SUY NIỆM CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG_A

20-12-2025 609 lượt xem

Lời Chúa: Is 7,10-14; Rm 1,1-7; Mt 1,18-24

Mục Lục

Đừng để Mạng Xã Hội 'cướp' mất con bạn khỏi tay Thiên Chúa! – + ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm

THIÊN CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA – + ĐTGM. Giu-se Vũ Văn Thiên

EMMANUEL - CHÚA Ở CÙNG HAY CHỈ ĐỨNG BÊN NGOÀI? – Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

MẦU NHIỆM EMMANUEL – Phêrô Phạm Văn Trung

NGUY CƠ TỬ HÌNH CỦA ĐỨC MARIA – Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

TẠI SAO MÙA VỌNG KẾT THÚC VỚI THÁNH GIUSE? – Gayle Somers

THIÊN CHÚA BƯỚC VÀO THẾ GIỚI BỊ THƯƠNG TÍCH – Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

TIN MỪNG CỦA THIÊN CHÚA – Bông hồng nhỏ

HÃY ĐẾN! HÃY ĐẾN! EM-MA-NU-EN – Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT

TÂM SỰ NGƯỜI CÔNG CHÍNH – Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

"Đừng để Mạng Xã Hội 'cướp' mất con bạn khỏi tay Thiên Chúa!"

+ ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm

THIÊN CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA 

Thánh Mát-thêu đã mở đầu tác phẩm của mình bằng việc kể lại giấc mơ của ông Giu-se. Trong giấc mơ này, sứ thần Chúa đã hiện ra, trấn an ông, và khẳng định rằng: “người Con mà bà (Ma-ri-a) cưu mang là do quyền năng của Chúa Thánh Thần”. Sứ thần cũng trích dẫn ngôn sứ I-sai-a bảy thế kỷ trước đó, để chứng minh, hài nhi sẽ sinh ra là Đấng Em-ma-nu-en, tức là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. Nếu thánh Mát-thêu đã khởi đầu tác phẩm bằng việc giới thiệu Đấng Em-ma-nu-en, thì ông lại kết thúc tác phẩm của mình cũng bằng ý tưởng ấy. Đó là lời Chúa Giê-su nói với các môn đệ: “Này đây Thầy sẽ ở với các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20). Tuyên bố này so với lời tiên báo của ngôn sứ I-sai-a, tuy có khác về cách diễn đạt, nhưng lại có cùng một nội dung. Đây cũng là câu cuối cùng của Tin Mừng, qua đó, tác giả muốn nói: Thiên Chúa luôn ở cùng chúng ta.

Thiên Chúa ở với con người. Đó khẳng định của Ki-tô giáo trải qua mọi thời đại. Đó cũng là cốt lõi giáo lý mà Giáo Hội không ngừng dạy chúng ta. Thánh Gio-an đã khẳng định: “Ngôi Lời đã làm người và ở cùng chúng ta”. Thiên Chúa làm người! Đó là một huyền nhiệm mà lý trí con người không thể suy thấu. Trong kho tàng cổ tích dân gian của Việt Nam cũng như nhiều nền văn hóa khác, vẫn có những huyền thoại kể về việc các vị thần linh giả làm người thế, có lúc để giúp dân, nhưng cũng có khi làm hại dân lành.

Mầu nhiệm Nhập Thể không phải là một câu chuyện huyền thoại. Chúng ta chỉ có thể nhìn nhận bằng đức tin và con tim yêu mến. Đức tin giúp ta nhận ra quyền năng của Thiên Chúa. Ngài là Đấng có thể làm được mọi sự. Trinh nữ Ma-ri-a thành Na-da-rét, khi nghe sứ thần nói mình sẽ sinh hạ một con trai, cũng hết sức ngỡ ngàng. Trinh nữ đã hỏi sứ thần: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng?” Câu trả lời của sứ thần đã giải tỏa nỗi lo của Trinh nữ: “Đối với Thiên Chúa, không có gì là không làm được”. Mầu nhiệm Nhập Thể có thể được đón nhận bằng trái tim yêu mến, khi chúng ta nhận ra Thiên Chúa yêu thương con người, và việc Ngôi Hai xuống thế làm người là bằng chứng hùng hồn cho tình thương bao la ấy. Một tác giả đã viết, đại ý: Mầu nhiệm Nhập Thể là việc làm tốt nhất của Thiên Chúa, trong số những việc Ngài có thể làm, để thể hiện tình yêu thương đối với con người. Đương nhiên, đó là cách lập luận của con người, còn đối với Thiên Chúa, không bao giờ có khái niệm “có thể”.

Nếu Thiên Chúa luôn hiện diện giữa chúng ta, thì nhiều Ki-tô hữu vẫn chưa cảm nhận được sự hiện diện yêu thương ấy. Thái độ của vua A-khát trong Bài đọc I cho chúng ta thấy sự dửng dưng của ông. Mặc dù vị ngôn sứ đã tiên báo rõ ràng một việc sẽ xảy đến để chứng minh quyền năng Thiên Chúa, nhưng vua vẫn cứng lòng. Trong lịch sử các vua của Ít-ra-en, A-khát được trình bày như một vị vua nhu nhược, tìm cách thỏa hiệp với ngoại bang khi có biến về chính trị. Ông đã khước từ sự trợ giúp của Thiên Chúa, và từ chối với những lời đạo đức giả: “Tôi không dám thử thách Thiên Chúa” như một lời ngụy biện.

Tâm trạng của vua A-khát cũng là tâm trạng của nhiều Ki-tô hữu chúng ta hôm nay. Thiên Chúa hiện diện giữa chúng ta, nhưng ít khi chúng ta ý thức về sự hiện diện ấy. Vì thiếu hiểu biết giáo lý, nhiều tín hữu coi Chúa Giê-su như một nhân vật của quá khứ xa xôi, không có liên hệ gì với cuộc đời mình. Đức tin vào sự hiện diện của Đức Ki-tô, Đấng đang sống giữa chúng ta, phải là động lực chi phối và thúc đầy mọi hành và suy nghĩ của người tín hữu.

Chúng ta đang chuẩn bị mừng lễ Giáng Sinh. Những tín hiệu của ngày Đại lễ đã xuất hiện: những đèn sao rực rỡ, những điệu nhạc du dương… tất cả đều muốn nói với chúng ta một chân lý quan trọng: Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Thánh Phao-lô mời gọi các tín hữu Rô-ma nhận ra Đức Ki-tô không chỉ như một người phàm xuất thân từ dòng dõi Đa-vít, mà còn là Đấng đã chết và sống lại nhờ Thánh Thần. Đời sống Ki-tô hữu được đặt nền trên mầu nhiệm Nhập Thể và Phục sinh của Đức Giê-su, từ đó chúng ta cảm nhận sâu sắc sự hiện diện của Người trong cuộc sống thường ngày.

Chúa Nhật thứ bốn của Mùa Vọng cũng được gọi là Chúa Nhật của Đức Trinh nữ Ma-ri-a. Những lời các ngôn sứ loan báo từ ngàn xưa đã thực hiện nơi Đức Trinh nữ thành Na-da-rét. Lời một thánh thi đã ca ngợi: “Mẹ sinh Chúa thiên đình, Đấng tạo thành nên Mẹ, trước sau vẫn khiết trinh, ôi lạ lùng khôn ví”.

Thiên Chúa ở cùng chúng ta ! Đó là khẳng định của Tin Mừng. Đó cũng là khẳng định của Giáo Hội trải qua mọi thời. Đó cũng là Đức tin của chúng ta. mục lục

+ ĐTGM. Giu-se Vũ Văn Thiên

EMMANUEL - CHÚA Ở CÙNG HAY CHỈ ĐỨNG BÊN NGOÀI?

Phụng vụ những ngày cuối mùa Vọng không ồn ào, nhưng trầm lắng. Không còn tiếng kêu dọn đường. Không còn những lời cảnh tỉnh dữ dội. Chỉ còn một khoảng lặng, nơi Thiên Chúa đến không bằng quyền lực, không bằng lý luận, nhưng bằng sự hiện diện.

Lời Chúa hôm nay không đưa ta vào những phép lạ lớn lao, mà đặt trước chúng ta những con người rất nhỏ: Maria, Giuse, và đối diện họ là Akháp.

Từ đó mời mỗi người đi vào lòng mình để trả lời: Thiên Chúa có ở cùng tôi thật không? Hay Ngài chỉ đứng bên ngoài cuộc đời tôi?

1. THÁNH GIUSE: ÂM THẦM NHƯNG VỮNG TIN.

Âm thầm nhưng vững tin. Thinh lặng nhưng trọn niềm phó thác. Không thể hiểu nhưng vẫn cậy trông. Thánh Giuse không đòi giải thích để thỏa mãn suy nghĩ của mình. Ngài đặt trọn cuộc đời vào tay Chúa, để Chúa quyết định mọi sự.

Ngài đứng trước một tình huống mà nếu là chúng ta, chắc hẳn sẽ rối bời: Người mình yêu thương mang thai. Do đó, với cô, tương lai mờ mịt, danh dự bị đe dọa, luật pháp treo lơ lửng trên đầu.

Giuse có thể nói. Có thể chất vấn. Có thể bảo vệ mình. Nhưng Giuse ở lại trong thinh lặng. Không phải thinh lặng cam chịu, mà là thinh lặng của người tin rằng Chúa đang làm việc, dù mình chưa thấy.

Giuse không lý luận nhiều. Ngài hành động. Không hành động theo bản năng, mà hành động theo thánh ý Chúa. Từ ngày ấy, có thể nói: Giuse không còn là Giuse của hôm qua. Đời ngài tan biến để một đời khác bắt đầu. Đó là đời của người hoàn toàn thuộc về Chúa.

2. ĐỨC MARIA: CŨNG BƯỚC ĐI TRONG BÓNG TỐI ĐỨC TIN.

Tuy nhiên, Đức Maria cũng không hề là ngoại lệ. Maria và Giuse gặp nhau trong thánh ý Chúa, nhưng họ cũng gặp nhau vì cùng sống trọn vẹn cho Chúa. Chúa là niềm vui. Chúa là hạnh phúc. Chúa là lẽ sống và sức sống của họ.

Nhưng con đường ấy không hề dễ dàng. Maria đã phải chiến thắng chính mình. Ngài đứng giữa ngã ba đường, không một biển báo, không một "định vị". Cuộc chiến nội tâm của Maria là đối diện với chính mạng sống mình và của con mình.

Nếu Giuse thực sự là người công chính theo Luật, thì viên đá đầu tiên ném vào Maria, không ai khác, chính là Giuse.

Nhưng Maria đặt mọi sự lên bàn cân: Một bên là nghịch lý của lời "Xin vâng", một bên là ý Chúa vô cùng. Và Maria đã chọn. Không phải chọn an toàn. Không phải chọn dễ dàng. Ngài chọn để Chúa làm chủ đời mình.

3. GIUSE VÀ MARIA, NHỮNG NGƯỜI BƯỚC ĐI KHÔNG BẢN ĐỒ.

Giuse - Maria, sao lại là một thanh niên đứng bên một thiếu nữ và rồi… đồng trinh? Sao lại phải đón nhận một người mà thiên hạ có thể cho là "hư hỏng", để rồi mình phải "đổ vỏ"? Sao phải tin vào một giấc mơ?

Tất cả với Giuse chỉ là một mớ bòng bong. Một bầu trời đen thẳm. Không lối ra. Không lời giải thích. Nhưng chính tinh thần của người công chính đã giữ Giuse ở lại. Ngài không nói nhiều. Ngài để Chúa làm việc.

Giuse can đảm để thánh ý Chúa đánh đố đời mình. Can đảm để chấp nhận cho đời mình tan biến. Can đảm để bước vào một tương lai không bảo đảm gì ngoài Thiên Chúa.

Chúng ta cũng vậy. Cũng có những bão tố. Nhưng bao nhiêu cơn bão trong đời, chúng ta thật sự để Chúa hành động? Hay ta chỉ vùng vẫy, tự xoay xở, tự quyết định?

4. CÓ CHÚA NÊN CÓ NHAU.

Giuse và Maria được Chúa quy tụ. Đúng hơn, Chúa "cột trói" họ vào cuộc đời nhau. Nhưng chính họ đã hiến dâng mình cho Chúa, hiến dâng trọn vẹn một tình yêu đơn sơ, một niềm trông cậy mạnh mẽ.

Họ có Chúa - nên họ có nhau. Vì họ chỉ dành cho Chúa. Và khi bước vào để thực hiện thánh ý, họ trở thành những con người mềm lòng, để Chúa dẫn dắt, để Chúa quyết định.

5. AKHÁP, NGƯỜI "CÓ ĐẠO" NHƯNG KHÔNG CÒN THUỘC VỀ CHÚA.

Đối lập với Giuse và Maria, bài đọc I cho thấy hình ảnh vua Akháp. Akháp không vô thần. Ông vẫn là người "có đạo". Nhưng ông tự quyết định vận mạng dân tộc, coi dân là của mình, trong khi đó là dân của Chúa trao cho ông. Và hậu quả không chỉ riêng ông, mà cả dân tộc cùng ngậm cay nuốt đắng. Akháp bại trận. Akháp chết nhục.

Lời nguyền "chó sẽ liếm máu ngươi" (1 V 21,19), trở thành cú giật mình cho mọi thời.

Bài học ấy lớn lắm: Không bao giờ con đường dẫn tới thành công mà bằng phẳng, khi con người loại Chúa ra khỏi quyết định của mình.

6. AKHÁP THỜI NAY: RẤT GẦN CHÚNG TA.

Sao chúng ta không chọn con đường của Maria và Giuse? Sao chúng ta còn khờ dại đi theo lối mòn của Akháp? Chúng ta không là vua. Nhưng chúng ta là người lãnh đạo gia đình; lãnh đạo trong một môi trường nào đó; lãnh đạo trên mọt cái "tòa", lãnh đạo trong những ngôi nhà thờ...

Giám mục xây cho mình "pháo đài" uy quyền. Linh mục xây nhà thờ và bằng lòng vì thành quả. Cán bộ làm con đường ngắn nhưng chuyện hối lộ còn dài. Gia đình cưới gả cho con và bằng lòng với mâm cỗ linh đình. Người trẻ chọn nghề, chọn hôn nhân chỉ vì tiền bạc hay cảm tính...

Chúa ở đâu? Emmanuel có là gì với ta không? Akháp hiện hình trong đời này xem ra dễ hơn Emmanuel hiện diện, dù ta vẫn nói: "Con thuộc về Chúa".

7. EMMANUEL: Ở CÙNG HAY ĐỨNG NGOÀI?

Nếu ta chỉ là "Akháp" thời nay, dù Emmanuel đã thật sự đến, Ngài vẫn mãi mãi đứng ngoài lòng ta. Không phải Ngài không ban ơn. Không phải Ngài thù ghét. Nhưng khi ta không tin, ta đã không mở lòng.

Chúa chỉ có thể đứng ngoài, và đứng cạnh bên lòng ta.

Chúa sẽ buồn biết mấy khi Chúa đã mất ta…

Bao lần ta trách Chúa: "Sao Chúa bỏ con?". Nhưng nhìn lại mà xem: Có mấy khi ta ở với Chúa? Có mấy khi ta để Chúa lo liệu cho ta như ý Chúa?

KHÔNG SỢ TA MẤT CHHÚA. CHỈ SỢ CHÚA MẤT TA.

Mùa Vọng khép lại bằng một lời mời gọi rất hiền: Hãy để Chúa ở cùng. 

Không cần làm điều lớn lao. Chỉ cần tin như Giuse. Phó thác như Maria. Và đừng sống như Akháp.

Khi ta mở lòng, Emmanuel sẽ không chỉ là một danh xưng, mà là một sự hiện diện thật trong đời ta. Và khi ấy, Giáng Sinh sẽ không chỉ diễn ra trong hang đá, mà trong chính trái tim chúng ta. mục lục

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

MẦU NHIỆM EMMANUEL

Các trình thuật Thánh Kinh hôm nay hé mở cho chúng ta thấy mầu nhiệm vĩ đại: Thiên Chúa đã trở nên con người qua việc Nhập Thể của Chúa Giêsu Kitô. Đây không chỉ là những lời tiên tri và tường thuật lịch sử, mà còn là lời mời gọi chúng ta đi sâu vào tình yêu vô biên của Thiên Chúa, Đấng muốn ở cùng chúng ta mọi ngày trong cuộc đời giữa những bất toàn và tội lỗi của kiếp người. 

1. Lời Tiên Tri Về Đấng Emmanuel 

Đoạn Thánh Kinh từ sách Isaia mở đầu bằng lời Chúa phán với vua Akhat: “Ngươi cứ xin Chúa là Thiên Chúa của ngươi ban cho ngươi một dấu dưới đáy âm phủ hoặc trên chốn cao xanh” (Is 7: 11). Vua Akhat từ chối, viện cớ không muốn thử thách Chúa, nhưng ngôn sứ Isaia đáp lại: “Vì vậy, chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu: Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Emmanuel” (Is 7: 14). Lời tiên tri này, vốn được viết vào thế kỷ VIII trước Công Nguyên, không chỉ là một dấu chỉ lịch sử cho nhà Đavít đang suy tàn, mà còn là lời hứa về Đấng Mêsia sẽ đến để cứu chuộc nhân loại. Người con trai tên là Emmanuel này chính là sự hiện diện gần gũi của Thiên Chúa giữa dân Ngài, là lời tiên báo về Chúa Giêsu sẽ đến với con người trong trần gian. 

Thiên Chúa ban tặng dấu chỉ này như một món quà tình thương. Vua Akhát, khi đối mặt với nguy khốn, thay vì lắng nghe lời ngôn sứ, đã không tin tưởng vào Thiên Chúa nhưng cậy dựa vào thế lực trần gian. Việc quy phục Assyria giúp miền Giuđa của vua tạm tránh được chiến tranh, nhưng thỏa hiệp này lại khiến dân Chúa xa rời giao ước. Chính vua Akhát “cướp của Nhà Chúa, của hoàng cung cũng như của các hoàng tử để nộp cho vua Asua, nhưng vẫn không được vua này tiếp viện. Cả trong thời bị tấn công, vua Akhát vẫn cứ lỗi phạm đến Chúa. Vua dâng lễ tế các thần ở Đamát…” (2 Sử Biên Niên 28: 23).

Nhiều lúc, chúng ta cũng do dự và nghi ngờ quyền năng Thiên Chúa, qua Chúa Kitô Giêsu, mà Thánh Phaolô loan báo: “Đấng đã từ cõi chết sống lại nhờ Thánh Thần, Ngài đã được đặt làm Con Thiên Chúa với tất cả quyền năng” (Rm 1:4). Đó là Tin Mừng mà thánh nhân rất hãnh diện được Thiên Chúa chọn để đi loan báo: “Tôi là Phaolô, tôi tớ của Chúa Kitô Giêsu; tôi được gọi làm Tông Đồ, và dành riêng để loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa” (Rm 1: 1). Điều mà Thánh Phaolô loan báo chính là sự ứng nghiệm của những lời hứa về một Đấng Mêsia - Cứu Thế sẽ đến để cứu chuộc nhân loại khỏi tội lỗi: “Tin Mừng ấy, xưa Ngài đã dùng các ngôn sứ của Ngài mà hứa trước trong Kinh Thánh. Đó là Tin Mừng về Con của Ngài là Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Xét như một người phàm, Chúa Giêsu Kitô xuất thân từ ​dòng dõi vua Đavít” (Rm 1:2-3). Những lúc do dự và nghi ngờ ấy, cần nhớ rằng Emmanuel đã đến và Ngài vẫn luôn ở cùng chúng ta qua Giáo hội, qua các Bí tích, đặc biệt là Bí tích Thánh Thể. 

Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI nói: “Thiên Chúa đã trở thành người; Ngài đến sống giữa chúng ta. Thiên Chúa không ở xa: Ngài là “Emmanuel”, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Ngài không phải là người xa lạ: Ngài có một dung mạo, dung mạo của Chúa Giêsu…Ngài là người thật và là Thiên Chúa thật, Con Một đến từ Chúa Cha, đầy ân sủng và chân lý…Ngôi Lời, nguyên lý trật tự của vũ trụ, bắt đầu hiện hữu trong thế giới, trong thời gian và không gian xác định” (Thông Điệp Urbi et Orbi, Giáng Sinh 2010). Đức Giáo Hoàng nhắc nhở chúng ta rằng Thiên Chúa đến để cứu chúng ta khỏi tội lỗi. Ngài mong muốn được chia sẻ lịch sử của chúng ta, khích lệ chúng ta trong lịch sử đó, bất chấp mọi mâu thuẫn của nó. “Đó là nguồn hy vọng cho tất cả những ai bị xúc phạm phẩm giá, bởi vì Đấng sinh ra ở Bêlem đã đến để giải phóng mọi người nam nữ khỏi nguồn gốc của mọi sự nô lệ” (dẫn trên).

2. Thánh Giuse lặng thầm vâng theo ý Chúa 

Chúng ta thường nghe câu chuyện Mẹ Maria nói với Chúa lời “Xin vâng”, hôm nay chúng ta thấy Thánh Giuse lặng thầm vâng theo ý Chúa, một cung cách sống mới mẻ sự công chính.

Thánh sử Mátthêu bắt đầu câu chuyện: “Sau đây là gốc tích Chúa Giêsu Kitô: bà Maria, mẹ Ngài, đã thành hôn với ông Giuse” (Mt 1:18). Khi ấy, Mẹ Maria có lẽ chỉ là một cô gái trẻ. Trong thời Thánh Giuse và Mẹ Maria, các cặp đôi thực hiện hôn ước khoảng một năm trước khi về sống chung; hôn ước này có giá trị pháp lý, khiến họ được coi là vợ chồng trước cộng đồng.

Thiên thần đến với Maria trong giai đoạn hôn ước này, trước lễ cưới công khai và cuộc sống chung. Thánh Mátthêu kể: “Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần” (Mt 1:18). Chúng ta không biết Mẹ Maria có kể gì cho Thánh Giuse không, nhưng rõ ràng Mẹ đã thưa “Xin vâng” với Chúa mà không nói gì trước với Giuse. Thánh Mátthêu cho biết Mẹ Maria mang thai do Chúa Thánh Thần, nhưng không nói Thánh Giuse hiểu điều đó ra sao, vốn là một sự thật khó tin và vượt quá sức tưởng tượng của ngài

Vậy nên khi kể rằng Giuse “không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo” (Mt 1:19), nghĩa là Giuse đang cảm thấy mình ở trong tình thế tiến thoái lưỡng nan. Maria, trên thực tế, đã vi phạm lề luật, và một người công chính như Giuse, vốn tuân giữ lề luật, thì không thể nào dính líu đến sự vi phạm đó. Giuse, người công chính, cảm thấy rằng mọi việc cần phải được giải quyết lặng lẽ êm thắm, có lẽ đó là cách tốt nhất không chỉ cho chính mình, nhưng nhất là cho Maria đang mang thai. 

Nhưng khi Giuse đã quyết định xong rồi thì thiên thần của Chúa hiện ra trong giấc mơ và nói cho ông biết tình hình, đồng thời tiết lộ rằng ông có một vai trò cần phải thực hiện cùng với Maria. Thật vậy, sự tham gia của Giuse rất quan trọng không chỉ đối với Maria mà còn đối với Đấng Mêsia đang trong cung lòng Maria nữa.

Ở đây, sứ thần gọi đích danh Giuse: “Này ông Giuse, con cháu Đavít” (Mt 1:20). Trong Kinh Thánh, việc gọi tên không chỉ định danh mà còn mang ý nghĩa sâu sắc về căn tính, sứ mạng và mối tương quan đặc biệt với Thiên Chúa, như xảy ra với Abraham, Israel hay Simon-Phêrô sau này, cho thấy người ấy được chọn để thực hiện sứ mạng cứu độ. Chính nhờ Thánh Giuse mà Chúa Giêsu được kết nối vào dòng dõi vua Đavít. Thánh Mátthêu thiết lập dòng dõi hợp pháp của Chúa Giêsu qua Thánh Giuse, để khẳng định Chúa Giêsu là con cháu Đavít và là con người thật: “Đây là gia phả Chúa Giêsu Kitô, con cháu vua Đavít, con cháu tổ phụ Abraham” (Mt 1:1). Gia phả ghi: “Giacóp sinh Giuse, chồng của bà Maria, bà là mẹ Chúa Giêsu cũng gọi là Đấng Kitô” (Mt 1:16), chứ không nói “Giuse sinh Giêsu”. Vai trò hậu duệ Đavít được chuyển cho Chúa Giêsu qua tư cách phụ quyền, không qua huyết thống tự nhiên. Bằng việc đặt tên con trẻ là Giêsu theo lời sứ thần (Mt 1:21), Thánh Giuse thừa nhận trẻ Giêsu là con mình. Nhờ Thánh Giuse lắng nghe và vâng phục lời Chúa, Mẹ Maria cùng hài nhi Giêsu yếu đuối đã được nâng đỡ, chu cấp và bảo vệ.

Thiên thần bảo ông Giuse đừng “đừng ngại đón bà Maria vợ ông về” (Mt 1:20). Thông điệp của Chúa dành cho ông Giuse là: đừng sợ làm điều Thiên Chúa yêu cầu, ngay cả khi điều đó có vẻ nghịch thường đối với người công chính. Giuse phải sẵn sàng hy sinh lòng tự trọng của mình, trong thầm lặng, để cuộc hôn nhân với Maria thành công, tránh những lời ong tiếng ve của những người không tin vào sự thật nhập thể của Chúa Giêsu. Thánh Giuse phải gạt bỏ con người mình sang một bên, ra khỏi vị trí trung tâm, để kế hoạch của Thiên Chúa được thực hiện trọn vẹn. Thật vậy, người ta không nghe thấy Thánh Giuse nói một lời nào, vì sách Tin Mừng chỉ viết: “Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà” (Mt 1:24).

Bằng cách sẵn lòng chấp nhận con đường Chúa dẫn dắt, dù khác với thói thường của người đời, Thánh Giuse, cùng với Mẹ Maria, đã trở thành tấm gương về lòng tin vâng phục Thiên Chúa. Dù Thánh Giuse dường như chỉ hỗ trợ thầm lặng ở hậu trường, không phải nhân vật trung tâm, hầu như không ai biết được cảm xúc hay suy nghĩ cá nhân của ngài, nhưng sự cộng tác của ngài vào công việc của Chúa đã mang lại những điều vô cùng lớn lao cho thế giới. 

Chúng ta cần suy nghĩ gì về vai trò của mình đối với những người mình chịu trách nhiệm, về những gì Thiên Chúa đã yêu cầu chúng ta làm cùng với họ và cho họ trong khi chờ đợi Chúa trở lại? Chúng ta bước vào chương trình Nước Trời, trong sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa, bằng cách sống khiêm nhường, lặng lẽ cầu nguyện, suy gẫm và thực hiện Lời Chúa như Thánh Giuse.

Có một chi tiết được nói đến hai lần: “do quyền năng Chúa Thánh Thần” (Mt 1:18,20), nhấn mạnh rằng Chúa Thánh Thần là nguồn cội của của Con trẻ Mẹ Maria sinh ra. Ngay cả việc báo trước Mẹ Maria sinh con cũng được diễn tả ngắn gọn qua lời ngôn sứ xưa kia: “Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai” (Mt 1:23) như muốn tập trung vào ý nghĩa và giá trị linh thánh của sự kiện hơn là mô tả cụ thể chính sự kiện đó. Thánh Giuse có sứ mạng giúp người khác hiểu và đón nhận giá trị linh thánh của sứ điệp ấy.

Thánh Tôma Aquinô nhấn mạnh ý nghĩa và giá trị linh thánh này khi giảng giải rằng: “Không chút nghi ngờ nào, chúng ta phải khẳng định rằng Mẹ của Chúa Kitô là một trinh nữ ngay cả khi Chúa sinh ra: vì tiên tri không chỉ nói: “Này, một trinh nữ sẽ thụ thai”, mà còn nói thêm: “và sẽ sinh một con trai”. Điều này quả thật phù hợp… vì Mẹ đã sinh ra Ngôi Lời nhập thể, nên Thiên Chúa đã gìn giữ sự trinh khiết của Mẹ để tỏ bày Ngôi Lời của Ngài, và nhờ Ngôi Lời đó mà Thiên Chúa đã tỏ bày chính mình, và Ngôi Lời thực sự, là Thiên Chúa, khi hạ mình xuống thế gian, cũng không hủy hoại sự trinh khiết.” [1]

Cũng qua điều này, các giáo phụ khẳng định Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật và người thật, sinh bởi Mẹ Maria. Thánh Clêmentê Alexandria nói: “Ngôi Lời này, Chúa Kitô, nguyên nhân của cả sự hiện hữu ban đầu của chúng ta, vì Ngài ở trong Thiên Chúa, và của sự bình an của chúng ta, chính Ngôi Lời này nay đã hiện ra với tư cách là con người, chỉ mình Ngài vừa là Thiên Chúa và con người, Đấng ban mọi ơn lành cho chúng ta; nhờ Ngài mà chúng ta được dạy dỗ để sống tốt, và được sai đi trên con đường đến sự sống đời đời” (Clement of Alexandria, Exhortation to the Heathen – Lời khuyên răn dành cho dân ngoại, 1.) [2]

Thánh Giuse lặng lẽ dạy chúng ta chờ mong Chúa đến bằng cách vâng theo ý Chúa thay vì ý riêng. Giữa xã hội hôm nay chú trọng vật chất, thờ ơ tôn giáo, sùng bái khoa học duy lý nhưng thất vọng trước vấn đề thế giới, thậm chí tuyên bố “Thiên Chúa đã chết” (Nietzsche), chúng ta được mời gọi tin rằng Thiên Chúa vẫn can thiệp qua “giấc mơ” lương tâm, bảo vệ sự thánh thiêng của con người và loan báo mầu nhiệm Emmanuel. Giáng Sinh là nền tảng sứ vụ ấy vì Thiên Chúa ở cùng chúng ta là để chúng ta mang Ngài đến muôn dân. Lạy Chúa Giêsu Emmanuel, xin ở cùng chúng con luôn mãi. mục lục

Phêrô Phạm Văn Trung

 [1] Điều 2, https://www.newadvent.org  

[2] https://www.str.org/w/nine-early-church-fathers-who-taught-jesus-is-god#fnref:17

EMMANUEL — THIÊN CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA

NGUY CƠ TỬ HÌNH CỦA ĐỨC MARIA

Trong cộng đồng người Do Thái thời xa xưa, người con gái nào đã đính hôn rồi nhưng lại đi ăn nằm với người đàn ông khác mà lỡ mang thai thì hình phạt dành cho người con gái đó rất là nghiêm khắc. Cô ta sẽ bị tử hình: người ta sẽ lôi cô gái ra cửa nhà cha nàng, người trong thành của nàng sẽ ném đá nàng cho chết, vì nàng đã làm điều đồi bại trong Israel.

Như vậy, nếu ông Giuse đến gặp các thầy tư tế mà tố cáo rằng đứa con mà cô Maria đang cưu mang kia không phải là con của tôi, thì cô Maria chắc chắn sẽ bị dân chúng lôi ra ném đá cho đến chết.

Nhưng cô Maria đã thoát khỏi cái án tử hình khủng khiếp đó là bởi vì ông Giuse không muốn tố giác bà mà chỉ định tâm bỏ bà cách kín đáo.

ĐỨC TIN TUYỆT ĐỐI VÀO ĐẤNG EMMANUEL

Tại sao cô Maria dám chấp nhận?

Tại sao cô Maria lại liều lĩnh thưa hai tiếng "xin vâng" với thiên sứ Gabriel? Và tại sao ông Giuse lại vui vẻ làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà như vậy?

Xin thưa là bởi vì cả hai ông bà đều hiểu thấu, đều đặt trọn niềm tin một cách mạnh mẽ và tuyệt đối vào đấng Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

Niềm tin không lay chuyển

Cả ông Giuse và bà Maria đều xác tín một cách mạnh mẽ rằng: khi Thiên Chúa ở cùng thì chẳng có gì mà các Ngài phải lo sợ cả. Và thật sự như vậy, có đấng Emmanuel ở cùng, cho nên cả hai ông bà đã được bình an vô sự.

CHÚNG TA CẦN THIÊN CHÚA Ở CÙNG

Bạn thân mến, cuộc đời của bạn và tôi đã và đang bị vây bủa bởi muôn vàn những nỗi sợ hãi, phiền muộn và lo âu.

Vì thế, muốn thoát khỏi những nỗi bất hạnh, khỏi những sự sợ hãi, lo âu và được bình an, bạn và tôi cần Thiên Chúa ở cùng. Phải làm mọi cách để Emmanuel ở lại trong tâm hồn, trong gia đình, trong hội đoàn, trong dòng tu, trong giáo xứ và trong Giáo hội.

BA CÁCH ĐỂ THIÊN CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA

Làm thế nào để Thiên Chúa ở cùng chúng ta? Rất đơn giản, nếu không muốn nói là rất dễ dàng. Có ba cách sau đây:

1. Cầu nguyện chung với nhau

Khi bạn và gia đình cùng đọc kinh, cầu nguyện chung với nhau thì lúc đó Chúa sẽ ở cùng với bạn và gia đình của bạn. Vì Ngài đã hứa: "Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy giữa họ." (Mt 18,20)

2. Tham dự Thánh lễ và Rước lễ

Khi chúng mình tham dự Thánh lễ và rước Mình Máu Thánh Chúa thì Chúa sẽ ở cùng với chúng mình. Bởi vì Ngài đã khẳng định: "Ai ăn thịt và uống máu Tôi thì ở lại trong Tôi và Tôi ở lại trong người ấy." (Ga 6,56)

3. Đọc và suy niệm Kinh Thánh

Bởi vì chính Thánh Phaolô đã nói: "Lời Thiên Chúa ở gần bạn, ngay trên miệng, ngay trong lòng." (Rm 10,8) Khi chúng mình đọc và gẫm suy lời Chúa thì lúc ấy Thiên Chúa ở trong mỗi người chúng mình.

CUỘC ĐỜI SẼ KHÁC KHI CÓ THIÊN CHÚA Ở CÙNG

Tôi tin chắc rằng khi chúng mình có Thiên Chúa ở cùng thì lúc đó bạn và tôi sẽ có bình an, có niềm vui, có niềm hy vọng, có tình yêu. Và như thế cuộc đời của bạn và của tôi sẽ khác lắm.

Khác ở những điểm nào?

Một, tâm hồn của chúng mình sẽ được bình an hơn bởi vì Thiên Chúa chính là nguồn gốc của sự bình an.

Hai, lời nói, cử chỉ và hành động của chúng mình sẽ toát lên sự hiền lành, khiêm nhường, nhân hậu, đầy tha thứ và lạc quan. Bởi vì khi có Chúa ở trong chúng mình, Ngài sẽ soi sáng, hướng dẫn và chỉ bảo cho bạn và cho tôi cần phải nói gì và nghĩ gì. Như lời Thánh vịnh 119 dạy:

"Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường cho con đi." (Tv 119,105)

Ba, chúng mình sẽ can đảm hơn trong trận chiến với Satan. Bởi vì Thánh vịnh 118 câu 6-7 nói rằng:

"Có Chúa ở cùng tôi, tôi chẳng sợ gì. Hỏi người đời làm chi tôi được? Có Chúa ở cùng tôi mà bênh đỡ, tôi dám nghênh lũ địch thù tôi." (Tv 118,6-7)

Bạn thân mến, nếu bạn đồng ý với tôi và bạn cũng tin chắc rằng khi Thiên Chúa ở cùng chúng ta thì bạn và tôi và tất cả những người thân yêu của chúng mình sẽ thoát khỏi những nỗi sợ hãi, tâm hồn được bình an, đời sống được hạnh phúc, và nhất là người ta sẽ nhận ra được dung mạo của Emmanuel ở trong chúng mình, thì xin bạn hãy cố gắng ghi nhớ và thực hành ba điều mà tôi vừa nêu ở trên:

Thứ nhất: Cầu nguyện chung với nhau

Thứ hai: Tham dự Thánh lễ và rước lễ

Thứ ba: Đọc và suy niệm Kinh Thánh

Bạn tin tôi đi, cứ trung thành làm ba điều trên. Chắc chắn đấng Emmanuel sẽ ngự trị trong tâm hồn và ở trong trái tim của bạn hôm nay và trong mọi ngày suốt cuộc đời của bạn.

Cầu chúc bạn một mùa Giáng sinh thánh thiện bình an, tràn ngập những niềm vui, và nhất là xin Thiên Chúa ở cùng với bạn và gia đình bạn luôn mãi.

Merry Christmas and Happy New Year!

Feliz Navidad y Próspero Año Nuevo! mục lục

Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

TẠI SAO MÙA VỌNG KẾT THÚC VỚI THÁNH GIUSE

Vào Chúa Nhật cuối cùng của Mùa Vọng này, Tin Mừng mời gọi chúng ta suy tư về Thánh Giuse, chứ không phải về Đức Maria hay Chúa Giêsu. Tại sao vậy?

TIN MỪNG (x. Mt 1,18-24)Khi thời gian chuẩn bị và chờ đợi trong Mùa Vọng sắp kết thúc, chúng ta thấy mình đang lắng nghe tường thuật của Thánh Matthêu về việc Thánh Giuse đã trở thành một phần quan trọng của Mùa Vọng đầu tiên như thế nào. Ở một số khía cạnh, gương của Thánh Giuse chính là điểm chuyển tiếp hoàn hảo khi chúng ta chuyển từ sự mong đợi sang thực tại của mầu nhiệm Nhập Thể, được cử hành suốt mùa phụng vụ Giáng Sinh. Như thế nào?

Thánh Giuse trước thử thách đức tin

Thánh Matthêu kể rằng: "Bà Maria đã đính hôn với ông Giuse, nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần." Có biết bao điều chúng ta muốn biết về việc này đã xảy ra như thế nào! Đức Maria có cố gắng giải thích cho ông Giuse câu chuyện không thể tưởng tượng nổi về biến cố Truyền Tin không? Hay thay vào đó, Mẹ giữ lời giải thích cho riêng mình và chỉ đơn giản thừa nhận với ông Giuse rằng Mẹ đang mang thai? Chúng ta không biết chắc chắn.

Điều chúng ta biết là việc Đức Maria mang thai đã đặt ra một thách thức lớn cho ông Giuse, người chồng đã đính hôn của Mẹ. Vào thời đó, việc đính hôn là một mối liên hệ pháp lý ràng buộc, giống như hôn nhân, ngay cả trước khi đôi vợ chồng chung sống để hoàn hợp hôn nhân. Việc đính hôn chỉ có thể chấm dứt bằng cái chết hoặc ly dị. Ông Giuse là một người công chính. Ông quyết định "lìa bỏ bà cách kín đáo" để bà khỏi bị xấu hổ trước thiên hạ. Tại sao ông Giuse nghĩ rằng mình phải ly dị Đức Maria?

Một khả năng là dù ông Giuse nghĩ rằng việc mang thai bí ẩn này có nghĩa là Đức Maria đã không chung thủy, ông vẫn yêu Mẹ quá nhiều để gây nhục nhã cho Mẹ. Một khả năng khác là ông Giuse hiểu rằng việc người đính hôn đạo đức của mình mang thai một cách bí ẩn (hãy nhớ rằng ngay cả một tổng lãnh thiên thần cũng gọi Mẹ là "đầy ân sủng") khiến ông hoàn toàn không xứng đáng để cưới Mẹ. Ngay cả nếu Đức Maria không hề giải thích nguyên nhân việc mình mang thai, đời sống đạo đức của Mẹ cũng sẽ thuyết phục ông Giuse rằng một điều gì đó vô cùng cao cả đang diễn ra trong Mẹ. Vì lý do đó, ông không thể đưa Mẹ về nhà mình, chỉ vì lòng kính trọng đơn thành, nhưng ông phải làm mọi sự có thể để tránh cho Mẹ khỏi bị xấu hổ. Kịch bản sau này phù hợp hơn với những chi tiết chúng ta có, nhưng dù sao đi nữa, thật là một tình huống nan giải!

Thiên sứ can thiệp

Ông Giuse không bị bỏ mặc một mình để giải quyết việc này: "Thiên sứ của Chúa hiện ra với ông trong giấc mơ." Giờ đây chúng ta thấy rằng khi mầu nhiệm Nhập Thể bắt đầu với một lần thiên sứ viếng thăm, thì nay nó sẽ tiếp tục với một lần khác. Thiên sứ gọi ông Giuse là "Con Cháu Đavít." Trong biến cố Truyền Tin, lời chào của thiên sứ dành cho Đức Maria đầy ý nghĩa ngôn sứ; lời chào này cũng làm nổi bật lời hứa vinh quang của Thiên Chúa rằng Đấng Mêsia sẽ thuộc nhà Đavít. Ông Giuse thuộc dòng dõi các vua này, dù vào thời của ông thì dòng dõi ấy đã rất xa xôi.

Khi thiên sứ tiếp tục, rõ ràng ông Giuse được mời gọi làm cha cho Hài Nhi trong lòng Đức Maria: "Ông đừng ngại đón bà Maria vợ ông về." Một lần nữa, chúng ta không hoàn toàn chắc chắn tại sao ông Giuse sợ hãi không tiếp tục việc đính hôn. Hoặc là ông nghi ngờ Đức Maria và câu chuyện của Mẹ, hoặc là ông kính trọng Mẹ đến mức nghĩ rằng Mẹ chỉ nên là hiền thê của Thiên Chúa mà thôi và ông không xứng đáng cưới Mẹ.

Sứ mạng của Thánh Giuse

Thiên sứ bảo đảm với ông rằng không cần phải sợ hãi, vì ông Giuse có một vai trò phải chu toàn trong kế hoạch cổ xưa của Thiên Chúa để cứu độ nhân loại. Chúng ta không biết chính xác điều gì gây ra nỗi sợ hãi của ông Giuse, nhưng chúng ta biết rằng ông phải chống lại nỗi sợ ấy và đón Hài Nhi cùng Mẹ Người về nhà mình, ban cho Người dòng dõi vương giả của Đavít. Ông Giuse sẽ được giao phó việc đặt tên cho cậu bé, một đặc quyền truyền thống của người cha. Sự sẵn lòng của ông làm như vậy sẽ giúp hoàn thành điều Thiên Chúa đã phán xưa qua ngôn sứ Isaia: "Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, và họ sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel."

Khi ông Giuse tỉnh giấc, liệu ông có nghĩ đến đoạn Kinh Thánh từ Isaia này, đoạn mà chắc chắn ông đã nghe nhiều lần trong đời? Ông có nghĩ đến việc lời ngôn sứ mô tả một trinh nữ sinh con nhưng "họ" sẽ đặt tên cho Ngài? Ông có bắt đầu hiểu rằng sự vâng phục đức tin của mình sẽ làm cho "họ" (và không chỉ "bà") thành hiện thực? Có biết bao điều ông chỉ không hiểu? Dù sao đi nữa, bất chấp mọi do dự có thể có, "ông đã làm như sứ thần Chúa dạy." Nhờ đức tin, ông đón Hài Nhi và Mẹ Người, và trở thành một phần của gia đình họ.

Lời mời gọi dành cho chúng ta

Có lẽ đây là lý do tại sao chúng ta gặp Thánh Giuse vào Chúa Nhật cuối cùng của Mùa Vọng. Chẳng phải chúng ta cũng đang được mời gọi đón Hài Nhi và Mẹ Người một cách mới mẻ và yêu mến sao? Chẳng phải chúng ta cũng được mời gọi dâng sự vâng phục đức tin để tin rằng dù có bất kỳ do dự nào, hay chúng phát sinh thế nào, chúng ta được mời gọi gia nhập Gia Đình ấy sao?

Thánh Giuse, cầu cho chúng con.

Lời đáp có thể: Lạy Cha trên trời, sự sẵn lòng của Thánh Giuse làm điều dường như rất khó khăn chính là gương mẫu con cần gần như từng giờ trong đời sống với Cha.

BÀI ĐỌC I (x. Is 7,10-14)

Gương xấu của vua Akhaz

Giờ đây chúng ta chuyển từ gương sáng của ông Giuse về sự vâng phục đức tin sang gương xấu của vua Akhaz về sự bất tuân do thiếu đức tin, xảy ra khoảng năm 700 trước Công nguyên. Trong biến cố này, vua Akhaz rất yếu kém của Giuđa đã âm mưu liên minh với các dân ngoại giáo để bảo vệ Israel khỏi bị chinh phục quân sự. Thiên Chúa bảo ông đừng làm vậy — Thiên Chúa không bao giờ muốn dân Người tìm sự trợ giúp từ các dân ngoại. Họ cần chỉ kêu cầu một mình Ngài.

Chúa đã sai ngôn sứ Isaia đến với Akhaz với lệnh: "Ngươi cứ xin Chúa là Thiên Chúa của ngươi ban cho ngươi một dấu lạ, dù dưới tận âm phủ hay trên cao thượng đỉnh trời." Nói cách khác, Thiên Chúa bảo Akhaz xin một dấu lạ siêu phàm để chứng minh rằng chỉ dẫn của Ngài chống lại việc liên minh ngoại giáo là đúng. Khi được ban, dấu lạ ấy sẽ chứng tỏ ngoài mọi nghi ngờ rằng Ngài đáng tin cậy.

Sự đạo đức giả của Akhaz

Thật không may, Akhaz xảo quyệt không muốn bị thuyết phục rằng kế hoạch của Thiên Chúa là đường lối đúng cho mình; ông thích kế hoạch của riêng mình. Vì thế, trong vẻ đạo đức giả, ông từ chối xin dấu lạ ấy: "Tôi không muốn thử thách Chúa." Chúng ta có thể hình dung ngôn sứ Isaia đảo mắt vào lúc này: "Các ngươi làm phiền người ta chưa đủ sao, mà còn muốn làm phiền Thiên Chúa của Ta nữa?" Isaia biết điều gì ẩn sau vẻ e thẹn giả tạo này.

Dấu lạ Emmanuel

Không để bị Akhaz cản trở, chính Chúa đã ban một dấu lạ, và dấu lạ ấy lớn lao biết bao! Chúng ta vẫn đang cử hành dấu lạ ấy: "Này đây, Trinh Nữ sẽ mang thai, sinh hạ một con trai, và người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel." Đây sẽ là dấu chỉ rằng ơn cứu độ của chúng ta, chiến thắng của chúng ta trên kẻ thù (tội lỗi, sự chết, ma quỷ) sẽ đến chỉ qua một mình Thiên Chúa. "Emmanuel" nghĩa là "Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta." Tên này thực ra là mô tả về mầu nhiệm Nhập Thể. Tên Giêsu, được ban cho cả ông Giuse lẫn Đức Maria để làm tên Con Thiên Chúa, nghĩa là "Đấng Cứu Độ." Thật là thích hợp biết bao!

Vua Akhaz chống lại sự vâng phục đức tin để cố tự cứu mình và dân mình. Ông Giuse và Đức Maria đã dâng cho Thiên Chúa sự vâng phục đức tin và đón Đấng Cứu Độ duy nhất mà nhân loại sẽ biết — Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta, Emmanuel.

Ôi lạy Chúa, xin ngự đến, Emmanuel.

Lời đáp có thể: Lạy Cha trên trời, con cảm tạ Cha vì đã lập và giữ lời hứa này để cho chúng con thấy rằng sự trợ giúp của chúng con — ơn cứu độ của chúng con — chỉ ở nơi một mình Cha.

THÁNH VỊNH (x. Tv 24,1-2.3-4ab.5-6)

Thánh vịnh này giúp chúng ta chuẩn bị rời Mùa Vọng để đón Giáng Sinh. Thánh vịnh ca ngợi vinh quang của việc Thiên Chúa sở hữu "đất và muôn loài trên mặt đất, vũ trụ và muôn loài trong đó." Thiên Chúa và con người luôn được định mệnh để cùng cư ngụ với nhau (hãy nhớ Vườn Địa Đàng), nhưng sự bất tuân do thiếu đức tin đã phân ly họ: "Ai được lên núi Chúa? Ai được đứng trong nơi thánh của Người? Chính là kẻ tay sạch lòng thanh." Đó chính là Chúa Giêsu của chúng ta! Chẳng bao lâu nữa, Ngài sẽ đến để cho những ai tìm kiếm Ngài thấy "nhan Thánh Chúa", và đó chính là chúng ta. Sau thời gian chuẩn bị Mùa Vọng, chúng ta sẵn sàng hát rằng: "Hãy mở cửa cho Chúa ngự vào, Ngài là Vua vinh hiển."

Lời đáp có thể: Chính Thánh vịnh là lời đáp cho các bài đọc khác. Hãy đọc lại Thánh vịnh cách cầu nguyện để làm cho nó thành của riêng mình.

BÀI ĐỌC II (x. Rm 1,1-7)

Thánh Phaolô, khi viết thư cho Giáo Hội Rôma, đã gom góp nhiều chủ đề chúng ta đã thấy trong các bài đọc khác. Ngài thừa nhận rằng Chúa Giêsu, Con Cháu Đavít, là sự hoàn tất các lời hứa của Thiên Chúa từ lâu xưa. Ngài biết rằng nhờ những gì Chúa Giêsu đã làm cho chúng ta, có một Tin Mừng, Tin Vui, để loan báo khắp thế giới. Hãy xem sứ vụ Tông Đồ của Thánh Phaolô, một ân sủng từ Thiên Chúa, đã ủy thác cho ngài kêu gọi người Do Thái lẫn dân ngoại (nói cách khác, mọi người) đến với "sự vâng phục đức tin." Chúng ta cũng được "gọi làm dân thánh", như Đức Maria và Thánh Giuse. Chúa Giêsu đến để làm cho điều ấy thành khả thi. Ngài mang đến cho chúng ta "ân sủng""bình an."

Mùa Vọng có làm chúng ta sẵn lòng dâng cho Thiên Chúa sự vâng phục đức tin với sức sống mới trong năm phụng vụ mới này không?

Lời đáp có thể: Lạy Cha trên trời, con biết món quà lớn nhất và duy nhất con có thể dâng Cha là đức tin của con. Xin giúp con sống đức tin ấy tốt hơn trong năm tới.

KẾT LUẬN

Chúa Nhật IV Mùa Vọng với hình ảnh Thánh Giuse nhắc nhở chúng ta rằng đức tin không phải là sự hiểu biết hoàn hảo, mà là sự vâng phục trước mầu nhiệm Thiên Chúa. Giống như Thánh Giuse, chúng ta được mời gọi vượt qua mọi do dự, mọi nỗi sợ hãi, để đón Chúa Giêsu vào đời sống mình. Khi Mùa Vọng sắp kết thúc, chúng ta chuẩn bị đón Emmanuel — Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta — với trái tim khiêm tốn và đức tin sống động. mục lục

Tác giả: Gayle Somers – con sóng nhỏ chuyển ngữ

Gayle Somers là thành viên giáo xứ Thánh Tôma Tông Đồ ở Phoenix và đã viết cũng như dẫn các giờ học Kinh Thánh giáo xứ từ năm 1996. Bà là tác giả ba cuốn học hỏi Kinh Thánh: Galatians: A New Kind of Freedom Defended (Basilica Press), Genesis: God and His Creation, và Genesis: God and His Family (Emmaus Road Publishing). Cuốn sách mới nhất của bà, Whispers of Mary: What Twelve Old Testament Women Teach Us About Mary, có bán tại Ascension Press. Gayle và chồng bà, Gary, cư ngụ tại Phoenix và có ba người con đã trưởng thành.

THIÊN CHÚA BƯỚC VÀO THẾ GIỚI BỊ THƯƠNG TÍCH

Nhân loại đang sống trong một thế giới không ít nỗi bất an. Trái đất, ngôi nhà chung của chúng ta đang oằn mình dưới những vết thương do chính con người gây ra: khí hậu biến đổi ngày càng khốc liệt, rừng Amazon tiếp tục bị tàn phá, băng tan, biển dâng, thiên tai và dịch bệnh xuất hiện với tần suất dày đặc. Con người xây dựng những thành phố bằng sắt thép và xi măng, nhưng lại đánh mất sự hài hòa với thiên nhiên, để lại phía sau những dòng sông ô nhiễm và những bầu khí ngột ngạt.

Không chỉ môi sinh bị tổn thương, mà chính con người cũng đang trở nên mong manh và lạc hướng. Sự sống, lẽ ra phải được bảo vệ ngay từ giây phút đầu tiên, lại bị đe dọa nghiêm trọng. Những con số về phá thai, nhất là ở lứa tuổi vị thành niên, không chỉ là thống kê lạnh lùng, mà là tiếng kêu đau đớn của một xã hội đang khó sống và khó yêu.

Trái đất và con người đang như thế, nhưng Đức Giê-su con Thiên Chúa đã đến sống cùng chúng ta, như I-sai-a loan báo: “Này đây, Chúa toàn năng đến: Người sẽ được gọi là Em-ma-nu-en, Thiên Chúa ở cùng chúng tôi“. Những lời trên đây được lặp lại trong các ngày này, đặc biệt Chúa Nhật thứ IV, để khẳng định rằng Trái đất vẫn rất đáng yêu và con người vẫn còn đáng mến. Thiên Chúa đến vì mến địa cầu, Thiên Chúa thương vì tình thương vấn vương khi tạo dựng. Thiên Chúa bước vào thế giới bị thương tích. Người không đứng ngoài khổ đau nhân loại, nhưng chọn ở cùng, ở trong, và ở vì con người, để mở ra một con đường hy vọng mới.

A-khát, người đóng kín trước lời mời của Thiên Chúa

Trong bài đọc 1, tiên tri I-sai-a mời vua A-khát xin Chúa một dấu để củng cố niềm tin, nhưng ông từ chối với lời thoạt nghe đầy đạo đức: “Tôi sẽ không xin, vì tôi không dám thử Chúa.” (Is 7,10) Thật ra, ông từ chối vì không muốn để Thiên Chúa can thiệp vào kế hoạch riêng của mình. Ông chọn sức mạnh chính trị thay vì cậy dựa vào Thiên Chúa.

A-khát trở thành hình ảnh của những con tim khép kín, những người sợ rằng nếu Thiên Chúa hành động, họ sẽ phải thay đổi, phải buông bỏ quyền kiểm soát, phải tin cậy hơn là tính toán. Đó cũng là mối nguy của chúng ta hôm nay: sợ để cho Thiên Chúa bước vào đời sống mình.

Thế nhưng, ngay cả khi con người từ chối, Thiên Chúa vẫn ban dấu: “Này đây một trinh nữ sẽ thụ thai và sinh một con trai, và tên con trẻ sẽ gọi là Em-ma-nu-en.” (Is 7,14).  Thiên Chúa không bỏ cuộc trong tình yêu. Người không chờ con người xứng đáng mới đến, nhưng đến để chữa lành sự bất xứng đó.

Trong Chúa Nhật IV Mùa Vọng, lời Chúa qua miệng tiên tri I-sai-a mời chúng ta xét lại thái độ đức tin của mình. Liệu chúng ta có giống như A-khát viện lý do đạo đức bề ngoài để từ chối phó thác hoàn toàn cho Thiên Chúa? Hay chúng ta sẵn sàng để Chúa can thiệp vào đời sống mình ngay cả khi điều đó làm đảo lộn mọi kế hoạch? Mùa Vọng nhắc ta rằng Chúa đang đến, và Người muốn ở cùng ta. Vấn đề là liệu ta có để cho Người bước vào hay không.

Phao-lô, con người cởi mở

Nếu A-khát là biểu tượng của sự khép kín, thì thánh Phao-lô là mẫu gương của một tâm hồn được mở ra và biến đổi hoàn toàn. Trong bài đọc 2, thánh Phao-lô tự giới thiệu bằng những lời thật khiêm tốn mà đầy xác tín: “Phao-lô, tôi tớ Chúa Giê-su Ki-tô, đã được kêu gọi làm Tông đồ, và đã được tuyển chọn để rao giảng tin mừng Thiên Chúa.” (Rm 1,1)

Phao-lô hiểu rõ căn tính của Chúa Giê-su: thuộc dòng Đa-vít theo xác phàm, nhưng được tuyên xưng là Con Thiên Chúa quyền năng nhờ sự Phục Sinh. Đây chính là nền tảng hy vọng Ki-tô giáo: Đấng đã bước vào lịch sử, đã mang lấy thân phận con người, cũng là Đấng mang quyền năng cứu độ vĩnh hằng.

Trong Năm Thánh Hy Vọng 2025, Giáo Hội nhấn mạnh đến “hy vọng”. Nhưng hy vọng không phải là lạc quan mù quáng; hy vọng là xác tín rằng lịch sử được Thiên Chúa dẫn dắt, rằng Đấng đã đến trong máng cỏ cũng là Đấng làm chủ lịch sử loài người. Phao-lô đã sống từ xác tín này. Và qua ông, lời mời gọi “nên thánh” được gửi đến cả chúng ta : chúng ta được Chúa yêu và tuyển chọn làm dấu chỉ hy vọng cho thế giới.

Giu-se, con người vâng phục thinh lặng

Đỉnh cao của phụng vụ hôm nay là hành trình của thánh Giu-se. Ma-ri-a mang thai trước khi về chung sống, và Giu-se đứng trước một nghịch cảnh không thể hiểu nổi. Với tư cách một người công chính, ông không muốn tố cáo Ma-ri-a, nhưng cũng không thể hiểu được điều xảy ra. Giu-se chọn con đường âm thầm rút lui, một giải pháp vừa hợp luật vừa đầy tình thương.

Chính lúc đó, Thiên Chúa can thiệp: “Hỡi Giu-se, con vua Đa-vít, đừng ngại nhận Ma-ri-a về nhà làm bạn mình.” (Mt 1,20) Giu-se không được giải thích chi tiết, không có bằng chứng nào ngoài một lời truyền trong mơ, nhưng ông tin và ông hành động, không một lời, chỉ có sự vâng phục. Đây là điều làm nên sự vĩ đại của Giu-se: Ngài để cho Thiên Chúa thay đổi kế hoạch đời mình.

Giáo Hội mời gọi chúng ta học lại đức tin này: một đức tin không ồn ào nhưng trung thành, không nói nhiều nhưng sẵn sàng để Thiên Chúa tác động.

“Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”. (Is 7,14;  Mt 1,23). Đây là chìa khóa của cả ba bài đọc. Hy vọng Ki-tô giáo không bắt nguồn từ sự tiến bộ vật chất, không đến từ thành công của con người, nhưng từ sự hiện diện của Thiên Chúa trong lịch sử.

Trong một thế giới đầy lo âu, chiến tranh, bất ổn, chia rẽ, tiếng nói của Giáng Sinh lại vang lên mạnh mẽ: Thiên Chúa không đứng xa. Người đến. Người ở với chúng ta. Người đi vào hoàn cảnh phức tạp của Đức Ma-ri-a, trong sự bối rối của thánh Giu-se, sự bất trung của A-khát… và Người làm cho mọi sự trở nên mới.

Lễ Giáng Sinh đã gần kề, chúng ta tự đặt câu hỏi: Thiên Chúa có chỗ đứng trong cuộc đời tôi không? Có điều gì tôi sợ để Người can thiệp vào? Tôi có dám tin như Giu-se, dám phó thác như Phao-lô và tránh thái độ khép kín như A-khát?

Ước gì trong những ngày cuối của Mùa Vọng, chúng ta biết thinh lặng để lắng nghe như Giu-se, biết khiêm tốn để tin như Phao-lô, và biết mở lòng để đón Em-ma-nu-en – Thiên Chúa đang ở cùng chúng ta. Amen. mục lục

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

TIN MỪNG CỦA THIÊN CHÚA

Đọc trình thuật truyền tin cho Đức Maria trong Tin Mừng theo thánh sử Luca, ta được lắng nghe một lời “xin vâng” rất đẹp của Mẹ. Hôm nay, ta được nghe thánh sử Mátthêu thuật lại việc truyền tin cho thánh Giuse. Sứ thần truyền tin lúc ngài còn đang an giấc. Có lẽ, vì đang ngủ nên ngài không thể dặt câu hỏi như Đức Maria, để được sứ thần giải đáp những thắc mắc, để được củng cố lòng tin. Thế nhưng, ngài đã có một tiếng thưa “xin vâng” rất âm thầm, rất quyết liệt và cũng rất đẹp.

Khi nhận thấy Maria- người vợ chưa từng chung sống đang mang thai, ngài đã suy tính kế hoạch để bỏ đi. Chắc hẳn, ngài đã phải chiến đấu rất nhiều, đã rất đau khổ. Có hai kế hoạch đều bị đổ vỡ: kế hoạch thứ nhất là giấc mơ xây dựng một gia đình hạnh phúc; kế hoạch thứ hai là dự tính “bỏ bà cách kín đáo” (x. Mt 1,19). Khi nhận thấy người vợ mình yêu thương đã mang thai mà không do bởi mình, giấc mơ xây dựng một gia đình hạnh phúc bị tan thành mây khói. Đau khổ bất ngờ ập xuống. Tận sâu trong lòng, ngài vẫn rất yêu thương Maria, càng yêu thương bao nhiêu thì càng đau khổ bấy nhiêu. Trong đau khổ, ngài có cất tiếng thưa lên cùng Thiên Chúa- Đấng mà ngài hằng tôn kính mến yêu? Chính tình yêu đã giúp ngài đi đến quyết định là sẽ “bỏ vợ cách kín đáo”, không để cho nàng phải chết nhục nhã trong đau đớn như Luật Môsê đã định. Ngài đang toan tính như vậy thì sứ thần Chúa hiện đến báo mộng, giải đáp tất cả những thắc mắc đang bủa vây trong lòng. Sứ thần chỉ cho ngài một con đường để bước đi, con đường theo thánh ý vạch ra là “đừng ngại đón bà Maria vợ ông về” (x. Mt 1, 20). Đây quả là một lời mời gọi đầy thách đố. Làm sao để ta cũng có thể nhận ra và đón nhận “Tin Mừng của Thiên Chúa” với lòng vâng phục đơn sơ nhưng cũng rất quyết liệt như thánh Giuse lúc bấy giờ? Để đón nhận những điều trái ngược với ý muốn của ta và đón nhận nó như là Tin Mừng của Thiên Chúa đòi hỏi ta cần phải có một tâm hồn tự hạ, khiêm nhường trước thánh ý Thiên Chúa. Chính Chúa Thánh Thần sẽ từng bước giúp ta khám phá ra Tin Mừng của Thiên Chúa và đón nhận mầu nhiệm ấy bằng một con tim luôn luôn mở ra.

Thánh Giuse đã được sứ thần của Chúa truyền tin lúc đang an giấc. Khi vừa thức giấc ngài đã mau mắn làm như sứ thần Chúa dạy (x. Mt 1, 24). Một thái độ vâng phục cách mau mắn, không chút nghi ngờ; bởi đức tin của ngài đã trải qua bao thử thách và trái tim của ngài đã luôn mở ra trước thánh ý Thiên Chúa và luôn sống cho người khác. Một tâm hồn luôn tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa sẽ được Người yêu thương. Chắc chắn, trong suốt hành trình nơi dương thế, để chu toàn sứ mạng Thiên Chúa trao trong trách nhiệm và ân phúc được làm cha nuôi của Chúa Giêsu và làm bạn trăm năm của rất thánh Đức Maria, ngài đã phải trải qua nhiều thăng trầm thử thách. Cũng như Chúa Giêsu đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục, thì thánh Giuse- một người hết lòng sống cho thánh ý Thiên Chúa- cũng đã mang một tâm tình như thế (x. Dt 5, 8) bởi có ai yêu mến Thiên Chúa mà không được Người thử thách. Tin Mừng của Thiên Chúa đến với ta trong muôn ngàn nẻo đường khác nhau, con đường nào cũng đòi buộc ta phải sẵn sàng vâng phục trong đức tin, bỏ đi những toan tính của bản thân để hết lòng sống theo thánh ý Chúa. Mọi sự đều có thể đối với những ai có lòng tin và yêu mến Thiên Chúa.

Lạy Chúa Giêsu là Tin Mừng của Thiên Chúa. Chúa đã đến với con trong rất nhiều biến cố, trên muôn vàn nẻo đường con đi. Xin ban cho con một trái tim biết mở ra trước thánh ý Chúa và mau mắn thi hành. Để con đừng ngại đón nhận Tin Mừng của Chúa, xin Chúa hãy uốn nắn lòng con nên giống trái tim của Chúa. Amen. mục lục

Bông hồng nhỏ

HÃY ĐẾN! HÃY ĐẾN! EM-MA-NU-EN

Chúng ta bước sang tuần thứ Tư Mùa Vọng. Chỉ còn một tuần nữa là đến Lễ Giáng Sinh. Không khí chuẩn bị mừng ngày Đại Lễ thật nhộn nhịp. Các buổi hội diễn thánh ca đang diễn ra thật tưng bừng và náo nhiệt. Các ca đoàn thi đua tiếng hát dâng lời ca khen và chúc tụng Thiên Chúa. Nói chung, người người nô nức vui mừng trong niềm hy vọng mà Đấng Cứu Thế đã đem đến cho nhân loại hơn 2000 năm qua.

Vẻ huy hoàng tráng lệ bị ảnh hưởng bởi nền văn minh thế tục đã đi ngược lại với hoàn cảnh nghèo hèn, bị xua đuổi, không nơi trú thân khi hài nhi Giê-su được sinh ra. Bên cạnh đó, chúng ta còn nghe hay được chứng kiến những cảnh đời thật thương tâm, bất hạnh của các nạn nhân trong vụ khủng bố tai bờ biển Bondi, Sydney vào chiều ngày 14 tháng 12 năm 2025 vừa qua.

Câu hỏi Thiên Chúa ở đâu? hay là câu hỏi có thật Thiên Chúa đã đến trần gian này hay là chúng tôi phải đợi ai khác? Và nếu Thiên Chúa đã đến thì tại sao các tai ương và bi kịch vẫn còn xẩy đến? Tìm câu trả lời cho các câu hỏi như thế thật là khó.

Trước biến cố đầy bi thương, bất công và tối tăm như thế, chúng ta nhận ra sứ điệp của Chúa Nhật thứ 4, Mùa Vọng: “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” đến thật đúng lúc. Bởi vì, cho dầu sống trong một thế giới đầy sóng gió, tang thương và tối tăm, chúng ta không mất đi niềm hy vọng và tin rằng Thiên Chúa đã đến giữa chúng ta với tình yêu, sự an ủi và đồng hành. Người không rời xa hay đã bỏ rơi chúng ta vì Người là Emmanuel, có nghĩa là “Thiên Chúa-ở-cùng-chúng-ta.”

Thật vậy, chúng ta tin rằng Chúa đã đến và vẫn còn đến trong hoàn cảnh riêng của từng người. Khi bước vào trần gian, Người đã không ngần ngại bước đến với con người trong hoàn cảnh mỏng dòn, bội ước và đầy tham vọng của họ. Đây là sáng kiến của Thiên Chúa. Chính Người đã đi bước trước để làm gương cho con cháu Người. Thiên Chúa không còn ở xa, nhưng đã đồng hình đồng dạng để chia sẻ mọi hoạn nạn khổ đau của con người. Thiên Chúa ở cùng chúng ta, Em-ma-nu-en chính là thế.

Giống như mọi hài nhi, Con Thiên Chúa khởi đầu là một thai nhi, tuỳ thuộc và lớn lên trong cung lòng một trinh nữ, mang tên Maria, Mẹ Người. Hai tiếng xin vâng thanh khiết và vẹn toàn của Mẹ đã khiến một biến cố phi thường xẩy ra một cách thật bình thường. Mẹ là người đã sẵn sàng vuợt qua mọi rào cản để Con Thiên Chúa bước vào cuộc đời Mẹ và bước vào thế giới qua cung lòng của Mẹ.

Như mọi bào thai, Đức Giê-su, Con Thiên Chúa đã đón nhận sự nuôi dưỡng, chăm sóc từ những giọt máu đào và dòng sữa yêu thương của Mẹ. Không ai hiểu thân phận của Chúa bằng Mẹ. Mẹ là mẫu gương mà Hội Thánh muốn cho con cái mình noi theo. Ngoài Mẹ ra, Hội Thánh giới thiệu cho chúng ta một nhân vật khác, tuy thầm lặng và ít được nhắc đến nhưng vai trò không kém quan trọng như vai trò của Mẹ. Đó chính là Thánh Giu-se. Thật vậy, ngoài Mẹ ra, thì không có ai hiểu thấu và quan tâm cho Chúa bằng Thánh Giu-se.

Bản tính thầm lặng và ít nói của Thánh Giu-se lại là một yếu tố giúp chúng ta quên đi những ánh mầu rực rỡ, không khí tưng bừng của ngày đại lễ rồi cùng nhau ngồi xuống, trong thinh lặng để suy gẫm về mầu nhiệm mà chúng ta sắp cử hành.

Anh chị em thân mến,

Con đường của Thiên Chúa dành cho Thánh Giu-se bước đi cũng không dễ dàng. Thánh Kinh mô tả ngài là một người công chính, đã đính hôn với cô gái trạc tuổi trăng tròn, tên là Maria. Bên nhà gái khoảng mười sáu tuổi thì lẽ nào Giu-se lại là một cụ già lụ khụ! Thánh nhân hẳn nhiên là một cậu thanh niên khôi ngô và tuấn tú như vậy mới xứng đôi với cô Maria trẻ trung và mỹ miều.

Vào một ngày kia, Thánh Giu-se đã bị sốc khi nghe vị hôn thê của anh vừa báo cho anh biết là nàng đã có thai, và điều duy nhất Giu-se biết chắc chắn là thai nhi đó không phải là của mình. Anh biết làm sao đây? Làm sao anh có thể tin được lời của Maria nói là nàng ta mang thai bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần?

Xuất phát từ lòng đạo đức, Giu-se chỉ biết suy đi nghĩ lại trong lòng và âm thầm tâm sự với Chúa. Chúng ta không biết Giu-se đã cầu nguyện như thế nào? Hẳn nhiên là anh xin Chúa soi sáng, giúp anh tỉnh thức để khỏi bị kéo vào đêm đen và có những quyết định mất lòng Chúa. Giu-se định âm thầm lìa bỏ Maria. Đó cũng không phải là giải pháp tốt, bởi thai nhi sẽ lớn lên và nếu anh bỏ nàng thì ai sẽ chịu trách nhiệm về bào thai đó. Anh bị bao phủ bởi màn đêm và cứ thế Giu-se đã thiếp đi trong giấc ngủ.

Trong giấc ngủ anh mơ thấy thiên thần. Trong trình thuật truyền tin cho Maria thì thiên thần Chúa hiện đến, trấn an Maria đừng sợ. Nhưng ở đây, Thánh Mát-thêu đã mô tả Giu-se vượt qua trạng thái sợ hãi khi đối diện với thiên thần. Chính nhờ điều này mà Giu-se, con người của niềm hy vọng, đã dễ dàng tin vào sứ điệp của thiên thần nói với ông như sau: “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần.” (Mt 1:21)

Khi giật mình thức dậy, Giu-se đã tuân phục ý định của Thiên Chúa qua lịnh truyền của sứ thần và đón vợ về nhà. Và hai người vẫn không ăn ở với nhau, cho đến khi Ma-ri-a sinh một con trai, và Giu-se đã đặt tên cho con trẻ là Giê-su. Theo tục lệ của người thời bấy giờ thì ai đặt tên cho con trẻ thì người đó là cha hợp pháp của đứa trẻ vậy.

Vẫn biết Giu-se một lòng tuân phục và thực hiện ý định của sứ thần. Tuy nhiên, chúng ta không thể bỏ qua tình huống mà Giu-se và Ma-ri-a đang đối diện. Khó khăn vẫn còn. Trong hoàn cảnh tiến thoái lưỡng nan, khi đi đến quyết định đón vợ về nhà, Giu-se vẫn không tránh khỏi giây phút hoang mang về danh tiếng của anh cũng như hậu quả có thể xuất phát từ vụ xì căng đan bởi việc thụ thai của Ma-ri-a, người vợ mà anh hết lòng yêu thương và tin tưởng. Làm sao mà anh và Maria có thể chứng minh cho người ta biết là bào thai mà vợ anh đang mang là do tác động của Chúa Thánh Thần?

Chúng ta hãy nghe đôi bạn trẻ Giu-se và Ma-ri-a tâm sự với nhau. Maria đã nói với Giu-se: sứ thần nói với em rằng con trẻ em đang mang trong người sẽ được gọi là Con Đấng Tối cao, và chúng mình sẽ đặt tên cho con là Giê-su. Giu-se đáp lại: đúng đấy em ơi, anh cũng được báo mộng bởi sứ thần là như thế, vì vậy chúng mình sẽ đặt tên cho con là Giê-su. Sau đó Giu-se nói thêm rằng con chúng mình sẽ được gọi là Em-ma-nu-en, nghĩa là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.”

Giu-se biết rõ tâm tính và lòng đạo đức của Ma-ri-a, nàng không bội ước với anh. Sứ điệp anh nhận được từ sứ thần cũng là những gì mà Ma-ri-a đã nói cho anh. Sao có sự trùng hợp đến thế. Phải chăng đây là việc làm của Thiên Chúa.

Cuối cùng Giu-se cũng đã kết hợp được sức mạnh của niềm tin với tinh thần khiêm cung trước Thánh Ý nhiệm mầu của Thiên Chúa. Anh và Maria tin rằng, Thiên Chúa sẽ hướng dẫn các ngài vượt qua tất cả. Nhưng ngây bây giờ, trong giây phút này anh phải lựa chọn. Hẳn nhiên sự lựa chọn của anh không phát xuất từ một giây phút bồng bột và bốc đồng. Cả đời Giu-se đã chuẩn bị cho giây phút chọn lựa này, và hơn thế nữa, Giu-se sẽ phải sống với quyết định này cho đến cuối đời Ngài.

Có một điều mà Giu-se có nằm mơ cũng không nghĩ ra rằng quyết định của ngài lại mang tầm ảnh hưởng thật sâu xa đối với lịch sử của thế giới đến như thế. Con Thiên Chúa làm người và cư ngụ giữa thế gian. Gương sáng của Giu-se thật đáng kính trọng và lưu truyền cho muôn thế hệ.

Noi theo gương sáng của thánh Giu-se, chúng ta cầu xin có được một con tim rộng mở cho các dự án của Thiên Chúa muốn thực hiện nơi mình và nơi người khác, mà không ai có thể lường trước hay biết rõ được.

Nguyện xin lời tuyên xưng Em-ma-nu-en, Thiên Chúa ở cùng giúp chúng ta luôn tin rằng ánh sáng của Thiên Chúa chiếu tỏa trên hang Be Lem sẽ chiến thắng bóng tối, và sự sống mà Người đã Phục Sinh luôn mạnh hơn khủng bố và sự chết. Amen! mục lục

Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT

TÂM SỰ NGƯỜI CÔNG CHÍNH

Nếu ai đã từng xem cuốn phim “Đức Giê-su thành Na-da-rét” của đạo diễn Franco Zeffirelli (sản xuất năm 1977) chắc còn nhớ phân cảnh Thánh Giu-se nằm mơ thấy Đức Ma-ri-a bị ném đá chết vì tội ngoại tình. Nếu không thì cũng đã có lần được xem một vở kịch diễn lại bài Tin Mừng hôm nay, trong đó có cảnh Thánh Giu-se khắc khoải, lo âu, dằn vặt, thậm chí xấu hổ, trước sự kiện Đức Ma-ri-a mang thai mà ông chẳng biết nguyên do. Đó là những tình tiết lâm ly, bi đát, đầy kịch tính, làm khán thính giả bồi hồi xúc động, nhưng có nằm trong nhãn giới của tác giả Tin Mừng chăng ? Ngoài ra, ý tưởng “tố giác” (ám chỉ Giu-se nghi ngờ – mà nghi bậy – Ma-ri-a ngoại tình, chửa hoang) nằm bên cạnh ý tưởng “công chính” (một danh hiệu vinh quang, hiếm người được Kinh Thánh trao tặng) đã khiến nhiều học giả phải lý luận vòng vo đủ cách, trưng dẫn bản văn đủ kiểu để hòa hợp hai ý tưởng này. Tất cả những cái đó, theo nhiều nhà chú giải hiện đại, là do cách dịch chưa đúng về một vài từ ngữ trong văn bản.

Khúc Mắc Tâm Tư

Mở đầu bản văn bằng câu “Đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô” và bằng chi tiết “Trước khi hai ông bà về chung sống, Ma-ri-a đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần”, Mát-thêu đã muốn chứng minh cho độc giả Do-thái của mình thấy làm sao Đấng Cứu Thế sinh ra thiếu cha trần gian mà vẫn thuộc về dòng dõi Do-thái và con cháu Đa-vít được (trong lúc Lc 1,26-38 thì chỉ trình bày mầu nhiệm cưu mang đồng trinh cho độc giả lương dân hiểu). Việc lạ lùng này, chắc hẳn Đức Ma-ri-a đã tỏ lộ cho người bạn đời yêu quý (bà chị họ Ê-li-sa-bét mà còn được biết nữa là, vì thiên thần đâu có cấm Ma-ri-a tiết lộ: x. Lc 1,39-45). Với hai lý do: xin ông thông cảm cho quyết định của bà là vâng phục thánh ý lạ lùng lẫn bất ngờ của Thiên Chúa, và như thế sẽ chấm dứt kiểu chung sống chồng vợ thông thường; hai là chia sẻ niềm vui và vinh dự của bà được chọn làm mẹ Con Đấng Tối Cao. Ngoài ra, việc Mát-thêu khẳng định đầy đủ sự kiện nhiệm mầu ấy ngay từ đầu bài Tin Mừng (ông chẳng viết đơn giản: “Ma-ri-a đã có thai”) hàm ý Giu-se đã biết rõ công chuyện. Thế nhưng việc tỏ lộ này đặt ông vào một hoàn cảnh khó xử.

Theo nhiều nhà chú giải Công giáo hiện đại, khi kết hôn với nhau, hai ông bà Giu-se Ma-ri-a chắc dự tính sẽ có con với nhau một cách bình thường (Cựu Ước luôn cho hôn nhân là tốt đẹp và con cái là hồng ân cao cả, còn không có chồng hoặc có chồng không con là tủi nhục lớn lao, tương tự quan niệm Á đông: “Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại”), đồng thời cầu mong con họ sẽ được Thiên Chúa chọn làm Đấng Thiên Sai (Mê-si-a) như bao mộng ước của mọi gia đình và mọi thiếu nữ Do-thái thời đó. Thế nhưng, đang lúc chưa chung sống như vợ chồng, Ma-ri-a đã được sứ thần báo tin cho biết Thiên Chúa đã chọn bà làm mẹ Đấng Thiên Sai, nhưng bà sẽ sinh con một cách nhiệm lạ – do quyền năng Chúa Thánh Thần – vì thai nhi đó chính là Con Thiên Chúa! Đây là điều mà Cựu Ước cũng như hai ông bà không thể ngờ nổi.

Đứng trước mầu nhiệm cao cả này, Giu-se đâm băn khoăn. Từ nay, Thiên Chúa đã can thiệp vào mối dây liên hệ của đôi bạn, đã sử dụng Ma-ri-a như phương tiện để thực hiện kế hoạch lớn lao của Người. Từ nay Ma-ri-a đã trở thành một vật thánh, thuộc quyền sở hữu của Đấng Tối Cao. Giu-se tự nghĩ mình đâu có quyền động đến nàng nữa. Và dù không động đến nhưng nếu tiếp tục chung sống trong một nhà, tới lúc con nàng sinh ra, chắc thiên hạ sẽ nói là con của đôi bạn. Để cho ai nấy lầm tưởng như thế là một sự bất công với Thiên Chúa, vì Hài nhi là con của Người mà. Công bố chuyện này cho thiên hạ ư? Ai mà tin nổi và hiểu nổi! Có dấu chứng nào về một chuyện lạ lùng xưa nay chưa từng gặp như vậy? Vả lại đây là bí mật giữa Thiên Chúa với Ma-ri-a mà Người đâu đã tỏ ý định hãy loan truyền nó cho bá tánh. (Phải 30 năm sau, chính Đức Giê-su mới làm rõ được chuyện này)! Thế là Giu-se dự tính ra đi, ra đi âm thầm, để mặc Thiên Chúa đích thân giải quyết mọi chuyện. Ông xử sự như bao người công chính trong Cựu Ước là run khiếp trước sự hiện diện của Đức Chúa và không dám đoạt lấy một thành quả bởi tay Người. Vả lại, hiểu cách tự nhiên tức thời, công chính, công bình – hay just, juste trong tiếng Anh tiếng Pháp – có nghĩa là của ai thì trả cho người ấy, không vi phạm quyền lợi và sở hữu của tha nhân. Ngoài ra, từ Hy-lạp dùng ở đây là “deigmatisai”, cùng gốc với từ “paradeigmatisai”. Nhưng trong lúc “paradeigmatisai” có nghĩa là “tố giác, bêu nhục” thì “deigmatisai” lại chỉ có nghĩa là “tiết lộ, bày tỏ”, theo nhiều Giáo phụ (Origène, Eusèbe de Césarée...) và nhiều học giả hiện đại (Lm Paul Joüon, SJ, thành viên Viện Kinh thánh Giáo hoàng, Lm Nil Guillemette, SJ, giáo sư Kinh thánh lỗi lạc...). Thành ra, chính cách dịch mới: “Giu-se là người công chính và không muốn tiết lộ chuyện bà” hoàn toàn hợp lý đồng thời hỗ trợ cho lối giải thích vừa nói trên đây.

Lối giải thích cho rằng Giu-se công chính chiếu luật (vâng lời Lề luật) là không ổn, vì chả có luật nào buộc phải ly dị hôn thê mới bị coi như ngoại tình cả (x. Đnl 22,13-21.23-27 chỉ liên hệ tới hôn nhân hoàn hợp, như Đnl 24,1 làm chứng). Đàng khác, nếu âm thầm ly dị Ma-ri-a, thì Giu-se lại càng bất tuân Lề luật, vì việc ly dị chỉ được phép và mang giá trị pháp lý nếu có chứng thư ly dị rõ ràng và đưa ra công khai (Đệ Nhị Luật có nói đến việc ly dị tổ chức ở cửa thành). Thành ra đây là sự công chính tôn giáo, sự công chính đòi hỏi Giu-se tôn trọng công trình Thiên Chúa nơi Ma-ri-a và cấm ông không được đoạt lấy công lao của một hành động từ trời.

Gỡ Mối Tơ Vò

“Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông”. Thiên Chúa cuối cùng đã can thiệp: “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng sợ [Hy ngữ: phobethes] đón Ma-ri-a vợ ông về”. Đến đây, các nhà chú giải hiện đại đề nghị cách dịch khác cho từ Hy-lạp gar mà xưa nay vẫn chỉ dịch là “vì” (“Vì người con bà cưu mang...”) và cho từ Hy-lạp  mà xưa nay vẫn chỉ dịch là “và” (“và ông phải đặt tên...”). Từ “gar” còn có nghĩa: “vẫn biết, quả thật, hẳn nhiên, phải rồi”, và thường gặp trong Tân Ước (x. Mt 18,7; 1Cr 9,19; 1Tx 2,20...); từ “dé” cũng còn có nghĩa “nhưng”: “Vẫn biết/hẳn nhiên người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai, nhưng ông phải đặt tên con trẻ.” Từ “vẫn biết/hẳn nhiên” nói lên một sự thật mà Giu-se đã rõ (nên không có chuyện thiên thần mặc khải mầu nhiệm cưu mang đồng trinh cho ông lúc này). Ma-ri-a sẽ sinh con, “nhưng” Giu-se sẽ đặt tên cho con trẻ. Đặt tên (quyền của người cha theo pháp luật Do-thái) là thừa nhận kẻ được đặt tên như con của mình. Rồi con đẻ hay con nuôi đều có giá trị như nhau trước pháp luật Do-thái, nghĩa là con nuôi cũng hoàn toàn thuộc về dòng dõi cha nuôi với mọi quyền lợi và nghĩa vụ y như con đẻ. Cách giải quyết của Thiên Chúa thật tài tình: lợi dụng một điều khoản trong luật pháp Do-thái (con nuôi # con đẻ, mà chắc Người đã từ lâu xui khiến cho có), Thiên Chúa hoàn tất lời Thánh Kinh: Đấng Thiên Sai sẽ thuộc dòng dõi Đa-vít dù là con của một trinh nữ, với Thiên Chúa là Cha.

Còn một lý do thực tế: cần phải tạm thời che giấu mầu nhiệm Ngôi Hai nhập thể (khó chấp nhận khi chưa có ngôn hành khẳng định của chính Đức Giê-su) bằng cách để thiên hạ lầm tưởng Giu-se là cha đẻ của Người. Sự hiện diện của Thánh Giu-se trong ngôi nhà Na-da-rét còn cần thiết để bảo vệ thanh danh Đức Trinh Nữ cũng như để chăm sóc nuôi dưỡng Ấu Chúa và Mẹ Người.

Đến đây, ta có thể hiểu rõ thêm nữa về sự công chính của Thánh Giu-se: đó là sự thức tỉnh nội tâm đối với Thiên Chúa, một sự thức tỉnh vốn giúp người có khả năng đón nhận và hiểu rõ sứ điệp, dẫn người tức khắc tới chỗ vâng phục. Dẫu cho đến nay người đã bối rối trước các chọn lựa khác nhau của mình, giờ đây người biết đâu là đường lối hành động đúng đắn. Là một người công chính, người vâng theo các mệnh lệnh Thiên Chúa truyền dạy.

Hiểu Ra Mầu Nhiệm

Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa đã phán qua miệng ngôn sứ: 'Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta'. Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy, và đón vợ về nhà”. Vậy là bên cạnh Đức Ma-ri-a, bà Ê-li-sa-bét, Thánh Giu-se nay cũng hiểu: vừa là con Thiên Chúa, vừa là con loài người, Đức Giê-su đúng là Em-ma-nu-en thật (x. Is 7,14). Ngay cả cho dù không thực sự mang cái tên độc đáo này, Người vẫn là Em-ma-nu-en, như toàn bộ Tin Mừng sẽ cố gắng minh chứng, là Thiên-Chúa-ở-cùng-nhân-loại trong chính bản thân Người. Hai bản tính trong một ngôi vị này khiến Người có thể đền tội xứng đáng, đầy đủ cho chúng ta và nhất là có thể thần hóa chúng ta, làm chúng ta nên con Thiên Chúa, thông phần bản tính Người: “Con Thiên Chúa đã làm người để biến chúng ta thành Thiên Chúa” (thánh Athanasiô), “Thiên Chúa đã làm người, để biến chúng ta thành thần linh” (thánh Irênê). (Tương tự chúng ta vì là vật chất và tinh thần nên có thể tinh thần hóa vật chất vậy). mục lục

Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan