SUY NIỆM CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY_C

28-03-2019 159 lượt xem

Lời Chúa: Gs 5,9a.10-12; 2Cr 5,17-21; Lc 15,1-3.11-32

Mục Lục

HÒA GIẢI VỚI ANH CHỊ EM+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

HẠT NGỌC CỦA TIN MỪNGLm. Giuse Nguyễn Hữu An

HÃY ĐỂ SỰ ÍCH KỶ LẠI ĐẰNG SAUJM. Lam Thy ĐVD.

NHÂN HẬU MỘT TÌNH CHALm. JB Nguyễn Minh Hùng

THIÊN CHÚA CỦA CHÚNG TA LÀ THẾ ĐÓ! Tu sĩ Giuse – Vinh Sơn Ngọc Biển, S.S.P.

HỒI TÂM, ĐỨNG DẬY, QUYẾT TRỞ VỀLm. Antôn Nguyễn Văn Độ

GIŨ SẠCH - Trầm Thiên Thu

HÒA GIẢI VỚI ANH CHỊ EM

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

Hòa giải là lời mời gọi khẩn thiết của Mùa Chay. Hòa giải với Chúa và hòa giải với anh chị em mình. Tuy vậy, hòa giải với Chúa là việc dễ dàng, trong khi hòa giải với anh em là một làm hết sức khó khăn. Trong cuộc sống trần gian, con người “đầu đội trời, chân đạp đất”. Họ vừa có tương quan với đất và tương quan với trời. Họ cũng không là những ốc đảo tách biệt cô đơn, nhưng sống chung với nhau và cần đến nhau. Hòa giải với anh chị em sẽ giúp chúng ta xây dựng cuộc sống lý tưởng, làm thành một gia đình trong tình huynh đệ thân thương.

Câu chuyện “Người cha nhân hậu” là một trong những áng văn chương tuyệt vời nhất của Kinh Thánh. Câu chuyện ấy nhấn mạnh tới lòng nhân hậu của Thiên Chúa, mà nhân vật người cha là biểu tượng. Người cha tôn trọng tự do của người con thứ, sẵn sàng để nó ra đi. Người cha ấy cũng luôn mong ngóng đợi chờ và vẫn tin chắc có ngày nó trở lại. Sự trở về của người con là niềm vui lớn lao của người cha, đến nỗi ông mở tiệc tưng bừng để đón con trở về. Bởi lẽ, như ông nói, con ông đã mất mà nay lại tìm thấy, đã chết mà nay đã sống lại. Còn niềm vui nào lớn hơn là tìm thấy của cải đã mất và gặp lại người thân đã chết? Vì thế mà niềm vui hội ngộ càng tưng bừng lớn lao.

Tuy vậy, nếu Thiên Chúa là cha bao dung nhân hậu, sẵn sàng tha thứ mọi tội lỗi của con người, thì con người lại hà khắc và cứng nhắc đối với nhau. Mỗi người trong chúng ta đều đã có lần cảm nhận điều đó nơi chính bản thân và nơi những người xung quanh. Có ba nhân vật trong câu chuyện Chúa Giêsu kể, cả ba nhân vật đều là nam giới. Người con cả, từ lúc ban đầu xem ra là người tử tế, vì khi người con thứ đòi chia gia tài và bỏ nhà ra đi, thì anh vẫn ở lại với cha mình. Tuy vậy, những gì anh nói với Cha, xem ra là những uất ức được dồn nén trong nhiều năm: “Cha coi, con ở với cha bao nhiêu năm….”. Người cha giật mình nhận ra, mặc dù thân xác đứa con cả vẫn ở với cha mình, mà  tâm hồn nó lại xa vời vợi. Nó phủ nhận tình huynh đệ máu mủ khi gọi em mình là “thằng con của cha kia”. Người cha đau khổ nhận ra rằng, ông đã mất cả hai đứa con, mỗi đứa một cách khác nhau.

Nhân vật người con cả giúp chúng ta liên tưởng đến mối tương quan với tha nhân. Nhiều người trong chúng ta có khuynh hướng giống như người con cả, luôn cố chấp, ích kỷ và ôm mối hận thù. Hình ảnh người con cả cho thấy một thái độ chủ quan tự tin, nghĩ rằng mình là người ngay thẳng và là người đạo đức, coi mình là tiêu chuẩn để đánh giá và phê phán người khác. Cả ba nhân vật trong câu chuyện đều nhắn gửi đến chúng ta những thông điệp quan trọng: Thiên Chúa là Cha yêu thương. Ngài nhân hậu bao dung và rộng lòng tha thứ. Người con thứ tượng trưng cho người lầm lạc tội lỗi, nay quyết tâm chỗi dậy trở về để sống trong tình yêu thương của cha mình. Người con cả là những người cố chấp và khó hòa đồng với những người xung quanh, thậm chí ngăn cản họ, không cho về với Chúa. Cả người con thứ và người con cả đều cần phải trở về. Cả hai đều phải tự vấn lương tâm về đời sống quá khứ của mình, đồng thời nhận ra Chúa nhân hậu bao dung, từ đó cố gắng sống tốt như người cha hằng mong muốn.

Tôi muốn ra đi, trở về với cha tôi và thưa người rằng: “Thưa cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha, con không đáng được gọi là con cha nữa”.  Đó là điều người con thứ đã chuẩn bị sẵn để khi gặp cha sẽ nói. Tuy vậy, người cha không để cho con nói hết những gì nó đã chuẩn bị. Tình thương của Thiên Chúa mênh mông vời vợi, không cần những công thức, nhưng chan hòa như đại dương, phủ lấp những yếu đuối của phận người.

Chúng ta đã đi đến nửa chặng đường của Mùa Chay. Lời mời gọi hòa giải lại vang lên, nhắc chúng ta lên đường trở về. Thánh Phaolô năn nỉ chúng ta: “Vì Đức Kitô, chúng tôi van nài anh em hãy giao hòa với Thiên Chúa” (Bài đọc II). Hòa giải với Ngài sẽ đem cho chúng ta hạnh phúc và bình an, đồng thời tạo nên một cuộc sống trần thế an bình. Niềm vui của hòa giải, được phụng vụ so sánh như niềm vui của người Do Thái đến đất hứa sau 40 năm hành trình sa mạc. Họ không còn lang thang phiêu bạt nữa, nhưng được định cư ở miền đất Chúa hứa cho cha ông họ và được hưởng những thổ sản của địa phương. Họ được chứng kiến những gì trước đây chì là lời hứa, nay thành hiện thực ngay trước mắt. Họ như người con thứ trong Tin Mừng, được trở về nhà của mình, không còn là khách lạ (Bài đọc I). Mỗi chúng ta cũng vậy, khi thành tâm sám hối, chúng ta được nối lại mối tình cha con đối với Chúa và mối tình huynh đệ đối với anh chị em mình.

Hãy sám hối! Hãy trở về! Lời gọi ấy đang vang lên trong đời sống và trong tâm hồn mỗi chúng ta. Trở về với Chúa và trở về với anh chị em, đó chính là thông điệp được nhấn mạnh của Phụng vụ hôm nay. Hiệu quả của Mùa Chay tùy thuộc vào thiện chí hòa giải đối với anh chị em mình. mục lục.

HẠT NGỌC CỦA TIN MỪNG

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Đại văn hào người Anh, Charles Dickens, xem dụ ngôn “Người cha nhân hậu” là câu chuyện hay nhất, là hạt ngọc đẹp nhất của Tin mừng.

Tình thương của cha đối với hai con, nổi bật nơi người con thứ.

1. Người con thứ, biểu tượng người tội lỗi

Người con thứ đòi cha chia gia tài rồi bỏ đi vô tình. Rời quê nhà, nơi sinh trưởng, nơi nó được nuôi dưỡng và lớn lên. Trẩy đi miền xa, người trai trẻ mang nổi khát khao mãnh liệt là ra khỏi luỹ tre làng, muốn nhìn xem thế giới mới lạ bên ngoài, thích miền xa hơn là ở quê nhà.

Người con thứ bỏ nhà ra đi với tiền bạc và lòng kiêu ngạo. Nó ra đi không phải để học hành, tìm kiếm việc làm. Nó đi ăn chơi đàng điếm, phung phí hết tài sản và sức khoẻ, bất kể đó là mồ hôi nước mắt của cha mẹ, bất chấp tiếng tốt của gia đình. Chơi bời nên mau chóng suy sụp. Nó trở nên hèn hạ khi đi chăn heo và muốn ăn thức ăn của heo. Heo là con vật người Do thái ghê tởm.

Khi trở về nó chẳng còn gì cả, tiền bạc, sức khoẻ, danh giá, lòng tự trọng… mọi thứ đã bị nó tiêu xài hoang phí. Nó chỉ còn lại một điều duy nhất là “đứa con nhỏ của cha nó”.

Động lực nào đã khiến nó trở về ? Thánh Luca viết rõ: “Hồi tâm lại, nó nói: biết bao người làm công cho cha tôi có dư thừa bánh ăn, còn tôi thì phải chết đói ở đây ! Thôi, đứng lên, tôi sẽ về cùng cha tôi”. Như vậy động lực nó trở về là đói, vì miếng ăn. Trước khi bị đói chắc chắn nó không bao giờ nhớ đến cha, không bao giờ sám hối vì bỏ cha ra đi, không thấy băn khoăn hồi tâm về mái ấm gia đình, nơi còn có cha già chẳng biết đau yếu ra sao, không thấy tiếc nuối vì phá tan cả sự nghiệp của cha. Khi bị cơn đói hành hạ, phải đi chăn heo, nó mới băn khoăn tìm đường về. Cái hồi tâm, cái băn khoăn của nó là làm sao để được ăn. Nó dự tính nói với cha là nó “trót phạm lỗi nghịch với trời, nó không còn đáng gọi là con, nó chỉ xin được đối xử như người làm công”.

Đó phải chăng là một cuộc trở về trọn vẹn ? Đó là cuộc lên đường được thúc đẩy bởi lòng sám hối hay sao ? Sự thống hối của nó chỉ là vị kỷ nhằm khả năng có thể sống sót thôi.

Nếu người con thứ thành công xây dựng cơ nghiệp, có lẽ sẽ không hiểu được tình cha. Vì nếm mùi thất bại chua chát của cuộc đời nên nó lên đường trở về. Nó không đủ can đảm đi làm người ăn xin. Nó không đủ liều mạng để đi trộm cướp. Nó không dám đánh đổi cả cuộc đời để gây tiếng xấu. Nó sống bằng nghề lương thiện là đi chăn heo, sống bằng sức lao động của mình. Từ kinh nghiệm của vực thẳm này, nó mới hiểu được mặt trái cuộc đời. Đó không là chốn nương thân cho kẻ nghèo khổ, không là chỗ hạnh phúc cho kẻ khố rách áo ôm, không là chỗ cho kẻ cô thân cô thế. Vì vậy, chỉ còn một con đường duy nhất là trở về xin tha thứ và làm công cho cha để có cơm ăn áo mặc.

Tất cả ý nghĩa của cuộc trở về được diễn tả cách cô đọng trong những lời “Cha ơi… con không đáng gọi là con Cha nữa”.

Giuđa đã phản bội Chúa, Phêrô đã chối Chúa. Cả hai đều đánh mất tình con cái. Giuđa không còn tiếp tục tin tưởng mình vẫn là con Chúa, không tin vào lòng tha thứ của Chúa nên đã đi thắt cổ tự vẫn.Còn Phêrô khi ở giữ sự tuyệt vọng đã muốn nối lại tình Cha con với những giòng nước mắt thống hối. Giuđa chọn cái chết. Phêrô chọn sự sống.

Đọc câu chuyện, thấy sự trở về của người con thứ chẳng phải là mẫu mực. Sự trở về lý tưởng phải là sự trở về của lòng sám hối với tình yêu tha thiết. Nhưng trong thực tế cuộc sống, nhiều khi ban Bí tích Hòa giải, tôi đã gặp nhiều hối nhân, sau 5 năm, 10 năm thậm chí đến 20 năm, 30 năm mới trở về cùng Chúa. Mỗi người mỗi hoàn cảnh khác nhau. Những bầm dập của của cuộc đời, những gian truân vất vả, những thất bại chua chát… đã cho họ rút kinh nghiệm là cần trở về với Chúa để tìm lại bình an nội tâm, đón nhận niềm vui và hạnh phúc. Chính Chúa đã yêu thương, đã tác động và một khi nào đó như Chúa muốn họ trở về cùng Ngài. Như thế họ đã chọn lấy sự sống. Gặp gỡ nhiều hối nhân như thế, tôi cảm thông với người con thứ.

2. Người con cả, biểu tượng người biệt phái

Hiếu thảo, vâng phục cha, không đi hoang, không ăn chơi. Con người lao động cần cù có tinh thần trách nhiệm, không rượu chè trác táng, chỉ lo ruộng rẫy nương vườn. Anh là con người mẫu mực. Thế nhưng, biến cố đứa em trở về đã bộc lộ con người thật của anh.Tuy ở trong nhà cha nhưng lại xa trái tim cha. Tại sao cha đãi tiệc bê béo cho thằng em bất hiếu, còn anh một con bê nhỏ để vui với bạn bè cũng không có? Anh tức giận vì thấy quyền lợi bị xúc phạm. Anh chẳng chịu vào nhà. Tôi chẳng thích chút nào về người con cả với ý thức trách nhiệm cao, chăm chỉ làm việc, trung thành với gia đình nhưng lại chẳng học được lòng nhân hậu của cha. Lòng “người công chính” có thể trở nên hẹp hòi như thế sao?

Hoá ra, cả hai người con vừa khác lại vừa giống nhau. Cả hai đều ở ngoài nhà cha. Con thứ không thấy hạnh phúc bên cha nên ra đi. Con cả không chia sẻ được hạnh phúc của cha nên không vào nhà. Anh thiếu bao dung và thiếu tha thứ cho em. Thái độ của người con cả là thái độ tiêu biểu của người biệt phái, luật sĩ hôm qua và hôm nay. Ích kỷ cho quyền lợi riêng mình. Tự mãn về cách giữ luật “con không hề trái lệnh cha một điều nào”, tự hào về cách sống đạo “ không như thằng con của cha”. Tự hào tự phụ tuân giữ nghiêm nhặt Lề Luật, kiêu hãnh mình là người công chính mà khinh chê lên án những người khác. Chỉ muốn kẻ lỗi lầm không được cứu thoát mà phải chết.

Lúc sự giận dữ bùng nổ đến cực điểm, người anh cả gặp lại tình cha. Cha đi ra năn nỉ, anh chẳng chịu nghe. Cha bộc bạch tâm tình với anh: “con ơi, mọi sự của cha đều là của con, chúng ta phải ăn mừng vì em con đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy”. Lời cha làm anh bàng hoàng xúc động vì anh hiều rằng mình quá ích kỷ, quá nhỏ mọn. Cái ích kỷ làm anh tẩy chay sự trở về của đứa em. Cái nhỏ mọn làm anh xua tan lòng bao dung của cha. Tình cha lớn hơn cuộc đời anh, lớn hơn tính ích kỷ trong anh.

Hình ảnh người con cả thật gần với chúng ta. Phụng dưỡng cha mẹ với trách nhiệm, chứ chưa phải là tình thương. Không chia sẻ nổi buồn, nổi khổ tâm, nổi âu lo của cha mẹ. Chỉ biết than trách và đòi quyền lợi cho mình thật nhiều. Ghen tị, chỉ trích phê bình, đặt mình là tiêu chuẩn cho mọi việc đạo đức. Thiếu lòng bao dung, không chịu tha thứ. Hình ảnh đó thật giống tinh thần biệt phái, có đạo mà không có đức.

Cả hai người con cần phải trở về. Sám hối chính là trở về với tình cha, trở lại với anh em.

3. Người cha, hình ảnh Thiên Chúa

Khi chia gia tài cho con, lòng cha đau đớn vô cùng. Vì tôn trọng tự do của con chứ không vì cha nhu nhược. Ngày nhìn con ra đi, bóng nó nhạt dần cuối chân trời như cánh chim bay, lòng cha thấy trống trải quá, muộn phiền quá vì thiếu vắng hình bóng con. Ngày ngày cha ngóng trông đợi con trở về. Thế rồi một ngày kia, đứa con trở về thật. Nó về trong dáng vẻ thất bại thảm hại, thất thểu rách nát. Thua cuộc đời nó về làm dấy lên những lời bình phẩm của làng xóm. Giả như nó không về, người ta sẽ lãng quên. Nay nó trở về nhắc cho bà con lối xóm thấy sự thất bại của gia đình ông. Con ông về trong thất bại chua cay là câu chuyện đám tiếu đầu làng cuối xóm. Vậy mà ông mở tiệc ăn mừng. Thật lạ lùng!

Ở đời, khi con thi đậu đại học, khi con công thành danh toại vinh quy bái tổ, khi con là Việt kiều về thăm, cha mẹ mở tiệc ăn mừng, mời bà con làng xóm đến chia vui. Người ta thường dấu kín chuyện thất bại của con cái. Cha mẹ mắc cở không dám kể về đứa con bất hiếu, ngổ nghịch, ăn chơi đàng điếm. Người ta chỉ khoe đứa con ngoan, tự hào đứa con học hành thành đạt, vui mừng khi con có việc làm có sự nghiệp. Thế mà, người cha lại mở tiệc lớn. Mừng đứa con trở về thất bại tả tơi. Khách mời ngỡ ngàng khi chủ nhà giới thiệu con ông về nhà sau những ngày chăn heo đói khổ. Thế nhưng, người hiểu tình yêu là gì, tình phụ tử là gì thì thông cảm và chia vui với người cha.

Người cha đã tha thứ cho con thứ trước khi con tự thú. Cha vui “vì đứa con đã chết nay sống lại, đã mất nay tìm thấy”.

Người cha cũng nói với người con cả bằng cung giọng thật trìu mến:“Con à, lúc nào con cũng ở với cha.Tất cả những gì của cha đều là của con…Chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy”. Người cha muốn giúp con trai khám phá chiều kích tha thứ của tình yêu. Tình cha là lời mời gọi vượt qua thái độ duy luật để mở rộng tấm lòng trước tình thương yêu.

Dung mạo người cha đó, chính là Thiên Chúa, Đấng giàu lòng xót thương. Thái độ người cha đối với hai đứa con là thái độ của Thiên Chúa đối với con người. Trong trái tim Thiên Chúa chỉ có tình thương. Người không có trí nhớ về tội lỗi con người.

Cha yêu con dù con hư hỏng, bất trung. Cha yêu con không vì con ngoan được việc. Cha yêu con chỉ vì con là con. Cha không muốn mất một đứa con nào. Thiên Chúa của Đức Giêsu mạc khải là người cha nhân hậu, hiền từ, bao dung, hay tha thứ.

Hành trình thiêng liêng của cuộc đời, cả hai người con trong dụ ngôn đều có mặt trong mỗi con người chúng ta. Nhiều lần ta nghe theo cơn cám dỗ của thế gian xác thịt rồi nên hoang đàng, hoang phí, gặp thất bại đau khổ mới hối hận trở về với Chúa. Nhiều lần ta là con cả tưởng mình đạo đức nên lên án tẩy chay người khác. Người con cả khi biết đứa em hư hỏng được Cha đón nhận thì buồn giận, không muốn vào nhà. Cuộc trở về của người này lại làm cớ cho cuộc ra đi của người kia. Kẻ ra đi lại là kẻ trước đây coi như đàng hoàng ! Thực đáng buồn khi thấy : chính Chúa không cản ta trở về với Chúa. Nhưng kẻ cản ta lại là một loại con nào đó của Chúa. Cần trở về với Cha, về với Thiên Chúa, Đấng giàu lòng xót thương. Sám hối là trở về với tình Chúa, với tình anh em. Sám hối là trở lại với tình yêu, niềm vui và sự sống. mục lục.

HÃY ĐỂ SỰ ÍCH KỶ LẠI ĐẰNG SAU

JM. Lam Thy ĐVD

Đoạn văn mở đầu bài Tin Mừng hôm nay (CN IV/MC-C – Lc 15,1-3.11-32) có nêu nhận định của đám người Pha-ri-sêu và các kinh sư về Đức Giê-su Ki-tô: "Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng.” Biết quá rõ về đám người này chỉ chuyên đi “nhìn người” để săm soi, xét nét, rồi kết án nọ kia, nên Đức Giê-su liền kể cho nghe 3 dụ ngôn liền: “Con chiên bị mất”, “Đồng bạc bị đánh mất”, “Người cha nhân hậu”. Thông qua 3 dụ ngôn, Đức Ki-tô nhấn mạnh đến hiệu quả của việc sám hối. Ở 2 dụ ngôn trước, Người kết luận: “Tôi nói cho các ông hay: trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối”.

Đến dụ ngôn thứ 3 (“Người cha nhân hậu” – Lc 15, 11-32) thì Người diễn tả một cách rõ ràng về hành động ăn năn sám hối của người con hoang đàng: “Thế rồi anh ta đứng lên đi về cùng cha. Anh ta còn ở đằng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chay ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để. Bấy giờ người con nói rằng: "Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa.” (Lc 15, 20-21). Và chính nhờ vậy mà anh được người cha vui mừng đón tiếp rất nồng hậu ("Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng! Vì con ta đây đã chết mà nay đã sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy. Và họ bắt đầu ăn mừng.” – Lc 15 22-24”).

Một đứa con hoang đàng tội lỗi biết ăn năn hối cải trở về với gia đình hoặc một con chiên lạc mất mà tìm lại được, mở tịêc mời bà con lối xóm đến chung vui thì còn có thể hiểu được; nhưng đến như mất một đồng quan tiền mà tìm lại được cũng mời hàng xóm tới chung vui thì… kỳ quá! Thực tế có thể không có chuyện đó, nhưng đây là một dụ ngôn nên những hành động biểu hiện bên ngoài chỉ là một cách diễn tả ngụ ý bên trong. Và ẩn ý trong cả ba dụ ngôn đó chính là: “giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối” (Lc 15, 10). Con chiên hay đồng bạc chỉ là một hình ảnh ẩn dụ về một người lầm lạc, sa vòng tội lỗi (như người con hoang đàng). Và mục đích chính của dụ ngôn nhắm tới chính là biểu hiện tấm lòng bao dung độ lượng đầy tính nhân đạo của chủ nhân đồng tiền, người chủ của đàn chiên hay người cha nhân hậu của đứa con hoang đàng.

Nói đến tội lỗi là nói đến bản chất con người. Là con người thì không ai là không có những thiếu sót, lỗi lầm, “nhân vô thập toàn” là điều hiển nhiên. Vấn đề đặt ra là bản thân có nhìn ra được những sai lầm tội lỗi hay không, và khi đã nhận ra những thiếu sót lầm lỗi, thì có biết ăn năn hối cải hay không. Nho giáo ngày xưa có đề ra một phương cách để nhìn lại bản thân, tự kiểm điểm. Đó là “diện bích” (đối diện với bức vách – nhìn vách), một phương cách rất hay, cũng giống như nhìn vào gương để thấy rõ được diện mạo của minh, thì nhìn vào tấm vách trống trơn sẽ thấy rõ được chân tướng của mình.

Khi “nhìn lại mình” như vậy, sẽ xảy ra 2 trường hợp: hoặc chủ quan hoặc khách quan. Nếu quá chủ quan sẽ rơi vào 2 thái độ: có người chỉ thấy toàn những tội lỗi khuyết tật, và cũng có người chỉ thấy toàn những điều tốt đẹp mà mình có được; và đó chính là 2 thái độ cực đoan: một bên là mặc cảm tự ti quá mức và một bên là tự kiêu ngạo mạn cũng… quá đà! Tuy nhiên, không tính đến 2 thái độ cực đoan ấy, thì nói chung, khi “nhìn lại mình” con người thấy rõ được sự thật, được chân tướng của mình. Sự thật ấy có thể bị che phủ bởi những yếu tố chủ quan như tự ái, tự kiêu, tự mãn, định kiến, mặc cảm; hoặc những yếu tố khách quan như dư luận, hoàn cảnh, môi trường sống.

Ôi chao! Chỉ là nhìn lại mình mà cũng có lúc thế này, lúc thế khác; có lúc đưa cái tôi lên tận mây xanh, thì cũng có lúc nhấn cái tôi xuống tận bùn đen. Vì thế, thái độ cần có khi nhìn lại mình là phải chân thành, khiêm tốn và can đảm mới có thể nhận ra sự thật về chính mình. Và khi đã nhận ra sự thật về mình, thì lại cũng rất cần phải chân thành, khiêm tốn và can đảm bày tỏ sự ăn năn hối tiếc về những sai lầm, tội lỗi đã vấp phạm. Hãy nhìn vào tấm gương hai người con trong dụ ngôn thú ba (Lc 15, 11-32) để rút ra bài học cho bản thân. Không học đòi thói ăn chơi phung phí, để “nước đến chân mới nhảy” như người con thứ hai; cũng không nên như người anh cả đố kỵ, ghen tương, rồi khép chặt cửa lòng khi gặp người anh em cùng khốn.

Xét đến cùng, cuộc sống của con người tuyệt nhiên không phải hoàn toàn do những sự việc phát sinh của cuộc sống quyết định; mà là do thái độ cùng với tâm tình và cung cách nhìn sự việc (quan điểm) của chính con người quyết định. Vâng, chỉ có nhìn lại mình, sẵn sàng “xé lòng” ra mà sám hối, ăn năn về những sai lầm, những vấp phạm của minh, đồng thời mở rộng trái tim ra với Thiên Chúa và với anh em (mến Chúa yêu người); nhiên hậu mới có thể trở về cùng Thiên Chúa và được Người mở rộng vòng tay ân tình ra đón nhận. Nói cách khác, khi người tín hữu “xé lòng” ra mà ăn năn sám hối thì cũng ví như bản thân đã chết đi vì tội lỗi, để được sống lại trong vinh quang Phục Sinh của Đức Ki-tô (“Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Ki-tô thì chúng ta cũng sẽ được cùng sống lại với Người” – Rm 6, 8; “Thật vậy, nếu vì họ bị gạt ra một bên mà thế giới được hoà giải với Thiên Chúa, thì việc họ được thâu nhận lại là gì, nếu không phải là từ cõi chết bước vào cõi sống?” – Rm 11, 15).

Sám hối để trở về cùng Người Cha Nhân Lành cũng tức là thể hiện tinh thần hoà giải với Thiên Chúa và với anh em. Muốn đạt được hiệu quả tốt thì phải biết đổi mới tận gốc rễ con người của minh, mà muốn đổi mới thì phải biết nhìn lại mình để thấy được những sai lầm tội lỗi và quyết tâm thống hối. Cũng bởi vì “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14, 6), nên chỉ còn một cách là hãy biến tất cả những ước muốn hoà giải, những tâm tình sám hối thành hành động cụ thể để thông qua Đức Ki-tô – nhờ Người, với Người và trong Người – mà trở về cùng Cha trên trời. Và cũng chỉ có duy nhất một con đường là hãy đến với Đức Ki-tô, gặp gỡ Người, sẽ được Người trang bị cho đầy đủ hành trang để trở về cùng Chúa Cha nhân lành, hằng hữu.

Tóm lại, thông qua dụ ngôn, người Ki-tô hữu cần phải biết nhìn lại mình mà hoán cải (sám hối) để hòa giải với Thiên Chúa và với anh  em, như mong ước của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô trong sứ điệp Mùa Chay 2019: “Chúng ta hãy để sự ích kỷ, để cái nhìn bị gắn chặt vào bản thân mình, lại đàng sau chúng ta, và hãy hướng về Đại Lễ Phục Sinh của Chúa Giê-su; những người anh chị em của chúng ta đang gặp cảnh khốn cùng nên trở thành những người thân cận của chúng ta, tức những người mà chúng ta chia sẻ với họ những kho tàng tinh thần và vật chất của mình. Và như thế, khi chúng ta đón nhận cuộc chiến thắng của Chúa Ki-tô trên tội lỗi và sự chết vào trong cuộc sống cụ thể của chúng ta, chúng ta cũng sẽ kéo được sức mạnh có sức biến đổi của Ngài xuống trên thế giới thụ tạo.” Ước được như vậy. Amen. mục lục.

NHÂN HẬU MỘT TÌNH CHA

Lm. JB Nguyễn Minh Hùng

Chúng ta bàn về dụ ngôn thứ ba trong ba dụ ngôn mà trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu sử dụng để dạy ta hiểu về tình yêu Thiên Chúa.

Ngày xưa người ta thích gọi dụ ngôn thứ ba này là dụ ngôn Người con hoang đàng. Nhưng bây giờ, nhiều người không đồng ý như thế. Họ thích gọi dụ ngôn là dụ ngôn Người Cha nhân hậu.

Có lẽ cách gọi sau hay hơn cách gọi trước vì, rõ ràng, dụng ý của thánh Luca khi viết dụ ngôn này, đã cho thấy vai trò của người cha chủ động trong tình yêu của ông. Ông đã dành cho các con của mình một tình yêu vượt quá tình yêu bình thường của một người cha. Vì thế, ông đáng được gọi là người cha nhân hậu, bởi lòng nhân hậu của ông vượt trên lòng nhân hậu mà ta có thể bắt gặp đâu đó trong đời thường, xung quanh cuộc sống của ta.

Ngang qua hình ảnh người cha nhân hậu, thánh Luca muốn dẫn ta tới gặp tình yêu của Thiên Chúa. Đó là một tình yêu lớn  không thể tưởng, không thể hiểu nổi bởi nó vượt quá sức những gì ta có thể tưởng nghĩ, có thể hiểu được: một tình yêu vĩ đại không gì sánh bằng.

Đó là mối tình đậm đà, đằm thắm của một người Cha vĩnh cửu yêu những người con trần thế. Đó là mối tình quý giá của Thiên Chúa yêu con người. Đó là mối tình cao siêu, bền chặt của Đấng Tạo Hóa yêu thụ tạo.

Cho ta suy niệm về tình yêu tuyệt đỉnh của Thiên Chúa, Hội Thánh mời gọi ta trở về cùng Thiên Chúa và trở nên giống Thiên Chúa. Hội Thánh dạy ta hãy để cho tình yêu của Chúa ngự trị trên cuộc đời mình.

Ta hãy tin tưởng ngã vào tình yêu của Người, để được Người thông cảm, vỗ về, nâng niu, đón nhận như tình yêu khôn tả của một người cha dành cho đứa con hoang đàng trở về.

Bởi đó, dụ ngôn được mang tên là Người Cha nhân hậu lại càng ý nghĩa hơn, có sức mời gọi mạnh hơn, tích cực hơn, giúp ta hiểu rằng, khi bản thân trở về với Chúa, trước hết, là do tình yêu của Chúa, nại vào tình Chúa yêu ta, chứ không phải tự mình ta.

Bởi nếu con người có cố gắng vươn lên, thì đó cũng chỉ là nỗ lực cộng tác của bản thân vào tình yêu của Chúa mà thôi. Chính Chúa là Đấng đoái nhìn đến ta. Chính Chúa chủ động tuôn đổ yêu thương và tha thứ.

Nơi tòa giải tội, tôi đã từng gặp nhiều hối nhân bỏ xưng tội, bỏ rước lễ lâu năm. Tôi nhận ra tất cả họ đều cảm nghiệm tình trạng bất hạnh của mình. Xa Chúa, họ mất bình an hoàn toàn. Họ chới với, cô đơn, tuyệt vọng. Họ hổ thẹn và muốn chạy trốn hết mọi người.

Lẽ ra, khi thấy mình mất mát như thế, họ phải đến tòa giải tội. Nhưng thật trớ trêu, càng xa Chúa, họ càng sợ tòa giải tội, bởi họ dư biết rằng, đến với tòa giải tội cũng đồng nghĩa với việc họ phải đối diện cùng lương tâm của mình. Mà lương tâm có bao giờ tha thứ hay bao che cho ai.

Vỉ thế, họ cố tìm cách chạy trốn. Bao nhiêu năm cố gắng chạy trốn lương tâm, phiêu lưu trong tội lỗi, con người ta chỉ còn lại nơi mình toàn những chán chường, thất vọng.

Ngược lại, do một động lực nào đó, họ lên đường về lại cùng Chúa, họ sẽ bắt gặp một tình yêu đại lượng không gì bằng. Họ sẽ lấy lại tất cả quyền làm con Thiên Chúa. Tâm hồn sẽ bình an vô cùng. Họ thấy mình như vừa sống lại sau một thời gian chính mình giết chết mình. Họ sẽ khóc. Giọt nước mắt trong tiếng nghẹn ngào sẽ là giọt hạnh phúc tuôn trào trên khóe mắt.

Cảm nhận được hạnh phúc khi trở về cùng Chúa, không phải vì chính việc họ trở về cho bằng họ đã chạm tới chính tình yêu mà Thiên Chúa đã dành cho họ, chờ đợi họ. Chỉ có tình yêu của Thiên Chúa mới đong đầy hạnh phúc trong lòng người. Tình yêu chờ đợi cách hết sức bền bỉ của Chúa, làm cho lòng cứng cõi của con người bị thiêu cháy, chỉ còn lại niềm tin tưởng mà thôi…

Hãy nhớ, mỗi một lần ta phạm tội là mỗi một lần ta bứt ra khỏi tình yêu của Chúa. Nhưng tình yêu của Chúa lại vượt lên trên mọi tính toán, mọi đo lường của ta. Người con hoang đàng trong Tin Mừng chỉ xin cha anh đối xử với anh như một người làm công. Nhưng cha anh lại hồi phục cho anh mọi giá trị làm con. Anh là con, chứ không phải làm công.

Vậy, chúng ta hãy trở về cùng Chúa. Người đang chờ đợi chúng ta. Chúng ta là đứa con hoang đàng, nhưng không bị bỏ rơi. Chỉ cần trở về cùng Chúa bằng việc ăn năn tội, xưng thú tội lỗi, là chúng ta lại được Chúa trả lại mọi giá trị làm con của Chúa cho ta.

Chỉ có con cái mới bỏ cha mình, còn người làm cha không dễ gì dứt bỏ con cái. Ta không sợ Thiên Chúa từ bỏ ta, vì Người yêu ta như yêu chính bản thân Người. Chỉ có ta là đã nhiều lần từ chối tình yêu của Chúa mà thôi.

Lạy Chúa, chúng con thấy mình vẫn rơi vào tội lỗi của người con hoang đàng, bởi biết bao nhiêu lần chúng con đã phạm tội. Chúng con thèm tự do quyết định đời mình, nhưng tự do ấy biến chúng con thành nô lệ, một thứ nô lệ đớn hèn, đó là nô lệ cho tội lỗi. Xin lôi kéo chúng con về cùng Chúa. Xin tha thứ tội lỗi chúng con. Xin ban sức mạnh để từ nay, chúng con quyết tâm chừa bỏ tội lỗi của mình.

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết tin tưởng phó thác tuyệt đối vào tình yêu của Chúa. Chúng con biết, nhiều lần, chúng con cũng giống như người con hoang đàng bỏ Chúa mà ra đi theo thế gian, theo tiếng gọi của chước cám dỗ. Xin tha thứ cho chúng con. Xin uốn nắn lòng chúng con, để từ đây, nhất là trong mùa Chay thánh này, chúng con làm lại những gì đã đánh mất và xứng đáng hơn với tình yêu vô bờ của Chúa. Amen. mục lục.

THIÊN CHÚA CỦA CHÚNG TA LÀ THẾ ĐÓ!

Tu sĩ: Giuse – Vinh Sơn Ngọc Biển, S.S.P.

Có một câu chuyện kể lại như sau: một bà già thường đến gõ phòng cha xứ, kể cho ngài nghe rằng: đêm qua Chúa mới hiện ra với bà.

Để làm bà nản lòng đừng đến nữa, cha xứ bảo: “Lần sau nếu Chúa có hiện ra, bà hãy hỏi Người ‘Cha xứ con có tội gì nặng nhất?’ Sau đó tới kể cho tôi nghe”.  Mấy ngày sau, bà già không đến nữa. Cha xứ mừng thầm vì bà đã trúng kế của ngài. Nhưng một tuần sau đó, bà già trở lại.

          - “Thưa cha, tối hôm qua Chúa lại hiện ra với con”.

          - “Thế bà có hỏi Ngài không?”

          - “Thưa có chứ”.

          Cha xứ bắt đầu hồi hộp:

          - “Bà hỏi thế nào?”

          - “Thì con hỏi y như Cha đã bảo: ‘Cha xứ con có tội gì nặng nhất?’”

          Cha xứ càng hồi hộp thêm:

          - “Vậy Chúa có trả lời không?”

          -  “Có chứ”.

          Bây giờ thì cha xứ lo lắng thật sự:

          - “Chúa nói sao?”

          - “Chúa nói: ‘Ta đã quên hết rồi’”.

Cha xứ thở phào nhẹ nhõm!!! (Kể theo ĐHY. Fx. Nguyễn Văn Thuận).

Vâng! Thiên Chúa của chúng ta là như vậy. Ngài yêu thương và sẵn lòng tha thứ mọi lỗi lầm cho chúng ta. Tình yêu của Người là một tình yêu luôn đi bước trước và hướng tha. Vì thế, chúng ta không lạ gì khi Đức Giêsu kể các dụ ngôn hôm nay.

Thiên Chúa là Đấng Thương Xót

Trong Tin Mừng, chúng ta thấy Đức Giêsu nhiều lần và nhiều cách Ngài mạc khải về lòng thương xót của Thiên Chúa cho các Tông đồ và dân chúng. Rõ nét nhất chính là nơi ba dụ ngôn: con chiên lạc, đồng xu đánh mất và người cha nhân hậu (x. Lc 15,1-32). 

“Nơi các dụ ngôn này, chúng ta thấy toát lên một điều rõ rệt, đó là Thiên Chúa luôn sung sướng, vui mừng hân hoan khi thực hiện được một hành vi tha thứ, đây là điểm cốt lõi của Tin Mừng và của đức tin, vì lòng thương xót tỏ hiện như một sức mạnh vượt thắng tất cả, đong đầy trái tim bằng tình yêu thương và mang lại an ủi bằng ơn tha thứ” (x. Tông Sắc LTX., số 9).

Căn tính này thật rõ nét nơi hình ảnh người cha nhân hậu. Nơi người cha này, ông đã không màng chi đến tội lỗi của đứa con hư thân mất nết, ông cũng chẳng mong anh ta phải nói lên lời xin lỗi sau những tháng ngày sa đọa... Nhưng, với ông, ông chỉ canh cánh một điều là: mong sao nó trở về để tha thứ và yêu thương. Thế nên, khi thấy đứa con tội lỗi trở về trong thân hình tiều tụy thê lương, ngay lập tức, một loạt cử chỉ phi thường của tình yêu đã được ông hành động như: chạy ra, ôm hôn, truyền mang áo đẹp mặc cho cậu, xỏ vào tay, mang dép vào chân và mở tiệc ăn mừng (x. Lc 15, 20-23). Niềm vui tha thứ này diễn tả niềm vui Nước Trời, bởi lẽ, Thiên Chúa “muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế” (x. Mt. 9, 12-13), nên: "Giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối" (Lc. 15, 10). Đây cũng là biểu hiện của sự thành công và quyền năng của Thiên Chúa khi lòng thương xót của Người đến được với đối tượng cần ơn tha thứ, vì: “Thực thi lòng thương xót là đặc điểm riêng của Thiên Chúa, và đó là cách thức đặc biệt để Ngài bày tỏ sự toàn năng của Ngài” (Thánh Tôma Aquinô, Summa Theologiae, II-II, q. 30, a. 4).

Chính vì lẽ đó, nên khi Đức Giêsu đến trần gian, Ngài đã sống và mạc khải cụ thể cách trung thành về lòng thương xót của Thiên Chúa cho nhân loại qua chính cuộc đời, hành động, lời rao giảng và nhất là nơi cái chết trên thập giá, để qua đó, nhân loại hiểu được rằng: “Thiên Chúa là Tình Yêu”.

Sứ điệp cho Giáo Hội

Phụng vụ hôm nay, Đức Giêsu muốn mặc khải cho Giáo Hội là hiền thê của Ngài biết rằng: “Lòng thương xót là bản chất của Thiên Chúa. Chính lòng thương xót này đã nuôi dưỡng, chống đỡ và trở thành mục đích của Người”.

Điều này đã được Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhắc đến trong Tông Sắc về Lòng Thương Xót. Ngài viết: “Trụ cột nâng đỡ đời sống Giáo Hội chính là lòng thương xót. Tất cả các hoạt động mục vụ của Giáo Hội cần phải được thấm đẫm sự dịu dàng; không một sứ điệp và chứng từ nào của Giáo Hội trước thế giới lại có thể vắng bóng lòng thương xót. Tình yêu, thương xót và thông cảm chính là phương thế để củng cố tính cách đáng tin của Giáo Hội”. Và ngài cảnh tỉnh: “Có lẽ từ lâu chúng ta đã quên trình bày và sống theo lối đi của lòng thương xót. [...] Thật đáng buồn khi nhận ra trải nghiệm về tha thứ ngày càng trở nên hiếm thấy trong nền văn hóa ngày nay. Kể cả đôi khi từ ngữ này dường như cũng đang dần biến mất! Tuy nhiên, không có chứng từ của sự tha thứ, thì đời sống sẽ cằn cỗi không sinh hoa trái, như bị cô lập trong vùng hoang mạc trống vắng!”. Và ngài mời gọi: “Đã đến lúc Giáo Hội phải thực thi phận vụ hân hoan loan báo sự tha thứ. Đã đến lúc trở về với điều căn bản là mang lấy những yếu hèn và khó khăn của anh chị em chúng ta. Sự tha thứ là động lực làm bừng lên sức sống mới và truyền thêm can đảm để giữ vững niềm hy vọng cho tương lai” (x. Tông Sắc LTX., số 10).

Lời mời gọi thực thi lòng thương xót dành cho Giáo Hội là hiền thê của Đức Giêsu, thì cũng là lời kêu mời dành riêng cho mỗi chúng ta.

Sống sứ điệp Lời Chúa

“Hãy thương xót như Cha các con là Đấng đầy lòng thương xót” (Lc 6,36). Đây là: “Luật căn bản được đặt vào trái tim của những ai biết dùng đôi mắt chân thành để nhìn vào người anh em gặp thấy trên đường đời. Lòng thương xót là con đường nối kết Thiên Chúa với con người, hướng lòng chúng ta về niềm hy vọng sẽ được yêu thương luôn mãi, bất chấp tội lỗi của chúng ta” (x. Tông Sắc LTX., số 2).

Qua các dụ ngôn hôm nay, là Kitô hữu, chúng ta được mời gọi mặc lấy tâm tình của Thiên Chúa, đó là quảng đại, tha thứ, nhẫn nại và yêu thương.

Vì: “Nếu Chúa đã chà đạp và ném mọi tội lỗi chúng ta  xuống lòng biển sâu” (x. Mk 7,18-19), thì đến lượt chúng ta, mỗi người cũng phải vứt bỏ tội lỗi của anh chị em mình sang một bên, để chỉ còn tình yêu và lòng tha thứ ngự trị nơi hành động, lời nói và tâm tưởng của ta.

Muốn làm được điều đó, chúng ta phải cảm nghiệm được sự vĩ đại của tình yêu mà Thiên Chúa đang dành cho mình, bởi lẽ: nhiều lúc, chúng ta cũng hoang đàng như người con thứ, cũng phung phí tiền bạc, thời giờ, sức khỏe và Ơn Thánh cách vô bổ; hay nhiều khi chúng ta cũng kiêu ngạo, tự phụ, để rồi khinh bỉ, rũ bỏ và loại trừ những người tội lỗi, không cho họ có cơ hội để trở về với lòng thương xót của Thiên Chúa như người con cả... ấy thế mà Chúa vẫn thương. Đây là mầu nhiệm vĩ đại, vì Thiên Chúa của chúng ta là như thế. Ngài luôn quên hết mọi lỗi lầm của ta và chỉ mong một điều, đó là ơn tha thứ được đến với ta mãi mãi.

Mong sao, ngay trong giây phút này, mỗi người chúng ta hãy mặc lấy tâm tình của người con thứ để thưa lên với Đấng Giàu Lòng Thương Xót rằng: “Lạy Chúa xin tha thứ cho con vì con là kẻ có tội”; đồng thời tin tưởng vào lòng thương xót của Thiên Chúa vì Ngài đã phán: “Tội các ngươi, dầu có đỏ như son, cũng ra trắng như tuyết; có thẫm tựa vải điều, cũng hoá trắng như bông” (Is 1, 18), và hãy biết tha thứ như Thiên Chúa là Đấng hay Thương Xót để chúng ta cũng được Thiên Chúa xót thương. Amen. mục lục.

HỒI TÂM, ĐỨNG DẬY, QUYẾT TRỞ VỀ

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

(" Mừng vui lên … - Lætare) là chủ đề của Chúa nhật  IV Mùa Chay. Từ phụng vụ lễ ca cho đến màu sắc phụng vụ, tím chuyển sang hồng, màu của bình minh, đánh dấu nửa chặng đường sám hối, nay Giáo hội tạm dừng để chuẩn bị tốt hơn niềm Phục Sinh. Nghỉ để cảm tạ Chúa vì những gì ta đã làm, xin Chúa ban thêm nghị lực để bước tiếp những chặng cuối.

Lời ca nhập lễ : ("Mừng vui lên, Giê-ru-sa-lem ! Tề tựu cả về đây, hỡi những ai hằng mến yêu Thành !... Tôi vui mừng khi người ta nói với tôi : Chúng ta sẽ tiến vào nhà Chúa") (Tv 121,1). Niềm vui dâng trào thể hiện qua các dụ ngôn : "Con chiên lạc" (x. Lc 15, 4-7); "Đồng bạc đánh mất" (x. Lc 15, 8-10). Nhưng cụ thể hơn cả vẫn là dụ ngôn "Tình phụ tử " (x. Lc 15, 11-32). Nếu như hai dụ ngôn trước nói về sự vui mừng hay chung vui, thì dụ ngôn "Tình phụ tử là phải ăn tiệc và vui mừng". Vì đồng bạc vô tình bị đánh mất, con chiên lạc có thế cố gắng tìm thấy đàn của mình, và người ta cũng có thể tìm lại được chiên lạc, nhưng không một trường hợp nào hồi tâm trở về với chính mình. Nên người con thứ sau thời gian bỏ đi nay trở về được cha mở cỗ mừng vui, là hình ảnh người tội lỗi trở về, Chúa Cha mở khao tiệc ăn mừng. Chúng ta không thể vui mừng sao được, khi có Thiên Chúa là Cha, Đấng Giầu Lòng Thương Xót, rất mực yêu thương chúng ta như thế.

Cả thiên đang vui mừng khi ta tội lỗi trở về với Chúa. Người cha mất con, ngày ngày ngóng chờ con trở về là hình ảnh của Thiên Chúa là Cha luôn cháy lửa tình yêu đối với nhân loại, cha ôm con vào lòng, không đơn giản chỉ là tội nhân, nhưng là kẻ có tội biết ăn năn : "Tôi sẽ trỗi dậy và trở về với cha tôi" (Lc 15,18). Vì thế, cuộc gặp gỡ giữa người cha và người con, khơi dậy sự trở về trong ân sủng của người con, cuộc gặp gỡ này mang dấu ấn của vòng tay cha và sự hoán cải của người con tìm thấy được tình yêu trìu mến của cha.

Chúng ta nhớ lại Logo của Năm Thánh Lòng Thương Xót do Cha Marko I. Rupknik S.I họa vẽ Chúa Giêsu đang vác con người lầm lạc trên vai, là một minh hoạ tuyệt vời về lòng thương xót Chúa.

Lòng Thương Xót đã trở nên người, mặt Chúa và mặt người giống hệt nhau. Khi vác con người trên vai, Thiên Chúa và con người hướng về nhau, đến nỗi có chung một con mắt. Như thế, Thiên Chúa nhìn con người bằng chính mắt con người, để cảm thông, yêu thương và hoán cải con người. Từ nay con người nhìn vũ trụ vạn vật bằng đôi mắt của Thiên Chúa, mà hiểu được Lòng Thương Xót vô biên của Thiên Chúa, để sống trong vũ trụ theo chương trình ban đầu của Thiên Chúa là đem lại hạnh phúc cho con người.

Con người bỏ Chúa ra đi, lầm đường lạc lối, đi vào ngõ cụt, bị thương tích. Thiên Chúa vẫn yêu thương mang về. Logo diễn tả, Chúa tay chân vẫn còn mang thương tích vì bị con người đóng đinh. Nhưng Chúa không quan tâm đến vết thương đau đớn của chính mình, vẫn vội vã, chân thấp chân cao đi tìm con người. Tìm được rồi, Chúa không lên án lỗi lầm, Chúa vác con người trên vai mang về mở tiệc ăn mừng. Đó là tình yêu thương vô biên, yêu thương đến tha thứ những phản bội, yêu thương đến quên mình, dám chết vì người mình yêu. Tình thương của Chúa thật cao cả, không ai hiểu thấu, không lý luận nào có thể cắt nghĩa.

Chúa Giêsu đồng bàn với người tội lỗi, nhưng Người không đến để hợp thức hóa tội lỗi, làm cho những kẻ lầm lỗi cứng lòng, hay ngày càng tệ hơn. Người đến để loan báo rằng họ có thể sống khác để chứng tỏ tình yêu của Thiên Chúa không mệt mỏi khi tha thứ, không nản vì sự thờ ơ, hay khác biệt của những con người.

Người cha là hình ảnh của Thiên Chúa Giầu Lòng Thương Xót, người con thứ là thân phận bi đát của con người tội lỗi, cần phải trở về với Chúa. Hình ảnh người con trở về cho chúng ta thấy bản chất xấu xa của tội lỗi, và thái độ cần phải có để ra khỏi tình trạng tội lỗi là sám hối, nhận mình là kẻ tội lỗi, quyết tâm trở về với Chúa như đứa con thứ đã làm.

Có người nghi ngờ về lòng thương xót ấy mới nói : Tôi tội lỗi lắm, vào xưng tội, sợ cha mắng, và cho dù cha có tha, thi không biết Chúa có tha cho tôi không ?

Xin thưa : Để lãnh ơn tha thứ, cần phải có tội, và cho dù tội có đỏ như son Chúa vẫn tha thứ, vì Chúa là Đấng tha thứ không biết mệt mỏi. Thứ tha là việc của Chúa, lỗi lầm là của con người chúng ta. Con người tha cho nhau còn nhớ lại. Thiên Chúa tha thứ là xóa sạch tội khiên. Nếu xưng tội xong lại phạm, hãy đến tòa giải tội để lĩnh ơn tha thứ. Con nếu sợ cha mắng, xin bật mí là các cha luôn giữ ấn tín tòa giải tội, nghe xong quên luôn là việc các cha phải làm.

Có người còn hỏi : Khi ta phạm tội, ta xin Chúa tha thứ, Ngài thứ tha, vậy cần gì phải đến xưng tội với cha cho mất thời gian và thêm phiền toái ?

Quả thật, sau khi phạm tội chúng ta thật lòng hối cải ăn năn cách trọn thì đã được Thiên Chúa tha thứ rồi, nhưng nếu ta không đến tòa giải tội ta không lĩnh nhận được cách trực tiếp ơn tha thứ ấy. Cũng như anh chàng con thứ bỏ nhà ra đi, cha anh ở nhà đã sắm cho anh nhẫn vàng, áo đẹp và giầy sang, những thứ đó là của anh, nhưng nếu anh không về thì anh chưa nhận được trực tiếp.

Mùa chay còn mời gọi chúng ta trở về với chính mình, trở về với tha nhân. Người con trưởng tuy ở hằng ở cùng cha, nhưng anh đã đánh mất chính mình, tự nhận mình là kẻ làm tôi "con đã làm tôi cha ", đánh mất em, em mình mà anh gọi là "thằng con của cha kia". Đạo của chúng ta không phải là đạo ghen tị, được thua mà là đạo của tình thương. Chúng ta buồn vì anh em thành công, được ưu đãi hơn mình, tìm cách hạ bệ, thậm trí đối xử với đồng loại, cả đồng đạo, tệ hơn nữa là coi cha mẹ, anh em ruột thịt mình như kẻ thù, không bằng người dưng nước lã. Nếu ai trong chúng ta đang ở trong tình trạng ấy thì sám hối trở về là cần thiết, để tìm lại mình là con với Thiên Chúa là Cha và mọi người là anh là em với ta, chứ không phải người xa lạ.

Vậy, hãy trở về với Chúa bằng lòng thống hối ăn năn, lao mình vào vòng tay của Chúa, để cho tình thương lân tuất của Chúa làm ta hồi sinh.

Lạy Mẹ Maria, người mẹ khoan nhân, Mẹ của Lòng Thương Xót, xin giúp đỡ chúng con. Amen. mục lục.

GIŨ SẠCH

Trầm Thiên Thu

Con Lỗi Lầm Biết Tín Thành Sám Hối

Chúa Nhân Hậu Liền Tha Thứ Yêu Thương.

Giặt là hành động “rửa” quần áo, nhưng không thể chỉ “giặt” mà còn phải “giũ” – giũ cho sạch. Việt ngữ thường kết hợp hai động tác đó thành “giặt giũ”. Ngày xưa, chính Đức Chúa đã truyền lệnh cho ông Mô-sê: “Hãy đến với dân và bảo họ: hôm nay và ngày mai phải giữ mình cho khỏi nhiễm uế, phải giặt quần áo, và đến ngày kia phải sẵn sàng, vì ngày kia Đức Chúa sẽ ngự xuống trên núi Xi-nai trước mắt toàn dân” (Xh 19:10-11). Cựu Ước đề cập động từ “giặt” 24 lần, Tân Ước đề cập 4 lần, đặc biệt là câu này: “Phúc thay những kẻ giặt sạch áo mình, để được quyền hưởng dùng cây Sự Sống và qua cửa mà vào Thành!” (Kh 22:14).

Làm gì cũng mệt, giặt giũ cũng vậy, đồ càng bẩn thì giặt càng mệt. Tương tự, chiếc áo tinh thần càng bẩn càng khó giặt, chỉ có thể giặt bằng loại “thuốc tẩy” đặc biệt là Bửu Huyết Đức Giêsu Kitô. Thông thường, muốn bỏ một điều xấu hoặc một thói xấu thì người ta phải dám – nghĩa là phải can đảm. Có can đảm mới có thể tin tưởng, có tin tưởng mới có thể dứt khoát “đứng dậy” và “trở về”. Người con hoang đàng yếu đuối phần xác nhưng lại đủ mạnh tinh thần nên đã có sự can đảm và dám dứt khoát để trở về mái nhà xưa, mong được chuộc tội với người cha, và chính người cha cũng đã can đảm và dứt khoát mới có thể nhìn nhận đứa con hư là người con yêu như trước.

Thuở xưa, Đức Chúa xác định với ông Giô-suê: “Hôm nay Ta đã cất khỏi các ngươi cái ô nhục của người Ai-cập” (Gs 5:9). Vì thế, người ta đã gọi tên nơi ấy là Ghin-gan cho đến ngày nay. Con cái Ít-ra-en đóng trại ở Ghin-gan và cử hành Lễ Vượt Qua ngày mười bốn trong tháng, vào buổi chiều, trong vùng thảo nguyên Giê-ri-khô. Đó là hồng ân Thiên Chúa đã trao ban cho dân Ít-ra-en, cả người tốt lẫn người chưa tốt, cũng như mưa xuống cho mọi người mà chẳng phân biệt ai sang hay hèn, khôn hay dại, tín nhân hay vô thần.

Cuộc sống của dân Ít-ra-en giản dị, nhờ hồng ân nhưng vẫn phải hợp tác bằng sức lao động hằng ngày: “Hôm sau lễ Vượt Qua, họ đã dùng thổ sản trong xứ, tức là bánh không men và hạt lúa rang, vào đúng ngày đó. Hôm sau, không còn man-na nữa, khi họ dùng thổ sản trong xứ; thế là con cái Ít-ra-en không còn có man-na nữa. Năm ấy, họ đã dùng hoa màu của đất Ca-na-an” (Gs 5:11-12). Làm việc để biết giá trị của lao động và ý nghĩa của cực khổ. Hưởng dùng những gì do mình làm ra mới biết trân quý sự nỗ lực của bản thân, nếu cứ an nhàn thì người ta dễ ảo tưởng, ỷ lại và kiêu ngạo.

Dù chúng ta tốt hay xấu thì nguồn mạch Hồng Ân của Thiên Chúa vẫn luôn tuôn tràn, lòng thương xót của Ngài chẳng bao giờ giảm sút chút nào. Cảm nhận được điều đó nên Thánh Vịnh gia xác định: “Tôi sẽ không ngừng chúc tụng Chúa, câu hát mừng Người chẳng ngớt trên môi”(Tv 34:2). Tại sao vậy? Lý do rất minh nhiên: “Linh hồn tôi hãnh diện vì Chúa, xin các bạn nghèo nghe tôi nói mà vui lên” (Tv 34:3). Đó là chứng cớ sống động, không thể chối bỏ, thế nên không thể không nói ra để chia sẻ với người khác.

Tất nhiên không chỉ có vậy, bất cứ những ai cảm nhận được tình yêu bao la của Thiên Chúa thì chắc chắn không thể thụ động, nghĩa là bằng cách nào đó, họ sẽ tích cực kêu gọi: “Hãy cùng tôi ngợi khen Đức Chúa, ta đồng thanh tán tụng danh Người. Tôi đã tìm kiếm Chúa, và Người đáp lại, giải thoát cho khỏi mọi nỗi kinh hoàng. Ai nhìn lên Chúa sẽ vui tươi hớn hở, không bao giờ bẽ mặt hổ ngươi” (Tv 34:4-6). Yêu nhiều thì lợi nhiều, cụ thể là được tha thứ nhiều (x. Lc 7:36-50). Tình yêu mạnh hơn mọi thứ, bất chấp cả tử thần. Thánh Antôn Maria Claret đã tha thiết ước muốn: “Lạy Chúa Giêsu, con muốn yêu mến Ngài hết lòng, hết con người và hết sức con. Con xin tận hiến cho Ngài mọi tư tưởng, ước muốn, lời nói và hành động của con, những gì con có và những gì có thể. Con xin sử dụng những gì con có để vinh danh Ngài, theo Thánh Ý Ngài”.

Thiên Chúa là Đấng thương xót, luôn chạnh lòng thương xót, chỉ muốn cứu người ta thoát khỏi đau khổ. Thế nên Ngài luôn lắng nghe và thấu hiểu mọi nỗi niềm. Thánh Vịnh gia khiêm nhường và chân thành tâm sự: “Kẻ nghèo này kêu lên và Chúa đã nhận lời, cứu cho khỏi mọi cơn nguy khốn” (Tv 34:7). Cầu xin là một dạng cầu nguyện, và cầu nguyện là sức mạnh phi thường. Thánh Louis De Montfort: “Hãy cầu nguyện với lòng tin tưởng sâu sắc, lòng tin tưởng dựa trên sự thiện và sự đại lượng vô hạn của Thiên Chúa, dựa vào lời hứa của Đức Giêsu Kitô. Thiên Chúa là nguồn mạch nước hằng sống không ngừng tuôn chảy vào tâm hồn những người cầu nguyện”.

Ai chuyên cần cầu nguyện thì được nhiều ơn thánh và đủ sức biến đổi. Thánh Phaolô xác định: “Ai ở trong Đức Kitô đều là thọ tạo mới. Cái cũ đã qua, và cái mới đã có đây rồi” (2 Cr 5:17). Đó là cách canh tân, càng ngày càng mới hơn. Nhưng không phải do công sức của chúng ta, mà “mọi sự ấy đều do bởi Thiên Chúa là Đấng đã nhờ Đức Kitô mà cho chúng ta được hoà giải với Người, và trao cho chúng tôi chức vụ hoà giải” (2 Cr 5:18). Thánh nhân giải thích: “Trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hoà giải với Người. Người KHÔNG CÒN CHẤP TỘI nhân loại nữa, và giao cho chúng tôi công bố lời hoà giải. Vì thế, chúng tôi là sứ giả thay mặt Đức Kitô, như thể chính Thiên Chúa dùng chúng tôi mà khuyên dạy. Vậy, nhân danh Đức Kitô, chúng tôi nài xin anh em hãy làm hoà với Thiên Chúa” (2 Cr 5:19-20). Hòa giải với Thiên Chúa thì tất nhiên cũng phải hòa giải với tha nhân, đó là một cách để “giặt sạch” chiếc áo đời đầy vết bẩn tội lỗi của mình.

Chúng ta biết rằng Thánh Phaolô là một học giả của nhóm Pharisêu, chữ nghĩa đầy mình, nhưng ông không văn hoa bóng bẩy mà lại viết rất rõ ràng và thực tế: “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người” (2 Cr 5:21). Tình yêu Thiên Chúa quá kỳ diệu, quá cao siêu, chúng ta không thể nào lý giải được, mà chỉ có thể cúi đầu kính tin, chúc tụng và cảm tạ không ngừng.

Thời đó, các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Đức Giêsu để nghe Ngài giảng điều hay lẽ phải, dạy lời thiêng ý thánh, nhờ đó mà có thêm ý lực sống. Thấy thế, nhóm người Pharisêu và kinh sư tỏ vẻ khó chịu – vì tự nhận mình thông suốt và đạo đức hơn người, và họ xầm xì với nhau về Chúa Giêsu: “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng” (Lc 15:2). Lưỡi không xương đủ đường lắt léo. Tình trạng này rất thường thấy trong cộng đồng: Xét người hơn xét mình. Đó là một dạng kiêu ngạo được che đậy khá tinh vi dưới nhiều dạng thức, không khác gì người Pharisêu dám chê trách người thu thuế ngay khi cầu nguyện (x. Lc 18:9-14). Đó là dạng “phạm tội ngay khi làm việc đạo đức”. Ôi chao, người ta sai mười mươi mà vẫn cho mình là đúng, là hay. Kẻ vỗ ngực tự làm kềm kẹp chính mình, người đấm ngực tự giải thoát chính mình.

Chúa Giêsu biết rõ họ đang thầm nghĩ và toan tính điều gì, nên Ngài kể cho họ nghe dụ ngôn “Người Cha Nhân Hậu” (Lc 15:11-32) – cũng gọi là dụ ngôn “Đứa Con Hoang Đàng”. Ngài ôn tồn: Một người kia có hai cậu con trai. Có lẽ do vọng ngoại và bị bạn bè xấu rủ rê nên cậu nhỏ nói với cha: “Thưa cha, xin cho con phần tài sản con được hưởng”. Chắc là người cha cũng ngạc nhiên, nhưng ông vẫn chiều theo ý nó mà phân chia của cải cho hai cậu. Ít ngày sau, cậu nhỏ thu góp tất cả rồi ra đi, không hẹn ngày về. Ở nơi nào đó, cậu ta sống phóng đãng, ăn chơi sa đọa, phung phí hết tài sản của mình, bất cần tương lai.

Miệng ăn, núi lở. Chẳng bao lâu, cậu ta tiêu xài hết sạch, nhưng không may trong vùng ấy lại xảy ra một nạn đói khủng khiếp. Cậu ta bắt đầu lâm cảnh túng thiếu nên phải đi ở đợ cho một người dân trong vùng, và người này sai anh ta ra đồng chăn heo. Trong cơn bĩ cực, cái đói nhói cái khổ, cậu ta ao ước lấy đậu muồng heo ăn mà nhét cho đầy bụng mà cũng không dám, bởi vì chẳng ai cho. Thật thê thảm! Bấy giờ cậu ta hồi tâm và nhớ nhà. Cậu ta biết rằng có nhiều người làm công cho cha mà vẫn được cơm dư gạo thừa, còn cậu ta ở đây lại đói meo, chỉ có nước chờ chết thôi. Cậu ta quyết định trở về và sẽ thú tội với cha, rồi xin cha nhận mình như người làm công thôi, chứ chẳng dám hy vọng gì hơn. Sau quá trình giằng co tư tưởng, cậu ta dứt khoát đoạn tuyệt với quá khứ, lấy hết can đảm đi về ngay, không dám nán lại giây phút nào nữa. Và nước mắt bao giờ cũng chẳng xuống…

Rất quan trọng đối với động thái dứt khoát. Đó là từ bỏ chính mình, dám “chết” cho tội lỗi, “chết” cho những gì bất chính nơi mình. Đau khổ, thất bại, thua cuộc, lâm bước đường cùng, bệnh tật, tai bay vạ gió,… đó là những lúc tiếng Chúa đang thẳng thắn nói thật với chúng ta. Tài sản cá nhân của chúng ta không là tiền bạc, của cải, vàng bạc, vật chất… mà là tính tự phụ, tính ích kỷ, thói kiêu căng, thói lọc lừa, gian dối, mưu thâm kế độc,… Và rồi một lúc nào đó, chúng ta cũng “trắng tay” và không dám “đứng thẳng” mà ngước nhìn đời. Khi bị “triệt buộc”, người ta lâm cảnh tiến thoái lưỡng nan, nhưng nếu can đảm dứt khoát với quá khứ thì thật phúc thay, bởi vì Thiên Chúa nhân từ vẫn luôn dành cho chúng ta lòng thương xót nguyên vẹn: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (1 Sb 16:34 và 41; 2 Sb 5:13; 2 Sb 7:3 và 6; Er 3:11; Tv 100:5; Tv 106:1; Tv 107:1; Tv 118:1-4 và 29; Tv 136:1-26).

Mới về gần đến nhà, cậu nhỏ đã được cha ra đón. Cậu biết thân biết phận mình khốn nạn nên cậu bật khóc và nói với cha: “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa”. Cậu xấu hổ lắm. Nhưng người cha vẫn chờ giây phút này từ ngày cậu dứt tình ra đi. Thế là nó đã biết lỗi, người cha vui mừng liền bảo các đầy tớ: “Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng! Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy”. Tiệc mừng làm ngay, ăn ngay, không thể trì hoãn sự sung sướng như thế, mặc dù lúc đó vắng mặt cậu lớn. Ôi, Lòng Thương Xót của Chúa quá bao la và vô cùng kỳ diệu!

Trong khi đang tiệc mừng rôm rả, người con cả của ông vẫn ở ngoài đồng. Khi anh ta về gần đến nhà, nghe thấy tiếng đàn ca nhảy múa, liền gọi một người đầy tớ ra mà hỏi xem có chuyện gì. Người ấy trả lời: “Em cậu đã về, và cha cậu đã làm thịt con bê béo, vì gặp lại cậu ấy mạnh khoẻ”. Người anh cả liền nổi giận và không chịu vào nhà. Người cha ra năn nỉ, nhưng anh ta tỏ vẻ khó chịu và so đo: “Cha coi, đã bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh, thế mà chưa bao giờ cha cho lấy được một con dê con để con ăn mừng với bạn bè. Còn thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về, thì cha lại giết bê béo ăn mừng!”.

Rõ ràng cháy nhà mới ra mặt chuột. Đâu hẳn là con ngoan khi vẫn ở nhà và làm việc cho cha, chứ không chơi bời lêu lổng, không hoang đáng chi địa, cũng chẳng cờ bạc hoặc rượu chè. Lúc có “sự cố” mới biết, lâu nay cậu lớn có vẻ ngoan ngoãn đấy, nhưng trong lòng chẳng tốt lành gì đối với cha mình. Thái độ ngang ngạnh và lời nói xấc xược bây giờ chứng tỏ cậu ta thực sự nổi loạn: không bằng lòng người cha và chẳng ưa thằng em. Chúng ta cũng thế thôi, bằng mặt mà chẳng bằng lòng, cũng chỉ là những đứa con bất hiếu, vẫn thường so đo và tính toán như cậu lớn trong dụ ngôn này. Tính kiêu ngạo luôn chờ cơ hội, từ manh nha biến thành manh động chỉ trong tích tắc. Cái tôi ích kỷ cũng chỉ chực vùng lên bất cứ lúc nào, với nhiều cách biện hộ cho sự tồi tệ của mình. Thật chí lý với nhận xét của Benjamin Franklin (1706-1790, tổng thống Mỹ): “Half a truth is often a great lie – Một nửa sự thật thường là điều dối trá to lớn”.

Rất có thể lúc nghe cậu lớn nói vậy, người cha đã bật khóc vì quá đau lòng, thế nhưng ông vẫn chịu đựng, nhẫn nhịn, điềm đạm và ôn tồn nói với nó: “Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con. Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy”. Người cha lý luận tuyệt vời quá. Tình yêu thương khỏa lấp mọi khoảng trống và thắng vượt mọi thứ.

Quả thật, Thiên Chúa vô cùng nhân từ và kiên nhẫn, Ngài đã chấp nhận bỏ 99 người đạo đức để đi tìm chỉ một người lầm đường lạc lối, vì Ngài “không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất” (Mt 18:14). Ôi, Thiên Chúa “ngược đời” quá mà cũng kỳ diệu quá! Nếu Ngài không “khác người” như vậy thì chúng ta hết đường “về nhà” như cậu nhỏ và cũng hết lý luận kiêu căng như cậu lớn. Vì thế, chúng ta phải dứt khoát bỏ ngay thói bạc tình của cậu lớn và thói hoang tưởng như cậu nhỏ. Nói chung, thằng nào cũng bất nhân, chẳng thằng nào có hiếu với cha mình!

Lạy Thiên Chúa nhân lành, chúng con thật là khốn nạn, thế mà vẫn mạo nhận là “chiên ngoan”. Chúng con biết tội rồi, xin Ngài thương xót và biến đổi chúng con nên khí cụ của Ngài, xin dập tắt thói kiêu sa, tính hợm mình nơi chúng con, xin giúp chúng con nhận biết mình là tội nhân ngu xuẩn để có thể đoạn tuyệt với quá khứ đen tối mà kịp trở về trong thời gian còn được cậy nhờ lòng thương xót của Ngài. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. mục lục.

QUAY VỀ

[Niệm khúc Mc 12:28b-34]

Chúa ơi, con trở về đây

Mang theo lời nguyện, xin Ngài thứ tha

Chỉ vì tội ác gian tà

Mà con khốn nạn ngã sa bao lần (*)

Không yêu Chúa trọn xác hồn

Lãng quên giáo huấn, điều răn của Ngài

Rõ ràng con đã lạc sai

Xin thương cứu khỏi lạc loài, Chúa ơi!

Cho con biết lối về Trời

Mến Chúa, yêu người trọn luật Ngài ban

Quay về, con hết phân vân

Có Ngài chăm sóc, ủi an đêm ngày

(*) Hs 14:2-3

HAI THẰNG CON

[Niệm khúc Lc 15:11-32]

Có được hai thằng con

Mong tương lai xán lạn

Cha hy vọng vô hạn

Nào ngờ lòng quặn đau

Thằng lớn chẳng đi đâu

Ở nhà lo vườn tược

Biết lo liệu công việc

Nhưng lạnh nhạt, dửng dưng

Thằng nhỏ muốn chơi sang

Đòi chia phần của nó

Không muốn ở nhà nữa

Ra đời tìm sàng khôn

Sống hoang phí, bất cần

Hết bar này, quán nọ

Liều lĩnh nên ngáo đá

Cuối cùng giống như ma

Hết đường mới nhớ cha

Chân lê lết từng bước

Nhìn tệ hơn hành khất

Nhưng cũng phải về thôi

Bật khóc, gọi: “Cha ơi!”

Cha hỏi: “Tại sao khóc?”

Xấu hổ, nó nức nở

Cha thương mở tiệc mừng

Thằng anh muốn nổi khùng

Thấy thật, không ảo mộng

Vì thằng em thật sướng

Ngổ ngáo vẫn khỏe re

Chỉ tội nghiệp người cha

Chịu đựng cả hai đứa

Thằng nào cũng ích kỷ

Chẳng đứa nào thương cha

Nhưng tình cha bao la

Chẳng mong con đền đáp

Giá mà chúng nhận biết

Cha sống vì các con

Chẳng có thằng nào hiền

Cũng chỉ là nghịch tử

Nổi loạn và ích kỷ

Mặc cha già khổ tâm!

TRẦM THIÊN THU

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan