SUY NIỆM CHÚA NHẬT XIV TN B (8/7)

04-07-2018 98 lượt xem

[Ed 2,2-5; 2 Cr 12,7-10; Mc 6,1-6]

Mục Lục

Ðức tin của chúng ta không phải là nhẹ dạ, mê tín...

THÀNH KIẾN

LÒNG CHAI DẠ ĐÁ

HÃY RAO GIẢNG TIN MỪNG, DÙ GẶP ĐIỀU BẤT LỢI

THÓI KIÊU NGẠO VÀ ĐỊNH KIẾN ĐÃ CẢN TRỞ ƠN CỨU ĐỘ

CHUYỆN LẠ – QUEN

Thơ BỊ KHAI TRỪ

Thơ: Tín nhiệm đồng hương

Ðức tin của chúng ta không phải là nhẹ dạ, mê tín...

Trong bài đọc 1 (x. Êd 2,2-5), Êdêkien kể rằng ông đã được chính Thiên Chúa kêu gọi làm ngôn sứ, đã ban “thần linh” cho ông, trao cho ông sứ mạng truyền thông sứ điệp của Chúa đến với con cái Israel; nhưng đó là một sứ mạng khó khăn vì dân rất cứng lòng. Thánh vịnh Đáp ca (Tv 122) nói lên tâm tình trông cậy vào Chúa, trong những lúc khó khăn, tuy cảm thấy chán nản nhưng luôn xin Chúa cứu giúp.

Trong bài Tin Mừng (Mc 6,1-6), thánh Máccô thuật lại sự kiện Đức Giêsu trở về quê hương mình là Nadarét. Người vào hội đường ngày Sabát và giảng Thánh Kinh. Ban đầu những người đồng hương rất ngạc nhiên bởi sự khôn ngoan của Người và vì những phép lạ Người làm ở những nơi khác. Nhưng khi nhớ đến nguồn gốc tầm thường của Người, họ không tin Người nữa. Chính vì thái độ không tin ấy, nên ở Nadarét, Đức Giêsu không làm nhiều phép lạ.

Thánh Phaolô, trong bài đọc 2 (2Cr 12,7-10), tâm sự rằng: bản thân ông rất yếu đuối; ông cảm thấy như có một cái dằm luôn đâm vào da thịt mình, ám chỉ những sự yếu đuối của mình. Nhiều lần ông ngã lòng, xin Chúa cất khỏi cái dằm ấy, nhưng Chúa đã khích lệ ông: “Ơn Ta đủ cho con”. Nhờ đó ông tín thác vào Chúa và tiếp tục sứ mạng với niềm xác tín: “Khi tôi yếu đuối chính là lúc tôi mạnh”.

Kinh Thánh cho thấy khi chọn ai, Chúa theo những tiêu chuẩn khác thường: không cần học thức cao, không cần tài ba lỗi lạc, không cần khả năng khéo léo, nhưng căn bản cần tín thác vào Chúa vì “Ơn Ta đủ cho con”: khi gồng gánh nặng nề, Chúa đến bổ sức cho; khi công việc cực nhọc, Chúa ban ơn thêm sức; khi gặp buồn khổ, Chúa gia tăng lòng thương xót; khi gặp thử thách, Chúa gởi đến bình an.

Đó chính là những “phép lạ” mà chúng ta có thể cảm nghiệm được khi tín thác vào Chúa. Tại Nadarét, Chúa Giêsu đã “không thể làm được phép lạ nào... vì họ không tin”. Phép lạ là điều kỳ diệu khác thường, xảy ra ngoài những quy luật tự nhiên, chẳng hạn được khỏi bệnh một cách lạ lùng khiến các bác sĩ cũng phải nhìn nhận. Nếu Thiên Chúa đã thiết lập những quy luật tự nhiên thì Thiên Chúa cũng muốn cho vạn vật vận hành theo đúng quy luật tự nhiên. Chỉ khi nào có một lý do thật quan trọng thì Chúa mới cho một sự kiện xảy ra ngoài những quy luật tự nhiên đó.

Lý do quan trọng khiến Chúa làm phép lạ là “đức tin”. Chúng ta dễ nhận ra điều này khi đọc sách Tin Mừng. Phép lạ xảy ra để đáp ứng một lòng tin mạnh mẽ vững vàng, hoặc để mời gọi những người chứng kiến tin mạnh mẽ vững vàng hơn. Trong đoạn Tin Mừng hôm nay, những người đồng hương với Đức Giêsu một mặt khinh thường Đức Giêsu chỉ là con một bác thợ mộc nghèo, nhưng mặt khác khi nghe biết Đức Giêsu đã làm nhiều phép lạ ở những nơi khác thì cũng muốn Đức Giêsu làm phép lạ ở Nadarét cho họ hưởng nhờ, nhưng Đức Giêsu không làm phép lạ chỉ để thỏa mãn tính vụ lợi của họ.

Có những người rất nhẹ dạ dễ tin: chuyện gì hơi lạ một chút cũng coi là phép lạ. Có những người rất hay cầu xin phép lạ: phép lạ được trúng số, phép lạ được khỏi bệnh. Không phải chúng ta không nên tin hoặc không nên cầu xin nữa. Nhưng chúng ta cần lưu ý: điều quan trọng nhất trong các phép lạ không phải là lợi lộc mà chính là đức tin - phép lạ xảy ra vì đức tin, hoặc để đáp ứng đức tin mạnh mẽ của con người, hoặc để mời gọi con người qua đó mà càng tin vững hơn vào Thiên Chúa. Ở Lộ Đức, Fatima..., khi những biến cố lạ thường xảy ra khiến nhiều người xôn xao thì Giáo hội vẫn im lặng. Chỉ sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng một thời gian dài, Giáo hội mới tuyên bố là phép lạ. Giáo hội cẩn thận như vậy là để khỏi rơi vào mê tín dị đoan. Thiết tưởng mỗi người chúng ta cũng phải cẩn thận như thế trước những điều xảy ra có vẻ khác thường, bởi vì đức tin của chúng ta không phải là nhẹ dạ, mê tín, mà là một đức tin có nền tảng vững chắc, trong sáng.

Rồi trong cuộc sống đạo của chúng ta, điều quan trọng phải lưu ý hơn hết là cố gắng rèn luyện đức tin mỗi ngày thêm vững mạnh trong sáng hơn. Nói cụ thể: tôi giữ đạo, tôi làm theo những điều Chúa dạy là vì tôi thực sự tin vào Chúa, chứ không phải vì tôi mong Chúa sẽ làm phép lạ cho tôi giàu có, cho tôi trúng số, cho tôi khỏi bệnh một cách lạ lùng. Những điều đó nếu thấy cần thì cứ cầu xin, và nếu Chúa thấy tốt thì sẽ ban cho chúng ta, nhưng chúng ta không chỉ giữ đạo vì những điều đó. Về mục lục

+ ÐGM. Antôn VŨ HUY CHƯƠNG

THÀNH KIẾN

Cả ba sách Tin Mừng Nhất Lãm (Mt 13,53-58; Mc 6,1-6; Lc 4,14-39) đều thuật lại câu chuyện Đức Giêsu không được tiếp đón tại quê nhà và Ngài đều nói đến ý tưởng: “Ngôn sứ không có thế giá tại quê hương mình” (Ga 4,44). Nhưng mỗi Tin Mừng thuật lại câu chuyện với các chi tiết khác nhau và đặt trong những bối cảnh văn chương khác nhau. Tin Mừng Máccô đặt trình thuật “Đức Giêsu bị rẻ rúng tại quê hương mình” (Mc 6,1-6) sau trình thuật “Đức Giêsu chữa lành người đàn bà bị băng huyết và cho con gái ông Giaia sống lại” (Mc 5,21-43).

Đức Giêsu trở về quê hương Nadaret. Ngài vào hội đường ngày sabat và đứng lên đọc rồi cắt nghĩa Sách Thánh cách rành mạch làm cho mọi người thán phục. Họ ngạc nhiên thì thầm với nhau: “Bởi đâu ông ta được như thế ? Sao ông ta được khôn ngoan như vậy ? Ông ta làm được nhiều phép lạ như thế nghĩa là gì?” Họ chẳng biết sự khôn ngoan và quyền phép của Đức Giêsu bởi đâu. Họ tìm về nguồn gốc thì chỉ thấy: “Mẹ ông là bà Maria, anh em họ hàng là Giacôbê, Giosê, Giuđa và Simon”. Tất cả bà con lối xóm đều coi ông như bạn bè từ gần 30 năm nay ở Nagiarét này, một thôn ấp nhỏ bé chỉ có độ 150 gia đình nghèo nàn, tối tăm, mấy ai quan tâm đâu. Ông lại là anh thợ mộc, con nhà lao động, làm thuê làm mướn, lang thang từ nhà này sang nhà khác, đóng bàn sửa ghế, ráp giường ghép tủ, đục đẽo cày bừa, thành phần địa vị thấp kém trong xã hội. Có bao giờ thấy ông ấy nói năng, làm được gì hay lạ đâu ? Ông ấy bỏ quê nhà đi lang thang mấy tháng, nay trở về, sao thay đổi nhanh như thế! Một quá khứ và hiện tại như thế đã khiến họ vấp phạm. Họ không tin Ngài là một Ngôn Sứ, lại càng không thể tin Ngài là Mêsia, và chắc chắn họ chẳng bao giờ dám nghĩ rằng mình là người đồng hương với Ngôi Hai Con Thiên Chúa. 

Dân làng Nadarét quá biết về gốc gác, gia cảnh, biết rõ ràng lý lịch của Đức Giêsu. Với đầu óc thủ cựu, lại nặng thành kiến nên họ không thể nhận ra thiên tính nơi con người của Ngài, họ lấy chủ nghĩa lý lịch để thẩm định về Ngài. Đức Giêsu trở thành nạn nhân của “chủ nghĩa lý lịch”. Chính Nathanael cũng còn mang nặng quan niệm thành kiến đó: “Nadarét có cái gì tốt đâu?” (Ga 1,46). Những người Do thái cố chấp nhìn Đức Giêsu bằng lăng kính của thành kiến quê hương và họ đã đưa Ngài lên ngọn đồi và định xô xuống vực.

Đức Giêsu nói với những kẻ đặt câu hỏi về sự khôn ngoan và gốc tích của Ngài bằng câu: “Ngôn sứ không bị rẻ rúng ngoại trừ nơi quê hương mình, nơi những người thân thuộc và trong gia đình mình” (Mc 6,4). Đức Giêsu giải thích về việc những người ở quê nhà không tin và không đón nhận giáo huấn của Ngài đến nỗi “Người ngạc nhiên vì sự không tin của họ” (Mc 6,6a).

Đức Giêsu thật ngạc nhiên vì thấy họ không tin. Ngài rất muốn giúp đỡ họ nhưng cũng đành phải bó tay. Họ chỉ biết nhìn Ngài theo lối nhìn bên ngoài đầy thành kiến, chẳng thấy được những điều sâu lắng bên trong, những cái tinh thần cao thượng, những mầu nhiệm thiêng liêng chân thật. Chính những điều sâu xa bí ẩn mới làm ích rất lớn cho con người. Chính những chất màu mỡ nằm ẩn trong đất mới làm cho cây trái, hoa màu trổ sinh tươi tốt, đâm chồi nẩy lộc, nuôi sống muôn người, muôn vật. Chính những kho tàng nằm sâu trong lòng đất, như mỏ dầu, mỏ vàng, mỏ bạc, đồng, sắt, kim cương, đá quý mới là nguồn tài nguyên phong phú giúp phát triển nền văn minh nhân loại. Chính những tài năng thượng đẳng, thiêng liêng trong con người như: tinh thần tự do, trí khôn sáng suốt, ý chí mạnh mẽ, tình cảm nhân từ mới có sức thăng tiến con người hơn chân tay, mắt mũi. Thế nhưng loài người vẫn thích thờ bò vàng óng ánh hơn thờ Thiên Chúa siêu việt. 

Dân làng Nadarét “vấp ngã vì Người”, họ không chấp nhận, họ không thể tin vào Đức Giêsu. Ngài mạc khải cho họ về nguồn gốc thiên sai của mình qua những lời giảng dạy khôn ngoan và các phép lạ, nhưng họ lại chỉ bám lấy thành kiến cố hữu. Chính thái độ bám ghì lấy, không dám buông bỏ những hiểu biết giới hạn nên họ không thể nhận biết Đấng Thiên Sai đang ở giữa họ. Đức Giêsu không thể làm được phép lạ nào tại đó vì họ không tin.

Dân làng Nadarét không tin vì thành kiến. Họ đóng khung Thiên Chúa và tôn giáo trong những định kiến hẹp hòi. Vì thế, họ không thể thấy được những chân trời rộng lớn và mới mẻ mà Đức Giêsu mở ra cho họ. Có ai ngờ Đấng Cứu Thế lại là người đơn sơ, khiêm hạ như thế. Đức Giêsu không sống như một siêu nhân, Ngài sống bình dị như mọi người trong mọi thực tại hằng ngày của cuộc sống gia đình.

Những người đồng hương của Đức Giêsu thật “dại”, thay vì “một người làm quan cả họ được nhờ” nhưng họ lại đánh mất cơ hội khi quan niệm “bụt nhà không thiêng”. Thành kiến kiểu “nhìn mặt là biết số nhà” khiến người ta không ít lần rơi vào sai lầm khi nhìn đến tha nhân.

Chuyện ngày xưa cũng như chuyện ngày nay. Rất nhiều khi người ta phán đoán giá trị lời nói của một người dựa trên bằng cấp, sự giàu có, uy tín của họ, nhiều hơn là dựa vào sự hợp lý, tính chính xác của câu nói ấy. Hễ ai có chức có quyền, có địa vị, có của cải, có học vấn mà nói thì người ta tiên thiên cho rằng họ nói đúng. Còn ai nghèo nàn, rách rưới, thấp cổ bé miệng, ít học mà nói thì người ta tiên thiên cho rằng họ nói sai hoặc chẳng có giá trị gì. Chính vì tâm lý sai lạc này mà các ngôn sứ giả thường được người đời ưu đãi, còn ngôn sứ thật thì thường bị bạc đãi (x. Lc 6,23.26). Lối hành xử như vậy là coi trọng của cải, tiền bạc, chức quyền, địa vị chứ không phải là người coi trọng chân lý, công lý và tình thương. Thực ra, một điều sai trái, dù kẻ nói ra có quyền thế, học vấn hay giàu sang tới đâu thì cũng vẫn là sai trái. Còn một điều đúng, thì dù người nói ra một đứa trẻ, một người nghèo thì cũng vẫn là đúng. Lời nói sai đâu thể biến thành đúng, hay lời nói đúng đâu thể biến thành sai vì thế giá hay trình độ học vấn của người nói ra câu nói đó.

Thành kiến là ý kiến có sẵn từ lâu trong đầu óc, không thay đổi được.Thành kiến có thể là của cá nhân hay của tập thể. Nếu là của tập thể thì nó tích tụ từ lâu đời qua nhiều thế hệ và hầu như không thể thay đổi được. Thành kiến là những nếp suy nghĩ, quan điểm, niềm tin chủ quan sẵn có, thường là tiêu cực đối với một người, một nhóm người dựa trên lối sống, nghề nghiệp, quan điểm chính trị, màu da, sắc tộc, quốc tịch, tôn giáo, giới tính…Thành kiến thường được định hình trong con người theo thời gian, từ trải nghiệm của bản thân, do được tuyên truyền, do thế hệ trước truyền lại, do môi trường sống.Thành kiến là một chứng bệnh di truyền kinh niên bất trị của con người, không ai thoát khỏi. 

Thành kiến là một tâm trạng thiên lệch rất tai hại, là một sự yên trí, phán đoán mọi người mọi vật theo những quan niệm làm sẵn, có sẵn trong đầu óc, nhất là khi những tư tưởng có sẵn đó lại sai lạc, thì có thể đưa đến những hậu quả sai lầm hoặc nguy hại. Ai đeo kính đen nhìn cái gì cũng tối tăm; lưỡi đắng ăn gì cũng đắng; lòng buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Yêu nên tốt, ghét nên xấu. Yêu nhau yêu cả đường đi. Ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng. Thật dễ để nhận ra hay để nói về sai lầm của người khác.

Thành kiến làm cho người ta mù quáng, không nhận định khách quan nên khó có thể đối thoại, cởi mở với người khác, không nhìn thấy cái hay cái tốt nơi tha nhân. 

Tin Mừng hôm nay bắt đầu bằng sự kiện dân làng Nadarét ngạc nhiên khi nghe Chúa Giêsu rao giảng trong hội đường, và kết thúc bằng sự ngạc nhiên của Chúa khi Ngài thấy họ không tin. Làm sao họ không ngạc nhiên được khi lời rao giảng và những dấu lạ Ngài làm tỏ rõ Ngài là Đấng đầy quyền năng và khôn ngoan? Thế nhưng, sự ngạc nhiên ấy không đủ để thay đổi thành kiến của họ về Ngài. Họ không thể chấp nhận một bác thợ bình thường, là người đồng hương họ quen biết, lại là vị ngôn sứ được Thiên Chúa sai đến. Và càng không thể chấp nhận được một con người như Ngài lại cả dám tự xưng mình là Con Thiên Chúa, là Đấng Kitô. Hạnh phúc được tin vào Đức Kitô, đáng lẽ họ nhận được lại bị mất vì một thành kiến.

ĐTC Phanxicô kêu gọi mọi thành phần trong Hội Thánh “không bao giờ đóng kín nơi chính mình, không bao giờ lui về nơi an toàn của mình, không bao giờ chọn thái độ cố chấp hay tự vệ. Nó hiểu rằng nó phải gia tăng sự hiểu biết Tin Mừng và nhận ra các đường lối của Thần Khí, vì vậy nó luôn luôn làm bất cứ điều tốt lành nào có thể, dù trên đường đi, chân nó có thể bị lấm bùn” (Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng, số 45).

Đức Maria được ca tụng là có phúc vì đã tin (Lc 1,45). Chúng ta cũng thật có phúc vì đã tin Chúa Giêsu là Thiên Chúa nhập thể làm người và là Đấng Cứu Thế của nhân loại. Đức tin là ân huệ quý giá nhất trong cuộc đời, nhờ đó, mọi việc, dù nhỏ bé, âm thầm đến đâu, vẫn có ý nghĩa và có thể đem lại niềm vui, bình an cho cuộc đời.

Mỗi ngày sống, chúng ta hãy bày tỏ lòng tri ân Chúa ban cho mình ơn đức tin qua việc chuyên cần cầu nguyện và suy niệm Lời Chúa, cũng như tham dự Thánh Lễ.

Lạy Chúa Giêsu, con cảm thấy hạnh phúc khi đi theo Chúa, khi làm môn đệ Ngài. Xin Chúa giúp con sống tốt tư thế môn đệ ấy. Amen. Về mục lục

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

LÒNG CHAI DẠ ĐÁ

Hiện nay, không ít các lễ hội, các không gian văn hóa tâm linh bị xâm hại một cách vô thức do sự thiếu ý thức của khách hành hương. Không ít điều chướng tai gai mắt xảy ra như cơm bữa ở nhiều lễ hội, hay các khu di tích văn hóa là nơi cần sự tôn nghiêm, trân trọng. Ấy cũng bởi vì đa số khách hành hương đều là những người chỉ đến viếng những nơi tôn nghiêm vì tò mò hoặc vì muốn khoe bộ vó sang trọng, cái vỏ bề ngoài lòe loẹt, chưng diện như một người giàu có, thế lực. Họ không đến những nơi thờ phương Thiên Chúa với một lòng tin. Họ chính là những kẻ được ngôn sứ Ê-dê-ki-en mô tả: “Bấy giờ Đức Chúa phán với tôi: Hỡi con người, hãy đi đến với nhà It-ra-en và nói với chúng những lời của Ta… Nhưng nhà It-ra-en không muốn nghe lời ngươi, bởi vì chúng không muốn nghe lời Ta: quả thật cả nhà It-ra-en đều mặt dày mày dạn, lòng chai dạ đá… Ngươi đừng sợ chúng, có phải giáp mặt chúng cũng đừng khiếp, bỏi vì chúng là nòi phản loạn” (Ed 3,4-8).

Họ là những kẻ “lòng chai dạ đá, mở miệng ra là ngạo mạn khinh đời. Rầm rập tới, kìa chúng đã bao quanh, mắt trừng trừng, như muốn quật con xuống đất, thật giống loài sư tử chực nuốt sống ăn tươi, hệt như con mãnh thú rình rập ở bụi bờ” (Tv 17,9-12). Quả thật họ “lòng chai dạ đá không chịu hối cải, và như vậy họ càng làm cho cơn thịnh nộ của Thiên Chúa chồng chất trên đầu, trong ngày Thiên Chúa nổi cơn thịnh nộ và biểu lộ phán quyết công minh” (Rm 2,5). Chính Đức Giê-su đã nói thẳng vào mặt họ là những kẻ “lòng chai dạ đá” (“Có mấy người Pha-ri-sêu đến gần Đức Giê-su và hỏi rằng: "Thưa Thầy, chồng có được phép rẫy vợ không?" Họ hỏi thế là để thử Người. Người đáp: "Thế ông Mô-sê đã truyền dạy các ông điều gì?" Họ trả lời: "Ông Mô-sê đã cho phép viết giấy ly dị mà rẫy vợ". Đức Giê-su nói với họ: "Chính vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Mô-sê mới viết điều răn đó cho các ông” – Mc 10,2-5).

Tâm lý chung của con người là cứ “trông mặt mà bắt hình dong, con lợn có béo miếng lòng mới ngon”, truy tìm lý lịch dòng dõi “con nhà tông không giống lông cũng giống cánh” để mà … làm quen, bắt mánh, kết thân này nọ. Cái bản tính chuộng vẻ bề ngoài ở đâu thì không biết, chớ còn ở Việt Nam thì thấy rõ lắm. Hễ mở miệng ra là “miếng giữa làng hơn sàng xó bếp”, “một kẻ làm quan, cả họ được nhờ”. Cứ thấy “sang” là y như “bắt quàng làm họ”. Từ đó sinh tật cố tô vẽ cái vẻ bề ngoài cho hào nhoáng để che bớt đi cái “tẩy” bên trong (“Tốt phô ra, xấu xa đậy lại”). Chưa hết! Chẳng những chuộng vẻ bề ngoài, mà còn ‘vọng ngoại’ nữa kia! Anh em trong nhà chia sẻ, bảo ban nhau, thì chẳng ai nghe ai, chẳng ai nhường ai, và anh nào cũng muốn "ăn trên ngồi trốc, quyền lực đầy mình”; đến khi hữu sự phải nhờ người ngoài, nhờ hàng xóm phân xử, thậm chí đưa nhau ra toà, lúc bấy giờ mới bừng tỉnh thấy mình “trắng tay" (“Giấc Nam Kha khéo bất bình, bừng con mắt dậy thấy mình tay không!” – “Cung Oán Ngâm Khúc” – Nguyễn Gia Thiều).

Cũng xuất phát từ tâm lý đó nên mới nảy sinh quan niệm "Gần chùa gọi bụt bằng anh”, "Bụt chùa nhà không thiêng”. Điều này có thể nhìn thấy nơi Chúa Giê-su trong một lần về thăm Na-da-rét. Người đã đi rao giảng khắp nơi (từ Ga-li-lê tới Giê-ru-sa-lem, Pa-lét-tin, Ca-phác-na-um và nhiều nơi khác), nơi nào đặt chân đến, Chúa Giê-su cũng được công chúng đón tiếp nồng nhiệt, trầm trồ khen ngợi vì những lời giảng dạy hết sức ấn tượng, những phép lạ hết sức thuyết phục của Người. Nhưng đến khi về quê hương bản quán thì sự tình lại đổi khác hẳn. Dân làng Na-da-rét, quê hương của Chúa Giê-su, đã có thái độ hết sức thờ ơ, lãnh đạm. Họ không thèm để ý đến cách giảng dạy khôn ngoan, thông thái của Người, mà chỉ chú ý đến dáng vẻ bề ngoài của một chàng thanh niên bình thường con bác thợ mộc Giu-se và bà nội trợ Maria chất phác hiền lành.

Họ bộc lộ bản tính "trông mặt mà bắt hình dong" bằng những lời lẽ khinh bỉ: "Bởi đâu ông ta được như thế? Ông ta được khôn ngoan như vậy, nghĩa là làm sao? Ông ta làm được những phép lạ như thế, nghĩa là gì? Ông ta không phải là bác thợ, con bà Ma-ri-a, và anh em của các ông Gia-cô-bê, Giô-xết, Giu-đa và Si-môn sao? Chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao?" (Mc 6,2-3). Cái tâm lý chuộng vẻ bề ngoài bước đầu hình thành một "thiên kiến", đó là một cách nhìn lệch lạc, không đúng, thiếu khách quan. Từ thiên kiến dần dần trở thành một lăng kính cố hữu (“định kiến”) để nhận xét, đánh giá nhân vật, sự kiện. Lăng kính đó chính là một "thành kiến" bất di bất dịch, khó lòng gột rửa (Theo từ nguyên, “định kiến” hay "thành kiến" có nghĩa là: Ý nghĩ cố định về người hay vật, xuất phát từ cách nhìn sai lệch hoặc dựa trên cảm tính và thường xuyên có chiều hướng đánh giá thấp).

Một khi đã có thành kiến về một vấn đề, một sự kịên hay một nhân vật nào đó, thì khó lòng "xoay cái nhìn ra khỏi cái tôi" cho được. Nó bám chặt vào tâm trí đến gần như trở thành bản năng. Cũng chính vì cái thành kiến đè nặng trên lương tri dân làng Na-da-rét làm cho họ không tin vào những lời giảng dạy hết sức thuyết phục của một Đấng có thẩm quyền, khiến cho "Người đã không thể làm được phép lạ nào tại đó" (Mc 6,5). Mới thoạt nghe tới đây, chắc ai cũng nghĩ rằng với quyền năng của Thiên Chúa thì điều "không thể" cũng sẽ trở thành "có thể", chẳng có việc gì Người không làm được. Vậy tại sao Đức Giê-su Thiên Chúa lại không làm được phép lạ tại đó? Vấn đề cũng không đến nỗi khó trả lời. Thực ra, Đức Ki-tô đã "giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền" thì Người cũng làm được phép lạ ở bất cứ nơi nào, trong bất cứ trường hợp nào. Sở dĩ Người không làm phép lạ nào tại Na-da-rét, bởi vì Người thấy rõ là "họ không tin", mà một khi họ đã cứng lòng không tin thì dù Người có làm bao nhiêu phép lạ cũng vô ích mà thôi.

Mấu chốt vấn đề chính là ở điểm này: Người bệnh – nhất là những chứng bệnh thụôc lãnh vực tâm linh – dù có tìm được những thầy thuốc siêu đẳng, cũng không thể khỏi bệnh nếu không có lòng tin vào thầy thuốc đó. Khi người thầy thuốc đó là Thiên Chúa thì cũng vậy thôi. Không thiếu những trường hợp vì yếu (hoặc không có) lòng tin, đến khi vấp ngã thì đã muộn. Nhìn vào gương các Tông đồ tiên khởi thì đủ rõ: Các ngài tin Thầy mình là Đấng quyền năng có thể làm cho các ngài "trở thành những kẻ lưới người như lưới cá" nên mới theo Người. Theo Người và tuyên xưng Người là Đấng Mê-si-a – là Thiên Chúa thật – nhưng trong lòng vẫn bán tín bán nghi, và phải chờ đến khi được Thầy ban Thần Khi (vào ngày Lễ Ngũ Tuần) mới trở thành những người sẵn sàng chết cho đức tin của mình. Trong 12 môn đệ tiên khởi thì lại có một Giu-đa Ít-ca-ri-ốt vấp ngã vì không có lòng tin; chẳng những thế, khi phạm tội đã được Thầy "nhìn lại" mà vẫn không hối cải, để cuối cùng lại phạm thêm một tội tày trời: Huỷ hoại công trình tạo dựng của Thiên Chúa (treo cổ tự tử – Mt 27,1-5).

Vấn đề đã sáng tỏ như lời dạy của Thánh Au-gút-ti-nô: "Để dựng nên ta, Thiên Chúa không cần đến ta, nhưng để cứu rỗi ta, Thiên Chúa không thể làm được nếu ta không cộng tác với Ngài". Vì thế cho nên "Người đã không thể làm được phép lạ nào tại đó; Người chỉ đặt tay trên một vài bệnh nhân và chữa lành họ. Người lấy làm lạ vì họ không tin" (Mc 6,5-6). Với những người dân làng bình thường không tin vào Đức Ki-tô thì còn có thể hiểu được, nhưng đến cả những người bệnh được chữa khỏi mà cũng không tin thì quả thật... hết biết! Và vì thế mới khiến cho một vị Thiên sai là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật phải "lấy làm lạ" và cuối cùng chua chát thốt lên: "Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi" (Mc 6,4). Thế đấy!  

Thực ra, cũng không phải chỉ riêng dân làng Na-da-rét mới có cái nhìn sai lệch về Thiên Chúa; mà kể cả dân tộc Do Thái từ trước đó hàng mấy thế kỷ cũng nổi loạn chống lại Thiên Chúa vì cái thành kiến đè nặng trên lương tri họ ("Người phán với tôi: "Hỡi con người, chính Ta sai ngươi đến với con cái Ít-ra-en, đến với dân phản nghịch đang nổi loạn chống lại Ta; chúng cũng như cha ông đã nổi lên chống lại Ta mãi cho đến ngày nay. Những đứa con mặt dày mày dạn, lòng chai dạ đá" – Ed 2,3-4). Ôi chao! Cứ tưởng đó chỉ là truyện cổ tích xảy ra cách đây hơn 20 thế kỷ, nào ngờ ở cái thời đại văn minh tiến bộ vượt bậc ngày nay vẫn còn không ít cảnh "Những đứa con mặt dày mày dạn, lòng chai dạ đá" vì cái thành kiến "made in Nazareth, made in Israel" sống nhởn nhơ trên khắp địa cầu.

Ôi! Lạy Chúa! Con biết rằng cái bản tính cố chấp hẹp hòi của loài người đã định vị trong con một cách nhìn lệch lạc, không đúng đắn, thiếu khách quan về con người, sự vật hay sự kịên. Cái thành kiến ấy khiến con nhìn một công trình bằng gỗ thì chỉ chú ý đến nước sơn choáng lộn bên ngoài, mà không cần biết đến chất lượng gỗ bên trong; con đã quên mất rằng "tốt gỗ hơn tốt nước sơn". Hơn thế nữa, khi nhìn anh em, con chỉ chú ý đến vẻ đẹp tô son trét phấn, áo quần loè loẹt bên ngoài, mà quên mất rằng "cái nết đánh chết cái đẹp", quên  mất rằng con người cũng chẳng khác một bông hoa "hữu xạ tự nhiên hương" (có mùi thơm thì tự nhiên có hương toả bay, còn nếu đã không có hương thơm thì cái sắc hoa bên ngoài cũng trở thành vô vị mà thôi). Cái thành kiến ấy đã khiến con gặp không ít trường hợp "tốt mã dẻ cùi" (ví kẻ chỉ có cái đẹp trau chuốt bề ngoài giống như loài chim "dẻ cùi tốt mã, dài đuôi"), và chỉ đến lúc đó, con mới thấy sáng mắt, mới thấy "bừng con mắt dậy, thấy mình... vô duyên!"

Ôi! Lạy Chúa! Khi nhìn ra  được những sai lầm, con rất muốn tẩy rửa tâm hồn cho sạch mọi vết nhơ của những thành kiến đã trở thành định kiến trong con, con rất muốn thay đổi cách nhìn, cách suy nghĩ, nhận định thiển cận của con. Nhưng, lạy Chúa! Con lại cũng biết rằng con người của con thật mỏng giòn yếu đuối nhưng lại rất bảo thủ, khó lòng mà "xoay cái nhìn ra khỏi cái tôi" cố hữu được. Vì thế, cúi xin Chúa ban Thần Khí khơi dậy Lửa Mến trong lòng con, soi sáng và hướng dẫn con tẩy rửa con người trong Nước và Thánh Thần như Lời Chúa đã hứa năm xưa. Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen. Về mục lục

JM. Lam Thy ĐVD

HÃY RAO GIẢNG TIN MỪNG, DÙ GẶP ĐIỀU BẤT LỢI

Phụng vụ lời Chúa hôm nay giúp chúng ta khám phá những cảm xúc từ Trái Tim Chúa Giêsu đối với những người đồng hương khi vào hội đường rao giảng. Thánh sử Marcô viết rằng, Chúa Giêsu "ngỡ ngàng về sự cứng lòng tin của họ" (Mc 6,6). Đây là một bất lợi cho chính Chúa Giêsu, một đàng có các môn đệ theo cùng về quê, đàng khác ngay tại quê hương, Thầy mình cũng không được đón nhận, vậy tương lai công việc của họ theo Thầy sẽ ra sao? Hẳn các môn đệ Chúa cũng sửng sốt về sự thiếu lòng tin của những người đồng hương với Thầy Giêsu và phản ứng của Thầy sau này nữa. Sự ngạc nhiên của Chúa Giêsu tương ứng với sự sửng sốt của những người đồng hương, theo một nghĩa nào đó cũng lấy làm đau buồn! Mặc dù Chúa biết không tiên tri nào được đón nhận nơi quê hương, nên Người đã thốt lên câu nói để đời  "Không một tiên tri nào mà không bị khinh bỉ ở quê hương, gia đình họ hàng mình", nghĩa là không có tiên tri nào được đón nhận nơi những người đã nhìn thấy tiên tri ấy sinh ra và lớn lên (x. Mc 6,4).

Cứ sự thường, khi người ta đã nghe biết những việc Chúa Giêsu làm, lẽ ra họ phải chào đón Người bằng tình yêu và lòng mến, hay hơn thế là hồ hởi lắng nghe lời Chúa Giêsu giảng dạy với lòng thán phục. Điều ngược lại là sự thật : "Họ sửng sốt về giáo lý của Người" (Mc 6,3). Những người đồng hương của Chúa "sửng sốt" vì sự khôn ngoan của Chúa, một loạt câu hỏi được đặt ra : "Bởi đâu ông này được như vậy? Sao ông được khôn ngoan như vậy? Bởi đâu tay Người làm được những sự lạ thể ấy? Ông này chẳng phải bác thợ mộc con bà Maria, anh em với Giacôbê, Giuse, Giuđa và Simon sao? Chị em ông không ở với chúng ta đây sao?" Sự gần gũi, thân thiện gia đình, tình làng nghĩa xóm ấy làm cho họ ngạc nhiên. Từ ngạc nhiên bởi sự khôn ngoan và lời nói thốt ra từ miệng Người, cũng như các phép lạ Người làm tại Galilê sang từ chối, khiến họ không nhận ra Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa làm người ở giữa làng họ và họ "vấp phạm vì Người" (Mc 6,3).

Thiên Chúa muốn làm người để cảm thông, thân thiện, chia sẻ thân phận hèn mọn của con người. Nhưng xót xa thay! Chính điều Thiên Chúa muốn gần con người lại là điều làm con người vấp phạm.

Thánh Bernard nói rất hay khi viết: "Con Thiên Chúa đã đến và làm những điều kỳ diệu trong thế giới này, Người xé nát tâm trí chúng ta từ tất cả những điều trên thế gian, để chúng ta suy niệm và không bao giờ ngừng ca tụng những kỳ quan của Chúa. Người mỡ cho chúng ta những chân trời vô tận và dòng sông ý tưởng tuyệt vời, dồi dào đến mức không bao giờ vơi cạn. Có ai hiểu lý do tại sao Đấng uy nghi tối thượng muốn chết để ban cho chúng ta sự sống, để phục vụ cho chúng ta, Người đã sống lưu vong để mang chúng ta trở về quê trời, Người đã hạ thấp bản thân mình, nhận lấy những điều hèn hạ và bình thường nhất để nâng con người chúng ta lên? "

Thời nào cũng thế, thế gian không ưa các tiên tri. Trong Cựu Ước, nhiều vị đã phải chết vì sứ vụ của mình. Như Giêrêmia, Dacaria và nhiều vị khác. Còn tiên tri Êlia chỉ nhờ chạy trốn mới có thể thoát chết. Chúa Giêsu cũng không đi ngoài qui luật ấy. Tuy nhiên, dù bị đe dọa, Chúa Giêsu không nao núng. Dù bị một số người khước từ, Lời của Chúa vẫn được loan truyền đi khắp nơi và không gì có thể ngăn cản Người được.

Chúng ta sống trong một thế giới bất tín và dửng dưng. Nhưng chính trong môi trường khước từ siêu nhiên như thế mà chúng ta được sai đến như các tiên tri của Chúa. Tiên tri là phát ngôn nhân, là người nói thay cho Thiên Chúa. Sứ vụ của tiên tri là loan báo Tin mừng và chứng nhân mang đến niềm hy vọng và các giá trị kitô giáo cho những nơi vắng bóng và thù địch với niềm tin kitô.

Tin mừng hôm nay cho chúng ta thấy Chúa Giêsu dấn thân vào sứ vụ loan báo Tin mừng cho người nghèo khó mà Thiên Chúa Cha đã giao phó. Người đã đi vào một môi trường hòan toàn bất lợi và xung khắc với Người, nhưng Người đã không lùi bước, trái lại, Người đã trung thành cho đến giây phút cuối cùng. Còn chúng ta, vì đã được rửa tội và thêm sức, tất cả chúng ta được liên kết vào trong sứ vụ ấy. Và cũng như Người, có thể chúng ta sẽ gặp chống đối. Mang trong mình chứng từ của tình yêu cứu độ của Thiên Chúa, ngày nay, người kitô hữu dễ bị phê phán và bị chế nhạo, và phải đi ngược dòng với tâm tưởng của thế gian. Nhưng nếu chúng ta trung thành với Đức Kitô, thì không gì có thể tách rời chúng ta khỏi tình yêu của Người. Lời Người là lời mang lại sự Sống đời đời. Khi tiếp nhận Lời, chúng ta có thể giữ được niềm hy vọng trong ta.

Lạy Chúa, xin ban ơn can đảm cho chúng con, đễ dầu gặp khó khăn thử thách, chúng con vẫn nhất quyết đem Tin Mừng của Chúa đến với anh chị em chúng con. Amen. Về mục lục

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

THÓI KIÊU NGẠO VÀ ĐỊNH KIẾN ĐÃ CẢN TRỞ ƠN CỨU ĐỘ

Khi Đức Giêsu đến trần gian, Ngài đã tuyệt đối trung thành với sứ vụ Thiên Sai của mình, vì thế, khi tiếp xúc với dân chúng, Đức Giêsu đã can đảm, trung thành với sứ vụ. Luôn tỏ ra là một Vị Thiên Chúa sẵn sàng khích lệ, đồng hành, cảm thông và xót thương con người. Dạy dỗ và làm nhiều phép lạ nhằm loan báo Mầu Nhiệm Cứu Chuộc cho dân để họ sám hối, tin theo và được cứu chuộc.

Tuy nhiên, khi thi hành sứ vụ, Đức Giêsu đã gặp phải rất nhiều thử thách đầy cam go do chính những người đồng hương với Ngài gây nên. Những thử thách đó khởi đi từ sự kiêu ngạo, tự phụ và thành kiến của người đồng hương.

Tuy nhiên, khi đối diện với những vấn đề như vậy, Đức Giêsu đã không chùn bước, nhưng Ngài vẫn luôn trung thành cách trọn vẹn thánh ý Thiên Chúa Cha đã trao gửi cho  Ngài trong sự khiêm tốn và can đảm.

1. Nguyên nhân dẫn đến việc cản trở Đức Giêsu khi Ngài trở về quê hương

Hôm nay, thánh sử Máccô thuật lại việc Đức Giêsu trở về quê hương của Ngài. Trong chuyến thăm quê lần này, cũng giống như những lần khác, Ngài vẫn vào hội đường và cầu nguyện cũng như thi hành sứ vụ Thiên Sai của mình.

Tuy nhiên, Dân Do thái vốn dĩ là một dân cứng đầu, dễ nổi loạn chống đối lại Thiên Chúa. Họ luôn thách thức Thiên Chúa khi Người không đáp ứng nhu cầu của họ. Hơn thế nữa, họ rất coi trọng nguồn gốc sáng giá của một con người.

Bởi thế, thán phục các phép lạ, nhưng lại coi thường Đức Giêsu vì Ngài xuất thân trong một gia đình không mấy nổi nang! Điều này chính những người Do thái đã thắc mắc: cha ông không phải là Giuse, mẹ ông chẳng phải là bà Maria sao? vì thế, họ không tôn trọng Ngài.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên không là gì khác, đó chính là sự kiêu ngạo của những người đồng hương.

Tại sao vậy? Thưa, sự kiêu ngạo đã là đó ngáng chỗ và lòng kiêu căng đã chiếm mất chỗ của Chúa trong cuộc đời của họ.

Trước thái độ trên, Đức Giêsu đã tuyên bố một câu mà muôn đời vẫn giữ nguyên giá trị: đó là: “Tiên tri không bao giờ được tôn trọng trên chính quê hương mình”.

Qủa đúng như vậy, vì, xét theo lẽ tự nhiên, một con người dù tài giỏi đến đâu, làm việc hiệu quả thế nào, và thành đạt trên nhiều lãnh vực hay nhiều nơi đi nữa, thì khi trở về gia đình, quê hương, họ luôn bị chính những người thân cận, làng xóm coi ở mức độ “thường thường bậc chung” vì lối suy nghĩ thiển cận, nên: “Gần chùa gọi bụt bằng anh”.

Điều này Đức Giêsu đã trải qua khi Ngài trở về quê hương của mình!

Nhưng sự coi thường đáng tiếc này đã khiến cho ơn cứu độ của Thiên Chúa vuột mất khỏi họ, và suốt bao thế kỷ, họ vẫn đang chờ đợi một Đấng Kitô khác chứ không phải Đức Giêsu, Đấng đã hiện diện giữa họ cách đây hơn 2.000 năm.

2. Thực trạng kiêu ngạo của con người hôm nay

Thực trạng ấy nơi những người đồng hương với Đức Giêsu khi xưa, hôm nay vẫn còn đây đó nơi chúng ta, vì: thói ích kỷ, kỳ thị, chấp nhất, định kiến, ác cảm, nên ta hay giam người anh chị em mình trong quá khứ hay “tạc tượng” họ trong một lối nhìn tiêu cực và không bao giờ cho họ cơ hội để mở ra một tương lai tốt đẹp hơn....

Lý do họ không nhìn anh chị em mình dưới lăng kính màu hồng, mà toàn màu đen, bởi mắt họ đang đeo cặp kính râm của sự kiêu ngạo! Vì thế, lối suy nghĩ nông cạn, vu vơ và trống rỗng đã dẫn đến việc đánh giá, đối xử lệch lạc và thiếu công bằng cũng như bất nhân. Quả đúng là: “Yêu ai thì nói quá ưa – Ghét ai nói thiếu nói thừa như không”; hay ”Yêu ai yêu cả đường đi, ghét ai ghét cả tông chi họ hàng”.

Những người nông nổi như vậy, họ đâu có hiểu được rằng: “Sông có khúc, người có lúc”.

Thật vậy, có người bị coi là không tốt, đồ bỏ, vứt đi ở chỗ này, nhưng họ lại được nhiều người coi trọng và kính nể ở một nơi khác.... Còn có nhiều người được xem là nhẹ nhàng, tao nhã, lịch thiệp chốn quan trường, ngoài xã hội, nhưng khi về đến gia đình, họ lại là kẻ bất nhân, vô liêm sỉ với người thân. Mở miệng ra là quát tháo, chửi bới nên “thượng thẳng tay, hạ thẳng chân” với anh chị em họ. Những người này thuộc hạng “khôn nhà dại chợ”; “làm phúc nơi nao để cầu ao rách nát”; ... hay có những người ăn nói ngọt như đường mía lau, nhưng thực ra họ thuộc dạng: “Đội trên, đạp dưới” nên tâm địa bỉ ổi, xấu xa chẳng khác gì kẻ: “Miệng thì thơn thớt nói cười, mà trong nham hiểm giết người không dao”. Hay như Mc Kenzie nói :”Người có tình yêu nhìn bằng viễn vọng kính, còn người ghen tị thì nhìn bằng kính hiển vi”.

3. Sống sứ điệp Lời Chúa

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay vừa nhắc nhở, vừa mời gọi chúng ta ý thức sứ mạng ngôn sứ cũng như lối sống và cách thức loan báo Tin Mừng!

Trước tiên, sứ mạng ngôn sứ được trao ban cho chúng ta ngày lãnh nhận Bí tích Rửa Tội. Sứ mạng ấy càng thôi thúc mãnh liệt khi chúng ta lãnh nhận Bí tích Thêm Sức.

Vì thế, mỗi người phải có trách nhiệm loan báo Lời Chúa, thi hành sứ mạng ở mọi nơi, mọi lúc, dù: “Thuận tiện hay không thuận tiện”; được ủng hộ hay chống đối, được đón nhận hay bị khước từ, được tôn vinh hay giết chết.... Mặt khác, khi thi hành sứ vụ, chúng ta không thể chọn lựa theo ý mình, mà phải nói và làm điều Thiên Chúa muốn một cách trung thành (x. 1Cr 9,15-16); không được giả hình và bóp méo Lời Chúa (x. 2Cr 11,10 ; 13,8).

Thứ đến, khi thi hành sứ vụ, cần nhớ nằm lòng câu nói của Đức Giêsu: “Không ngôn sứ nào được kính trọng nơi quê hương mình”.

Cần nhớ rõ một điều, chúng ta đi đến đâu, làm bất cứ điều gì, sẽ có 30% người ủng hộ. 30% người chống đối, loại trừg, số còn lại dửng dưng. Đây cũng chính là số phận và cái giá phải trả của Đức Giêsu khi thi hành sứ vụ.

Bởi vì làm ngôn sứ không phải là chuyện đơn giản, mà là: “Vô cùng phong nhiêu”, phúc tạp! Vì Lời Chúa một đàng là lời tình yêu, nhưng một đàng là lời cật vấn lương tâm, vạch trần tội ác, bất công, gian dối, hình thức..., nên:  “Nếu thế gian ghét các con, thì hãy nhớ rằng họ đã ghét Thầy trước …. Đầy tớ không lớn hơn chủ mình. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, thì họ cũng sẽ bắt bớ các con” (Ga 15,18-20).

Thật vậy, sứ mạng ngôn sứ đòi chúng ta chấp nhận lội ngược dòng, không thể sống theo phong trào hay “hiệu ứng đám đông”. Đôi khi chấp nhận điên vì sứ vụ, khùng Tin Mừng, khi dám nói lên tiếng nói công lý, công bằng ngay tại những nơi nguy hiểm như: sòng bài, quán rượu, quán karaokê…, nơi những con người đang “quậy” tứ tung hay “điên cuồng” trong những cuộc chơi bất chính....

Khi lựa chọn như thế, sự lẻ loi, cô lập và chống đối hay phải thí mạng là lẽ đương nhiên!

Mong sao, sứ mạng và số phận ngôn sứ của Đức Giêsu trong thời của Ngài, cũng là của chúng ta trong thời đại hôm nay.

Ước gì vì: “Nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà tôi đây sẽ phải thiệt thân” là lựa chọn của mỗi người Kitô hữu, vì: “Tình yêu Đức Kitô thúc bách chúng ta” nên chúng ta “được Chúa kêu gọi để tỏa sáng như các vì sao  giữa lòng thế giới tối tăm này” (Pl 2,15).

Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con sự khiêm nhường và tình yêu của Chúa, để chúng con yêu cả những người thù ghét mình. Xin ban sức mạnh của Chúa, để chúng con can đảm, vững bước trên con đường thi hành sứ vụ.

Xin cho chúng con mặc lấy lòng bao dung, nhân hậu của Chúa, để chúng con đón nhận anh chị em chúng con trong tình Chúa và tình người. Amen. Về mục lục

Tu sĩ: Jos. Vinc. Ngọc  Biển, S.S.P.

Người ta nói: “Quen sợ dạ, lạ sợ áo”. Dạ là bề trong, áo là bề ngoài. Quen nhau càng lâu thì người ta càng biết tính nhau, ai thẳng ai cong cũng thể hiện phần nào (chứ chẳng bao giờ hiểu hết nhau). Sợ hay không là ở “điểm” đó. Còn với người lạ (hoặc chưa quen), người ta thường nhìn vào bề ngoài mà “đánh giá” – dù biết rằng “chiếc áo không làm nên thầy tu” hoặc “tốt danh hơn lành áo”. Nhưng con người là thế, ít nhiều cũng bị chi phối bởi ngoại tại. Do đó mà người ta sẵn sàng mua danh, mua tước, thích vênh vang khoe mẽ, ỷ lại. Thậm chí có kẻ còn ngông tới mức “chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng”.

Trong cuộc sống, khi đề cập vấn đề “không hay”, người ta thường nói: “Đèn nhà chưa tỏ, ngoài ngõ đã hay”. Và chúng ta cũng nghe nói: “Giòi từ trong xương giòi ra”. Nghĩa là người ngoài có biết “chuyện kín” của gia đình thì cũng do chính các thành viên trong gia đình đó “xì” ra. Chứ đèn trong nhà chưa tỏ làm sao ngoài ngõ đã hay? Không nói ra thì chẳng ai bảo mình câm, nhưng nói ra rồi thì rõ mười mươi, mà những kẻ “nói như sáo” thường là những “chiếc thùng rỗng” to lớn – ngày nay gọi là “ngu chảnh”. Kinh Thánh xác định: “Sống hay chết đều do cái lưỡi, ai yêu chuộng nó, sẽ lãnh nhận hậu quả” (Cn 18:21).

Sự khôn – dại khác xa nhau: “Dạ người khôn ở nơi tang tóc, lòng kẻ dại ở chốn vui chơi” (Gv 7:4). Cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) nói: “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ, người khôn người đến chốn lao xao” (thi phẩm Cảnh Nhàn). Và còn hơn thế nữa, tác giả sách Giảng Viên cho biết: “Trong cuộc đời phù du của tôi, tôi đã thấy hết cả: có người công chính bị tiêu vong dầu đã sống công chính, có kẻ gian ác lại được sống lâu dầu đã làm điều ác” (Gv 7:15). Nhiêu khê quá! Chuyện đời thường có những chuyện rất bình thường nhưng cũng… rất khác thường, có loại nghịch-lý-thuận và thuận-lý-nghịch mà trí tuệ phàm nhân thô thiển không thể hiểu hết!

Ngày xưa, một thần khí đã nhập vào ngôn sứ Êdêkien đúng như lời Chúa phán với ông và làm cho chân ông đứng vững, y như lời Chúa đã báo trước: “Hỡi con người, hãy đứng cho vững, Ta sắp nói với ngươi đây” (Ed 2:1). Ngài gọi ông là “con người”. Và Ngài chỉ nói thôi mà con người phải chuẩn bị tinh thần trước kẻo run sợ. Thiên Chúa phán với ông: “Hỡi con người, chính Ta sai ngươi đến với con cái Ít-ra-en, đến với dân phản nghịch đang nổi loạn chống lại Ta; chúng cũng như cha ông đã nổi lên chống lại Ta mãi cho đến ngày nay” (Ed 2:3).

Chính “dân phản nghịch” đó cũng là chúng ta ngày nay. Thiên Chúa gọi chúng ta là “những đứa con mặt dày mày dạn, lòng chai dạ đá”, và chính Thiên Chúa sai Tiên tri Êdêkien đến thông báo cho dân chúng biết những lời “Đức Chúa là Chúa Thượng phán dạy”. Thiên Chúa nói: “Chúng vốn là nòi phản loạn, chúng có thể nghe hoặc không nghe, nhưng chúng phải biết rằng có một ngôn sứ đang ở giữa chúng” (Ed 2:5). Ngài hoàn toàn cho chúng ta tự do, nghe hay không là tùy ý, nhưng vẫn phải nhận biết những “dấu chỉ” mà Ngài cho phép xuất hiện, đôi khi các “dấu chỉ” đó rất bình thường nên chúng ta dễ coi thường và bỏ qua. Thiên Chúa không muốn cầu kỳ, Ngài muốn giản dị để chúng ta dễ hiểu.

Thế nhưng chúng ta lại chỉ là loài phàm phu tục tử, đôi khi có mắt mà như không tròng, mặc dù hằng ngày chúng ta vẫn “ngước mắt hướng nhìn lên Chúa, Đấng đang ngự trên trời” (Tv 123:1), và “như mắt của gia nhân hướng nhìn tay ông chủ, như mắt của nữ tỳ hướng nhìn tay bà chủ, mắt chúng ta cũng hướng nhìn lên Chúa là Thiên Chúa chúng ta, tới khi Ngài xót thương chút phận” (Tv 123:2). Rất tha thiết khi cầu xin cho chính mình. Tuy nhiên, đôi khi chúng ta lại ích kỷ ngay trong lúc cầu nguyện. Thế mới chết. Đúng như Kinh Thánh đã xác định: “Vàng bạc trân châu: nhiều vô kể, miệng lưỡi thông thái: thật hiếm hoi!” (Cn 20:15). Không hề đơn giản!

Không đơn giản có thể là bình thường, mà cũng có thể là phức tạp. Thông thái không phải để làm chuyện to, việc lớn, mà là để nhận biết Thiên Chúa: “Xin cho con được trí thông minh, để vâng theo luật Ngài và hết lòng tuân giữ. Xin ban trí thông minh, để con được am tường thánh ý” (Tv 119:34 và 125). Quả thật, không có Chúa thì chúng ta chẳng làm được trò trống gì (x. Ga 15:5). Mà ai trong chúng ta có làm được gì “khác” hoặc (có vẻ) “hơn” người một chút thì cũng chẳng được người khác công nhận, thậm chí còn bị ghen ghét và bị miệt thị. Tệ hại thay là người đó còn bị chính thân nhân và bạn bè xa lánh. Cuộc sống đời thường cho chúng ta thấy có những người khi “ra ngoài” thì được nhiều người khâm phục và ca tụng, nhưng khi về quê nhà thì bị dân làng và người thân nhìn bằng nửa con mắt. Thế cũng may lắm rồi, chứ người đó còn bị chê trách và xa lánh nữa kìa!

Là con người bình thường với đầy đủ thất tình (bảy cảm xúc của con người: Hỉ, Nộ, Ai, Lạc, Ái, Ố, Dục), tất nhiên họ cũng không thoát khỏi những lúc cô đơn và u buồn não lòng, thậm chí họ cũng chẳng dám làm gì thêm. Thế nên họ chỉ còn biết đêm ngày than thở với Chúa: “Dủ lòng thương, lạy Chúa, xin dủ lòng thương, bởi chúng con bị khinh miệt ê chề; hồn thật quá ê chề vì hứng chịu lời nhạo báng của phường tự mãn, giọng khinh người của bọn kiêu căng” (Tv 123:3-4). Cuộc đời vẫn có những nghịch lý không thể giải thích, như tác giả sách Giảng Viên tâm sự: “Trong cuộc đời phù du của tôi, tôi đã thấy hết cả: có người công chính bị tiêu vong dầu đã sống công chính, có kẻ gian ác lại được sống lâu dầu đã làm điều ác” (Gv 7:15).

Phàm nhân yếu đuối – vì YẾU mà hóa ĐUỐI. Vậy mà con người vẫn thường tỏ ra kiêu căng và tự mãn, trong khi kiêu ngạo chính là “mối tội” hàng đầu trong bảy mối tội. Người ta dễ ảo tưởng và kiêu ngạo hơn nếu có được chút tài năng nào đó bẩm sinh (thiên phú, thiên bẩm, chứ chưa hẳn là thiên tài), mà quên rằng đó là nhờ ơn Chúa, vì họ cứ tưởng mình hơn người, là “cái rốn” của vũ trụ, là niềm mơ ước của người khác. Vì thế, rất cần liệu pháp để chữa kiêu ngạo, đó là đức khiêm nhường: “Khiêm nhường chớ kiêu ngạo” (Kinh “Cải Tội Bảy Mối”).

Liên quan động thái kiêu ngạo, Thánh Phaolô tâm sự: “Để tôi khỏi tự cao tự đại vì những mặc khải phi thường tôi đã nhận được, thân xác tôi như đã bị một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của Satan được sai đến vả mặt tôi, để tôi khỏi tự cao tự đại” (2 Cr 12:7). Chính thánh nhân tự thú: “Đã ba lần tôi xin Chúa cho thoát khỏi nỗi khổ này” (2 Cr 12:8). Nhưng Chúa vẫn “làm ngơ”, và còn quả quyết với thánh nhân: “Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (2 Cr 12:9a).

Thật kỳ lạ: Mạnh mà hóa yếu; yếu mà lại mạnh. Thiên Chúa luôn có những kiểu “ngược đời” hoàn toàn khác phàm nhân chúng ta. Khả dĩ cảm nhận sâu sắc điều đó, Thánh Phaolô chia sẻ: “Tôi rất VUI MỪNG và TỰ HÀO vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Kitô ở mãi trong tôi” (2 Cr 12:9b). Và ông còn hãnh diện cho biết thêm: “Tôi cảm thấy VUI SƯỚNG khi mình yếu đuối, khi bị sỉ nhục, hoạn nạn, bắt bớ, ngặt nghèo vì Đức Kitô. Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2 Cr 12:7-10). Cuộc sống có nhiều thứ tưởng chừng là nghịch lý mà lại thuận lý, “khôn – dại” là một trong các dạng đó: “Dạ người khôn ở nơi tang tóc, lòng kẻ dại ở chốn vui chơi” (Gv 7:4)

Kinh Thánh cho biết rằng có một dịp Chúa Giêsu cùng các môn đệ về thăm Nadarét (Mc 6:1-6; Mt 13: 53-58; Lc 4:16-30). Đó là “nơi chôn nhau cắt rốn”, quê quán của Ngài. Đến ngày sa-bát, Ngài bắt đầu giảng dạy trong hội đường. Nhiều người nghe rất đỗi ngạc nhiên về những lời nói khôn ngoan của Ngài, cho nên họ bàn tán: “Bởi đâu ông ta được như thế? Ông ta được khôn ngoan như vậy, nghĩa là làm sao? Ông ta làm được những phép lạ như thế, nghĩa là gì?” (Mc 6:2). Họ hỏi nhau vậy vì họ không muốn tin vào những gì họ chứng kiến tỏ tường, vả lại họ biết tỏng Chàng Giêsu kia là ai. Còn ai trồng khoai đất này nữa? Đúng vậy, Chàng Giêsu chỉ là con trai Bác thợ mộc Giuse và Cô Maria, gia đình nghèo rớt mồng tơi, ai mà không biết, cũng là anh em họ của mấy anh chàng tên Giacôbê, Giôxết, Giuđa và Simôn, cũng là anh chị em với bà con lối xóm chứ chẳng ai xa lạ. Quen mà!

Ôi chao, thế thì làm sao mà tin được, làm sao mà coi trọng được, làm sao mà tâm phục khẩu phục khi Chàng Giêsu đã từng sống ở cái làng Nadarét nhỏ bé, từng làm mộc với Bác Giuse, và từng chơi đùa với họ chứ? Vì thế, họ dè bỉu Ngài, khinh miệt Ngài, đến nỗi Ngài đã không thể làm được phép lạ nào tại đó (Mc 6:5). Quen quá hóa lờn, phàm nhân tồi tệ vì định kiến là thế. Do đó có những người đã “vấp ngã vì Ngài” (Mc 6:3).

Ngài “đi guốc” trong bụng họ và biết tỏng họ đang nghĩ gì nên Ngài nói thẳng với họ: “Ngôn sứ có bị rẻ rúng thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi” (Mc 6:4). Cách nói nhẹ nhàng mà thâm thúy quá, xoáy vào tận đáy lòng sâu thẳm của mọi người. Chuyện đời thường như thế và vẫn hằng ngày xảy ra khắp nơi, từ thôn quê tới thành thị, từ người nhỏ tới người lớn, từ thường nhân tới người có chức tước, từ người ít chữ tới người nhiều chữ, từ người đời tới người có niềm tin tôn giáo,… Người ta vẫn thường nhìn nhau bằng những “ánh mắt mang hình viên đạn”, dành cho nhau những lời nói “sắc như dao cau”, với những ánh mắt “giết người không cần dao”,… Một phần cũng là kiểu “con gà tức nhau tiếng gáy”, đồng thời cũng chỉ vì định kiến, nếp nghĩ thiển cận và cổ hũ.

Cuối cùng, Thánh Mác-cô xác định: “Ngài đã không thể làm được phép lạ nào tại đó, chỉ đặt tay trên một vài bệnh nhân và chữa lành họ” (Mc 6:5). Về quê mà chẳng vui gì! Chúa Giêsu còn “bó tay” trước động thái của những người đồng hương huống chi chúng ta, những người không đáng xách dép cho Ngài. Thiên Chúa vẫn luôn tôn trọng tự do của con người, dù họ nghĩ xấu về Ngài.

Vấn dĩ xưa nay vẫn thế, thời nào cũng vậy, nhưng có lẽ ngày nay người ta coi trọng bề ngoài và “ưa xét” về vật chất hơn. Người nghèo nói chẳng ai nghe, có nói đúng cũng hóa sai; người giàu nói gì cũng được lắng nghe, có nói sai cũng hóa đúng. Kinh Thánh nói sự thật phũ phàng: “Trí khôn ngoan hơn cả sức mạnh, nhưng cái khôn của người nghèo lại bị khinh dể, lời người ấy nói chẳng ai chịu lắng nghe” (Gv 9:16). Tục ngữ Việt Nam ví von: “Cả vú lấp miệng em”. Người giàu có thể biến đen thành trắng, có tội thành vô tội, thậm chí có thể mua chuộc cả công lý. Có thể nghèo không là tội nhưng lại là “cái vạ” – và cũng là “cái họa”. Tục ngữ Việt Nam so sánh: “Văn hay chữ tốt không bằng ngu dốt lắm tiền”. Một sự thật quá phũ phàng vẫn xảy ra trong xã hội loài người!

Chắc chắn có một sự thật minh nhiên: Chúa Giêsu nói đúng và làm hay, nhưng chỉ vì “cái nghèo” nên Ngài không được người ta nghe lời, thậm chí còn bị ném đá, rồi bị kết án tử và chịu chết nhục nhã trên thập giá. Chính Ngài cũng ngạc nhiên khi thấy “họ không tin” (Mc 6:6). Chúng ta là môn sinh, là tôi tớ, là bụi tro, là tội nhân,… tất nhiên cũng không thoát khỏi sự khinh ghét của người khác. Âu cũng là lẽ thường của thế thái nhân tình!

Lạy Thiên Chúa, chúng con chẳng khác loại “bom nổ chậm” có thể gây nguy hiểm bất cứ lúc nào, xin giúp chúng con biết chân nhận tài năng và công sức của người khác, đừng bao giờ ghen tỵ hoặc mưu hại người khác. Lạy Đấng chí thánh, xin giúp chúng con luôn biết sống khiêm nhường và yêu thương, tất cả chỉ để tôn vinh Ngài mà thôi, đồng thời giúp chúng con đừng bao giờ tỏ ra kiêu căng tự mãn – dù chỉ là một thoáng trong ý nghĩ. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ của nhân loại. Amen. Về mục lục

BỊ KHAI TRỪ

[Niệm khúc Mc 6:1-6 ≈ Mt 13:53-58; Lc 4:16-30]

Về quê mà bị khai trừ

Người quen ghét bỏ, người nhà chẳng ưa

Vừa buồn vừa khổ có thừa

Chúa còn bị vậy từ xa xưa rồi!

Người đời vẫn vậy mà thôi

Vốn là bản tính chẳng dời được đâu!

Người ta có tính tự kiêu

Chẳng bao giờ muốn ai cao hơn mình

Thấy ai ngu dốt thì khinh

Ghét ai học giỏi, thông minh, có tài

Nhìn ai cũng thấy cái gai

Cố tìm cách triệt hạ ngay tức thì

Chỉ vì lý luận quanh co

Nên xa cách Chúa, khinh chê mọi người (*)

Chúa còn bị trách chê hoài

Phàm nhân chẳng thoát ra ngoài luật đâu

Nghĩa là cũng bị chê nhiều

Mặc dù làm được những điều rất hay.

(*) Kn 1:3a – “Những lý luận quanh co khiến con người lìa xa Thiên Chúa”.

TRẦM THIÊN THU

Tín nhiệm đồng hương

Ngày kia Chúa ở quê nhà,

Giảng rao Kinh Thánh trước ba hạng người:

Người nghe sửng sốt lạ đời,

Ngợi khen giáo lý của Người tuyệt cao,

Đã nghe phép lạ truyền rao,

Nay Người giảng dạy, ai nào dám khinh.

Đó là hạng nhất thật tình,

Hạng hai tự hỏi: thông minh như vầy

Nghĩ rằng duyên cớ chi đây

Bao nhiêu sự lạ xưa rầy có đâu.

Hoài nghi giữ mãi trong đầu

Cho qua tín nhiệm, mặc dầu đáng tin.

Hạng ba khinh suất, chẳng tin

Anh em nhà  họ ở  liền chúng  ta.

Dân thường như chúng ta mà

Họ làm, họ nói, bỏ qua cho rồi

Chỉ là giả dối mà thôi …

***

Người thiện chí tâm hồn quảng đại.

Giữ lòng thanh, nhân ái, khiêm nhu,

Khôn ngoan: ơn Chúa hộ phù,

Nhận ra chính Chúa thiên thu vĩnh hằng.

Thế Kiên Dominic

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan