở lại của kẻ cựu phong cùi Sa-ma-ri với Đức Giê-su. Chớ nên để mình bị lôi cuốn bởi chủ đề lòng biết ơn (anh là người duy nhất trở lại tạ ơn Chúa) và chủ nghĩa phổ quát (“anh ta lại là người Sa-ma-ri”). Điểm nhấn nằm ở một sự thật cơ bản khác. Người phong hủi ấy hoàn toàn tin tưởng: anh không chỉ chấp nhận lời kêu gọi của Đức Giê-su như những kẻ khác, mà còn trở lại để ngợi khen và “tôn vinh Thiên Chúa”, tức là long trọng tuyên xưng lòng tin của mình vào Đức Giê-su như Đấng Cứu Độ.

Đây là lý do tại sao, nếu tất cả đều được “chữa lành”, thì chỉ có anh này được “cứu chữa” nhờ tin (“lòng tin của anh đã cứu chữa anh!”). Các động từ Hy-lạp mà Lu-ca sử dụng rất rõ ràng. Cả mười người đều “được sạch”, theo nghĩa của từ đầu tiên ; do đó, họ được giải thoát khỏi bệnh tật và khỏi mọi hậu quả của “sự ô uế” mà nó tạo ra cho việc phượng thờ lẫn cuộc sống dân sự. Tuy nhiên, chỉ có một người, anh Sa-ma-ri, được “cứu”, và động từ Hy-lạp sôzein được Lu-ca sử dụng chính để đề cao sự giải thoát hoàn toàn và trọn vẹn khỏi sự dữ, đặc biệt khỏi sự dữ trong hồn và thiêng liêng. Chính trong lời nói về lòng tin này (c. 19) mà trình thuật đạt đến đỉnh điểm.

Như luôn có Hiền Phụ giữa lòng các bận tâm của mình, Đức Giê-su cũng trách cứ 9 người phong kia đã không “tôn vinh Thiên Chúa.” Ơn cứu độ thành ra hơn hẳn việc chữa lành xác thể. Và lòng tin trọn vẹn của kẻ trở lui thì hơn lòng tin-tín thác đã thúc đẩy cả mười người đi trình diện các tư tế ngay cả trước khi được sạch. Việc chữa lành chỉ dẫn tới ơn cứu độ trọn vẹn của hữu thể con người nếu con người thừa nhận sáng kiến cho không của Thiên Chúa đối với mình và nếu nó đáp lại bằng cách dấn thân vào một mối liên hệ thực sự với Đức Giê-su: lòng tin trọn vẹn là vậy.

 “Anh ta sấp mình dưới chân Đức Giê-su mà tạ ơn” (c. 16). Cử chỉ này, mà chúng ta thấy người Hồi giáo làm trên truyền hình phim ảnh, và nhiều bạn trẻ ở Taizé (tu viện đại kết bên Pháp) chẳng hạn, cũng đã tìm lại... chúng ta xem ra đã đánh mất thói quen thực hành. Đó là cử chỉ tiêu biểu cho việc tôn kính thờ lạy ! Việc cúi mình sát đất trong Kinh Thánh nói lên rằng người ta thừa nhận Thiên Chúa vĩ đại và vinh quang, là Nguồn ơn và là Tạo Hóa. Ở đây, ạnh phong cùi làm cử chỉ này “trước Đức Giê-su.” Một mầu nhiệm cao cả ấn giấu đằng sau nhân tính của Người. Chúng ta quên điều này chăng? Sau Truyền phép trong Thánh lễ, cử chỉ của chúng ta như thế nào và có ý nghĩa ra sao vậy?  Phải chăng chúng ta thật sự có khả năng “sấp mặt xuống đất” trước dáng vẻ bên ngoài của một mẩu bánh nhỏ? Cử chỉ hạ nhục đối với các thói tự mãn phàm nhân của chúng ta. Cử chỉ đức tin cứu chữa chúng ta, thanh tẩy chúng ta khỏi phong cùi tội lỗi. Như các đan sĩ nhiều nơi phủ phục toàn thân sau câu “Chính nhờ Người, với Người và trong Người..” Mục lục

Lm Phêrô Phan Văn Lợi

NHỮNG ĐIỀU BẠN CHƯA BIẾT VỀ CÂU CHUYỆN MƯỜI NGƯỜI PHONG CÙI

1. Chúa Giêsu đi qua ranh giới của chia cắt

Thánh Luca kể: “Khi Đức Giêsu đi tới Giêrusalem, Người đi qua giữa Samari và Galilê.”
Chi tiết tưởng như nhỏ ấy lại đầy ý nghĩa.
Samari và Galilê tượng trưng cho hai thế giới bị chia cắt bởi định kiến và thù hận.
Và Chúa Giêsu chọn đi giữa hai vùng ấy — giữa những người bị loại trừ và những người được chấp nhận.
Đó chính là nơi Lòng Thương Xót tỏa sáng nhất, nơi Ngài gặp gỡ những tâm hồn đau khổ và tuyệt vọng.

2. Con số Mười – hình ảnh của toàn thể nhân loại

Trong Kinh Thánh, số mười biểu trưng cho sự trọn vẹn: Mười Điều Răn, mười tai ương Ai Cập, mười trinh nữ.
Mười người phong cùi đại diện cho toàn thể nhân loại tội lỗi và tan vỡ, những người phải đứng xa Chúa.
Họ là hình ảnh của mỗi chúng ta — khát khao được chữa lành, nhưng vẫn mang thương tích của tội lỗi.

3. Tiếng kêu của lòng tin

Cả mười người đồng thanh kêu:

“Lạy Chúa Giêsu, Thầy ơi, xin thương xót chúng con!”
Điều họ xin không phải là phép lạ, mà là lòng thương xót.
Đức tin thật chính là tin tưởng vào lòng nhân lành của Chúa, không đòi hỏi cách Ngài hành động.

4. “Hãy đi, trình diện với các thầy tư tế” – Tin trước khi thấy

Theo luật Môsê (x. Lv 14), chỉ các tư tế mới có quyền xác nhận ai đó được sạch.
Chúa Giêsu không chạm vào họ, không nói: “Các ngươi được sạch.”
Ngài chỉ bảo: “Hãy đi.”
khi họ đang đi, họ được chữa lành.
Phép lạ xảy ra trên hành trình vâng phục, không phải khi họ đứng chờ.
Ân sủng gặp gỡ đức tin ở giữa đường.

5. Một người quay lại – bắt đầu của lòng biết ơn

Tất cả đều được chữa lành, nhưng chỉ một người quay lại tạ ơn.
Chín người vui vì món quà;
Một người tìm đến Đấng Ban Quà.
Chín người được sạch thể xác;
Một người được đổi mới linh hồn và thể xác.

6. Vì sao lại là người Samari?

Người duy nhất quay lại là người Samari, kẻ bị Do Thái coi thường.
Điều đó cho thấy ân sủng không bị giới hạn bởi tôn giáo hay biên giới con người.
Người ngoài cuộc lại là kẻ hiểu sâu nhất lòng thương xót của Thiên Chúa.

7. Tạ ơn là thờ phượng

Tin Mừng viết: “Ông sấp mình xuống chân Đức Giêsu và tạ ơn Người.”
Từ “tạ ơn” trong tiếng Hy Lạp là eucharisteō — chính là gốc của từ Eucharist, nghĩa là Thánh Thể.
Như vậy, người Samari này là người đầu tiên dâng một hành vi Thánh Thể lên Chúa Giêsu!
Ngài phán: “Đức tin của con đã cứu con.”
Không chỉ là được lành thể xác, mà là được cứu rỗi linh hồn.

8. Hai cấp độ của phép lạ

  • Cả mười người đều được chữa lành bên ngoài.

  • Chỉ một người được chữa lành bên trong.
    Chín người gặp tôn giáo;
    Một người gặp Thiên Chúa.
    Chín người giữ luật;
    Một người chạm đến ân sủng.

9. Sứ điệp cho chúng ta hôm nay

Chúng ta cũng như họ:

  • Nhiều người được ban ơn, nhưng ít người nhớ tạ ơn.

  • Nhiều người đến nhà thờ, nhưng ít người thật sự thờ phượng.

  • Nhiều người được chữa lành, nhưng ít người được biến đổi.
    Lòng biết ơn chính là cánh cửa mở ra sự cứu độ.

10. Kết luận – Bạn sẽ là ai trong số mười người ấy?

Tất cả chúng ta đều đã từng bị tổn thương và được Chúa chữa lành.
Nhưng Chúa đang chờ chúng ta quay lại.
Chín người đi trình diện với tư tế loài người,
một người trở về với Linh Mục của Trời.
Chín người được sạch;
một người được cứu.
Và câu hỏi còn lại cho mỗi chúng ta:

Khi Chúa ban ơn cho bạn, bạn sẽ là người bước tiếp, hay là người quay lại?
Thế gian đầy những người được chữa lành,
nhưng Thiên Đàng chỉ đầy những người biết ơn.
mục lục

Paul Trần

CHỐI BỎ HAY TRỞ LẠI

Chối bỏ hay trở lại. Đó là câu trả lời của lòng biết ơn.

Lời thánh Phaolô trong bài đọc II: "Nếu ta chối bỏ Người, Người cũng sẽ chối bỏ ta", như một lưỡi gươm hai lưỡi. Nó vừa cắt sâu vào lối sống vô ơn, hờ hững của con người thời nay, vừa mở đường cho những ai biết "trở lại" trong lòng tin, lòng biết ơn và lòng thờ phượng.

1. NAAMAN, NGƯỜI NGOẠI ĐẠO BIẾT TRỞ LẠI.

Đó là vị quan ngoại giáo Syria. Khi được khỏi bệnh phong, ông không dừng lại ở niềm vui thể xác, mà lập tức "trở lại" với tiên tri Êlisê, dâng lời chúc tụng Thiên Chúa và thốt lên: "Bây giờ tôi biết rằng, trên khắp cõi đất, không có Thiên Chúa nào khác ngoài Thiên Chúa ở Israel".

Rồi ông còn tha thiết xin ít đất của Israel để mang về quê mình, bởi từ nay, ông sẽ không còn "dâng hy lễ cho thần nào khác ngoài Đức Chúa".

Một lời tuyên xưng giản dị mà sáng chói. Một hành động nhỏ mà chất chứa cả cuộc hoán cải. Một người ngoại giáo đã biết cúi đầu, biết tạ ơn, biết nhận ra Đấng quyền năng chữa lành thân xác và linh hồn mình.

Naaman "trở lại. Đó chính là cách ông không chối bỏ Thiên Chúa.

2. NGƯỜI SAMARIA, KẺ DUY NHẤT BIẾT TẠ ƠN.

Chúa Giêsu chữa lành mười người bệnh phong. Chỉ một người - lại là người Samaria, kẻ bị coi là xa lạ với đức tin - đã quay lại, "lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa""sấp mình dưới chân Đức Giêsu mà tạ ơn Người".

Một lần nữa, chỉ người "ngoại đạo" nhận ra ơn cứu độ thật. Anh được lành ngoài da. Nhưng quan trọng hơn, anh được cứu trong tâm hồn để thoát: bệnh vô ơn, bệnh dửng dưng, bệnh "đã nhận mà không nhớ".

Chúa Giêsu hỏi: "Không phải cả mười người đều được sạch sao? Còn chín người kia đâu?", không phải là lời trách, mà là tiếng thở dài của trái tim nhân hậu. Chúa không cần được cảm ơn, nhưng Chúa khao khát được yêu lại. Chúa mong con người "trở lại" - không để tôn vinh Chúa, mà để Chúa có thể tiếp tục ban ơn, tiếp tục cứu độ, tiếp tục yêu thương.

3. VÔ ƠN, HÌNH THỨC TINH VI CỦA VIỆC CHỐI BỎ CHÚA.

Thời nào cũng vậy, và nhất là thời nay: vô ơn đã thành "quốc tịch tinh thần" của nhiều người. Càng văn minh, họ càng dễ lãng quên Đấng Tạo Hoá.

Khoa học tiến, trí tuệ cao, công nghệ mạnh, nhưng lòng biết ơn thì cạn. Con người thờ chính mình, tôn vinh công sức mình, gạt Thiên Chúa ra khỏi bàn tay của chính mình.

Họ nói: "Tôi tự làm nên tất cả". Họ tin: "Chẳng có Chúa nào cả, chỉ có tôi". Họ sống: "Không cần Thiên Chúa để hạnh phúc".

Đó không chỉ là vô ơn. Đó là CHỐI BỎ.

Thánh Phaolô cảnh báo: "Nếu ta chối bỏ Người, Người cũng sẽ chối bỏ ta". Không phải vì Thiên Chúa muốn "phạt", mà vì chính con người đã đóng cửa lòng mình, khiến Thiên Chúa "bất lực" không thể bước vào.

Chúa bị đẩy ra ngoài đời ta, ngoài dự án ta, ngoài giấc mơ ta - không phải vì Chúa bỏ ta, mà vì ta đã bỏ Chúa.

4. HÃY MỀM LÒNG ĐỂ ĐƯỢC CỨU.

Thế giới không thiếu bệnh phong, những thứ hủi tinh thần, hủi ích kỷ, hủi vô cảm, hủi chạy theo thần tượng tiền bạc, danh vọng, khoái lạc. Chính trong những căn bệnh ấy, Chúa vẫn đi qua đời ta, vẫn nhẹ nhàng nói: "Hãy đi, và anh sẽ được sạch".

Nhưng chỉ ai biết "thấy mình được khỏi" mới biết "trở lại". Chỉ ai có lòng khiêm tốn mới biết cúi đầu. Chỉ ai có lòng biết ơn mới giữ được đức tin.

Hãy mềm lòng! Mềm lòng để thấy mình được yêu, để cảm ơn, để thờ phượng, để trở về. Mềm lòng để nhìn ra phép lạ vẫn xảy ra hằng ngày: phép lạ của hơi thở, của sự sống, của tình yêu.

5. TẬP SỐNG LÒNG BIẾT ƠN THIÊN CHÚA.

Mỗi người cần học lại thái độ biết ơn của Naaman, của người Samaria. Đừng chỉ theo thói ở đời: Thờ tiền bạc như thần linh mới; sụp lạy danh vọng, địa vị, quyền lực như bàn thờ mới. Đừng bán linh hồn cho cái tôi và những lời tán dương rẻ tiền.

Cần tập biết cảm ơn Chúa mỗi sáng, nhận ra Chúa nơi mỗi người, trở lại với Chúa mỗi khi vấp ngã. Biết ơn dẫn đến thờ phượng. Thờ phượng dẫn đến trung tín. Vô ơn dẫn đến phản bội. Và phản bội dẫn đến diệt vong.

"Chối bỏ" hay "trở lại", đó là hai con đường: Một con đường dẫn đến bóng tối của tự mãn và cô độc. Một con đường dẫn về ánh sáng của ơn cứu độ.

Người Samaria đã chọn trở lại. Naaman đã chọn trở lại. Còn ta thì sao?

Hãy trở lại. Hãy mở chứ đừng khép kín lòng mìn. Đừng để Thiên Chúa, vì tôn trọng tự do của ta, đành bất lực đứng ngoài tâm hồn ta, cuộc đời ta.

Hãy trở lại với Chúa, chứ đừng để đức tin hóa đá. Hãy biết ơn để được cứu, vì vô ơn chính là khởi đầu của phản bội. Đừng chối bỏ Chúa bằng thói quen lạnh lùng, vô cảm, hay sống như không có Chúa.

Mỗi ngày, hãy tập nhìn thấy ơn lành và cúi đầu tạ ơn như Naaman, như người Samaria. Bởi chỉ trong lòng biết ơn, ta mới thật sự thuộc về Thiên Chúa, và Thiên Chúa mới thật sự ở cùng ta. mục lục

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan