Một phép lạ được công nhận do lời cầu bầu với Chân phước Phaolô VI

04-07-2018 120 lượt xem

Một tiến trình mới trong án tuyên hiển thánh cho Đức Phaolô VI: Hội đồng các nhà thần học của Bộ Tuyên Thánh  đã công nhận phép lạ do lời cầu bàu với Chân phước Phaolô VI. Tin do tuần báo Tiếng nói giáo dân của giáo phận Brescia, giáo phận gốc của Đức Giovanni Battista Montini, giáo hoàng từ năm 1963 đến 1978.

Theo báo Ý, phép lạ này là của một em bé gái được sinh ra lành mạnh ngày 25 tháng 12 năm 2014, sau chỉ 24 tuần mang thai và bị đứt nhau. Trong khi các bác sĩ khuyên nên phá thai để chữa trị, nhưng bà mẹ đến cầu nguyện ở đền thánh Đức Mẹ Ân Sủng ở Brescia trước thánh tích của Đức Phaolô VI, “vị giáo hoàng chữa cho các em bé chưa sinh”.

Phép lạ xảy ra năm 2014 cho em bé gái Amanda ở vùng Vérone nước Ý. Amanda năm nay 3 tuổi. Mẹ của em là bà Vanna Pironato, 35 tuổi, bà đã có một đứa con trai 5 tuổi. Bà đang mang thai ở tuần thứ 13 thì có triệu chứng có thể sẩy thai do nhau đã tróc sớm nên phải nhập viện. Tình trạng không được tốt hơn, các bác sĩ khuyên nên “phá thai vì trị liệu” nhưng Vanna và chồng là Alberto quyết định giữ thai lại.

Một cô bạn khuyên nên cầu nguyện với Đức Phaolô VI sắp được tuyên Chân phước, Đức Phaolô VI vừa làm một phép lạ cứu một sinh mạng trong bào thai.

Hai vợ chồng quyết định đi hành hương ở Đền thánh Ân Sủng để cầu nguyện với Đức Montini, người mến chuộng đền thánh này và đã dâng thánh lễ mở tay ở đây. Sau đó thì họ cầu nguyện mỗi ngày. Bà Vanna tiếp tục đi khám thai thường xuyên nhưng vẫn bị mất nước ối tiếp tục.

Vào khoảng 4 giờ sáng ngày 25 tháng 12 – 2014, Vanna Pironato nhập viện vì có triệu chứng sắp sinh. Hai giờ sau em bé gái Amanda chào đời ở tuần thứ 26. Amanda bị sinh thiếu tháng, nằm ở phòng săn sóc đặc biệt 2 ngày, sau đó ở bệnh viện 4 tháng trước khi rời bệnh viện.

Các bác sĩ công nhận “việc sinh em bé này không giải thích được theo các hiểu biết của khoa học”.

Để được tuyên Chân phước cho Đức Phaolô VI, một phép lạ không giải thích đã được công nhận. Phép lạ xảy ra cách đây 18 năm ở California. Em bé có hiểm nguy bị nhiều bệnh bẩm sinh, bác sĩ khuyên cha mẹ nên phá thai nhưng bà mẹ đã cầu nguyện với Đức Phaolô VI và quyết định giữ thai lại. Bà chờ đến khi em bé được 15 tuổi mới nói phép lạ này. Phép lạ nhắc đến sự dấn thân của Đức Phaolô VI để đấu tranh cho sự sống.

Phép lạ của em Amanda được hội đồng các thần học gia của Bộ Tuyên Thánh công nhận, bây giờ cần được các hồng y và giám mục của Bộ xác nhận và được Đức Phanxicô chứng thực khi đó mới có thể thông báo việc tuyên thánh cho Đức Phaolô VI trong một công nghị. 

Sẽ có thể tuyên thánh trong Thượng hội đồng năm 2018

Theo báo chí Ý cho biết, Chân phước Phaolô VI có thể sẽ được tuyên thánh vào tháng 10/2018, vào lúc bế mạc Thượng Hội đồng các giám mục về người trẻ, đức tin và nhận định ơn gọi.

Đức Phanxicô đã tuyên Chân phước cho Đức Phaolô VI vào cuối Thượng Hội đồng về gia đình, ngày 19 tháng 10 năm 2014.

Marta An Nguyễn chuyển ngữ từ la-croix.com, Nicolas Senèze

VIDEO ĐỨC PHAOLÔ VI: THÁNH GIÁO HOÀNG TRẦM TƯ

Bảy việc của Đức Phaolô VI làm mà bạn chưa biết

Trong thời gian mật nghị, Hồng y Montini lo lắng vì ngài biết rất rõ những gì đang chờ mình. Trong 15 năm ở ngôi vị giáo hoàng, ngài đã can đảm đối diện với các thử thách nhờ bảy hành vi lạ thường.

Ngài bán vương miện của mình

Ngài nghĩ rằng, Giáo hoàng không phải là vua, sau khi được bầu chọn một năm, ngài bán vương miện ba tầng của mình. Tiền bán được ngài tặng Mẹ Têrêxa Calcutta. Từ đó không có giáo hoàng nào đội vương miện.

Một nhóm tín hữu Công giáo Mỹ mua vương miện với giá 1 triệu đôla. Bây giờ vương miện này ở Đền thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm ở Washington, DC. 

Giáo hoàng đầu tiên đi du lịch

Đức giáo hoàng Phaolô VI là giáo hoàng đầu tiên từ chiếc ghe của Thánh Phêrô bước lên máy bay. Ngài đã viếng thăm 19 nước trên năm lục địa trong 9 lần tông du. Đức Thánh Cha đã viếng thăm New York, Iran, Phi, Colombia và Bồ Đào Nha. Khi từ Đất Thánh về, ngài đi bộ trên đường phố Rôma và được giáo dân chào đón nồng nhiệt. 

Theo Robero Paglialonga, tác giả sách “Giáo hội trong bước đi ra của Đức Phaolô VI” (La Chiesa in uscita di Paolo VI).

“Trong mỗi lần viếng thăm, ngài xin ban tổ chức thu xếp để ngài được gặp trực tiếp giáo dân và gia đình họ. ngài cũng xin đi để vùng ngoại ô của thành phố.”

Chỉ còn cách Trung quốc 18 dặm

Năm 1970, ngài viếng thăm Hong Kong. Dù về mặt địa lý, Hong Kong thuộc Trung quốc nhưng lúc đó nước Anh vẫn còn cai trị Hong Kong. Được lệnh không được làm cho Chủ tịch Mao Trạch Đông bất bình, Đặc khu trưởng David Trench phải đi nghỉ hè và ngài đã không được tiếp đón chính thức.

Theo Robero Paglialonga, tác giả sách “Giáo hội trong bước đi ra của Đức Phaolô VI” (La Chiesa in uscita di Paolo VI).

“Ngài là giáo hoàng đầu tiên đến rất gần Trung quốc. Ngài nói chuyện trực tiếp với giáo dân với những lời lẽ hòa bình và yêu thương.” 

Bỏ sổ các sách bị cấm

Năm 1966, Đức Phaolô VI bỏ sổ các sách bị cấm đối với người Công giáo, sổ này đã có từ bốn thế kỷ.

Theo linh mục Gianfranco Grieco, tác giả sách “Pablo VI. Il visto, il CREIDO”.

“Ngài là nhà trí thức và cũng là nhân vật chủ trương Giáo hội phải đối thoại với thế giới. Ngài ý thức là đã hết một thời và một thời khác đã bắt đầu.” 

Hiệp nhất ở Công đồng Vatican II

Đức Phaolô VI đã thành công trong một công việc gần như không thể thực hiện được: dẫn đưa 2.500 giám mục tham dự Công đồng Vatican II cùng đồng ý. Đây là bằng chứng cho khả năng phối hợp của ngài mà không vi phạm đến tín lý. 

Bắt cầu với Giáo hội Chính thống

Ngài đã thành công trong việc chấm dứt 1.000 năm khinh khi giữa người Công giáo và Chính thống giáo. Đức Phaolô VI là giáo hoàng đầu tiên gặp lãnh đạo cấp cao nhất của Giáo hội Chính thống. Ngài đã làm hết sức mình để thiết lập một tình bằng hữu trực tiếp và riêng tư với Giáo chủ, mở cánh cửa cho các quan hệ tốt đẹp hiện nay.

Giá trị của tình yêu

Thông điệp Sự sống Con người, Humanae Vitae đã đánh dấu giáo triều của ngài. Được soạn thảo khi có cao trào cách mạng tình dục, thông điệp đã chạm trán với các vấn đề liên hệ đến việc ngừa thai, giá trị đời sống con người và tình yêu vợ chồng. Ngài đã làm bất chấp bị căng thẳng với các hồng y, các nhà thần học và các cố vấn.

Giám mục Agostino Marchetto: Sử gia của triều giáo hoàng Phaolô VI

“Khi bắt đầu triều giáo hoàng của ngài, ngài đã nói: tôi sẽ một mình, tôi sẽ phải một mình, tôi không cho phép mình bị ảnh hưởng bởi bất cứ ai. Đặc sủng Chúa cho tôi là của riêng tôi”.

Đức Phaolô VI an nghỉ trong Chúa ngày 6 tháng 8 năm 1978. Ngài trước hết là một giáo hoàng trí thức, một điểm chuẩn chắc chắn ở thời buổi của một nền văn hóa hoang mang. Vài ngày trước khi về Nhà Cha, ngài nói ngài đã cố gắng hết sức mình để giữ đức tin và bảo vệ sự sống con người. Đó là di sản của ngài.

Nguyễn Tùng Lâm dịch từ Rome Reports

Di sản của Giáo hoàng Phaolô VI

Khi kết lại Thượng Hội đồng với những tranh luận dữ dội về tính dục và luân lý, ngày 19 tháng 10, giáo hoàng Phanxicô sẽ vinh danh một trong những bậc tiền nhiệm gây nhiều tranh cãi nhất, bằng việc tuyên Chân phước cho người đó, người nổi tiếng vì đã tái khẳng định việc Giáo hội Công giáo cấm tránh ngừa thai nhân tạo, đó là Giáo hoàng Phaolô VI.

Việc tuyên Chân phước sẽ làm cho giáo hoàng Phaolô VI nhẹ nhàng chính thức thành một vị thánh. Bước đi này dường như không tương hợp với cách tiếp cận mục vụ của Đức Phanxicô, vì quy định về kiểm soát sinh sản của Đức Phaolô VI trong Tông thư Sự sống Con người năm 1968, đã dấy lên một cuộc chiến văn hóa với Giáo hội Công giáo sau khi ngài qua đời năm 1978.

Nhiều người Công giáo, đặc biệt ở Hoa Kỳ và châu Âu rất phẫn nộ về quyết định của Đức Phaolô VI. Họ tin chắc rằng việc cấm triệt để này phải bị bãi bỏ, và cũng cho rằng giáo hoàng Phaolô VI đang đóng lại các cải cách đã khởi đầu vài năm về trước, với những thay đổi trọng yếu được Công đồng Vatican II ban hành.

Ngược lại, nhiều người bảo thủ, lại tán dương Tông thư “Sự sống Con người” vì đã tái xác nhận giáo lý truyền thống, và sự chia rẽ này báo trước công việc phân ly sâu sắc đã thể hiện qua Thượng Hội đồng cấp cao đang diễn ra tháng này tại Roma, một sự phân cực mà Đức Phanxicô nói rằng ngài muốn thắng vượt nó.

Nhưng Đức Phanxicô đang cố hoàn thành mục tiêu đó bằng cách tập trung không quá nhiều vào Tông thư “Sự sống Con người”, đúng hơn ngài tập trung nhiều vào đóng góp phát kiến, dù thường hay bị bỏ qua, của Đức Phaolô VI. Và chúng là:

Nhà cải cách

Phần lớn trong số các cải cách là lời kêu gọi hướng đến một Giáo hội truyền giáo hơn, cởi mở với thế giới và đối thoại với các phái Kitô giáo và các tín ngưỡng khác, cũng như với những người không có tín ngưỡng. Trong một buổi phỏng vấn hồi tháng sáu, nói về những năm ngài còn là linh mục trẻ, Đức Phanxicô đã nói rằng, “Với chúng tôi, Phaolô VI là một trí tuệ vĩ đại.”

Hơn nữa, như Phanxicô, Phaolô VI cũng là tiếng nói số một về huấn giáo công bằng xã hội của Giáo hội, và ngài tìm cách đặt các khái niệm này như những viên đá tảng cho giáo lý Công giáo. Ngài thành lập một hệ thống hội nghị thường kỳ cho các giám mục, gọi là các Thượng hội đồng, để thăng tiến một Giáo hội hợp tác và có tầm nhìn hơn. Đó là di sản mà Đức Phanxicô xây dựng thêm khi ngài triệu tập một hội đồng giám mục tự do theo khuôn mẫu của Đức Phaolô VI vào tháng này ở Rôma.

Massimo Faggioli, thần học gia gốc Ý và là sử gia giáo hội tại Đại học thánh Tôma ở St. Paul, Minnesota, cho biết, “Hội đồng này, như đang diễn ra, chính là những gì mà Đức Phaolô VI đã nghĩ đến, một thảo luận thực sự giữa các giám mục.”

Một giáo hoàng “phúc âm hóa”

Với Phanxicô, điểm then chốt của triều giáo hoàng Phaolô VI là tông thư “Loan báo Tin mừng” (Evangelii Nuntiandi) về  phúc âm hóa được công bố năm 1975, ngài cũng gọi đây là “văn kiện mục vụ vĩ đại nhất từng được viết ra.”

Trong văn kiện bước ngoặt này, phần lớn bị che mờ vì Tông thư về tránh thai (Sự sống Con người), giáo hoàng Phaolô VI nói rằng, bản thân Giáo hội “có nhu cầu cần được phúc âm hóa,” và ngài viết rằng người thời nay “sẵn sàng lắng nghe chứng nhân hơn thầy giảng,” vậy nên, trên tất cả, các lãnh đạo Công giáo phải thực hành những gì mình dạy.

“Thế giới kêu gọi, và kỳ vọng từ, chúng ta, sự đơn sơ trong đời sống, tinh thần cầu nguyện, lòng nhân đối với hết mọi người, đặc biệt là với những người thấp cổ bé miệng và người nghèo, sự vâng phục và khiêm nhượng, dấn thân và tự hiến. Không có dấu chứng thánh thiện này, lời của chúng ta sẽ khó chạm đến tâm hồn con người hiện đại. Và có nguy cơ trở nên vô vọng và vô ích.” Đây là những lời của Đức Phaolô VI, hệt như những gì chúng ta thấy nơi tinh thần Phanxicô.

Thật vậy, tháng 11 năm ngoái, Đức Phanxicô đã gởi một đại diện đến hội nghị các giám mục Hoa Kỳ, và yêu cầu đọc đoạn văn trên cho hàng giáo phẩm nghe, kèm theo các chỉ thị rõ ràng, trong đó, cũng như Đức Phaolô VI, Đức Phanxicô “muốn có các giám mục “mục vụ”, chứ không phải các giám mục tuyên bố hay làm theo một hệ tư tưởng nào đó.” Đức Phanxicô cũng yêu cầu 8 hồng y cố vấn đặc biệt của ngài hãy đọc lại tông thư Loan báo Tin Mừng, Evangelii Nuntiandi. 

Giáo hoàng hành hương

Được bầu vào năm 1963, kế vị Đức Gioan XXIII, giữa những tranh luận dữ dội của các giám mục tại Công đồng Vatican II, hồng y Giovanni Montini kế tục nhiệm vụ khó khăn là đưa công đồng đến kết thúc vào năm 1965. Trong những năm tiếp theo, ngài đã thúc đẩy những thay đổi của Công đồng, bao gồm việc cập nhật phụng vụ từ tiếng La-tinh qua tiếng bản xứ, và việc hoàn tất cải tổ lớn Giáo triều Rôma.

Ngài cũng bỏ việc dùng vương miện ba tầng của giáo hoàng, và những lễ phục khác thể hiện vị thế giáo hoàng vương đế, qua đó gởi đi thông điệp rằng “giáo hoàng không phải là một vị vua, nhưng là một giám mục, một mục tử, một nô bộc.”

Và Đức Phaolô VI, chứ không phải người kế nhiệm du lịch toàn cầu Gioan Phaolô II, mới là bản gốc của “giáo hoàng hành hương.” Ngài là giáo hoàng đầu tiên đi ra khỏi nước Ý trong kỷ nguyên hiện đại.

Trong chuyến công du đầu tiên, Đức Phaolô VI gặp Thượng phụ Chính thống Đông phương tại Giêrusalem vào năm 1964, và trong 8 chuyến công du ngoại quốc tiếp theo, ngài đã đến Á châu (và suýt bị một họa sĩ đâm bằng dao), Phi châu, và châu Mỹ La tinh. Năm 1965, Đức Phaolô trở thành giáo hoàng đầu tiên đến Hoa Kỳ, nơi ngài cử hành thánh lễ tại sân vận động Yankee và đọc diễn văn tại Hội đồng Liên Hiệp Quốc, đã đưa ra lời lên án thẳng mặt với chiến tranh.

Những lời kêu gọi công bằng kinh tế của ngài vừa mạnh mẽ, vừa gây nhiều tranh cãi. Nhưng trên đường hướng này, Đức Phaolô VI không chỉ là anh hùng đối với Đức Phanxicô mà còn với nhiều linh mục cùng thời đó, sau này trở thành các lãnh đạo trong Giáo hội.

“Giáo hoàng Phaolô giúp tôi hiểu rằng, để truyền giáo, bạn không cần phải là thần học gia thông tuệ, hay là diễn giả có ơn đoàn sủng, hay có can đảm của một thánh tử đạo.” Đây là lời kể của giám mục Howard Hubbard ở Albany, người trước khi về hưu, là giám mục cuối cùng của một giáo phận Hoa Kỳ, được đức Phaolô VI bổ nhiệm. 

Người xây cầu nối

Nhưng Đức Phaolô VI cũng là một anh hùng đối với nhiều người trong thế hệ mới hơn. Hồng y Luis Antonio Tagle của Phi Luật Tân, một nhân vật nổi bật trong Giáo hội toàn cầu, đã ca ngợi Đức Phaolô vì những nỗ lực hiệp nhất Giáo hội của ngài, và cha đã trích lại khẩu hiệu của ngài là: “Không ai mất đi, tất cả đều được.”

Nhưng hồng y Tagle đã nói rằng, cũng vì cách tiếp cận này, mà Đức Phaolô VI “bị công kích từ mọi phía” và “không bao giờ trở thành một ngôi sao như các vị giáo hoàng khác.”

Thật vậy, bị nhóm cánh tả chỉ trích về kiểm soát sinh sản, và nhóm cánh hữu chỉ trích vì các cải cách mục vụ, trong những năm cuối đời, người ta xem Đức Phaolô VI như nhân vật Hamlet mập mờ nước đôi vậy. Kết cục của ngài có vẻ bi kịch, khi ngài già đi nhanh chóng vì gánh nặng công việc, phải cai quản Giáo hội trong thời kỳ chính biến lan rộng.

Mùa xuân năm 1978, một người bạn lâu năm của ngài, và là lãnh tụ chính trị Ý, Aldo Moro, bị nhóm khủng bố cánh hữu bắt cóc và đã bị hành hình bất chấp lời kêu gọi thống thiết của vị Giáo hoàng đau khổ. Ba tháng sau, Đức Phaolô VI cũng qua đời, “một trong những giáo hoàng thánh thiện nhất và đáng yêu mến nhất” nhưng cũng “đau buồn nhất”.

Đức Phanxicô sẽ đạt đến những gì mà Đức Phaolô chưa làm được, bằng cách hàn gắn các chia rẽ và thúc đẩy giáo hội tiến tới? Hay ngài sẽ chịu chung số phận?

Bất chấp nhiều điểm giống nhau giữa hai giáo hoàng, nhưng theo ông Faggioli thì, “điểm khác biệt giữa Đức Phaolô và Đức Phanxicô chính là sự táo bạo, can đảm, và có thể là liều lĩnh nữa của Đức Phanxicô. Ngài chấp nhận mạo hiểm nhiều, còn giáo hoàng Phaolô VI luôn luôn thận trọng hơn.”

J.B. Thái Hòa dịch từ americamagazine.org, David Gibson

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.