SUY NIỆM KHÁNH NHẬT TRUYỀN GIÁO (TUẦN 29 tn_c)

18-10-2025 886 lượt xem

(Is 1,1-5; 1 Tm 2,4 – 6; Lc 24,44-53)

Mục Lục

ƠN GỌI THỪA SAI – + ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

ƠN GỌI TRUYỀN GIÁO TRONG HƠI THỞ CỦA THỜI ĐẠI MỚI – Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

HÃY RA ĐI GIEO NIỀM HY VỌNG – Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

KIÊN NHẪN KHI CẦU NGUYỆN – Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

KIÊN TRÌ CẦU XIN, ĐỪNG NGÃ LÒNG – Phêrô Phạm Văn Trung

GƯƠNG SÁNG CỦA BÀ GÓA – Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT

KIÊN TRÌ CẦU NGUYỆN – Bông hồng nhỏ

CẦU NGUYỆN - HÀNH ĐỘNG - TIN TƯỞNG – Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

ƠN GỌI THỪA SAI

Đại hội của Hội đồng Giám mục Việt Nam vừa tổ chức tại Đà Lạt từ ngày 06 đến ngày 10/10/2025 vừa qua. Trong Thư Chung gửi đến mọi thành phần Dân Chúa, các vị chủ chăn của Giáo hội Công giáo Việt Nam đề nghị một lộ trình ba năm (2026-2028) để thực hiện sứ vụ vô cùng quan trọng là loan báo Tin Mừng, hay là ơn gọi thừa sai. Theo thông lệ, Chúa nhật hôm nay là ngày cầu nguyện cho công cuộc truyền giáo của Giáo hội. Khái niệm “truyền giáo” hay “loan báo Tin Mừng” dường như đã quá quen thuộc với chúng ta và nhiều người coi đó là một công thức khô cứng. Trong khi đó, ơn gọi thừa sai là bản chất của đời sống Giáo hội và của mỗi Ki-tô hữu chúng ta. Hơn nữa, một não trạng phổ biến nơi nhiều tín hữu, đó là việc truyền giáo là của các giám mục, linh mục và tu sĩ, còn người giáo dân chỉ là người lắng nghe và đón nhận. Đó là một quan niệm sai lầm do thiếu hiểu biết. Quan niệm nay biến người tín hữu trở nên thụ động và ỷ lại, không nhiệt thành tham gia hoạt động của Giáo hội địa phương, nhất là hoạt động loan báo Tin Mừng.

Thừa sai là gì? “Thừa” là tiếp nhận; “Sai” là phái đi. Ơn gọi thừa sai cũng là ơn gọi truyền giáo. Khi lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy, Ki-tô hữu được Chúa ban ba chức năng: Ngôn sứ, Tư tế và Vương đế. Chức năng Ngôn sứ chính là ơn gọi thừa sai, vì “Ngôn” là lời và “sứ” là được sai đi. Chúa sai chúng ta đi để nói Lời của Người. Đó cũng là lệnh truyền của Đấng Phục sinh: “Anh em hãy đi làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép Rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,19-20).

Tại sao lại gọi thừa sai là một “ơn gọi”? Vì đó là lời mời gọi của Chúa, đồng thời cũng là một vinh dự mà Chúa ban cho người tín hữu. Khi Chúa gọi và chúng ta thiện chí đáp lời, thì Chúa sẽ ban ơn cần thiết để chúng ta chu toàn sứ mệnh cao cả này. Chúng ta thường nghĩ đến khía cạnh “bổn phận” nhiều hơn là “vinh dự”. Loan báo Lời Chúa là một vinh dự lớn lao vì chúng ta làm cho người khác biết Chúa.

Làm sao có thể sống ơn gọi thừa sai hay có thể truyền giáo? Một điều kiện căn bản là chúng ta phải biết Chúa thì mới có thể giới thiệu Người cho người khác. Vì không ai cho người khác cái mình không có. Một Ki-tô hữu không thể nói về Chúa Giê-su, nếu người đó không biết hoặc chỉ biết lơ mơ về Người. Vì thế, để trở thành một nhà truyền giáo hay một thừa sai, cần phải học hỏi giáo lý, chuyên cần cầu nguyện để gặp Chúa Giê-su. Khi cầu nguyện là chúng ta “nói với Chúa”, khi rao giảng là chúng ta “nói về Chúa”. Hai khía cạnh này có mối tương quan mật thiết với nhau. Không thể nói về Chúa nếu trước đó không nói với Người.

Việc giới thiệu Chúa sẽ trở nên vô nghĩa nếu người giới thiệu không sống tương xứng với giáo huấn của Đấng mình rao giảng. Vì vậy, truyền giáo bằng chính cuộc đời là việc truyền giáo hữu hiệu nhất. Có tác giả đã so sánh đời sống người tín hữu với cuốn Kinh Thánh sống động, bằng xương bằng thịt, để người khác có thể đọc thấy Lời Chúa xuyên qua cuộc đời chúng ta. Khi chuyên chăm thực thi Lời Chúa, hình ảnh của Người sẽ trở nên sống động qua chính cuộc đời chúng ta, đến nỗi người khác có thể nhìn thấy Chúa nơi chúng ta.

Mọi tín hữu đều có ơn gọi thừa sai. Tùy theo lứa tuổi, khả năng học vấn và bậc sống, mỗi chúng ta đều có thể nói về Chúa trong hoàn cảnh cụ thể của mình. Đại hội Truyền giáo Á Châu lần thứ nhất tổ chức tại Thái Lan năm 2006. Trong một bài thuyết trình, linh mục Saturnimo Dias, Trưởng ban điều hành Đại hội đã nói như sau:”Đức Ki-tô sinh ra tại Á Châu và đã chết tại Á Châu… nhưng đối với người dân Á Châu, Chúa vẫn còn là một người xa lạ. Họ vẫn nhìn Ki-tô giáo như một tôn giáo Tây phương. Mặc dầu Ki-tô giáo được phát sinh tại Á Châu, nhưng số phận của tôn giáo này tại lục địa Á Châu vẫn chưa được may mắn lắm. Bởi vậy, cùng với đại hội Truyền giáo Á Châu lần này, chúng ta phải đưa Chúa Giê-su trở về với người dân Á Châu, phải kể cho họ những câu chuyện về Chúa Giê-su tại Á Châu, và làm cho họ nhận biết rằng Chúa Giê-su là người Á Châu”. Vâng, quả vậy, truyền giáo là kể câu chuyện về Chúa Giê-su, về đời sống, giáo huấn và cái chết của Người vì yêu thương nhân loại. Điều này ai cũng có thể làm được, nếu ý thức về sứ mạng thừa sai và trau dồi kiến thức để có thể thực hiện được sứ mạng cao cả ấy.

Ước chi mỗi Ki-tô hữu hiểu ơn gọi thừa sai và sống ơn gọi ấy trong mối tương quan với tha nhân, thể hiện qua lời nói, hành động cũng như chính bản thân mình. mục lục

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

ƠN GỌI TRUYỀN GIÁO TRONG HƠI THỞ CỦA THỜI ĐẠI MỚI

Hội Thánh long trọng cử hành Khánh nhật Truyền giáo năm 2025 vào Chúa nhật XXIX thường niên. Ngày đặc biệt này mời gọi mọi Kitô hữu nhìn lại và sống sâu hơn ơn gọi truyền giáo của mình.

Với Giáo Hội Việt Nam, Khánh nhật Truyền giáo năm nay mang ý nghĩa rất riêng: Chỉ ít tuần trước, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã gửi toàn Dân Chúa Thư Chung năm 2025, với chủ đề trọng tâm: "Loan báo Tin Mừng trong bối cảnh mới của thời đại" giữa lúc thế giới chuyển mình mạnh mẽ, còn con người lại khát khao tìm kiếm niềm tin và tình thương hơn bao giờ hết.

Các Đức Giám mục tha thiết mời gọi, từ giáo sĩ đến từng giáo dân, từ cộng đoàn dòng tu đến mỗi gia đình nhỏ bé, hãy làm mới lại lòng nhiệt thành truyền giáo. Không phải bằng chương trình lớn lao, mà bằng chứng tá của tình yêu, của cầu nguyện, của đời sống trung thực và phục vụ khiêm nhường mỗi ngày.

Chúng ta hiệp lòng cầu xin Chúa Thánh Thần khơi dậy trong từng người ngọn lửa hăng say loan báo Tin Mừng; để qua lời nói, ánh mắt, việc làm của chúng ta, nhiều người nhận ra khuôn mặt hiền từ của Chúa Kitô.

Lắng nghe Hội đồng Giám mục, một lần nữa chúng ta nhìn lại căn tính của mình: Chúng ta, những người được sai đi, những môn đệ thừa sai của Chúa Kitô giữa lòng thế giới.

1. Đón nhận giáo huấn của Hội Thánh với lòng hiếu thảo và tỉnh thức.

Thư Chung không cho thấy một mệnh lệnh, nhưng là tiếng nói mục tử, nhẹ mà sâu, quen mà mới: Truyền giáo không là "đi xa" hay của một nhóm người đặc biệt, mà là hơi thở thường ngày của đời Kitô hữu.

Như người mẹ dạy con sống đúng căn tính, Hội Thánh nhắc, mọi người đã chịu phép Rửa đều được sai đi. Dù nông dân chân lấm tay bùn, công nhân ở nhà máy, người trẻ nơi phố thị..., đều có thể làm chứng cho Tin Mừng bằng chính cách sống, cách yêu, cách làm việc trung thực và đầy bác ái.

2. Truyền giáo cần khôn ngoan và khéo léo trong bối cảnh mới.

Thế giới thay đổi quá nhanh. Xã hội Việt Nam mở ra với bao luồng tư tưởng, văn hóa, niềm tin... khác nhau. Truyền giáo trong bối cảnh ấy không thể chỉ là lời nói, mà phải là lối sống đối thoại, cởi mở, thấm đượm nhân bản.

Thư Chung mời gọi truyền giáo bằng chứng tá hơn bằng khẩu hiệu, bằng tình huynh đệ hơn tranh luận. Trong cộng đồng những người chưa có niềm tin hay anh chị em tôn giáo bạn, trong khu xóm hay nơi công sở, người tín hữu được mời gọi sống hiền hòa, kính trọng, và đồng hành. Chính sự khiêm tốn và chân thành ấy là con đường khôn ngoan mà Chúa Thánh Thần hướng dẫn, để hạt giống Tin Mừng âm thầm nảy mầm.

Ở nhiều nơi, truyền giáo không còn "ra đi đến vùng xa" mà ở lại thật sâu trong đời sống người khác. Nhằm lắng nghe, cảm thông, chia sẻ, và làm sáng lên dung mạo nhân hậu của Thiên Chúa qua từng việc nhỏ. Kitô hữu không chỉ "nói" về Chúa, mà làm cho người khác cảm thấy Chúa đang ở giữa họ.

3. Ơn gọi truyền giáo: Từ trái tim yêu mến đến đôi tay dấn thân.

Không ai có thể truyền giáo mà không có tình yêu. Thư Chung khơi lại ngọn lửa ấy, ngọn lửa yêu mến Hội Thánh, yêu mến con người, và yêu mến quê hương Việt Nam.

Truyền giáo không tách rời lòng yêu Tổ quốc. Khi góp phần xây dựng xã hội công bằng, nhân ái, tôn trọng phẩm giá con người, chúng ta đang sống Tin Mừng giữa đời. Vì thế, ơn gọi truyền giáo của người Việt Nam hôm nay cần được thể hiện trong văn hóa hiếu hòa, khiêm tốn, nhân nghĩa và trung tín, để đức tin trở nên men, nên muối, chứ không phải là rào cản.

Mỗi giáo xứ, mỗi gia đình, mỗi người trẻ hãy là "ngọn đèn nhỏ" Chúa đặt vào lòng đời. Không cần làm điều lớn, chỉ cần trung tín với điều nhỏ mà Chúa giao. Một lời tha thứ, một hành động sẻ chia, một lời cầu nguyện âm thầm..., là hạt mầm truyền giáo, mà Chúa Thánh Thần sẽ làm nở hoa.

4. Để Chúa Thánh Thần hướng dẫn.

Nếu Thư Chung là bản hướng dẫn, thì Chúa Thánh Thần là người thầy nội tâm, âm thầm soi sáng từng bước đi. Ngài dạy ta biết phân định giữa nhiệt thành và liều lĩnh, giữa can đảm và nóng vội, giữa quảng đại và phô trương.

Hội Thánh Việt Nam được mời gọi đi sâu vào đời sống cầu nguyện, đào sâu Lời Chúa, sống hiệp thông, vì chỉ trong Thánh Thần, chúng ta mới thật sự "được sai đi". Không phải để thắng ai, mà để làm cho tình yêu thắng. Không phải để mở rộng quyền lực, mà để mở rộng lòng người.

Khi ấy, dù miền quê hay đô thị, hải ngoại hay trong nước, Kitô hữu Việt Nam vẫn chỉ thở chung một hơi thở: "Này con đây, xin sai con đi!" (Is 6, 8).

Xin Chúa Thánh Thần thắp sáng trong chúng ta lửa yêu mến, giúp đón nhận Thư Chung như lời mời gọi nên thánh giữa lòng đời. Nhờ lòng khôn ngoan, hiền hòa, can đảm của chúng ta, Ngài làm cho nơi ồn của thế giới, vang lên lời dịu dàng của Tin Mừng: "Chúa đang ở đây, Chúa đang yêu thương".

Ước chi nhờ từ tiếng nói ấy, lòng người được chạm đến - để nảy sinh một tình cảm, rồi lớn lên thành lòng yêu mến Chúa, yêu mến Hội Thánh, yêu những người mang danh Kitô hữu. Chính từ tình mến đó, họ sẽ dễ mở lòng hơn để đón nhận ánh sáng đức tin. mục lục

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

HÃY RA ĐI GIEO NIỀM HY VỌNG

Hôm nay, 19 tháng 10, toàn thể Hội Thánh cử hành Thánh lễ cầu nguyện cho công cuộc truyền giáo. Sứ mạng này không phải là điều mới mẻ, nhưng ngày càng trở nên cấp bách, vì Giáo hội tự bản chất là truyền giáo.

Giáo hội hiện hữu để truyền giáo

Ngay từ bốn sách Tin Mừng, sứ vụ truyền giáo đã được khẳng định. Đức Giê-su Phục sinh nói với các Tông đồ: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (Ga 20,21). Như thế, chính Chúa Con tiếp tục sai Giáo hội lên đường đến tận cùng trái đất, mang ơn cứu độ của Thiên Chúa cho mọi người.

Thánh Giáo hoàng Phao-lô VI viết: “Giáo hội hiện hữu để truyền giáo, để giảng dạy, hòa giải tội nhân với Thiên Chúa, và duy trì hy lễ của Đức Ki-tô trong Thánh lễ.”

Thánh Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II khẳng định: “Sứ mạng của Giáo hội kéo dài sứ mạng của Chúa Ki-tô. Giáo hội rao giảng Tình Phụ Tử của Thiên Chúa bằng lời nói và bằng chứng tá đời sống.”

Đức Bê-nê-đíc-tô XVI cũng nhấn mạnh: “Sứ vụ truyền giáo là bổn phận của toàn thể Giáo hội, vốn tự bản chất là thừa sai” (x. Ad gentes, số 2).

Đức Lê-ô XIV tha thiết kêu gọi mọi giáo xứ Công giáo trên thế giới hãy tích cực tham gia Ngày Thế giới Truyền giáo… bằng lời cầu nguyện, lòng quảng đại góp phần loan báo Tin Mừng, nâng đỡ các chương trình mục vụ và giáo lý, xây dựng các nhà thờ mới, đồng thời chăm sóc những nhu cầu về y tế và giáo dục của anh chị em chúng ta nơi các vùng truyền giáo”. Ngài thúc giục mọi người trở thành ‘những nhà truyền giáo của hy vọng giữa các dân tộc’ …mang Đức Ki-tô, Niềm Hy vọng của chúng ta, đến tận cùng trái đất”.

Gieo niềm hy vọng giữa thế giới khủng hoảng

Thế giới hôm nay đang chìm trong nhiều “bóng tối” chiến tranh, hận thù, bất công, cô đơn và khủng hoảng niềm tin. Con người khao khát ánh sáng, nhưng lại bị bao vây bởi ánh sáng giả tạo của chủ nghĩa hưởng thụ và vô cảm. Trong hoàn cảnh ấy, lời ngôn sứ I-sai-a vẫn vang lên: “Hãy đứng lên, bừng sáng lên!” (Is 60,1).

Hội Thánh không thể chờ đợi hoàn cảnh thuận lợi mới loan báo Tin Mừng. Nếu ta im lặng, thế giới sẽ thiếu đi niềm hy vọng.

Thư chung của Hội đồng Giám mục Việt Nam năm 2025 khẳng định: “Mỗi Ki-tô hữu là một môn đệ thừa sai.” Trích lời Đức Giê-su: “Anh em là ánh sáng thế gian… không ai thắp đèn rồi để dưới thùng, nhưng đặt trên giá để soi sáng cho mọi người trong nhà” (Mt 5,14-15). Ánh sáng ấy không tồn tại cho chính mình, nhưng để chiếu soi cho thế giới.

Truyền giáo không chỉ là công việc của một số người được sai đi, mà là bổn phận của mọi người đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội. Mỗi Ki-tô hữu được mời gọi làm “ngọn đèn hy vọng” giữa đời, bằng lời nói, hành động, và lòng thương xót trong gia đình, nơi làm việc, hay trường học.

Nếu ta thật sự tin Đức Ki-tô là Ánh Sáng cứu độ, ta không thể giữ ánh sáng ấy cho riêng mình.

Tham gia vào mùa truyền giáo mới

Thiên Chúa luôn mời gọi con người cộng tác vào sứ mạng của Người. Sứ điệp sai đi của Chúa Giê-su vẫn vang vọng hôm nay: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.”

Chủ đề Ngày Truyền Giáo Thế Giới năm 2025: “Mang hy vọng trong một thế giới khủng hoảng” nhắc chúng ta rằng truyền giáo không chỉ là rao giảng, mà là mang niềm hy vọng và sự chữa lành đến với thế giới bị tổn thương.

Đức cố Giáo hoàng Phan-xi-cô mời gọi: “Tôi nhấn mạnh đến tính hiệp hành truyền giáo của Giáo hội, khuyến khích mọi người – từ trẻ em, thanh thiếu niên đến người cao tuổi – tích cực tham gia sứ mạng loan báo Tin Mừng bằng chứng tá đời sống, lời cầu nguyện, hy sinh và lòng quảng đại.”

Truyền giáo không chỉ bằng lời nói, nhưng bằng đời sống yêu thương và phục vụ. Mỗi người, dù ở đâu, đều có thể góp phần qua việc cầu nguyện, hỗ trợ vật chất, hay đơn giản là sống đức tin cách trung thực.

Trong buổi gặp gỡ các phong trào Công giáo tại quảng trường Thánh Phê-rô, Đức Lê-ô XIV nhấn mạnh: truyền giáo trước hết là cầu nguyện vì cầu nguyện chính là hành động truyền giáo đầu tiên. Sau đó là loan báo Tin Mừng cho một thế giới bị thương tổn, không loại trừ ai, để mang Chúa, Đấng là Hy vọng đến với thế giới thất vọng.

Theo Đức Lê-ô, con đường truyền giáo chính là con đường của các Mối Phúc khiêm tốn, hiền lành, xót thương, và xây dựng hòa bình. Người truyền giáo không cần quyền lực hay chiến lược thế gian, vì truyền giáo luôn là công việc của Thiên Chúa.

Chúa không đòi chúng ta làm những điều vĩ đại, nhưng mời gọi ra đi với trái tim bừng cháy niềm tin và hy vọng, để thế giới nhận ra khuôn mặt yêu thương của Người.

Thế giới hôm nay đang khát niềm hy vọng. Giáo hội và từng người Ki-tô hữu được mời gọi trở nên người gieo hy vọng, gieo ánh sáng Tin Mừng vào lòng nhân loại.

Truyền giáo không chỉ là công việc của linh mục, tu sĩ hay nhà truyền giáo chuyên nghiệp, mà là sứ mạng của mỗi người tin. Dù bằng một lời cầu nguyện nhỏ bé, một hành động yêu thương âm thầm, hay một đóng góp khiêm tốn, tất cả đều có giá trị vô cùng trước mặt Chúa.

Vì thế, chúng ta cùng thưa với Người: “Lạy Chúa, này con đây, xin sai con đi.” mục lục

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

CHÚA NHẬT 29 THƯỜNG NIÊN_C

Lời Chúa: Xh 17,8-13;  2 Tm 3,14 – 4,2;  Lc 18,1-8

KIÊN NHẪN KHI CẦU NGUYỆN

Ca dao, tục ngữ Việt Nam ta có dạy: “Có công mài sắt, có ngày nên kim”, hay “Chữ nhẫn là chữ tương vàng, ai mà nhẫn được thì càng sống lâu.” Hoặc như người đời vẫn nói: “Đi buôn lúc lỗ lúc lời, có công bền chí, có thời phất to.”

Kiên trì và bền chí luôn là chiếc chìa khóa mở cánh cửa của thành công. Ai cũng biết điều đó. Thế nhưng, trong việc cầu nguyện – khi khấn xin cùng Chúa – người ta lại thường không kiên nhẫn chút nào cả. Trong số đó có cả tôi.

Hễ mở miệng cầu xin điều gì là ta muốn Chúa ban cho ngay lập tức, như thể muốn Người phải nhanh lẹ như một chiếc máy bán hàng tự động: bỏ vào một đồng, bấm nút, là lập tức có lon nước ngọt rơi ra cho mình.

Bạn thân mến, những lời cầu xin của chúng ta, dù là chính đáng và hợp lý đến đâu, vẫn cần có sự kiên nhẫn. Giống như người đàn bà góa trong Tin Mừng hôm nay: nhờ kiên trì mà bà đã nhận được điều mình mong muốn. Vậy thì bạn và tôi, nếu biết kiên trì trong lời cầu nguyện, chắc chắn cũng sẽ được Thiên Chúa nhậm lời.

Tuy nhiên, xin bạn đừng nghĩ rằng “xin gì được nấy”. Chỉ khi nào điều ta cầu xin không làm hại cho linh hồn mình, cho gia đình và cộng đoàn, thì Chúa mới ban cho mà thôi.

Để có thể vững tâm và kiên trì trong khi cầu nguyện, tôi nghĩ bạn và tôi cần ghi nhớ ba điều sau đây:

1. Khi cầu nguyện, hãy nói: “Nếu đẹp lòng Chúa, nếu Chúa muốn, xin ban cho con ơn này, ơn kia.”

Dù cầu xin điều lớn hay nhỏ, chúng ta hãy luôn đặt mình trong thánh ý Chúa.

2. Tin chắc rằng Thiên Chúa là Đấng trung tín.

Ngài không bao giờ cho chúng ta “bánh vẽ” hay “thịt lừa”. Chính Chúa Giêsu đã khẳng định:

“Cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ thì sẽ mở cho.”

Nhưng bạn và tôi đừng xin những điều phù phiếm – chẳng hạn như trúng “mega jackpot” hay thắng lớn ở casino. Bởi khi “trúng số” là lúc ta… “tới số”! Tiền bạc đỏ đen, không do lao động chính đáng, chỉ đem lại nguy hiểm và tai hại cho bản thân, gia đình và cả linh hồn của chúng ta mà thôi.

3. Xác tín rằng Thiên Chúa là Cha nhân ái vô cùng.

Ngài luôn chăm sóc, lo lắng và gìn giữ chúng ta trong mọi nẻo đường đời. Ngài biết rõ chúng ta cần gì. Nếu sau những lời cầu nguyện tha thiết mà bạn không thấy Chúa đáp lại, thì chắc chắn điều bạn xin không có lợi cho bạn, cả phần xác lẫn phần hồn, nên Người không ban.

Chúa Giêsu đã phán: “Nếu anh em là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt, phương chi Cha trên trời…”

Thiên Chúa là Cha của chúng ta – tốt lành và quảng đại hơn cha mẹ trần gian bội phần. Ngài luôn che chở, nâng đỡ, và lo lắng cho bạn, cho tôi, vì chúng ta là con cái của Ngài.

Vì thế, hãy kiên nhẫn khi cầu nguyện. Nếu điều ta xin đẹp lòng Chúa và có lợi cho linh hồn mình, chắc chắn Ngài sẽ nhậm lời.

Chính Chúa Giêsu đã khẳng định: “Chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm kêu cầu Người sao? Lẽ nào Người bắt họ chờ đợi mãi?”

Xin bạn ghi nhớ: Thiên Chúa không dùng đồng hồ của loài người, cũng không tính thời gian bằng lịch của chúng ta.

Vì vậy, đừng than phiền hay trách móc Chúa rằng: “Con cầu nguyện mấy tháng, mấy năm rồi mà Chúa vẫn làm ngơ sao?”

Hãy kiên trì và nhẫn nại trong khi cầu xin, bởi Thiên Chúa là Cha nhân hậu – Đấng luôn ban điều tốt lành cho những ai kêu xin Người.

Cầu chúc bạn và những người thân yêu có một cuối tuần mạnh khỏe, bình an, và nhất là luôn kiên trì, bền chí trong đời sống cầu nguyện. mục lục

Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

KIÊN TRÌ CẦU XIN, ĐỪNG NGÃ LÒNG

Cuộc đời Kitô hữu là một hành trình đức tin được đo lường không chỉ bằng những lời tuyên xưng, mà còn bằng sự kiên trì, là khả năng giữ vững niềm tin và hy vọng trước những thử thách kéo dài, sự mệt mỏi thể xác và những cám dỗ muốn buông xuôi. Các bài đọc Kinh Thánh hôm nay đều đưa ra một giáo huấn duy nhất và cốt yếu: cầu nguyện luôn, đừng ngã lòng.

1. Kiên trì cầu xin

Dụ ngôn về bà góa và vị thẩm phán bất lương là một bài học đầy tính sư phạm của Chúa Giêsu, ngay từ câu mở đầu: “Chúa Giêsu kể cho các môn đệ dụ ngôn sau đây, để dạy các ông phải cầu nguyện luôn, không được nản chí” (Lc18:1).

Ông quan toà được mô tả là người hoàn toàn: “chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì” (Lc18:2). Ông ta là hình ảnh tệ hại của quyền lực thế gian, là sự tương phản hoàn toàn với Thiên Chúa.

Đối lập với ông là bà góa, tượng trưng cho sự yếu đuối, dễ bị tổn thương và không có tiếng nói trong xã hội Do Thái ngày xưa. Bà không có ai bảo vệ, không có tiền của, và chỉ có một vũ khí duy nhất là nhẫn nại quấy rầy: “Nhiều lần đến thưa với ông: đối phương tôi hại tôi, xin ngài minh xét cho” (Lc18:3).

Sự kiên trì của bà góa đã đánh bại sự chai lì của quan tòa. Ông ta quyết định ra tay không phải vì lòng thương xót hay công lý, mà vì sự mệt mỏi và khó chịu cỉa chính ông ta: “nhưng mụ goá này quấy rầy mãi, thì ta xét xử cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhức đầu nhức óc” (Lc18:5). Sức mạnh của sự bền bỉ vượt lên trên cả sự bất chính và lòng dạ vô nhân của quan toà. Dụ ngôn không ca ngợi ông quan tòa, mà ca ngợi ý chí không bỏ cuộc của bà góa. Bài học của dụ ngôn nằm ở chỗ: nếu sự kiên trì của con người có thể khuất phục một vị quan toà bất lương, “Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Ngài đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Ngài sao? Lẽ nào Ngài bắt họ chờ đợi mãi?” (Lc18: 7-8).

Thiên Chúa không phải là ông quan tòa bất lương. Ngài là Cha. Ngài không cần phải bị “quấy rầy” thì  mới hành động, vì Ngài “tôn trọng” và “yêu thương” con người bằng tình yêu vô biên. Tuy nhiên, Thiên Chúa muốn chúng ta kiên trì:

  • Để thanh luyện ý muốn, vì cầu nguyện liên lỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn điều ta thực sự cần, là ý muốn của Thiên Chúa, thay vì điều ta muốn nhất thời.

  • Để tăng trưởng đức tin, vì sự chờ đợi rèn luyện chúng ta tin tưởng vào lòng trung tín của Ngài, chứ không phải thúc bách Ngài mau chóng đáp ứng mong cầu của chúng ta.

  • Để chuẩn bị cho ân sủng, vì thời gian chờ đợi là thời gian chuẩn bị tâm hồn chúng ta đón nhận ân sủng Ngài sẽ ban cho, biết trân trọng giá trị của ơn ban đó.

Thánh Augustinô giải thích sâu sắc về sự kiên trì trong cầu nguyện: “Chúa Giêsu răn dạy ‘Phải luôn cầu nguyện, đừng nản lòng’ và Ngài cho chúng ta một dụ ngôn về vị thẩm phán bất công. Vậy nên, chúng ta đừng nản lòng trong việc cầu nguyện. Mặc dù Ngài trì hoãn điều Ngài sẽ ban, nhưng Ngài không lấy mất điều đó khỏi chúng ta; vì chúng ta có thể tin chắc vào lời hứa của Ngài, xin đừng nản lòng trong việc cầu nguyện.” [1] 

Đức Phanxicô cũng đã nhấn mạnh rằng: “Đức tin và sự kiên trì đi đôi với nhau, bởi vì nếu bạn có đức tin, chắc chắn Chúa sẽ ban cho bạn điều bạn xin. Và nếu Chúa bắt bạn chờ đợi, hãy gõ, gõ, gõ: cuối cùng Chúa sẽ ban ơn cho bạn...Ngài làm điều đó vì lợi ích của chúng ta, để chúng ta quý trọng việc cầu nguyện. Hãy quý trọng việc cầu nguyện, đừng như vẹt: lắm lời nhưng vô nghĩa,  không hơn không kém…Không, ở đây chính là sự kiên trì. Chính là đức tin. Chúa Kitô dạy chúng ta cầu nguyện không phải để thay đổi ý muốn của Thiên Chúa, mà để thay đổi lòng dạ  của chúng ta” (Bài giảng, 23 tháng 3 năm 2020, tại nhà nguyện thánh Mátta).

Lời kết của dụ ngôn là một sự chuyển hướng đột ngột, từ sự trấn an sang một lời chất vấn đầy thách thức: “Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Ngài còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc18:8). Đây là lời thách đố vang vọng xuyên suốt lịch sử, mời gọi mỗi người chúng ta phải sống một đức tin hành động, kiên trì, và không bao giờ ngã lòng. Sự chậm trễ mà chúng ta cảm nhận được không phải do Thiên Chúa trì hoãn, mà là một phép thử cho sự kiên trì của chúng ta. Chúa Giêsu như đang hỏi mỗi người chúng ta: liệu khi mọi hy vọng đã cạn, khi sự chờ đợi đã quá lâu, khi những lời cầu xin tưởng chừng như không được đáp lại, thì liệu chúng ta có còn giữ được ngọn lửa đức tin không? Lòng tin mà Chúa tìm kiếm vào ngày Ngài trở lại là sự kiên trì hành động như lòng tin của bà góa và sự chịu đựng bền bỉ như lòng tin của Thánh Phaolô.

2. Kiên trì là sức mạnh mang tính cộng đoàn và cầu thay nguyện giúp

Trong trận chiến với người Amalếch, Giosuê dẫn quân dưới thung lũng, còn Môsê, Aaron và Hur lên đỉnh núi. Kết quả trận chiến không dựa vào sức mạnh Israel, mà dựa vào tư thế cầu nguyện của Môsê: “Khi nào ông Môsê giơ tay lên, thì dân Israel thắng thế; còn khi ông hạ tay xuống, thì Amalếch thắng thế” (Xh17:11). Hành động giơ tay của Môsê là sự chuyển cầu mạnh mẽ, tiên trưng cho Thập Giá Chúa Kitô, Đấng giang tay cầu xin ơn cứu rỗi trên đồi Canvê. Trận chiến của Giosuê phản ánh cuộc chiến thiêng liêng trong lòng của mỗi người chúng ta. Điều này dạy rằng mọi nỗ lực của chúng ta cần được nâng đỡ bởi việc cầu nguyện, với đôi tay giơ lên hướng về Thiên Chúa. Thánh Cyprianô thành Carthage đã nhấn mạnh rằng: “Tấm gương về sự kiên trì và bền bỉ được nêu ra trong sách Xuất hành, khi Môsê giơ hai tay mở rộng như dấu chỉ bí tích Thập Giá thì ông đánh bại Amalếch, kẻ mang hình bóng của ma quỷ, và Môsê không thể chiến thắng kẻ thù của mình nếu ông không kiên trì liên tục giơ hai tay lên cao.” [2]

Môsê cũng cảm thấy mỏi mệt: “Ông Môsê mỏi tay, nên người ta lấy một hòn đá kê cho ông ngồi, còn ông Aharon và ông Khua thì đỡ tay ông, mỗi người một bên. Nhờ vậy, tay ông Môsê cứ giơ lên được mãi, cho đến khi mặt trời lặn” (Xh17:12). Ngay cả những vĩ nhân, những vị ngôn sứ đang thực hiện lệnh truyền của Thiên Chúa, cũng có giới hạn và không thể kiên trì một mình. Sự kiên trì đòi hỏi sự cộng tác.

Tư tế Aharon và ông Khua, người đại diện cho dân, là hình ảnh tuyệt vời của cộng đoàn hỗ trợ. Họ không chiến đấu dưới thung lũng, nhưng vai trò của họ còn quan trọng hơn: duy trì hành vi chuyển cầu cần thiết cho chiến thắng. Đây là nguyên tắc cốt lõi của sự Hiệp Thông Các Thánh: chúng ta cần nhau để nâng đỡ nhau trong lời cầu nguyện. Sự kiên trì trong lời cầu nguyện không phải là trách nhiệm cá nhân đơn lẻ, mà là một sứ vụ cộng đoàn. Trong đoàn dân của Chúa Kitô, chúng ta không được phép vui sướng hay mệt mỏi và ngã lòng như thể chỉ có một mình.

Đức Phanxicô, khi suy niệm về sự chuyển cầu, đã nói: “Giáo Hội, trong tất cả các thành viên của mình, có sứ mệnh thực hành lời cầu nguyện chuyển cầu cho người khác. Điều này đặc biệt đúng với những người đảm nhận vai trò trách nhiệm: cha mẹ, thầy cô, thừa tác viên được truyền chức, bề trên các cộng đoàn…Hãy cầu nguyện cho người khác cách dịu dàng. Tất cả chúng ta đều là những chiếc lá trên cùng một cây: mỗi chiếc lá rơi xuống đều nhắc nhở chúng ta về lòng đạo đức cao cả cần được nuôi dưỡng bằng lời cầu nguyện cho nhau. Vậy chúng ta hãy cầu nguyện cho nhau. Điều đó sẽ mang lại lợi ích cho chúng ta và cho mọi người” (Buổi tiếp kiến chung, 16 tháng 12 năm 2020).

3. Lòng trung kiên trong sứ vụ

Trong thư gửi cho Timôthê, cuối cùng cũng là thư cuối cùng của ngài, Thánh Phaolô đã để lại không chỉ là lời trăn trối mà là một di chúc thiêng liêng về lòng trung kiên trong sứ vụ. Lời khuyên “Phần anh, hãy giữ vững những gì anh đã học được và đã tin chắc. Anh biết anh đã học với những ai” (2 Tm 3:14) mời gọi chúng ta một sự hồi tâm sâu sắc về cội rễ đức tin của mình. Đức tin không phải là một lý thuyết mơ hồ, mà là một kho tàng được truyền trao, bắt nguồn từ những người thầy, những người hướng dẫn đã sống và làm chứng cho Lời Chúa. Điều này nhắc nhở mỗi Kitô hữu hãy nhớ đến những người thầy đầu tiên đã gieo Lời Chúa vào lòng mình - có thể là cha mẹ, những người đỡ đầu, hay vị linh mục giảng dạy. Việc giữ vững những điều đã “tin chắc” là một lời cam kết không dao động trước phong ba của thế giới, một sự neo chặt tâm hồn vào những chân lý vĩnh cửu.

Tuy nhiên, đức tin không thể dừng lại ở sự bảo toàn cá nhân; đức tin phải được biểu lộ qua sứ vụ. Thánh Phaolô đã đưa ra một lời khuyên đầy uy quyền, như một lời cam kết trước mặt Thiên Chúa: “Hãy rao giảng lời Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện” (2 Tm 4: 2). Đây là lời thúc giục ra khỏi vùng an toàn. Việc rao giảng Lời Chúa không chỉ dành cho các giáo sĩ hay những người có chức vụ, mà là trách nhiệm của mỗi người đã được rửa tội, trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống.

Điều quan trọng nhất là phương cách thực hiện sứ vụ: “Hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ, với tất cả lòng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ” (2 Tm 4: 2). Lời rao giảng của chúng ta phải mạnh mẽ nhưng luôn luôn nhẫn nại và đầy yêu thương. Chúng ta không được hành động trong sự tức giận hay nản lòng khi gặp chống đối, mà phải kiên trì, lấy sự nhẫn nại của Thiên Chúa làm mẫu mực. Sự kiên trì đó không chỉ là sự chịu đựng, mà là một hành động giáo dục kiên trì, đặt lợi ích và sự thăng tiến của người nghe lên hàng đầu. Đây là lời mời gọi biến cuộc đời mình thành một thông điệp sống động của Lời Chúa, sẵn sàng lên tiếng cho chân lý với tình yêu và sự kiên nhẫn như của Thiên Chúa: “Lời cầu nguyện và việc phục vụ của tôi phụ thuộc vào hoàn cảnh hay vào một tấm lòng kiên định trong Chúa? Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta nếu chúng ta kiên trì thì chúng ta không có gì phải sợ hãi, ngay cả trong những biến cố buồn bã và tồi tệ của cuộc sống, ngay cả trong những điều xấu xa mà chúng ta thấy chung quanh, bởi vì chúng ta luôn vững vàng trong điều tốt” (ĐGH Phanxicô, Kinh Truyền tin, 13 tháng 11 năm 2022).

Chừng nào chúng ta còn kiên trì rao giảng, chừng đó lòng tin vẫn còn trên mặt đất. Đó cần phải là cách chúng ta trả lời câu hỏi của Chúa Giêsu: “Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Ngài còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18:8). mục lục

Phêrô Phạm Văn Trung

GƯƠNG SÁNG CỦA BÀ GÓA

Trọng tâm của bài Tin Mừng hôm nay là cầu nguyện, đó là lẽ sống của người môn đệ. Cầu nguyện không chỉ là đọc kinh, mà là kết hợp tâm hồn với Thiên Chúa, gắn bó và đặt trọn vẹn lòng tin nơi Người. Vì thế, trong câu mở đầu của bài Tin Mừng, Chúa dậy chúng ta phải siêng năng cầu nguyện. Cầu nguyện với lòng tha thiết và liên tục, không được nản chí. Sau đó, Người đã minh họa lời giảng dậy bằng dụ ngôn ông quan tòa bất lương gặp bà góa quấy rầy.

Trước tiên là việc xuất hiện của ông quan tòa. Các chi tiết mô tả về tính nết của ông quan tòa như: bất lương, không sợ trời, chẳng nể đất và cũng chẳng sợ ai được nhấn mạnh nhằm chuẩn bị cho chúng ta nhìn thấy trước khó khăn mà bà góa sẽ phải đối diện.

Sau đó, một bà góa như tất cả mọi bà góa trong xã hội Do Thái được trình làng. Hoàn cảnh của các bà góa thời Đức Giê-su không được bảo vệ và không có nhiều quyền lợi như các bà góa trong xã hội hiện đại. Họ là những người cô thân cô thế, bị thiệt thòi mọi sự, không ai binh vực. Nhưng lòng kiên tâm của bà được đề cao. Đó là điểm chính yếu của dụ ngôn. Bà cứ kiên trì kêu cầu mãi. Hết ngày này đến hôm khác, bà cứ chờ chực ở cửa quan để đòi công đạo, đòi được minh xét vì bà nghĩ rằng phần lỗi về đối phương, họ đã làm hại đến bà.

Cuối cùng, vị quan tòa vô tâm và chẳng hề biết sợ ai của chúng ta cũng phải đứng ra xét xử bịnh vực quyền lợi cho bà. Thật lý thú khi chúng ta nghe được lối suy nghỉ của ông khi xét xử, ông ta chẳng vì công lý hay bị lương tâm thúc đẩy mà binh vực cho quyền lợi của bà mà chỉ vì sợ bị bà quấy rầy khiến cho ông bị nhức đầu long óc mà xử cho xong.

Sau khi kể xong câu chuyện, Đức Giê-su mới kết luận: “Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao?” Như vậy, câu đầu tiên và câu cuối cùng của bài Tin Mừng cho chúng ta thấy ý tưởng chính là cần phải cầu nguyện luôn, đừng nản chí.

Vẫn biết là như thế; nhưng sự hiểu biết của chúng ta về cầu nguyện có đem lại lợi ích gì hay không? Có nhiều người nói về cầu nguyện rất hay, rất thu hút và làm vừa lòng mọi người mà không thực tâm cầu nguyện thì cho dù bài nói có sâu sắc đến đâu cũng không có sức mạnh để truyền lửa cho người nghe.

Hãy nhìn xem gương của các Tông Đồ. Sau khi chứng kiến giây phút cầu nguyện vô cùng sốt sắng và thân mật giữa Đức Giê-su và Cha Người, cho nên các ông đã xin Chúa dậy cho ho phương thức cầu nguyện; và Đức Giê-su thay vì dậy cho các ông cách thức cầu nguyện thì Người đã chia sẻ ngay những tâm tình mà Người vừa tâm sự với Cha của Người cho các Tông đồ; từ đó chúng ta có Kinh Lậy Cha.

Vì thế, cầu nguyện là việc phải làm, không chỉ một lần mà làm liên tục. Trong niềm tin và phó thác chúng ta dâng lên Chúa tất cả, không phải cứ mỗi lần chạy đến với và bên Chúa lại là xin ơn.

Ý tưởng nêu trên được minh họa qua truyện kể sau.

Có một gia đình kia không giống như các gia đình khác. Ông chồng của căn nhà này là người cầm lõi, tay hòm chìa khóa thay vì nằm trong tay bà vợ như mọi gia đình khác thì lại nằm trong tay ông. Được một điều là ông rất đại lượng, không chi ly và ít khi chất vấn vợ con về việc chi tiêu.

Thế mà, đã có một lần ông cảm thấy nhức đầu long óc khi những người con của ông, hết cô này đến chú kia, lần lượt đến xin ông điều này, đứa khác lại xin ông cho tiền mua điều nọ. Đứa nào cũng cần. Cái gì các cháu đưa ra cũng đều đúng… Thế mới làm ông khổ. Từ trong nỗi khổ đó ông mới nghiệm ra một điều là con cái của ông dù lớn về phần xác, nhưng chưa một cháu nào trưởng thành và biết suy tính cho cuộc sống của chúng cả. Lúc nào hết xin lại đến cầu, cứ như vậy thì làm thế nào!

Từ hoàn cảnh thực tế mà nhiều gia đình vướng phải anh chị em thử hình dung ra cảnh Chúa phải nghe chúng ta, bao nhiêu tỷ người, lải nhải. Hơn nữa nhiều lúc chúng ta xin điều mà chúng ta không biết mình xin gì nữa.

Vẫn biết khi đau thì xin khỏi bịnh… Nhưng, tại sao không xin phó thác và can đảm để đối diện với căn bịnh. Đó là chưa kể đến việc nếu bịnh nào Chúa cũng chữa khỏi thì cần gì mấy ông bác sĩ và cũng chẳng cần ngân sách để xây thêm nhà thương và các viện nghiên cứu nữa.

Rồi trong cảnh nghèo, túng thiếu thì xin no đủ… Nhưng, tại sao không xin chấp nhận và cầu nguyện cho mấy ông nhà giầu biết noi gương Chúa mà sống đại lượng.

Làm thế nào để lời cầu xin của chúng ta được Chúa ban trong khi chúng ta lại sống ích kỷ, chỉ biết nghĩ đến nhu cầu, dù thiết yếu, nhưng vẫn là xin cho mình.

Nói chung, dù xin ơn là điều chính đáng và cần thiết. Nhưng chúng ta dễ rơi vào vị trí của những người chỉ biết ỷ lại, chờ đợi sự bố thì của kẻ khác; chưa kể đến các ơn mà chúng ta xin dường như chỉ vì nhu cầu của bản thân…. Tại sao không xin ý Chúa….

Chúa dậy chúng ta phải lo và quan tâm đến cuộc sống của nhau.

Lo bằng tâm (có nghĩa là cầu nguyện), quan tâm bằng hành động (viêc làm).

Để kết thúc, xin anh chị em cùng nghe phần chia sẻ của một tác giả vô danh như sau:

Tôi đã xin Chúa cất đi tính kiêu căng và Chúa trả lời: “Không”. Người nói rằng không phải Người sẽ cất đi tính xấu đó, mà chính tôi mới là người cố gắng chiến đấu để vượt thắng nó.

Tôi đã xin Chúa ban cho tôi lòng kiên nhẫn và Chúa đã trả lời: “Không”. Người nói rằng kiên nhẫn là hoa trái của thử thách. Người không ban cho tôi trái ấy mà để tôi tự tìm lấy.

Tôi đã xin Chúa ban cho tôi được hạnh phúc và Chúa đã trả lời: “Không”. Người nói rằng Người ban ân phúc cho tôi, còn hạnh phúc hay không là tùy vào cách thức tôi đón nhận và hành động.

Tôi đã xin Chúa gia tăng tinh thần cho tôi và Chúa đã trả lời:

“Không”. Người nói rằng tôi phải học để trưởng thành và lớn lên, nhưng Người sẽ mài dũa và cắt tỉa để tôi sinh thêm nhiều hoa trái.

Tôi đã xin Chúa đừng để tôi đau khổ và Người đã trả lời: “Không”. Người nói rằng đau khổ là một phần của đời sống và giúp tôi đến gần Người.

Tôi đã hỏi: “Liệu Người có yêu tôi không” và Người đã trả lời: “Có”. Người nói rằng Tình Yêu là bản chất và lẽ sống của Người. Chính Đức Giê-su, người Con mà Người yêu nhất đã chết để bộc lộ Tình Yêu đó cho tôi.

Sau cùng, tôi đã xin Chúa giúp tôi yêu mến tha nhân như Người yêu thương tôi và Chúa nói: “Cuối cùng con đã xin đúng điều Chúa mong đợi”.

Hy vọng, tâm sự nguyện xin nói trên cũng là tâm tư của chúng ta.

Nguyện xin Chúa giúp chúng ta tín thác vào Chúa trong việc cầu nguyện để khi Người đến vẫn còn thấy lòng tin trên trái đất này. Amen. mục lục

Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT

KIÊN TRÌ CẦU NGUYỆN

Sự kiên trì luôn luôn cần thiết để ta có thể đạt tới thành công. Khi làm bất cứ một việc gì, ta thường gặp rất nhiều khó khăn, có những lúc khó khăn làm cho ta chán nản và muốn bỏ cuộc. Trong những lúc ấy, sự kiên trì thật sự rất cần thiết để ta có thể vượt qua được khó khăn và vươn tới đích.

Hôm nay, Thầy Giêsu dạy ta về sự kiên trì cầu nguyện, không được nản chí. Lắng nghe câu chuyện Thầy Giêsu kể, ta tự hỏi: liệu ta có được sự kiên trì như bà góa đến xin ông quan tòa xử kiện không? Ông quan tòa đã chẳng kính sợ Thiên Chúa, không xem ai ra gì nhưng cuối cùng cũng đã chịu thua trước sự kiên trì “quấy rầy” của bà (x.Lc 18, 1-8).

Mỗi khi cầu nguyện, ta đến với Chúa với tâm tình và tâm thế như thế nào? Quả thực, mỗi ngày ta vẫn chạy đến bên Chúa để tâm sự với Ngài nhưng nhiều khi ta chưa để cho tâm hồn được thanh thoát, ta còn bận tâm đến nhiều chuyện ngoài Chúa mà bỏ quên Chúa. Điều chính yếu khi cầu nguyện là gặp gỡ Chúa, để lắng nghe lời yêu thương Chúa dành riêng cho ta. Nếu ta ý thức được điều này, thì khi bước vào cuộc sống, ta cưu mang cả những thao thức của Chúa và sống với những thao thứ đó. Đã bao lần, Chúa thì thầm bên tai ta: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15, 12). Lời ấy đã giúp ta vượt ra khỏi được những cảm xúc rất tự nhiên là nổi nóng hay giận dữ khi có người có lỗi với ta. Lời ấy kéo ta trở về với lòng mình, giục lòng ta hối cải sau những lần vì yếu đuối ta nổi nóng với anh chị em; Lời ấy giúp ta hết buồn rầu khi ta yêu thương ai đó mà họ chẳng đáp lại; có lúc, Lời ấy lại vang lên trong lòng ta, thôi thúc ta dâng lên Chúa lời tạ ơn chân thành khi nhìn thấy người ta yêu thương được nhiều người quý mến, để ta không ghen tương hay đố kỵ. Sống Lời Chúa mỗi ngày, ta cũng có thể được Chúa cho hiểu rõ và đụng chạm thật sự với Lời Chúa trong từng biến cố lớn nhỏ, để từ đó, Lời Chúa đặt ta trước những chọn lựa rất cụ thể để chọn điều làm đẹp lòng Thiên Chúa. Và thật sự, Lời Chúa đã ảnh hưởng rất tích cực trong cuộc đời ta là làm cho đời ta thêm trong suốt như Chúa đòi hỏi, như lời tác giả thư Do thái đã khẳng định: “Lời Thiên Chúa là lời sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi: xuyên thấu chỗ phân cách tâm linh, cốt với tủy; lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người. Vì không có loài thọ tạo nào mà không hiện rõ trước Lời Chúa, nhưng tất cả đều trần trụi và phơi bày trước mặt Đấng có quyền đòi chúng ta trả lẽ” (Dt 4, 12-13).

Thế nhưng, khi mang trong mình những điều ngoài Chúa, ta đã để cho tâm hồn bị lấp đầy chúng và vì thế Lời Chúa không có chỗ trong lòng ta hay nếu có cũng bị bóp nghẹt trong mớ những lo toan trần thế. Mỗi ngày, hãy dành thời gian để nhìn lại vị trí của Lời Chúa trong cuộc đời ta, nhìn lại cách ta cầu nguyện để nhờ ơn Chúa, ta được gắn bó với Chúa hơn, thuộc về Chúa cách trọn vẹn và chỉ khao khát sống cho thánh ý Chúa. Chúa vẫn đang chờ đợi phần đóng góp và thiện chí của ta.

Lạy Chúa Giêsu! Chúa hiểu rõ con hơn con hiểu về con. Xin Chúa khơi dậy nơi tâm hồn con lòng khao khát cầu nguyện, khao khát được gắn bó với Chúa, được gặp gỡ Chúa mỗi ngày một hơn. Con xin dâng lại cho Chúa con người của con, tất cả những cố gắng, nỗ lực và cả những yếu đuối của con. Con tin, trong tình yêu Chúa, mọi sự sẽ trở nên ích lợi cho con khi con hết lòng yêu mến Chúa. Amen. mục lục

Bông hồng nhỏ

CẦU NGUYỆN - HÀNH ĐỘNG - TIN TƯỞNG

            Hết thảy chúng ta đều có kinh nghiệm gây bối rối là “cầu xin không được nhậm lời.” Tửng kêu lên với Thiên Chúa  (“kêu van” và “cầu nguyện” đều cùng một chữ trong tiếng Hip-ri), chúng ta bao phen có cảm tưởng Người đã chẳng nghe gì ! Khiến chúng ta đôi khi tự nhủ : Cầu nguyện ích chi, nếu Thiên Chúa không đáp trả ? Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy Đức Giê-su từng biết rất rõ nỗi khó khăn của việc cầu nguyện : đấy là kinh nghiệm đớn đau về sự “im lặng của Cha trên trời.” Thiên Chúa im lặng hay Người có trả lời mà chúng ta không nghe ? Phần Đức Giê-su, Người nói gì với chúng ta về vấn đề ấy ?

            1- Cầu nguyện đi đôi với hành động.

            Trước tiên xin lưu ý : bà góa khốn khổ nơi dụ ngôn hôm nay là một sinh vật yếu đuối mà trong Kinh Thánh, bên cạnh trẻ mồ côi, là biểu tượng của những kẻ hèn mọn nhất, phải chịu mọi hình thức ngược đãi, bị tước đoạt người bào chữa ngoại trừ Thiên Chúa. Với lòng can đảm tuyệt vọng, phụ nữ này đã dám bước vào những căn phòng lạnh lẽo của pháp đường, vượt qua những rào cản thờ ơ của các viên chức, và xuất hiện trước ông quan tòa hống hách lẫn khó chịu để hét lên lời kêu gọi công lý. Bị lính canh đuổi ra ngoài, bà đã quay lại không chỉ một lần mà hàng chục lần, đã “chiến đấu” với sự gan lì để được “minh xét” (từ này lặp lại 4-5 chỗ). Phẩm chất cơ bản của góa phụ là đức kiên trì không hề lay chuyển, bất chấp sự im lặng của viên thẩm phán, vị cay đắng trong thái độ thờ ơ của ông, thậm chí cả sự nghiệt ngã trong ứng xử thù nghịch che giấu của ông. Cuối cùng phép lạ đã xảy đến. Viên quan tòa ngang ngược, chán ngán sự hiện diện can đảm và kiên quyết này, đã chấp nhận đưa ra phán quyết mong đợi từ lâu. Như vậy, người phụ nữ được Đức Giê-su đem làm gương cho chúng ta đâu có ăn không ngồi rồi ! Đúng hơn, đấy là một chiến binh như thiên hạ nói hiện giờ. Chính việc cầu xin của bà là một cuộc chiến đấu, một sự dấn thân trọn vẹn.

            Qua đó ta thấy cầu nguyện không dễ dàng như việc đọc một công thức ma thuật vốn san bằng mọi cản trở và giải quyết mọi công chuyện. Cầu nguyện là một cuộc phiêu lưu mầu nhiệm mà trong Kinh Thánh thường mang bộ mặt của một cuộc chiến đấu như vừa thấy : hãy nghĩ đến giai thoại nổi tiếng là cuộc vật lộn của Gia-cóp với Thiên Chúa bên bờ sông Giáp-bốc (St 32,23-33) mà chính ngôn sứ Hô-sê diễn giải như một biểu tượng của việc cầu nguyện (12,4-6). Cũng hãy nghĩ đến cụm từ kỳ lạ thánh Phao-lô đã sử dụng trong Thư Rô-ma : "Tôi khuyên nhủ anh em cùng chiến đấu với tôi, bằng cách cầu nguyện" (15,30). Và trong tiếng Hy-lạp, đấy là chữ "agonia", nghĩa là cuộc chiến chung quyết và tối hậu. Do đó, một phẩm chất không thể thiếu của việc cầu nguyện là trung thành ngay cả trong những lúc Thiên Chúa im lặng, giữa thời điểm khô khan và tăm tối.

            Cùng một bài học toát ra từ bài đọc thứ nhất (Xh 17,8-13) nhưng với nét sáng sủa hơn, trong một hình ảnh cụ thể khó quên nổi. Suốt cuộc hành trình dài qua hoang địa vùng Xi-nai, dân Ít-ra-en bị tấn công bởi lắm kẻ thù đáng sợ. Họ phản ứng bằng hai cử chỉ : trên đồi, gần Thiên Chúa, Mô-sê đưa hai tay lên trời… Giô-suê, trong cánh đồng, cùng quân của mình, chiến đấu với vũ khí cầm tay… Cầu nguyện và hành động ! Không chỉ cầu nguyện, nhưng cầu nguyện và dấn thân. Song không chỉ dấn thân mà chẳng cầu nguyện !

            Thành thử việc cầu nguyện đích thực không thể bù đắp cho các hành động của chúng ta. Đừng chờ Thiên Chúa hoàn tất thay cho ta những gì ta đã chẳng có can đảm thực hiện. Thắp một ngọn nến kính thánh An-tôn để được thi đậu cuối niên học, hay như ở Việt Nam hiện thời, trước mùa khảo thí, nhiều sĩ tử đến Văn Miếu-Quốc Tử Giám tại Hà Nội dâng hương hoa lễ vật để xin thi cử trót lọt, đang lúc đã chẳng hề lo “gạo bài”, thế là không lương thiện ! Người ta hiểu Thiên Chúa và các “văn thánh” (nếu có linh thiêng) chẳng nhậm kiểu cầu xin này. Thiên Chúa đâu phải là “kẻ trám lỗ” cho những biếng nhác của chúng ta, nơi trú ẩn cho những cuộc trốn chạy của chúng ta, cũng chẳng là sự khuyến khích cho những hèn nhát của chúng ta !!!

            2- Cầu nguyện đi đôi với tin tưởng.

            Bài học thứ hai về việc cầu nguyện được trình bày thông qua một kỹ thuật lập luận thường mang tên : phương chi, huống hồ (a fortiori) : nếu một quan tòa tồi tệ và bất công như thế, chuyên nhạo báng Thiên Chúa lẫn loài người, nhưng để tránh bị quấy rầy không ngớt, cuối cùng phải nhậm lời góa phụ yếu đuối, cô độc, khốn khổ đang van nài, một “con mụ” vốn chẳng là gì đối với ông cả, thì vị Thẩm phán chí công và trọn hảo, tức Thiên Chúa, lại càng làm như vậy biết bao ; phương chi là Cha anh em -Đức Giê-su nói- Đấng vô cùng nhân hậu, chẳng nhậm lời các kẻ Người đã tuyển chọn, yêu dấu, khi họ kêu cầu Người với lòng tin ? Lẽ nào Người cứ trì hoãn không giúp họ ? Lu-ca từng trình bày cùng một nhận định này -cũng về chủ đề cầu nguyện- trong một câu nói tuyệt đẹp của Đức Giê-su : "Nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình những của tốt, phương chi là Cha trên trời, sẽ ban Thánh Thần cho những kẻ xin Người." (11,13).

            Như thế, niềm tin vào tình hiền phụ của Thiên Chúa là gốc rễ của việc cầu nguyện và quyết định phong cách cũng như bầu khí của việc này. Trong Nhật ký ngày 06-01-1839, đại triết gia và tín hữu người Đan Mạch, Soren Kierkegaard, từng viết : "Lạy Cha trên trời, khi ý tưởng về Cha nổi lên trong lời cầu nguyện của chúng con, xin Cha làm cho ý tưởng ấy nổi lên không như một con chim hoảng hốt và lạc hướng, chao đảo qua lại, nhưng như một đứa trẻ thức dậy với nụ cười thiên đàng." Đâu phải ngẫu nhiên mà đoạn Kinh Thánh, vốn biểu trưng rõ nét nhất cho mối quan hệ nguyện cầu giữa Thiên Chúa với con người, Thánh vịnh 131, lại dùng hình ảnh một trẻ thơ nép mình lòng mẹ, hồn lặng lẽ an vui.

            “Nhưng khi Con Người đến, liệu Người có tìm được lòng tin trên mặt đất chăng ?" Với câu kết lạnh gáy này, Đức Giê-su cho ta thấy rằng nguy cơ chẳng được nhậm lời cầu không đến từ phía Thiên Chúa, nhưng từ phía con người, vốn thiếu lòng tin tưởng. Đây là cách để nói lại với ta rằng trong cuộc sống ta, vừa có vai trò của Thiên Chúa vừa có vai trò của phàm nhân. Và Thiên Chúa tôn trọng vai trò của phàm nhân mà Người đã dựng nên có tự do thật sự. Niềm tôn trọng ấy đối với vai trò bất khả thay thế là vai trò của chúng ta, còn đi đến chỗ dự kiến thất bại của chính việc Đấng Cứu Thế hiện diện, do chúng ta thiếu cầu nguyện, do đức tin ta thiếu chiều sâu. Người có tìm được lòng tin trong con tim chúng ta chăng khi “Người đến để mau chóng minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn” ?

            Lòng tin đó cho phép nhìn thấy việc thực sự nhậm lời ta cầu nguyện. Ngay cả khi bên ngoài, lời cầu nguyện của chúng ta xem ra không được nhậm, Đức Giê-su bảo, vẫn có một sự nhậm lời bên trong, từ phía Thiên Chúa. Chúng ta có tin như thế chăng ? Nếu ai đó từng hỏi cha Maximilien Kolbe, ngày thứ 14 cơn hấp hối của ngài trong hầm ngục giam đói, rằng lời cầu nguyện của ngài có được nhậm chăng… ngài hẳn trả lời là được… vì bên kia cái chết của mình, ngài đã thấy được việc nhậm lời tuyệt diệu của Thiên Chúa trên nước Ba-lan vài thập niên sau (thoát ách độc tài toàn trị). Cũng vậy, lời cầu tha thiết của Đức Giê-su trong vườn Ghet-sê-ma-ni “xin cất chén này xa con” (Mc 14,36) bên ngoài đã không được nhậm bằng việc bảo vệ khỏi cái chết đang đến gần. Nhưng nó đã được nhậm qua sự phong nhiêu tuyệt diệu của hy tế Người ! Hàng tỷ linh hồn đã được cứu nhờ chén đắng ấy ! Việc nhậm lời đích thực chính là cuộc Phục sinh.

            Như thế, nếu có lòng tin sâu xa mà Đức Giê-su chờ đợi, chúng ta có thể tin rằng mọi lời cầu nguyện của chúng ta, ngay cả không được nhậm ở mức độ bên ngoài, vẫn nhận được một sự đoái nhậm trong Thiên Chúa, ở một mức độ khác. Lời cầu nguyện ít nhất có kết quả này là biến đổi con tim chúng ta : bị cám dỗ nói : “Xin cho ý con thể hiện…” nó sẽ khiến chúng ta thưa : “Xin cho ý Cha thể hiện !” (x. Lc 22,42). mục lục

Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan