SUY NIỆM CHÚA NHẬT XXV TN_B (23/9)

21-09-2018 110 lượt xem

Mục Lục

SỰ GHEN TƯƠNG

LÃNH ĐẠO LÀ NGƯỜI PHỤC VỤ

BƯỚC THEO CHÚA TRONG KHIÊM HẠ

VÒNG XOAY

BÀI GIẢNG HUẤN CUỐI CÙNG

SAO ANH NGỒI LẶNG LẼ ĐỂ LÒNG EM TÁI TÊ

SỰ GHEN TƯƠNG

Một trong những nguyên nhân sâu xa dẫn đến xung đột trong cuộc sống, đó là sự ghen tương. Ghen tương cũng giống như một thứ nghiện. Những người ghen sau cơn giận đều biết mình sai trái, đều xấu hổ với hình ảnh xấu xí của mình, đều ân hận vì đã làm tổn thương những người xung quanh, thế nhưng khi “cơn nghiện” đến họ lại không làm chủ được bản thân. Ghen tương làm cho con người mù quáng, mất hết minh mẫn, và bỗng chốc trở thành tội phạm, gây tổn hại nghiêm trọng đến sinh mạng và tài sản của người khác, đến khi tỉnh ngộ thì đã quá muộn.

Thánh Giacôbê hôm nay nói đến sự ghen tương giữa các thành viên trong cộng đoàn tín hữu (Bài đọc II). Theo tác giả, ghen tương và tà ý là nguyên nhân gây nên mọi điều xấu xa. Điều tác giả đề cập, vẫn tồn tại trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, kể cả trong những cộng đoàn đức tin. Ghen tương đến từ việc người ta không bằng lòng với khả năng và vị trí của mình. Cũng có khi vì thấy người khác thành công, nền muốn “dìm hàng” phê phán và hạ bệ người khác.

Tác giả sách Khôn ngoan ghi lại những lời hằn học ghen tương của những người mà ông gọi là “phường vô đạo” (Bài đọc I). Họ ghen tức với những người sống ngay chính, và những người không a dua theo thói sống mưu mô của họ. Họ bàn mưu tính kế để kết án và giết chết người công chính. Các nhà chú giải Kinh Thánh, dưới nhãn quan Kitô giáo, đã nhận ra đây là hình ảnh của Đức Kitô khổ nạn. Người đã cam lòng chịu chết cách bất công, để nêu gương bài học khiêm nhường, kiên nhẫn và phó thác nơi Thiên Chúa, như chúng ta sẽ thấy trong bài Tin Mừng hôm nay.

Các môn đệ là những người đã theo Chúa ba năm, mà vẫn không tránh khỏi thái độ chèn ép ghen tỵ. Thánh Mác-cô đã làm độc giả ngạc nhiên khi ghi lại cuộc tranh cãi của các môn đệ xoay quanh đề tài “ai sẽ là người lớn nhất” ngay sau khi Chúa Giêsu tiên báo cuộc khổ nạn thập giá. Người ta đặt câu hỏi: làm sao các môn đệ lại vô tâm trước những điều Đức Giêsu vừa nói? Thì ra, kể cả lúc Chúa tiên báo cuộc khổ hình đau thương mà Người sắp trải qua, các ông vẫn còn mơ về thời thiên sai theo nhãn giới phàm tục. Vì vậy, nghe Chúa nói về việc Người sẽ bị bắt bớ và bị giết, các ông “không hiểu lời đó và sợ không dám hỏi Người”. Dường như trong đầu các ông, băn khoăn xem ai là người lớn nhất còn đáng quan tâm hơn cả những gì Thày mình vừa nói về cuộc đau khổ và về thập giá.

“Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người”. Đó là lời khẳng định của Chúa, cũng là bài học Chúa muốn dạy cho các môn đệ. Chính Chúa đã thực hiện nơi bản thân Người bài học này. Là Thiên Chúa uy quyền cao sang, Chúa Giêsu đã hạ mình mặc lấy thân phận con người để sống cùng và sống cho con người, nhằm mưu cầu hạnh phúc của họ. Qua hình ảnh một em bé, Chúa muốn khẳng định, những ai muốn theo Người cần phải sống đơn sơ, phó thác để có thể trở nên môn đệ đích thực của Người. Lý tưởng của Chúa Giêsu hoàn toàn trái ngược với lối suy nghĩ thông thường của con người. Ở đời, ai cũng muốn nổi hơn người khác về mọi phương diện. Nếu thấy người bên cạnh hơn mình thì họ ghen tương, thậm chí tìm cách gài bẫy để loại trừ. Chúa Giêsu cũng đã là nạn nhân của sự ghen tương của con người, và Người đã phải chết trên thập giá.

“Người xây dựng hòa bình thu hoạch được hoa trái đã gieo trong hòa bình” – lời khẳng định của Thánh Giacôbê cho thấy, những gì chúng ta làm với thiện ý và với trái tim chân thành, sẽ đóng góp xây dựng hòa bình nơi trần thế, đồng thời làm cho Vương quốc vĩnh cửu được hình thành ngay trong hiện tại. Giữa cơn bão hưởng thụ của cuộc sống hôm nay, người ta ngại dấn thân, chỉ biết sống cho mình. Những khái niệm “phục vụ” được quảng diễn khắp nơi, nhưng đó là thứ phục vụ nhằm tới lợi nhuận. Phục vụ theo tinh thần của Chúa Giêsu, đó là đón nhận thập giá trong đời sống, và vác đỡ thập giá cho anh chị em mình. Tuy vậy, thập giá không phải chặng đường cuối cùng của Chúa Giêsu, trong sứ mạng cứu độ trần gian. Chính Người đã loan báo sự kiện phục sinh, sau khi chịu khổ nạn. Những đau khổ của chúng ta có thể được biến thành ân phúc, nếu chúng ta đón nhận với tinh thần hy sinh mến Chúa yêu người. Nếu chúng ta biết san sẻ cho nhau gánh nặng cuộc đời, sức nặng của thập giá sẽ bớt đi, đau thương sẽ biến thành niềm vui, thập giá sẽ nở hoa, niềm vui phục sinh sẽ rạng rỡ nơi cuộc đời.

“Lòng ghen tuông giống như muối trong thức ăn: một chút có thể tăng thêm vị, nhưng nhiều quá có thể làm mất ngon, và, trong một số trường hợp nào đó, có thể nguy hiểm đến tính mạng” (Sưu tầm). Về mục lục.

+ ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên

LÃNH ĐẠO LÀ NGƯỜI PHỤC VỤ

Trang Tin mừng Chúa nhật hôm nay đánh dấu một giai đoạn quan trọng. Chúa Giêsu rời vùng đất phía Bắc tiến về Giêrusalem, nơi đó thập giá đang đợi chờ Người.

Trên hành trình đó đã ba lần Chúa mạc khải cho các môn đệ biết: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người và Người bị giết chết, rồi sau ba ngày Người sẽ sống lại” (x.Mc 8,31-10,34). “Các môn đệ không hiểu và cũng không dám hỏi lại” (Mc 9, 32). Họ đang sôi nổi tranh luận về vương quốc mà Thầy sẽ thiết lập. Ai là thượng thư, ai là bộ trưởng trong vương quốc ấy! Thầy đang hướng về thập giá, khổ nạn. Các môn đệ lại tranh cải xem ai được quyền cao chức trọng hơn cả (x.Lc 22, 24-27; Mc 10,35-40). Chúa đã phải đau lòng biết bao!

Vì thế, để sửa dạy uốn nắn lối suy nghĩ các môn đệ, Chúa hỏi: “Dọc đường anh em bàn tán điều gì vậy?”. Chúa hỏi là ‘bàn tán’ cho nó nhẹ nhàng thôi, chứ thực ra Chúa biết các môn đệ vừa cãi nhau nảy lửa. Các ông im lặng vì xấu hổ về những gì đang tranh luận. Rồi Chúa dạy cho các môn đệ bài học, người lớn nhất là người khiêm tốn phục vụ anh em.

1. Nền văn minh mới

Chúa Giêsu “ngồi xuống và gọi các môn đệ tới”. Một Rabbi dạy bảo học trò, hay tuyên bố một điều gì quan trọng thì luôn luôn ở tư thế ngồi để giảng dạy. Chúa ngồi xuống thư thái và dạy rằng: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết và làm người phục vụ mọi người”. Bằng hình ảnh cụ thể, Chúa đem một em bé đặt giữa các học trò, ôm lấy nó và nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy là tiếp đón Đấng đã sai Thầy”. Lời dạy của Chúa Giêsu thật dễ hiểu mà thật khó thực hành. “Yêu thương phục vụ” là môn học khó nhất nhưng lại là môn học phổ thông nhất. Môn học này người môn đệ phải học cả đời mà không có ngày ra trường, học tới chết mà vẫn chưa xong.

Người lớn nhất, người đứng đầu là người phục vụ hết mình. Chức tước, chức vụ, chức vị, chức quyền chỉ là phương tiện để phục vụ. Ai sống tinh thần phục vụ đó là người lớn nhất. Ai không biết phục vụ thì là người nhỏ nhất. Giá trị của một con người không do địa vị chức tước mà tuỳ vào khả năng phục vụ và mức độ hữu ích của người đó. Chúa Giêsu mở ra một nền văn minh mới. Người lớn nhất không dùng quyền để lãnh đạo, nhưng dùng khả năng để phục vụ. Người lớn nhất không dùng sức mạnh để chỉ huy, nhưng dùng trái tim để yêu thương.

2. Lãnh đạo là người có uy tín

Người lãnh đạo phải là người có uy. Đó là uy tín và uy quyền. Thông thường, người lãnh đạo tự khẳng định được uy tín thì tự nhiên có uy quyền một cách thực thụ nhờ niềm tin của lòng dân. Khi lãnh đạo phải dùng uy quyền thay cho uy tín thì họ tự tạo ra nguyên cớ của sự xung đột. 

Dân chúng nể trọng uy tín của người lãnh đạo nhưng họ lại sợ uy quyền. Uy quyền, cường quyền càng dấn lên tới mức cao thì sinh ra thói độc đoán chuyên quyền dẫn đến độc tài. Khi người lãnh đạo đã mất hết uy tín, lẽ ra nên tự biết mà từ chức thì còn vớt vát được chút danh dự. Nhưng khi đã không còn uy tín mà lại gia tăng uy quyền thì chỉ có hại cho xã hội, căng thẳng cho cộng đồng, họ trở thành lố bịch và làm trò cười cho thiên hạ. 

Không ai có thể tự vỗ ngực là “ta uy tín nhất”, bởi vì uy tín của cá nhân nằm trong lòng người khác, tùy thuộc sự ghi nhận và đánh giá của cộng đồng xã hội một cách khách quan. Uy tín phải được minh chứng qua quan điểm, tư tưởng, động cơ làm việc, đạo đức, lối sống và chất lượng thực hiện chức trách, nhiệm vụ. Có những người có chức cao quyền trọng nhưng khi làm việc cụ thể và trong cuộc sống chẳng có uy tín gì, chỉ để lại sự trách cứ, chê cười, đàm tiếu. Có uy tín, tự khắc có uy quyền, một uy quyền tự thân, không phải thứ uy quyền lên gân. Không có uy tín, nhưng vì muốn thể hiện uy quyền nên thường gây hậu họa, làm hỏng cho công việc chung và tác hại khôn lường đối với xã hội và đất nước khi người này thuộc tầng lớp lãnh đạo ở tầm vĩ mô. Trên thực tế không ít người, khi có quyền thì đụng chút việc là dùng quyền uy, hống hách, quan liêu, mệnh lệnh. 

Người thích uy quyền thường dùng quyền hành và quyền lực, kể cả quyền lực của đồng tiền. Họ sẽ đưa ra những khả năng đe dọa, mua chuộc như thăng giáng chức tước, lên lương, bố trí, sắp xếp chỗ này, vị trí kia, vừa câu móc, vừa hăm dọa hay cô lập đối tượng khi không "tranh thủ" được. Nếu ai đó làm phật lòng trái ý, hoặc có nguy cơ làm ảnh hưởng uy quyền thì sẽ bị trù úm, bày kế, lập mưu kỷ luật hay ép đương sự xin chuyển đổi công tác hay về "hưu non".

Người dùng uy lực đồng tiền thường đi kèm lòng tham, tính toán cá nhân vị kỷ, vơ vét và thu vén. Cho nên, những kẻ bất tài, vô dụng, thất đức có đủ thứ thủ đoạn, mánh khóe để khi đã nắm được quyền thì dùng uy quyền trấn áp thiên hạ, “cả vú lấp miệng em”, kéo bè, kết vây cánh...hình thành nhóm lợi ích. Từ tuyển dụng, bổ nhiệm, giao chức cũng chọn trong những người thân trong gia đình, dòng tộc, huyết thống, cùng mục đích, cùng động cơ, cùng mặt bằng “quan trí”, cốt sao thế lực của mình ngày càng được cũng cố và khuynh loát. Sự cố tình tâng bốc nhau, bao che, tung hứng cho nhau, hùa nhau lập mưu kế phạm pháp, tìm mọi mánh khóe, thủ đoạn đục khoét của công, thu lợi bất chính cũng từ đó mà ra. 

Khi đã không đủ uy tín mà phải dùng uy quyền đến mức độc đoán, chuyên quyền, người ta sẵn sàng trừ khử, sát phạt, làm hại người khác có đối trọng (kể cả đồng chí, bạn hữu, người thân), mua bán chức quyền, dùng đủ mánh lới tinh vi để giữ ghế, tiến thân,che lấp khuyết điểm, tích lũy của cải bất minh, vùi dập chân lý, phủ nhận lẽ phải một cách khôn lanh và rất ma mãnh!

Thế nhưng, như người đời đã đúc kết: “Uy tín trường tồn, uy quyền đoản vị” - người có uy tín sẽ để lại tiếng thơm lâu dài, người không uy tín mà thích dùng uy quyền thay cho uy tín chỉ được nhất thời, gây thù chuốc oán, tự làm mất hậu phúc, có chăng chỉ được một vài việc trước mắt, không thể có sức bền. Cho nên, làm lãnh đạo cần nâng cao uy tín, phải thu phục được nhân tâm, không nên lộng hành, lạm dụng uy quyền để tự đề cao cá nhân, quên cả lợi ích quốc gia, dân tộc, quên nhân dân, chỉ biết vun xén cho cá nhân, gia đình và nhóm lợi ích gây hậu quả khôn lường cho đất nước và nhân dân.(x. buivanbong.blogspot.com). Đối với các vị lãnh đạo tại Việt Nam, Ông Vũ Ngọc Hoàng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương nhận định ‘Câu nói cửa miệng của dân là liệu có bao nhiêu quan chức “không chạy”? Cách sử dụng cán bộ “cậu này ngoan, cô kia biết điều” của văn hoá tiểu nông làm sao sử dụng được người tài? Trên thực tế, kiểu hình thành đội ngũ cán bộ theo cách thức: “Có tiền chuyển hóa thành có quyền lực. Có quyền lực chuyển hóa thành có tiền. Người có tiền sẽ có quyền lực và người có quyền lực sẽ có tiền. Họ cùng nhau hành động để có quyền lực và có tiền ngày càng nhiều hơn. Đồng tiền cộng với quyền lực tạo thành sức mạnh khống chế, lũng đoạn tổ chức và xã hội…”.

3. Lãnh đạo là người phục vụ

Chúa Giêsu dạy cho các môn đệ con đường trở nên lớn lao thật sự. Đó là con đường phục vụ. Con đường phục vụ thay thế cho tham vọng thống trị. Giúp đỡ tha nhân thay cho tham vọng bắt người khác phục vụ chính mình. Chức quyền là để phục vụ lợi ích của mọi người. Địa vị chỉ là sự phân công hợp lý. Mỗi người một việc vì lợi ích của tập thể.

Để làm gương cho các môn đệ, Chúa Giêsu đã tự hạ mình: “không phải để được phục vụ mà đến để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc nhiều người” (Mt 20,25-28). Là Thầy nhưng Người đã tự nguyện phục vụ môn đệ. Là lãnh đạo nhưng Người sẵn sàng hiến mạng sống “để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10). Tinh thần phục vụ của Chúa Giêsu được thể hiện rõ nét nhất trong cử chỉ rửa chân “Nếu Thầy là Chúa mà còn rửa chân cho anh em thì anh em phải rửa chân cho nhau”. (Ga 13,14-15). "Ta ở giữa các con như một người phục vụ” (Lc 22,27). Phục vụ lên đến tuyệt đỉnh trong hành vi tự hiến “không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống vì bạn hữu mình” (Ga 15,13).

Quyền bính và phục vụ gắn liền với nhau làm nên bản chất người môn đệ Chúa Giêsu. Người lãnh đạo theo gương Chúa Giêsu là người có tâm, có tầm, có đức và có tài để phục vụ tha nhân theo tinh thần đức ái mục tử. Mục tử rao giảng chân lý và dám sống chân lý ấy cho dù phải hy sinh tính mạng.

Thánh Phêrô đã thấm nhuần lời dạy của Thầy Chí Thánh nên sau này ngài viết những lời tâm huyết cho các mục tử:“Cùng các bậc kỳ mục trong anh em, tôi xin có mấy lời khuyên nhủ, vì tôi cũng thuộc hàng kỳ mục, lại là chứng nhân những đau khổ của Đức Kitô và được dự phần vinh quang sắp tỏ hiện trong tương lai. Anh em hãy chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa đã giao phó cho anh em: lo lắng cho họ không phải vì miễn cưỡng, nhưng hoàn toàn tự nguyện như Thiên Chúa muốn, không phải vì ham hố lợi ích thấp hèn, nhưng vì lòng nhiệt tình tận tụy. Đừng lấy quyền mà thống trị những người mà Thiên Chúa đã giao phó cho anh em, nhưng hãy nêu gương sáng cho đoàn chiên” (1 Pr 5,1-4). Thánh Phêrô cũng khuyên các tín hữu: “Ơn riêng của Thiên Chúa đã ban, mỗi người trong anh em phải dùng mà phục vụ kẻ khác. Như vậy anh em mới là những người khéo quản lý ân huệ thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa. Ai có nói, thì nói lời Thiên Chúa; ai phục vụ, thì phục vụ bằng sức mạnh Thiên Chúa ban.” (1 Pr 4, 8-11). 

Quyền bính đòi chiếm hữu và kiểm soát. Nhưng trong Giáo hội, quyền bính được xây trên nền tảng tình yêu Chúa. Chính vì thế, Chúa Giêsu mới cần Phêrô xác quyết tới ba lần : “Thầy biết con yêu mến Thầy.” (Ga 21,15-17). Quyền bính được xây dựng trên tình yêu nên người mục tử luôn khiêm tốn phục vụ tha nhân.

Lời dạy của Chúa Giêsu đưa nhân loại đi vào nền văn minh của tình thương. Và kể từ đó, hàng triệu vị Thánh được tôn vinh như là những chứng từ sống động cho hình ảnh “Người lớn nhất” trong nền văn minh mới của Tin Mừng. Mẹ Têrêxa Calcutta trở thành vĩ nhân của thời đại bằng con đường yêu thương và phục vụ người nghèo. Phục vụ luôn gắn liền với yêu thương.Thánh Augustinô nhận định: Trong đời sống người kitô hữu, có một cuộc chiến đấu giữa hai thứ tình yêu: yêu Thiên Chúa cho đến từ bỏ bản thân mình và yêu bản thân cho đến nỗi chối bỏ Thiên Chúa. 

Người thành công nhất là người phục vụ cho đồng loại nhiều nhất. Một vĩ nhân không hệ tại ở địa vị xã hội của người ấy mà là sự cống hiến cuộc đời cho sự phát triển của nhân loại. Giáo hội tuyên phong một người lên bậc hiển thánh chung quy cũng là tuyên dương tinh thần phục vụ của người ấy vì Nước Chúa. Phục vụ để trở nên phong phú, có giá trị, nên hoàn thiện và trở nên gần Chúa Giêsu hơn.

“Nghệ thuật làm lớn” của Chúa Giêsu chính là khiêm tốn phục vụ. Người thật sự cao cả là người dâng đời mình cho lợi ích của cộng đoàn. Thiên Chúa đã tự liên đới với người nhỏ bé, nghèo hèn, không đáng kể nhất. Phục vụ một người không đáng kể nhất cũng là phục vụ chính Thiên Chúa. Con đường tự hạ, làm người bé nhỏ và phục vụ anh em là con đường để trở nên vĩ đại, trở nên người lớn nhất trước mặt Chúa. Về mục lục.

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

GHEN TUÔNG – TRANH CHẤP

Sau khi làm phép lạ chữa cho một người vừa điếc vừa ngọng (bài Tin Mừng CN XXIII.TN-B – Mc 7, 31-37), Đức Giê-su không muốn mọi người xôn xao rồi đi báo cho bọn kinh sư, luật sĩ Pha-ri-sêu biết để họ có cớ làm hại Người, “Đức Giê-su truyền bảo họ không được kể chuyện đó với ai cả.” Tuy nhiên “Người càng truyền bảo họ, họ lại càng đồn ra. Họ hết sức kinh ngạc, và nói: "Ông ấy làm việc gì cũng tốt đẹp cả: ông làm cho kẻ điếc nghe được, và kẻ câm nói được." (Mc 7,36-37). Sự việc diễn ra đúng như sự tiên liệu của Đức Ki-tô, đó là lý do khiến Người quyết định truyền cho các môn đệ băng qua miền Ga-li-lê một cách âm thầm không cho ai biết.

Bài Tin Mừng hôm nay trình thuật việc Đức Giê-su muốn tạm gác việc rao giảng Tin Mừng và chữa bệnh cho dân chúng qua một bên, để có thì giờ dạy dỗ các môn đệ, đặc biệt báo cho các ông biết một viễn cảnh sắp xảy ra mà các ông khó có thể hiểu và chấp nhận. Viễn cảnh đó là “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại.” (Mc 9,31). Sở dĩ Người làm vậy là có ý giúp các môn đệ chuẩn bị tinh thần, để khi biến cố đó xảy ra thì các ông không quá ngỡ ngàng và thất vọng, mà sẵn sàng đón nhận nó.

Đây không phải lần đầu tiên Người nói việc ấy với các môn đệ, Người đã từng nói rõ với các ông trước đó không lâu (“Rồi Người bắt đầu dạy cho các ông biết Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết. ” – Mc 8,31), nhưng lúc đó các ông tỏ ra ngán ngại, không tin rằng Thầy mình – một “Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền” (Mc 1,22) – lại có thể phải chịu đau khổ đến như vậy. Thái độ không chấp nhận này biểu lộ rõ rệt nhất ở Phê-rô, khi ông “kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người: "Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!", khiến  Đức Giê-su quở trách rất nặng lời: “Xa-tan! Lui lại đằng sau Thầy! Vì tư tưởng của anh không phải tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” (Mc 8,31-33). Chính vì lần trước các ông bị quở trách nặng nề như thế, nên lần này “các ông sợ không dám hỏi lại Người” (Mc 9,32).

Các môn đệ không dám hỏi lại Thầy về cuộc thương khó Người sắp phải chịu vì sợ bị khiển trách, nhưng trong lòng vẫn nghĩ khi Thầy chết rồi thì ai trong nhóm 12 sẽ lên thay, ai sẽ là người lớn nhất? Ấy thế  là “cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả”. Đức Ki-tô dư biết các môn đệ bàn tán điều gì, nhưng khi tới thành Ca-phac-na-um, Người vẫn hỏi: “Dọc đường, anh em đã bàn tán điều gì vậy?” Các môn đệ chỉ còn nước ngậm miệng làm thinh. Cũng chính vì thế nên Đức Ki-tô mới “gọi nhóm Mười Hai lại mà nói: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người”. Kế đó, Người đem một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm lấy nó và nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy, thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy.” (Mc 9,33-37).

Vấn đề làm lớn, làm bé vẫn là vấn đề muôn thuở của con người. Thường ở đời, con người ai cũng thích làm lớn, thích ăn trên ngồi trước chứ chẳng ai muốn làm bé và thích ngồi ở dưới. Cái ”miếng đinh chung” luôn luôn và mãi mãi là cái hấp lực vô cùng mạnh mẽ. Quan niệm “một miếng giữa làng hơn một sàng xó bếp” đã trở nên như một phong tục tập quán (tục ngữ) khiến cho giấc mộng “sống ở làng, sang ở nước” luôn ám ảnh con người. Ngày nay, hủ tục mua quan bán tước hay khao vọng đình đám tuy không còn ồn ào như ngày xưa, nhưng vẫn diễn ra bằng nhiều kiểu, nhiều cách, với đủ thứ mưu ma chước quỷ để tranh bá đồ vương, tiếm quyền tiếm chức, tranh danh đoạt lợi, hầu mong được nổi danh nổi tiếng, tiền hô hậu ủng, xe hơi nhà lầu, võng lọng xênh xang.

Kẻ viết bài này vẫn chưa quên câu chuyện xảy ra ở Việt Nam cách đây không lâu: Giám đốc một công ty cỡ bự, một hôm gửi thiệp báo tang đến toàn thể công ty, cho biết con chó cưng của ông ta vừa “từ trần”! Thế là cả công ty – từ phó giám đốc đến anh bảo vệ quèn – xôn xao “khăn đóng áo dài” đổ xô đi phúng điếu bằng những phong bì đủ kích cỡ, trong đó ít nhất cũng phải “nửa tháng lương”. Ôi chao! Không ngờ trong cái xã hội văn minh ngày nay mà vẫn còn cái cảnh hối lộ bẳng kiểu “báo tang, viếng tang một con chó”. Tiếng chửi “đồ chó chết” không ngờ ngày nay lại mang ý nghĩa tâng bốc hơn là chửi rủa. “Chó chết” lại hoá ra nổi đình nổi đám hơn cả ”người chết”! Oái oăm thật!

Tâm lý chung của con người ai chẳng muốn chọn cho mình phần tốt nhất, ai chẳng muốn làm "đại gia" đi ăn tiệc được ngồi vào "cỗ nhất". Ngay đến các Tông đồ ở cận kề với Người Thầy luôn dạy dỗ môn đệ phải khiêm nhường, vậy mà cũng có hai người con ông Dê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an muốn được "một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang" (Mc 10,37). Tin tưởng khi Thầy mình được vinh quang sẽ làm Vua, mà lại xin được ngồi bên tả và bên hữu Người, chính là muốn được ngồi "cỗ nhất", được hưởng “miếng đinh chung” bảnh nhất là ”Tả hữu Thừa tướng”. Không phải chỉ có 2 môn đệ này đâu, mà các môn đệ khác cũng tỏ ra tức tối ("Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Gia-cô-bê và ông Gio-an." – Mc 10,41). Tức tối tức là ghen tị, là mong muốn mình phải được coi trọng hơn, và "chiến tranh nóng, chiến tranh lạnh" xảy ra cũng là điều tất nhiên ("Bởi đâu có chiến tranh, bởi đâu có xung đột giữa anh em? Chẳng phải là bởi chính những khoái lạc của anh em đang gây chiến trong con người anh em đó sao? Thật vậy, anh em ham muốn mà không có, nên anh em chém giết; anh em ganh ghét cũng chẳng được gì, nên anh em xung đột với nhau, gây chiến với nhau." – Gc 4,1-3). Quả thật “Ghen tuông thì cũng người ta thường tình” (Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Rõ ràng Đức Ki-tô "nhận thấy khách dự tiệc cứ chọn cỗ nhất mà ngồi" (Lc 14,7). Vì thế, nên Người mới dạy: "Khi anh được mời đi ăn cưới, thì đừng ngồi vào cỗ nhất, kẻo lỡ có nhân vật nào quan trọng hơn anh cũng được mời, và rồi người đã mời cả anh lẫn nhân vật kia phải đến nói với anh rằng: "Xin ông nhường chỗ cho vị này. Bấy giờ anh sẽ phải xấu hổ mà xuống ngồi chỗ cuối." (Lc 14,8-9). Người còn chỉ rõ những người ham ngồi “cỗ nhất”, đó là "những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được chào hỏi ở những nơi công cộng, ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc." (Lc 20,46). Ngay đến cả việc đãi khách, mời khách dự tiệc, Người cũng dạy trái ngược với thông lệ của người đời: "Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng mời bạn bè, anh em, hay bà con, hoặc láng giềng giàu có… Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù…" (Lc 14,12-13).

Lời dạy của Đức Ki-tô mới thoạt nghe sẽ thấy là mâu thuẫn, khó chấp nhận được, chẳng hạn như Người muốn ai đi theo Người thì phải từ bỏ tất cả, từ của cải vật chất đến cha mẹ anh em họ hàng, kể cả từ bỏ chính mình. Trong khi đó, Người lại dạy phải yêu thương mọi người như yêu thương chính bản thân mình, thậm chí còn yêu thương cả kẻ thù của mình nữa. Tuy nhiên, suy nghĩ cho thấu đáo, thì thấy Đức Ki-tô chuyên dùng dụ ngôn với những cách nói tương phản, phản đề, cốt ý nhấn mạnh để nêu bật ý chính (chủ đề). Như Lời dạy trên, nếu trích đầy đủ, sẽ là: "Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng mời bạn bè, anh em, hay bà con, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi. Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc: vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại." (Lc 14,12-14). Và như vậy, mục đích nhắm tới của Lời dạy là "ông mới thật có phúc: vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại." Rõ ràng Đức Giê-su chỉ luôn mong muốn Lời dạy của Người có tác động mạnh mẽ, làm cho người nghe hiểu được ý nghĩa sâu xa và cái mục đích tối hậu cần đạt tới.

Trở lại với bài Tin Mừng hôm nay, cũng vì thấu hiểu được tâm địa con người như vậy, nên Đức Ki-tô mới dạy: "Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người." (Mc 9,35). Người chỉ muốn dạy môn đệ đức tính khiêm nhu tự hạ. Và nếu anh biết khiêm nhường chịu lụy, anh sẽ được mời lên ngồi “cỗ nhất”. Anh đừng nghĩ khi được ngồi cỗ nhất là anh sẽ được kẻ hầu người hạ, anh sẽ vênh vang nhìn đời bằng nửa con mắt. Trái lại, "Càng làm lớn, con càng phải tự hạ, như thế, con sẽ được đẹp lòng Đức Chúa." (Hc 3,18), "Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người." (Mt 20,43-44).

Khiêm nhường cũng có nhiều cách thể hiện, có thể thực lòng và cũng có thể màu mè bên ngoài, thậm chí còn có trường hợp giả bộ khiêm nhường để bóng gió móc họng nhau nữa. Và cũng vì thế nên Đức Giê-su Thiên Chúa đã vâng lời Chúa Cha xuống thế làm người khó nghèo và dùng chính cuộc sống của Người minh hoạ cho những Lời dạy dỗ chân tình về đức khiêm nhường. Người đã khiêm nhường vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu để cái tính kiêu ngạo của loài người hành hạ, đánh đòn, sỉ nhục, đóng đinh Người vào thập giá. Người đã thức tỉnh nhân loại bằng cách hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người. Tuy nhiên, cho đến ngày nay, thử hỏi đã được bao nhiêu người ý thức được tội kiêu ngạo đứng hàng đầu trong 7 mối tội đầu, hiểu được chính tội kiêu ngạo đã đóng đinh Chúa Giê-su vào thập giá? Và chẳng hiểu có được bao nhiêu con người dám hy sinh chỗ ngồi “cỗ nhất” (chưa dám nói hy sinh mạng sống mình) cho anh em, cho đồng loại, để sẵn sàng xuống ngồi “chỗ cuối” mà  phục vụ mọi người? Quả thực “Kẻ kiêu ngạo lâm cảnh khốn cùng thì vô phương cứu chữa, vì sự xấu xa đã ăn sâu mọc rễ trong nó” (Hc 3,28).

Lạy Chúa! Cúi xin Chúa luôn soi sáng và hướng dẫn con, để con đừng bao giờ quên dụ ngôn “Người Pha-ri-sêu và người thu thuế” (Lc 18,9-14). Cũng bởi vì đến ngay như việc thờ phượng Thiên Chúa, con cũng cách này cách khác làm như anh chàng Pha-ri-sêu lên tận cung thánh khoe hết thành tích nọ đến chiến công kia (“Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con.”). Và nếu không tìm ra được chiến công, thành tích (kiểu như rủ nhau đóng góp mua một vài thùng mì tôm, đôi ba bao gạo mốc, năm ba túi quần áo rách, rồi trương biểu ngữ thật hoành tráng đi làm chuyện tế bần, từ thiện), con cũng cố gắng tìm những việc làm thường nhật (đi lễ, đọc kinh sớm tối, bỏ tiền lẻ vào túi kín, hay vênh vang ném từng đồng xu cho những hành khất...) để kể công với Chúa hệt như anh chàng Pha-ri-sêu thủa xưa. Con đã kênh kiệu nhắm tít mắt mà không quay nhìn lại dưới cuốí nhà thờ đang có những ”người thu thuế” quỳ gối đấm ngực than van “Lạy Chúa! Con là kẻ có tội!”

Ôi! “Lạy Chúa! Con là kẻ có tội!” Con biết tội con nặng lắm rồi, vì chỉ thích làm đại gia chớ không thích làm nguời bé mọn, chỉ thích đứng đầu, ăn “cỗ nhất” chớ không thích ngồi sau, ăn cơm thừa canh cặn. Con biết những hành động trên của con đã hàng ngày hàng giờ đóng đinh Chúa, đâm thâu vào Trái Tim Chúa. Cúi xin Chúa không chỉ dạy con mà luôn đồng hành với con để con sẵn sàng thể hiện bằng hành động, bằng chính cuộc sống của con như những kẻ bé mọn, như những “người thu thuế”, như những “bà goá nghèo”, như những “người rốt hết”, để đến ngày sau hết con được Chúa cho đứng bên phải Ngài. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen. Về mục lục.

JM. Lam Thy ĐVD

BƯỚC THEO CHÚA TRONG KHIÊM HẠ

Sau khi biến hình, Chúa Giêsu cùng với các môn đệ từ trên núi xuống tiến về Giêrusalem để sống Lễ Vượt Qua cái chết và sự phục sinh của Người. Trước thảm kịch đau thương đang chờ đợi và iết trước cái chết ở Giêrusalem, đối với các môn đệ, niềm tin cần phải được Chúa củng cổ, Người loan báo cuộc thương khó lần thứ hai cho các ông, nhưng Người nhấn mạnh hơn đến sự đánh bại thần chết vào sống lại vinh quang.

Nhưng các môn đệ nào đâu có hiều, dọc đường tới ở Capharnaum họ vẫn tranh luận với nhau xem ai là người lớn nhất. Câu trả lời của Đấng Cứu Thế từ đó đến nay vẫn làm chúng ta ngạc nhiên : "Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy, tức là đón tiếp chính mình Thầy. Và ai đón tiếp Thầy, thực ra không phải đón tiếp Thầy, nhưng là đón tiếp Đấng đã sai Thầy" (Mc 9,37). Như thế kẻ lớn nhất sẽ là người phục vụ mọi người và Nước Thiên Chúa dành cho những ai đón nhận các trẻ nhỏ.         

Đoạn Tin Mừng này không phải hai phần khác biệt : phần thứ nhất Chúa Giêsu loan báo về cuộc khổ nạn, phần thứ hai Chúa giáo huấn các môn đệ. Đây chỉ là một diễn từ chúng ta có thể gọi là : "Thập giá của Chúa Giêsu và hậu quả của các môn đệ". Trở thành đầy tớ, đón tiếp trẻ nhỏ nhân danh Chúa Giêsu là hai hành động mà Chúa Giêsu, nhẹ nhàng nhưng cương quyết dạy các môn đệ phải "thi hành" cùng lúc. Thi hành để bắt chước Chúa Kitô, theo Chúa đến chân Thập giá, và như Chúa, trở nên tôi tớ phục vụ mọi người, "Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người "(Mc 9, 35).

Từ ngày Con Thiên Chúa nhập thể bước vào lịch sử loài người sau một chặng đường dài, từ cái nôi Belem để "cái nôi" trên đồi Calvariô ở Giêrusalem, đỉnh cao là (cây Thập giá). Những tiêu chí để đánh giá giá trị và nhân phẩm của con người hoàn toàn đảo lộn : phẩm giá của một người không tùy thuộc vào vị trí người ấy đang có, hay chức vụ người ấy thi hành... Sự vĩ đại của con người không lệ thuộc vào cái làm cho người ta quan trọng, nhưng dựa trên sự phục vụ người ấy làm đối với Thiên Chúa và tha nhân để tỏ bày vinh quang, sự tốt lành và tình yêu của Chúa.

Đón nhận là một phương tiện làm thi hành việc phục vụ này. Thánh sử Marcô dùng động từ " đón nhận " vào những dịp khác nhau với cách thức khác nhau, nhưng tất cả đều qui về một mối. Thánh sử nói với chúng ta về thái độ đón nhận Lời Chúa (x. Mc 4,20), đón nhậ Nước Thiên Chúa (x. Mc 10,15). Đón nhận có nghĩa là lắng nghe, sẵn sàng, đón nhận Đấng Vô Cùng trở thành Hài Nhi, đón nhận các trẻ nhỏ còn trong nôi, phản ánh của trời cao.

Đem một em bé đặt giữa các môn đệ, ôm nó, Chúa Giêsu dạy các ông một bài học. Đứa trẻ Chúa ôm lấy là chính Người, vì Người là dấu chỉ Chúa Cha sai đến. Trẻ em là dấu chỉ lòng trắc ẩn của Thiên Chúa và sự vâng phục đầy tình con thảo đối với Con Một Chúa đã trở nên bé nhỏ vì yêu thương và chịu đóng đinh trong sự vâng phục giữa những kẻ gian ác. Hài Nhi ấy đến từ Thiên Chúa ; những lời sau đây của Chúa Giêsu : ( "Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy, tức là đón tiếp chính mình Thầy. Và ai đón tiếp Thầy, thực ra không phải đón tiếp Thầy, nhưng là đón tiếp Đấng đã sai Thầy "Mc 9,37) thật rõ ràng : đứa trẻ đặt giữa các ông là hình ảnh của Chúa Kitô, đồng thời cũng là hình ảnh của người kitô hữu, hơn nữa là hình ảnh của chính Thiên Chúa. Đón nhận trẻ nhỏ nhân danh Chúa Kitô là đón nhận mầu nhiệm của Thiên Chúa.

Tin Mừng hôm nay là một bài giáo lý nhấn mạnh đến nhân tính của Con Thiên Chúa: Chúa Giêsu là Con của loài người. Đó là lý do tại sao cái chết và sự phục sinh của Chúa là những điều cụ thể, có thật. Chúa không trách các môn đệ nhưng giải thích cho các ông về cách thức của người đứng đầu: đón nhận trẻ nhỏ là đón nhận chính Chúa và Chúa Cha (x. Mc 9,37).

Các môn đệ phải khó khăn lắm mới hiểu rằng bước theo Chúa Giêsu đồng nghĩa với việc từ bỏ mình vác thập giá mình mà bước, nên họ sợ. Chúng ta cũng thế, chúng ta sợ hiểu, không phải chúng ta không hiểu, nhưng vì chúng ta không muốn hiểu. Em bé được đặt giữa các môn đệ là dấu chỉ nhiệm mầu tự hủy của một vì Thiên Chúa nộp mình cho con người. Nghĩa cử đón nhận "trẻ nhỏ" chứng thực lòng mộ mến Đấng Vô Cùng đã trở nên Hài Nhi bé nhỏ cho chúng ta và vì chúng ta.

Trong cuộc Thương Khó chúng ta thấy có lòng thương xót. Không có tình yêu nào cao cả và lớn lao hơn là trở nên nhỏ bé và trao dâng chính mình vì bạn hữu, bước lên thập giá và tự hào, như thánh Tông Đồ Phaolô khao khát : "Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì ngoài thập giá của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta "(Gal 6,14). Nhưng khi nói đến thập giá, nó không chỉ là hai miếng gỗ, nhưng là toàn thể loài người. Chúng ta là thập giá của Chúa Giêsu, vì khi dang tay ra, con người được coi như là hình hài của cây thập. Trong thực tế, đó là tất cả tình yêu mà Chúa Giêsu đã chấp nhận khi đến với chúng ta, mang vào thân cho đủ mức để sinh ơn cứu độ đời đời cho chúng ta.

Vì thế, việc theo Chúa luôn đòi con người phải có sự hoán cải sâu xa, thay đổi lối sống và suy nghĩ, mở rộng con tim để lắng nghe và biến đổi nội tâm. Nơi Thiên Chúa không có sự kiêu ngạo, chỉ có yêu thương và ban sự sống. Con người tuy bé nhỏ, nhưng lại khao khát được coi là cao cả, được chiếm chỗ nhất, trong khi Thiên Chúa không do dự hạ mình xuống, trở nên người rốt cùng.

Lạy Mẹ Maria, chúng con tín thác khẩn cầu Mẹ là Ðấng hoàn toàn sống hợp với Thiên Chúa, xin dạy chúng con trung thành theo Chúa Giêsu trên con đường yêu thương và khiêm hạ. Về mục lục.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

VÒNG XOAY

Có nhiều loại vòng – cả tốt và xấu, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Cái vòng thì hình tròn, tròn thì cứ lòng vòng, và người ta gọi là “vòng xoay”, nó cũng chính là cái vòng luẩn quẩn của cuộc đời liên quan chữ Danh. Vòng xoay có khi hóa thành vòng xoáy. Loại “vòng đời” rất đáng sợ, nó được tiền nhân mô tả thế này: “Cái vòng danh lợi cong cong – kẻ hòng ra khỏi, người mong bước vào”. Cứ thế, và cứ thế. Mệt thật! Và từ đó có thể xảy ra chiến tranh – cả lạnh và nóng.

Cuộc đời phàm nhân thật là phức tạp, thế nhưng chắc chắn rằng “cái vòng luẩn quẩn” đó không tại Thiên Chúa, mà tại chính chúng ta. Ngày xưa, trường hợp tháp Babel là đại họa đối với con người, nhưng đó không phải là thiên tai mà là nhân tai, là tội kiêu ngạo và ích kỷ của con người. Ngày nay cũng như vậy, tự con người tạo ra các tai họa, tự tạo ra ngày tận thế – chứ không phải do Thiên Chúa, mà lại cứ đổ lỗi cho Ông Trời và nói là “thiên tai”. Thánh Lm Arnold Janssen (1837-1909, sáng lập Dòng Ngôi Lời – SVD, Societas Verbi Divini) xác định: “Mặc dù ý Chúa KHÔNG PHÙ HỢP với bạn thì vẫn LUÔN ÍCH LỢI cho bạn”.

Với bản chất con người, ai cũng “máu” lắm (nhiều loại máu), thả ra cũng chẳng ai vừa: “Kẻ tám lạng, người nửa cân”. Cứ theo lẽ thường thì chẳng ai hơn/kém ai. Ai cũng thích được khen chứ chẳng ai thích bị chê. Nghĩa là con người rất thích có DANH, gọi là “háo danh”, như chí sĩ Nguyễn Công Trứ (1778–1858, tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hy Văn, là nhà quân sự, nhà kinh tế và nhà thơ lỗi lạc trong lịch sử Việt Nam cận đại) đã xác định: “Làm trai đứng ở trong trời đất, Phải có danh gì với núi sông”. Chữ DANH đối với nam giới càng “to lớn” hơn!

Kể cũng lạ (mà cũng chẳng lạ), bởi vì có mối liên quan “thân thiết” giữa DANH và LỢI – gọi là Danh Lợi. Chưa có cái “danh” thì tìm cách có, có “danh” rồi thì tìm cái “lợi”. Có những người mê “danh” đến nỗi sẵn sàng bỏ ra số tiền lớn để “chạy” bằng cấp, chức tước, địa vị,… Thậm chí có người còn dám bán rẻ lương tâm để mua lấy cái “danh”, ngay cả tình nghĩa trong các mối quan hệ cũng chỉ là “chuyện nhỏ”, như người ta “đùa mà thật” thế này: “Tình cảm là chín (chính), tiền bạc là mười”. Điều tất yếu ư? Có thể. Bởi vì “con gà còn tức nhau tiếng gáy” kia mà! Có lẽ dày dạn kinh nghiệm nên cụ Nguyễn Công Trứ mới chua chát nhận định: “Thế thái nhân tình gớm chết thay, Lạt nồng coi chiếc túi vơi đầy”, hoặc: “Tiền tài hai chữ son khuyên ngược, Nhân nghĩa đôi đường nước chảy xuôi”. Chua chát lắm!

Thẳng thắn mà nói thì tiền chẳng là gì, chỉ là những tờ giấy có cấp độ giá trị khác nhau theo những con số mà con người quy ước với nhau, chứ tự nó không có giá trị. Thế nhưng người ta coi “tiền là tiên, là Phật, là sức bật của con người, là nụ cười của tuổi trẻ, là sức khỏe của người già, là cái đà của danh vọng, là cái lọng để che thân, là cán cân của công lý”, do đó mà nó có thể “thay trắng, đổi đen” mọi thứ. Xã hội ngày nay rất rõ nét, đặc biệt là ở Việt Nam. Thật là kinh khủng! Chiến tranh tàn khốc xảy ra cũng chỉ vì danh lợi. Cái lưỡi không xương, nhiều đường lắt léo, thế nên: Thật thà bị ghét bỏ, nghèo khó bị miệt khinh, thông minh bị trù dập – nhưng gian ác được yêu thương, giàu sang được đề bạt, khoác lác được đề cao. Đời là thế! Than ôi, thế thái nhân tình Cười ra nước mắt nên mình thương ta!

Mọi thời và mọi nơi đều có người lành, kẻ dữ. Thời Cựu Ước, những người dã tâm đã hùa nhau: “Ta hãy gài bẫy hại tên công chính, vì nó chỉ làm vướng chân ta, nó chống lại các việc ta làm, trách ta vi phạm lề luật, và tố cáo ta không tuân hành lễ giáo” (Kn 2:12). Họ còn ranh mãnh và mỉa mai: “Ta hãy coi những lời nó nói có thật không, và nghiệm xem kết cục đời nó sẽ thế nào” (Kn 2:17). Người chính trực luôn bị ghét, người theo Chúa cũng bị “dè chừng”, thậm chí còn bị sát hại. Và rồi kẻ xấu toan tính: “Nếu tên công chính là con Thiên Chúa, hẳn Người sẽ phù hộ và cứu nó khỏi tay địch thù. Ta hãy hạ nhục và tra tấn nó, để biết nó hiền hoà làm sao, và thử xem nó nhẫn nhục đến mức nào” (Kn 2:18-19). Cuối cùng, họ quyết định: “Nào ta kết án cho nó chết nhục nhã, vì cứ như nó nói, nó sẽ được Thiên Chúa viếng thăm” (Kn 2:20a). Nhưng đó chỉ là “sai lầm của phường vô đạo” (Kn 2:20b).

Tuy nhiên, người công minh chính trực vẫn chẳng sợ gì. Cây ngay không sợ chết đứng như Từ Hải, vì họ luôn vững tin vào Chúa: “Lạy Thiên Chúa, xin dùng uy danh mà cứu độ, lấy quyền năng Ngài mà xử cho con. Lạy Thiên Chúa, xin nghe con nguyện cầu, lắng tai nghe lời con thưa gửi” (Tv 54:3-4). Phường kiêu ngạo có nổi lên chống đối, hay bọn hung tàn tìm hại mạng sống người công chính, dù chúng không kể gì đến Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa vẫn luôn độ trì và nâng đỡ những tôi trung và hiền tử của Ngài, vì Ngài là Đấng đời đời thành tín.

Mặc dù vui – buồn, sướng – khổ, hạnh phúc hay bất hạnh, người thật lòng theo Chúa vẫn một lòng một dạ chân thành thân thưa: “Con tự nguyện dâng Ngài lễ tế, lạy Chúa, con xưng tụng danh Ngài, thật danh Ngài thiện hảo” (Tv 54:8). Đó là cách sống của những người thực sự TRƯỞNG THÀNH TÂM LINH. Ước gì mọi người đều biết sống như vậy!

Thật thú vị với cách phân tích của Thánh Giacôbê: “Ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa” (Gc 3:6). Một cách suy luận lô-gích và minh nhiên. Và ngài kết luận: “Đức khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trở nên trước là THANH KHIẾT, sau là HIẾU HOÀ, KHOAN DUNG, MỀM DẺO, đầy TỪ BI và SINH NHIỀU hoa thơm trái tốt, KHÔNG thiên vị, cũng CHẲNG giả hình. Người xây dựng hoà bình thu hoạch được hoa trái đã gieo trong hoà bình, là cuộc đời công chính” (Gc 3:17-18). Phàm nhân chúng ta gọi đó là “luật nhân quả”, gieo gì gặt nấy: Tư tưởng  ước muốn  hành động  thói quen  tính cách  số phận. Từ ngàn xưa, Kinh Thánh đã xác định: “Gieo gió thì phải gặt bão” (Hs 8:9). Thánh Phaolô nói: “Ai theo tính xác thịt mà gieo điều xấu thì sẽ gặt được hậu quả của tính xác thịt là sự hư nát. Còn ai theo Thần Khí mà gieo điều tốt thì sẽ gặt được kết quả của Thần Khí là sự sống đời đời” (Gl 6:8).

Đúng là “XẤU hay làm TỐT, DỐT hay nói CHỮ”. Thế mới rắc rối, thế mới gây xung đột. Thánh Giacôbê đặt vấn đề: “Bởi đâu có chiến tranh, bởi đâu có xung đột giữa anh em? Chẳng phải là bởi chính những KHOÁI LẠC của anh em đang GÂY CHIẾN trong con người anh em đó sao?” (Gc 4:1). Và rồi thánh nhân đúc kết một cách vô cùng thẳng thắn: “Anh em HAM MUỐN mà không có, nên anh em CHÉM GIẾT; anh em GANH GHÉT cũng chẳng được gì, nên anh em XUNG ĐỘT với nhau, GÂY CHIẾN với nhau. Anh em không có, là vì anh em KHÔNG XIN; anh em XIN MÀ KHÔNG ĐƯỢC, là vì anh em xin với TÀ Ý, để lãng phí trong việc hưởng lạc” (Gc 4:2-3).

Công bình mà nói thì nhận xét của Thánh Giacôbê “chạm” đến bất kỳ ai, đến bất kỳ cương vị nào, đến tận mọi ngõ ngách sâu thẳm nhất của lòng dạ và tư tưởng con người. Thật vậy, đôi khi chúng ta ÍCH KỶ NGAY TRONG LỜI CẦU NGUYỆN của mình (như dụ ngôn hai người cùng cầu nguyện trong Đền Thờ – Lc 18:9-14), thậm chí còn dám “ngã giá” và “ra điều kiện” với chính Thiên Chúa mà cứ tưởng là mình… đạo đức và thánh thiện lắm. Ôi, nguy hiểm quá chừng!

Thánh Máccô cho biết một lần nọ, Đức Giêsu và các môn đệ đi băng qua miền Galilê, nhưng Ngài không muốn cho ai biết, vì Ngài đang dạy các môn đệ rằng: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Ngài, và ba ngày sau khi bị giết chết, Ngài sẽ sống lại” (Mc 9:31). Nhưng các ông không hiểu lời đó, vả lại các ông LO SỢ nên KHÔNG DÁM hỏi lại Ngài. Bao tháng ngày theo Thầy đi khắp mọi nơi, tới từng hang cùng ngõ hẻm, ăn dầm nằm dề với Thầy, thế mà các môn đệ vẫn “như người trên cung trăng”, lơ ngơ mà chẳng hiểu Sư Phụ có ý nói gì. Đã không hiểu mà lại không dám hỏi. Lạ thật! Nhưng phàm phu tục tử là thế, chúng ta cũng vậy, chẳng hơn gì đâu! Chúa biết thừa, nhưng Ngài vẫn thông cảm và lại càng thương các “ngu đệ” hơn. Tội lắm, thương lắm, thương tới cùng luôn (Ga 13:1).

Sau đó, Thầy trò cùng đến thành Ca-phác-na-um. Khi về tới nhà, Sư Phụ Giêsu hỏi các đệ tử: “Dọc đường, anh em đã bàn tán điều gì vậy?” (Mc 9:33). Hỏi để mà hỏi, hỏi cho có chuyện, hỏi để họ bớt… run, chứ Ngài biết tỏng, biết rõ mười mươi như “đi guốc trong bụng” từng người! Nhưng các ông nín thinh như ngậm tăm, vì Thầy nói trúng phoóc tim đen rồi. Rõ ràng khi đi đường, các ông đã CÃI NHAU xem ai là người LỚN HƠN. Tranh giành địa vị, tranh chấp ngôi thứ, tranh nhau cái DANH cốt để mong có cái LỢI. Không thể nào biện hộ, dù chỉ nửa lời. Cái “vòng kim cô” Tham-Sân-Si khó gỡ ghê!

Thầy Giêsu biết các môn đệ chưa thể “thoát tục”, Ngài ngồi xuống và gọi họ lại mà nói: “Ai muốn làm người ĐỨNG ĐẦU thì phải làm người RỐT HẾT, và làm người PHỤC VỤ MỌI NGƯỜI” (Mc 9:35). Kế đó, Người đem một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm lấy nó và nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy” (Mc 9:37).

Một cách so sánh đầy triết lý và thần học, với chuỗi lô-gích: TIẾP NHẬN trẻ nhỏ  TIẾP NHẬN Chúa Giêsu  TIẾP NHẬN Chúa Cha. Hay quá! Nhưng có lẽ chúng ta chưa thể hiểu đúng, hoặc không dám hiểu, thậm chí có thể là không muốn hiểu. Nhưng đừng quên điều này: Chúa Giêsu luôn thực tế, mạch lạc, rất hiếm khi bóng gió xa xôi (khi dùng dụ ngôn). Thế nhưng với “đầu óc bã đậu”, chúng ta cảm thấy khó lĩnh hội thấu đáo để có thể thực hành những bài học “đơn giản” của Ngài là SỐNG YÊU THƯƠNG và PHỤC VỤ: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20:28). Chính Ngài đã LÀM rồi mới NÓI.

Chẳng dễ gì thoát khỏi vòng danh lợi và vòng kiềm tỏa của nó, nhưng không thoát thì không xong. Làm sao đây? Chỉ có cách làm theo “mẹo” của Chúa Giêsu: “Nếu anh em không TRỞ LẠI mà NÊN NHƯ TRẺ NHỎ thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 18:3). Danh lợi chỉ là thứ tạm bợ, chóng qua, thế mà người ta vẫn tìm mọi thủ đoạn để giành giật bằng mọi giá. Đó là loại “giàu” khiến người ta khó vào Nước Trời nhất. Cụ Nguyễn Công Trứ nhận định: “Ra trường danh lợi vinh liền nhục, Vào cuộc trần ai khóc trước cười”. Chí lý thay, độc đáo quá, tuyệt vời lắm!

Có mối liên quan kỳ lạ: “Không có TÌNH YÊU và HÀNH ĐỘNG thì người thông thái nhất cũng chẳng là gì” (Thánh Teresa Hài Đồng Giêsu). Thánh Juliana Norwich phân tích: “Chân lý ngắm nhìn Thiên Chúa, sự khôn ngoan chiêm ngưỡng Thiên Chúa, từ hai thứ đó phát sinh cái thứ ba là niềm vui thánh thiện tuyệt vời nơi Thiên Chúa, Đấng là tình yêu”. Thật chí lý khi Kinh Thánh nhắc nhở: “Làm xong một việc thì tốt hơn mới bắt đầu, nhẫn nại thì tốt hơn huênh hoang tự đắc. Chớ vội để cho lòng mình nổi giận, vì chỉ người ngu mới nuôi giận trong lòng” (Gv 7:8-9).

Lạy Thiên Chúa, xin biến đổi tâm hồn chúng con từng giây phút, để chúng con đừng giành nhau những thứ không phù hợp với Tin Mừng của Ngài, trái ngược với Nước Trời. Xin thúc đẩy chúng con không ngừng biết YÊU THƯƠNG và PHỤC VỤ đúng Tôn Ý Ngài. Trong khi phục vụ, đôi khi công việc có thể khiến chúng con cảm thấy cô đơn và nhàm chán, thậm chí còn bị hiểu lầm, xin giúp chúng con kiên tâm và tín thác vào Ngài, xin cho tâm hồn chúng con luôn bình an trong Ngài để ý Ngài nên trọn, tất cả xin vì Ngài mà thôi. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ của nhân loại. Amen. Về mục lục.

Trầm Thiên Thu

BÀI GIẢNG HUẤN CUỐI CÙNG

(Cảm nhận và suy niệm từ: Mc 9,30-37)

Vác thập giá

Chúa loan báo sự chết và sống lại:

Dạy Tông đồ can đảm chịu hy sinh.

Có khổ đau mới được phúc hiển vinh,

Vác thập giá theo Chúa vào Nước Chúa.

Phục vụ hết lòng

Muốn làm lớn hãy hạ mình rốt hết.

Đức khiêm nhu là phẩm giá con người,

Chẳng ai ưa kẻ ngạo mạn khinh đời,

Nhưng coi trọng bậc hiền nhân phục vụ.

Đức hiền lành

Lời Chúa dạy: “Yêu trẻ thơ là yêu Chúa”

Vì trẻ thơ trong trắng và hồn nhiên.

Ai yêu Thầy hãy ăn ở nhân hiền.

Họ sẽ được Cha Thầy yêu mến nữa…

Suy niệm

Nghe lời Chúa hôm nay ta suy được:

Là tín hữu luôn suy niệm Tin Mừng.

Không thể nào thờ Chúa cách tượng trưng,

Vì như thế là sống đạo tiêu cực… Về mục lục.

(Thế Kiên Dominic)

Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 25 thường niên năm B ngày 25-9-2018

SAO ANH NGỒI LẶNG LẼ ĐỂ LÒNG EM TÁI TÊ

“Sao anh ngồi lặng lẽ để lòng em tái tê

Hãy trả lời em đi nghĩ gì mà đợi chờ 

Nhiều lần chung ước mơ 

Bên nhau ta cùng hứa 

Quên đi chuyện năm xưa.” 

(Lam Phương - Thao Thức Vì Em)

(1 Thêsalônica 5,6-10)

Vâng. Có “chung ước mơ” và “bên nhau ta hẹn ước” đến thế, thì “anh (mới) ngồi lặng lẽ” để “lòng em tái tê”, rồi “đợi chờ” và “cùng hứa”. Hứa, những chuyện năm xưa luôn “Thao thức vì Em.”  Và cứ thao thức mãi, nên anh lại hát thêm những lời ê a, rên la như bên dưới:

“Anh ơi suốt đêm thao thức vì anh. 

Vì lời giã từ lúc anh ra về. 

Rằng mai đây anh lại đến. 

Ước nguyện trọn một đời. 

Là mình luôn luôn có đôi.

Anh ơi nhớ thương thương nhớ cả đêm. 

Làm sao quên được phút giây êm đềm. 

Chờ mong sao cho trời sáng. 

Đúng giờ mình hẹn hò. 

Là đời quên hết sầu lo.”

Lam Phương – bđd)

Là, nghệ sĩ chuyên viết các nhạc bản theo nhịp “Rumba”, “Bolero” nên mới hát những lời ỉ ôi, khăn gói quả mướp đến quên mệt. Thế đó, là tình người nghệ sĩ, ở đời. Còn, người nhà Đạo thì sao?

Nhà Đạo ấy à? Thì, cũng ê a những là hứa hẹn, rồi ước mơ/đợi chờ, vv và vv... Nhưng, đợi và chờ như thế, để được gì? Phải chăng, được những hứa hẹn, ước mơ khiến người dân đi Đạo cứ là mơ ước, ước mơ những chuyện ơ hờ, cả thế hệ?

Bản thân bần đạo bầy tôi đây, vốn dĩ là giáo-dân hạng thứ, cũng chẳng biết trả lời/trả vốn sao cho phải lẽ. Nên, cứ là lắng tai nghe đấng bậc vị vọng đâu đó ở bên Anh có lời trần thuật về tình cảnh Giáo hội Công giáo ngày nay, như sau:

“Giám Mục Anh: Có một cuộc khủng hoảng gồm ba lãnh vực đang diễn ra trong Giáo Hội:

Đgm Philip Egan, vị Giám Mục thứ tám của Giáo phận Portsmouth, miền Nam nước Anh, đã viết thư cho Đức Giáo Hoàng để yêu cầu ngài triệu tập một Thượng Hội Đồng Giám Mục Ngoại Thường hầu giải quyết cuộc khủng-hoảng lạm-dụng tình-dục đang làm điêu-đứng Giáo Hội.

Trong cuộc phỏng vấn dành cho National Catholic Register hôm 10 tháng 9, vị Giám Mục Anh, năm nay 65 tuổi, nhấn mạnh rằng cuộc khủng hoảng tai tiếng lạm dụng tính dục đang diễn ra trong Giáo Hội không chỉ bao gồm hai lãnh vực là những tội lỗi và tội ác chống lại giới trẻ bởi các thành viên trong hàng giáo sĩ; và việc xử lý sai và che đậy bởi hàng giáo phẩm.

Thực ra, cuộc khủng hoảng hiện nay còn có một chiều kích thứ ba là những tội lỗi liên quan đến giới đồng tính trong hàng giáo sĩ.

Đức Giám mục nói:

“Giáo Hội thuộc về Chúa Kitô. Giáo Hội là thánh thiện, mặc dù, như chúng ta có thể thấy, Giáo Hội được tạo thành từ những con người tội lỗi như bạn và tôi. Giáo Hội tồn tại để kêu gọi những người tội lỗi và giúp họ trở nên thánh thiện.

Có một cuộc khủng hoảng bao gồm ba lãnh vực ở đây: thứ nhất, là những tội lỗi và tội ác chống lại giới trẻ bởi các thành viên trong giáo sĩ; thứ hai, các nhóm đồng tính tập trung quanh Tổng Gm McCarrick, nhưng cũng có mặt ở các miền khác trong Giáo Hội; và kế đến, thứ ba, là việc xử lý sai và che đậy bởi hàng giáo phẩm ngay cả ở các tầng lớp cao nhất.”

ĐGm Egan cảnh cáo rằng những vấn đề này sẽ có những hậu quả nghiêm trọng đến chứng tá của Giáo Hội trước thế giới và sứ vụ mà Chúa đã ủy thác cho Giáo Hội Ngài. Ngài nói:

“Chúng ta biết rằng tất cả những vấn đề này ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực trong xã hội hiện đại, và chúng ta biết rằng ở nhiều nơi trên thế giới, chẳng hạn như ở đây ở Vương quốc Anh này, đã có những quy ước phòng ngừa rất mạnh mẽ được thực hiện trong nhiều năm qua.

Tuy nhiên, những vụ tai tiếng vẫn ảnh hưởng đến chính tính chất bí tích của Giáo Hội và gây thiệt hại cho sứ mệnh truyền giáo của chúng ta. Tất nhiên, chúng ta cũng phải nhớ rằng việc truyền giáo luôn luôn là hai chiều, như hít vào và thở ra.

Chúng ta không thể trao ra những gì chúng ta chưa có. Trong chập chùng những vụ tai tiếng này, không dễ dàng để đưa ra các chứng tá đức tin.”

Ngài nói tiếp:

“Tuy nhiên, tất cả những gì chúng ta có thể làm là cầu nguyện cùng Chúa Thánh Thần, cầu khấn sự cầu bầu của Đức Maria, là Mẹ của Giáo Hội, để chúng ta có thể lớn lên trong sự thánh thiện, để chúng ta có thể làm sâu sắc thêm đức tin của chúng ta, tăng gấp đôi lòng nhiệt thành cầu nguyện, sự hăng say học hỏi Kinh Thánh, lòng yêu mến Chúa Giêsu ngự trong Thánh Thể, và những nỗ lực của chúng ta để sống trong thực tế những gì chúng ta tuyên xưng.

“Bức thư thỉnh cầu Đức Giáo Hoàng triệu tập một Thượng Hội Đồng Giám Mục Ngoại Thường để giải quyết cuộc khủng hoảng lạm dụng tính dục đã được gửi đến Đức Thánh Cha vào ngày 22 tháng Tám, và được công bố trên trang web của Giáo phận Portsmouth. ĐGm Egan nói rằng đề xuất của ngài nảy sinh bởi những vụ tai tiếng tình dục gần đây ở Mỹ, đặc biệt là sau khi báo cáo của bồi thẩm đoàn Pennsylvania được công bố, cũng như các trường hợp khác ở Ái Nhĩ Lan, Chí Lợi và Úc.

“Lạm dụng tình dục bởi hàng giáo sĩ dường như là một hiện tượng hoàn vũ trong Giáo Hội,” Đức Giám mục Egan viết trong thư gởi cho Đức Giáo Hoàng. “Là một người Công Giáo và là một Giám mục, những điều được phơi bày này làm tôi đau buồn và cảm thấy nhục nhã.”

ĐGm Egan nói rằng, bên cạnh những cảm giác này, ngài cảm thấy bị thôi thúc phải đưa ra một “gợi ý mang tính xây dựng” hơn và xin Đức Giáo Hoàng cân nhắc việc triệu tập một Thượng Hội Đồng Giám Mục về đời sống và công việc mục vụ của hàng giáo sĩ (xc. giesu.net 11/9/2018 Đặng Tự Do chuyển ngữ).

Trước tình hình sục sôi trong Giáo hội như thế, có đấng bậc thày dạy thuộc trường/lớp Đại học Anh quốc lại có những nhận-định khá thực tế như sau:

“Thinh lặng, là thành-phần sống còn của những gì bị mất đi trong lịch sử, một dụng cụ cần-thiết để giúp ta tạo nghĩa cho những chuyện đã được viết và là bằng cớ nhãn-tiền về những gì ta sở hữu…

Thinh lặng, là phần chính của xác thể trong đó các lớp xương làm nền cho chứng cứ tích-cực của lịch sử được mặc áo quần để che đậy…

Nói gì đi nữa, thinh lặng lại vẫn là sở-hữu riêng của niềm tin Kitô-giáo. Do-thái-giáo, một trong hai thể-loại chính của Đạo Chúa, đã khởi sự chuyện trò sống động về lặng thinh. Các thể-loại lặng thinh khác hội-nhập vào với niềm tin Do-thái-giáo và Kitô-giáo từ các nơi thuận tình khác như nền văn-hóa Hy-Lạp đã cung-cấp gốc-nguồn cho Ki-tô-giáo và tạo-lập từ một trung khu nào đó còn xa hơn…” (X. Diarmaid MacCulloch, Silence: A Christian History, Penguin Book 2013 tr 2-5)

Tắt một lời, trong cuộc sống Giáo hội ở khắp nơi, kể ra không hết các tình-huống ồn-ào, sôi sục khiến dân con Đạo Chúa khó lòng mà giữ thinh lặng để còn sống. Sống có suy-tư, trầm-mặc và quyết-tâm như nhiều đấng bậc từng hành-xử trong quá-khứ đầy sinh động.

Sống quyết-tâm trong thinh lặng đôi lúc, lại cũng giống như nghệ-sĩ nhà vẫn diễn tả sự thể bằng các ca-từ nhạc như đã hát những câu sau:

“Anh biết hay chăng

Thương anh nhớ anh tất cả là anh 

Còn gì đẹp bằng lúc ta sum vầy 

Cầu mong sao duyên đẹp đôi 

Ước nguyện cả cuộc đời 

Là được mãi mãi gần nhau.”

(Lam Phương - Thao Thức Vì Em)

Thao-thức vì Em hay vì Anh, có khi chỉ vì cứ thấy Anh hoặc Em gặp phải những tình-huống khó khăn như thế, mà thương thôi. Thương đây, không mang tính thương hại, hoặc thương rồi làm hại; hoặc thương cho lắm chỉ có hại cho người “bị” thương mà thôi.

Thao thức vì Em, còn là và sẽ là cứ thế mà thức rồi lao xao theo giòng đời “chảy xiết” như giòng nước nổi trôi, suốt một đời. Là, đời người có nhiều năm tháng cứ kéo dài nhiều ngày đến sốt ruột, thôi.

Thao thức vì Em, hoặc vì Đức Chúa Bậc Thày mình, còn như Đấng Thánh Hiền từng căn dặn hết mọi người, rằng:

“Vậy chúng ta đừng ngủ mê như những người khác, nhưng hãy tỉnh thức và sống tiết độ. Ai ngủ, thì ngủ ban đêm; ai say sưa, thì say sưa ban đêm. Nhưng chúng ta, chúng ta thuộc về ban ngày, nên hãy sống tiết độ, mặc áo giáp là đức tin và đức mến, đội mũ chiến là niềm hy vọng ơn cứu độ. Vì Thiên Chúa đã không định cho chúng ta phải chịu cơn thịnh nộ, nhưng được hưởng ơn cứu độ, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Đấng đã chết vì chúng ta, để dầu thức hay ngủ, chúng ta cũng sống với Ngài” (1 Tx 5,6-10).

Trong tâm tình Thao thức vì Em hay vì Anh, tưởng cũng nên kết thúc câu chuyện luận phiếm cứ lai rai, kéo dài thời gian của người đọc, đến phát mệt. Thôi thì, cũng xin ban bố cho bần đạo bầy tôi rất lôi thôi ở đây một ân-huệ “để đời” rồi thôi, mà hát rằng:

“Anh ơi suốt đêm thao thức vì anh. 

Vì lời giã từ lúc anh ra về. 

Rằng mai đây anh lại đến. 

Ước nguyện trọn một đời. 

Là mình luôn luôn có đôi. 

Anh ơi nhớ thương thương nhớ cả đêm. 

Làm sao quên được phút giây êm đềm. 

Chờ mong sao cho trời sáng. 

Đúng giờ mình hẹn hò. 

Là đời quên hết sầu lo.”

(Lam Phương – bđd)

Cuối cùng thì, “Là đời quên hết sầu lo”, đó mới là chuyện quan-trọng với nhiều người, ở trong đời. Quan-trọng như vấn đề được người kể nói đến trong câu truyện ở bên dưới:

“Truyện rằng:

“Đời là một chuyến đi không biết điểm đến. Rất ít ai đến được điểm mình dự định. Thông thường ta bắt đầu cuộc hành trình với một ‎‎ý niệm đích điểm trong đầu, chỉ để nhận ra rất sớm là cuộc đời có rất nhiều chỗ rẽ bất ngờ, và sau một lúc thì ta chẳng chắc là đời ta rồi sẽ về đâu. Nhưng như vậy thì đời mới vui. Đọc truyện mà biết được đoạn cuối ngay từ khi khởi đầu thì cụt hứng rồi. Nhưng như vậy có nghĩa là đường đời không phải là đường thẳng, mà là đường quanh co ngoằn nghèo, cứ như đường rừng. Đôi khi đi cả chục cây số rồi mới khám phá ra là mình chỉ lại đến ngay điểm khởi hành.

Đường đời thật là thế. Nếu quan sát trẻ em và người già thì ta thấy rất giống nhau—cả hai cùng rất yếu về thể xác và cùng nhiều tình cảm hơn lý luận. Và ta bắt đầu từ bụi đất, sẽ trở về cùng bụi đất. Điểm cuối cũng là điểm khởi hành.

Khái niệm đường vòng này rất ích lợi trong kế hoạch sống của chúng ta. Nếu ta biết đời không phải là đường thẳng và ta có thể vòng lại điểm đã qua, thì tốt hơn là trên mỗi bước đi, ta nên ném ra vài hạt trái cây ngũ cốc bên đường, hy vọng là dọc đường sẽ mọc nhiều cây trái, để lúc nào đó ta vòng lại thì có thể đã có sẵn trái ngon chờ đợi! Đi đến đâu gieo hạt giống đến đó, tức là sống hôm nay mà trồng cho ngày mai đó, các bạn ạ.

Dĩ nhiên là không phải hạt nào cũng lên cây tốt. Nhiều hạt sẽ bị chim ăn, nhiều hạt sẽ chết đi, nhưng sẽ có một ít hạt nầy mầm sinh cây. Và những cây này, biết đâu lại sinh hoa trái và chim chóc sẽ mang hạt của chúng gieo rắc hàng bao nhiêu dặm xa khắp nơi. Cuộc đời biến hóa vô lường, làm sao ta có thể đoán hết hậu quả của chỉ một hạt nẩy mầm, huống chi là khi ta gieo nhiều hạt mỗi ngày.

Cho nên nếu sống khôn ngoan, thì ta gieo hạt trên mỗi bước đi.

Nhưng các hạt đó là những gì?

Thưa, chúng ta có thể chia các hạt ta có sẵn trong túi ra thành vài nhóm.

1. Những nụ cười, những lời cảm ơn, và những lời nói hiền dịu.

2. Tiền tài: Nếu có thể cho ai một tí tiền, thì cho. Nếu có thể cho ai mượn một tí tiền, thì cho mượn. Nếu có thể giúp ai đở đói một ngày, thì giúp.

3. Công việc: Nếu có thể mách bảo ai một cơ hội làm ăn thì mách bảo. Nếu có thể chỉ ai có một được một công việc thì chỉ. Nếu có thể dạy ai một cách kiếm tiền thì dạy.

4. Kiến thức: Nếu có thể dạy ai đó biết đọc, biết làm toán, thì dạy. Nếu có tài năng gì đó có thể chia sẻ lại với mọi người thì chia sẻ. Nếu có kỹ năng sống nào đó có thể dạy lại cho mọi người thì dạy.

5. Đạo đức và triết l‎ý sống: Nếu ta đã có kinh nghiệm sống biết thế nào là đạo đức, thế nào là thiếu đạo đức, thế nào là tốt cho cuộc sống, thế nào là có hại, con đường nào sẽ đưa đến khổ đau, con đường nào sẽ đưa đến an lạc, thì hãy chia sẻ lại với anh chị em, nhất là những người ít kinh nghiệm sống hơn.

6. Cách tự sống vững trên hai chân: Có lẽ điều tốt nhất ta có thể trao tặng một người là kiến thức và kinh nghiệm giúp cho người đó có thể tự sống, tự xoay sở, dù là họ có lọt vào bất kỳ tình huống khó khăn nào. Đây là giúp cho họ kỹ năng sống cũng như tự tin để sống mọi nơi, trong mọi hoàn cảnh. Phần cốt cán của nó là tư duy tích cực.

Tất cả những điều này mỗi chúng ta đều đã có sẵn trong túi không ít thì nhiều. Chẳng tốn kém tiền bạc hay công lao chỉ để lấy ra vài hạt trong túi ném ra bên lề đường mình đang đi.

Và tất cả các hạt này đều chỉ nằm trong một gia đình thực vật lớn, gọi là “tình yêu.”

Nếu mỗi người chúng ta đều gieo hạt dọc đường thì sẽ có hai chuyện xảy ra. Thứ nhất, riêng cá nhân ta, một lúc nào đó ta sẽ hưởng được trái ngọt của hạt giống ta gieo hôm nay. Bắt buộc là như vậy. Càng gieo nhiều và càng sống lâu, xác suất được hưởng của ta càng tăng rất cao. Thứ hai, khi nhiều người gieo dọc đường, thì ai đi đâu, dọc đường nào, cũng đều có trái ngon chờ mình trên cây.

Chúc các bạn một ngày vui. Hạt nào bạn gieo hôm nay?

Mến,

Trần Đình Hoành” (xc. Thanh Trúc, trích Gieo Hạt Từng Ngày, bài của Thích Phước Tịnh)  

Trần Ngọc Mười Hai

Có những lúc chỉ muốn lặng thinh

Như tình đã thuận

Nhưng không tài nào

Đạt kết quả khả quan

Chút nào hết. Về mục lục.

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.