SUY NIỆM CHÚA NHẬT LỄ LÁ_C

11-04-2019 171 lượt xem

(Is 50,4-7; Pl 2,6-11; Lc 22,14—23,56)

Mục Lục

PHÓ MÌNH TRONG TAY CHA - ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

CHÚA GIÊSU CHẾT TRONG SỰ VÂNG PHỤC - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

LẬT MẶT NHƯ TRỞ BÀN TAY - JM. Lam Thy ĐVD

NIỀM VUI – THẬP GIÁ VÀ ƠN CỨU ĐỘ - Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

GIỜ ĐÃ ĐIỂM - Trầm Thiên Thu

THẬP GIÁ ĐÒI HỎI LÒNG QUẢ CẢM - Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

ĐƯỜNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA - Tu sĩ: Giuse – Vinh Sơn Ngọc Biển, S.S.P.

BÀI THƯƠNG KHÓ - Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

CHÚC TỤNG THIÊN CHÚA - (Thế Kiên Dominic)

PHÓ MÌNH TRONG TAY CHA

ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

Với nghi thức nhắc lại sự kiện Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem, phụng vụ dẫn đưa chúng ta vào Tuần Thánh. Thánh lễ hôm nay nhằm chuẩn bị tâm hồn các tín hữu,  giúp họ tham dự tích cực vào việc tưởng niệm cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, để cùng hiệp thông với Người, sống mầu nhiệm thập giá trong cuộc đời. Trình thuật về cuộc thương khó của Chúa, giúp chúng ta theo Chúa Giêsu từ phòng tiệc ly đến chân thánh giá. Trong biến cố này, có sự phản bội của Giuđa, sự hận thù ghen ghét của các kỳ mục Do Thái, sự thay lòng đổi dạ của quần chúng đám đông. Nhưng trên hết, đó là sự vâng phục của Chúa Giêsu đối với thánh ý của Chúa Cha. “Người đã yêu thương đến cùng” – Thánh Gioan nói với chúng ta như vậy (Ga 13,1). Đức Giêsu như một người Tôi Tớ đau khổ của Thiên Chúa được loan báo trong ngôn sứ Isaia. Người mang trên đôi vai mình tội lỗi của nhân loại. Người không dùng bạo lực đối lại với bạo lực, không dùng lời nguyền rủa đáp lại lời nguyền rủa. Người là con chiên vượt qua mà người Do Thái vẫn giết trong Đền thờ vào dịp lễ để kỷ niệm cuộc xuất hành khỏi Ai Cập. Máu của Người đổ ra là hy lễ xá tội muôn dân.

Trước biến cố thập giá, Chúa Giêsu luôn phó thác nơi cánh tay Chúa Cha. Người sẵn sàng đón nhận cái chết để làm chứng cho lời mình rao giảng. Người đến trần gian để thực hành thánh ý của Chúa Cha. Người chấp nhận mọi sự, miễn là ý của Chúa Cha được thành tựu. Lời cầu nguyện: “Xin đừng theo ý con, một theo ý Cha” đã diễn tả niềm tín thác kỳ diệu ấy. Trong sa mạc, đã có lần ma quỷ thách thức Người gieo mình từ trên nóc Đền thờ xuống. Nếu khi ấy, Người đã không gieo mình xuống theo thách thức của tên cám dỗ, thì giờ đây, Người lại hoàn toàn phó thác mà gieo mình vào lòng Chúa Cha. Người không tính toán, không băn khoăn, nhưng một niềm tin tưởng nơi Chúa Cha.

Thập giá là trung tâm điểm của nghi thức phụng vụ Tuần Thánh. Hai mươi thế kỷ đã qua, các tín hữu được mời gọi nhìn lên thập giá để cảm nhận lòng xót thương của Thiên Chúa. Thập giá là một mầu nhiệm mà trí khôn loài người không thể suy thấu. Quả thật, làm sao có thể lý giải được việc Thiên Chúa chịu đau khổ và chịu chết? Làm thế nào để hiểu sự kiện một Thiên Chúa quyền năng lại chấp nhận chịu bắt bớ, hy sinh và cuối cùng phải chết một cách nhục nhã trên cây thập giá? Quyền năng Thiên Chúa ở đâu nơi thập giá?

Có một câu trả lời duy nhất và ngắn gọn, đó là tình thương. Cũng như chỉ có tình thương mới giúp người mẹ hy sinh khuya sớm để chăm sóc đứa con bệnh tật lâu năm mà không một lời phàn nàn oán trách, chỉ có tình thương mới dẫn đưa Đức Giêsu đến việc chấp nhận khổ đau và chết trên thập giá. Trong Tin Mừng Thánh Gioan, Chúa Giêsu đã khẳng định: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để tất cả những ai tin vào Người thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời” (Ga 3,16).

Vụ án Chúa Giêsu không chỉ là câu chuyện của quá khứ, nhưng là của ngày hôm nay. Tại một số nước Hồi giáo, vẫn có các Kitô hữu bị thảm sát, là nạn nhân của mối thù hận. Đây đó trên thế giới, vẫn còn những người vô tội bị giết. Bóng thập giá vẫn phủ ngang qua mọi mảnh đời bất hạnh, phá vỡ hạnh phúc, sói mòn niềm tin. Đấng Cứu thế vẫn đang bị hành hình nơi những người nghèo khổ, người di dân lánh nạn và người cô thế cô thân. Thập giá là tiếng kêu hãy ngưng bạo lực và đối xử với nhau cho xứng tình người. Khi Đức Giêsu tắt thở trên thập giá, dân chúng đấm ngực ăn năn và nhận ra Người là Con Thiên Chúa. Vị sĩ quan người Rôma cũng tuyên xưng điều ấy. Khi chiêm ngưỡng và suy ngắm mầu nhiệm thập giá, chúng ta cũng hãy nhận ra nơi con người chịu treo trên thập giá là Đấng Cứu độ trần gian. Thập giá cũng mời gọi chúng ta noi gương Chúa Giêsu, phó thác hoàn toàn nơi Thiên Chúa quyền năng và nhân hậu, để Ngài hướng dẫn cuộc đời chúng ta trên mọi nẻo đường của cuộc sống trần gian. Đó là niềm tín thác trọn vẹn của người con nơi cha mình, biết rằng bao giờ cha cũng muốn những điều tốt lành cho con và làm mọi sự để con được sống vui và hạnh phúc. Mục lục

CHÚA GIÊSU CHẾT TRONG SỰ VÂNG PHỤC

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Cuốn sách “Cuộc khổ nạn của Đức Giêsu qua tấm khăn liệm Turin” viết thật hấp dẫn, tái dựng lại cuộc khổ nạn dựa trên Tấm khăn liệm Turin và Tin Mừng, đưa người đọc từng bước đi vào cuộc thương khó của Chúa Giêsu với những thống khổ và cực hình về thể lý. Sự tàn ác của tội lỗi và sự đố kỵ của sự dữ trước một Tình Yêu quảng đại và bao dung. Sự yếu đuối của thể chất trước một tinh thần bình an và vượt thoát. Giá trị của vinh quang và tủi nhục, tha thứ và hận thù, sự sống và sự chết. Những cảm nhận đó đưa độc giả vươn tới giá trị siêu nhiên trong Chúa Kitô Phục Sinh.

Cuộc thương khó của Chúa Giêsu trong cái nhìn nhân loại như một bi kịch của sự tàn bạo, bất công và hủy diệt. Chúa Giêsu bị phản bội, bị hiểu lầm, bị ghen ghét, chịu kết án bất công. Cuộc thương khó làm cho chúng ta kinh khiếp vì sự tàn ác và độc dữ của con người. Nó làm cho chúng ta xót xa và thương cảm một con người là nạn nhân của lòng hận thù và đố kỵ.

Thế nhưng, cái chết trong đau thương nhục nhã của Chúa Giêsu chính là nguồn ơn cứu rỗi cho nhân loại. Người chết để đền tội, để chuộc tội, để gánh tội hầu cứu độ con người. Cái chết của Đấng Cứu Độ nhưng lại bi thương vô cùng.

Tin Mừng về cuộc thương khó kể lại từng chặng đường khổ nạn của Đấng Cứu Thế.

1. Chúa Giêsu chết trong cô đơn

Những giờ phút sau cùng của Chúa là những khoảng khắc cô đơn kinh hoàng.Trong Vườn Cây Dầu, ba môn đệ thân tín đi với Chúa, họ ngủ say để Chúa một mình. Giuđa phản bội bán Thầy 30 đồng bạc là giá một nô lệ bằng một nụ hôn giả dối. Phêrô chối Thầy 3 lần, ông thề là không quen biết Chúa Giêsu trước một đầy tớ gái. Các môn đệ sợ hãi chạy trốn. Có một môn đệ chạy trốn bỏ lại cả áo, chạy mình trần. Một đám đông cuồng nộ: Đóng đinh nó đi. Họ coi Chúa Giêsu còn thua Baraba là một tên phiến loạn giết người. Các môn đệ ở đâu ? Những người được Chúa Giêsu làm phép lạ nuôi ăn giờ ở đâu? Những người mới tung hô vạn tuế Con Vua Đavit giờ ở đâu? Chúa Giêsu đi đến tột cùng của sự cô đơn khi thổn thức với Cha: Lạy Thiên Chúa tôi, sao Ngài nỡ bỏ tôi?

2. Chúa Giêsu chết trong đau khổ

Đau khổ Chúa Giêsu chịu trong giờ sau hết thật ghê rợn.

a. Đau khổ về thân xác Người ta khạc nhổ, đánh đập, vả tát vào mặt, dùng roi quất vào Người. Đôi bàn tay bầm tím xuyên thâu những mũi đinh nhọn. Đôi bàn chân bị đinh đóng xuyên qua cây gỗ. Đầu đội mão gai nhọn. Lưỡi đòng đâm cạnh sườn, máu và nước chảy ra. Một người bị lột bỏ trần trụi. Hai tay bị giang thẳng trói xiết chặt vào thanh gỗ ngang. Hai chân bị trói vào thanh gỗ dọc phơi ngoài trời nắng gắt cho đến chết. Chết vì nghẹt thở do các cơ vòng ngực, cơ bắp tay không còn sức trương ra, co vào để thu nhận và tống không khí. Tử tội bị đóng đinh nơi cổ tay, nơi bàn chân càng thê thảm bội phần vì đau đớn nhức nhối, sức người rướn lên để thở, mau kiệt sức và chóng chết.

b. Đau khổ về tinh thần Bị sỉ nhục. Bị cười nhạo báng. Bị khinh khi. Kẻ qua người lại đều nhục mạ Người, vừa lắc đầu vừa nói: mi là kẻ phá được Đền Thờ, và nội trong ba ngày xây lại được, hãy cứu lấy mình đi ! Nếu mi là Con Thiên Chúa, thì xuống khỏi thập giá xem nào !. Các thượng tế kinh sư và kỳ mục cũng chế giễu Người mà nói: Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình. Hắn là vua Israel ! Bây giờ hắn cứ xuống khỏi thập gía đi, thì chúng ta tin hắn liền ! Cả những tên cướp cùng đóng đinh với Người cũng sỉ vả Người như thế.

3. Chúa Giêsu chết trong sự vâng phục

Cái chết cô đơn, cái chết đau khổ đến với Chúa Giêsu như một chén đắng mà Chúa Cha trao phó. Chúa Giêsu xin vâng ý Cha, nhưng không vì thế mà bớt sự đau đớn. Trong Vườn Cây Dầu, Chúa Giêsu than thở: Cha ơi, nếu được, xin cho chén này rời khỏi con. Nhưng xin đừng theo ý Con, mà xin theo ý Cha. (Mt 26,39). Theo thánh ý Chúa Cha, “Chúa Giêsu đã hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết trên cây Thập giá”( Pl 2,8).

4. Lời Thánh Kinh ứng nghiệm

Cái chết cô đơn, đau khổ của Chúa Giêsu ứng nghiệm hình ảnh Người Tôi Trung của Ngôn sứ Isaia. Những nổi khổ đau, mọi sự sỉ nhục và cực hình Người Tôi Trung phải chịu : bị đánh vào lưng, bị giật râu, bị mắng nhiếc phỉ nhổ. Mặc dầu vậy, Người Tôi Trung vẫn vững lòng tin tưởng có Thiên Chúa phù trợ. Chúa Giêsu tự đồng hoá mình với Người Tôi Trung một lần (Lc 22,37; Is 53,12) nhưng truyền thống không ngừng đồng hoá khuôn mặt của Người Tôi Trung với Đức Kitô ( Mt 8,16;Is 53,4; Mc 1,1;Is 52,1; Mt 12,18-21;Is 42,1-3; Mc 9,31;Is 53.6.12; Ga 12,38;Is 53,1). Đề tài Người Tôi Trung chịu đau khổ là đề tài khai triển một cách rõ rệt nhất quan niệm một Đấng Cứu Thế phải trải qua đau khổ và sự chết thì mới hoàn thành được sứ mệnh (Cv 3,13-26; Is 4,25-30; Is 53,5.6.9.12; Mc 10,41; Is 53,5; 1Cor 11,24). Hình ảnh Người Tôi Trung đau khổ cho thấy rõ Đức Giêsu đảm nhận thân phận làm người cho tới cùng. Trong Đức Giêsu, Thiên Chúa tự mạc khải là Thiên Chúa “vì mọi người và cho mọi người” chứ không phải như một Thiên Chúa tuyệt đối và toàn năng của triết lý và huyền thoại. Nhân tính của Đức Giêsu mạc khải dưới một siêu việt tính đích thực, nhìn dưới một dạng thức hoàn toàn mới mẻ. Đó là sự siêu việt của một tình yêu vượt qua cái tôi ích kỷ, vượt qua được sự chết để trở nên sự sống cho mọi người. Bài Thánh ca của Thánh Phaolô gợi lên hình ảnh Người Tôi Trung đau khổ (câu 8; Is 53,7.10.12), nhưng ở đây, Người Tôi Trung được đối chiếu với hình ảnh Đức Chúa vinh quang. Sự tự hạ thẳm sâu và chiến thắng vinh quang là bài ca ca ngợi Chúa Giêsu Kitô đã hạ mình chịu chết và được siêu tôn. Chính sự vâng phục theo thánh ý Chúa Cha đã làm nên giá trị của Chúa Giêsu trên mọi thụ tạo.

5. Sứ điệp tình yêu

Cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu đã cho chúng ta thấy những chiều kích khác lạ của tình yêu. Tình yêu không đơn thuần chỉ là sự trao ban thuần túy để làm hài lòng người mình yêu thương, nhưng sâu thẳm hơn, nó là sự hiến dâng chính bản thân để chịu đau khổ.

Tình Yêu của Chúa Giêsu dành cho nhân loại qua con đường thập giá thật đẹp và tinh tuyền như ánh trăng lấp lánh trên dòng sông tình ái. Thấp thoáng trong bóng tối đau khổ, sợ hãi, cô đơn và sự chết là lung linh ánh sáng khoan dung, tha thứ, bình an và vượt thoát. Trong màn đêm của bạo lực và bất công, bầu trời vẫn lấp lánh ánh sao của dâng hiến và yêu thương. Ngước lên và ngắm nhìn, chúng ta có thể nhận ra từng nét chân dung huyền ảo của Tình Yêu và trái tim của chúng ta sẽ nhận ra được dung mạo của Chúa Giêsu yêu thương đến cùng.

Trong hình hài đầy thương tích của Đấng Chịu Đóng Đinh, bóng tối của sự thịnh nộ và thù hận đã nhường chỗ cho ánh sáng của nhân ái và thứ tha. Làm sao chúng ta có thể nhận ra “Con Người” đẹp nhất trần gian, nếu chúng ta không nhìn qua lăng kính của Tình Yêu! Cuộc khổ nạn của Chúa cho chúng ta một cái nhìn thật thâm trầm và sâu sắc về sự nguyên tuyền của Tình Yêu: đứng trên sự cuồng nộ là thinh lặng, đứng trên hành vi bạo lực là một tinh thần bình an, đứng trên lòng thù hận là tha thứ, đối lại thô bạo là bao dung. Tình Yêu làm chúng ta bỡ ngỡ và sửng sốt. Chúng ta thích ngắm nhìn hình ảnh của một tình yêu siêu thoát và bay bổng, nhưng nơi Chúa Giêsu, tình yêu trở nên bình dị và gần gũi. Chúng ta mong muốn một tình yêu được nhận lãnh và chiếm hữu, nhưng nơi Chúa Giêsu, tình yêu lại trở thành trao ban và từ bỏ. Tình yêu là nét đẹp của sự tự hạ và quên mình, là dâng hiến bằng chính trái tim và trọn vẹn cuộc đời. Tình yêu không là ngôn từ để kết án, không là vũ khí của bạo lực đa đoan. Tình yêu là âm thanh gợi cảm của trái tim, là nét vẽ thanh thoát của vũ hoàn và là dòng suối của hoa trái tha thứ bao dung. Chúa Giêsu đã làm tan chảy mọi ô nhơ đố kỵ, khi Người đặt tất cả trong ánh sáng của tình yêu. Nguồn suối ân sủng từ tình yêu Chúa Giêsu làm cho mảnh đất khô cằn của sự chết trở nên hồi sinh và đầy tràn sức sống .

Trước tình yêu vô biên của Đấng Cứu Độ, con người sao có thể đáp đền cân xứng?. Làm thế nào so sánh một giọt nước nhỏ nhoi với cả đại dương mênh mông vô tận!?

Các bài đọc Lời Chúa hôm nay đều hướng về một sứ điệp. Đó là sứ điệp tình yêu. Chúa Giêsu yêu mến Chúa Cha đến độ vâng lời đón nhận cái chết thập giá và yêu thương con người nên đã đón nhận mọi khổ đau của nhân loại mà đưa lên cây thập gía hầu ban ơn cứu độ. Chính tình yêu, chứ không phải đau khổ, đã biến thập giá tủi nhục thành Thánh Giá vinh quang. Chính tình yêu của Chúa Giêsu, chứ không phải cuộc khổ nạn mà chúng ta được Cứu Độ (Ga 3,17), được giải thoát mọi xích xiềng tội lỗi. Như vậy, cuộc thương khó của Chúa Giêsu là một hành trình của tình yêu tiến tới sự sống và hạnh phúc cho muôn người. Khi chấp nhận mang lấy những khổ đau, những nhục nhã của cái chết Thập giá, Chúa Giêsu đã trở nên như hạt lúa phải mục nát đi để cho sự sống mới phát sinh. Nhờ sự chết của Người mà sự sống đời đời xuất hiện cho nhân loại. Đó là định luật nối kết sự chết và sự sống. Chấp nhận đau khổ và sự chết vì tình yêu thì nó trở thành con đường dẫn đến sự sống muôn đời.

Trong cuộc sống thường ngày, có những lúc chúng ta gặp đau khổ, gặp thất bại, gặp nghịch cảnh. Nhiều lúc mình than trách Chúa, nghi ngờ tình yêu của Chúa. Có người bị lung lay đức tin. Có người đã đánh mất đức tin. Hãy chiêm ngắm đau khổ Chúa Giêsu trong cuộc khổ nạn để vững vàng vượt qua thử thách, băng qua gian truân. Qua Thập giá mới đạt tới vinh quang Phục Sinh. Hãy xin được như Thánh Gioan kiên vững dưới chân Thập giá để trung thành với một tình yêu sắt son cùng Thầy Giêsu. Hãy xin được như Đức Maria can đảm dưới chân Thập giá cùng chịu đau thương nhục nhã với người con yêu. Con Thiên Chúa đã gánh chịu mọi khổ đau của thân phận con người, nhưng Người không oán than, không kêu trách, không rên xiết; trái lại, Người đón nhận khổ đau với một tình yêu sâu đậm: Yêu Chúa Cha và yêu nhân loại. Chính tình yêu này đã biến khổ đau của Người nên nguồn ơn cứu rỗi. Tình yêu cứu độ của Chúa đưa nhân loại đi tới bến bờ hạnh phúc. Chúng ta hãy tin yêu Chúa Giêsu và bước đi theo Người để có sự sống dồi dào và niềm vui an hoà. Mục lục

LẬT MẶT NHƯ TRỞ BÀN TAY

JM. Lam Thy ĐVD

Tuần lễ quan trọng nhất của Năm Phụng Vụ là Tuần Thánh. Tuần Thánh bắt đầu với Chúa nhật Lễ Lá và Phụng vụ Lễ Lá lại tiến hành với hai nhịp tương phản. Bắt đầu là cử hành việc Chúa Giê-su vào thành Giê-ru-sa-lem trong tư cách một vị vua, được dân chúng đón tiếp trọng thể, ngập tràn tiếng reo vui. Rồi ngay sau đó, trong Thánh Lễ, thay cho bài Tin Mừng lại là bài tường thuật cuộc thương khó của Chúa, cuộc thương khó đầy máu và nước mắt. Giáo hội có ý gì khi liên kết hai sự kiện tương phản này? Tại sao không đợi đến Thứ Sáu Tuần Thánh để công bố bài thương khó mà phải đọc ngay từ Chúa nhật Lễ Lá? Quả thật có nhiều ý nghĩa phong phú hàm chứa ở đây cần được khai triển. Một trong những nội dung đáng quan tâm là Hội Thánh muốn làm nổi bật đường lối cứu thế của Chúa Giê-su và mời gọi con cái mình bước theo Thầy Chí Thánh.

Trước hết, Chúa nhật Lễ Lá phản ánh trung thực tâm trạng dân chúng Do Thái và nói chung là của con người trần thế: Vừa mới hoan hô, chúc tụng Chúa Giê-su rất nồng nhiệt, bằng những lời lẽ tưởng chừng như chân thành nhất (“Hoan hô Con vua Đa-vít! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! Hoan hô trên các tầng trời!” – Mt 21, 9); vậy mà chỉ mấy ngày sau, cũng chính những người hoan hô ấy lại hò reo: "Đóng đinh nó vào thập giá!" Thậm chí khi Tổng trấn Phi-la-tô thấy không cứu vãn được tình thế, đã lấy nước rửa tay trước mặt đám đông mà nói: "Ta vô can trong vụ đổ máu người này. Mặc các người liệu lấy!", thì đám đông còn gào thét như thách thức: "Máu hắn cứ đổ xuống đầu chúng tôi và con cháu chúng tôi!" (Mt 27, 24-25). 

Đám đông dân chúng thì như vậy, nhưng còn những môn đệ ở liền bên với Đức Ki-tô thì sao? Các ngài đi theo Đức Ki-tô vì tin tưởng Người chính là vị cứu tinh cho cuộc đời của mình và các ngài luôn sẵn sàng tuyên xưng niềm tin ấy. Cụ thể như Phê-rô khi nghe Đức Ki-tô hỏi: "Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?", thì tuyên xưng liền: "Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống" (Mt 16, 16) và khi nghe Thầy tiên báo sẽ chối Thầy, thì ngay lập tức khẳng định chắc nịch: "Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy". Thực ra, cũng không chỉ có một mình Phê-rô đâu, mà "Tất cả các môn đệ cũng đều nói như vậy" (Mt 26, 35). Như thế thì chẳng phải là ca tụng, tung hô đó sao? Nhưng đến khi Thầy gặp nạn, thì "Bấy giờ các môn đệ bỏ Người mà chạy trốn hết" (Mt 26, 56), còn Phê-rô thì lẽo đẽo theo sau và chỉ cần một tớ gái nhà Cai-pha vặn hỏi đã vội vàng "Tôi thề là không biết người ấy" (Mt 26, 74) tới 3 lần. Ấy là chưa kể Giu-đa It-ca-ri-ốt đã bán Thầy cho quân dữ để lấy 30 đồng bạc. Bán Thầy, bỏ trốn hết, chối Thầy như vậy thì có khác gì đả đảo?

Thánh Phê-rô tuy có chối Thầy 3 lần trong một đêm, nhưng khi “sực nhớ lời Đức Giê-su đã nói: “Gà chưa kịp gáy thì anh đã chối Thầy ba lần.” Ông ra ngoài khóc lóc thảm thiết.” (Mt 26, 75). Còn Giu-đa It-ca-ri-ốt thì sao? Cùng ở trong nhóm 12 với các môn đệ được coi là thân tín nhất của Đức Giê-su, thì hẳn nhiên Giu-đa cũng tin tưởng và tung hô Thầy như các môn đệ khác (“Khi Người đến gần chỗ dốc xuống núi Ô-liu, tất cả đoàn môn đệ vui mừng bắt đầu lớn tiếng ca tụng Thiên Chúa vì các phép lạ họ đã được thấy. Họ hô lên: “Chúc tụng Đức Vua, Đấng ngự đến nhân danh Chúa! Bình an trên cõi trời cao, vinh quang trên các tầng trời!” – Lc 19, 37-38). Ngay cả khi Đức Giê-su tiên báo có môn đệ sẽ nộp Người cho quân dữ, các môn đệ xôn xao thắc mắc không biết đó là ai, thì Giu-đa cũng vẫn thản nhiên hỏi: "Ráp-bi, chẳng lẽ con sao?" Cho đến lúc "Đức Giê-su trả lời: "Thầy chấm bánh đưa cho ai, thì chính là kẻ ấy." Rồi Người chấm một miếng bánh, trao cho Giu-đa, con ông Si-môn Ít-ca-ri-ốt. Y vừa ăn xong miếng bánh, Xa-tan liền nhập vào y." (Ga 13, 26-27), và thế là Giu-đa trở thành công cụ của Xa-tan bán Thầy lấy 30 đồng bạc! Cuối cùng lại phạm thêm một tội tày trời: Huỷ diệt công trình tạo dựng của Thiên Chúa (thắt cổ tự tử).

Thánh Phê-rô và Giu-đa chỉ là 2 nhân vật nổi cộm nêu bật hai chiều kích mâu thuẫn, đối nghịch nhau trong cùng một con người. Đến như đám đông người Do Thái khi đón tiếp Đức Giê-su vào Giê-ru-sa-lem (kể cả những người đồng hương với Chúa khi đón tiếp Người về thăm Na-da-ret) còn tệ hại hơn nhiều. Ngày xưa thì như thế, còn ngày nay hẳn là còn hơn thế nữa là cái chắc. Ở Việt Nam tuy có gần 130.000 người chấp nhận cái chết chớ không chịu đả đảo Ki-tô (bước qua, đạp lên thánh giá, bỏ đạo), nhưng con số người sẵn sàng đạp lên thánh giá (chớ đừng nói chỉ bước qua), sẵn sàng gỡ bỏ bàn thờ để chưng hình lãnh tụ (đả đảo Giê-su, hoan hô lãnh tụ), sẵn sàng ghi vào sơ yếu lý lịch là "không tôn giáo"... thì không hiểu còn đông gấp bao nhiêu lần?

“Tình đời đổi trắng thay đen” chẳng khác gì cảnh “lật mặt như trở bàn tay”. Ôi chao! "Còn bạc còn tiền, còn đệ tử. Hết cơm, hết gạo, hết ông tôi." (xc "Thế thái nhân tình" – Nguyễn Bỉnh Khiêm); "Suy ra cho kỹ, chi hơn nữa. Bạc quá vôi, mà mỏng quá mây" (xc Nguyễn Công Trứ  trong cùng tiêu đề thơ vịnh "Thế thái nhân tình"). Đám người vừa mới “tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người”, thì ngay sau đó “Nghe vậy, mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ. Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành - thành này được xây trên núi. Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực.” (Lc 4, 28-30). Vừa mới hôm trước "Hoan hô Con vua Đa-vít! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! Hoan hô trên các tầng trời", hôm sau đã "Đóng đinh nó vào thập giá! ... Máu hắn cứ đổ xuống đầu chúng tôi và con cháu chúng tôi!". Cảnh tượng đó nào có khác chi những kẻ “thay lòng đổi dạ” nhanh như chớp. Thật đúng là "Bề ngoài thơn thớt nói cười, Mà trong nham hiểm giết người không đao!" ("Kiều" – Nguyễn Du).

Đã có phản biện: Ngày xưa vì Đức Giê-su là Thiên-Chúa-làm-người – là một nhân vật bằng xương bằng thịt như bao người khác – nên mới có vụ hoan hô, đả đảo. Còn ngày nay thì đâu có một ông Giê-su Na-da-ret để mà hoan hô, đả đảo, đóng đinh vào thập giá. Để trả lời vấn nạn trên, xin nhấn mạnh ở đây: Vấn đề đả đảo, đóng đinh Chúa, không nhất thiết là cứ phải thật sự trực tiếp bắt trói Chúa, cầm búa đóng đinh vào tay chân Chúa đâu. Ngày nay cũng chẳng có cái vụ bắt bước qua hoặc đạp lên thánh giá, mà hình thức bách hại đạo còn tinh vi, khủng khiếp hơn nhiều. Ngay đến cả những người bề ngoài thì rất siêng năng đi lễ, đọc kinh, cầu nguyện, nhưng chỉ cần một người nghèo khó (một hành khất, chẳng hạn) đến "quấy rầy", thì ngay lập tức "Không có gì hết! Cút đi chỗ khác!" Than ôi! "Ngày xưa Ta khát..., Ta đói..., Ta trần truồng... " thì ngươi đã đối xử như vậy đó! Vậy thì ai hoan hô, ai đả đảo? Hoan hô và đả đảo ai vậy? Cứ thử gẫm suy cho thấu đáo mà xem, có đúng là chúng ta gây chia rẽ, bất hoà với anh em nhiều hơn là xây dựng, đoàn kết nhau không? Có phải là chúng ta đố kỵ ghen ghét nhiều hơn là yêu thương đùm bọc nhau không? Những cái mà chúng ta cư xử với anh em như vậy chẳng phải là chúng ta đã làm cho Chúa đấy sao? Vấn đề chính là ở chỗ đó.

Đối với con người thì chuyện thay lòng đổi dạ, đổi trắng thay đen chỉ là "chuyện thường ngày ở huyện". Vấn đề đặt ra là khi được ơn soi sáng thì có biết ăn năn hối cải hay không mà thôi. Nếu chỉ là hối hận thì Giu-đa It-ca-ri-ốt và đám đông người Do Thái đã biểu hiện (“Bấy giờ, Giu-đa, kẻ đã nộp Người, thấy Người bị kết án thì hối hận… ném số bạc vào Đền Thờ và ra đi thắt cổ.” – Mt 27, 3-5; “Thấy sự việc xảy ra như thế, viên đại đội trưởng cất tiếng tôn vinh Thiên Chúa rằng: "Người này đích thực là người công chính!" Toàn thể dân chúng đã kéo đến xem cảnh tượng ấy, khi thấy sự việc đã xảy ra, đều đấm ngực trở về." – Lc 23, 47-48). Đến như thánh Phê-rô mới là thực lòng ăn năn hối cải (Từ nguyên – Hối: cảm thấy nuối tiếc và băn khoăn, day dứt vì đã trót làm điều lầm lỗi; Cải: đổi khác đi). Vì thế, “sám hối" không thôi thì chưa đủ, mà còn cần “canh tân" nữa, và đó cũng chính là chủ đích của mùa Chay Thánh. Vâng, “Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo" (Rm 12, 20), “anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em" (Ep 4, 23).

Xin hãy noi gương tảng đá góc tường Phê-rô khi nhìn lại mình đã thực sự ăn năn hối cải, để rồi cùng với các Tông đồ tiên khởi hiệp ý cùng Mẹ Maria khẩn thiết cầu nguyện (“Đó là các ông: Phê-rô, Gio-an, Gia-cô-bê, An-rê, Phi-lip-phê, Tô-ma, Ba-tô-lô-mê-ô, Mát-thêu, Gia-cô-bê con ông An-phê, Si-mon thuộc nhóm Quá Khích, và Giu-đa con ông Gia-cô-bê. Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện cùng với mấy người phụ nữ, với bà Maria thân mẫu Đức Giê-su.” – Cv 1, 13-14). Người Ki-tô hữu hãy cầu nguyện xin ơn soi sáng để nhìn rõ hình ảnh Thiên Chúa nơi người anh em, từ đó sống với nhau trong một sự hiệp thông liên kết như các chi thể của cùng một thân mình. Nói cách khác, “Các tín hữu Ki-tô chúng ta theo gương các Tông Đồ và nhìn thấy qua sự kiện có thể chia sẻ thiện ích của chúng ta với người khác là một chứng tá cụ thể về tình hiệp thông mà chúng ta sống trong Giáo Hội.” (Sứ điệp Mùa Chay 2018). Và chỉ có kết hiệp với nhau nên một trong Chúa Ki-tô, đồng tâm nhất trí cầu nguyện mới thực sự được Chúa ban Thần Khi như xưa Người đã ban trong ngày Lễ Ngũ Tuần.

Tóm lại,  “khi các Ki-tô hữu và tất cả con người đón nhận một cách cương quyết “cơn đau sinh nở” của sự sám hối; toàn thể thế giới thụ tạo sẽ “không còn phải lệ thuộc vào cảnh hư nát nữa, nhưng được cùng với con cái Thiên Chúa, chung hưởng tự do và vinh quang” (Rm 8,21). Mùa Chay chính là dấu chỉ mang tính Bí Tích của sự hoán cải. Mùa này kêu gọi các Ki-tô hữu hãy để cho mầu nhiệm Vượt Qua trở nên hữu hình cách mạnh mẽ và cụ thể hơn trong đời sống cá nhân, gia đình và xã hội của họ, đặc biệt là thông qua việc chay tịnh, cầu nguyện và làm phúc bố thí.” (Sứ điệp Mùa Chay 2019).

Ôi! Lạy Chúa! Cúi xin Chúa ban Thần Khi soi sáng cho con để con nhìn thấy tỏ tường Chúa nơi người anh em của con, đồng thời giúp con đủ dũng khí đổi mới con người của con từ một "kẻ 2 lòng" trở nên người "một lòng một dạ" yêu thương và trung thành với Chúa, thương yêu anh em như chính bản thân mình, cho đến trọn đời. Ôi! "Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã muốn cho Ðấng cứu chuộc loài người phải sống kiếp phàm nhân và chịu khổ hình thập giá để nêu gương khiêm nhường cho thiên hạ noi theo. Xin cho chúng con biết đón nhận bài học Người để lại trong cuộc thương khó, và được thông phần vinh quang phục sinh với Người. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. Amen" (Lời nguỵên nhập lễ Lễ Lá). Mục lục

NIỀM VUI – THẬP GIÁ VÀ ƠN CỨU ĐỘ

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Với Chúa nhật Lễ Lá, khai mạc Tuần Thánh, trung tâm của toàn thể Năm Phụng Vụ, trong Tuần này chúng ta dõi theo hành trình thương khó của Chúa Giêsu, chết và sống lại.

Niềm vui

Hoan hô, chúc tụng vua Israel, Ðấng nhân danh Chúa mà đến! (x. Ga 12,12-16)

Nghe đọc những lời trên lúc mở đầu nghi thức làm phép kiệu lá, tưởng nhớ tới sự kiện Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem, dân chúng rủ nhau ra mà đón : “Dọc đàng, người ta trải áo trên lối đi. Khi Người đến gần triền núi Cây Dầu, tất cả đoàn môn đệ hân hoan lớn tiếng ca ngợi Chúa về mọi phép lạ họ đã thấy mà rằng: "Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến! Bình an trên trời và vinh quang trên các tầng trời” (Lc 19, 36-38). Giờ đây mỗi người cầm cành lá trong tay vừa đi vừa hát “Hoan hô...” thấy thật là vui.

Đám đông dân chúng đón rước Chúa lúc đó hân hoan, ngợi khen, chúc tụng, đúng là một bầu khí vui mừng mà chúng ta cảm nghiệm được khi tái cử hành biến cố năm xưa hôm nay. Chúa Giêsu, Thái Tử nhà Đavít tiến vào Giêrusalem đã khơi dậy lên bao nhiêu niềm hy vọng nơi tâm hồn những người đơn sơ, nghèo khổ, bị lãng quên, những người không đáng kể gì trong xã hội. Người thấu hiểu và cảm thông cảnh lầm than khốn khổ của họ, cúi mình xuống chữa lành những vết thương thể xác cũng như tâm hồnvà tỏ lòng từ bi đối với họ.

Đúng như lời ngôn sứ I-sai-a nói: “Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta” (Mt 8,17). Đó là tình thương cao cả của Chúa Giêsu, Người đã mang tình thương ấy đi vào thành Giêrusalem. Chúng ta thật vui mừng và tràn đầy hy vọng, vì thế giới chúng ta sống đang rất cần tình thương đó.

Thập giá

Niềm vui của dân chúng đang hân hoan, tung hô, chúc tụng Chúa, sự đấu tố, đòn vọt, vòng gai và thập giá bao trùm, những lời của Tiên tri Isaia, bài tường thuật của thánh sử Marcô, và những bài đọc phụng vụ khác dẫn đưa chúng ta vào trong mầu nhiệm Thương Khó và cái chết của Chúa Giêsu. Isaia mô tả cho chúng ta hình ảnh của một người bị đánh đòn và chịu vả mặt nhục nhã (x. Isaia 50, 6). Lời đáp ca: “Lạy Chúa tôi, lạy Chúa tôi, sao Chúa bỏ rơi tôi?” giúp chúng ta chiêm ngắm cơn hấp hối của Chúa Giêsu trên thập giá (Lc 23,44-45). Nơi bài đọc II, thánh Phaolô tông đồ giúp chúng ta hiểu sâu xa hơn mầu nhiệm Vượt Qua: Chúa Giêsu, “dù là Thiên Chúa, nhưng không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân phận nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, và chết trên cây thập tự” (Pl 2,6- 8).

Một vị Vua cưỡi trên con lừa con, không có đoàn tùy tùng đi theo, không có một binh đoàn biểu tượng quyền lực tiến vào thành Giêrusalem là Chúa Giêsu. Người không vào Thành Thánh để nhận vinh dự dành cho các vua trần thế, cho kẻ có quyền bính, cho kẻ thống trị; Người vào thành để chịu đánh đòn, lăng mạ và xúc phạm, như Isaia đã tiên báo (x. Is 50,6); Người vào để chịu đội mão gai và mặc áo choàng đỏ, vương quyền của Người là đối tượng cho sự nhạo cười; Người vào để bước lên đồi Canvê vai vác khổ giá; Người vào thành Giêrusalem để chịu chết trên Thập giá. Thập giá là ngai vàng của Người, Người mang lấy Thập giá trên mình, mang vào mình sự ác, cùng với sự nhơ bẩn, tội lỗi của trần thế và cả tội chúng ta nữa. Với lòng từ bi và tình thương của Thiên Chúa, Người lấy máu mình mà tẩy rửa cho sạch. Vì thế, Thập giá được Chúa Giêsu đón nhận với tình thương không bao giờ đưa tới sầu muộn, nhưng dẫn đến niềm vui, niềm vui được cứu độ.

Sống Tuần Thánh

Bước vào Tuần Thánh, Giáo hội cùng với con cái mình dõi theo Chúa Giêsu trên hành trình tiến lên đồi Canvê với thập giá và sự sống lại của Người. Sống Tuần Thánh là đi vào tình thương hiến thân của Chúa Giêsu hầu mang lại sự sống cho con người

Lúc sinh thời, Chúa Giêsu đã rong ruổi trên khắp nẻo đường, với lòng tin, Người đã chọn gọi 12 người đơn sơ để họ ở với và tiếp tục sứ mạng yêu thương của Người. Trong Tuần Thánh chúng ta sống trọn vẹn cuộc hành trình này. Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem để thi hành sứ mạng yêu thương ấy.

Chúa Giêsu không sống cách thụ động tình thương dẫn đến hy sinh, hoặc như một định mệnh không thể tránh được; Người không che giấu sự sao xuyến sâu xa như một con người trước cái chết dữ dằn, nhưng phó thác hoàn toàn nơi Chúa Cha. Chúa Giêsu tự ý nộp mình chịu khổ hình và chịu chết, để chứng tỏ tình thương của Thiên Chúa đối với thế gian. Thánh Phaolô cảm nghiệm được rằng, trên Thập giá, Chúa Giêsu “đã yêu thương tôi và hiến mình vì tôi” (Gl 2,20). Mỗi người chúng ta có thể nói: Người đã yêu thương tôi và đã phó nộp mình vì tôi.

Nhìn vào Chúa Giêsu trong cuộc thương khó, chúng ta khám phá ra những đau khổ của nhân loại nói chung và những đau khổ của chính cá nhân mình nói riêng. Chúa Giêsu, dù vô tội, đã nhận mang lấy vào thân điều mà con người không thể chịu được như : sự bất công, sự dữ, tội lỗi, hận thù, đau khổ và cuối cùng là sự chết. Trong Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa phải chịu nhục nhã và đau khổ để chứng tỏ rằng Thiên Chúa yêu thương tất cả, tha thứ cho tất cả và mang đến cho con người ý nghĩa cuối cùng của cuộc sống.

Mỗi năm, với Tuần Thánh, Giáo Hội bước vào trong Mầu nhiệm Vượt Qua, Mầu nhiệm tưởng niệm cái chết và sự sống lại của Chúa Giêsu. Chính nhờ sức mạnh của Mầu Nhiệm Vượt Qua mà Giáo Hội có thể công bố cho thế giới bằng lời nói và bằng những việc làm tốt của những con cái mình rằng: “Chúa Giêsu Kitô là Chúa, để Thiên Chúa Cha được vinh hiển” (Pl 2,11). Phải, Chúa Giêsu Kitô là Chúa, Người là Chúa của thời gian và của lịch sử; là Ðấng Cứu Chuộc con người; Người là Ðấng Cứu Thế! Chúc tụng Ðấng nhân danh Chúa mà đến! Hosanna!

Cùng với Mẹ Maria, chúng ta hãy xin với Mẹ là Ðấng đã theo Chúa Giêsu Con Mẹ  trong suốt chặng đường dẫn tới Canvê trong đức tin, giúp con cái Mẹ vác thập giá với niềm thanh thản và yêu thương bước theo Chúa, để đạt được niềm vui của lễ Phục Sinh. Amen. Mục lục

GIỜ ĐÃ ĐIỂM

Trầm Thiên Thu

LÁ BIẾC CÙNG LÁ XANH VẪY CHÀO CHÚA

NGƯỜI GIÀ VỚI NGƯỜI TRẺ MỪNG ĐÓN VUA

Cái gì phải đến rồi cũng sẽ đến, dù người ta chờ đợi hoặc không hề mong muốn, bởi vì cái gì cũng chỉ có một thời, với một khoảng thời gian nhất định. Mọi thứ hữu hạn, vô thường chứ không bất thường. Bình thường.

Dù gần hay xa, mau hay lâu, ngắn hay dài,... rồi cũng đến. Trong thời gian Chúa Giêsu công khai sứ vụ, nhiều lần người ta đã lập mưu bắt Ngài nhưng chẳng ai làm gì được, bởi vì “chưa đến giờ”. Nhưng rồi cũng đến giờ, Chúa Nhật Lễ Lá là lúc giờ đã điểm, khởi đầu hành trình khổ nạn của Đức Kitô từ lúc vào Thành Giêrusalem.

Dân chúng đã từng chứng kiến Chúa Giêsu làm nhiều thứ quá tuyệt vời, quá kỳ diệu, vượt ngoài sức tưởng tượng của loài người, thế nên họ muốn tôn Ngài làm vua, vả lại chính họ cũng đã nhận biết Ngài là ai, họ lũ lượt theo nhau và reo hò vang dội: “Hoan hô Con vua Đa-vít! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! Hoan hô trên các tầng trời” (Mt 21:9). Nhưng chuyện không dừng lại ở “khoảng vinh quang” như thế!

Cây càng cao, gió càng lay. Càng làm lớn càng khổ. Khổ từ khi đăng quang và vinh quy bái tổ. Vua chúa, hoàng đế hoặc quốc vương nào cũng có lễ đăng quang. Ngay cả giáo hoàng cũng có lễ đăng quang. Riêng Chúa Giêsu, chỉ có đám dân đen tôn Ngài làm Vua, vì thế Ngài không hề được làm lễ đăng quang, và tất nhiên, Ngài là HOÀNG ĐẾ KHÔNG NGAI VÀNG, mà chỉ có “ngai khổ” là Thập Giá – loại khủng khiếp nhất thời đó.

Trong xã hội Việt Nam, người ta thường có cách nói ví von là “Khổ ải trần gian” hoặc “Đời là bể khổ”. Ải gì chứ ải khổ thì… khổ thật. Và cuộc đời là “biển khổ” chứ không phải “sông khổ” hoặc “ao khổ”. Phải chi “đời là ly khổ” thì đỡ khổ biết bao! Cách ví von đó cho thấy kiếp người không ngừng đau khổ, nỗi khổ này chồng chất nỗi khổ khác, ngày tháng là một hành trình đau khổ triền miên. Có lẽ do vậy mà khi sinh ra không ai cười, ai cũng “cất tiếng khóc chào đời”, trẻ sơ sinh nào cười là “có vấn đề” đấy.

Thật khó hiểu vì bí ẩn. Biết chấp nhận thì có thể “hóa giải” đau khổ thành niềm vui, nếu không thì tự đày đọa thêm mà thôi. Không thể thoát khổ, càng diệt khổ càng đau khổ, muốn thoát khổ hoặc diệt khổ chỉ là điều không tưởng, chuyện hão huyền. Nhưng có bí quyết khả dĩ giảm khổ, đó là “đi xuyên qua” chính những nỗi đau khổ của mình. Thánh nữ Bernadette có ước nguyện tuyệt vời: “Lạy Chúa, con không xin thoát khỏi đau khổ, nhưng xin Ngài đừng bỏ mặc con trong đau khổ”.

Ngày xưa, ông Thích Ca Mâu Ni là một hoàng tử sống trong cung vàng điện ngọc, nhưng ông đã “giác ngộ” sau khi nhìn thấy những cảnh khổ của kiếp người, thế nên ông quyết ngồi thiền dưới gốc bồ đề để tu thân và “tâm niệm” Tứ Diệu Đế (Sinh là khổ, Lão là khổ, Bệnh là khổ, và Tử là khổ). Nói tóm lại, khổ là… khổ. Ông đã siêu thoát và được người ta tôn vinh là Đức Phật.

Khi cưỡi lừa vào thành Giêrusalem, Chúa Giêsu được người ta vừa tung hô vừa cầm lá thiên tuế vẫy chào đón, có người còn lấy áo trải xuống đường cho Ngài đi qua. Thế nhưng khi đó cũng là lúc Ngài khởi đầu “hành trình đau khổ”, đau khổ tột cùng, không thể tưởng tượng nổi.

NGƯỜI TÔI TRUNG

Trong Cựu Ước, ngôn sứ Isaia đã nhiều lần tiên báo về “người tôi tớ đau khổ”. Ông cảm thấy Đức Chúa là Chúa Thượng đã cho ông nói năng như một người môn đệ, để ông biết lựa lời nâng đỡ ai rã rời kiệt sức. Chính ông minh đinh: “Sáng sáng Người đánh thức tôi để tôi lắng tai nghe như một người môn đệ” (Is 50:4). Và ông cho biết thêm: “Đức Chúa là Chúa Thượng đã mở tai tôi, còn tôi, tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui” (Is 50:5). Không phản đối, không chạy trốn, hoàn toàn tự nguyện chấp nhận chứ không hề miễn cưỡng.

Mặc dù phải “đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu” và “không che mặt khi bị mắng nhiếc, phỉ nhổ” (Is 50:6), ông vẫn một lòng trung tín tới cùng. Ông tin tưởng “có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ”, vì thế, ông “không hổ thẹn” mà cứ “trơ mặt ra như đá”. Hoàn toàn tin tưởng nên ông biết mình sẽ “không phải thẹn thùng” (Is 50:7). Ông là hình ảnh của Đức Kitô, con người của đau khổ, khởi đầu “chuyến khổ” từ Giêrusalem, ngay khi được người ta cầm những cành thiên tuế tung hô là vua. Cuộc sống rất nhiêu khê!

Lời lẽ trong Thánh Vịnh mô tả về tình trạng chịu nhục nhã ê chề mà Chúa Giêsu phải chịu, thật não lòng với cách diễn đạt rất thật:

"Thấy con ai cũng chê cười

Lắc đầu, bĩu mỏ, buông lời mỉa mai:

“Nó trông cậy Đức Chúa Trời

Cứ để mặc Người giải cứu nó đi!” (Tv 22:8-9)

Người Tôi Trung không chỉ bị khiêu khích, mà cả tinh thần và thể lý đều đau khổ đến tột cùng:

"Quanh con bầy chó bao chặt chẽ

Bọn ác nhân vây bủa trong ngoài

Chúng đâm con thủng chân tay

Xương con đếm được vắn dài, chúng xem."

(Tv 22:17-18)

Người Tôi Trung bị đau khổ vô cùng, nhưng vẫn luôn trông cậy vào Thiên Chúa, và chỉ có Thiên Chúa mà thôi:

"Áo mặc ngoài chúng đem chia chác

Còn áo trong cũng bắt thăm luôn

Chúa là sức mạnh con nương

Cứu mau, lạy Chúa, xin đừng đứng xa!" (Tv 22:19-20)

Dù có thế nào thì Người Tôi Trung vẫn muốn được tôn vinh Thiên Chúa trong chính nỗi đau khổ của mình: “Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa, cho anh em tất cả được hay, và trong đại hội dân Ngài, con xin dâng tiến một bài tán dương” (Tv 22:23). Người Tôi Trung một niềm tín thành, vừa tự động viên mình vừa khuyến khích người khác: “Hỡi những ai kính sợ Đức Chúa, hãy ca tụng Người đi! Hỡi toàn thể giống nòi Gia-cóp, nào hãy tôn vinh Người! Dòng dõi Israel tất cả, nào một dạ khiếp oai!” (Tv 22:24).

NIỆM KHÚC KHỔ

Dùng cách nói vừa phân tích vừa xác định, Thánh Phaolô cho biết: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế” (Pl 2:6). Dù đạo hay đời, những người quyền cao chức trọng hiếm thấy những người dám “vi hành” để hiểu rõ cảnh khổ của người dân. Có đi đâu thì kèn trống, cờ xí, tiệc tùng,... chuẩn bị rất kỹ lưỡng, thậm chí có nơi còn tập nghi thức. Thế thì làm sao biết được thực tế cuộc sống của đám chiên ghẻ, chiên lạc?

Thật tuyệt vời khi thấy trong tác phẩm “Authority: Its Use and Abuse” (*) có kể một số “điểm son” của Đức cố GM Joseph Irumpen (1919-1997), GP Palakkad (Ấn Độ), một giám-mục-đa-không, đáng để chúng ta noi gương. Tác giả cho biết:

Mỗi Chúa nhật, ngài đến một giáo xứ nào đó mà KHÔNG BÁO TRƯỚC, ngồi tòa giải tội khoảng 15-20 phút, dâng lễ, giảng lễ, dạy giáo lý, và CHUYỆN TRÒ với giáo dân và linh mục quản xứ; ngài KHÔNG BAO GIỜ cho phép người ta tổ chức tiếp tân chào mừng ngài tại các giáo xứ. Ngay tại tòa giám mục hay ở bất cứ nơi đâu mà ngài ghé thăm, ngài KHÔNG nhận bất cứ sự biệt đãi nào dành cho mình. Ngài cho rằng sự hào nhoáng bên ngoài (kiểu như đoàn xe đưa rước trong những dịp đặc biệt) KHÔNG phải là chứng nhân Tin Mừng, mà là chứng nhân của VĂN HÓA THẾ TỤC. Hằng ngày ngài dành thời gian từ 9 giờ đến 12 giờ để tiếp bất cứ ai đến gặp, không cần hẹn trước; ngài không bao giờ nghỉ trưa; ngài chỉ dự những lễ kỷ niệm chịu chức hay khấn dòng NẾU những lễ ấy tổ chức ở nhà thờ chính tòa; ngài KHÔNG tổ chức mừng ngày kỷ niệm thụ phong giám mục của mình.

Năm nào ngài cũng mừng lễ bổn mạng, dịp các linh mục tĩnh tâm tháng vào ngày 19-3 (Lễ Đức Thánh Giuse Phu Quân Đức Maria). Linh mục đoàn cùng nâng cốc chúc mừng và nhâm nhi chút bánh ngọt; ngài không đưa lên bảng thông tin giáo phận các tin về hoạt động hay đi lại của ngài trong giáo phận, mà chỉ thông tin cho mọi người biết trước về những trường hợp ngài phải ra ngoài giáo phận quá một ngày, chẳng hạn khi ngài sắp đi dự họp Hội Đồng Giám Mục,... Ngài không bao giờ đi nước ngoài, trừ phi đó là bổn phận bắt buộc như về Rôma dịp Ad limina. Ngài không bao giờ đi nước ngoài để quyên tiền. Ngài nói rằng các nhu cầu căn bản của giáo phận cần phải được gánh vác bởi chính giáo dân trong giáo phận; không bao giờ có chuyện “phạt treo” – chẳng hạn, không cấp giấy chứng chỉ hôn phối vì người ta chưa đóng góp quỹ. Ngài luôn ăn mặc giản dị, ăn chay trường, và chẳng ai thấy hình ảnh của ngài trên báo chí. Ngài hưu trí tại nhà hưu của các linh mục cao niên. Cuộc đời ngài thật đơn giản, tất cả đồ đạc xếp gọn trong một chuyến xe nhỏ; giáo phận tặng ngài một ô tô dịp ngài về hưu, nhưng ngài không nhận, chỉ muốn được trợ cấp hưu bổng đúng theo mức hưu dưỡng như các linh mục khác trong giáo phận; ngài không muốn xin viện trợ từ bên ngoài để xây các nhà thờ to lớn. Nếu ai dâng hiến đất, ngài sẽ xây một nhà thờ vừa phải với sự hỗ trợ của chính các giáo dân địa phương; văn phòng của ngài là một gian phòng nhỏ trong một ngôi nhà cũ kỹ, không có bất cứ món trang trí nào; ngài là một chứng nhân Tin Mừng, sống điều ngài rao giảng, cách sống của ngài cho thấy rõ quyền bính là để phục vụ.

Thật vui mừng vì tại Việt Nam cũng có được tấm gương sáng của Đức cố GM Cassaigne (người Pháp, quen gọi cha Sanh, nguyên giám mục GP Saigon), vị tông đồ của người cùi. Khi còn là giám mục Saigon, ngài cũng đã từng rong ruổi khắp khu dân cư nghèo để thấy rõ thực tế, cửa tòa giám mục cũng luôn rộng mở đón tiếp mọi người. Ôi, tuyệt vời biết bao!

Thật đáng khâm phục các chứng nhân sống động như vậy, đúng là các mục tử như lòng Chúa mong ước, dám quên mình vì đoàn chiên, các chủ chăn đích thực chứ không nói suông qua các văn bản hoặc bài giảng sáo rỗng.

Chúa Giêsu không chỉ là Người Tôi Trung mà còn là Người Tôi Tớ Đau Khổ và Khiêm Nhường: “Ngài lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2:7). Cái chết của Ngài khác thường là “chết trên thập giá”, loại khổ hình nhục nhã nhất thời đó. Chính vì Ngài chịu đau khổ đến tột cùng mà “Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu” (Pl 2:9), danh hiệu ấy cao cả và quyền năng đến nỗi “khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ” (Pl 2:10). Và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Đức Giêsu Kitô là Chúa” (Pl 2:11).

Chắc hẳn chẳng ai muốn khó đến thân chứ nói chi chịu đau khổ, nghĩa là ai cũng muốn cuộc sống ung dung sung sướng, thanh thản tận hưởng niềm hạnh phúc – tận hưởng bằng mọi cách, càng nhiều càng tốt. Do đó, con người miệt mài đi tìm hạnh phúc, bất kể ngày hay đêm. Đau khổ luôn là điều bí ẩn đối với cuộc sống, nó kỳ diệu nhưng không dễ chấp nhận, thậm chí người nào chấp nhận đau khổ có thể bị coi là “ngu xuẩn”, là “dại dột”, là “điên khùng”. Tuy nhiên, đối với người tin vào Đức Kitô thì đau khổ là một mầu nhiệm – nghĩa là không thể hiểu hết nhưng chấp nhận vì đức mến, đặc biệt là noi gương và kết hiệp với Đức Kitô.

Chúng ta biết rằng ở bất kỳ ở quốc gia nào, một bị cáo đứng trước vành móng ngựa cũng có luật sư bào chữa (biện hộ thật chứ không “làm kiểng” hoặc cho đủ bộ). Trong Giáo hội Công giáo, trước khi phong thánh cho ai thì cũng có 2 “phe”, một phe đưa ra các điều tốt và một phe đưa ra các điều xấu – gọi là “luật sư của quỷ”, phe luật sư này sẽ đưa ra mọi thứ “bất lợi” cho ứng viên đến khi “chịu thua” mới thôi. Chẳng hạn trường hợp của Thánh GH Gioan XXIII, phe luật sư của quỷ đã hết cách nên “tố cáo” Gioan XXIII hồi nhỏ hay chơi diều. Đúng là “hết nước nói” luôn! [Nói khôi hài mỉa mai theo Pháp ngữ là “finir l’eau dire”, hoặc kiểu Anh ngữ là “no star where”, còn Việt ngữ thời @ là BóTay.com].

Chắc hắn rằng từ cổ chí kim, chỉ có một tử tội đặc biệt không có luật sư bào chữa, cũng chẳng có ai bênh vực một lời nào, đó chính là Đức Giêsu Kitô – Chúa của chúng ta. Thật đáng buồn, bởi vì người ta vừa mới tôn Ngài làm vua thì đã vội lật mặt và đòi đóng đinh vào Thập giá, đến cả những người thân cận nhất cũng sợ liên lụy mà bỏ rơi chính Tôn Sư của mình, người mà mình vẫn không tiếc lời tán dương lên tận mây xanh. Cái lưỡi không xương uốn éo kiểu lươn lẹo “khéo” thật đấy!

GIỜ ĐÃ ĐIỂM

Điểm giờ là lúc giờ đã đến. Người ta gọi thời điểm đó là Giờ G (do câu “Time is Gold” – Thời giờ là vàng bạc, “giờ vàng”, rất quý, được hiểu với ý nghĩa là “thời điểm quan trọng” để hành động). Bài Thương Khó hôm nay là một bộ phim dài, một tấn bi kịch thảm thương, một cuộc chia ly đẫm nước mắt với vị mặn chát bao trùm những người thân tín nhất.

Thời khắc quan trọng đã điểm, Đức Giêsu vào bàn cùng với các Tông Đồ. Biết trước những gì sắp xảy ra, Ngài nói: “Thầy những khát khao mong mỏi ăn lễ Vượt Qua này với anh em trước khi chịu khổ hình” (Lc 22:15). Ngài nói rõ, không bóng gió nữa, và Ngài cho biết lý do: “Thầy sẽ không bao giờ ăn lễ Vượt Qua này nữa, cho đến khi lễ này được nên trọn vẹn trong Nước Thiên Chúa” (Lc 22:16). Những lời này như lời trăn trối của người sắp vĩnh biệt cõi đời. Nghe thật não lòng!

Ngay sau đó, Ngài thiết lập Bí tích Thánh Thể, Ngài dùng chính Mình Máu Ngài để nuôi sống chúng ta, và thiết lập chức linh mục để tiếp nối công việc Ngài ủy thác. Ngài tiên báo mọi chuyện sắp xảy ra như những lời trăn trối, và để cảnh báo mọi người. Rồi Ngài phân tích về cách cai trị: “Vua các dân thì dùng uy mà thống trị dân, và những ai cầm quyền thì tự xưng là ân nhân. Nhưng anh em thì không phải như thế, trái lại, ai lớn nhất trong anh em, thì phải nên như người nhỏ tuổi nhất, và kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ. Bởi lẽ, giữa người ngồi ăn với kẻ phục vụ, ai lớn hơn ai? Hẳn là người ngồi ăn chứ? Thế mà, Thầy đây, Thầy sống giữa anh em như một người phục vụ. Còn anh em, anh em vẫn một lòng gắn bó với Thầy, giữa những lúc Thầy gặp thử thách gian nan. Vì thế, Thầy sẽ trao Vương Quốc cho anh em, như Cha Thầy đã trao cho Thầy, để anh em được đồng bàn ăn uống với Thầy trong Vương Quốc của Thầy, và ngự toà xét xử mười hai chi tộc Ít-ra-en” (Lc 22:25-30). Phải hành động khác người, khác với đời thường, nghĩa là không được lạm quyền mà lộng hành, chỉ nói phục vụ mà thực tế thì không như vậy.

Và đặc biệt hơn, Ngài đã thẳng thắn cảnh báo về sự dữ đối với Phêrô: “Simon, Simon ơi, kìa Satan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo. Nhưng Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin. Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho anh em của anh nên vững mạnh” (Lc 22:31-32). Chúa Giêsu biết ông sẽ sa ngã và trở lại, Ngài thân thiện gọi đích danh ông là Simon, gọi tên thật chứ không gọi “nickname” Phêrô – tông hiệu của vị giáo hoàng tiên khởi.

Ông Phêrô thưa với Người: “Lạy Chúa, dầu có phải vào tù hay phải chết với Chúa đi nữa, con cũng sẵn sàng” (Lc 22:33). Đức Giêsu nói ngay: “Này anh Phêrô, Thầy bảo cho anh biết, hôm nay gà chưa kịp gáy, thì đã ba lần anh chối là không biết Thầy” (Lc 22:34). Tính nóng như lửa, Trương Phi thua xa, thế mà Phêrô cũng chỉ biết cúi đầu im lặng, không biết nói gì nữa. Bình thường thì nói ngon lắm, nhưng rồi đâu dễ gì làm được như thế. NÓI và LÀM là hai việc khác nhau, có một khoảng cách rất gần mà cũng... rất xa. Nói trước bước khó qua ghê!

Chúa Giêsu biết mình không còn bao lâu nữa sẽ xa rời họ – nhưng người thân thích, nên Ngài thực sự rất quan tâm: “Anh em có thiếu thốn gì không?” (Lc 22:35). Các ông trả lời “không”, họ cứ tưởng sắp có chiến tranh và đổ máu nên cùng nhau nói: “Lạy Chúa, đã có hai thanh gươm đây” (Lc 22:38a). Nhưng Chúa Giêsu bảo họ: “Đủ rồi!” (Lc 22:38b). Thật ra chỉ một thanh gươm cũng là thừa rồi, bởi vì không bao giờ cần dùng bất cứ vũ khí gì.

Và theo thói quen, Ngài đi ra núi Ô-liu. Các môn đệ lặng lẽ đi theo Ngài. Khi đến nơi, Ngài bảo: “Anh em hãy cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ” (Lc 22:40). Cầu nguyện là điều cần thiết lắm, thứ nhất là cầu nguyện, thứ nhì mới là hành động. Ngài đi xa các ông một quãng, rồi quỳ gối cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con, mà làm theo ý Cha” (Lc 22:42). Lúc này Ngài lâm cơn xao xuyến bồi hồi, nên càng khẩn thiết cầu xin. Theo nhân tính, Chúa Giêsu vừa lo vừa sợ, vừa u buồn vừa cô đơn, đến nỗi mồ hôi Ngài như những giọt máu rơi xuống đất (Lc 22:44).

Khi cầu nguyện xong, Ngài quay lại chỗ các môn đệ, nhưng thấy các ông vẫn đang ngủ ngon lành. Ngài nói: “Sao anh em lại ngủ? Dậy mà cầu nguyện, kẻo sa chước cám dỗ” (Lc 22:46). Lần thứ hai Chúa nhắc các ông về việc cầu nguyện, Ngài xác định việc cầu nguyện vô cùng cần thiết, mọi nơi và mọi lúc, phải cố gắng làm chứ không thể tùy hứng.

Đúng ngay thời điểm đó, Giuđa lại gần Đức Giêsu để hôn và cũng để chỉ điểm cho bọn thủ ác đến vây bắt Ngài. Chúa Giêsu ôn tồn: “Giuđa ơi, anh dùng cái hôn mà nộp Con Người sao?” (Lc 22:48). Lời nói nhẹ nhàng mà thấm thía nỗi đau. Ngày nay, chúng ta cũng vẫn dùng các dạng “dấu tốt” để bán đứng Chúa, mưu hại tha nhân, sẵn sàng làm những điều phi nhân phi nghĩa mà không chút ngại ngùng. Lương tâm không còn thẳng thắn mà bị lệch lạc rồi, bóng tối che khuất nẻo sáng rồi. Thật đáng sợ!

Như phản xạ tự nhiên, người ta muốn dùng gươm giáo để chiến đấu, chính Phêrô cũng đã nhanh như chớp, tuốt gươm ra chém ngay, nhưng có lẽ ông run tay nên chỉ đứt tai một tên lính chứ nếu ngon lành thì ông cho cái đầu nó lìa khỏi cổ rồi. Thế thì Phêrô còn nhát tay lắm! Vừa thấy thế, Đức Giêsu lên tiếng ngay: “Thôi, ngừng lại” (Lc 22:51). Và rồi Ngài gắn lại liền tai cho khổ chủ. Ôi, phép lạ nhãn tiền thế mà bọn thủ ác vẫn lì lợm, vẫn cứng lòng, vẫn cố chấp. Kể ra chúng cũng quái gở thật. Ma quỷ “đầu độc” chúng rồi!

Đám ác nhân dẫn Chúa Giêsu đi. Khi đi ngang qua Phêrô, Ngài nhìn ông với ánh mắt sâu thẳm, vừa buồn trách vừa xót thương, ông giật mình bởi vì ông vừa chối Thầy đúng như lời Thầy nói trước. Tiếng gà chợt gáy như xoáy sâu vào lòng ông khiến ông vừa xấu hổ vừa sợ hãi, ông vội chạy ra ngoài, ăn năn và bật khóc, khóc như con trẻ, khóc như chưa bao giờ khóc, tiếng khóc rất thảm thiết (Lc 22:62). Phạm tội là xấu nhưng chưa đáng ngại, cố chấp mà cứ ù lì trong tội mới đáng sợ!

Máu ác dồn lại trong tim và dâng cao lên óc, bọn thủ ác bịt mắt Ngài lại, thốt ra nhiều lời khác xúc phạm đến Ngài, và hành hạ Ngài đủ kiểu, thâu đêm suốt sáng, không chút nương tay. Chỉ tưởng tượng cũng thấy thật kinh khủng! Khi trời sáng, chúng mỉa mai: “Vậy ông là Con Thiên Chúa sao?” (Lc 22:70a). Ngài vẫn thản nhiên: “Đúng như các ông nói, chính tôi đây!” (Lc 22:70b). Họ liền vào hùa với nhau để kết tội Ngài: “Chúng ta cần gì lời chứng nữa? Chính chúng ta vừa nghe miệng hắn nói!” (Lc 22:71).

Sau đó, họ bắt đầu tố cáo Chúa Giêsu đủ thứ, từ chuyện nhỏ tới chuyện lớn, họ bắt bẻ và bịa chuyện đủ thứ, tốt thành xấu, cái gì cũng hóa thành trọng tội, kiểu xử bất công miễn sao có thể giết người lành. Tâm địa kẻ ác là vậy, xã hội ngày nay không thiếu gì những phiên tòa bất công như vậy!

Còn Philatô thì nhát gan vì sợ mất chức mất quyền, không dám hành động theo lương tâm, rửa tay để chứng tỏ mình chí công vô tư, biết Chúa Giêsu vô tội mà không dám tha – dù chính ông ta xác nhận hai lần (Lc 23:4 và 22). Ông ta muốn cho đánh đòn Chúa Giêsu rồi thả ra, nhưng dân chúng không chịu, họ đồng thanh la ó: “Giết nó đi, thả Baraba cho chúng tôi!” (Lc 23:18). Có quyền lực mà bất lực. Thật hèn hạ và nhục nhã! Còn Baraba là ai? Hắn đã bị tống ngục vì một vụ bạo động đã xảy ra trong thành, và vì tội giết người. Họ coi Chúa Giêsu không bằng một tên tử tội tàn ác khét tiếng. Thấy dân chúng nhất quyết xin tha Baraba mà giết Chúa Giêsu, Philatô đành chiều theo ý họ. Thật đê tiện khi ích kỷ mà để cho cái ác lộng hành!

Từ dinh Philatô tới Đồi Can-vê là con đường quanh co, đồi dốc và lởm chởm. Chúa Giêsu phải tự vác thập giá mà đi, rất cực nhọc, đuối sức dần vì Ngài bị đòn roi với đủ nhục hình và còn bị đói khát nữa, thế nên Ngài đã ngã xuống 3 lần vì sức nặng của thập giá. Chúng ta không thể nào tưởng tượng nổi, không đơn giản chút nào!

Khi tới Đồi Sọ, họ đóng đinh Ngài vào thập giá, cùng lúc với hai tên gian phi, một tên bên phải, một tên bên trái. Đã chịu đủ loại nhục hình, từ lời nhục mạ tới hành động đóng đinh – loại tử hình khủng khiếp nhất thời đó, và dù đang bị treo trên thập giá, Đức Giêsu vẫn đại lượng: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34). Kể từ xưa tới nay, và cho đến tận thế, chắn chắn không có sự tha thứ nào vĩ đại hơn như vậy!

Thật kỳ diệu, ngay cả tên gian phi cùng bị đóng đinh với Ngài, với chỉ một lời “xin nhớ tới hắn” thôi, thế mà Ngài liền cho hắn đồng hành vào Thiên Quốc, và trở thành vị thánh đầu tiên của Tân Ước. Thật là đại phúc cho Dismas – kẻ cướp tốt lành. Ước gì chúng ta cũng chân thành sám hối và được diễm phúc như vậy!

Đối với một con người, cái chết là kết thúc cuộc sống trần gian, làn hơi thở cuối cùng là ranh giới giữa sự sống và sự chết. Mọi sự đã hoàn tất. Sứ vụ cứu độ đã trọn vẹn. Khi đó, Đức Giêsu kêu lớn tiếng: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23:46). Nói xong, Ngài tắt thở. Chúa Giêsu chỉ chết về phần nhân tính, như một con người bình thường, chứ Ngài KHÔNG CHẾT về phần thần tính.

Khi thấy sự việc xảy ra nhãn tiền như vậy, viên đại đội trưởng kinh ngạc và liền cất tiếng tôn vinh Thiên Chúa bằng cách xác nhận: “Người này đích thực là người công chính!” (Lc 23:47 ≈ Mt 27:54; Mc 15:39), và toàn thể dân chúng đã kéo đến xem cảnh tượng ấy, khi thấy sự việc đã xảy ra, đều đấm ngực trở về (Lc 23:48). Đó là những biểu hiện sám hối, họ còn may mắn và kịp nhận ra tội mình – không trực tiếp thì cũng gián tiếp giết chết người vô tội, làm khổ tha nhân, sát hại Đức Kitô. Sự thật mãi mãi là sự thật, vĩnh hằng và bất biến.

Chắc chắn không có nỗi đau khổ nào bằng (chứ không thể “hơn”) nỗi khổ của Chúa Giêsu. Ngài được tôn làm vua – chỉ trong chốc lát – mà không hề có ngai vàng, không hề được đăng quang, thay vào đó lại là những loại nhục hình, cuối cùng là bị đóng đinh vào thập giá. Thật thê thảm!

Lạy Thiên Chúa muôn loài, tội nhân chúng con thành tâm sám hối và xin lỗi Ngài, xin thương xót và tha thứ. Chúng con cảm tạ Chúa Cha đã ban Đấng Cứu Thế để chúng con được giải thoát và có cơ hội làm lại cuộc đời. Thật là diễm phúc vì chúng con được tận hưởng Lòng Thương Xót vô biên nhờ cái chết của Đức Kitô, dù chính chúng con đã nhẫn tâm trực tiếp hoặc đồng lõa sát hại Ngài. Xin Cha ban Thánh Linh giúp chúng con can đảm sống xứng đáng với Ơn Cứu Độ, kiên trì đi trọn hành trình đau khổ và làm chứng nhân sống động về Lòng Thương Xót vô biên của Ngài, để rồi chúng con cũng được cùng phục sinh với Chúa Con. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ duy nhất của nhân loại. Amen. Mục lục

(*) Authority: Its Use and Abuse (Sử dụng và Lạm dụng Quyền bính), sách của LM C.P. Varkey (NXB The Bombay Saint Paul Society, 1999).

THẬP GIÁ ĐÒI HỎI LÒNG QUẢ CẢM

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Hôm nay với nghi thức làm phép và rước lá, tưởng niệm việc Chúa Giêsu tiến vào Giêrusalem trong vinh quang, Hội Thánh chính thức khai mạc tuần Thánh.

Lắng nghe và suy niệm bài Thương Khó dài tường thuật biến cố tử nạn đau thương, đầy ảm đạm của Chúa Giêsu, tôi lại thấy tiếng nói của thập giá vang trong tâm hồn mình, đòi hỏi cả một nỗ lực lớn, một lòng can đảm đầy quả cảm để có thể cùng Chúa vác thập giá bước theo Chúa suốt đời mình.

Đòi hỏi về sự quả cảm đó, không chỉ riêng bạn và tôi hôm nay, ngày xưa các môn đệ của Chúa cũng đã từng phải đối diện.

Đòi hỏi của thập giá là đòi hỏi nghiêm túc đến mức khắt nghiệt, có lúc ê chề, đau đớn. Các môn đệ Chúa Giêsu đã từng hoang mang, đau đớn như thế khi chứng kiến cuộc thương khó của Thầy.

Mới mấy ngày trước đây, dân chúng còn dành cho Thầy một vinh dự quá lớn khi đón tiếp Thầy vào thủ đô, vậy mà ngay sau đó, người ta đã trở mặt nhanh chóng và lạnh lùng.

Thay cho sự tiếp đón, bay giờ người ta dành cho Thầy những trận đòn độc ác đến ngỡ ngàng. Những trận đòn tàn nhẫn cứ y như là bao nhiêu nỗi căm hờn, sự tức tối, thù ghét chất chứa bao nhiêu năm tháng bây giờ được dịp bung ra dồn vào đầu ngọn roi, vào mọi lời sỉ vả, chửi bới, dồn vào những mũi đinh nhọn hằn học giết chết Thầy…

Hóa ra phút vinh quang của ngày lễ Lá chỉ là một ánh chớp thoáng qua rồi lịm tắt.

Đâu hết rồi cảnh huy hoàng của những người ái mộ trải áo, lót lá xuống đường nghênh đón Vua Trời? Đâu hết rồi những lời tung hô dậy trời: “Hoang hô con vua Đavit, chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến ; hoang hô trên các tầng trời”? Đã biến đi đâu cảnh náo động đến tưng bừng khắp Giêrusalem khi “Tiên tri Giêsu” tiến vào thành?

Cứ như thế, niềm vui vừa mới chớm, nỗi khổ đã lên ngôi. Niềm vui sao mà nhỏ bé, còn nỗi buồn sao cứ ngất cao đầy ứ lòng người. Các môn đệ thấy hết, chứng kiến hết. Vậy đó, vinh quang chỉ là những ánh chớp, còn nỗi buồn cứ giăng mắc không thương tiếc. Không thể đối diện với nó, các môn đệ chỉ còn biết trốn chạy.

Cuộc thương khó vượt quá tầm hiểu biết, vượt lên trên mọi lý lẽ của mình, bởi sức người khó có thể chấp nhận được vì sao Đấng là Thiên Chúa làm người lại có thể bị vùi giập đến tan nát như thế?

Càng không thể hiểu, các môn đệ càng sợ hãi, càng mất tất cả niềm hy vọng, mất tất cả sinh lực sống. Các môn đệ Chúa Giêsu trở thành những kẻ bi quan, khiếp đảm, bạc nhược.

Nhưng đâu chỉ có thế, đòi hỏi của thập giá là đòi hỏi cá nhân, dành cho mỗi một người, cần sự đáp trả bằng lòng trung thành của mỗi một người.

Để chấp nhận thập giá và để đáp ứng mọi đòi hỏi của thập giá, chỉ có một điều kiện duy nhất, cũng là điều kiện tiên quyết, đó chính là lòng yêu mến thâm sâu và cá vị với Chúa Giêsu.

Thánh Gioan tông đồ, Đức Maria là những người có tâm hồn chan chứa lòng yêu mến ấy. Chính vì lòng yêu mến cá vị này, mà cả hai: Đức Mẹ và thánh Gioan đã can đảm chứng kiến đến giây phút sau cùng nỗi đau của thập giá mà Chúa Giêsu đã chấp nhận suốt đời của Người cho đến đỉnh cao là cái chết bi thương trên đồi Sọ.

Bởi thập giá Chúa Giêsu phải gánh lấy đâu chỉ là cây thập giá bằng gỗ trên đường thương khó, mà nó còn là cây thập giá suốt chiều dài trên đường dương thế của Người.

Chứng kiến đến cùng bằng sự nhìn ngắm thẳm sâu và bằng tình yêu hiệp thông mật thiết cách cá vị như thế, chính là lúc Mẹ Maria cũng như thánh Gioan tông đồ đã cùng kề vai vác thập giá với Chúa.

Chính trong tình yêu, nỗi đau hay niềm vui của người này trở thành nỗi đau hay niềm vui của người kia. Bởi đó ta có thể nói, trong lòng yêu mến cá vị của mình, thập giá của Chúa chính là thập giá của Đức Maria, của thánh Gioan khi đi bên cạnh Chúa Giêsu.

Cũng là người môn đệ của Thầy Giêsu trong cuộc đời này, chắc chắn đòi hỏi của thập giá đã và sẽ tiếp tục không khước từ chúng ta.

Theo Chúa giữa lúc Chúa được tung hô, chẳng khó gì. Nhưng tiếp tục theo Chúa và ở lại với Chúa giữa lúc Chúa bị loại trừ, bị bách hại là một khó khăn lớn. Càng dấn bước theo Chúa sâu xa bao nhiêu, đòi hỏi của thập giá càng lớn lao, mạnh mẽ và dữ dội bấy nhiêu.


Chúng ta hãy nhìn lên Đức Maria, nhìn mẫu gương của thánh Gioan tông đồ mà cố gắng hiến dâng tình yêu, hiến dâng lòng trung thành của mình.

Hoặc nếu đã có lần nào ta va vấp trong cuộc đời, thì hãy nhìn mẫu gương của mười tông đồ còn lại, là những người đã từng khiếp đảm trốn chạy, nhưng cũng đã lấy lại niềm tin để tiếp tục sống trung thành.

Những tấm gương ấy sẽ tạo thêm nghị lực cho mình, đủ sức đứng lên làm lại những gì đã mất.

Mẫu gương trung thành của Đức Mẹ, của các thánh tông đồ phải là bài học thường xuyên liên tục suốt đời Kitô hữu của bạn và của tôi.

Nguyện xin Đức Mẹ, xin các thánh Tông đồ cầu bàu cho chúng ta, để chúng ta hoàn thành những đòi hỏi của thập giá suốt cuộc đời mình cách xuất sắc nhất. Mục lục

ĐƯỜNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA

Tu sĩ: Giuse – Vinh Sơn Ngọc Biển, S.S.P.

Hôm nay, phụng vụ Giáo Hội chính thức bước vào Tuần Thánh với biến cố Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem, khởi đầu hành trình thương khó trong chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa.

Cuộc thương khó của Chúa Giêsu là một nghịch lý, ô nhục, điên rồ với người Do thái, là nỗi thất vọng cho các môn đệ và nhiều người... Tuy nhiên, con đường bất thường này lại làm lộ hiện dung mạo, khuôn mặt, tâm tư và lòng dạ thương xót phi thường của Thiên Chúa ngang qua con người, sứ vụ và nhất là cuộc thương khó của Chúa Giêsu.

Muốn hiểu thêm về cuộc thương khó, chúng ta cùng nhau tìm hiểu nơi các đối tượng, động lực, hành vi của những kẻ gây nên cái chết bi thương cho Người Công Chính, để thấy được mục đích gian ác của con người thời đó và chương trình yêu thương của Thiên Chúa cũng như sự liên hệ của chúng ta trong mầu nhiệm cứu chuộc hôm nay.

CON ĐƯỜNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA NGANG QUA BÀN TAY GIAN ÁC CỦA CON NGƯỜI

Những kẻ gây nên cái chết cho Chúa Giêsu chính là những nhà lãnh đạo tôn giáo thời bấy giờ. Họ là những Luật Sĩ, Thượng Tế và Pharisêu. Những con người này có mối thù sâu sắc với Chúa Giêsu, nên quyết không đội trời chung với Ngài!

Những mâu thuẫn được khởi đi từ chuyện Chúa Giêsu vạch trần lối sống giả hình, kiêu ngạo, ích kỷ, dã tâm nơi giới lãnh đạo tôn giáo thời bấy giờ. Đây là điều mà họ cảm thấy bất lợi và có nguy cơ bại lộ lối sống giả nhân giả nghĩa theo kiểu: dùng phương tiện xấu để biện minh cho mục đích tốt!

Chúa Giêsu đã không chấp nhận, vì thế, họ đã quyết loại trừ Ngài ra khỏi xã hội của họ bằng cái chết.

Tuy nhiên, điều mà họ muốn thì chính bản thân họ hay dân tộc họ không thể làm được, bởi lẽ, dân Dothái đang bị đô hộ bởi Đế quốc Rôma, vì thế, muốn giết Chúa Giêsu, họ phải mượn tay của Đế quốc, mà người đại diện là Philatô!

Bản án mà họ trình lên quan Tổng trấn để xin ông xét xử, đó là tội: khi quân, phản loạn, sách động dân chúng, lật đổ chế độ, rồi tự xưng mình là vua...!!!

Với ngần ấy cái “mũ” mà họ chụp lên đầu Chúa Giêsu, chắc chắn cuộc thương khó sẽ xảy ra và cái chết là kết cục cho Ngài!

Để thuận lợi, giới lãnh đạo tôn giáo đã âm thầm đề nghị Giuđa, một người trong nhóm môn đệ của Chúa Giêsu là nội gián, tiếp tay từ bên trong. Quả thật, Giuđa đã nhận lời và chấp nhận trở thành nội thù khi bán Thầy với giá 30 đồng bạc qua dấu chỉ một cái hôn.

Ôi một sự chua xót và đau đớn vô cùng, bởi lẽ, nụ hôn là biểu lộ của tình yêu. Yêu ai thì mới trao cho nhau nụ hôn, ai ngờ nụ hôn của trò với Thầy lại là dấu chỉ đẩy Thầy vào chỗ chết!!!

Khi đã được Giuđa chỉ điểm và cho dấu hiệu, họ đã bắt Chúa Giêsu và trao nộp cho Philatô. Từ đây, Philatô cũng là những người có can hệ đến cuộc thương khó của Chúa Giêsu, bởi vì ông là người đại diện cho luật pháp, có trách nhiệm cầm cân nảy mực... Thế nhưng, thay vì làm việc mang tính công minh chính đại, ông lại bị sức ép từ phía dân chúng, sợ mất chức, mất quyền... nên đã phủi tay, không còn can đảm nghe theo tiếng Lương Tâm để bênh vực Người Công Chính, bảo vệ lẽ công bằng và đứng về phía người vô tội.

Thế là bản án tử hình được trao tặng cho Chúa Giêsu.

Như vậy, nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của những người can dự vào cuộc thương khó Chúa Giêsu chính là: kiêu ngạo, hèn nhát, gian dối, tham lam và sợ hãi...

CON NGƯỜI CÀNG TÀN BẠO, LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA CÀNG RÕ NÉT

Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở đây, có lẽ chúng ta sẽ nghĩ rằng: Thiên Chúa đã thất bại trước sự ác của con người! Công chính, công lý và sự thật đã nhường bước cho sự ác lên ngôi và lộng hành... Không! Chính lúc Con Thiên Chúa bị treo trên thập giá, ấy là lúc Thiên Chúa đang biểu lộ quyền năng và lòng thương xót của Người rõ nét hơn bao giờ hết!

Như đã nói: cuộc thương khó của Chúa Giêsu là một cuộc thương khó vô cùng nghịch lý, nhưng nó lại hợp lý đối với lòng dạ Thiên Chúa, bởi vì: “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4, 16).

Quả thật, vì yêu, Người đã chấp nhận trao ban Con Một của mình cho nhân loại. Vì yêu, Chúa Giêsu đã xuống thế làm người như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi, để cứu chuộc chúng ta. Vì yêu, Chúa Giêsu đã một đời rao giảng lời Tình Yêu; Lời Hằng Sống; Lời Cứu Chuộc. Vì yêu, Ngài đã chữa lành và giải thoát con người khỏi bệnh tật phần xác, giải phóng cảnh nô lệ phần hồn.

Đỉnh cao của con đường thương xót, ấy là: Thiên Chúa muốn Con của Người đón nhận cái chết đau thương để giải thoát nhân loại cách toàn diện. Chúa Giêsu đã đón nhận con đường thương xót ấy trong tâm tình vâng phục và yêu mến, để lòng dạ xót thương của Thiên Chúa được lộ hiện...

Như vậy, qua cái chết của Chúa Giêsu hoàn toàn không phải là sự thất bại, nhưng là sự chiến thắng. Chiến thắng trong và do lòng thương xót của Thiên Chúa.

CHÚNG TA ĐƯỢC MỜI GỌI ĐI TRÊN CON ĐƯỜNG CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT MÀ CHÚA GIÊSU ĐÃ ĐI

Qua cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, chúng ta hãy dừng lại để suy tư về hành trình theo Chúa của mỗi người chúng ta:

Bấy lâu nay, chúng ta đi theo Chúa trên con đường nào?

Trên con đường thương xót hay hận thù? Yêu thương hay ích kỷ? Hướng tha hay vụ lợi? Sứ vụ hay danh vọng?

Làm một cuộc cật vấn Lương Tâm như thế để thấy rõ con người thật của chính mình..., bởi vì có biết bao nhiêu mục đích, lựa chọn khác nhau như:

Có nhiều người theo Chúa như những nhà lãnh đạo tôn giáo thời bấy giờ. Họ là những người Công Giáo, thường xuyên đi lễ, nhà thờ, luôn tỏ vẻ đạo đức, nhưng thực ra những điều đó chỉ là bình phong cho một ý đồ đen tối, để khi thuận tiện, sẵn sàng làm hại Giáo Hội, coi rẻ Lương Tâm, bán đứng anh chị em mình... Sẵn sàng trở thành nội gián để tiếp tay cho những kẻ chống phá Giáo Hội! Những người này theo Chúa không phải vì yêu mến, kính trọng hay phần rỗi, nhưng theo Chúa để tìm dịp thuận tiện nộp Ngài, chẳng khác gì Giuđa!

Có những người theo Chúa, nhưng theo xa xa, theo nửa vời. Họ như dân Dothái xưa: khi hay thì vỗ tay vào, đến khi hoạn nạn thì rời nhau ra... Vì thế, chúng ta không lạ gì khi vẫn còn đó những kẻ theo khi thuận tiện, những lúc khó khăn là rút lui... Không những thế, việc trối bỏ đức tin ngang qua những lựa chọn bất chính là điều dễ dàng xảy ra đối với những người này...

Cũng không thiếu những người theo Chúa như Philatô, họ theo vì nhu cầu lợi lộc, thực dụng. Vì thế, họ sống theo kiểu: “Sợ tiếng chửi và ăn mày tiếng khen”. Nếu vì Chúa mà ảnh hưởng đến cuộc sống, sự nghiệp, chức quyền...là họ “rửa tay” như Philatô.

Mong sao, ngày càng có nhiều người Kitô hữu theo Chúa như Đức Mẹ, thánh Gioan, bà Verônica, ông Simong, hay như một số phụ nữ... Các ngài theo vì lòng yêu mến, hiệp thông, để cảm, để thấu và muốn được cùng Thầy trở thành chứng nhân của lòng thương xót.

Lạy Chúa Giêsu, khi nghe bài Thương Khó hôn nay, xin cho chúng con không chỉ dừng lại ở sự xót xa nơi những lời vu khống không thương tiếc, những  lằn roi tê tái, những lời nhục mạ bỉ ổi và những nhát đinh chết người mà con người dành cho Chúa!

Nhưng điều quan trọng, xin Chúa ban cho chúng con biết sống sứ điệp của Chúa ngang qua cuộc thương khó, để ước gì thế giới này được chan chứa tình yêu và hy vọng qua cuộc sống chứng nhân của chúng con. Amen. Mục lục

BÀI THƯƠNG KHÓ

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

Là Kitô hữu Công Giáo, vào tuần Thánh thì một trong những chuyện xem ra khá vất vả cho những người có trách nhiệm phục vụ các Lễ nghi Phụng vụ và cả bà con tín hữu tham dự đó là “hát và nghe bài Thương Khó”. Những người hát thì vất vả cở nào còn tuỳ khả năng ca hát của họ, còn người nghe thì hầu như phải chịu đựng khá nhiều, nhất là khi nghe các “ca viên không chuyên” ê a, chưa kể đến các yếu tố âm thanh, thời tiết…

Chắc hẳn anh chị em bà con lương dân, khác đạo sẽ thấy lạ tai với cụm từ thương khó, một cụm từ không phổ thông. Lần giở các trang tự điển tiếng Việt, tôi không tìm thấy cụm từ ấy. Thế nhưng, hầu như Kitô hữu Công Giáo nào khi nghe đến cuộc thương khó, cũng hiểu ngay đó là cuộc tử nạn của Chúa Giêsu. Cụm từ “cuộc thương khó” được dịch bởi từ La ngữ “Passio”, mà nguyên nghĩa là chịu đau khổ. Anh ngữ và Pháp ngữ đều dịch là “Passion”, cũng một nội hàm. Không hiểu vì sao khởi đi từ nghĩa gốc là “chịu đau khổ” thì từ Passion theo thời gian, có lẽ bắt đầu từ thế kỷ XII, lại có thêm nghĩa là dục vọng, một dục vọng mãnh liệt vượt mức bình thường, thành sự đam mê, thành “yêu say đắm”. Có mối tương quan gì chăng giữa các nghĩa của từ ngữ này bản thân không được rõ nhưng cũng xin mạo muội chia sẻ đôi tâm tình về cuộc khổ nạn của Chúa chúng ta, nhân sự gợi ý của hai ngữ nghĩa ấy. Chúa Giêsu chịu khổ nạn vì con người đam mê, yêu say đắm. Và vì đam mê, yêu say đắm con người nên Chúa Giêsu chịu khổ nạn.

1.Chúa Giêsu chịu khổ nạn vì con người đam mê, yêu say đắm. Vấn đề là ở đối tượng của sự đam mê hay yêu say đắm. Con người đã theo chước cám dỗ mà hướng chiều sự say mê vào chính bản thân mình. Biết sự lành sự dữ là một ước muốn chính đáng và hợp lý với loài có trí khôn. Tuy nhiên khi lấy bản thân mình, lấy lợi ích của mình để làm thước đo lành dữ thì quả là một sai lầm to lớn. Vì say đắm chính mình nên con người đã đặt danh dự, chức phận, lợi ích của mình lên hàng trên hết. Những gì có lợi cho tôi, làm cho tôi vinh dự, giúp tôi thăng tiến quyền chức đã trở thành điều lành theo quan điểm của tôi. Và như thế sự lành dữ không còn mang tính khách quan, nghĩa là do Thiên Chúa đặt định.

Các nhà Kitô học cũng như các chuyên gia Thần học Thánh Kinh đã phân tích các nguyên nhân phía nhân loại gây ra cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Trong các nguyên nhân ấy cần phải kể đến tham vọng quyền bính của nhóm Mười Hai mà đặc biệt là của tông đồ Giuđa. Sự thường, đi liền sau quyền bính chính là lợi lộc. Ngoài ra chúng ta cũng cần kể đến tham vọng quyền bính của những người lãnh đạo Do Thái giáo thời bấy giờ. Tổng trấn Philatô đã biết rõ: “chỉ vì ganh tị mà họ nộp Người” (Mt 27,18).

Một sự say đắm “quy ngã”, nghĩa là hướng về bản thân mình rất dễ dẫn đến những điều tồi tệ cho tha nhân và cho cả bản thân. Quá yêu mình thì người ta sẽ dễ coi thường tha nhân. Quá xem trọng lợi ích của mình thì người ta cũng dễ bị cám dỗ tìm cách hạn chế hay xâm phạm lợi ích của kẻ khác. Để bảo vệ quyền chức của mình người ta cũng dễ sẵn sàng hạ bệ kẻ khác bằng mọi cách thế, kể cả thủ đoạn.

2. Vì yêu say đắm con người nên Chúa Giêsu đã chịu khổ nạn. Vừa đặt câu hỏi lại vừa trả lời , tác giả Thánh Vịnh cho ta hay: “Ngắm tầng trời tay Chúa sáng tạo, muôn trăng sao Chúa đã an bài, thì con người là chi, mà Chúa cần nhớ đến, phàm nhân là gì mà Chúa phải bận tâm? Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy, ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên, cho làm chủ công trình tay Chúa sáng tạo, đặt muôn loài muôn sự dưới chân” (Tv 8,4-7). Ngoài câu trả lời: vì “Thiên Chúa là Tình yêu” (1Ga 4, 8), thì chúng ta không thể trả lời cách đầy đủ cho câu hỏi tại sao Thiên Chúa yêu con người đến thế, nhưng chúng ta lại biết rõ “cái thế này”: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Chúng ta còn thấy sự đắm say này qua việc Con Thiên Chúa làm người đã tự nhận làm con của loài người (Son of Man – Fils de l’ Homme). Đó là Đấng mà xưa ngôn sứ Đaniel qua thị kiến đã thấy “ngự giá mây trời mà đến” (Đn 7,13).

Sự đắm say của của Chúa Giêsu mang tính “hướng tha” nghĩa là hướng về người khác. Là Người Con Một, Người luôn hướng về Chúa Cha bằng sự hiệp thông, mến yêu, vâng phục. Vào trần gian, làm “con của loài người”, ý định của Người là “không phải để được người ta phục vụ nhưng để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,28).

Tình yêu thì không có biên giới. Đã yêu thì không chấp nhận sự nửa vời. Và có thể nói say đắm là điểm tới của yêu thương. Đã đắm say thì có sự khổ nạn. Vấn đề đặt ra là hướng của sự đắm say là bản thân hay tha nhân. Khi ta say đắm bản thân thì ta sẽ gây đau khổ cho kẻ khác và ta lại huỷ hoại chính bản thân mình. Ngược lại khi ta đắm say tha nhân thì ta sẽ đón nhận khổ đau để tha nhân được cứu sống, được hạnh phúc và chính ta cũng sẽ được sống, triển nở và sống dồi dào.

Người ta thường gọi các thánh là những người “điên”. Có lẽ chữ “điên” hơi mang dáng vẻ hàm hồ và dễ bị ngộ nhận. Thiết nghĩ nên gọi các Ngài là những vị yêu Chúa, yêu tha nhân cách say đắm. Như thế ngoài những vị đã được Hội Thánh tuyên phong thì đã và đang có đó nhiều vị thánh không tên, những người đang yêu đồng loại cách đắm say. Họ đang dõi bước theo chân Chúa Giêsu, Đấng đã từng phán “Ai muốn theo Ta, hãy bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23). Với những vị đó, theo cách nói của thánh Âugustinnô, thì “bài thương khó” dù rằng khó và rất khó nhưng vẫn dễ thương, vì đã được thương rồi. Mục lục

CHÚC TỤNG THIÊN CHÚA

(Cảm nhận và suy niệm từ Lc 19,28-40)

Hôm nay Lễ Lá vào Tuần Thánh.

Mầu nhiệm, quyền uy Chúa tỏ bày.

Cuộc rước vào thành là phép lạ.

Tông đồ, dân Chúa vẻ vang thay!!!

Ảnh hưởng Tin Mừng toả khắp vùng

Được tin Chúa đến, dân xung phong.

Tràn ra, đón rước, tay cầm lá,

Mở miệng tung hô Chúa Cửu Trùng.

Mấy người Biệt Phái yêu cầu Chúa

Bảo họ im đi.  Chúa phán liền:

Nếu họ ngưng lời ca tụng Chúa,

Tức thì khối đá sẽ la lên…

Xin Chúa cho con can đảm đủ

Miệng ca tụng Chúa chẳng khi ngơi

Lòng luôn tin cậy quyền năng Chúa

Cứu độ đem về chốn thảnh thơi…

(Thế Kiên Dominic)

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan