Bài Giáo Lý 16: CÁC NGHI THỨC KẾT LỄ

27-11-2017 1,960 lượt xem

MỤC LỤC (Bấm vào mục lục)

Bài Giáo Lý 1: DẪN NHẬP VÀO THÁNH LỄ

Bài Giáo Lý 2: THÁNH LỄ LÀ KINH NGUYỆN

Bài Giáo Lý 3: THÁNH LỄ LÀ CUỘC TƯỞNG NIỆM MẦU NHIỆM VƯỢT QUA CỦA ĐỨC KITÔ

Bài Giáo Lý 4: TẠI SAO PHẢI THAM DỰ THÁNH LỄ NGÀY CHÚA NHẬT

Bài Giáo Lý 5: NGHI THỨC ĐẦU LỄ

Bài Giáo Lý 6: CỬ CHỈ SÁM HỐI

Bài Giáo Lý 7: KINH VINH DANH VÀ LỜI NGUYỆN NHẬP LỄ

Bài Giáo Lý 8: PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài Giáo Lý 9: TIN MỪNG VÀ BÀI GIẢNG

Bài Giáo Lý 10: Phụng Vụ Lời Chúa III – Kinh Tin Kính và Lời Nguyện Tín Hữu

Bài Giáo Lý 11: Phụng Vụ Thánh Thể I – Dâng Của Lễ

Bàì Giáo Lý 12: Phụng Vụ Thánh Thể II – Kinh Nguyện Thánh Thể

Bàì Giáo Lý 13: Phụng Vụ Thánh Thể III: "Kinh Lạy Cha" và việc "Bẻ Bánh"

Bàì Giáo Lý 14: Phụng Vụ Thánh Thể IV – Hiệp Lễ

Bài Giáo Lý 15: TAM NHẬT VƯỢT QUA

Bài Giáo Lý 16: CÁC NGHI THỨC KẾT LỄ

-----------------------------------------------------------------------------

Bài Giáo Lý 1:

Dẫn Nhập vào Thánh Lễ

“Chúng ta… phải hiểu rõ giá trị và ý nghĩa của Thánh Lễ, để sống mối liên hệ của chúng ta với Thiên Chúa một ngày một trọn vẹn hơn”.

Dưới đây là bản dịch bài giáo lý thứ nhất của ĐTC Phanxicô về Thánh Lễ, được ban hành ngày 8 tháng 11, 2017 tại Vatican. Hôm nay ĐTC bắt đầu loạt bài giáo lý về Thánh Lễ. Loạt bài giáo lý này rất quan trọng vì Thánh Thể là “trái tim” của Hội Thánh. ĐTC nói rằng chúng ta “phải hiểu rõ giá trị và ý nghĩa của Thánh Lễ, để sống mối liên hệ của mình với Thiên Chúa một ngày một trọn vẹn hơn”;  đồng thời “lớn lên trong sự hiểu biết … về một hồng ân cả thể mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta trong Bí Tích Thánh Thể”.

Anh chị em thân mến, Chào anh chị em!

Hôm nay chúng ta bắt đầu một loạt bài giáo lý mới, là những bài sẽ hướng chúng ta đến “trái tim” của Hội Thánh, là Thánh Thể.  Điều căn bản là chúng ta, các Kitô hữu, phải hiểu rõ giá trị và ý nghĩa của Thánh Lễ, để sống mối liên hệ của mình với Thiên Chúa một ngày một trọn vẹn hơn.

Chúng ta không thể quên được số rất đông các Kitô hữu, những người, trên toàn thế giới, trong 2000 năm lịch sử, đã chết để bảo vệ Thánh Thể; và bao nhiêu người ngày nay, còn đang liều mạng để tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật.  Vào năm 304, trong cuộc Bách Hại của Dioclatian, một nhóm Kitô hữu ở Bắc Phi đã ngạc nhiên vì họ đang cử hành Thánh lễ trong nhà và bị bắt. Trong cuộc thẩm vấn, Thống Đốc Roma hỏi họ tại sao họ đã làm như thế khi biết rằng điều ấy tuyệt đối không được phép. Họ trả lời: “Không có Chúa Nhật, chúng tôi không thể sống được”, nghĩa là: nếu chúng tôi không thể cử hành Thánh Lễ, chúng tôi không thể sống được; đời sống Kitô hữu của chúng tôi sẽ chết.

Thật vậy, Chúa Giêsu phán với các môn đệ rằng: “nếu các con không ăn thịt và uống Máu Con Người, thì các các con không có sự sống; ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6:53-54).

Các Kitô hữu từ Bắc Phi đã bị giết vì họ đang cử hành Thánh Lễ.  Họ đã làm chứng rằng người ta có thể từ bỏ đời sống trần thế vì Bí Tích Thánh Thể, bởi Bí Tích này cho chúng ta sự sống đời đời, nó làm cho chúng ta được thông phần vào việc chiến thắng sự chết của Đức Kitô. Chứng từ này thách đố tất cả chúng ta và đòi buộc phải có một câu trả lời về việc tham gia vào Hy Lễ Thánh Thể và đến gần Bàn Tiệc của Chúa có ý nghĩa gì đối với mỗi người chúng ta. Chúng ta có đang tìm kiếm nguồn suối “vọt ra nước hằng sống” cho sự sống đời không? [nguồn suối] biến cuộc đời chúng ta thành một hy lễ chúc tụng và tạ ơn thiêng liêng và biến chúng ta thành một thân thể trong Đức Kitô không?  Đây là ý nghĩa sâu xa nhất của Thánh Lễ, có nghĩa là “tạ ơn”: tạ ơn Thiên Chúa Cha, Con và Thánh Thần, Đấng đưa chúng ta vào và biến đổi chúng ta trong sự hiệp thông yêu thương của Ngài.

Trong các bài giáo lý sắp tới, tôi muốn trả lời một số câu hỏi quan trọng về Bí Tích Thánh Thể và Thánh Lễ, để tái tìm hiểu, hoặc tìm hiểu, xem tình yêu của Thiên Chúa tỏa sáng qua mầu nhiệm đức tin này như thế nào.

Công đồng Vaticanô II được cảm hứng sâu xa bởi ước muốn dìu dắt các Kitô hữu hiểu được sự cao cả của đức tin và vẻ đẹp của cuộc gặp gỡ Đức Kitô. Vì lý do này mà trước hết cần phải thực hiện, với sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, một cuộc canh tân Phụng Vụ thích hợp, bởi vì Hội Thánh nhờ đó mà liên tục sống và đổi mới chính mình.

Một chủ đề chính mà các Nghị phụ Công đồng nhấn mạnh đến là việc đào luyện về Phụng Vụ cho các tín hữu, là điều không thể thiếu được cho việc canh tân đích thực.  Và đây cũng chính là mục đích của loạt bài giáo lý mà chúng ta đang bắt đầu hôm nay: lớn lên trong sự hiểu biết của chúng ta về một hồng ân cả thể mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta trong Bí Tích Thánh Thể.

Bí Tích Thánh Thể là một sự kiện kỳ ​​diệu trong đó Chúa Giêsu Kitô, sự sống của chúng ta, làm cho Chính Người hiện diện. Tham dự Thánh Lễ “là thực sự sống lại Cuộc Khổ Nạn và Cái Chết cứu độ của Chúa chúng ta. Đó là một sự biểu lộ hữu hình: Chúa làm cho chính Mình hiện diện trên bàn thờ để được dâng lên cho Chúa Cha hầu cứu rỗi thế gian” (Bài giảng ở Domus Sanctae Marthae, ngày 10 tháng 2 năm 2014). Chúa ở đây với chúng ta, hiện tại. Chúng ta thường đi đến đó, nhìn các sự vật, nói chuyện với nhau trong khi linh mục đang cử hành Thánh Lễ ... và chúng ta không cử hành gần Người. Nhưng đó là Chúa! Nếu hôm nay Tổng Thống của nước Cộng hòa, hoặc một nhân vật nào đó quan trọng trên thế giới đến, chắc chắn rằng tất cả chúng ta sẽ lại gần ông ta, muốn chào đón ông ta. Nhưng hãy nghĩ: khi anh chị em đi dự Thánh Lễ, có Chúa ở đó! Và anh chị em bị phân tâm. Đó là Chúa! Chúng ta phải suy nghĩ về điều này. “Thưa Cha, vì các Thánh Lễ tẻ nhạt” - “Nhưng anh chị em nói gì, Chúa tẻ nhạt sao?” - “Không, không. Không phải là Thánh Lễ, mà các linh mục” - “Này, chớ gì các linh mục hoán cải, nhưng chính Chúa là Đấng ở đó!” Anh chị em có hiểu không? Đừng quên điều ấy. “Tham dự Thánh Lễ là đang sống một lần nữa Cuộc Khổ Nạn và Cái Chết cứu độ của Chúa chúng ta”.

Bây giờ chúng ta hãy thử tự hỏi mình một vài câu hỏi đơn giản. Chẳng hạn, tại sao chúng ta làm dấu Thánh Giá và thực hành Nghi thức Sám Hối vào đầu Thánh Lễ? Và ở đây tôi muốn thêm một lưu ý phụ. Anh chị em có thấy các trẻ em làm dấu Thánh Giá như thế nào không? Anh chị em không biết chúng đang làm gì, hoặc làm dấu Thánh Giá hoặc vẽ vời một đường nét. Chúng làm việc [cử chỉ] này. Trẻ em phải được dạy làm dấu Thánh Giá đúng cách. Đây là cách bắt đầu Thánh Lễ; đây là cách bắt đầu cuộc sống; đây là cách bắt đầu một ngày. Điều này có nghĩa là chúng ta được Thánh Giá của Chúa cứu chuộc. Hãy quan sát các trẻ em và dạy chúng cách làm dấu Thánh Giá cho đúng. Và những Bài Đọc này, trong Thánh Lễ, tại sao chúng lại ở đó? Tại sao có ba Bài Đọc vào Chúa Nhật và hai bài vào ngày khác? Tại sao lại đọc chúng? Các Bài Đọc trong Thánh Lễ có nghĩa gì? Tại sao lại đọc chúng và mục đích của chúng là gì? Hoặc, tại sao linh mục chủ tọa buổi Lễ lại nói ở một lúc nào đó: “Hãy nâng tâm hồn lên”? Ngài không nói: “Hãy nâng điện thoại di động lên để chụp ảnh!” Không, thật tệ! Tôi nói thật với anh chị em, tôi rất buồn lúc tôi cử hành Thánh Lễ ở Quảng trường Thánh Phêrô hoặc ở Vương Cung Thánh Đường khi thấy nhiều điện thoại di động được nâng lên, không những chỉ bởi các tín hữu mà còn bởi một số linh mục và thậm chí cả giám mục! Nhưng làm ơn! Thánh Lễ không phải là một buổi trình diễn: nhưng là buổi gặp gỡ Cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Chúa. Đó là lý do tại sao linh mục nói: “Hãy nâng tâm hồn lên”. Điều ấy có nghĩa gì? Hãy nhớ: không được dùng điện thoại di động.

Điều thực sự quan trọng là trở lại với cơ bản, tái khám phá điều gì là cần thiết, qua những gì chúng ta sờ mó và nhìn thấy được trong việc cử hành các Bí Tích. Câu hỏi của Thánh Tông Đồ Tôma (xem Ga 20:25), đấng tìm cách nhìn thấy và chạm tay vào vết thương trên thân thể của Chúa Giêsu, và mong ước có khả năng “chạm vào” Thiên Chúa một cách nào đó để tin vào Người. Điều mà Thánh Tôma xin Chúa là điều tất cả chúng ta cần: được gặp gỡ Người, chạm vào Người ngõ hầu chúng ta có thể biết Người. Các Bí Tích đáp ứng nhu cầu của con người. Các Bí Tích, cách đặc biệt là việc cử hành Bí Tích Thánh Thể, là những dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa, những cách đặc biệt để chúng ta gặp gỡ Ngài.

Như thế, qua những bài giáo lý này mà chúng ta bắt đầu hôm nay, tôi muốn cùng anh chị em tái khám phá vẻ đẹp tiềm ẩn trong việc cử hành Thánh Lễ và, một khi được tỏ lộ, nó mang lại ý nghĩa trọn vẹn cho cuộc sống của mỗi người. Cầu xin Đức Mẹ đồng hành với chúng ta trên đoạn đường mới này. Cảm ơn anh chị em. Về mục lục

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

Nguồn: http://w2.vatican.va/content/francesco/it/audiences/2017/documents/papa-francesco_20171108_udienza-generale.html

Bài Giáo Lý 2:

Thánh Lễ là Kinh Nguyện

Thánh Lễ “là cuộc gặp gỡ của tình yêu với Thiên Chúa qua Lời của Ngài, cùng Mình và Máu Chúa Giêsu”.

Dưới đây là bản dịch bài giáo lý thứ hai của ĐTC Phanxicô về Thánh Lễ, được ban hành ngày 15 tháng 11, 2017 tại Vatican. Hôm nay ĐTC tiếp tục loạt bài giáo lý về Thánh Lễ. Ngài nói rằng “Thánh Lễ là kinh nguyện, hay đúng hơn, đó là kinh nguyện tinh túy, cao cả nhất, cao siêu nhất, và đồng thời “cụ thể” nhất, do đó chúng ta không được nói chuyện hay chụp hình trong Thánh Lễ, mà phải chú t6am vào cuộc gặp gỡ với Chúa để Người phục hồi chúng ta lại với ơn gọi ban đầu của chúng ta: là hình ảnh và giống Thiên Chúa.”.

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Chúng ta hãy tiếp tục bài giáo lý về Thánh Lễ. Để hiểu được vẻ đẹp của việc cử hành Thánh Lễ, tôi muốn bắt đầu bằng một khía cạnh rất đơn giản: Thánh Lễ là kinh nguyện, hay đúng hơn, đó là kinh nguyện tinh túy, cao cả nhất, cao siêu nhất, và đồng thời “cụ thể” nhất. Thật vậy, đó là cuộc gặp gỡ của tình yêu với Thiên Chúa qua Lời của Ngài, cùng Mình và Máu Chúa Giêsu. Đó là một cuộc gặp gỡ với Chúa.

Nhưng trước hết chúng ta phải trả lời một câu hỏi. Kinh nguyện thật sự là gì? Đó là cuộc đối thoại trước nhất và quan trọng nhất, một mối liên hệ cá nhân với Thiên Chúa. Và con người được tạo ra như một hữu thể trong mối liên hệ cá nhân với Thiên Chúa chỉ thấy sự hiện thực trọn vẹn của mình trong cuộc gặp gỡ Đấng Tạo Dựng nên mình. Con đường sống là hướng đến cuộc gặp gỡ dứt khoát với Chúa.

Sách Sáng Thế Ký khẳng định rằng con người được tạo dựng theo hình ảnh và giống Thiên Chúa, Đấng là Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần, một mối liên hệ hoàn hảo của tình yêu là sự hiệp nhất. Từ đó, chúng ta có thể hiểu rằng tất cả chúng ta đều được tạo dựng để bước vào một mối liên hệ hoàn hảo của tình yêu, trong sự liên tục trao ban và đón nhận để như thế tìm thấy sự viên mãn của mình.

Khi ông Môsê, trước bụi gai đang cháy, nhận được ơn Thiên Chúa gọi, ông hỏi tên Ngài là gì. Và Thiên Chúa đã trả lời như thế nào? “Ta là Đấng Ta Là” (Xh 3:14). Cụm từ này, theo nghĩa ban đầu của nó, diễn tả sự hiện diện và quý mến, và ngay sau đó Thiên Chúa nói thêm, “Chúa, Thiên Chúa của tổ phụ ngươi, Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, và Thiên Chúa của Giacóp” (câu 15 ). Theo cách này, Đức Kitô cũng vậy, khi Người kêu gọi các môn đệ, kêu gọi họ ở với Người. Do đó, đây là ân sủng lớn lao nhất: để có thể trải nghiệm Thánh Lễ, Bí Tích Thánh Thể là khoảnh khắc đặc biệt để ở với Chúa Giêsu và nhờ Người, với Thiên Chúa và anh em chúng ta.

Cầu nguyện, giống như bất kỳ cuộc đối thoại chân thật nào, cũng có nghĩa là biết cách giữ im lặng, trong các cuộc đối thoại có những giây phút im lặng, trong im lặng cùng với Chúa Giêsu. Và khi chúng ta đi dự Thánh Lễ, có lẽ chúng ta đến trước năm phút và bắt đầu trò chuyện với người bên cạnh mình.  Nhưng đó không phải là giây phút để nói truyện: đó là giây phút để im lặng, để chuẩn bị cho cuộc đối thoại. Đó là giây phút để hồi tâm ngõ hầu chuẩn bị cho cuộc đối thoại với Chúa Giêsu. Sự im lặng rất quan trọng. Hãy nhớ những gì tôi đã nói tuần trước: chúng ta không dự một buổi trình diễn, chúng tôi sắp gặp gỡ Chúa, và sự im lặng chuẩn bị chúng ta và đi cùng chúng ta. Giữ im lặng cùng với Chúa Giêsu. Từ sự im lặng mầu nhiệm của Thiên Chúa nảy sinh ra Lời Ngài, là điều vang dội trong tâm hồn chúng ta. Chính Chúa Giêsu dạy chúng ta rằng thật sự có thể “ở lại” với Chúa Cha và Người chứng tỏ điều này bằng kinh nguyện của Người. Các Tin Mừng cho chúng ta thấy Chúa Giêsu rút vào nơi thanh vắng để cầu nguyện; các môn đệ, khi thấy mối liên hệ mật thiết này với Chúa Cha, cảm thấy muốn tham gia, và các ông xin Người, “Lạy Chúa, xin dạy chúng con cầu nguyện” (Lc 11:1). Chúng ta đã nghe điều này trong Bài Đọc Thứ Nhất, ở đầu buổi triều yết. Chúa Giêsu trả lời rằng điều đầu tiên cần thiết để cầu nguyện là có thể thưa “Lạy Cha”. Hãy coi chừng: nếu tôi không thể thưa “Lạy Cha” với Thiên Chúa thì tôi không thể cầu nguyện. Chúng ta phải học cách thưa, “Lạy Cha”, tức là đặt mình trong sự hiện diện của Ngài với lòng tin tưởng của con thảo. Nhưng để có thể học, thì cần phải khiêm tốn nhìn nhận rằng chúng ta cần phải được hướng dẫn, và nói một cách đơn giản: Lạy Chúa, xin dạy con cầu nguyện.

Đây là điểm thứ nhất: khiêm tốn, nhìn nhận mình là con cái, để nghỉ ngơi trong Chúa Cha, để tín thác nơi Ngài. Để vào Nước Trời chúng ta phải làm cho mình nhỏ bé như trẻ nhỏ. Theo nghĩa là trẻ nhỏ biết cách tin tưởng, chúng biết rằng có một ai đó sẽ lo cho chúng, về những gì chúng sẽ ăn, những gì chúng sẽ mặc và vân vân (c. Mt 6: 25-32). Đây là thái độ đầu tiên: tín thác và tin tưởng, như trẻ em đối với cha mẹ; biết rằng Thiên Chúa nhớ đến anh chị em và chăm sóc anh chị em, anh chị em, tôi, tất cả mọi người.

Thiên hướng thứ hai, một lần nữa điển hình của trẻ em, là để cho mình ngạc nhiên. Trẻ em luôn hỏi cả nghìn câu hỏi vì chúng muốn tìm hiểu thế giới; và chúng thậm chí còn thắc mắc về những điều nhỏ nhặt, bởi vì mọi sự đều mới mẻ đối với chúng. Để vào Nước Trời, chúng ta phải để cho mình ngạc nhiên. Trong mối liên hệ của chúng ta với Chúa, trong cầu nguyện - tôi hỏi - chúng ta có cho phép mình bị kinh ngạc, hay chúng ta nghĩ rằng mình đang nói lời cầu nguyện ấy với Thiên Chúa như con vẹt? Không, cầu nguyện là tin tưởng và mở lòng ra để kinh ngạc. Chúng ta có để cho Thiên Chúa, Đấng luôn là Thiên Chúa của ngạc nhiên, làm cho chúng ta kinh ngạc không? Bởi vì cuộc gặp gỡ với Chúa luôn là một cuộc gặp gỡ sống động, không phải là một chuyến viếng thăm viện bảo tàng. Đó là một cuộc gặp gỡ sống động, và chúng ta đi dự Thánh Lễ, chứ không đến một viện bảo tàng. Chúng ta hãy đi đến một cuộc gặp gỡ sống động với Chúa.

Tin Mừng nói về một ông Nicodemô (Ga 3: 1-21), một bậc lão thành, một một người có thẩm quyền ở Israel, đi đến gặp Chúa Giêsu; và Chúa nói với ông về sự cần thiết phải “sinh lại” (xem câu 3). Nhưng nó có nghĩa gì? Một người có thể “tái sinh” được không? Để trở lại ngõ hầu có hương vị, niềm vui, sự kỳ diệu của cuộc sống, là điều có khả thi không, ngay cả khi phải đối diện với rất nhiều thảm cảnh? Đây là một câu hỏi cơ bản về đức tin của chúng ta, và đây là ước muốn của mọi tín hữu thật sự: ước muốn được tái sinh, niềm vui được làm lại từ đầu. Chúng ta có ước muốn này không? Có phải mỗi người trong chúng ta đều muốn được tái sanh, được gặp Chúa không? Anh chị em có ước muốn này không? Thật vậy, chúng ta có thể dễ dàng bị đi lạc bởi vì, như hậu quả của nhiều hoạt động, của nhiều dự án sẽ được thực hiện, chúng ta còn lại ít thời gian và chúng ta mất cái nhìn về điều gì là cơ bản: cuộc sống của tâm hồn chúng ta, cuộc sống tinh thần của chúng ta, cuộc sống là cuộc gặp gỡ với Chúa trong kinh nguyện.

Thật ra, Chúa làm cho chúng ta ngạc nhiên bằng cách cho chúng ta thấy rằng Người yêu thương chúng ta ngay cả trong sự yếu đuối của chúng ta. “Chúa Giêsu Kitô ... là của lễ đền bù tội lỗi chúng ta, không những chỉ chúng ta mà còn tội lỗi của toàn thế giới” (1 Ga 2: 2).  Hồng ân này, một nguồn an ủi đích thực - nhưng Chúa luôn luôn tha thứ cho chúng ta - đây là sự an ủi thật, đây là một món quà được ban cho chúng ta qua Bí Tích Thánh Thể, đây là tiệc cưới mà Phu Quân gặp sự mỏng dòn của chúng ta. Tôi có thể nói rằng khi tôi rước Lễ trong Thánh Lễ, Chúa có gặp sự yếu đuối của tôi không? Vâng! Chúng ta có thể nói điều ấy vì nó là sự thật! Chúa gặp sự mỏng dòn của chúng ta để phục hồi chúng ta lại với ơn gọi ban đầu của chúng ta: là hình ảnh và giống Thiên Chúa. Đây là môi trường của Bí Tích Thánh Thể, đây là kinh nguyện. Về mục lục

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

Nguồn: http://w2.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2017/documents/papa-francesco_20171115_udienza-generale.html

Bài Giáo Lý 3:

Thánh Lễ là cuộc tưởng niệm Mầu Nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô

“Việc tham dự Thánh Lễ làm cho cho chúng ta bước vào mầu nhiệm của Đức Kitô, bằng cách cho chúng ta đi với Người từ cái chết sang sự sống.”

Dưới đây là bản dịch bài giáo lý thứ ba của ĐTC Phanxicô về Thánh Lễ, được ban hành ngày 22 tháng 11, 2017 tại Quảng trường Thánh Phêrô Vatican. Hôm nay ĐTC giủ thích tại sao Thánh Lễ là cuộc tưởng niệm Mầu Nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô. Ngài nhắn nhủ chúng ta phải ý thức rằng khi tham dự Thánh Lễ là chúng ta lên Núi Sọ cùng Chúa Giêsu chứ không phải đi xem một buổi trình diễn.

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Tiếp tục bài giáo lý về Thánh Lễ, chúng ta có thể tự hỏi: Thánh Lễ là gì? Thánh Lễ là cuộc tưởng niệm Mầu Nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô. Thánh Lễ cho chúng ta tham dự vào cuộc chiến thắng tội lỗi và sự chết của Mầu Nhiệm này, và mang lại ý nghĩa đầy đủ cho cuộc sống của chúng ta.

Vì lý do này, để hiểu được giá trị của Thánh Lễ, trước tiên chúng ta phải hiểu ý nghĩa theo Thánh Kinh của "việc tưởng niệm". Nó “không chỉ là tưởng nhớ các biến cố trong quá khứ, mà còn bằng cách nào đó làm cho các biến cố ấy hiện diện và được hiện tại hóa. Đây chính là cách dân Israel hiểu về cuộc giải phóng của họ từ Ai Cập: Mỗi lần lễ Vượt Qua được cử hành, các biến cố thời Xuất Hành lại hiện diện trong ký ức của các tín hữu, để họ làm sao cho cuộc sống của mình phù hợp với các biến cố ấy" (Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, số1363). Chúa Giêsu Kitô, với cuộc Khổ Nạn, cái Chết, sự Phục Sinh và lên trời của Người, đã hoàn tất Lễ Vượt Qua. Và Thánh Lễ là tưởng niệm cuộc Vượt Qua của Người, "cuộc xuất hành" mà Người đã thực hiện cho chúng ta, để giải thoát chúng ta khỏi tình trạng nô lệ và đưa chúng ta vào miền đất hứa của sự sống đời đời. Nó không chỉ là một lời nhắc nhở, không, nó còn hơn thế nữa: đó là để ghi nhớ những gì đã xảy ra cách đây 20 thế kỷ.

Bí tích Thánh Thể luôn luôn đưa chúng ta đến tột đỉnh của ơn cứu độ của Thiên Chúa: Chúa Giêsu, khi bẻ bánh ra cho chúng ta, đổ trên chúng ta tất cả lòng thương xót và tình yêu của Người, như Người đã làm trên thập giá, để đổi mới con tim chúng ta, cuộc sống chúng ta, và cách chúng ta hiệp thông với Người và với anh em chúng ta. Công Đồng Vaticanô II nói: “Mỗi khi hy tế Thập Giá được cử hành trên bàn thờ, qua đó ‘Đức Kitô là con chiên vượt qua của chúng ta đã chịu hiến tế’, thì công trình cứu chuộc chúng ta lại được thực hiện”. (Hiến chế tín lý Lumen Gentium, 3).

Mỗi cuộc cử hành Thánh Lễ là một tia nắng mặt trời không có hoàng hôn, là Chúa Giêsu Phục Sinh. Tham dự Thánh Lễ, đặc biệt vào ngày Chúa Nhật, có nghĩa là bước vào cuộc chiến thắng của Đấng Phục Sinh, được chiếu sáng bởi ánh sáng của Người, được sưởi ấm bởi sự ấm áp của Người. Qua việc cử hành Thánh Lễ, Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta được thông phần vào sự sống của Thiên Chúa, là sự sống có khả năng biến đổi tất cả con người hay chết của chúng ta. Và trong cuộc Vượt Qua của Người từ sự chết sang sự sống, từ thời gian đến vĩnh hằng, Chúa Giêsu cũng kéo chúng theo với Người để làm Lễ Vượt Qua. Thánh lễ được thiết lập cho Lễ Vượt Qua. Trong Thánh Lễ, chúng ta cùng chết và sống lại với Chúa Giêsu, và Người đưa chúng ta đến sự sống đời đời. Trong Thánh Lễ, chúng ta kết hợp với Người. Đúng hơn là, Đức Kitô sống trong chúng ta và chúng ta sống trong Người. Thánh Phaolô nói, "Tôi đã chịu đóng đinh cùng với Đức Kitô” và Thánh Nhân nghĩ rằng, “không còn là tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi. Và cuộc sống này, mà tôi sống trong thân xác, là sống trong đức tin vào Con Thiên Chúa, là Ðấng đã yêu thương tôi và đã hiến mạng sống Mình vì tôi" (Gal 2: 19-20).

Thực ra, Máu Người giải thoát chúng ta khỏi sự chết và việc sợ chết. Người giải thoát chúng ta không những chỉ khỏi sự thống trị của cái chết thể lý, mà còn cả cái chết thiêng liêng là sự dữ và tội lỗi, là những gì bắt giữ chúng ta mỗi khi chúng ta trở thành nạn nhân của tội lỗi của mình hay của người khác. Và rồi cuộc sống của chúng ta bị ô nhiễm, mất thẩm mỹ, mất ý nghĩa và đau khổ.

Thay vào đó, Đức Kitô ban lại sự sống cho chúng ta; Đức Kitô là sự sung mãn của đời sống, và khi phải đối diện với cái chết, Người đã vĩnh viễn tiêu diệt nó: "Từ cõi chết sống lại, Người huỷ diệt sự chết và canh tân sự sống" (Kinh nguyện Thánh Thể IV). Lễ Vượt Qua của Đức Kitô là chiến thắng cuối cùng trên sự chết vì Người đã biến đổi cái chết của Người thành hành động tình yêu tối cao. Người đã chết vì yêu! Và trong Bí Tích Thánh Thể, Người muốn truyền đạt tình yêu tha thiết và chiến thắng này. Nếu chúng ta đón nhận tình yêu ấy trong đức tin, chúng ta cũng có thể thật sự yêu mến Thiên Chúa và tha nhân, chúng ta có thể yêu như cách Người đã yêu chúng ta, bằng cách ban sự sống.

Nếu tình yêu của Đức Kitô ở trong tôi, tôi có thể trao hiến trọn vẹn chính mình tôi cho tha nhân, với niềm xác tín rằng cả khi người khác có thể làm tổn thương tôi, tôi sẽ không chết; nếu không thì tôi sẽ phải bảo vệ mình. Các vị tử vì đạo đã hiến mạng sống của các ngài chính vì xác tín về chiến thắng của Đức Kitô trên sự chết. Chỉ khi nào chúng ta cảm nghiệm được quyền năng này của Đức Kitô, quyền năng của tình yêu của Người, chúng ta mới thực sự tự do hiến mình mà không sợ hãi. Đây là Thánh Lễ: là bước vào cuộc Khổ Nạn, cái Chết, sự Phục Sinh và Lên Trời của Chúa Giêsu; khi chúng ta đi tham dự Thánh Lễ là y như chúng ta đang đi lên Núi Sọ, y như thế. Nhưng anh chị em hãy nghĩ xem: nếu lúc đi Lễ chúng ta đi lên Núi Sọ - chúng ta nghĩ bằng trí tưởng tượng - và chúng ta biết rằng người đang ở đó là chính Chúa Giêsu, thì chúng ta có được phép trò chuyện, chụp hình, trình diễn một chút không? Không! Vì đó là Chúa Giêsu! Chúng ta chắc chắn sẽ im lặng, than khóc, và thậm chí vui mừng vì được cứu độ. Khi chúng ta bước vào nhà thờ để cử hành Thánh Lễ, chúng ta hãy nghĩ về điều này: tôi đến Núi Sọ, nơi mà Chúa Giêsu hiến mạng sống cho tôi. Và như vậy việc trình diễn, đồn đại, bình phẩm ​​và những điều khiến chúng ta xa cách điều tuyệt mỹ này, là Thánh Lễ, chiến thắng của Chúa Giêsu, đều sẽ biến mất.

Tôi nghĩ rằng giờ đây chúng ta thấy rõ hơn là làm sao lễ Vượt Qua lại hiện diện và hoạt động mỗi khi chúng ta cử hành Thánh Lễ, nghĩa là, ý nghĩa của lễ tưởng niệm. Việc tham dự Thánh Lễ làm cho cho chúng ta bước vào Mầu Nhiệm của Đức Kitô, bằng cách cho chúng ta đi với Người từ cái chết sang sự sống, nghĩa là, ở đó trên Núi Sọ. Thánh Lễ là việc tái lập lại Núi Sọ, chứ không phải một buổi trình diễn. Về mục lục

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

Nguồn: http://w2.vatican.va/content/francesco/it/audiences/2017/documents/papa-francesco_20171122_udienza-generale.html

Bài Giáo Lý 4

Tại sao phải Tham Dự Thánh Lễ vào ngày Chúa Nhật

“Cuộc gặp gỡ Chúa vào ngày Chúa Nhật ban cho chúng ta sức mạnh để sống ngày hôm nay với niềm tin cậy và can đảm, và tiến bước với niềm hy vọng.”

Dưới đây là bản dịch bài giáo lý thứ tư của ĐTC Phanxicô về Thánh Lễ, được ban hành ngày 13 tháng 12, 2017 tại Đại Sảnh Phaolô VI ở Vatican. Hôm nay ĐTC giải thích tại sao chúng ta phải tham dự Thánh Lễ vào ngày Chúa Nhật: “Chúng ta cần phải tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật bởi vì chỉ với ân sủng của Chúa Giêsu, với sự hiện diện sống động của Người trong chúng ta và giữa chúng ta, mà chúng ta mới có thể thực thi giáo huấn của Người, và như vậy là các nhân chứng đáng tin cậy của Người”.

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Tiếp tục cuộc hành trình giáo lý về Thánh Lễ, hôm nay chúng ta tự hỏi: tại sao chúng ta đi tham dự Thánh Lễ vào các ngày Chúa Nhật?

Việc cử hành Thánh Lễ ngày Chúa Nhật là trung tâm của đời sống Hội Thánh (x Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, s. 2177). Là Kitô hữu, chúng ta đi tham dự Thánh Lễ vào ngày Chúa Nhật để gặp Chúa Phục Sinh, hay đúng hơn là để cho chúng ta được Người gặp gỡ, lắng nghe Lời Người, nuôi dưỡng chúng ta tại bàn tiệc của Người, và do đó trở thành Hội Thánh, nghĩa là nhiệm thể sống động của Người trong thế gian.

Ngay từ ban đầu người ta đã hiểu rằng các môn đệ của Chúa Giêsu, những người đã cử hành việc gặp gỡ Thánh Thể với Chúa vào ngày của tuần mà người Do thái đã gọi là “ngày thứ nhất trong tuần”, và người Rôma gọi là “ngày của mặt trời”, bởi vì trong ngày ấy Chúa Giêsu đã sống lại từ cõi chết và đã hiện ra với các môn đệ, trò truyện với các ông, ăn uống với các ông và ban Thánh Thần cho các ông (x. Mt 28:1; Mc 16:9,14; Lc 24:1,13; Ga 20:1,19), như chúng ta đã nghe trong bài Thánh Kinh. Ngay cả việc đổ đầy Thánh Thần vào Lễ Ngũ Tuần cũng xảy ra vào ngày Chúa Nhật, ngày thứ năm mươi sau ngày Phục Sinh của Chúa Giêsu. Vì những lý do này, mà ngày Chúa Nhật là một ngày thánh cho chúng ta, được thánh hóa bởi việc cử hành Thánh Thể, là sự hiện diện sống động của Chúa giữa chúng ta và cho chúng ta. Cho nên, Thánh Lễ biến ngày Chúa Nhật thành của Kitô giáo! Ngày Chúa Nhật của Kitô giáo xoay quanh Thánh Lễ. Ngày Chúa Nhật là gì với một Kitô hữu không có cuộc gặp gỡ với Chúa trong đó?

Tiếc thay, có những cộng đoàn Kitô hữu không thể vui hưởng Thánh Lễ mỗi Chúa Nhật; tuy nhiên, trong ngày thánh này, các cộng đoàn ấy cũng được mời gọi tụ tập lại trong cầu nguyện nhân danh Chúa, lắng nghe Lời Chúa và giữ cho niềm ước ao Thánh Thể được sống động.

Một số xã hội thế tục đã đánh mất ý nghĩa Kitô giáo của ngày Chúa Nhật được chiếu soi bởi Thánh Thể. Điều này thật đáng tiếc! Trong bối cảnh ấy cần phải hồi sinh ý thức này, để phục hồi ý nghĩa của ngày lễ, ý nghĩa của niềm vui, của cộng đồng giáo xứ, cùa tình đoàn kết, của sự nghỉ ngơi có sức làm tươi mát tâm hồn và thân xác (x. Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, s. 2177-2188). Thánh Thể là thầy dạy tất cả các giá trị này, từ Chúa Nhật này đến Chúa nhật khác. Vì lý do này Công Đồng Vaticanô II muốn nhấn mạnh rằng "Chúa Nhật là ngày lễ nguyên thủy phải được đề ra và khắc sâu vào lòng đạo đức của các tín hữu, ngõ hầu nó cũng trở thành một ngày của vui mừng và kiêng việc" (Hiến Chế Phụng Vụ Thánh Sacrosanctum Concilium, s. 106).

Trong những thế kỷ đầu, không có việc kiêng việc vào ngày Chúa Nhật: nó là một đóng góp cụ thể của Kitô giáo. Theo truyền thống Thánh Kinh, người Do Thái nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy, trong khi trong xã hội Rôma người ta đã không dự kiến có một ngày nghỉ việc nặng nhọc hằng tuần. Chính cảm thức sống như con cái chứ không như nô lệ của Kitô hữu, được sinh động hóa bởi Bí Tích Thánh Thể, đã biến ngày Chúa Nhật thành một ngày nghỉ hầu như phổ quát.

Không có Đức Kitô, chúng ta bị kết án dưới ách thống trị của sự mệt mỏi của cuộc sống hàng ngày, với những lo âu của nó, và nỗi sợ hãi về ngày mai. Cuộc gặp gỡ Chúa vào ngày Chúa Nhật ban cho chúng ta sức mạnh để sống ngày hôm nay với niềm tin cậy và can đảm, và tiến bước với niềm hy vọng. Đó là lý do tại sao chúng ta, các Kitô hữu, đến gặp Chúa vào ngày Chúa Nhật, trong việc cử hành Thánh Lễ.

Sự hiệp thông Thánh Thể với Chúa Giêsu, Phục Sinh và Hằng Sống, báo trước ngày Chúa Nhật không có hoàng hôn, khi sẽ không còn có vất vả, đau khổ, buồn rầu, hay nước mắt nữa, mà chỉ có niềm vui được sống sung mãn và muôn đời với Chúa. Thánh Lễ Chúa Nhật cũng nói với chúng ta về sự nghỉ ngơi hồng phúc này, bằng cách dậy chúng ta biết tín thác vào bàn tay Cha trên trời, trong tuần tới.

Chúng ta có thể trả lời thế nào với những người nói rằng không cần tham dự Thánh Lễ, kể cả ngày Chúa Nhật, bởi vì điều quan trọng là ăn ngay ở lành và thương yêu tha nhân?  Đúng là phẩm chất của đời sống Kitô hữu được đo bằng khả năng yêu thương, như Chúa Giêsu đã nói: "Từ điều này mà mọi người sẽ biết các con là môn đệ Thầy: là nếu các con có lòng yêu thương nhau!" (Ga 13:35); nhưng làm sao chúng ta có thể thực thi Tin Mừng mà không múc năng lượng cần thiết để thực hiện điều này, hết Chúa Nhật quá Chúa Nhật khác, từ nguồn không bao giờ cạn của Thánh Thể? Chúng ta không tham dự Thánh Lễ để dâng lên Thiên Chúa một điều gì đó, nhưng để nhận được từ Ngài những gì chúng ta thực sự cần. Điều này được nhắc lại qua kinh nguyện của Hội Thánh, lời cầu nguyện dâng lên Thiên Chúa: "Chúa không cần chúng con ca tụng, nhưng việc chúng con cảm tạ Chúa lại là một hồng ân Chúa ban, vì những lời chúng con ca tụng chẳng thêm gì cho Chúa, nhưng đem lại cho chúng con ơn cứu độ.” (Sách Lễ Rôma, Kinh Tiền Tụng Chung IV).

Kết luận, tại sao đi tham dự Thánh Lễ vào ngày Chúa Nhật? Nếu trả lời rằng đó là một luật của Hội Thánh thì chưa đủ; lý do là luật này giúp bảo tồn giá trị của ngày Chúa Nhật, nhưng một mình nó thì chưa đủ. Các Kitô hữu chúng ta cần phải tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật bởi vì chỉ với ân sủng của Chúa Giêsu, với sự hiện diện sống động của Người  trong chúng ta và giữa chúng ta, mà chúng ta mới có thể thực thi giáo huấn của Người, và như vậy là các nhân chứng đáng tin cậy của Người. Về mục lục

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

Nguồn:http://w2.vatican.va/content/francesco/it/audiences/2017/documents/papa-francesco_20171213_udienza-generale.html

Bài Giáo Lý Thứ 5: Nghi Thức Đầu Lễ

“Những cử chỉ này, … là những cử chỉ rất quan trọng bởi vì chúng diễn tả ngay từ ban đầu rằng Thánh Lễ là một cuộc gặp gỡ yêu thương với Đức Kitô.”

Dưới đây là bản dịch bài giáo lý thứ năm của ĐTC Phanxicô về Thánh Lễ, được ban hành ngày 20 tháng 12, 2017 tại Đại Sảnh Phaolô VI ở Vatican.  Hôm nay ĐTC giải thích về Nghi Thức Đầu Lễ: “Mục đích của chúng … là để đảm bảo ‘rằng các tín hữu đến với nhau, hợp thành một cộng đồng, và chuẩn bị chính mình để lắng nghe Lời Chúa với đức tin và cử hành Thánh Lễ một cách xứng đáng’”.

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!  

Hôm nay tôi muốn bước vào trung tâm của việc cử hành Thánh Lễ.  Thánh Lễ gồm có hai phần, là Phụng Vụ Lời Chúa và Phụng Vụ Thánh Thể, được nối kết chặt chẽ với nhau để tạo thành một việc thờ phượng duy nhất (x Sacrosanctum Concilium, 56; Hướng dẫn chung của Sách Lễ Rôma, 28).  Được mở đầu bằng một số nghi thức chuẩn bị và kết thúc bằng những nghi thức khác, do đó việc cử hành là một khối duy nhất và không thể tách rời được, nhưng để giúp anh chị em hiểu biết hơn tôi sẽ cố gắng giải thích một số giây phút của nó, mỗi giây phút này có khả năng chạm đến và liên quan đến một khía cạnh nhân loại của chúng ta.  Cần phải biết những dấu chỉ thánh này để sống Thánh Lễ cách trọn vẹn và để thưởng thức tất cả vẻ đẹp của nó.  

Khi dân chúng đã tụ tập, cuộc cử hành bắt đầu với nghi thức đầu lễ, bao gồm việc tiến vào của các vị cử hành hoặc vị chủ tế, lời chào - “Chúa ở cùng anh chị em”, “Bình an [của Chúa] ở cùng anh em” -, nghi thức sám hối - “tôi thú nhận,” ở đó chúng ta xin Chúa tha thứ các tội lỗi của mình – kinh Kyrie, Gloria, và Lời Nguyện Nhập Lễ: lời nguyện này được gọi là “Lời nguyện thu thập” không phải vì có việc thu góp các của lễ; nó là sự thu góp các ý chỉ cầu nguyện của mọi người; và sự thu góp các ý chỉ của mọi người được nâng lên trời như lời cầu nguyện.  Mục đích của chúng - các nghi thức đầu lễ - là để đảm bảo “rằng các tín hữu đến với nhau, hợp thành một cộng đồng, và chuẩn bị chính mình để lắng nghe Lời Chúa với đức tin và cử hành Thánh Lễ một cách xứng đáng” (Hướng Dẫn Chung của Sách Lễ Rôma, 46).  Thật không phải là một thói quen tốt khi nhìn đồng hồ và nói: “Tôi đến đúng giờ, tôi đến sau bài giảng và như thế tôi làm tròn lề luật”.  Thánh Lễ bắt đầu bằng dấu Thánh Giá, với các nghi thức đầu lễ này, bởi vì chúng ta bắt đầu thờ phượng Thiên Chúa như một cộng đồng.  Và chính vì điều ấy mà việc quan trọng là lo liệu sao để đừng đến trễ, nhưng đến sớm, để chuẩn bị tâm hồn cho nghi thức này, cho việc cử hành của cộng đồng.

Thường thì trong khi hát bài ca nhập lễ, vị linh mục với các thừa tác viên khác trong cuộc rước tiến đến cung thánh, và ở đây ngài chào bàn thờ với một cúi đầu và một dấu chỉ tôn kính, ngài hôn bàn thờ, và khi có xông hương thì ngài xông hương.  Tại sao?  Bởi vì bàn thờ là Đức Kitô: Bàn thờ là một hình ảnh của Đức Kitô.  Khi chúng ta nhìn lên bàn thờ, chúng ta nhìn lên nơi Đức Kitô ngự.  Bàn thờ là Đức Kitô.  Những cử chỉ này, là những cử chỉ có nguy cơ không mấy được chú ý, là những cử chỉ rất quan trọng bởi vì chúng diễn tả ngay từ ban đầu rằng Thánh Lễ là một cuộc gặp gỡ yêu thương với Đức Kitô, Đấng “hiến thân mình trên thập giá [...] đã trở thành bàn thờ, lễ vật và tư tế” (Kinh Tiền Tụng Phục Sinh V).  Thực ra, bàn thờ như một dấu chỉ của Đức Kitô, “là trung tâm của cử chỉ tạ ơn được thực hiện với Thánh Thể” (Hướng dẫn chung của Sách Lễ Rôma, 296), và cả cộng đồng chung quanh bàn thờ, là Đức Kitô; không phải để nhìn mặt, mà để nhìn vào Đức Kitô, bởi vì Đức Kitô là trung tâm của cộng đồng, Người không cách xa nó.

Rồi có dấu Thánh Giá.  Vị linh mục chủ tế làm dấu Thánh Giá trên mình và tất cả các thành viên của cuộc tụ họp cũng làm như thế, ý thức rằng hành động phụng vụ được thực hiện ‘nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.” Và ở đây tôi chuyển sang một chủ đề rất nhỏ khác.  Anh chị em có thấy các trẻ em làm dấu Thánh Giá như thế nào không?  Chúng không biết mình đang làm gì: đôi khi chúng vẽ một hình, mà không phải là dấu Thánh Giá.  Các cha mẹ, ông bà, làm ơn dạy dỗ con cái, ngay từ ban đầu - từ khi còn nhỏ - biết làm dấu Thánh Giá cho đúng.  Và giải thích cho chúng biết rằng [làm dấu Thánh Giá] là để được Thánh Giá Chúa Giêsu bảo vệ.  Và Thánh Lễ bắt đầu bằng dấu Thánh Giá.  Có thể nói được rằng tất cả các lời cầu nguyện di chuyển trong không gian của Thiên Chúa Ba Ngôi - “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” - đó là không gian của sự hiệp thông vô hạn; nó bắt nguồn và kết thúc ở tình yêu của Một Thiên Chúa Ba Ngôi, được biểu lộ và ban cho chúng ta trong Thánh Giá của Đức Kitô.  Thật vậy, mầu nhiệm Vượt Qua của Người là một hồng ân của Thiên Chúa Ba Ngôi, và Thánh Thể luôn phát sinh từ trái tim bị đâm thủng của Người.  Cho nên, khi làm dấu Thánh Giá trên mình, chúng ta không những chỉ nhớ đến Bí Tích Rửa Tội của mình, mà còn khẳng định rằng cầu nguyện phụng vụ là cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa trong Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã nhập thể, đã chết trên Thập Giá và đã sống lại trong vinh quang vì chúng ta.

Sau đó, linh mục nói lời chào phụng vụ, với câu: “Chúa ở cùng anh chị em” hoặc một câu tương tự khác - có nhiều câu khác -; và cộng đồng thưa: “Và ở cùng [thần khi] Cha”.  Chúng ta đang đối thoại; chúng ta đang ở đầu Thánh Lễ và chúng ta phải nghĩ về ý nghĩa của tất cả những cử chỉ và lời nói này.  Chúng ta đang bước vào một “buổi hòa tấu”, trong đó vang lên các giọng khác nhau, bao gồm cả thời gian im lặng, tạo ra ''sự đồng thuận” giữa những người tham dự, nghĩa là nhận ra mình được sinh động hóa bởi một Thần Khí duy nhất, và có cùng một mục đích.  Thực ra “lời chào của linh mục và lời đáp của dân chúng cho thấy mầu nhiệm của Hội Thánh được quy tụ lại” (Hướng dẫn chung của Sách Lễ Rôma, 50).  Như vậy, đức tin chung và ước vọng chung được ở với Chúa và sống hiệp nhất với toàn thể cộng đồng được diễn tả.  

Và đây là một hòa tấu cầu nguyện, được tạo ra và lập tức trình bày một giây phút rất cảm động, bởi vì vị chủ tế mời mọi người nhìn nhận tội lỗi mình.  Tất cả chúng ta đều là những người tội lỗi.  Tôi không biết, có thể một số người trong anh chị em không phải là người tội lỗi ...  Nếu ai không phải là người tội lỗi, xin làm ơn giơ tay lên, để tất cả chúng tôi đều thấy.  Nhưng không có tay nào giơ lên cả, tốt quá: anh chị em có đức tin tốt!  Tất cả chúng ta đều là những người tội lỗi; và vì điều này mà ở đầu Thánh Lễ chúng ta cầu xin ơn tha thứ.  Đó là cử chỉ sám hối.  Đó không phải chỉ là nghĩ về những tội mình đã phạm, nhưng còn hơn nữa: đó là một lời mời gọi thú tội của mình trước mặt Thiên Chúa và trước mặt cộng đồng, trước mặt anh chị em, với lòng khiêm nhường và chân thành, như người thu thuế ở trong Đền Thờ.  Nếu Bí Tích Thánh Thể thực sự làm cho mầu nhiệm Vượt Qua, nghĩa cuộc vượt qua của Đức Kitô từ cõi chết sang sự sống, được hiện diện, thì việc trước hết chúng ta phải làm là nhận ra những gì là tình trạng chết của mình để có thể sống lại với Người trong đời sống mới.  Điều ấy làm cho chúng ta hiểu được hành vi sám hối quan trọng như thế nào.  Và vì điều ấy, chúng ta sẽ tiếp tục đề tài này trong bài giáo lý sau.  

Chúng ta hãy đi từng bước một để giải thích Thánh Lễ.  Nhưng tôi khuyên anh chị em: làm ơn dạy cho con cái mình  biết làm dấu Thánh Giá đúng cách! Về mục lục

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

Nguồn: http://w2.vatican.va/content/francesco/it/audiences/2017/documents/papa-francesco_20171220_udienza-generale.html

Bài Giáo Lý 6:

Bài Giáo Lý Thứ 6: CỬ CHỈ SÁM HỐI

“Chúng ta biết từ kinh nghiệm rằng chỉ có những ai có thể nhìn nhận các lỗi lầm và xin lỗi thì mới nhận được sự thông cảm và sự tha thứ của người khác”.

Dưới đây là bản dịch bài giáo lý thứ sáu của ĐTC Phanxicô về Thánh Lễ, được ban hành ngày 3 tháng 1, 2018 tại Đại Sảnh Phaolô VI ở Vatican.  Hôm nay ĐTC giải thích về ý nghĩa của Cử Chỉ Sám Hối: Cử chỉ sám hối “củng cố thái độ mà với nó chúng ta dọn mình để xứng đáng cử hành các mầu nhiệm thánh, nghĩa là nhìn nhận các tội lỗi của mình trước mặt Thiên Chúa và anh chị em mình….  Tội lỗi cắt đứt: cắt đứt mối liên hệ với Thiên Chúa và cắt đứt mối liên hệ với anh chị em, mối liên hệ trong gia đình, ngoài xã hội và trong cộng đồng: Tội lỗi luôn cắt đứt, phân cách và chia rẽ”.

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Tiếp tục bài giáo lý về việc cử hành Thánh Lễ, hôm nay chúng ta xét đến cử chỉ sám hối trong bối cảnh của nghi thức đầu lễ. Trong sự đơn sơ của nó, nó củng cố thái độ mà với nó chúng ta dọn mình để xứng đáng cử hành các mầu nhiệm thánh, nghĩa là nhìn nhận các tội lỗi của mình trước mặt Thiên Chúa và anh chị em mình, nhìn nhận rằng mình là những kẻ tội lỗi. Thật ra, lời mời gọi của linh mục được nói với toàn thể cộng đồng trong cầu nguyện, vì tất cả chúng ta đều là những kẻ tội lỗi. Chúa có thể ban gì cho những kẻ có một con tim chứa đầy chính mình, đầy thành công của mình? Không ban gì cả, bởi vì kẻ hợm mình, đầy sự tự nhận mình là công chính, thì không thể đón nhận được ơn tha thứ. Chúng ta hãy nghĩ đến dụ ngôn người Pharisêu và người thâu thuế, chỉ có người thứ hai - người thu thuế - mới trở về nhà được nên công chính, nghĩa là được tha thứ (x. Lc 18: 9-14). Ai ý thức được những khốn khổ của mình và cúi mắt nhìn xuống với lòng khiêm nhường, thì cảm nhận được cái nhìn chăm chú đầy thương xót của Thiên Chúa soi trên mình. Chúng ta biết từ kinh nghiệm rằng chỉ có những ai có thể nhìn nhận các lỗi lầm và xin lỗi thì mới nhận được sự thông cảm và sự tha thứ của người khác.

Lắng nghe tiếng lương tâm trong im lặng cho phép chúng ta nhận ra rằng các suy nghĩ của mình thật khác xa các suy nghĩ của Thiên Chúa, các lời nói và hành động của mình thường là phàm tục, nghĩa là bị hướng dẫn bởi các chọn lựa ngược với Tin Mừng. Do đó, ở đầu Thánh Lễ, chúng ta cùng nhau thực hiện cử chỉ sám hối qua một công thức thú tội chung, được nói lên ở ngôi thứ nhất số ít. Mọi người đều thú tội với Thiên Chúa và với các anh chị em rằng mình “đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót”. Vâng, ngay cả trong sự thiếu sót, nghĩa là đã không làm những điều tốt mà tôi có thể làm. Chúng ta thường cảm thấy tốt bởi vì – chúng ta nói - “Tôi đã không làm tổn thương ai cả”. Trong thực tế, chỉ không làm tổn thương người khác thì chưa đủ, cần phải chọn để làm điều tốt bằng cách nắm lấy những cơ hội để làm chứng tốt rằng chúng ta là các môn đệ của Chúa Giêsu.  Thật tốt khi nhấn mạnh rằng chúng ta thú nhận với cả Thiên Chúa lẫn anh chị em rằng mình là những kẻ tội lỗi: điều này giúp chúng ta hiểu được chiều kích của tội lỗi là điều, trong khi tách rời chúng ta khỏi Thiên Chúa, cũng chia cách chúng ta với anh chị em mình và ngược lại. Tội lỗi cắt đứt: cắt đứt mối liên hệ với Thiên Chúa và cắt đứt mối liên hệ với anh chị em, mối liên hệ trong gia đình, ngoài xã hội và trong cộng đồng: Tội lỗi luôn cắt đứt, phân cách và chia rẽ.

Các lời chúng ta nói qua miệng của mình đi kèm với cử chỉ đấm ngực của mình, nhìn nhận rằng tôi đã phạm tội do lỗi của chính tôi, chứ không phải của người khác. Thường xảy ra là chúng ta chỉ ngón tay để tố cáo người khác vì sợ hoặc xấu hổ. Nhìn nhận có tội như thế này, nhưng thật tốt khi thú nhận nó với lòng chân thành. Chúng ta hãy thú nhận tội lỗi của mình. Tôi nhớ một giai thoại mà một vị thừa sai già đã kể về một phụ nữ đi xưng tội và bắt đầu kể các sai lầm của chồng; rồi bà ấy tiếp tục kể các sai lầm của mẹ chồng và sau đó là tội lỗi của các người láng giềng. Đến một lúc, cha giải tội nói với bà: “Nhưng, thưa bà, cho tôi biết: bà đã xong chưa? - Rất tốt: bà đã xong với tội của người khác. Bây giờ hãy bắt đầu xưng tội của bà đi”. Xưng các tội lỗi của mình!

Sau khi thú nhận tội lỗi, chúng ta khẩn cầu Đức Trinh Nữ Maria, các Thiên Thần và các Thánh cầu cùng Chúa cho chúng ta. Việc các thánh cùng thông công này cũng thật là quý giá: nghĩa là, sự cầu bầu của các “bạn hữu và các mẫu gương của cuộc sống” (Kinh Tiền Tụng ngày 1 tháng 11) nâng đỡ chúng ta trên con đường hướng về sự hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa, khi tội lỗi sẽ bị hủy diệt vĩnh viễn.

Ngoài “Kinh Cáo Mình”, chúng ta có thể làm nghi thức sám hối với các công thức khác, chẳng hạn như: “Lạy Chúa, xin thương xót chúng com / Vì chúng con đã xúc phạm đến Chúa / Lạy Chúa, xin tỏ lòng từ bi Chúa cho chúng con / Và ban ơn cứu độ cho chúng con.” (x. Tv 123:3, 85:8, Gr 14:20). Đặc biệt vào ngày Chúa Nhật, chúng ta có thể thực hiện việc làm phép nước và rảy nước thánh để nhớ lại Bí Tích Rửa Tội (x. Quy Chế Tổng Quát về Sách Lễ Roma, 51), đã xoá bỏ mọi tội lỗi. Như một phần của cử chỉ sám hối, chúng ta cũng có thể, hát kinh Kyrie eleison (Kinh Thương Xót): với một biểu thức Hy Lạp cổ xưa, chúng ta tung hô Chúa - Kyrios - và nài xin lòng thương xót của Ngài (nt., 52).

Thánh Kinh cho chúng ta các mẫu gương sáng ngời của những nhân vật điển hình về “thống hối”, trở lại với chính mình sau khi đã phạm tội, tìm được can đảm để tháo bỏ mặt nạ và mở lòng mình ra cho ân sủng là điều canh tân tâm hồn. Chúng ta hãy nghĩ đến Vua Đavid và các lời được ghi lại trong Thánh Vịnh: “Ôi lạy Thiên Chúa, xin thương con, trong tình yêu của Chúa; trong lòng thương xót vô bờ của Chúa, xin xóa sạch các lỗi lầm của con” (Tv 5:.3).  Chúng ta hãy nghĩ đến người con hoang đàng trở về cùng cha mình; hoặc lời kêu xin của người thu thuế: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” (Lc 18:13). Chúng ta cũng nghĩ đến Thánh Phêrô, ông Giakêu, và người Samaritanô.  So mình với sự dễ bể của đất sét mà với nó chúng ta đã được nhào nắn là một kinh nghiệm củng cố chúng ta: trong khi làm cho chúng ta đối phó với sự yếu đuối yếu của mình, nó mở lòng chúng ta ra để cầu xin lòng thương xót của Thiên Chúa, là điều biến đổi và hoán cải. Và đó là những gì chúng ta làm trong cử chỉ sám hối ở đầu Thánh Lễ. Về mục lục

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

Nguồn: http://w2.vatican.va/content/francesco/it/audiences/2018/documents/papa-francesco_20180103_udienza-generale.html

Bài Giáo Lý 7:

KINH VINH DANH VÀ LỜI NGUYỆN NHẬP LỄ (The Collect).

“Nguyện xin phụng vụ trở thành một trường dạy cầu nguyện đích thực cho tất cả chúng ta”.

Dưới đây là bản dịch bài giáo lý thứ bảy của ĐTC Phanxicô về Thánh Lễ, được ban hành ngày 10 tháng 1, 2018 tại Đại Sảnh Phaolô VI ở Vatican.  Hôm nay ĐTC giải thích về Kinh Vinh Danh, và đặc biệt là về ý nghĩa của Lời Nguyện Nhập Lễ (The Collect) và giây phút im lặng trước Lời Nguyện này: “Với lời mời ‘Chúng ta hãy cầu nguyện’, vị linh mục khuyên nhủ dân chúng cùng hồi tâm với ngài trong một lúc im lặng để ý thức rằng mình đang ở trong sự hiện diện của Thiên Chúa và mỗi người nói lên trong lòng mình những ý chỉ riêng mà với chúng họ tham dự Thánh Lễ…. Nếu không có phút im lặng này, chúng ta có nguy cơ bỏ qua việc hồi tâm của linh hồn”. Ngài kết luận rằng các Lời Nguyện này chứa đầy ý nghĩa, và chúng ta có thể suy niệm chúng ngoài Thánh Lễ để “học cách hướng về Thiên Chúa ra sao, cầu xin gì, sử dụng những lời nào” vá gọi phụng vụ là “trường dạy cầu nguyện đích thực cho tất cả chúng ta”.

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Trong các bài Giáo Lý về việc cử hành Thánh Lễ, chúng ta đã thấy rằng cử chỉ sám hối giúp chúng ta lột bỏ những tự phụ của mình và trình bày trước mặt Thiên Chúa thực trạng của mình, ý thức rằng mình là những người tội lỗi và hy vọng được ơn tha thứ.

Chính từ cuộc gặp gỡ giữa cảnh khốn cùng của con người và lòng thương xót của Thiên Chúa đưa đến lòng biết ơn được bày tỏ trong kinh “Vinh Danh”, “một bài thánh thi rất cổ kính và đáng kính, trong đó Hội Thánh, tập trung trong Chúa Thánh Thần, ca ngợi và nài xin Đức Chúa Cha và Con Chiên” (Quy Chế Tổng Quát về Sách Lễ Rôma, 53).

Lời mở đầu của bài thánh thi này - “Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời” - tiếp tục bài hát của các Thiên Thần khi Chúa Giêsu ra đời ở Bethlehem, lời loan báo vui mừng về vòng tay ôm ấp giữa trời và đất. Bài hát này cũng liên quan đến việc chúng ta tụ tập trong cầu nguyện: “Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời và bình an dưới thế cho người thiện tâm”.

Sau kinh “Vinh Danh”, hoặc, khi không có kinh ấy, thì ngay sau cử chỉ sám hối, kinh nguyện có một hình thức cầu nguyện đặc biệt gọi là “colletta” (Lời Nguyện Nhập Lễ), mà qua đó đặc tính chính xác của cuộc cử hành được diễn tả, được thay đổi theo ngày và giờ trong năm (x. ibid, 54). Với lời mời “Chúng ta hãy cầu nguyện”, vị linh mục khuyên nhủ dân chúng cùng hồi tâm với ngài trong một lúc im lặng để ý thức rằng mình đang ở trong sự hiện diện của Thiên Chúa và mỗi người nói lên trong lòng mình những ý chỉ riêng mà với chúng họ tham dự Thánh Lễ (xem ibid., 54). Linh mục nói “chúng ta hãy cầu nguyện”; và sau đó đến một lúc im lặng, và mỗi người nghĩ về những điều mình cần và mình muốn cầu xin trong lời nguyện này.

Sự im lặng không chỉ rút lại thành việc không có tiếng nói, nhưng là chuẩn bị sẵn sàng để lắng nghe những tiếng nói khác: của tâm hồn chúng ta, và trên hết là tiếng nói của Chúa Thánh Thần. Trong phụng vụ, bản chất của sự im lặng thánh thiêng tùy thuộc vào thời điểm mà nó xảy ra: “Trong cử chỉ sám hối và sau lời mời cầu nguyện, nó giúp cho việc hồi tâm; sau bài đọc hoặc bài giảng, nó là một lời mởi gọi để suy niệm một cách ngắn gọn về những gì đã nghe; sau khi Rước Lễ, nó giúp cho việc cầu nguyện ngợi khen và khẩn cầu nội tâm” (ibid., 45). Vì vậy, trước Lời Nguyện Nhập Lễ, sự im lặng giúp chúng ta chú tâm vào chính mình và suy nghĩ về lý do tại sao chúng ta ở đó. Cho nên, việc lắng nghe tâm hồn chúng ta ở đây và sau đó mở nó cho Chúa là điều quan trọng. Có lẽ chúng ta đến từ những ngày khó nhọc, vui mừng, đau buồn, và chúng ta muốn thưa chuyện với Chúa, cầu khẩn sự giúp đỡ của Ngài, để xin Ngài ở gần chúng ta; chúng ta có các phần tử trong gia đình và bạn bè đang bị ốm đau hoặc đang trải qua những thử thách khó khăn; chúng ta muốn trao phó cho Thiên Chúa số phận của Hội Thánh và thế giới. Và đó là lý do tại sao chúng ta cần phút im lặng ngắn này trước khi vị linh mục, thu thập những ý chỉ của mỗi người, lớn tiếng thay mặt tất cả mọi người trình bày nó lên Thiên Chúa, lời cầu nguyện chung kết thúc các nghi thức đầu lễ, bằng cách làm chính việc “thu thập” các ý chỉ cá nhân. Tôi chân thành khuyên các linh mục giữ phút im lặng này và đừng vội vã: “chúng ta hãy cầu nguyện”, và hãy im lặng. Tôi đề nghị điều này với các linh mục. Nếu không có phút im lặng này, chúng ta có nguy cơ bỏ qua việc hồi tâm của linh hồn.

Các linh mục đọc lời cầu khẩn này, lời cầu nguyện thu thập (Lời Nguyện Nhập Lễ) này, với cánh tay dang rộng, là tư thế của người cầu nguyện, được các Kitô hữu thực hiện ngay từ các thế kỷ đầu - được minh chứng bởi các bức họa của các hang toại đạo ở Rôma – để bắt chước Đức Kitô với đôi tay rộng mở trên cây gỗ thập giá. Và ở đó, Đức Kitô là Đấng Cầu Nguyện và là cùng nhau cầu nguyện! Trong Đấng Chịu Đóng Đanh, chúng ta nhận ra vị Linh Mục đang dâng lên Thiên Chúa sự thờ phượng mà Ngài vui lòng, đó là sự vâng phục con thảo.

Trong Nghi Thức Rôma, các lời cầu nguyện đều chính xác nhưng đầy ý nghĩa: có thể thực hiện nhiều suy niệm đẹp về các lời cầu nguyện này. Quá đẹp! Trở lại việc suy niệm về các bản văn, ngay cả ngoài Thánh Lễ, có thể giúp chúng ta học cách hướng về Thiên Chúa ra sao, cầu xin gì, sử dụng những lời nào. Nguyện xin phụng vụ trở thành một trường dạy cầu nguyện đích thực cho tất cả chúng ta. Về mục lục

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

Nguồn: http://w2.vatican.va/content/francesco/it/audiences/2018/documents/papa-francesco_20180110_udienza-generale.html

Bài Giáo Lý 8:

PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

“Phụng vụ Lời Chúa là một cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và dân Ngài”.

Dưới đây là bản dịch bài giáo lý thứ tám của ĐTC Phanxicô về Thánh Lễ, được ban hành ngày 31 tháng 1, 2018 tại Quảng Trường Thánh Phêrô.  Hôm nay ĐTC giải thích về Phụng Vụ Lời Chúa: “Trong Hội Thánh khi Thánh Kinh được đọc, thì Chính Thiên Chúa nói với dân Ngài, và Đức Kitô, hiện diện trong Lời, công bố Tin Mừng… Chúng ta lắng nghe Lời ấy bằng tai của mình và chuyển Lời ấy sang tâm hồn mình; Lời ấy không ở lại trong tai, mà phải đi vào tâm hồn; và từ tâm hồn Lời ấy chuyền sang đôi tay, để làm việc lành”.

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Hôm nay chúng ta tiếp tục loạt bài giáo lý về Thánh Lễ.  Sau khi bàn về nghi thức đầu lễ, giờ đây chúng ta hãy xét đến Phụng Vụ Lời Chúa, là một phần cấu thành [của Thánh Lễ] bởi vì chúng ta tụ họp để lắng nghe những gì Thiên Chúa đã làm và vẫn còn có ý định làm cho chúng ta. Đó là một kinh nghiệm “trực tiếp” chứ không phải do được nghe nói đến, bởi vì “trong Hội Thánh khi Thánh Kinh được đọc, thì Chính Thiên Chúa nói với dân Ngài, và Đức Kitô, hiện diện trong Lời, công bố Tin Mừng” (Quy Chế Tổng Quát về Sách Lễ Roma (QCTQSLR), 29, xem Hiến Chế Phụng Vụ Thánh (SC), 7; 33). Và biết bao lần, trong khi Lời Chúa được đọc, người ta lại bảo nhau: "Hãy nhìn ông này ..., hãy nhìn bà kia ..., hãy nhìn cái mũ bà ta đang đội: thật nực cười ...". Và họ bắt đầu nói chuyện. Có đúng không? Có nên nói chuyện trong khi đọc Lời Chúa không? [dân chúng trả lời: "Không!"]. Không, bởi vì nếu chúng ta nói chuyện với những người khác thì chúng ta không lắng nghe Lời Chúa. Khi chúng ta đọc Lời Chúa trong Thánh Kinh - Bài Đọc Thứ Nhất, Thứ Hai, Thánh Vịnh đáp ca và Tin Mừng - chúng ta phải lắng nghe, mở lòng ra, bởi vì chính Thiên Chúa là Đấng nói với chúng ta, và đừng nghĩ về những điều khác hay nói về những điều khác. Hiểu chưa? ... Tôi sẽ giải thích cho anh chị em về việc gì xảy ra trong Phụng Vụ Lời Chúa.

Các trang Thánh Kinh không còn là một bài viết mà trở thành Lời sống động được Thiên Chúa công bố. Chính Thiên Chúa là Đấng, qua người đọc, nói với chúng ta và thách đố chúng ta, là những người nghe với đức tin. Chúa Thánh Thần, Đấng “đã dùng các tiên tri mà phán dạy" (Kinh Tin Kính) và đã linh hứng các thánh ký, làm cho "Lời Chúa thực sự tác động trong tâm hồn điều mà Ngài làm cho vang lên trong tai" (Sách Bài Đọc, Dẫn Nhập, 9). Nhưng để lắng nghe Lời Chúa thì cần phải mở lòng ra mà đón nhận các Lời ấy vào lòng. Thiên Chúa nói và chúng ta lắng nghe Ngài, rồi sau đó thực hành những gì chúng ta đã nghe. Điều rất quan trọng là lắng nghe. Đôi khi chúng ta có thể không hiểu tại sao lại có một số bài đọc hơi khó hiểu. Nhưng Thiên Chúa nói cùng Lời ấy với chúng ta bằng một cách khác, trong thầm lặng và lắng nghe Lời Chúa. Đừng quên điều này. Trong Thánh Lễ, khi các Bài Đọc bắt đầu, chúng ta lắng nghe Lời Chúa.

Chúng ta cần lắng nghe Ngài! Thực ra, đó là một vấn đề sự sống, như một diễn tả sâu sắc rằng, "người ta sống không chỉ bởi cơm bánh, mà còn bởi mọi lời từ miệng Thiên Chúa phán ra" (Mt 4:4). Sự sống mà Lời Thiên Chúa ban cho chúng ta. Theo nghĩa này, chúng ta nói về Phụng Vụ Lời Chúa như "bàn tiệc" mà Chúa dọn ra để nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng của chúng ta. Đó là một bán tiệc tràn đầy của phụng vụ, rút ra rộng rãi từ kho tàng Thánh Kinh (x SC, 51), cả Cựu lẫn Tân Ước, bởi vì trong cả hai giao ước, Hội Thánh công bố cùng một một mầu nhiệm duy nhất của Đức Kitô (x Sách Bài Đọc, dẫn nhâp, 5). Chúng ta nghĩ về sự phong phú của các bài đọc Thánh Kinh được ba chu kỳ Chúa Nhật cung cấp mà, theo ánh sáng của các Tin Mừng Nhất Lãm, đồng hành với chúng ta trong suốt Năm Phụng Vụ: một sự phong phú dồi dào. Tôi cũng muốn đề cập đến ở đây tầm quan trọng của Thánh Vịnh đáp ca, có chức năng nuôi dưỡng việc suy niệm về điều đã được nghe trong bài đọc trước đó. Tốt hơn là bài Thánh Vịnh được củng cố bằng bài hát, ít là trong điệp khúc (xem QCTQSLR, 61, Sách Bài Đọc, Dẫn Nhập, 19-22).

Việc công bố phụng vụ cũng những Bài Đọc ấy, với những bài hát được rút ra từ Thánh Kinh, bày tỏ và nuôi dưỡng sự hiệp thông của Hội Thánh, đồng hành với cuộc hành trình của mỗi người chúng ta.  Cho nên, chúng ta có thể hiểu được tại sao một số chọn lựa chủ quan, như bỏ các Bài Đọc hay thay thế chúng bằng các bản văn ngoài Thánh Kinh, đều bị cấm. Tôi nghe nói có người, đọc báo nếu có tin tức, bởi vì đó là tin tức trong ngày. Không! Lời Chúa là Lời của Thiên Chúa! Chúng ta có thể đọc báo sau. Nhưng ở đây chúng ta đọc Lời của Thiên Chúa, Đấng nói với chúng ta. Thay thế Lời ấy bằng những điều khác làm cho cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và dân Ngài trong cầu nguyện bị nghèo nàn và tổn thương. Đàng khác, việc tôn trọng toà giảng và việc sử dụng Sách Bài Đọc, việc có sẵn những người đọc và những người hát Thánh Vịnh tốt [là điều bắt buộc]. Nhưng chúng ta phải tìm những người đọc tốt, những người có thể đọc, chứ không phải những người đọc [sai các lời] khiến cho người ta chẳng hiểu gì cả. Giống như thế này. Những người đọc tốt. Họ phải chuẩn bị và thử trước Thánh Lễ để đọc cho tốt. Và điều này tạo ra một bầu không khí đón nhận im lặng [1].

Chúng ta biết rằng Lời Chúa là một sự trợ giúp để mình không bị lạc đường, cũng như tác giả Thánh Vịnh hướng lên Chúa mà thú nhận rằng: "Lời Chúa là ngọn đèn soi bước chân con, là ánh sáng soi đường con đi" (Tv 119:105). Làm sao chúng ta có thể đương đầu với cuộc lữ hành trần thế của mình, với những khó nhọc và thử thách của nó, mà không thường xuyên được nuôi dưỡng và soi sáng bởi Lời Chúa, là Lời vang lên trong Phụng Vụ?

Chắc chắn rằng chỉ nghe bằng tai, mà không đón nhận hạt giống Lời Chúa vào tâm hồn mình và để cho hạt giống ấy sinh hoa trái, thì chưa đủ. Chúng ta hãy nhớ lại dụ ngôn người gieo giống và các kết quả khác nhau tuỳ theo các loại đất khác nhau (xem Mc 4: 14-20). Tác động của Chúa Thánh Thần, là điều làm cho sự đáp trả có hiệu quả, cần những tâm hồn để cho mình được Ngài làm việc và vun xới, ngõ hầu những gì được nghe trong Thánh Lễ chuyển sang cuộc sống hằng ngày, theo lời khuyên của Thánh Tông Đồ Giacôbê: "Anh em hãy là những người thực hành Lời Chúa, chứ không phải chỉ là những người nghe suông mà lừa dối chính mình" (Gc 1:22). Lời Chúa hành trình trong chúng ta. Chúng ta lắng nghe Lời ấy bằng tai của mình và chuyển Lời ấy sang tâm hồn mình; Lời ấy không ở lại trong tai, mà phải đi vào tâm hồn; và từ tâm hồn Lời ấy chuyền sang đôi tay, để làm việc lành. Đây là con đường mà Lời Chúa đi theo: từ tai đến tâm hồn và đôi tay. Chúng ta hãy học những điều này. Cảm ơn anh chị em! Về mục lục

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

Nguồn:http://w2.vatican.va/content/francesco/it/audiences/2018/documents/papa-francesco_20180131_udienza-generale.html

[1] "Phụng vụ Lời Chúa phải được cử hành cách nào để thúc đẩy việc suy niệm. Vì vậy, cần phải tránh tất cả các hình thức vội vã làm cản trở việc hồi tâm. Cũng có trong đó cơ hội cho những giây phút im lặng ngắn, phù hợp với buổi quy tụ, qua đó, với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, Lời Chúa được nghe thấy trong lòng và lời đáp trả được chuẩn bị bằng cầu nguyện "(QCTQSLR, 56).

Bài Giáo Lý 9:

TIN MỪNG và BÀI GIẢNG

“Lời Chúa kết thúc cuộc hành trình của nó bằng cách trở thành nhục thể trong chúng ta, tự biến đổi thành các việc làm”.

Dưới đây là bản dịch bài giáo lý thứ chín của ĐTC Phanxicô về Thánh Lễ, được ban hành ngày 7 tháng 2, 2018 tại Đại Sảnh Phaolô VI.  Hôm nay ĐTC giải thích về Tin Mừng và bài giảng trong Phụng Vụ Lời Chúa: “Tin Mừng là ánh sáng để hiểu ý nghĩa của bản văn Thánh Kinh đi trước nó, cả Cựu và Tân Ước… Lời Chúa đến từ tai, sang trái tim, và đi đến đôi tay, để làm việc lành. Và bài giảng cũng theo Lời của Chúa và cũng đi theo con đường ấy để giúp chúng ta ngõ hầu Lời của Chúa đi qua trái tim mà đến đôi tay”.

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Chúng ta tiếp tục loạt bài giáo lý về Thánh Lễ. Chúng ta đã đến các Bài Đọc. Cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và dân Ngài, được phát triển trong Phụng vụ Lời Chúa của Thánh Lễ, đạt đến tột đỉnh trong việc công bố Tin Mừng. Việc này được đi trước bằng việc hát Alleluia - hoặc, trong Mùa Chay, một lời tung hô khác - mà với nó “cộng đồng tín hữu đón mừng và chào đón Chúa, Đấng sắp sửa nói trong Tin Mừng” (Quy Chế Tổng Quát về Sách Lễ Rôma, 62). Như các mầu nhiệm của Đức Kitô chiếu sáng toàn thể mạc khải Thánh Kinh, thì trong Phụng Vụ Lời Chúa cũng thế, Tin Mừng là ánh sáng để hiểu ý nghĩa của bản văn Thánh Kinh đi trước nó, cả Cựu và Tân Ước. Thực ra, “Đức Kitô là trung tâm và sự viên mãn của toàn bộ Thánh Kinh, cũng như của toàn thể cuôc cử hành phụng vụ” (Dẫn Nhập vào Sách Bài Đọc, 5). Chúa Giêsu Kitô luôn luôn ở giữa, luôn luôn.

Do đó, chính phụng vụ phân biệt Tin Mừng với các bài đọc khác và bao quanh nó bằng một vinh dự và sự tôn kính đặc biệt. (X. Quy Chế Tổng Quát về Sách Lễ Rôma, 60 và 134). Thật vậy, việc đọc Tin Mừng chỉ dành riêng cho thừa tác viên có chức thánh, được kết thúc bằng việc vị ấy hôn sách thánh; người ta đứng lên lắng nghe và làm dấu thánh giá trên trán, trên miệng và trên ngực; những cây nến và việc xông hương tôn vinh Đức Kitô, là Đấng làm cho lời hữu hiệu của Người được vang lên qua việc đọc Tin Mừng. Từ những dấu này, cộng đồng nhận ra sự hiện diện của Đức Kitô, Đấng ban cho họ “Tin Mừng” có sức hoán cải và biến đổi. Đó là một bài giảng huấn trực tiếp đang xảy ra, như được chứng tỏ bằng lời tung hô “Lạy Chúa, vinh danh Chúa” và “Lạy Chúa Kitô, ngợi khen Chúa” mà người ta đáp lại lời công bố ấy. Chúng ta đứng lên để lắng nghe Tin Mừng: chính Đức Kitô là Đấng nói với chúng ta, ở đó. Và vì điều này mà chúng ta chú ý, bởi vì đó là một cuộc trò truyện trực tiếp. Chính Chúa đang nói với chúng ta.

Vì vậy, trong Thánh Lễ, chúng ta không đọc Tin Mừng để biết sự việc xảy ra thế nào, nhưng lắng nghe Tin Mừng để nhận thức được những gì Chúa Giêsu đã làm và đã nói xưa kia; và Lời sống động, Lời của Chúa Giêsu trong Tin Mừng đang sống động và thấu đến con tim tôi. Đó là lý do tại sao việc lắng nghe Tin Mừng với một tấm lòng rộng mở là một điều rất quan trọng, bởi vì đó là Lời sống động. Thánh Augustinô viết rằng “miệng Đức Kitô là Tin Mừng. Người cai trị trên thiên đàng, nhưng Người không ngừng nói dưới đất.” (Bài giảng 85, 1:PL 38, 520; cũng xem Khảo luận về Tin Mừng Thánh Gioan, XXX, I: PL 35, 1632; CCL 36, 289). Nếu thật sự trong phụng vụ “Đức Kitô vẫn còn loan báo Tin Mừng” (CĐ Vaticanô II, Hiến Chế Sacrosanctum Concilium, 33), thì kết quả là, bằng cách tham dự Thánh Lễ, chúng ta cần phải trả lời Người. Chúng ta lắng nghe Tin Mừng và chúng ta phải trả lời trong đời sống của chúng ta.

Để đem sứ điệp của Người đến, Đức Kitô cũng dùng lời của linh mục, là vị giảng một bài giảng sau Tin Mừng (X. Quy Chế Tổng Quát về Sách Lễ Rôma, 65-66; Dẫn Nhập vào Sách Bài Đọc,24-27). Được mạnh mẽ đề nghị bởi Công Đồng Vatican II như một phần của phụng vụ, (X. CĐ Vaticanô II, Hiến Chế  Sacrosanctum Concilium, 52). bài giảng không phải là một bài diễn văn tùy dịp - ngay cả như một bài giáo lý như thế này mà tôi đang làm bây giờ - hoặc thậm chí như một bài thuyết trình hay một bài học, bài giảng là một điều khác. Bài giảng là gì? Đó là “một lần nữa tiếp tục cuộc đối thoại đã được mở ra giữa Chúa và dân Người” (Evangelii Gaudium, 137), để nó được hoàn thành trong cuộc sống. Bài chú giải đích thực của Tin Mừng là đời sống thánh thiện của chúng ta! Lời Chúa kết thúc cuộc hành trình của mình bằng cách trở thành nhục thể trong chúng ta, tự biến đổi thành các việc làm, như đã xảy ra nơi Đức Mẹ Maria và các thánh. Hãy nhớ những gì tôi đã nói lần trước, Lời Chúa đến từ tai, sang trái tim, và đi đến đôi tay, để làm việc lành. Và bài giảng cũng theo Lời của Chúa và cũng đi theo con đường ấy để giúp chúng ta ngõ hầu Lời của Chúa đi qua trái tim mà đến đôi tay.

Tôi đã bàn về chủ đề bài giảng trong Tông Huấn Evangelii Gaudium, ở đó tôi đã nhắc lại rằng bối cảnh phụng vụ “đòi bài giảng phải hướng cộng đồng, và ngay cả người thuyết giảng, đến một sự hiệp thông với Đức Kitô trong Thánh Thể, là điều biến đổi cuộc sống” (Ibid, 138).  

Những người thuyết giảng phải chu toàn thừa tác vụ của mình - người giảng, linh mục hay phó tế hoặc giám mục - bằng cách cung cấp một việc phục vụ thực sự cho tất cả những ai tham dự Thánh Lễ, còn những người nghe gỉảng cũng phải thi hành phần vụ của họ. Trước hết phải chú ý, nghĩa là có một sự chuẩn bị nội tâm chính đáng, không có những đòi hỏi chủ quan, biết rằng mỗi vị thuyết giảng đều có những tài năng và giới hạn của họ. Nếu đôi khi có lý do để cảm thấy nhàm chán vì bài giảng dài dòng hay thiếu tập trung hoặc không thể hiểu nổi, thì khi khác chính thành kiến lại là chướng ngại. Và người giảng phải ý thức rằng mình không phải đang làm việc riêng của mình, mà là đang giảng, đang cho Chúa Giêsu mượn tiếng nói của mình, đang rao giảng Lời của Chúa Giêsu. Và bài giảng phải được chuẩn bị chu đáo, phải ngắn gọn, ngắn gọn! Một linh mục kể cho tôi rằng có lần ngài đến một thành phố khác, nơi mà cha mẹ ngài đã từng sinh sống và cha ngài đã nói với ngài, “Con biết không, cha rất vui, bởi vì cha đã cùng với bạn bè của mình tìm thấy một nhà thờ, ở đó Thánh lễ không có bài giảng”. Và bao nhiêu lần chúng ta thấy có người ngủ trong bài giảng, và những người khác thì nói chuyện hoặc ra ngoài hút thuốc.... Vì thế, làm ơn giảng ngắn gọn, nhưng chuẩn bị chu đáo. Và các linh mục, phó tế, giám mục thân mến, các vị đã chuẩn bị bài giảng như thế nào? Chuẩn bị thế nào? Với cầu nguyện, với việc học hỏi Lời Chúa và bằng cách tóm tắt rõ ràng và ngắn gọn, làm ơn đừng quá 10 phút.

Tóm lại, chúng ta có thể nói rằng trong Phụng vụ Lời Chúa, qua bài Tin Mừng và bài giảng, Thiên Chúa đối thoại với dân Ngài, là những kẻ chú ý và tôn kính lắng nghe Ngài, đồng thời nhận ra Ngài như đang hiện diện và hoạt động. Vì thế, nếu chúng ta lắng nghe “Tin Mừng”, thì từ đó chúng ta sẽ được hoán cải và biến đổi, nhờ vậy, có thể thay đổi chính mình và thế giới. Tại sao? Vì Tin Mừng, Lời Chúa vào từ tai, sang đến trái tim và đi đến đôi tay để làm việc lành. Về mục lục

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

Nguồn:http://w2.vatican.va/content/francesco/it/audiences/2018/documents/papa-francesco_20180207_udienza-generale.html

Bài Giáo Lý 10:

Phụng Vụ Lời Chúa III – Kinh Tin Kính và Lời Nguyện Tín Hữu

“Được toàn thể cộng đồng đọc, Tín Biểu bày tỏ lời đáp trả chung cho những gì đã nghe từ Lời Chúa…”

Dưới đây là bản dịch bài giáo lý thứ mười của ĐTC Phanxicô về Thánh Lễ, được ban hành ngày 7 tháng 2, 2018 tại Quảng Trường Thánh Phêrô.  Hôm nay ĐTC giải thích về Kinh Tin Kính là Lời Nguyện Tín Hữu trong Phụng Vụ Lời Chúa: “Tín Biểu… nhắc nhở chúng ta rằng các Bí Tích chỉ có thể hiểu được trong ánh sáng đức tin của Hội Thánh…” và trong Lời Nguyện Tín Hữu: “dân chúng, thực thi chức tư tế khi rửa tội của họ, dâng lên Thiên Chúa những lời cầu nguyện cho việc cứu rỗi mọi người".

[Lời chào mừng người bệnh ở Đại Sảnh Phaolô VI: Cảm ơn sự viếng thăm của anh chị em. Tôi ban phép lành cho tất cả mọi người. Tôi sẽ ra quảng trường và các anh chị em có thể theo dõi buổi triều yết ở quảng trường tại đây. Từ quảng trường họ sẽ thấy anh chị em, eh! Anh chị em sẽ thấy quảng trường và quảng trường sẽ thấy anh chị em. Và điều này thật đẹp. Chúng ta hãy đọc một Kinh Kính Mừng dâng Đức Mẹ. Sau khi đọc Kinh Kính Mừng và Phép Lành: Và cầu nguyện cho tôi! Đừng quên! Nghe cho tốt. Hẹn gặp lại anh chị em]

* * *

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Chúc anh chị em một buổi sáng tốt, ngay cả khi thời tiết hơi xấu. Nhưng nếu linh hồn hân hoan thì luôn luôn là một ngày tốt. Vì vậy, chúc anh chị em một buổi sáng tốt! Buổi triều yết hôm nay gồm có hai nhóm: một nhóm nhỏ bệnh nhân đang ở trong sảnh đường, vì thời tiết, và chúng ta đang ở đây. Nhưng chúng ta thấy họ và họ thấy chúng ta trên màn ảnh lớn. Chúng ta hãy chào đón họ bằng một tràng pháo tay.

Chúng ta tiếp tục loạt bài giáo lý về Thánh Lễ. Việc lắng nghe các bài đọc Thánh Kinh, được kéo dài trong bài giảng, đáp lại điều gì? Nó đáp lại một quyền: quyền thiêng liêng của Dân Thiên Chúa để nhận được cách dồi dào kho tàng Lời Chúa (xem Dẫn Nhập vào Sách Bài Đọc, 45). Khi đi dự Thánh lễ, mỗi người trong chúng ta có quyền nhận được cách dồi dào Lời Chúa được đọc hoàn chỉnh, được nói và rồi, được giải thích trong bài giảng. Đó là một quyền! Và khi Lời Chúa không được đọc cách hoàn chỉnh, không được các Phó Tế, Linh Mục hay Giám Mục giảng với lòng nhiệt thành, thì làm mất quyền của các tín hữu. Chúng ta có quyền lắng nghe Lời Chúa. Chúa nói với mọi người, các Mục Tử và các tín hữu. Ngài gõ cửa tâm hồn của những người tham dự Thánh Lễ, mỗi người trong điều kiện sống, tuổi tác và tình trạng của mình. Chúa an ủi, mời gọi, làm nảy sinh các mầm của đời sống mới và được hòa giải. Và Ngài làm điều này qua Lời Ngài. Lời Ngài gõ cửa tâm hồn và thay đổi các tâm hồn!

Vì thế, sau bài giảng, một thời gian im lặng cho phép hạt giống đã nhận được lắng đọng trong linh hồn, ngõ hầu phát sinh ra quyết tâm gắn bó với những gì mà Chúa Thánh Thần đã gợi ý cho mỗi người. Sự im lặng sau bài giảng, một phút im lặng tuyệt vời phải được thực hiện ở đó và mọi người đều phải suy nghĩ về điều mình đã nghe.

Sau phút im lặng này, Thánh Lễ tiếp tục như thế nào? Đáp trả của cá nhân về đức tin là một phần của việc tuyên xưng đức tin của Hội Thánh, được diễn tả trong "Kinh Tin Kính". Tất cả chúng ta đều đọc "Kinh Tin Kính" trong Thánh Lễ. Được toàn thể cộng đồng đọc, Tín Biểu bày tỏ lời đáp trả chung  cho những gì đã nghe từ Lời Chúa (x Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, 185-197). Có một mối dây liên kết sống còn giữa việc lắng nghe và đức tin. Chúng kết hợp với nhau. Thật ra, đức tin này không nảy sinh từ sự tưởng tượng của trí óc con người, nhưng, như Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta, "đến từ điều đã được nghe, và điều được nghe đến từ lời rao giảng về Ðức Kitô." (Rm 10:17). Vì vậy, đức tin được nuôi dưỡng nhờ lắng nghe và dẫn đến Bí Tích. Do đó, việc đọc "Kinh Tin Kính" làm cho cộng đoàn phụng vụ "quay lại việc suy niệm và tuyên xưng các mầu nhiệm cao cả của đức tin, trước việc cử hành của họ trong Thánh Thể" (Quy Chế Tổng Quát về Sách Lễ Roma (GIRM), 67).

Tín Biểu nối kết Bí Tích Thánh Thể với Bí Tich Rửa Tội, đã nhận được "nhân danh Cha và Con và Thánh Thần", và nhắc nhở chúng ta rằng các Bí Tích chỉ có thể hiểu được trong ánh sáng đức tin của Hội Thánh.

Sau đó, việc đáp trả Lời Chúa được nhận bằng đức tin được diễn tả trong lời nguyện chung, gọi là Lời Nguyện Phổ Quát, bởi vì nó bao gồm các nhu cầu của Hội Thánh và thế giới (xem GIRM, 69-71; Dẫn Nhập vào Sách Bài Đọc, 30-31). Nó cũng được gọi là Lời Nguyện Tín Hữu.

Các Nghị Phụ của Công Đồng Vaticanô II muốn phục hồi lời nguyện này sau bài Tin Mừng và bài giảng, đặc biệt là vào các ngày Chúa Nhật và các ngày lễ, ngõ hầu "với sự tham gia của dân chúng, lời nguyện được dâng lên để cầu cho Hội Thánh, cho những người cai trị chúng ta, cho những người có các nhu cầu khác nhau, cho mọi người và cho phần rỗi của toàn thế giới "(Hiến Chế Phụng Vụ Thánh, 53;. X. 1Tm 2,1-2). Do đó, dưới sự hướng dẫn của linh mục, người mở đầu và kết thúc, "dân chúng, thực thi chức tư tế khi rửa tội của họ, dâng lên Thiên Chúa những lời cầu nguyện cho việc cứu rỗi mọi người" (GIRM, 69). Và sau từng ý chỉ, được Phó Tế hay một người đọc đề nghị, cộng đồng hợp lời cầu xin: "Lạy Chúa, xin nghe lời chúng con.”

Thực ra, chúng ta hãy nhớ lại những gì Chúa Giêsu đã nói với chúng ta: "Nếu các con ở trong Thầy và lời Thầy ở trong các con, thì các con muốn xin điều gì, các con cũng sẽ nhận được" (Ga 15:7). "Tuy nhiên, chúng ta không tin điều này, bởi vì chúng ta yếu lòng tin". Nhưng nếu chúng ta có đức tin - như Chúa Giêsu nói – giống một hạt cải, chúng ta sẽ nhận được mọi sự. "Hãy xin bất cứ điều gì các con muốn, và sẽ được ban cho các con". Và trong giây phút Cầu Nguyện Phổ Quát này sau Kinh Tin Kính, lúc dành để cầu xin Chúa cho những điều quan trọng nhất trong Thánh Lễ, những điều chúng ta cần, những điều chúng ta muốn. "Nó sẽ được ban cho các con"; bằng cách này hay cách khác, nhưng "Nó sẽ được ban cho các con". Chúa nói: "Mọi sự đều có thể đối với người tin”. Người mà Chúa đã nói những lời này - mọi sự đều có thể đối với những người tin - đã trả lời thế nào? Ông thưa: "Lạy Chúa, con tin. Xin giúp đức tin bé nhỏ của con".  Chúng ta cũng có thể nói, "Lạy Chúa, con tin. Xin giúp đức tin bé nhỏ của con". Và chúng ta phải cầu nguyện các ước muốn theo lý lẽ thế trần không lên được đến Thiên Đàng, cũng như các lời cầu xin chỉ quy về mình sẽ chẳng được nghe (x. Gc 4:2-3). Những ý chỉ mà các tín hữu được mời cầu nguyện phải nói lên các nhu cầu cụ thể của cộng đồng Hội Thánh và thế giới, tránh sử dụng các công thức thông thường và thiển cận. Lời nguyện "phổ quát", là lời nguyện kết thúc Phụng Vụ Lời Chúa, khuyến khích chúng ta nhận cái nhìn của Thiên Chúa, Đấng chăm sóc tất cả con cái của Ngài, làm cái nhìn của mình. Về mục lục

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

Nguồnhttp://w2.vatican.va/content/francesco/it/audiences/2018/documents/papa-francesco_20180214_udienza-generale.html

Bài Giáo Lý 10:

Phụng Vụ Thánh Thể I – Dâng Của Lễ

“Việc các tín hữu dâng bánh và rượu cho linh mục… biểu thị của lễ thiêng liêng của Hội Thánh được gom lại  ở đó cho Bí Tích Thánh Thể”.

Dưới đây là bản dịch bài giáo lý thứ mười một của ĐTC Phanxicô về Thánh Lễ, được ban hành ngày 28 tháng 2, 2018 tại Sảnh Đường Phaolô VI.  Hôm nay ĐTC giải thích về ý nghĩa của việc Dâng Của Lễ: “Trong bánh và rượu, chúng ta hiến dâng Ngài của lễ cuộc đời chúng ta, để nó được Chúa Thánh Thần biến đổi thành hy lễ của Đức Kitô và với Người trở nên một của lễ thiêng liêng duy nhất đẹp lòng Chúa Cha".

* * *

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Chúng ta tiếp tục loạt bài giáo lý về Thánh Lễ. Tiếp theo phần Phụng Vụ Lời Chúa - mà tôi đã suy niệm trong bài giáo lý trước – là phần cấu thành phần khác của Thánh Lễ, đó là Phụng Vụ Thánh Thể. Trong đó, qua các dấu chỉ thánh, Hội Thánh không ngừng làm cho Hy Tế của Giao Ước Mới được Chúa Giêsu đóng ấn trên bàn thờ của Thập Giá được hiện diện (x hiến chế Sacrosanctum Concilium, 47). Đó là bàn thờ đầu tiên của Kitô giáo, bàn thờ của Thập Giá, và khi chúng ta đến gần bàn thờ để cử hành Thánh Lễ, ký ức của chúng ta đi đến bàn thờ Thập Giá, nơi hy tế đầu tiên đã được thực hiện. Linh mục, thay cho Đức Kitô trong Thánh Lễ, thực hiện điều Chúa đã làm và đã trao phó cho các môn đệ trong Bữa Tiệc Ly: Người cầm lấy bánh và chén, tạ ơn, rồi trao cho các môn đệ mà phán: "Các con hãy cầm lấy mà ăn ... mà uống: này là Mình Thầy... này là chén Máu Thầy. Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”.

Vâng lệnh Chúa Giêsu, Hội Thánh đã sắp xếp Phụng Vụ Thánh Thể theo những lúc tương ứng với các lời nói và cử chỉ Người đã làm buổi chiều trước Cuộc Khổ Nạn của Người. Do đó, trong việc chuẩn bị lễ vật, bánh và rượu được mang lên bàn thờ, nghĩa là các yếu tố mà Đức Kitô đã cầm trong tay. Trong Kinh Nguyện Thánh Thể, chúng ta cảm tạ Thiên Chúa vì công trình cứu chuộc và các lễ vật trở thành Mình và Máu của Chúa Giêsu Kitô. Tiếp theo là việc bẻ bánh và rước lễ, mà qua đó chúng ta sống lại kinh nghiệm của các Tông Đồ đã nhận món quà Thánh Thể từ tay của chính Đức Kitô (x. Quy Chế Tổng Quát của Sách Lễ Rôma, 72).

Như thế, cử chỉ đầu tiên của Chúa Giêsu: "Người cầm lấy bánh và chén rượu" tương ứng với việc chuẩn bị lễ vật. Đây là phần thứ nhất của Phụng vụ Thánh Thể. Việc các tín hữu dâng bánh và rượu cho linh mục là điều thật tốt, bởi vì chúng biểu thị của lễ thiêng liêng của Hội Thánh được gom lại ở đó cho Bí Tích Thánh Thể. Thật là đẹp khi các tín hữu mang bánh và rượu lên bàn thờ. Mặc dù ngày nay “các tín hữu không còn mang bánh và rượu mà chính họ làm cho Phụng Vụ, như trước đây, nhưng nghi thức dâng các lễ vật này vẫn duy trì giá trị và ý nghĩa thiêng liêng của nó" (ibid., 73). Và liên quan đến việc này, có một việc thật ý nghĩa là, khi truyền chức một tân linh mục, Đức Giám Mục nói lúc ban cho vị này bánh và rượu: “Con hãy nhận lễ vật của dân thánh cho hy tế Thánh Thể" (Nghi thức truyền chức cho các giám mục, linh mục và của các phó tế). Dân Thiên Chúa là những người mang các lễ vật, bánh và rượu, lễ vật cao cả cho Thánh Lễ! Vì thế, qua dấu chỉ bánh và rượu, các tín hữu đặt lễ vật của chính họ trong tay linh mục, là người đặt nó trên bàn thờ hoặc bàn của Chúa. "đó là trung tâm của toàn thể Phụng Vụ Thánh Thể" (x. Quy Chế Tổng Quát của Sách Lễ Rôma, 73). Nghĩa là, trung tâm của Thánh Lễ là bàn thờ, và bàn thờ là Đức Kitô; chúng ta phải luôn luôn nhìn lên bàn thờ là trung tâm của Thánh Lễ.  Do đó, tuân phục Lời của Thiên Chúa, trong "hoa mầu của ruộng đất và lao công của con người", cam kết dấn thân của các tín hữu được dâng lên để biến chính họ thành một "của lễ đẹp lòng Thiên Chúa là Cha Toàn Năng hầu mưu ích cho toàn thể Hội Thánh”. Vì vậy, "đời sống của các tín hữu, đau khổ của họ, kinh nguyện của họ, công việc của họ, được kết hợp với những điều ấy (đời sống, đau khổ, kinh nguyện và công việc) của Đức Kitô và với toàn thể hy lễ của Người, và như thế có được một giá trị mới" (Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, 1368).

Dĩ nhiên là lễ vật của chúng ta thật ít ỏi, nhưng Đức Kitô cần sự ít ỏi này. Chúa đòi chúng ta rất ít, và Người ban cho chúng ta rất nhiều. Người đòi chúng ta rất ít. Người đòi chúng ta, trong cuộc sống thường nhật, có thiện tâm; Người đòi chúng ta một tâm hồn rộng mở; Người đòi chúng ta ý muốn được trở nên tốt hơn để chào đón Người là Đấng hiến mình cho chúng ta trong Bí tích Thánh Thể; Người đòi chúng ta những lễ vật biểu tượng này và sau đó sẽ trở nên Mình và Máu Người. Một hình ảnh của chuyển động cầu nguyện tự hiến này được tiêu biểu bằng trầm hương, khi bị đốt trong lửa, toả ra một làn khói thơm bay lên cao: việc xông hương các của lễ, như được làm trong các ngày lễ, việc xông hương Thánh Giá, bàn thờ, linh mục và dân tư tế biểu lộ cách hữu hình mối dây dâng hiến kết hợp tất cả các thực tại này với hy lễ của Đức Kitô (x. Quy Chế Tổng Quát của Sách Lễ Rôma, 75). Và đừng quên: có bàn thờ là Đức Kitô, nhưng luôn luôn quy chiếu về bàn thờ đầu tiên là Thánh Giá, và trên bàn thờ là Đức Kitô, chúng ta mang lên món quà ít ỏi của mình, bánh và rượu là những gì sẽ trở thành nhiều hơn: là Chính Chúa Giêsu, Đấng tự hiến cho chúng ta.         

Và tất cả điều này là điều mà lời nguyện trên lễ vật cũng diễn tả. Trong đó, linh mục xin Thiên Chúa chấp nhận các lễ vật mà Hội Thánh dâng lê Ngài, qua việc khẩn xin hoa trái của việc trao đổi tuyệt vời giữa sự nghèo nàn của chúng ta và sự giàu sang của Ngài. Trong bánh và rượu, chúng ta hiến dâng Ngài của lễ cuộc đời chúng ta, để nó được Chúa Thánh Thần biến đổi thành hy lễ của Đức Kitô và với Người trở nên một của lễ thiêng liêng duy nhất đẹp lòng Chúa Cha. Và như thế việc chuẩn bị của lễ kết thúc, và dọn lòng chúng ta cho Kinh Nguyện Thánh Thể (x. ibid., 77).

Linh đạo về việc tự hiến, mà giây phút này của Thánh Lễ dạy chúng ta, có thể soi sáng những ngày sống của chúng ta, những mối liên hệ của chúng ta với tha nhân, những việc chúng ta làm, những đau khổ mà chúng ta gặp phải, giúp chúng ta xây dựng thành phố thế trần dưới ánh sáng Tin Mừng. Về mục lục

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

Nguồn:http://w2.vatican.va/content/francesco/it/audiences/2018/documents/papa-francesco_20180228_udienza-generale.html.

Bài Giáo Lý 12

Phụng Vụ Thánh Thể II – Kinh Nguyện Thánh Thể

“Kinh nguyện trung tâm này của Thánh Lễ giáo dục chúng ta, từng chút một, để biến toàn thể cuộc sống mình thành một “Thánh Thể”, có nghĩa là, một hành động tạ ơn.”

Dưới đây là bản dịch bài giáo lý thứ mười hai của ĐTC Phanxicô về Thánh Lễ, được ban hành ngày 7 tháng 3, 2018 tại Sảnh Đường Phaolô VI.  Hôm nay ĐTC giải thích về Kinh Nguyện Thánh Thể: Trong Thánh Thề, ” chúng ta được nuôi dưỡng bằng Mình Đức Kitô để, chúng ta, những kẻ ăn Mình Người, trở nên thân thể sống động của Người trong thế giới ngày nay”.

* * *

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Chúng ta tiếp tục loạt bài giáo lý về Thánh Lễ và với bài giáo lý này, chúng ta tập trung vào Kinh Nguyện Thánh Thể. Khi nghi thức dâng bánh rượu kết thúc, Kinh Nguyện Thánh Thể bắt đầu, là kinh nguyện định tính việc cử hành Thánh Lễ và tạo thành thời điểm chính của nó, hướng về việc Hiệp Lễ. Nó tương ứng với điều chính Chúa Giêsu đã làm, ở bàn ăn với các Tông Đồ trong Bữa Tiệc Ly, khi Người “tạ ơn” trên bánh rồi trên chén rượu (x Mt 26:27; Mc 14:23; Lc 22:17, 19; 1 Cor 11:24): Việc tạ ơn của Người được sống trở lại trong mọi Thánh Lễ của chúng ta, liên kết chúng ta với hy tế cứu độ của Người.

Và trong kinh nguyện long trọng này - Kinh Nguyện Thánh Thể thật long trọng - Hội Thánh diễn tả những gì mình hoàn thành khi cử hành Thánh Lễ và lý do tại sao cử hành nó, là để hiệp thông với Đức Kitô thực sự hiện diện trong bánh và rượu đã được truyền phép. Sau khi kêu mời dân chúng nâng tâm hồn lên với Chúa và tạ ơn Ngài, vị linh mục lớn tiếng đọc Kinh Nguyện, thay mặt cho tất cả những người hiện diện, dâng lên Chúa Cha qua Chúa Giêsu Kitô trong Chúa Thánh Thần. “Ý nghĩa của Kinh Nguyện này là toàn thể công đồng tín hữu kết hợp với Đức Kitô trong việc ca ngợi các công trình vĩ đại của Thiên Chúa và trong việc hiến dâng hy lễ” (Quy Chế Tổng Quát của Sách Lễ Rôma, 78). Và để kết hợp thì phải hiểu. Vì lý do đó mà Hội Thánh muốn cử hành Thánh Lễ bằng ngôn ngữ mà dân chúng hiểu, để mọi người có thể kết hợp với lời ca ngợi và kinh nguyện cao cả này cùng với vị linh mục. Thật ra, “Hy lễ của Đức Kitô và hy lễ Thánh Thể là một hy lễ duy nhất” (Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, 1367).

Có nhiều công thức Kinh Nguyện Thánh Thể trong Sách Lễ, tất cả bao gồm các yếu tố đặc thù, ​​mà giờ đây tôi muốn nhắc lại (xem QCTQSLR, 79; GLHTCG, 1352-1354). Tất cả đều đẹp. Trước hết có Kinh Tiền Tụng, là một hành động tạ ơn vì các hồng ân của Thiên Chúa, đặc biệt là việc sai Con của Ngài làm Đấng Cứu Độ. Kinh Tiền Tụng kết thúc bằng lời tung hô “Thánh”, thường được hát. Tuyệt đẹp khi hát “Thánh”: “Thánh, Thánh, Chúa là Đấng Thánh”. Thật là hay khi hát lời này. Toàn thể công đồng hiệp lời với lời của các thiên thần và các thánh để ca ngợi và tôn vinh Thiên Chúa.

Sau đó, có lời khẩn cầu Chúa Thánh Thần, để với quyền năng của Ngài bánh và rượu được thánh hiến. Chúng ta khẩn cầu Chúa Thánh Thần đến, và trong bánh và rượu có Chúa Giêsu ở đó. Hành động của Chúa Thánh Thần và hiệu quả của cùng những lời của Đức Kitô được vị linh mục nói lên thực sự làm cho Mình và Máu của Người, hy tế mà Người đã dâng trên Thánh Giá một lần là đủ, được hiện diện dưới hình bánh và rượu (xem GLHTCG, 1375). Chúa Giêsu nói rất rõ về điều này. Chúng ta đã nghe nói đến cách Thánh Phaolô ngay từ đầu kể lại những lời của Chúa Giêsu: “Đây là Mình Thầy, đây là Máu Thầy”. “Đây là Máu Thầy, đây là Mình Thầy”. Chính Chúa Giêsu đã nói điều này. Chúng ta không được có những ý nghĩ kỳ lạ: “Nhưng, làm sao mà một điều gì đó lại...”.

Đó là Mình Chúa Giêsu; chấm dứt ở đó! Đức tin: đức tin đến giúp đỡ chúng ta; với một hành động đức tin chúng ta tin rằng đó là Mình và Máu Chúa Giêsu.

Đó là “Mầu nhiệm đức tin”, như chúng ta nói sau khi truyền phép. Vị linh mục nói: “Mầu nhiệm đức tin” và chúng ta đáp lại bằng một lời tung hô.

Khi cử hành việc tưởng niệm về cái chết và sự Sống Lại của Chúa, trong khi mong đợi ngày trở lại vinh quang của Người, Hội Thánh dâng lên Chúa Cha của lễ hòa giải giữa trời và đất: dâng hiến hy tế vượt qua của Đức Kitô, khi dâng hiến Chính Người và cầu xin để, nhờ Chúa Thánh Thần, trở nên “một thân thể và một tinh thần trong Đức Kitô” (Kinh Nguyện Thánh Thể III, xem Sacrosanctum Concilium, 48, QCTQSLR, 79f). Hội Thánh muốn hiệp nhất với Đức Kitô và trở nên một thân thể và một tinh thần với Chúa. Đây là ân sủng và kết quả của sự hiệp thông bí tích: chúng ta được nuôi dưỡng bằng Mình Đức Kitô để, chúng ta, những kẻ ăn Mình Người, trở nên thân thể sống động của Người trong thế giới ngày nay.

Mầu nhiệm hiệp thông là thế, Hội Thánh kết hợp với hy lễ của Đức Kitô, cùng sự cầu bầu của Người, và trong ánh sáng này, “trong các hang toại đạo, Hội Thánh thường được trình bày như một phụ nữ đang cầu nguyện, với đôi  tay dang rộng ở vị thế cầu nguyện như Đức Kitô dang tay trên thập giá, vì vậy nhờ Người, với Người và trong Người, Hội Thánh hiến dâng chính mình và cầu bầu cho tất cả mọi người” (GLHTCG, 1368). Hội Thánh hiện nay đang cầu nguyện. Thật tốt khi nghĩ rằng Hội Thánh giờ đây đang cầu nguyện. Có một đoạn trong Sách Tông Đồ Công Vụ; khi Thánh Phêrô ở trong tù, cộng đồng Kitô hữu nói: “Chúng ta hãy cầu nguyên không ngừng cho ngài”. Hội Thánh hiện nay là Hội Thánh cầu nguyện. Và khi chúng ta đi dự Thánh Lễ, là để làm việc này: làm một Hội Thánh cầu nguyện.

Kinh Nguyện Thánh Thể xin Thiên Chúa tụ tập tất cả con cái Ngài trong sự hoàn hảo của tình yêu, trong sự hiệp nhất với Đức Giáo Hoàng và Đức Giám Mục, được nêu tên, một dấu chỉ rằng chúng ta cử hành trong sự hiệp thông với Hội Thánh hoàn vũ và với Hội Thánh địa phương. Các lời cầu xin, giống như việc dâng lễ vật, được dâng lên Thiên Chúa [để cầu nguyện] cho tất cả các phần tử của Hội Thánh, còn sống và đã qua đời, trong khi chờ đợi niềm hy vọng hồng phúc được chia sẻ gia nghiệp vĩnh cửu trên trời, cùng với Đức Trinh Nữ Maria (x. GLHTCG, 1369-1371).

Không có ai và không có gì bị lãng quên trong Kinh Nguyện Thánh Thể, nhưng mọi sự đều được đem trở lại với Thiên Chúa, như vinh tụng ca kết thúc Kinh Nguyện này nhắc nhở. Không ai bị lãng quên. Và nếu tôi có một ai, họ hàng, bạn bè, những người nghèo túng hoặc đã từ giã thế giới này sang thế giới khác, tôi có thể nhắc đến tên họ vào lúc này, trong lòng và âm thầm, hoặc viết tên để được nói đến. “Thưa Cha, con phải trả bao nhiêu tiền để tên của con được nói đến ở đó?” - “Không đồng nào”. Anh chị em không phải trả gì hết! Thánh lễ không phải trả tiền. Thánh lễ là hy tế của Đức Kitô, là miễn phí. Ơn cứu chuộc thì nhưng không. Nếu anh chị em muốn dâng cúng thì cứ việc làm, nhưng không phải trả tiền. Hiểu điều này là rất quan trọng.

Có lẽ chúng ta cảm thấy hơi xa cách với công thức cầu nguyện được hệ thống hoá này, - đó là sự thật, đó là một công thức cổ xưa - nhưng nếu chúng ta hiểu rõ ý nghĩa của nó, thì sau đó chắc chắn chúng ta sẽ tham dự cách tốt hơn. Thực ra, nó diễn tả tất cả mọi sự chúng ta thực hiện trong việc cử hành Thánh Lễ; và cũng có thể dạy chúng ta vun trồng ba thái độ không bao giờ thiếu nơi các môn đệ của Chúa Giêsu. Ba thái độ: thứ nhất là học cách “tạ ơn luôn luôn và ở mọi nơi”, và không chỉ vào những dịp nhất định, khi mọi sự xuôi chảy; thứ hai là biến cuộc sống của chúng ta thành một món quà tình yêu, tự do và nhưng không; thứ ba là xây dựng sự hiệp thông cụ thể. Vì thế, kinh nguyện trung tâm này của Thánh Lễ giáo dục chúng ta, từng chút một, để biến toàn thể cuộc sống mình thành một “Thánh Thể”, có nghĩa là, một hành động tạ ơn.

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

Nguồn:http://w2.vatican.va/content/francesco/it/audiences/2018/documents/papa-francesco_20180307_udienza-generale.html

Bài Giáo Lý 13

Phụng Vụ Thánh Thể III - "Kinh Lạy Cha" và việc "Bẻ Bánh"

“Khi mở lòng chúng ta ra với Thiên Chúa, “Kinh Lạy Cha” cũng chuẩn bị chúng ta cho tình yêu thương huynh đệ”.

Dưới đây là bản dịch bài giáo lý thứ mười ba của ĐTC Phanxicô về Thánh Lễ, được ban hành ngày 14 tháng 3, 2018 tại Quảng Trường Thánh Phêrô. Hôm nay ĐTC giải thích về “Kinh Lạy Cha” và việc bẻ Bánh. Kinh Lạy Cha là “lời cầu nguyện của con cái Thiên Chúa: nó là kinh nguyện tuyệt vời mà Chúa Giêsu đã dạy chúng ta.” Sau Kinh Lạy Cha, chúng ta xin Chúa ban bình an, nhưng “Bình an của Đức Kitô không thể bén rễ trong một con tim không có khả năng sống tình huynh đệ và nối lại nó sau khi đã làm tổn thương nó”. Ngài kết luận rằng các lời khẩn cầu “từ kinh Lạy Cha cho đến việc bẻ Bánh, giúp chúng ta chuẩn bị tâm hồn để dự bữa tiệc Thánh Thể, nguồn mạch của sự hiệp thông với Thiên Chúa và với anh em”.

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Chúng ta tiếp tục loạt bài Giáo lý về Thánh Lễ. Trong Bữa Tiệc Ly, sau khi Chúa Giêsu cầm lấy bánh cùng chén rượu, và tạ ơn Thiên Chúa, chúng ta biết rằng “Người đã bẻ bánh”. Trong Phụng Vụ Thánh Thể của Thánh Lễ, cử chỉ này tương ứng với việc bẻ Bánh, được đi trước bằng kinh nguyện mà Chúa đã dạy chúng ta, là “Kinh Lạy Cha”.

Và như vậy các nghi thức hiệp lễ bắt đầu, bằng cách kéo dài việc ngợi khen và khẩn cầu của Kinh Nguyện Thánh Thể với việc cộng đồng cùng đọc “Kinh Lạy Cha”. Đây không phải là một trong nhiều kinh nguyện Kitô giáo, nhưng là lời cầu nguyện của con cái Thiên Chúa: nó là kinh nguyện tuyệt vời mà Chúa Giêsu đã dạy chúng ta. Thực ra, được ban cho chúng ta trong ngày rửa tội của mình, “Kinh Lạy Cha” vang lên trong chúng ta những cảm xúc tương tự như những cảm xúc trong Chúa Giêsu Kitô. Khi chúng ta cầu nguyện bằng Kinh “Lạy Cha” chúng ta cầu nguyện như Chúa Giêsu đã cầu nguyện. Đó là kinh nguyện mà Chúa Giêsu đã đọc và đã dạy chúng ta; khi các môn đệ thưa Người: “Thưa Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện như Thầy cầu nguyện”. Và Chúa Giêsu đã cầu nguyện như thế. Thật là tuyệt đẹp khi cầu nguyện như Chúa Giêsu! Theo thể thức mà Chúa dạy, chúng ta dám hướng về Thiên Chúa mà gọi Ngài là “Cha” vì chúng ta được tái sinh như con con cái Ngài nhờ nước và Thánh Thần (Eph 1:5).

Thật ra, không ai có thể thân mật gọi Ngài là “Abba” - “Cha ơi” - mà đã không được Thiên Chúa sinh ra, mà không có ơn linh hứng của Chúa Thánh Thần, như Thánh Phaolô dạy (x. Rm 8:15). Chúng ta phải suy nghĩ: không ai có thể gọi Ngài là “Cha” mà không có ơn linh hứng của Chúa Thánh Thần. Biết bao lần có những người đọc “Kinh Lạy Cha”, mà không biết điều mình đọc là gì. Tại sao, có chứ, đó là Cha, nhưng bạn có cảm thấy điều ấy khi nói “Lạy Cha”, Ngài có phải là Cha, Cha của bạn, là Cha của nhân loại, Cha của Chúa Giêsu Kitô không? Bạn có một mối liên hệ nào với người Cha này không? Khi chúng ta cầu nguyện bằng “Kinh Lạy Cha”, chúng ta liên kết với Chúa Cha, Đấng yêu thương chúng ta, nhưng Chính Chúa Thánh Thần là Đấng ban cho chúng ta sự liên kết này, cái cảm giác làm con cái của Thiên Chúa này.

Có kinh nguyện nào có thể chuẩn bị cho sự hiệp thông bí tích với Ngài tốt hơn kinh nguyện được Chúa Giêsu dạy không? Ngoài Thánh Lễ, “Kinh Lạy Cha” còn được cầu nguyện vào buổi sáng và buổi tối, trong Kinh Sáng và Kinh Chiều; bằng cách này, thái độ con thảo đối với Thiên Chúa và tình huynh đệ với những người lân cận góp phần vào việc ban cho những ngày của chúng ta một hình thái Kitô giáo.

Trong Kinh của Chúa – trong “Kinh Lạy Cha” - chúng ta xin “lương thực hằng ngày”, trong đó chúng ta thấy một ám chỉ cụ thể về Bánh Thánh Thể, là điều chúng ta cần để sống như con cái Thiên Chúa. Chúng ta cũng xin “tha nợ cho chúng con”, và để được xứng đáng nhận sự tha thứ của Thiên Chúa, chúng ta cam kết tha thứ cho những ai đã xúc phạm đến mình. Và điều này không phải là dễ dàng. Việc tha thứ cho những kẻ đã xúc phạm đến mình không phải là điều dễ dàng; nó là một ân sủng mà chúng ta phải xin: “Lạy Chúa, xin dạy con tha thứ như Chúa đã tha thứ cho con”. Đó là một ân sủng. Với sức của mình chúng ta không thể: biết tha thứ là một ân sủng của Chúa Thánh Thần. Vì thế, trong khi mở lòng chúng ta ra với Thiên Chúa, “Kinh Lạy Cha” cũng chuẩn bị chúng ta cho tình yêu thương huynh đệ. Cuối cùng, chúng ta cầu xin Thiên Chúa “cứu chúng con khỏi sự dữ” là điều tách rời chúng ta khỏi Ngài và tách biệt chúng ta khỏi anh em mình. Chúng ta hiểu rõ rằng đây là những lời cầu xin rất hợp lý để chuẩn bị cho chúng ta Rước Lễ (Quy Chế Tổng Quát về Sách Lễ Rôma, 81).

Thực ra, tất cả những gì chúng ta cầu xin trong “Kinh Lạy Cha” được kéo dài bằng lời cầu nguyện của linh mục, thay mặt tất cả mọi người, cầu xin: “Lạy Chúa, xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, xin ban cho những ngày chúng con sống được bình an”. Và sau đó nhận được một loại ấn tín trong nghi thức chúc bình an: Điều đầu tiên chúng ta xin Đức Kitô là món quà bình an của Người (x Ga 14:27) – rất khác với bình an của thế gian – làm cho Hội Thánh lớn lên trong sự hiệp nhất và bình an theo ý của Người; rồi, với cử chỉ cụ thể được trao đổi giữa chúng ta, chúng ta bày tỏ “sự hiệp thông hội thánh và yêu thương lẫn nhau trước khi hiệp thông trong Bí Tích” (QCTQ, 82).

Trong nghi lễ Rôma, việc trao đổi dấu chỉ bình an, từ thời cổ xưa đã được đặt trước khi Rước Lễ, hướng về sự hiệp thông Thánh Thể. Theo lời cảnh báo của Thánh Phaolô, không thể hiệp thông trong một Tấm Bánh duy nhất, là điều làm cho chúng ta thành một thân thể trong Đức Kitô, mà không nhận ra chính mình được hoà giải bởi tình yêu huynh đệ (x 1 Cor 10:16-17; 11:29). Bình an của Đức Kitô không thể bén rễ trong một con tim không có khả năng sống tình huynh đệ và nối lại nó sau khi đã làm tổn thương nó. Bình an được Chúa ban: Người ban cho chúng ta ân sủng để tha thứ cho những ai đã xúc phạm đến mình.

Việc chúc bình an được đi theo bởi việc bẻ Bánh, mà từ thời các Tông Đồ, tên của nó đã được dùng cho toàn thể cuộc cử hành Thánh Thể (x. QCTQ, 83; Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, 1329). Được thực hiện bởi Chúa Giêsu trong Bữa Tiệc Ly, việc bẻ Bánh là cử chỉ tỏ mình ra, là điều cho phép các môn đệ nhận ra Người sau khi Phục Sinh. Chúng ta hãy nhở lại các môn đệ trên đường Emmau, khi nói về cuộc gặp gỡ với Đấng Phục Sinh, kể lại “họ đã nhận ra Người thế nào trong việc bẻ Bánh” (Lc 24:30-31,35).

Việc bẻ Bánh Thánh Thể được đi kèm với lời khẩn cầu ''Lạy Chiên Thiên Chúa”, một hình ảnh mà Thánh Gioan Tẩy Giả đã biểu thị nơi Chúa Giêsu “Người là Đấng xóa tội trần gian” (Ga 1:29). Hình ảnh Thánh Kinh của con chiên nói về sự cứu chuộc (x Xh 12:1-14; Is 53:7; 1 Pr 1:19; Kh 7:14). Trong Bánh Thánh Thể, được bẻ ra cho sự sống của thế gian, cộng đồng cầu nguyên nhận ra Chiên Con thật của Thiên Chúa, nghĩa là Đức Kitô, Đấng Cứu Chuộc, và nài xin Người: “Xin thương xót chúng con ... xin ban bình an cho chúng con”.

“Xin thương xót chúng con”, “xin ban bình an cho chúng con” là những lời khẩn cầu, từ kinh “Lạy Cha” cho đến việc bẻ Bánh, giúp chúng ta chuẩn bị tâm hồn để dự bữa tiệc Thánh Thể, nguồn mạch của sự hiệp thông với Thiên Chúa và với anh em.

Chúng ta đừng quên kinh nguyện tuyệt vời mà Chúa Giêsu đã dạy, và đó là kinh nguyện mà Người đã cầu nguyện với Chúa Cha. Và kinh nguyện này chuẩn bị cho chúng ta Rước Lễ. Về mục lục

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

Nguồn:http://w2.vatican.va/content/francesco/it/audiences/2018/documents/papa-francesco_20180314_udienza-generale.html

Bài Giáo Lý 14

Phụng Vụ Thánh Thể IV – Hiệp Lễ

“Được nuôi dưỡng bằng Bí Tích Thánh Thể nghĩa là để cho mình được thay đổi khi lãnh nhận [Mình Máu Chúa]”.  

Dưới đây là bản dịch bài giáo lý thứ mười bốn của ĐTC Phanxicô về Thánh Lễ, được ban hành ngày 21 tháng 3, 2018 tại Quảng Trường Thánh Phêrô.  Hôm nay ĐTC giải thích về “việc Rước Lễ”.  Ngài nhấn mạnh rằng “Chúng ta cử hành Thánh Lễ là để nuôi dưỡng chính mình bằng Đức Kitô… Mỗi khi rước lễ, chúng ta nên giống Chúa Giêsu hơn,… càng ngày càng biến đổi nhiều hơn trong Chúa Giêsu… để thành một Thánh Thể sống động”.  

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Và hôm nay là ngày đầu tiên của mùa xuân: chúc anh chị em một mùa xuân tốt đẹp!  Nhưng việc gì xảy ra vào mùa xuân?  Thảo mộc đâm bông, cây cối nở hoa.  Tôi sẽ hỏi anh chị em một số câu hỏi.  Một cây hay một thảo mộc có nở hoa tốt hay không nếu chúng bị bệnh?  Không!  Một cây và một thảo mộc không được tưới bằng nước mưa hoặc cách nhân tạo, có thể nở hoa tốt không? Không.  Một cây và một thảo mộc bị mất rễ hoặc không có rễ, có thể nở hoa được không? Không.  Vậy nếu anh chị em không có rễ, anh chị em có thể nở hoa không?  Không! Và đây là một sứ điệp: Cuộc đời Kitô hữu phải là một cuộc sống nở hoa trong các việc bác ái, trong việc lành.  Nhưng nếu anh chị em không có rễ, anh chị em sẽ không thể nở hoa được, và rễ là ai?  Là Chúa Giêsu! Nếu anh chị em không ở với Chúa Giêsu, ở tại đó, ở tận rễ, thì anh chị em sẽ không nở hoa được.  Nếu anh chị em không tưới nước cho cuộc sống của mình bằng cầu nguyện và các bí tích, liệu anh chị em có hoa Kitô không?  Không!  Vì cầu nguyện và các bí tích tưới các rễ, nên đời sống chúng ta mới nở hoa.  Tôi hy vọng rằng mùa xuân này thành một mùa xuân nở hoa cho anh chị em, cũng như một Phục Sinh nở hoa.  Hoa của các việc lành, của nhân đức, của việc làm các điều tốt lành cho tha nhân.  Hãy nhớ điều này, đây là một câu thơ tuyệt đẹp của đất nước tôi: “Việc nở hoa của cây đến từ điều được chôn dưới đất”.  Không bao giờ được cắt bỏ các rễ với Chúa Giêsu. 

Và chúng ta hãy tiếp tục với bài giáo lý về Thánh Lễ.  Việc cử hành Thánh Lễ, những giai đoạn khác nhau mà chúng ta đang đi qua được hướng về việc Rước Lễ, nghĩa là, để kết hợp chúng ta với Chúa Giêsu.  Sự hiệp thông bí tích: không phải là sự hiêp thông thiêng liêng là điều mà anh chị em có thể làm ở nhà khi thưa rằng, “Lạy Chúa Giêsu, con muốn rước Chúa cách thiêng liêng”.  Không, sự hiệp thông bí tích, với Mình và Máu của Đức Kitô.  Chúng ta cử hành Thánh Lễ là để nuôi dưỡng chính mình bằng Đức Kitô, Đấng ban cho chúng ta Chính Người cả trong Lời Chúa và trong Bí Tích của bàn thờ, để chúng ta nên đồng hình đồng dạng với Người.  Chính Chúa nói: “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì ở trong Ta và Ta ở trong người ấy” (Ga 6:56).  Thực ra, cử chỉ của Chúa Giêsu, Đấng đã ban cho các môn đệ Mình và Máu Người trong Bữa Tiệc Ly, vẫn tiếp tục hôm nay nhờ thừa tác vụ của các linh mục và các phó tế, các thừa tác viên thông thường của việc phân phát Bánh sự sống và Chén cứu độ cho các anh chị em mình.  

Trong Thánh Lễ, sau khi bẻ tấm bánh đã được thánh hiến, là Mình Chúa Giêsu, vị linh mục cho các tín hữu chiêm ngưỡng bánh ấy khi mời họ tham dự bàn tiệc Thánh Thể.  Chúng ta biết những lời vang lên từ bàn thờ: “Phúc cho ai được mời đến dự Tiệc Chiên Thiên Chúa: Đây Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian”.  Được cảm hứng từ một đoạn của Sách Khải Huyền - “Phúc cho ai được mời đến dự tiệc cưới của Con Chiên” (KH 19:9): nói là “tiệc cưới” vì Chúa Giêsu là vị hôn phu của Hội Thánh - lời mời này kêu gọi chúng ta cảm nghiệm sự kết hợp mật thiết với Đức Kitô, nguồn mạch của niềm vui và sự thánh thiện.  Đó là lời mời gọi tạo ra niềm vui và đồng thời dẫn đến việc kiểm điểm lương tâm được soi sáng bởi đức tin.  Thực ra, nếu một đàng chúng ta nhìn thấy khoảng cách tách biệt mình khỏi sự thánh thiện của Đức Kitô, thì đàng khác chúng ta lại tin rằng Máu Người “được đổ ra… để tha tội”.  Tất cả chúng ta đã được tha tội trong Bí Tích Rửa Tội, và tất cả chúng ta đã được tha thứ hay sẽ được tha thứ mỗi lần chúng ta đến cùng Bí Tích Thống Hối.  Và đừng quên rằng: Chúa Giêsu luôn tha thứ.  Chúa Giêsu không bao giờ biết mệt vì tha thứ.  Chính chúng ta mới là những kẻ mệt mỏi vì cầu xin ơn tha thứ.  Khi suy nghĩ về giá trị của Máu cứu độ này, Thánh Ambrôsiô kêu lên: “Tôi, kẻ luôn luôn phạm tội, phải luôn luôn cần thuốc” (De sacramentis, 4, 28: PL 16, 446).  Trong đức tin này, cả chúng ta cũng hướng cái nhìn của mình về Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian, và cầu khẩn Người: “Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con, nhưng xin Chúa phán một lời, thì linh hồn con sẽ lành mạnh” [dịch sát chữ theo Sách Lễ Tiếng Ý mà ĐTC dùng là: “Lạy Chúa, con chẳng đáng dự bàn tiệc của Chúa: nhưng xin chỉ phán một lời và con sẽ được cứu - O Signore, non sono degno di partecipare alla tua mensa: ma di' soltanto una parola e io sarò salvato”].  Chúng ta nói lời này trong mỗi Thánh Lễ. 

Mặc dù chính chúng ta là những người xắp hàng để lên Rước Lễ, chúng ta xắp hàng đi đến bàn thờ để thực hiện sự hiệp thông, nhưng thực ra thì Đức Kitô là Đấng đến gặp chúng ta để đồng hoá chúng ta với Chính Người.  Có một cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu!  Được nuôi dưỡng bằng Bí Tích Thánh Thể nghĩa là để cho mình được thay đổi khi lãnh nhận [Mình Máu Chúa].  Thánh Augustinô giúp chúng ta hiểu điều này khi ngài nói với chúng ta về ánh sáng nhận được khi nghe Đức Kitô nói:  “Ta là lương thực của người mạnh mẽ.  Hãy lớn lên, và con sẽ ăn Ta.  Và không phải là con sẽ biến Ta thành con, như thức ăn thành thịt con; mà con sẽ được biến đổi thành Ta” (Tự Thú VII, 10, 16: PL 32, 742).  Mỗi khi rước lễ, chúng ta nên giống Chúa Giêsu hơn, chúng ta càng ngày càng biến đổi nhiều hơn trong Chúa Giêsu.  Như bánh và rượu được biến đổi thành Mình và Máu Đức Kitô, thì những ai lãnh nhận Mình và Máu này trong đức tin cũng được biến đổi thành một Thánh Thể sống động.  Khi linh mục nói “Mình Thánh Chúa Kitô” lúc ban Thánh Thể cho anh chị em, anh chị em trả lời “Amen”, đúng hơn, là anh chị em nhận ra ân sủng và cam kết trở thành Thân Thể Đức Kitô.  Bởi vì khi anh chị em lãnh nhận Thánh Thể, anh chị em trở thành Thân Thể Đức Kitô.  Điều này tuyệt đẹp, điều này rất đẹp.  Trong khi kết hợp chúng ta với Đức Kitô và kéo chúng ta ra khỏi tính ích kỷ của mình, việc Rước Lễ mở lòng chúng ta ra và kết hợp chúng ta với tất cả những ai là một trong Người.  Đó là sự diệu kỳ của việc Rước Lễ: chúng ta trở nên điều mà chúng ta lãnh nhận!

Hội Thánh tha thiết mong muốn rằng các tín hữu lãnh nhận Mình Thánh Chúa từ bánh được thánh hiến trong cùng một Thánh Lễ; và dấu chỉ của bàn tiệc Thánh Thể được diễn tả cách trọn vẹn hơn nếu việc Rước Lễ được thực hiện dưới cả hai hình thức [Mình và Máu Chúa], cho dù giáo lý Công Giáo dạy rằng một người nhận được toàn thể Đức Kitô dưới một hình thức (x Quy Chế Tổng Quát của Sách Lễ Rôma, 85; 281-282).  Theo thông lệ của Hội Thánh, các tín hữu thường xắp hàng lên Rước Lễ, như chúng tôi đã nói, và đứng hoặc quý với lòng sùng kính, như được quy định bởi Hội Đồng Giám Mục, lãnh nhận bí tích bằng miệng hay, ở những nơi được phép, bằng tay, như mình muốn (x. QCTQ, 160-161).  Sau khi Rước Lễ, sự thinh lặng, cầu nguyện âm thầm, sẽ giúp chúng ta giữ trong tâm hồn mình hồng ân đã lãnh nhận.  Kéo dài giây phút im lặng ấy một chút, để thưa chuyện với Chúa Giêsu trong tâm hồn, sẽ giúp chúng ta rất nhiều, cũng như hát một bài Thánh Vịnh hay một bài thánh ca ngợi khen (x.  QCTQ, 88) để giúp chúng ta ở với Chúa.  

Phụng vụ Thánh Thể kết thúc bằng lời nguyện Hiệp Lễ.  Trong đó, thay mặt mọi người, linh mục quay lên cùng Thiên Chúa để cám tạ Ngài vì đã biến chúng ta thành thực khách của Ngài và cầu xin cho điều chúng ta đã lãnh nhận biến đổi cuộc sống chúng ta.  Bí Tích Thánh Thể làm cho chúng ta mạnh mẽ để sinh hoa quả của các việc lành ngõ hầu sống như Kitô hữu.  Lời cầu nguyện hôm nay thật ý nghĩa, trong đó chúng ta xin Chúa rằng “xin cho của ăn này nên thần dược chữa chúng con khỏi mọi nết xấu, và gìn giữ chúng con luôn vững mạnh” [bản dịch sát tiếng Ý là “việc tham gia vào bí tích của Ngài trở nên thuốc cứu độ cho chúng con, chữa chúng con khỏi sự dữ và củng cố chúng con trong tình thân hữu của Ngài” (Sách Lễ Rôma, Thứ Tư của Tuần Thứ Năm Mùa Chay).  Chúng ta hãy lại gần Thánh Thể hơn nữa: để lãnh nhận Chúa Giêsu, là Đấng biến đổi chúng ta thành Người, làm cho chúng ta nên mạnh mẽ hơn.  Chúa quá tốt lành và quá cao cả! Về mục lục

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

Nguồn: http://w2.vatican.va/content/francesco/it/audiences/2018/documents/papa-francesco_20180321_udienza-generale.html

 

Bài Giáo Lý 15

TAM NHẬT VƯỢT QUA

“[Nhờ Mầu Nhiệm Vượt Qua] chúng ta đã được tái sinh như những thụ tạo mới: một thực tại đòi buộc phải trở nên một sự hiện hữu cụ thể từng ngày”.  

Dưới đây là bản dịch bài giáo lý của ĐTC Phanxicô về Tam Nhật Vượt Qua, được ban hành ngày 28 tháng 3, 2018 tại Quảng Trường Thánh Phêrô.  ĐTC nói rằng ba ngày này “tạo thành một cuộc cử hành tưởng niệm về một mầu nhiệm cao cả: Cái Chết và sự Phục Sinh của Chúa Giêsu.  Tam Nhật Thánh bắt đầu vào ngày mai, với Thánh Lễ Tiệc Ly của Chúa, và kết thúc với Kinh Chiều của Chúa Nhật Phục Sinh…. Tất cả mọi Kitô hữu được mời gọi sống ba Ngày Thánh này - Thứ Năm, Thứ Sáu, Thứ Bảy; và Chúa Nhật…. Có thể nói Ba Ngày Thánh này như “nguồn gốc” của đời sống cá nhân của họ, đời sống cộng đồng của họ, như anh chị em Do Thái của chúng ta đã sống Cuộc Xuất Hành từ Ai Cập”.  

* * *

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Hôm nay tôi muốn suy niệm về Tam Nhật Vượt Qua là ba ngày bắt đầu từ ngày mai, để đào sâu thêm một chút những gì mà những ngày quan trọng nhất của Năm Phụng Vụ trình bày cho chúng ta, là các tín hữu.  Tôi muốn hỏi anh chị em một câu hỏi: lễ nào là lễ quan trọng nhất của đức tin của chúng ta: Lễ Giáng Sinh hay Lễ Phục Sinh?

Lễ Phục Sinh vì đó là ngày lễ của ơn cứu độ của chúng ta, ngày lễ của tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta, ngày lễ, cuộc cử hành Cái Chết và Phục Sinh của Người. Và vì điều này, tôi muốn cùng anh chị em suy niệm về lễ này, trong những ngày này, là những ngày Vượt Qua, cho đến khi Chúa Phục Sinh.  Những ngày này tạo thành một cuộc cử hành tưởng niệm về một mầu nhiệm cao cả: Cái Chết và sự Phục Sinh của Chúa Giêsu. Tam Nhật Thánh bắt đầu vào ngày mai, với Thánh Lễ Tiệc Ly của Chúa, và kết thúc với Kinh Chiều của Chúa Nhật Phục Sinh.  

Sau đó đến “Thứ Hai Phục Sinh” để mừng đại lễ này: một ngày nữa.  Nhưng đây là ngày hậu phụng vụ: đây là ngày lễ của gia đình, đây là ngày lễ của xã hội. Nó đánh dấu các giai đoạn cơ bản của đức tin và ơn gọi của chúng ta trên thế gian, và tất cả mọi Kitô hữu được mời gọi sống ba Ngày Thánh này - Thứ Năm, Thứ Sáu, Thứ Bảy; và Chúa Nhật  - anh chị em hiểu - nhưng ngày Thứ Bảy là ngày Phục Sinh - có thể nói Ba Ngày Thánh này như “nguồn gốc” của đời sống cá nhân của họ, đời sống cộng đồng của họ, như anh chị em Do Thái của chúng ta đã sống Cuộc Xuất Hành từ Ai Cập.

Ba ngày này tái trình bày cho dân Kitô giáo các biến cố vĩ đại của ơn cứu độ mà Đức Kitô đã mang đến, và như thế, chúng chỉ cho họ thấy viễn tượng của số phận tương lai của họ và củng cố họ trong quyết tâm làm chứng nhân trong ​​lịch sử.

Vào sáng Phục Sinh, trong khi nhắc lại các giai đoạn đã trải qua trong Tam Nhật Thánh, Bài Ca Tiếp Liên, tức là một thánh thi hoặc thánh vịnh, sẽ long trọng nói lên lời công bố Phục Sinh; và nói rằng: “Đức Kitô, niềm hy vọng của chúng ta, đã sống lại và đi trước chúng ta đến Galilêa”.  Đây là lời khẳng định vĩ đại: Đức Kitô đã sống lại.  Và nhiều dân tộc trên thế giới, đặc biệt là ở Đông Âu, trong những ngày Phục Sinh này, người ta không chào nhau bằng “chào buồi sáng”, “chào buổi tối” nhưng bằng “Đức Kitô đã sống lại”, để khẳng định lời chào Phục Sinh vĩ đại.  “Đức Kitô đã sống lại”. 

Qua những lời này - “Đức Kitô đã sống lại” – Tam Nhật Thánh đạt đến tột đỉnh trong các lời công bố vui mừng cảm động.  Chúng chứa đựng không những chỉ một loan báo về niềm vui và hy vọng, mà còn một lời kêu gọi về trách nhiệm và sứ vụ.  Phục Sinh không kết thúc với chim bồ câu, trứng, các lễ hội - mặc dù điều này tốt đẹp vì Phục Sinh là một lễ của gia đình - nhưng Phục Sinh không kết thúc như thế.  Ở đó bắt đầu cuộc hành trình sứ vụ, để loan báo: Đức Kitô đã sống lại.  Và lời loan báo này này, mà Tam Nhật Thánh dẫn đầu, chuẩn bị chúng ta để đón nhận nó, là trung tâm của đức tin của chúng ta và niềm hy vọng của chúng ta, là điểm cốt yếu, là lời loan báo, đó là - một từ khó hiểu, nhưng nó nói lên tất cả - là kerygma (lời loan báo ban đầu), là lời liên tục Phúc Âm hoá Hội Thánh, và đến lượt mình, Hội Thánh được sai đi để Phúc Âm hóa.

Thánh Phaolô tóm tắt biến cố Phục Sinh bằng biểu thức này: “Đức Kitô, chiên Vượt Qua của chúng ta, đã chịu hiến tế” (1 Cr 5:7), như con chiên.  Người đã chịu sát tế.  Vì thế - thánh nhân tiếp tục - “Những cái cũ đã qua, và đây, mọi sự đang trở nên mới” (2 Cr 5:17). Tái sinh. Và vì thế, ngay từ ban đầu, người ta đã chịu phép rửa tội vào Chúa Nhật Phục Sinh.  Cũng trong đêm Thứ Bảy này, tôi sẽ rửa tội ở đây, tại Đền Thánh Phêrô, tám người trưởng thành bắt đầu đời sống Kitô hữu. Và tất cả bắt đầu vì họ sẽ được tái sinh. 

Và với một công thức tổng hợp khác thánh Phaolô giải thích rằng Đức Kitô “đã bị nộp để chịu chết vì tội chúng ta và đã sống lại để công chính hóa chúng ta” (Rm 4:25).  Người duy nhất, Đấng duy nhất công chính hoá chúng ta; Đấng duy nhất làm cho chúng ta được tái sinh là Chúa Giêsu Kitô.  Không một ai khác. Và vì điều này anh chị em không phải trả đồng nào, bởi vì ơn công chính hoá – việc làm cho chúng ta nên công chính - là ơn nhưng không. Và đây là sự vĩ đại của tình yêu của Chúa Giêsu: Người tự nguyện hiến mạng sống Mình để làm cho chúng ta nên thánh, đổi mới chúng ta, tha thứ cho chúng ta. 

Và đây chính là cốt lõi của Tam Nhật Vượt Qua này.  Trong Tam Nhật Vượt Qua việc tưởng niệm biến cố cơ bản này trở nên một cuộc cử hành đầy biết ơn và, đồng thời, canh tân, trong những người đã được rửa tội, ý nghĩa của tình trạng mới của họ, là điều lại được Thánh Tông Đồ Phaolô diễn tả: “Nếu anh chị em đã được sống lại với Đức Kitô, thì hãy tìm kiếm những sự trên trời, [...] chứ không phải những sự dưới đất” (Cl 3:1-3).  Anh chị em hãy nhìn lên, nhìn lên chân trời, mở rộng chân trời của mình: đây là đức tin của chúng ta, đây là sự công chính hoá của chúng ta, đây là tình trạng ân sủng!   

Thực ra, qua Bí Tích Rửa Tội chúng ta đã sống lại với Chúa Giêsu và đã chết với những sự việc và luận lý của thế gian; chúng ta đã được tái sinh như những thụ tạo mới: một thực tại đòi buộc phải trở nên một sự hiện hữu cụ thể từng ngày.

Nếu một Kitô hữu thực sự để cho mình được Đức Kitô rửa sạch, nếu thực sự để cho Người lột bỏ con người cũ để đi trong một đời sống mới, mặc dù vẫn còn là một người tội lỗi - bởi vì tất cả chúng ta đều là những kẻ tội lỗi – người ấy không còn bị hư hỏng, sự công chính hoá của Chúa Giêsu cứu chúng ta khỏi sự hư hỏng, chúng ta là những kẻ tội lỗi nhưng không bị hư hỏng; người ấy không còn có thể sống với cái chết trong linh hồn, và thậm chí cũng không phải là nguyên nhân của sự chết.  Và ở đây tôi phải nói một điều đáng buồn và đau đớn...  Có các Kitô hữu giả: những kẻ nói “Chúa Giêsu đã sống lại”, “Tôi đã được Chúa Giêsu công chính hoá”, tôi đang ở trong cuộc sống mới, nhưng tôi sống một cuộc sống hư hỏng.  Và những Kitô hữu giả này sẽ kết thúc tồi tệ. 

Tôi lặp lại, Kitô hữu là những kẻ tội lỗi - tất cả chúng ta, kể cả tôi - nhưng chúng ta chắc chắn rằng khi chúng ta cầu xin ơn tha thứ thì Chúa sẽ tha thứ cho chúng ta.  Kẻ hư hỏng giả bộ làm một người đáng kính, nhưng cuối cùng thì trong tim kẻ  ấy vẫn còn sự tồi bại. Chúa Giêsu ban cho chúng ta một cuộc sống mới. Một Kitô hữu không thể sống với cái chết trong linh hồn mình, và không thể là nguyên nhân của sự chết. Chúng ta hãy nghĩ - không cần phải xa xôi - chúng ta hãy nghĩ ở nhà, chúng ta nghĩ đến những kẻ được gọi là “Kitô hữu mafia”. Các Kitô hữu này không có gì: họ nhận mình là Kitô hữu, nhưng họ mang sự chết trong linh hồn và đem nó đến cho những người khác. Chúng ta hãy cầu nguyện cho họ, để Chúa đánh động linh hồn họ. Người lân cận, đặc biệt là những người nhỏ nhất và đau khổ nhất, trở thành gương mặt cụ thể mà chúng ta có thể trao tặng tình yêu mà Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta. Và thế giới trở thành không gian của đời sống mới của chúng ta như những người đã được phục sinh. Chúng ta đang sống lại với Chúa Giêsu: bằng cách đứng thẳng, và ngẩng đầu lên, chúng ta có thể chia sẻ nỗi nhục nhằn của những người ngày hôm nay, như Chúa Giêsu, vẫn còn đang sống trong đau khổ, trần truồng, túng thiếu, cô đơn, sự chết, để, nhờ Người và với Người, trở thành những công cụ cứu chuộc và hy vọng, những dấu chỉ của sự sống và sự phục sinh. 

Ở nhiều nước - ở đây, ở Ý và cũng ở quê hương tôi - có thói quen, vào lễ Phục Sinh, khi nghe tiếng chuông, các bà mẹ và các bà đem trẻ em đi rửa mắt chúng bằng nước, nước của sự sống, như một dấu chỉ rằng có thể nhìn thấy những điều thuộc về Chúa Giêsu, những điều mới mẻ.  Trong Lễ Phục Sinh này, chúng ta hãy rửa linh hồn mình, hãy rửa mắt linh hồn, để nhìn thấy những điều đẹp đã và làm những điều tốt đẹp.  Và điều này thật tuyệt diệu!   Đây chính là sự Phục Sinh của Chúa Giêsu sau Cái Chết của Người, là giá để cứu tất cả chúng ta.  

Anh chị em thân mến,

Chúng ta hãy dọn mình để sống tốt Tam Nhật Thánh đang cận kề - bắt đầu vào ngày mai - để được chìm sâu hơn nữa vào mầu nhiệm Đức Kitô, Đấng đã chết và sống lại cho chúng ta. Nguyện xin Đức Trinh Nữ đồng hành với chúng ta trong cuộc hành trình thiêng liêng này, Mẹ đã theo Chúa Giêsu trong cuộc Khổ Nạn của Người – Mẹ đã ở đó, đã nhìn lên, đã chịu đau khổ..., đã có mặt và kết hợp với Người dưới chân thập giá của Người, nhưng Mẹ đã không xấu hổ vì Con mình. Một Người Mẹ đã không bao giờ hổ thẹn vì con mình! Mẹ đã ở đó, và đã nhận lãnh trong lòng Từ Mẫu của Mẹ niềm vui bao la của sự Phục Sinh. Xin Mẹ giúp chúng ta được ân sủng tham gia cách nội tâm vào các cuộc cử hành của những ngày sắp tới, ngõ hầu tâm hồn và đời sống chúng ta được thực sự biến đổi.

Và trong khi để lại cho anh chị em những suy nghĩ này, tôi chân thành cầu chúc anh chị em một Lễ Phục Sinh hạnh phúc và thánh thiện, cùng với cộng đồng và những người thân yêu của anh chị em.

Và tôi khuyên anh chị em: vào buổi sáng Lễ Phục Sinh, hãy đưa trẻ em đến vòi nước và rửa mắt chúng.  Đó sẽ là một dấu chỉ của việc làm sao để nhìn thấy Chúa Giêsu Phục Sinh. Về mục lục

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

Nguồn:http://w2.vatican.va/content/francesco/it/audiences/2018/documents/papa-francesco_20180328_udienza-generale.html

Bài Giáo Lý 16

CÁC NGHI THỨC KẾT LỄ

“Chúng ta rời khỏi nhà thờ để ‘đi về bình an’ để mang phúc lành của Thiên Chúa vào các sinh hoạt hằng ngày”.

Dưới đây là bản dịch bài giáo lý thứ mười lăm của ĐTC Phanxicô về Thánh Lễ, được ban hành ngày 4 tháng 4, 2018 tại Quảng Trường Thánh Phêrô. Hôm nay ĐTC dạy về Các Nghi Thức Kết Lễ.  Ngài giải thích: “Khi Thánh Lễ kết thúc, thì sự cam kết làm nhân chứng của Kitô hữu được mở ra.  Các Kitô hữu không đi dự Thánh Lễ để chu toàn một nhiệm vụ hàng tuần và sau đó họ quên đi, không. Các Kitô hữu đi dự Thánh Lễ để tham dự Cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Chúa và sau đó sống nhiều hơn như các Kitô hữu… Từ việc cử hành đến đời sống, chúng ta hãy ý thức rằng Thánh Lễ được hoàn thành trong những lựa chọn cụ thể của những người có liên quan cá nhân với mầu nhiệm của Đức Kitô. Chúng ta đừng quên rằng mình cử hành Thánh Lễ để học cách trở thành những người nam nữ Thánh Thể”.

* * *

Anh chị em thân mến, Chào anh chị em và Chúc mừng Phục sinh!

Anh chị em thấy hôm nay có nhiều hoa: hoa nói lên sự vui mừng, hoan hỉ. Ở một số nơi, Lễ Phục Sinh còn được gọi là “Phục Sinh nở hoa”, bởi vì Đức Kitô Phục Sinh nở hoa: đó là hoa mới; hoa của sự công chính hóa của chúng ta; hoa của sự thánh thiện của Hội Thánh. Vì lý do này mà có nhiều hoa: đó là niềm vui của chúng ta. Chúng ta mừng Lễ Phục Sinh cả tuần, cả tuần. Và vì điều này chúng ta lại tự chúc nhau, một lần nữa, tất cả chúng ta cùng nhua chúc “Mừng Phục Sinh”. Hãy cùng nhau nói: “Mừng Phục Sinh!”, tất cả mọi người! [trả lời: “Mừng Phục Sinh!”]. Tôi cũng muốn chúng ta chúc mừng Phục Sinh đến Đức Thánh Cha Bênêđictô quý yêu của chúng ta  - bởi vì ngài đã là Giám mục Rôma - ngài đang theo dõi chúng ta trên truyền hình. Tất cả chúng ta hãy cùng nhau chúc Mừng Phục Sinh Đức Thánh Cha Bênêdictô: [họ nói: “Mừng Phục Sinh!”]. Và một tràng pháo tay lớn.

Với bài giáo lý này, chúng ta kết thúc chu kỳ giáo lý dành riêng cho Thánh Lễ, chính là một lễ tưởng niệm, nhưng không chỉ là một hồi tưởng, mà chúng ta tái sống cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Chúa Giêsu. Lần trước chúng ta đã đi đến Hiệp Lễ và lời nguyện sau Hiệp Lễ; sau lời nguyện này, Thánh Lễ kết thúc bằng phép lành được linh mục ban và sự ra về của dân chúng (xem Quy Chế Tồng Quát của Sách Lễ Rôma, 90). Như được mở đầu bằng Dấu Thánh Giá, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, thì Thánh Lễ cũng được kết thúc nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi, tức là cử chì phụng vụ.

Tuy nhiên, chúng ta biết rằng khi Thánh Lễ kết thúc, thì sự cam kết làm nhân chứng của Kitô hữu được mở ra. Các Kitô hữu không đi dự Thánh Lễ để chu toàn một nhiệm vụ hàng tuần và sau đó họ quên đi, không. Các Kitô hữu đi dự Thánh Lễ để tham dự Cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Chúa và sau đó sống nhiều hơn như Kitô hữu: việc dấn thân để làm nhân chứng của Kitô hữu được mở ra. Chúng ta rời khỏi nhà thờ để “đi về bình an” để mang phúc lành của Thiên Chúa vào các sinh hoạt hằng ngày, ở nhà của mình, nơi sở làm, giữa các nghề nghiệp của thành phố trần thế, để “tôn vinh Chúa bằng cuộc sống của mình.” Nhưng nếu chúng ta nói chuyện khi rời khỏi nhà thờ và nói, “hãy nhìn cái này, hãy nhìn cái kia ...”, với nhiều lời, thì Thánh Lễ đã không đi vào lòng tôi được. Tại sao? Bởi vì tôi không thể sống đời chứng nhân cho Đức Kitô. Mỗi khi tôi rời khỏi Thánh Lễ, tôi phải đi ra như một người tốt hơn khi tôi đi vào, với nhiều sức sống hơn, với nhiều sức mạnh hơn, với ước ao làm chứng nhân cho Đức Kitô nhiều hơn. Qua Bí Tích Thánh Thể, Chúa Giêsu đi vào trong chúng ta, trong lòng chúng ta và trong thịt chúng ta, để chúng ta có thể “diễn tả Bí Tích [mà mình] nhận được trong đức tin nơi  đời sống mình” (Sách Lễ Rôma, Tổng Nguyện của Thứ Hai của Bát Nhật Phục Sinh).

Cho nên, Từ việc cử hành đến đời sống, chúng ta hãy ý thức rằng Thánh Lễ được hoàn thành trong những lựa chọn cụ thể của những người có liên quan cá nhân với mầu nhiệm của Đức Kitô. Chúng ta đừng quên rằng mình cử hành Thánh Lễ để học cách trở thành những người nam nữ Thánh Thể. Điều này có ý nghĩa gì?  Có nghĩa là để cho Đức Kitô hành động trong các việc làm của chúng ta: rằng các tư tưởng của Người thành các tư tưởng của chúng ta, các cảm xúc của Người thành cảm xúc của chúng ta, các lựa chọn của Người thành các lựa chọn của chúng ta. Và đó là sự thánh thiện: làm như Đức Kitô đã làm là sự thánh thiện của Kitô hữu. Thánh Phaolô diễn tả nó một cách chính xác khi nói về sự đồng hóa chính mình với Chúa Giêsu rằng: “Tôi đã chịu đóng đinh vào thập giá cùng với Ðức Kitô, cho nên, tôi sống, nhưng không còn là tôi, mà là Ðức Kitô sống trong tôi.  Giờ đây tôi sống trong thân xác, là tôi sống trong đức tin vào Con Thiên Chúa, Ðấng đã yêu thương tôi và đã hiến mạng sống Mình vì tôi” (Gal 2:19-20). Đây là chứng nhân Kitô giáo. Kinh nghiệm của Thánh Phaolô cũng soi sáng chúng ta: theo mức độ chúng ta kìm hãm tính ích kỷ của mình, nghĩa là chúng ta chết cho những gì trái ngược với Tin Mừng và tình yêu của Chúa Giêsu, một không gian lớn hơn được tạo ra trong chúng ta cho quyền năng của Chúa Thánh Thần. Kitô hữu là những người nam nữ để cho linh hồn mình được mở rộng bởi sức mạnh của Chúa Thánh Thần, sau khi lãnh nhận Mình và Máu Đức Kitô. Hãy để tâm hồn anh chị em mở rộng! Không phải những linh hồn chật hẹp và đóng lại, nhỏ bé và ích kỷ, không! Những linh hồn đại lượng, những linh hồn cao thượng, với những chân trời vĩ đại ... Hãy mở rộng linh hồn của anh chị em bằng quyền năng của Chúa Thánh Thần sau khi đã lãnh nhận Mình và Máu Đức Kitô.

Vì sự hiện diện thực sự của Đức Kitô trong Bánh được thánh hiến không kết thúc với Thánh Lễ (x. Giáo lý Hội Thánh Công giáo, 1374), Thánh Thể được cất trong Nhà Tạm để cho các bệnh nhân Rước Lễ và để im lặng chầu kính Chúa trong Bí tích Cực Trọng; thực ra, việc tôn thờ Thánh Thể ngoài Thánh Lễ, cả cá nhân lẫn cộng đồng, giúp chúng ta ở lại trong Đức Kitô (x. ibid., 1378-1380).

Vì thế, các hoa quả của Thánh Lễ được dành riêng để chín mùi trong cuộc sống hàng ngày. Chúng ta có thể nói như thế, một chút hơi gượng ép, bằng hình ảnh: Thánh Lễ như hạt lúa, hạt lúa miến, mà sau đó phát triển trong cuộc sống bình thường, phát triển và trưởng thành trong các việc lành, các thái độ làm cho chúng ta nên giống Chúa Giêsu.  Như thế hoa quả của Thánh Lễ được dành riêng để chín mùi trong cuộc sống hàng ngày. Thật ra, trong khi gia tăng sự kết hợp của chúng ta với Đức Kitô, Thánh Thể cập nhật hoá ân sủng mà Chúa đã ban cho chúng ta trong Bí tích Rửa Tội và Thêm Sức, để việc làm nhân chứng cho Đức Kitô của chúng ta nên đáng tin (ibid., 1391-1392).

Một lần nữa, khi thắp lên tình yêu của Thiên Chúa trong lòng chúng ta, Thánh Thể làm gì? Thánh thể tách chúng ta ra khỏi tội lỗi: “Chúng ta càng chia sẻ sự sống của Đức Kitô và tiến triển trong tình bằng hữu của Người, thì chúng ta ra càng khó bị tách khỏi Người bởi tội trọng” (ibid., 1395).

Việc thường xuyên đến gần bàn tiệc Thánh Thể canh tân, củng cố và đào sâu mối liên hệ với các cộng đoàn Kitô hữu mà chúng ta thuộc về, theo nguyên tắc Thánh Thể làm thành Hội Thánh (x. ibid., 1396), Thánh Thể kết hợp tất cả chúng ta lại với nhau.

Cuối cùng, việc tham dự vào Thánh Thể giúp chúng ta quyết tâm dấn thân cho tha nhân, đặc biệt là những người nghèo, khi dạy chúng ta chuyển từ thịt Đức Kitô sang thịt anh em mình, trong đó Người đang chờ đợi để được chúng ta nhận ra, phục vụ, tôn kính và yêu thương (x. ibid., 1397).

Trong khi mang kho tàng kết hợp với Đức Kitô trong các bình sành (x. 2 Cr 4:7), chúng ta luôn cần phải quay trở lại bàn thờ thánh, cho đến khi chúng ta hoàn toàn vui hưởng hạnh phúc của tiệc cưới Chiên Con trên thiên đàng,  (x. Kh 19:9).

Chúng ta cảm tạ Chúa về cuộc hành trình tái tìm hiểu Thánh Lễ, mà Người đã cho chúng ta cùng nhau thực hiện, và chúng ta hãy để cho mình được lôi kéo, bằng một  đức tin được canh tân, đến cuộc gặp gỡ thật sự này với Chúa Giêsu, Đấng đã chết và sống lại vì chúng ta và những người đương thời của chúng ta. Và nguyện xin cho cuộc sống của chúng ta luôn luôn được “nở hoa” như Lễ Phục Sinh, với những hoa của hy vọng, đức tin và việc lành. Chớ gì chúng ta luôn tìm thấy sức mạnh cho điều này trong Bí Tích Thánh Thể, trong sự kết hợp với Chúa Giêsu. Mừng Phục Sinh tất cả mọi người! Về mục lục

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

Nguồn: http://w2.vatican.va/content/francesco/it/audiences/2018/documents/papa-francesco_20180404_udienza-generale.html

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan